Có thâm nhập vào thế giới biểu tượng ca dao, chúng ta mới hiểu được thấu đáo những nét đặc thù trong nếp cảm, nếp nghĩ, nếp diễn đạt của người lao động, những nét đặc trưng cơ bản của vă
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS CHU XUÂN DIÊN
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Trang 43 Giới hạn của đề tài0T 150T
4 Phương pháp nghiên cứu0T 16
1.2.2.2.Dạng thức ẩn dụ :0T 370T
1.2.2.3.Dạng thức hoán dụ:0T 380T
1.2.3 Biểu tượng ca dao dưới góc độ folklore học:0T 460T
1.2.4 Biểu tượng ca dao dưới góc độ văn hóa học:0T 490T
1.3 Biểu tượng ca dao thể hiện đặc trưng ngôn ngữ thể loại:0T 52
Trang 5CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC CỦA BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG
0T
2.1 Những biểu tương xuất phát từ tín ngưỡng- nghi lễ và phong tục, tập quán của người
Việt:0T 570T
2.1.1.Biểu tượng rồng:0T 570T
2.1.2 Biểu tượng trầu cau:0T 600T
2.1.3 Biểu tượng đôi đũa:0T 640T
2.1.4 Biểu tượng cây đa:0T 650T
2.1.5 Biểu tượng vuông - tròn:0T 660T
2.2.Những biểu tượng xuất phát từ văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc:0T 670T
2.2.1 Các biểu tượng bắt nguồn từ văn học cổ Việt Nam:0T 670T
2.2.2 Các biểu tượng bắt nguồn từ văn học cổ Trung Quốc:0T 680T
2.2.2.1.Biểu tượng chỉ hồng:0T 710T
2.2.2.2.Biểu tượng Ngưu Lang- Chức Nữ:0T 720T
2.2.2.3.Biểu tượng loan – phượng:0T 730T
2.2.2.4 Biểu tượng nhạn – én:0T 740T
2.2.2.5.0T 0TBiểu tượng Châu - Trần:0T 750T
2.2.2.6.Biểu tượng Tấn- Tần:0T 750T
2.2.2.7.Biểu tượng đào thơ:0T 750T
2.2.2.9 Biểu tượng đào- mận:0T 770T
2.2.2.10 Biểu tượng trúc- mai:0T 790T
2.2.2.11 Biểu tượng rồng - mây:0T 810T
2.2.2.12 Biểu tượng chim phượng - cây ngô đồng:0T 820T
2.3 Những biểu tượng xuất phát từ sự quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên và đời
sống hàng ngày của nhân dân ta:0T 830T
2.3.1 Biểu tượng con cò:0T 842.3.2 Biểu tượng sông: 85
Trang 62.3.6 Biểu tượng cá:0T 890T
2.3.7 Biểu tượng cây, hoa, trái:0T 910T
2.3.8 Biểu tượng trăng:0T 920T
2.3.9 Các biểu tượng khác:0T 930T
CHƯƠNG 3: PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ BIỂU TƯỢNG NGHÊ THUẬT
3.2.1.2 Thực vật:0T 1110T
3.2.2.3 Các công trình kiến trúc:0T 1250T
3.2.3.Hệ thống 3: Biểu tượng là con người:0T 1290T
3.2.3.1 Các nhân vật lịch sử - văn hóa, văn học – nghệ thuật:0T 1290T
3.2.3.2 Các bộ phận trong cơ thể con người:0T 1300T
3.3 Một số đặc trưng của hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao người Việt:0T 1320T
CHƯƠNG 4: CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG CỦA BIỂU TƯỢNG NGHỆ
Trang 8D ẪN LUẬN
Trong kho tàng văn học dân gian người Việt, ca dao - dân ca là những sáng tác được phổ biến rộng rãi và có sức sống lâu bền vào bậc nhất Giá trị về nhiều mặt đã đưa những câu hát dân gian này vượt qua thử thách thời gian hàng ngàn năm Nhiều
thế hệ các nhà nghiên cứu đã đến với ca dao, phát hiện những cái hay cái đẹp, những giá trị thể hiện đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc ẩn chứa trong lớp ngôn từ giản dị mà súc tích của các câu hát dân gian
Nghiên cứu ca dao, nhiều người đã nhận thấy các biểu tượng nghệ thuật có vị trí quan trọng đặc, biệt trong ngôn ngữ của thể loại này Có thể nói, ngôn ngữ ca dao
phần lớn là ngôn ngữ biểu tượng Có thâm nhập vào thế giới biểu tượng ca dao, chúng
ta mới hiểu được thấu đáo những nét đặc thù trong nếp cảm, nếp nghĩ, nếp diễn đạt
của người lao động, những nét đặc trưng cơ bản của văn hóa dân gian Việt Nam, cũng như mối quan hệ gắn bó giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa các nước khác trong khu
vực, đặc biệt là văn hóa Trung Hoa
Biểu tượng nghệ thuật tồn tại trong ca dao không phải với tính chất là những yếu
tố đơn lẻ, rời rạc mà đã hình thành nên một hệ thống hoàn chỉnh với những nội dụng,
ý nghĩa, vai trò, chức năng rõ rệt Con số 286 biểu tượng (dĩ nhiên đây chưa phải là con số chính xác tuyệt đối, con số cuối cùng) là con số khàng nhỏ Với tư cách là một thành tố trong thi pháp ca dao, biểu tượng có nhiều tác động, thậm chí còn chi phối sự hình thành cấu trúc chung của các đơn vị tác phẩm
Do những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài "Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt" với mong muốn bước đầu phác họa được một cái nhin tổng quan về hệ thống biểu tượng trong thể loại trữ tình dân gian này
Trên cơ sở xác định tên gọi và số lượng các biểu tượng nghệ thuật trong ca dao, chúng tôi bước đầu tiến hành việc phân loại, miêu tả và tìm hiểu hệ thống biểu tượng
đó về nhiều mặt như: các nguồn gốc và con đường hình thành biểu tượng, sự vận động
của biểu tượng trong từng chỉnh thể đơn vị hoặc nhóm đơn vị ca dao Qua đó, góp
Trang 9phần nghiên cứu sâu sắc hơn về thi pháp ca dao, đặc trưng thể loại của ca dao Bởi lẽ,
biểu tượng là yếu tố thi pháp có tầm quan trọng đặc biệt trong chỉnh thể nghệ thuật thuộc thể loại này
Luận án cũng cung cấp tư liệu thống kê một số lượng đáng kể các biểu tượng, qua đó giới thiệu với người đọc nguồn thi liệu dân gian phong phú làm cơ sở cho việc tìm hiểu những giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc dân tộc, thị hiếu thẩm mỹ dân gian
Thực hiện đề tài này, chúng tôi cũng mong muốn được đóng góp một cách thiết
thực vào việc nghiên cứu, phân tích, giảng dạy tác phẩm ca dao ở nhà trường phổ thông
Việc nghiên cứu biểu tượng nghệ thuật trong ca dao Việt Nam đã và đang là vấn
đề được nhiều người quan tủm Ngày càng có nhiều hơn những khám phá, phát hiện
mới của các nhà nghiên cứu từ thế giới các biểu tượng Các tín hiệu thẩm mỹ này đang dần dần được đánh giá đúng với những giá trị vốn có của chúng Những tiến bộ trong lĩnh vực nghiến cứu, phê bình, lý luận văn học dân gian thời gian gần đây đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc giải quyết nhiều vấn đề khoa học, trong đó có vấn đề biểu tượng ca dao
Một trong những người đầu tiên đề cập trực tiếp đến vấn đề biểu tượng trong ca dao là Vũ Ngọc Phan, soạn giả của bộ sách tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam Ở đoạn
viết về "Một đặc điểm trong tư dụy hình tượng của nhân dân Việt Nam về cuộc đời: đời người với đời con cò và con bống", ông cho rằng trong ca dao, người dân lao động
Việt Nam đã mượn con cò, con bống để biểu hiện đời sống của minh Ông viết:
"Người dân lao động Việt Nam đem hình ảnh con cò và con bống vào ca dao là đưa
một nhận thức đặc biệt về một khía cạnh của cuộc đời vào văn nghệ, lấy cuộc đời của
những con vật trên đây để tượng trứng vài nét đời sống của minh, đồng thời cũng dùng những hình ảnh ấy để khêu gợi hồn thơ" [123, tr 79]
Các nhà nghiên cứu khi khảo sát biểu tượng thường xem chúng như là những
yếu tố truyền thống trong ca dao, trong văn học dân gian Với cách xem xét đó, Đặng
Trang 10Văn Lung đã viết bài những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình, đăng trên tạp chí Văn học năm 1968 Thuật ngữ "trùng lặp" ở đây được dùng để chỉ những nét đã định hình, đã thành truyền thống của ca dao Theo tác giả, trong ca dao có nhiều yếu tố trùng lặp : hình ảnh, chủ đề, đề tài, kết cấu, ngôn ngữ tạo nên một đặc điểm quan
trọng, một sắc thái thẩm mỹ của ca dao Biểu tượng là một trong số những yếu tố đó (trùng lặp về hình ảnh và ngôn từ) Ông nêu vấn đề:."Khi nghiên cứu thần thoại, anh hùng ca và truyện cổ tích, nhiều tác giả đã lập được những hệ thống mô-tip trùng lặp
và nhờ đó mà giải quyết được nhiều vấn đề lý thú Riêng trong lĩnh vực thơ ca dân gian thi còn ít người-bàn tới vấn đề này Phải chăng ta có thể bắt đầu từ những yếu tố trùng lặp trong ca dao mà tìm hiểu được phần nào cái mà chứng ta gọi là "chất ca dao" [118, tr.306] Xu hướng khảo sát biểu tượng trong mối liên hệ với đặc trưng thể loại
ca dao đã được đặt ra với bài viết này
Cùng một suy nghĩ với các nhà nghiên cứu trên, phó giáo sư Chu Xuân Diên trong bài về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian năm 1981 cho rằng; "Việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian bao gồm từ việc khảo sát những yếu tố thi pháp riêng lẻ như phép so sánh thơ ca, các biểu tượng và luật thơ, các mô- tip và cách cấu
tạo cốt truyện đến việc khảo sát những đặc điểm thi pháp chung của từng thể loại và
cuối cùng là việc nêu lên những đặc điểm phổ thông và những đặc điểm dân tộc của thi pháp văn học dân gian nói chung" [17, tr.22] Ông đã đặt vấn đề nghiên cứu thi pháp văn học dân gian một cách toàn diện ỏ nhiều cấp độ, trong đó có biểu tượng thơ
ca Đề xuất việc làm này có nghĩa là nhấn mạnh bản chất nghệ thuật của văn học dân gian, hướng sự chú ý vào việc nghiên cứu văn học dân gian trước hết với tính chất là
những tác phẩm nghệ thuật, đồng thời khẳng định những giá trị độc đáo của thi pháp văn học dân gian (trong so sánh với văn học viết) Như vậy, tìm hiểu biểu tượng ca dao là công việc có ýtnghĩa quan trọng về nhiều mặt ở một bài viết khác, ông còn nêu
cụ thể cách hiểu về biểu tượng dưới góc độ là những yếu tố cấu trúc bên trong của tác
phẩm văn học dân gian [119, tr.93]
Năm 1988, Bùi Công Hùng với bài Biểu tượng thơ ca [ 67] và Hà Công Tài với
Biểu tượng trăng trong thơ ca-dân gian [145] đã trình bày những vấn đề về khái niệm
Trang 11biểu tượng nghệ thuật một cách chi tiết hơn, kết hợp với việc phân tích một số biểu tượng tiêu biểu trong ca dao
Năm 1991, trên tạp chí Văn hóa dân gian, Trương Thị Nhàn có bài viết về Giá trị
biểu trưng nghệ thuật của một số vật thể nhân tạo trong ca dao Tác giả đã tìm hiểu về
ý nghĩa biểu trưng của các vật thể như : khăn, áo, chăn, chiếu, giường, đũa, mâm, bát, con thuyền, nhà, đinh, và kết luận : "Khả năng biểu trưng hóa nghệ thuật của các vật
thể nhân tạo trong ca dao góp phần tạo nên một nét đặc trưng rất cơ bản trong nghệ thuật ngôn ngữ của ca dao: ngôn ngữ nghệ thuật ca dao mang tính khái quát cao, điển hình của tính hàm súc và "ý tại ngôn ngoại" trong sáng tác văn học" [109, tr.52]
Tiếp sau đó, năm 1992, Trương Thị Nhàn lại công bố một bài viết về biểu tượng sông trong ca dao, gợi ra mội hướng tiếp cận đối với các tín hiệu thẩm mỹ dân gian Tác giả cho rằng: "Là một yếu tố mang ý nghĩa thẩm mỹ, giàu sức khái quát hóa nghệ thuật, tham gia vào hệ thống biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật ca dao, sông có giá trị
của một tín hiệu thẩm mỹ Quan điểm hệ thống mới và cách nhin nhận có tính hệ
thống đối với ngôn ngữ nghệ thuật cho phép tìm ra giá trị của mỗi yếu tố tín hiệu ngôn
ngữ nghệ thuật, qua những mối liên hệ nội tại và ngoại tại của tác phẩm" [110, tr 21]
Luận án phó tiến sĩ sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mỹ - không gian trong ca dao của Trương Thị Nhàn (năm 1995) đã ứng đụng cách tiếp cận đó để nghiên cứu một loạt biểu tượng như núi, rừng, sông, biển, bến, ruộng đồng, vườn, đinh, chùa, cầu, thuyền [111]
Các công trình trên đây của Trương Thị Nhàn đã góp phần đáng kể trong lĩnh
vực nghiên cứu biểu tượng ca dao trên cả hai phương diện: lý thuyết và ứng dụng thực hành Mặc dù tác giả xem xét, giải quyết vấn đề chủ yếu dưới góc độ ngôn ngữ học nhưng đã đề xuất nhiều hướng nghiên cứu biểu tượng, từ đó, có thể đào xới được
những lớp ngữ nghĩa tiềm ẩn trong mỗi biểu tượng
Năm 1992, trong công trình nghiên cứu về thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính, một số biểu tượng đã được đề cập đến như trúc, mai, hoa nhài, con cồ, con
bống Tác giả đã nghiên cứu các biểu tượng về nhiều mặt, đề xuất một số cách hiểu riêng về ý nghĩa của biểu tượng (chẳng hạn về một nét nghĩa của biểu tượng con cò) Ông còn so sánh ý nghĩa của cùng một biểu tượng trong hai bộ phận văn'học khác
Trang 12nhau: văn chương bình dân và văn chương bác học Từ đó, tác giã gợi lên một vấn đề
cần được quan tâm khi xác định nghĩa của biểu tượng : " tuy cùng viết về một biểu tượng nhưng dòng thơ dân gian và bác học đã miêu tả khác nhau, cấp cho nó những ý nghĩa khác nhau" [81, tr.215]
Việc Nguyễn Xuân Kính sắp xếp phần viết về các biểu tượng thành hẳn một chương (chương bảy) trong Thi pháp ca dao đã phần nào thể hiện được tầm quan
trọng, sự cần thiết phải nghiên cứu các biểu tượng Sự tìm hiểu các tín hiệu thẩm mỹ, mô-tip thơ ca này không còn là thao tác mang tính chất cảm tính, tự phát mà đã trở
thành m ột yêu cầu không thể thiếu khi phân tích, cảm thụ ca dao
Bài việt công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao - dân ca trữ
nghiên cứu về biểu tượng của những người đi trước Theo tác giả, công thức folklore
là những kiểu mẫu ổn định, điển hình khác nhau của truyền thống Công thức folklore
đa dạng về hình thái, dụng lượng, nội dụng, ý nghĩa Công thức truyền thống ở ca dao
có nhiều loại, biểu tượng là một trong số đó Trong bài viết này, tác giả đã chú trọng đến việc khảo sát các công thức, các biểu tượng gắn liền với những đặc trưng bản chất
của văn học dân gian Tác giả lưu ý người đọc tới tầng nền văn hóa, dân tộc học của các công thức, sự biến hóa, đổi mới của các công thức trong những hoàn cảnh sử dụng
cụ thể Tính truyền thống và sáng tạo thể hiện trong mỗi công thức là nguyên nhân
dẫn đến sự trường tồn và sức hấp dẫn của công thức folklore Xét ở phương diện cấu trúc, tác giả còn cho rằng công thức truyền thống chính là chia khóa mở bí mật đặc trưng cấu trúc của bài ca trữ tình dân gian Công thức có chức năng thiết kế văn bản Văn bản bài ca phần nhiều được xây dựng từ các công thức
Kết thúc bài viết, tác giả còn gợi mở một hướng đi mới mẻ, đầy triển vọng cho
những công trình nghiên cứu ở tương lai : "Nếu đối với truyền thuyết, truyện cổ tích
thần kỳ, sử thi chúng ta đã bước đầu thống kê, miêu tả được những mô-tip cốt truyện, thi đối với ca dao - dân ca trữ tình, chúng ta cũng có thể và cần thống kê, miêu tả các
mẫu đề truyền thống, cũng như các công thức chi tiết của từng mẫu đề Có thể lập từ điển và các chương trình vi tính khác nhau cho những vấn đề này, mã hóa hình thức,
ngữ nghĩa nghệ thuật, "cốt" văn hóa, dân tộc học của chúng Những công trình như thế
Trang 13rất cần cho folklore học, không chỉ trong việc tìm hiểu cấu tróc các bài ca mà cả trong
việc nghiên cứu các vấn đề nội dụng, ý nghĩa, đặc trưng địa phương, dân tộc và quốc
tế của folklore" [118, tr.326]
Với bài viết này, Bùi Mạnh Nhị đã góp phần đắc lực vào việc xây dựng nền móng lý luận vững chắc cho công việc nghiên cứu biểu tượng ca dao
Năm 1997, một luận văn tốt nghiệp đại học của sinh viên Phan Thị Bích Vân về
đề tài "Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao dân ca trữ tình cổ truyền Việt Nam" do 'Bùi
Mạnh Nhị hướng dẫn cũng được hoàn thành [186] Luận văn đã đi vào khảo sát biểu tượng dưới nhiều góc độ ( khái niệm, phân loại, nội dụng ý nghĩa, nguồn gốc), có nhiều lý giải khá thỏa đáng Luận văn còn bước đầu lập bảng thống kê "Hệ thống
những biểu tượng tiêu biểu và ý nghĩa của chúng " Tuy nhiên, do sự hạn chế về dụng lượng của luận văn (42 trang chính văn và 24 trang phụ lục), nhiều vấn đề lý thuyết về
biển tượng đã được đặt ra nhưng giải quyết còn sơ lược
Năm 1998, tác giả Phạm Thu Yến trong cuốn sách Những thế giới nghệ thuật ca dao đã dành một số trang thích đáng cho "Vấn đề nghiên cứu hiểu tượng trong thơ ca
trữ tình dân gian" với ba phần :
I Biểu tượng và ẩn dụ
II Biểu tượng thơ ca dân gian - yếu tố nghệ thuật đặc thù gắn liền với đặc trưng
thể loại
III Sự hình thành và phát triển của biểu tượng
So với các công trình trước, Phạm Thu Yến đã cố nhiều nỗ lực để khảo sát biểu tượng một cách toàn diện hơn (chú ý khái niệm biểu tượng, phân biệt biểu tượng với
ẩn dụ, khẳng định việc sử dụng biểu tượng gắn liền với đặc trưng thể loại, tính đan tộc
của biểu tượng, phân loại biểu tượng, đặc điểm và ý nghĩa của việc sử dụng biểu tượng trong thơ ca dân gian Việt Nam, sự hình thành và phát triển của biểu tượng ) Tác giả đã vận dụng nhiều quan điểm lý luận và phương pháp nghiên cứu của các công trình khảo sát về biểu tượng thi ca ở ngoài nước vào thực tế nghiên cứu biểu tượng trong ca dao Việt Nam Tuy nhiên, như tác giả đã viết : "Những điều trình bày trên vẫn mang ý nghĩa mở, ý nghĩa đặt vấn đề chứ chưa phải là sự giải quyết triệt
Trang 14để " [196, tr.101] Chuyên luận đã đề cập đến hàng loạt vấn đề cần được bàn luận ở
hệ thống biểu tượng ca dao, nhưng chưa đi đến những kiến giải thật cụ thể, chi tiết về chúng
Gần đây (năm 2001), một số biểu tượng đã được nghiên cứu khá tỉ mỉ ở bình
diện văn hóa cũng như văn học, đem lại cho người đọc nhiều hiểu biết thú vị và sâu
sắc Đó là biểu tượng hoa hồng trong bài viết của Nguyễn Phương Châm [9], chiếc áo trong bài viết của Nguyễn Thị Ngân Hoa [54]
Nhin chung, đây là đề tài thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học khi tìm
hiểu về thi pháp ca dao Nhưng việc nghiên cứu biểu tượng một cách toàn diện, hệ
thống, nghiên cứu biểu tượng trong những mối quan hệ phức tạp với các thành tố khác
của thi pháp ca dao, chú ý đến sự vận động của biểu tượng trong cấu trúc bài ca vẫn
là công việc còn đang chờ được tiếp tục bổ sung và hoàn chỉnh Trong nhiều công trình, cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đã được đặt ra, nhưng việc thực hiện vẫn còn
bỏ ngỏ Một số biểu tượng đã được phân tích, tìm hiểu nhưng vẫn còn thiếu một cái nhin thật sự hệ thống
Với mục đích tiếp tục công việc nghiên cứu nói trên, chúng tôi đã chọn đề tài
lợi nhất định có được từ việc tiếp thu thành quả nghiên cứu của những công trình trước, chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn như: đối tượng nghiên cứu phức tạp, khối lượng tư liệu phải xử lý rất lớn
Cách đây mấy năm, chúng tôi đã một phần thực hiện đề tài này qua luận án cao
học Hình tượng trầu cau trong ca dao Việt Nam dưới sự hướng dẫn của phó giáo sư
Chu Xuân Diên Trong luận án, chúng tôi đã dành một chương để tìm hiểu những lớp nghĩa của biểu tượng trầu cau, vai trò của biểu tượng này trong hệ thống chủ đề và cấu
tứ ca dao Từ việc nghiên cứu một biểu tượng mở rộng ra toàn bộ hẹ thống các biểu tượng trong ca dao là điều không dễ dàng Tuy vậy, chặng đường nghiên cứu đầu tiên
đó đã giúp chúng tôi có thêm được một số nhận thức và kinh nghiệm quí báu để thực
hiện đề tài này
Trang 153 Gi ới hạn của đề tài
Ở luận án này, chúng tôi khảo sát chủ yếu là các biểu tượng ương ca dao truyền
thống (trước 1945), bộ phận ca dao của người Việt (không khảo sát cạ dao của các dân
tộc ít người) Cụ thể là phần khảo sát của chúng tôi được giới hạn trong các tư liệu sau đây :
-Tư liệu I: Kho tàng ca dao người Việt do Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng
Nhật chủ biên Tư liệu này gồm 4 tập, được tuyển chọn từ 37 tư liệu gốc (46 tập) vừa Hán Nôm, vừa quốc ngữ, chủ yếu tập hợp những lời ca dao ra đời từ trước Cách mạng tháng Tám Đây là công trình biên soạn qui mô, công phu, khoa học với số lời ca dao đạt đến mức kỷ lục : 11.825 lời (chưa kể các dị bản)
-Tư liệu II: Kho tàng ca dao xứ Nghệ do Ninh Viết Giao chủ biên cùng với sự
cộng tác của nhiều người khác, gồm 2 tập
-Tư liệu III: Ca dao - dẫn ca Nam bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát,
Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn
Tư liệu IV: Hát ví đồng bằng Hà Bắc do Mã Giang Lân, Nguyễn Đinh Bưu biên
soạn
Việc lựa chọn bốn tư liệu này xuất phát từ nhiệm vụ của luận án: khảo sát biểu
tượng ca dao ồ cả hai bình diện dân tộc và địa phương Tư liệu I tập hợp ca dao ở cả
ba miền đất nước, có tính cách đại diện chung để tìm hiểu biểu tượng ở tính dân tộc
Ba tư liệu còn lại, mỗi tư liệu tập hợp ca dao của một miền đất, góp phần tô đậm thêm
s ắc thái địa phương ở các biểu tượng
Danh mục biểu tượng, các số liệu thống kê được nêu trong luận án đều là kết quả nghiên cứu của chúng tôi với bốn tư liệu trên
• Luân án nhằm định hình, định vị một hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao đa dạng và phong phú (286 biểu tượng), cho nên chưa cố điều kiện để miêu tả kỹ lưỡng từng biểu tượng với đầy đủ những nét nghĩa của nó Tuy nhiên, chúng tôi cũng
cố gắng trong chừng mực có thể để người đọc tiếp cận với các biểu tượng cụ thể qua,
một số trang viết ở phần nội dụng luận án và phần phụ lục
Trang 16Số lượng các đơn vị ca dao mà chúng tôi phải xử lý là rất lớn, cơ sở để xác định
biểu tượng trên lý thuyết khá rõ ràng, nhưng đi vào thực tế lại vô cùng phức tạp, vi
vậy, việc khẳng định một sự vật, hiện tượng có phải là biểu tượng hay không cũng không dễ dàng, thuận lợi Chúng tôi đã cố gắng để xây dựng một bảng thống kê về hệ
thống biểu tượng nhưng có lẽ cũng khó tránh khỏi những sai sót Những nét nghĩa của
biểu tượng mà chúng tôi xác lập được trình bấy trong luận án đều theo nguyên tắc
xuất phát từ các văn bản, lấy văn bản làm gốc, chứ không dựa vào những suy luận chủ quan của người viết
Trong luận án, khi chú thích địa chỉ các ví dụ, chúng tôi trình bày theo qui ước sau: Tư liệu I: TL I; Tư liệu II: TL II; Tư liệu III: TL III; Tư liệu IV: TL IV
Kèm theo tư liệu là số tập, số trang Ví dụ : TL II (1) - tr.59, có nghĩa là: ví dụ này nằm ở tư liệu II, tập I, trang 59
Để tiện theo dõi và kiểm chứng, mỗi khi dẫn các bài ca dao, chúng tôi đều ghi kèm theo phần điạ chỉ như trên Các tư liệu I, II, III được sử dụng để trích dẫn khá nhiều Còn tư liệu IV thi có hạn chế hơn do ở tư liệu này dụng lượng các bài ca dao - dân ca thường rất dài, nếu dưa vào luận án nhiều chúng tôi sẽ gặp khó khăn khi xử lý
số trang viết VI vậy, chúng tôi chỉ trích đẫn một số lượng nhỏ
4 Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các biểu tượng nghệ thuật ca dao Tuy nhiên, trong đời sống, các biểu tượng này tồn tại luôn luôn gắn rất chặt với môi trường văn hóa, văn nghệ dân gian, liên quan với rất nhiều những yếu tố về địa lý, lịch sử
VI vậy, chúng tôi nhận thấy cần phải sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, sử
dụng thành tựu nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau để có thể tìm hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn về biểu tượng
Ca dao là những văn bản thơ, nên việc nghiên cứu ca dao trước hết là bằng
những cách thức của văn học thành văn Bằng những cách thức này, luận án xác định
nội dụng và cấu trúc ngôn từ của biểu tượng trong văn cảnh ca dao Nhưng khi tìm
hiểu sự hình thành những nội dụng và cấu trúc ngôn từ ấy không thể chỉ dựa vào
những văn bản ca dao, mà còn phải dựa vào đời sống sinh động của ca dao (tức sinh
Trang 17hoạt ca hát dân gian) và nhất là vào đời sống văn hóa của những người sáng tạo và sử
dụng ca dao Điều này yêu cầu luận án khi sử dụng phương pháp nghiên cứu văn học (thi pháp học miêu tả), cần sử dụng phối hợp phương pháp nghiên cứu của văn hóa
học (nghiên cứu một hiện tượng văn hóa) Do vậy, trong luận án, bên cạnh những
phần phân tích biểu tượng thi ca, còn có những dữ kiện dân tộc học cần thiết để xác định không những nội dụng nghệ thuật mà cả nội dụng văn hóa của biểu tượng trong
ca dao
Việc sử dụng phương pháp thống kê cho phép chúng tôi tính toán được số lần
xuất hiện của các biểu tượng, qua đó, nhận biết được vị trí của biểu tượng trong thể
loại ca dao, trong tâm thức dân gian, nhận biết đâu là những biểu tượng được ưa thích
nhất, phổ biến nhất Khi vận dụng phương pháp phân tích định lượng này, chúng tôi
rất tán thành ý kiến của Nguyễn Xuân Kính: "Kết quả của việc thống kê khách quan cho phép nhà nghiên cứu đi đến những kết luận, những khái quát khoa học, tránh được
những suy luận chủ quan, gò ép " [191, tr.139]
Bài viết Phương pháp hệ thống và việc nghiên cứu giảng dạy ca dao của Phan Đăng Nhật [191, tr.142 - 162] cùng một số tài liệu khác bàn về phương pháp trên cũng
là những gợi ý quý báu để chúng tôi vận dụng trong đề tài này
Bên cạnh đó, biểu tượng nghệ thuật là những tín hiệu thẩm mỹ tồn tại ở nhiều
loại hình nghệ thuật, nhiều bộ phận văn học, nhiều môi trường văn hóa, nhiều địa phương, dân tộc khác nhau VI vậy, khi nghiên cứu, chúng tôi thấy cần thiết phải sử
dụng phương pháp so sánh
5 Đóng góp mới của luận án
Cùng với việc tiếp thu các thành quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi đã cố gắng để có được những đóng góp mới khi thực hiện đề tài này Đó là : Góp phần bổ sung, hoàn chỉnh thêm khái niệm biểu tượng trong ca dao
- Xác lập một hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao người Việt
- Phân loại và miêu tả hệ thống đó
- Khảo sát biểu tượng về nhiều mặt: nguồn gốc hình thành, cấu lạo và chức năng
Trang 18- Bước đầu lập danh mục các biểu tượng nghệ thuật trong ca dao người Việt (Với 286 biểu tượng, mỗi biểu tượng có tần số xuất hiện và những nét nghĩa tiêu
biểu, phổ biến cùng các ví dụ và địa chỉ ví dụ)
Luận án bao gồm các phần sau đây : Phần thứ nhất (Dẫn luận), gồm :
- Mục đích, ý nghĩa của đề tài
- Lịch sử vấn đề
- Giới hạn của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu
- Đóng góp mới của luận án
- Kết cấu của luận án
Phần thứ hai (Nội dụng), gồm 4 chương :
- Chương 1 : Khái niệm về biểu tượng nghệ thuật trong ca dao
- Chương 2 : Nguồn gốc của biểu tượng nghệ thuật trong ca dao người Việt
- Chương 3 : Phân loại và miêu tả biểu tượng nghệ thuật trong ca dao người
- Danh mục các biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt
- Bảng thống kê tần số xuất hiện các sự vật, hiện tượng được chọn làm biểu tượng trong ca dao (theo thứ tự từ cao xuống thấp)
Trang 19
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TRONG CA DAO
Nghiên cứu về biểu tượng là lĩnh vực đã và đang được các nhà khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau quan tâm đến Thế giới các biểu tượng nói chung thực sự đã
đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tình thần của con người từ xưa đến nay ở
khắp mọi miền trên trái đất Jean Chevalier, nhà biên soạn Từ điển biểu tượng văn hóa
th ế giới đã nhận xét: "Nói là chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng thi vẫn còn
chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta" [71, tr.XIV] Còn Claude Lévi- Strauss, khi nghiên cứu nhân loại học ở các sự kiện văn hóa thi cho rằng: ''Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng, trong đó
xếp ở hàng đầu là ngữ ngôn, các quy tắc hổn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo "[71, tr.XXIII] Xét ra, biểu tượng đã được đánh giá đúng với
những giá trị vốn có của chúng trong đời sống con người Các biểu tượng góp phần làm nên bộ mặt của mội nền văn hóa ồ những đường nét cơ bản nhất Đó là một thế
giới có sức hấp dẫn đặc biệt do nó qui tụ nhiều tính chất dường như đối lập nhau: vừa
hiển hiện, vừa tiềm ẩn, vừa công khai, vừa bí mật, vừa bộc lộ, vừa che giấu, vừa rõ ràng , vừa mông lung Sự tác động, các mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế
giới con người, những ý nghĩa hàm ẩn mà biểu tượng khơi gợi ra như một qui ước
thẩm mỹ của cộng đồng là những vấn đề lý thứ mà người ta vẫn mong muốn có thể
lý giải được nhờ vào những lập luận của tư dụy lôgich
Để đi sâu vào thế giới hình ảnh có vẻ bí ẩn này, trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm có tính chất công cụ: biểu tượng là gi?
Trong tiếng Hán, biểu là bày ra, trình bày; tượng là hình ảnh, hình dạng Biểu tượng là một hình ảnh cụ thể nào đó được phô bày ra nhằm thể hiện một ý nghĩa trừu tượng
Trang 20Thuật ngữ chỉ biểu tượng trong tiếng Anh: symbol, tiếng Pháp: symbole đều có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: symbolon (có nghĩa là: ký hiệu, dấu hiệu để nhận ra nhau
cầm chúng thi có thể lãnh lương, phụ cấp hay thực phẩm, chỉ mọi dấu hiệu tập họp,
chỉ các qui ước Biểu tượng chia ra và kết lại với nhau, nó chứa đựng hai ý tưởng phân ly và tái hợp, nó gợi lên ý một cộng đồng, một quan hệ tình cảm đã bị chia tách
và có thể tái hình thành: "Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ: ý nghĩa
của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ, vừa là nối kết những phần của nó đa
bị vỡ ra" [71, tr.XXIII] Cách hiểu này về biểu tượng có thể tìm thấy trong văn học cổ Trung Quốc khá nhiều Biểu tượng được hiểu như là một vật làm tin, một dấu hiệu để
chuyện về mảnh gương - khá tiêu biểu cho cách hiểu về biểu tượng như đã nói trên:
"Nguyên về đời Xuân Hiu bên Trung Quốc, Lạc Dương công chúa cùng chồng chạy
loạn, lúc biệt nhau, đập tấm gương soi làm hai mảnh, mỗi người giữ một mảnh, dặn nhau cứ ngày thượng nguyên (rằm tháng giêng) đem gương vỡ ra chợ để rao bán, nếu
hợp hai mảnh lại mà in như tấm gương thi được gặp nhau
Đời sau thường dùng điển cố đó để nói lúc phân ly của hai vợ chồng hay hai tình nhân" [99, tr.285] Ở đây, chiếc gương là sự vật có chức năng thay thế Gương
vỡ: sự chia ly, gương lành: sự tái hợp Hai mảnh gương vỡ (vật chất) chỉ sự chia cắt (tình thần), đồng thời dự báo trước một tương lai sẽ được đoàn tụ (tình thần) Chiếc
gương là biểu tượng, là một dạng thức dùng cái này để nói cái kia, dùng cái hiện hữu
để nói cái vô hình
Nhà từ điển Pháp André Lalande định nghĩa: "Biểu tượng là cái biểu hiện một cái gi khác căn cứ vào một tương ứng loại suy" [14, tr.78], còn từ điển Petit Larousse,
Trang 211981 thi cho rằng: "Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh bằng con vật sống động hay
bằng đồ vật, nó biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh của một sự hay một điều
gi đó" [14, tr.78]
Theo Đoàn Văn Chúc, biểu tượng bao gồm mọi dạng thức hình ảnh tĩnh cũng như động (tĩnh: dáng vẻ một ngôi chùa, một pho tượng, một bức tranh; động: một điệu múa, một cảnh kịch, một đám rước, một chuỗi hành động trong điện ảnh ), tác động đến tai và mắt, gây ra trong tâm hồn người những lung động khoái trá về chúng, tất nhiên với các khía cạnh và mức độ khác nhau Cũng theo ông, để tri giác cái bất khả tri giác, người ta dùng một vật môi giới, gọi là biểu tượng Nói cách khác, biểu tượng
là ngôn ngữ của cái bất khả tri giác (không trông thấy, không nghe thấy, không sờ mó
thấy ) [14,tr.66]
Nói tóm lại, biểu tượng là những dạng thức dùng hình này để tỏ nghĩa nọ, dùng
được chọn làm biểu tượng có khả năng biểu hiện tình tế những ý niệm của con người
về cuộc sống, xã hội, thế giới (có khi những ý niệm này đã ăn sâu trong tiềm thức, vô
thức, tâm thức) Giữa sự vật, hiện tượng và những ý nghĩa mà nó hàm chứa (đước góc
độ biểu tượng) không phải ỉà sự đồng nhất, mà là một sự tương ứng có thể xảy ra ở nhiều khía cạnh, cấp độ khác nhau, làm nên sự đa nghĩa, đa trị của biểu tượng
Một đặc điểm nổi bật của biểu tượng là tính qui ước Tính chất này được thể
hiện ở nhiều mức độ tùy từng loại biểu tượng cụ thể Từ thấp đến cao, có thể kể đến tính qui ước trong biểu tượng mang màu sắc cá nhân, rồi đến các biểu tượng của một nhóm người, một địa phương, một dân tộc, một khu vực, và cuối cùng là biểu tượng
có tính quốc tế Có khi người ta nói đến biểu tượng trong các sáng tác của một nhà văn, nhà thơ, nhà họa sĩ Các nhà nghệ sĩ này thường xuyên sử dụng trong sáng tác
của minh một số hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng theo cách nhin của tác giả Công chúng nhiều lần tiếp xúc với các cổng trình nghệ thuật đó, dần dà quen thuộc với các hình ảnh và nhận ra những ý nghĩa thẩm mỹ nhất định làm cho tác phẩm có sức sống lâu bền Đó là trường hợp xuất hiện các biểu tượng của riêng một tác giả Tính quy ước ở đây được bộc lộ ở cấp độ thấp (quy ước của một cá nhân) Nhưng phổ biến hơn
cả là những biểu tượng mang tính cộng đồng (cấp độ cao - quy ước của rất nhiều cá
Trang 22nhân) Sự vật, hiện tượng nào đó sở dĩ trở thành biểu tượng là do một cộng đồng người nhất định quy ước sử dụng nó Biểu tượng chỉ có thể tồn tại và hoạt động, phát huy tác dụng khi nó được hiểu, được thừa nhận Nó phải có những ý nghĩa ổn định tương đối nào đó, trong những thời kỳ lịch sử nhất định, những hệ thống tác phẩm
nhất định Nếu ý nghĩa của sự vật, hiện tượng gợi ra luôn luôn biến đổi, nó sẽ tự phủ
nhận giá trị biểu tượng của chính bản thân
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, biểu tượng là dấu hiệu được bày ra bên ngoài để
nhận biết sự sở thuộc cộng đồng, hay nói cách khác, biểu tượng thể hiện rất rõ tính
cộng đồng Chỉ những hình ảnh (con vật, đồ vật ) được cộng đồng chấp nhận, cùng
ngầm thỏa thuận thống nhất với- nhau là nó chỉ ra một nghĩa nào đó ở bên ngoài nó, thi mới có thể trở thành biểu tượng Và thường thi những hình ảnh này đã trải qua sự
thử thách khắc nghiệt của thời gian, không gian Nó dần dần được định hình và củng
cố ngày một chắc chắn hơn trong tâm thức dân tộc qua quá trình sử dụng
Cũng vi biểu tượng mang đậm tính cộng đồng, tính xã hội nên các sự vật, hiện tượng giống nhau ở các dân tộc không phải bao giờ cũng chứa đựng những ý nghĩa
biểu tượng trùng khớp lên nhau Chẳng hạn, đối với người Hinđu, thấm nhuần tư tưởng đạo Vệ - Đà, con bò cái mang một ý nghĩa tình thần khác hẳn đối với người nuôi bò xứ Normandie Đối với những người dận lao động Nga, trong thi ca dân gian, chim thiên nga, con tu hú mang những ý nghĩa tượng.trưng sâu sắc mà ở các dân tộc khác lại không có Biểu tượng có khả năng lớn lao trong việc tạo nên sự hòa hợp, hòa
nhập giữa những con người trong cùng một cộng đồng Qua đó, người ta có thể cảm thông và đoàn kết với nhau hơn Biểu tượng có sức mạnh liên kết mọi người lại với nhau vi nó là trung tâm của những quan niệm và tư tưởng chung, từ đó, mọi người
nhận ra minh thuộc về một cộng đồng: "Mỗi nhóm người, mỗi thời đại có những biểu tượng của minh: rang động trước cái biểu tượng đó, tức là tham gia vào nhóm người
và thời đại ấy Thời đại không có biểu tượng là thời đại chết, xã hội thiếu biểu tượng
là xã hội chết Một nền văn minh không còn có biểu tượng' thi sẽ chết; nó chỉ còn thuộc về lịch sử" [71,tr.XXXIII]
Trang 23Đương nhiên, chúng ta cũng không loại trừ trường hợp một số các biểu tượng đã đạt đến tầm vóc quốc tế toàn thể nhân loại đều công nhận chúng mang một nghĩa tượng trưng chung nào đó (ví dụ: hoa: người con gái; chim bồ câu: hòa bình )
Để hiểu rõ hơn về biểu tượng, bên cạnh việc tìm hiểu thuật ngữ, chúng ta cũng
cần phân biệt nó với một số từ ngữ có liên hệ gần gũi
Từ "symbol" trong tiếng Anh khi được dịch sang tiếng Việt có khi là "biểu trưng", có khi là "biểu tượng", cách dùng, cách hiểu chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu và dịch thuật
Theo Đoàn Văn Chúc: "Trong trường hợp biểu trưng, người ta nhận thấy các vật được chọn làm hình ảnh tự thân chúng có ý nghĩa gần gũi hay có khi chồng khớp với giá trị được diễn đạt, mà người ta có thể lĩnh hội bằng một sự tương ứng loại suy tương đối dễ dàng, trực tiếp Trong khi ấy, sự lĩnh hội ý nghĩa (tức giá trị) của biểu tượng là gãy khúc và phức tạp hơn nhiều " [14, tr.78]
Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, các tác giả cũng quan niệm biểu tượng khác với biểu hiệu, vật hiệu, phúng dụ, loại suy, triệu chứng, ngụ ngôn luân lý Tất cả những lối diễn đạt bằng hình ảnh này đều là những dấu hiệu và không vượt quá mức độ của sự biểu nghĩa, mà: "Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu, ở chỗ dấu
hiệu là một qui ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức" [71, tr.XIX] Mối quan hệ, sự tương hợp,
sự thâm nhập sâu xa giữa ý tưởng và hình thức ở biểu tượng khiến cho ý nghĩa cua
biểu tượng trở nên rộng lớn, sâu sắc hơn cái ý nghĩa được gán cho nó một cách nhân
tạo Nó có một sức vang cối yểu và tự sinh
Nói tóm lại, sự khác nhau giữa biểu tượng và các khái niệm tương cận chủ yếu là
ở sự phức tạp trong lĩnh hội các ý nghĩa do biểu tượng khơi gợi ra Nghĩa của biểu tượng không phải bao giờ cũng tách bạch, rõ ràng Có những lúc chúng ẩn sâu vào bên trong, đòi hỏi ở trí não con người một nguồn năng lực lớn lao để khám phá, tìm tòi Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: "Nghĩa của tượng trưng không thể đem giải
mã bằng nỗ lực suy lý bởi vi nó đa nghĩa, cấu trúc nghĩa hàm của tượng trưng là đa
Trang 24tầng và nó dự tính đến sự ký thác của người tiếp nhận" [44, tr.320] (khái niệm "tượng trưng" ở đây được hiểu như "biểu tượng")
Tuy nhiên, đó cũng chỉ là sự phân biệt đứng về mặt lý thuyết Sự cảm nhận, lĩnh
hội ý nghĩa do các hình ảnh gợi ra tùy vào sự hiểu biết, tùy vào năng lực, trí lực, thiên hướng của mỗi cá nhân, khó xác định được đó là con đường đơn giản hay phức tạp
VI vậy, trong thực tế, nhiều trường hợp biểu tượng và biểu trưng được dùng gần như đồng nghĩa với nhau:
Trong đời sống, các biểu tượng không tồn tại một cách chung chung mà luôn
phụ thuộc vào một lĩnh vực xác định nào đó, dẫn đến sự hình thành nên nhiều loại
biểu tượng: biểu tượng toán học, khoa học, tôn giáo, văn hóa, triết học, nghệ thuật v.v Mỗi lĩnh vực có một hệ thống biểu tượng riêng Một sự vật, hiện tượng có thể
trở thành biểu tượng của nhiều lĩnh vực khác nhau với những nội dụng ý nghĩa khác nhau Cùng là hoa sen, nhưng giá trị của biểu tượng này xét về mặt tôn giáo và nghệ thuật là không trùng lắp, cùng là con rồng nhưng trong lĩnh vực chính trị và nghệ thuật chúng có những ý nghĩa không giống nhau Có khi những nội dụng của biểu tượng ở
các lĩnh vực có liên quan xa gần với nhau, những không đồng nhất VI vậy, khi xác
định nghĩa của một biểu tượng, luôn luôn phải đặt nó trong những mối tương quan với
một lĩnh vực cụ thể
được các Viện tiêu chuẩn hóa xác định chặt chẽ Ở đây, nghĩa của biểu tượng được chỉ
ra hết sức rõ ràng, rành mạch Biểu tượng mất đi khả năng khơi gợi, mời gọi tâm trí con người đi đến những miền đất mới của nhận thức, của cảm xúc Các nhà nghiên
cứu đã cho rằng: "Không thể có các khoa học chính xác phát biểu bằng biểu tượng, theo đúng nghĩa của từ này" [71, tr.XIX]
Một số các công thức giáo lý cũng được gọi là các biểu tượng của đức tin, đó là
những tuyên bố trịnh trọng trong lúc thờ cúng, qua đó, những người đã thụ giáo theo,
một đức tin, một nghi lễ, một hội tôn giáo có thể nhận ra nhau Cũng như loại biểu tượng đã nêu ở trên, các công thức này mới chỉ là những dấu hiệu chỉ ra các ý nghĩa
Trang 25đã quá quen thuộc, không chất chứa nguồn năng lực làm trí óc phải hoạt động, không khơi dậy cho con người sự bức xúc phải tìm tòi, khao khát để hiểu biết về chúng
tượng là những hình ảnh cụ thể của vật thể và hiện tượng của thế giới bên ngoài và
của các tính chất của chứng xuất hiện trong ý thức con người mà không có sự trực tiếp tác động của kích thích bên ngoài lên các cơ quan cảm thụ con người đó Cơ sở của
biểu tượng là:
- Hình ảnh vật thể, hiện tượng nằm trong ý thức
- Biểu tượng kém rõ ràng, rành mạch hơn tri giác
- Biểu tượng có tính biến dị
- Biểu tượng là hình ảnh có tính chất tổng quát hơn vật thể so với tri giác
Theo cách hiểu này, biểu tượng cây sồi, cây bạch dương rộng hơn, khái quát hơn cây sồi cụ thể, cây bạch dương cụ thể".[67, tr.70]
T ừ điển triết học do các nhà triết học Liên Xô biên soạn đã định nghĩa biểu
tượng là: "Hình ảnh cảm tính, cụ thể về những hiện tượng của thế giới bên ngoài Biểu tượng cùng với cảm giác và tri giác tạo nên nhận thức cảm tính hay theo thuật ngữ của Páp-lốp, tạo nên hệ thống tín hiệu thứ nhất của hiện thực" [67, tr.71]
Như vậy, hiểu theo triết học, tất cả các sự vật trong thế giới khách quan, khi được con người tiếp nhận, đều sẽ trở thành biểu tượng Thế giới khách quan có bao nhiêu sự vật, hiện tượng thi cũng có bấy nhiêu biểu tượng được hình thành trong nhận
thức của con người Ở đây, biểu tượng không chỉ ra một nghĩa nào khác ở bên ngoài
nó Mỗi con người có một thế giới biểu tượng của riêng minh tùy thuộc vào sự trải nghiệm trong cuộc sống, sự tiếp xúc với thế giới chung quanh
điêu khắc, kiến trúc, sân khấu, điện ảnh, văn học Điều này cũng có nghĩa là biểu tượng có thể được hình thành bởi những chất liệu khác nhau: màu sắc, đường nét, hình khối, động tác, điệu bộ, ngôn ngữ của con người Biểu tượng nghệ thuật tuân theo qui luật của cái đẹp, thể hiện được cái chân, thiện, mỹ, đem lại những rung động
thẩm mỹ cho con người Nguyễn Xuân Kính đã nêu một định nghĩa về biểu tượng
Trang 26thuộc lĩnh vực này: “Biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, thể
hiện quan niệm thẩm mỹ, tư tưởng của từng nhóm tác giả (có khi của riêng một tác
giả), từng thời đại, từng dân tộc và từng kim vực cư trú” [81, tr.85]
Phải chăng đã có một sự chuyển đổi theo hướng tiếp nối giữa biểu tượng triết
học và biểu tượng nghệ thuật, biểu tượng thơ ca? Đây không phải là hai cách hiểu hoàn toàn khác nhau về biểu tượng mà là hai cấp độ của biểu tượng, ở cấp độ thứ
nhất, biểu tượng mang tính chất đại trà, toàn bộ thế giới khách quan đều tồn tại trong trí não của con người dưới hình thức các biểu tượng Có sự vật là có biểu tượng Nhưng ở cấp độ thứ hai, thế giới biểu tượng thu nhỏ lại, thu hẹp lại, đó là thế giới của
những hình ảnh nghệ thuật, thẩm mỹ Thế giới này đã được cộng đồng chọn lọc, sử
dụng Biểu tượng lúc này không còn nguyên sơ nữa mà mang đầy màu sắc của xúc
cảm, không phải là sự miêu tả đơn thuần về thế giới khách quan mà là sự gởi gắm vào
đó thế giới tâm trạng của con người Biểu tượng trở thành một phưong tiện thẩm mỹ
để con người bày tỏ những tư tưởng, tình cảm của minh Hà Công Tài viết: "Cần phải phân biệt trường hợp sau khi tạo ra những biểu tượng sao chép lại nguyên sơ cái hiện
thực, chúng ta có thể tạo ra biểu tượng với một ý nghĩa hơi khác mang tính tượng trưng Biểu tượng đất nước - địa vực cư trú và thiên nhiên của người Việt, biểu tượng
Rồng - vương quyền thời phong kiến, biểu tượng Việt Nam - dân tộc anh hùng là thuộc loại thứ hai này" [145, tr.66] Hiểu rộng ra, biểu tượng triết học là cơ sở để từ đó hình thành nên nhiều loại biểu tượng khác, trong đó có biểu tượng nghệ thuật
1.1.3 Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao:
Biểu tượng trong ca dao là một loại biểu tượng nghệ thuật, được xây dựng bằng ngôn từ (ngôn từ nói và ngôn từ viết) với những qui ước của cộng đồng Thế giới biểu tượng này vừa mang những đặc điểm của biểu tượng nói chung, vừa mang những nét riêng đặc thù của nó do nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật thi ca dân gian qui định Biểu tượng ca dao là những hình ảnh ẩn dụ được một cộng đồng chấp nhận và sử dụng rộng rãi, phổ biến, mang đậm tính truyền thống Biểu tượng ở đây có thể được tạo thành
bởi một từ, một ngữ, một câu, cũng có khi là cả một văn bản Để tạo nên biểu tượng, nghĩa đen, nghĩa biểu vật của các từ ngữ sẽ là cơ sơ để từ đó người tiếp nhận khai thác nghĩa bóng, nghĩa biểu cảm Được xây dựng trên cơ sở tính hàm súc, hàm nghĩa của
Trang 27ngôn ngữ văn chương, hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao đã góp phần làm cho ngôn ngữ của loại thơ ca dân gian này mang tính đa nghĩa và giàu sức khơi gợi
Thử đọc câu ca dao: Anh về cuốc đất trồng cau,
Cho em trồng ké dây trầu một bên
Mai sau trầu nọ lớn lên, Cau kia ra trái lập nên cửa nhà (TLI - tr.161)
Rõ ràng ở đây trâu - cau không còn được hiểu như chính nó trong thực tại, mà đã
trở thành hình thức biểu đạt chứa đựng nội dụng cưới xin, nội dụng se kết duyên tình
giữa nam và nữ, một nội dụng mà ta chỉ có thể nắm bắt được khi hiểu sâu sắc về biểu tượng trầu cau Nếu là một người nước ngoài hoàn toàn không hiểu biết gi về phong
tục, tập quán, văn hóa Việt Nam, thi đối với họ, có lẽ sẽ rất khó khăn khi cảm thụ
những câu trên
Ca dao là một loại thơ của dân gian nên tính cộng đồng luôn nổi trội ở các biểu
tượng Cây trúc, cây mai trong ca dao người Việt tượng trưng cho đôi bạn tình, còn cây trúc của si, lượn (dân ca trữ tình Tày - Nùng) là cây trúc tầm thường Con cò là
biểu tượng đẹp đẽ của các nông dân người Việt trong ca dao thi với các dân tộc miền núi: "con cò chỉ xuất hiện hai lần ở khoảng dăm nghIn bài si, lượn với tư cách là đồ
tầm thường và bẩn thỉu" [65, tr.76] Tương tự, hoa hồng phổ biến trong thơ ca dân gian Ucraina, trong khi ở thơ ca dân gian Nga, loại hoa này ít xuất hiện mà thay vào
đó là hình ảnh cây thúy dương
Biểu tượng ca dao mang tính cụ thể Nhờ biểu tượng, thế giới vô hình của tình
cảm, tâm trạng trở nên hữu hình; những đặc điểm, thuộc tính của các sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ trở nên cụ thể hơn Xét ở phương tiện biểu đạt, các biểu tượng
đều sử dụng những hình ảnh cụ thể, sinh động của đời sống hàng ngày Thân phận
người phụ nữ được thể hiện qua con cò lặn lội, con chim mắc lưới, con cá trong lờ, bông hóa tươi thắm, ngát hương nhưng chóng phai tẳn, tẩm lụa đào giữa chợ đời
Những lứa đôi xứng hợp với tình yêu thắm thiết mượn chim phượng hoàng -ngô đồng,
rồng -mây, trúc -mai, loan -phượng, kim -chỉ, khóa -chia để tự biểu hiện minh Có
thể nói, các biểu tượng đã góp phần làm tăng tính tượng hình nghệ thuật cho ngôn ngữ
Trang 28ca dao, đồng thời giúp ích rất nhiều cho việc cụ thể hóa những khái niệm trừu tượng,
những đối tượng khó miêu tả, khó nắm bắt
Nhưng đi liền với tính cụ thể không thể không nhắc đến tính khái quát của biểu
tượng Thuyền, bến, cá, cò là hình ảnh cụ ,thể nhưng không cụ thể đến mức độ khiến
ta hình dụng được con thuyền này, cái bến này, con cá này, con cò này, Những hình ảnh đó thường được xây dựng theo tính chất chung của từng loại sự vật, vi vậy, mang
tính khái quát cao (thuyền đi muôn nơi, bến nằm một chỗ", con cá bị nhiều người chài lưới, con cò vất vả kiếm ăn ) Tính khái quát còn thể hiện ở nội dụng biểu đạt của
biểu tượng Từ hàng trăm, hàng ngàn những thân phận nổi trôi, những cuộc đời đau
khổ của người phụ nữ, dân gian đã đúc kết lại trong hình ảnh con cò, con cá, cánh bèo Từ bao nhiêu cuộc chia tay của các lứa đôi, bao nhiêu chờ đợi, thủy chung của
những nàng Tô Thị, biểu tượng thuyền -bến được hình thành Tiếng nói từ biểu tượng
ca dao vi vậy không phải của cá nhân, mà là của tập thể, hướng về tập thể, mang tính
triết lý cao Trong diễn xướng, nội dụng biểu đạt của biểu tượng có thể hướng về một chàng trai, cô gái cụ thể, trong một hoàn cảnh cụ thể, nhưng trong sự cảm nhận chung
của người tiếp nhận ca dao, sự biểu đạt ấy là đúng với tâm trạng, hoàn cảnh, nỗi niềm
của biết bao con người trong xã hội cũ Từ một biểu tượng, mỗi người có thể liên tưởng đến những tình huống khác nhau trong cuộc đời, nhận ra cái mà họ đã trải qua,
đã chiêm nghiệm
Sự kết hợp giữa tính cụ thể và khái quát - chính xác hơn phải gọi là tính cụ thể -
hiệu thẩm mỹ này được sử dụng trong văn bản ca dao, chúng làm cho sự diễn đạt vừa
mang tính hình tượng, vừa mang tính hàm súc, vừa sinh động, vừa sâu sắc
Biểu tượng ca dao mang tính nhận thức, đồng thời còn mang đậm tính biểu cảm
Qua các biểu tượng, có thể nhận ra ý khen chê, lòng yêu ghét, thái độ khẳng định hay
phủ định, trân trọng hay rẻ khình của tác giả dân gian đối với đối tượng được biểu
hiện Tùy thuộc vào sự lựa chọn hình ảnh cụ thể, lựa chọn nét tương đồng, ta hiểu được những tình cảm, cảm xúc mà người nghệ sĩ dân gian gửi gắm trong biểu tượng
Việc người phụ nữ xưa dùng hàng loạt sự vật đẹp đẽ để thể hiện bản thân như: hoa thơm, hoa tươi, hoa hồng, hoa đào, hoa lý, hoa nhài, hoa sen, cây quế, cây trầm, hạt
Trang 29gạo trắng, tấm lụa đào, vàng ,ngọc, ánh trăng rằm cho thấy họ rất tự hào về vẻ đẹp
hình thức lẫn bản chất của minh Có xót xa, tủi hờn, đớn đau trong hình ảnh cánh bèo
mặt nước, bông hoa tàn héo, cá chậu, chim lồng Có thủy chung trong bến nước,
Tấn- Tần, vàng -đá, Châu -Trần Còn khi dân gian gọi những người có tính cách không tốt là gương mờ (đối sánh với gương trong), dòng nước đục (dòng nước trong),
cú (tiên), thau (vàng), chI (bạc) ,thái độ phê phán cũng hiện lên rất rõ.Vậy, để tạo
nên một biểu tượng, người ta không chỉ đặt vào đó những nhận thức của minh, mà còn
gởi gắm cả những tình cảm mãnh liệt
Biểu tượng là sự gắn bó khắng khít giữa bai yếu tố lý trí và tình cảm, nên cũng
đòi hỏi được tiếp nhận bằng toàn bộ tâm trí con người Thế giới biểu tượng ca dao
tràn đầy cảm xúc, những ai đến với chúng phải biết "tổng hợp và đồng cảm hết mực, nghĩa là chia sẻ và cảm nghiệm một cách nhin nào đó về thế giới" [71 ,tr XXVII]
Biểu tượng vừa thể hiện tình cảm, vừa tác động đến tình cảm con người Bằng con
đường này, chúng dẫn dắt người thưởng thức ca dao từ chỗ đứng nhin đến chỗ nhập
cu ộc, và chỉ khi ấy, việc hiểu biểu tượng mới thực sự sâu sắc,
Nghĩa của biểu tượng nói chung, biểu tượng ca dao nói riêng, mang tính ổn định
,nhưng là sự ổn định tương đối Nếu ý nghĩa biểu đạt của một hình ảnh thường xuyên
thay đổi, hình ảnh đó không thể trở thành biểu tượng Nếu một hình ảnh luôn được đóng khung với vài ba ý nghĩa sẵn có, cũ mòn, bất di bất dịch, thi đó cũng chưa phải
là biểu tượng theo cách hiểu đầy đủ nhất về thuật ngữ này Xét về đại thể, nghĩa của
biểu tượng là ổn định Nhưng trong từng thời đại, từng địa phương, hay với từng nghệ
sĩ dân gian, người ta có thể sử dụng, tiếp nhận biểu tượng với những nét nghĩa phái
sinh trên cơ sở những nét nghĩa đã ổn định
Đó là sự thay đổi có chừng mực dựa trên nền nghĩa ổn định mà dân gian đã cấp cho biểu tượng Nghĩa của biểu tượng vi vậy được sinh sôi, biến hóa xoay quanh trục
ý nghĩa đã được định hướng lúc ban đầu "Câu chuyện hay hình ảnh vẫn nguyên vậy, nhưng chúng rung động theo những cấp độ ý thức và tri giác, trong những môi trường
nhận cảm nhiều hay ít hơn, và các sắc thái của biểu tượng biến đổi cùng với chính các
vế của mối liên hệ đã tạcrnên nó.Các mối quan hệ đó, tuy vậy vẫn là đồng hình Một
lực có định hướng nằm trong lòng cấu trúc sâu thẳm tiếp tục điều khiển các cách giải
Trang 30thích khác nhau, tiến triển qua các thế kỷ chung quanh cùng một trục biểu tượng" [ 71 ,tr XLV] Một ví dụ cụ thể cho vấn đề này là "Người phương Tây thường phát hiện ra
những ý nghĩa tượng trưng có ý nghĩa nhân bản, ý nghĩa triết học trong thần thoại Hy
Lạp Người Việt Nam thường chú ý đến ý nghĩa tượng trưng nói về lịch sử dân tộc " [94, tr 22] Cũng vậy, trong ca dao người Việt, cách hiểu về một biểu tượng ở các văn
bản khác nhau có thể có những nét nghĩa không hoàn toàn trùng lắp Điều này sẽ
được chúng tôi minh họa kỹ ở chương bốn của luận án
Cùng với sự nhận thức về tính ổn định tương đối trong ý nghĩa biểu tượng, chúng ta thấy được sự phong phú về nghĩa mà một biểu tượng có thể mang lại, cũng
như sự phức tạp, khó khăn khi giải mã nó Việc làm này, chỉ nên xem là một sự gợi
chúng tôi tiến hành theo định hướng này)
Trong nền thơ ca dân gian của mỗi dân tộc, do bản chất trữ tình của thể loại này,
th ực tế khách quan
Thơ ca dân gian Nga hàm chứa nhiều biểu tượng Các cô gái hoặc các vị hôn thê được biểu hiện bằng hình ảnh thiên nga trắng, chim cun cút, chim bồ câu, cây-bạch dương, cây táo cây lê, cây liễu, cây tiểu anh, cây dâu Còn các chàng trai, các vị hôn phu thường là: chim ưng chói lọi, đại bàng xanh, bồ câu xám, vừng trăng sáng tỏ, cây
sồi Đôi tình nhân là chim câu trống, chim câu mái, vợ chồng là vịt đực - vịt cái, mẹ
chồng là cây tầm ma bỏng rát, bà con nhà chồng là những con ngỗng xám [121, tr.106 - 107]
Trong ca dao người Việt, trầu - cau là biểu tượng của tình yêu, hôn nhân, tình nghĩa sắt son; trúc - mai: lứa đôi gắn bó khăng khít; phượng hoàng - ngô đồng: lứa đôi
xứng hợp Mận - đào, thuyền - bến, rồng - mây, loan - phượng, bướm - hoa là
những biểu tượng sóng đôi biểu thị cho đôi bạn tình ở nhiều khía cạnh khác nhau Con cò: người nông dân một nắng hai sương, tuy sống đời vất vả nhưng vô cùng trong
sạch Con bống: người phụ nữ lành hiền, đảm đang ,
Các hệ thống biểu tượng trên cần được nghiên cứu một cách khoa học, nghiêm túc, đầy đủ với những phương pháp khảo sát phù hợp Qua việc nghiên cứu biểu
Trang 31tượng, có thể hiểu được sâu sắc về một cộng đồng dân tộc Ca dao Việt Nam là sáng
tác nghệ thuật của toàn dân Việt Nam, từ Bắc chí Nam, trải qua biết bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử Ca dao Việt Nam in đậm tâm hồn, cốt cách Việt Nam, là nơi lưu giữ đầy đủ nhất cách sống, cách cảm, cách nghĩ của con người Việt Nam Tìm
hiểu biểu tượng ca dao là tìm hiểu những tín hiệu thẩm mỹ mà dân tộc ta qua bốn ngàn năm đã tạo lập ra, đã sử dụng chúng để tự biểu hiện-minh Qua các biểu tượng,
ta có thể cảm nhận được tâm hồn Việt Nam ở tầng sâu kín nhất
1.2.1 Biểu tượng ca dao dưới góc độ ký hiệu học:
Ở góc độ này, biểu tượng ca dao chính là những ký hiệu hay nói đúng hơn, là
những siêu ký hiệu (tức là ký hiệu của ký hiệu)
Ký hiệu là một sự vật, do sự tồn tại tự nhiên hoặc do con người sáng tạo ra theo ước lệ, có tác dụng chỉ ra một hiện thực ở bên ngoài nó và được tập thể xã hội thừa
nhận Một ký hiệu có hai mặt: cái biểu đạt (signifiant) và cái được biểu đạt (signifié)
kết hợp với nhau theo quan hệ võ đoán Sự gắn bó giữa cái biểu đạt (CBĐ) và cái được biểu đạt (CĐBĐ) trong một ký hiệu có thể so sánh với hai mại của một tờ giây,
hễ có một là có cả hai, không thể tách rời được: "Một ký hiệu bao giờ cũng bao gồm hai vế, sinh ra cùng một lúc, như: "hai anh em dính lưng nhau" [174, tr.35], CBĐ là
mặt vật chất của ký hiệu, nghe được, nhin được và CĐBĐ là mặt tình thần, im lặng ở bên trong CBĐ đóng vai trò biểu hiện (cũng như hình thức), qua đó, CĐBĐ bộc lộ ra ngoài, tự truyền đạt ra ngoài (cũng như nội dụng) Không thể xem nhẹ cái nào vi cả
hai đều góp phần tạo nên nghĩa -giá trị cơ bản của một ký hiệu
Ngôn ngữ thông thường của một dân tộc là một hệ thống ký hiệu biểu thị (dénotatif) Thời xa xưa, khi các ký hiệu ngôn ngữ ra đời, đã được cả một cộng đồnng
chấp nhận và sử dụng như một "khế ước xã hội" bất khả xâm phạm, một quy luật nhất
nhất phải tuân theo Vào thời đó, không ai giải thích được tại sao cái bàn lại được thể
hiện qua âm "bàn", tại sao khái niệm bàn nhất thiết phải yêu cầu âm "bàn" Rõ ràng, đây là mối quan hệ tự phát, tự tiện, không có nguyên do, chưa thể giải thích được
Trang 32Từ trong hệ thống ký hiệu vừa nêu lại có những thành tố được dùng làm ký hiệu
nhau) Lúc này, ta có những biểu tượng văn học, biểu tượng ca dao Bản thân ký hiệu (biểu thị) là một hệ thống mà nội dụng của nó đã được vận dụng để tạo ra một hệ
thống thứ hai gọi là hệ thống ký hiệu hàm nghĩa (connotatif) Toàn bộ tổ hợp này - hệ
thống ký hiệu học biểu thị và hệ thống ký hiệu học hàm nghĩa tạo nên hệ thống đôi,
tức hệ thống trong hệ thống
Ở đây, nghĩa đã sinh ra nghĩa Hệ thống nghĩa thứ nhất (nghĩa đen) đã nhường
chỗ cho hệ thống nghĩa thứ hai (nghĩa bóng), do nó sinh ra từ ưong cơ chế của nó Nghĩa chính chuyển hóa thành nghĩa thứ hai, thứ ba tức không mất đi nhưng cũng không còn vị thế như cũ
Với hệ thống ký hiệu hàm nghĩa, quan hệ giữa CBĐ' và CĐBĐ' là như thế nào?
Có ý kiến cho rằng đó là quan hệ võ đoán: "Công lý thường được biểu trưng bằng cái cân Giữa ý niệm công lý - một cái trừu tượng, tình thần và cái cân, một cái-có tính vật
thể, chẳng có một mối quan hệ máu thịt, bản chất gi cả Người ta mượn cái cân có hai đĩa để nói công lý phải công bằng, không thiên và nặng về đĩa nào Đây là một quan
hệ vay mượn, liên tưởng, tự đặt ra và cùng công nhận vi thấy "ổn" [174, tr.85]" Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng ở đây đã có một yếu tố tương quan thô sơ nào đó giữa CBĐ'
và CĐBĐ' "Các đối tượng bên ngoài đã chứa đựng trong bản thân chúng ý nghĩa biểu
tượng mà nó được dùng để biểu thị Đó không phải là một ký hiệu tùy tiện và phiếm định, mà là một ký hiệu ngay ở tính bên ngoài của nó đã bao hàm nội dụng của biểu
Trang 33tượng mà nó biểu thị" [48, tr.43] Saussure cũng khẳng định: "Biểu trưng (symbole)
có một đặc tính là không bao giờ hoàn toàn võ đoán Biểu trưng của công lý là cái cân không phải muốn lấy gi thay thế cũng được, chẳng hạn, không thể lấy một cái xe
để biểu trưng công lý" [136, tr.124] Điều này cũng phần nào giải thích tại sao chỉ có
một số ký hiệu biểu thị được một cộng đồng lựa chọn để trở thành ký hiệu hàm nghĩa,
mà không phải là tất cả
Quan hệ giữa CBĐ' (cá) và CĐBĐ' (người con gái trong tình yêu) có lý do không? Hẳn là người Việt Nam xưa kia đã tìm thấy nhiều điểm tương đồng giữa hai
sự vật này Trong sinh hoạt ca hát, khi muốn nói về thân phận người con gái trong xã
hội phong kiến xưa với quan hệ tình yêu, thi họ liên tưởng ngay đến con cá (cá cắn câu, cá mắc lưới, ca'trong chậu, cá ở ao, cá trong lờ ) và dùng con cá để nói lên
những suy nghĩ, cảm nhận của minh một cách ý nhị, kín đáo Quan hệ giữa CBĐ' và
CĐBĐ' ở đây là hoàn toàn có lý do, có thể giải thích được Tuy nhiên đây không phải
là mối quan hệ có tính tất yếu, bắt buộc Ngoài hình ảnh con cá, người ta có thể dùng nhiều hình ảnh khác để thể hiện cùng một ý niệm, ý tưởng ban đầu: chim trong lồng, chim mắc lưới; hoa có chủ, thuyền có lái, thuyền ghé bến Dĩ nhiên, mỗi hình ảnh khi
sử dụng sẽ tạo nên những giá trị nghệ thuật có phần khác biệt nhau, nhưng nhin chung, trong ca dao, người ta có cả một kho thi liệu phong phú, và các hình ảnh biểu tượng cố thể thay thế lẫn cho nhau trong quá trình ứng tác Trong phạm vi dân tộc là như vậy,còn trên toàn thế giới, để nói về người con gái trong tình yêu, mỗi dân tộc,
mỗi cộng đồng người lại sử dụng những nhóm biểu tượng khác nhau trong thơ ca dân gian
Như vậy, giữa CBĐ' và CĐBĐ, hay giữa hình ảnh biểu tượng và ý nghĩa biểu
tượng luôn tồn tại quan hệ võ đoán không hoàn toàn
Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi nhận thấy khảo sát biểu tượng ca dao dưới góc độ ký hiệu học cần lưu ý mấy điều sau:
- Biểu tượng - ký hiệu thẩm mỹ, ký hiệu hàm nghĩa, cần được nghiên cứu kỹ ở
tượng, đây đều là mối quan hệ võ đoán không hoàn toàn, có cơ sở là những quan hệ liên tưởng, vay mượn mang tính ước lệ mà nội dụng gắn liền với những đặc điểm văn
Trang 34hóa - xã hội nhất định của từng cộng đồng VI vậy, cần nghiên cứu căn cứ trên những
lý do, nguyên nhân nào mà một vật được chọn để làm biểu tượng cho một giá trị, tức
là vấn đề nguồn gốc của biểu tượng, tầng lịch sử - văn hóa - xã hội của biểu tượng
- Hegel nhận xét: "Xét về bản chất, tượng trưng về căn bản là mơ hồ" [48, tr.44]
Một CBĐ' có thể chứa đựng nhiều CĐBĐ Và một CĐBĐ' cũng có thể được biểu thị
bổi nhiều CBĐ' khác nhau Khi một ký hiệu xuất hiện trước mắt chúng ta, liệu nó sẽ được hiểu theo nghĩa biểu thị, hay cả nghĩa biểu thị lẫn nội hàm, hay chỉ theo nghĩa
nội hàm? Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố (văn cảnh, người tiếp nhận ) Do đó,
cần thận trọng khi tìm hiểu các ký hiệu
- Mỗi biểu tượng là một hệ thống đối, hệ thống nội hàm Toàn bộ các biểu tượng
ca dao - tức rất nhiều hệ thống đôi - đã góp phần làm ngôn ngữ ca dao trở nên giàu
sức biểu hiện Nhờ biểu tượng, việc "tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa" (theo cách dùng từ của Nguyễn Phan Cảnh [8, tr.84]) trong văn bản ca dao càng thuận lợi hơn
Biểu tượng trong ca dao chủ yếu được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ
liên tưởng Đặc điểm chung của các cách tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng là trong
một văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tượng lâm thời chuyển đổi ý nghĩa, ở đây nghĩa
của từ ngữ vốn biểu thị đối tượng này (theo từ điển) nay được lâm thời chuyển sang
biểu thị đối tượng khác dựa trên cơ sở một quan hệ liên tưởng nhất định Quan hệ liên tưởng này có thể là:
-Liên tưởng nét tương đồng (khía cạnh giống nhau)
- Liên tưởng có tính logich khách quan về mối quan hệ có thực xảy ra giữa hai đối tượng
Có thể nêu định lý tổng quát về cấu tạo của các phép tu từ thuộc loại này như sau: "Nếu như có thể phát hiện ra một mối quan hệ liên tưởng nào đó giữa A và B, thi
về nguyên tắc có thể lấy A để lâm thời biểu thị B hoặc ngược lại lấy B để lâm thời
biểu thị A" [178, tr.270] Tùy thuộc vào đặc trưng của từng đối tượng A,B, tùy thuộc vào đặc trưng của mối quan hệ liên tưởng giữa A và B mà ta có những cách tu từ như:
so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng, nhân hóa
Trang 35Cù Đinh Tú đã định nghĩa về tượng trưng: "Có những ẩn dụ, hoán dụ tu từ được dùng một lần rồi qua đi, không ai dùng lại nữa Người ta thừa nhận nhưng không dùng theo Cũng lại có những ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ sau khi được một cá nhân sử dụng
mọi người chẳng những thừa nhận mà còn dùng theo, dùng lại tới mức độ hễ nhắc đến
nó không cần phải có văn cảnh, người ta vẫn hiểu thống nhất về nội dụng biểu hiện
của nó" [178, tr.303]
T ừ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa biểu tượng là "hình ảnh tượng
trưng Chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình" Còn về tượng trưng thi được giải thích như sau:
"Tượng trưng - (động từ): dùng một sự vật cụ thể có hình thức hoặc tính chất thích hợp để gợi ra sự liên tưởng đến một cái trừu tượng nào đó Chim bồ câu tượng trưng cho hoa bình
- (danh từ): Sự vật cụ thể được dùng để tượng trưng cho cái trừu tượng nào đó
Xiềng xích là tượng trưng của sự nô lệ." [124, ti".1118]
Theo các cách hiểu trên, biểu tượng ca dao chính là những hình ảnh được hình thành từ nghệ thuật tượng trưng Xét ở bình diện ngôn ngữ, về nguyên tắc, sự vật chỉ
được xem là biểu tượng khi nó xuất hiện nhiều lần trong các so sánh, ẩn dụ, hoán dụ
khảo sát là cần thiết để có thể đem lại một cái nhin toàn diện, sâu sắc hơn về biểu
tượng ca dao cùng với các dạng thức tồn tại khác nhau của chúng (so sánh, ẩn dụ, hoán d ụ)
Trang 36Đứng về phía người tiếp nhận, ở mỗi dạng thức, nghĩa của biểu tượng cũng được
bộc lộ ra theo những cách khác nhau
1.2.2.1.Dạng thức so sánh :
Nếu cho rằng các sự vật, hiện tượng xuất hiện trong phép tu từ này là biểu tượng (hiểu một cách chặt chẽ như khái niệm chúng tôi đã trình bày ) thi có vẻ như chưa chính xác Một biểu tượng phải bao gồm CBĐ' (phần ngôn từ, vật chất) và CĐBĐ' (phần nội dụng, tình thần), hai mặt này gắn chặt với nhau, cái này biểu hiện cái kia Trong khi đó, ở phép so sánh, người ta thấy sự xuất hiện cùng lúc, đồng thời của CBĐ' (cái dùng để so sánh) và CĐBĐ' (cái được so sánh) Cả hai tách rời thành hai vế của phép tu từ, cùng được biểu hiện bằng ngôn từ trên văn bản, nối kết với nhau bằng các
từ so sánh
Một số ví dụ:
_Thân em như tấm lụa đào, Còn nguyên hay đã xé vuông nào cho ai? (TL I -tr 2029)
_Thiếp như một cụm hoa hường,
Thấy xinh rờ đến mắc đường chông gai (TL III -tr 383)
_Em như cá lượn đầu cầu, Anh về lấy lưới người câu mất rồi
Nước trong cá chẳng cắn mồi Càng câu càng mất, càng ngồi càng khuya (TL I-tr.965) Vai trò của sự vật, hiện tượng với tư cách là biểu tượng trong các bài ca này phải chăng không quan trọng lắm ? CĐBĐ' lẽ ra ẩn đi, để người ta phải dùng tư dụy, trí tưởng tượng cảm nhận, thi ở đây nó lại hiển hiện, tự bộc lộ, tự xác định trên văn bản
loài cho nên có ý nghĩa khái quát Các phép so sánh đã triển khai cụ thể một đặc tính
nào đấy của sự vật theo dấu hiệu tương đồng: tấm lụa đào còn nguyên hay xé lẻ, cụm
hoa hường xinh nhưng nhiều gai, cá lượn đầu cầu bị nhiều người đuổi bắt , đồng
thời còn đặt bên cạnh hình ảnh so sánh các chủ thể: thân em, thiếp, em Các đặc điểm
Trang 37này dường như đã khiến cho người đọc tiếp nhận biểu tượng theo những định hướng
rõ rệt, trường liên tưởng bị thu hẹp lại (hướng về một đối tượng cụ thể, một hoàn cảnh
cụ thể)
Tuy nhiên, do nhân vật trữ tình trong ca dao là phi cá thể hóa , hoàn cảnh được nói đến thường chung cho nhiều con người, ngôn từ ca dao lại rất tiết kiệm, gợi nhiều
hơn tả, nên cho dù các thuộc tính, trạng thái (nét giống nhau) và chủ thể so sánh được
triển khai là bất biển thể thi cũng vẫn còn nhiều chỗ cho trí tưởng tượng của con
người hoạt động Nói cách khác, các phép so sánh đã triển khai biểu tượng, nhưng chỉ
đi nửa đoạn đường (triển khai không hoàn toàn), đoạn còn lại sẽ là phần việc của người tiếp nhận
1.2.2.2.Dạng thức ẩn dụ :
Nếu như ở so sánh, CBĐ' và CĐBĐ' của biểu tượng còn đứng tách rời nhau, thi
ở đây, trong các ẩn dụ đã có sự hoa nhập CBĐ' hiện lên trên văn bản, còn CĐBĐ' ẩn
kín đi, để cho người tiếp nhận tự suy nghĩ, liên tưởng, khám phá
Một số ví dụ:
-Tiếc thay cái tấm lụa đào,
Áo rách chẳng vá, vá vào áo tơi
Trời kia có thấu chăng trời,
Lụa đào mà vá áo tơi sao đành (TL I —tr 1915)
-Hoa hồng sắp hái đến tay,
Để người hái mất đứng ngây mà nhin (TL I-tr 1093)
-Ngồi buồn xe chỉ uốn cần,
Chỉ xe chưa đặng cá lần ra khơi (TLI-tt.1591)
Trong các ví dụ trên, tấm lụa đào, hoa hồng, con cá biểu thị cho ai? Không có
chủ thể so sánh, không có từ ngữ so sánh Chỉ có các hoàn cảnh mà sự vật được àặt vào là một trong những dấu hiệu tương đồng (cơ sở của sự so sánh), mách bảo cho người tiếp nhận nét nghĩa biểu tượng mà dân gian đang muốn hướng đến (tấm lụa đào
Trang 38vá vào áo tơi, chỉ xe chưa đặng cá lần ra khơi, hoa hồng sắp hái đến tay thi bị người
khái quát chung Với những đặc điểm trên, dạng thức ẩn dụ luôn tạo điều kiện cho sự
liên tưởng được rộng rãi hơn, kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn
Trong sự liên hội của người thưởng thức, các nhân tố hoàn cảnh (văn cảnh), hợp
quen dùng một số nét tương đồng làm cơ sở để tạo nên một số ẩn dụ) của biểu tượng
được sử dụng trong văn bản ca dao đóng vai trò dẫn dắt để người nghe có thể tự xác
định cho minh một hướng hiểu phù hợp nhất hoặc nhiều hướng hiểu nhưng không loại
trừ nhau
1.2.2.3.Dạng thức hoán dụ:
Cùng với so sánh, ẩn dụ, còn có các biểu tượng được định hình qua các phép hoán dụ tu từ Giữa CBĐ' và CĐBĐ' ở đây không phải là mối quan hệ liên tưởng
tương đồng mà là mối quan hệ liên tưởng logich khách quan giữa hai đối tượng Trên
văn bản, chỉ hiện diện CBĐ', vi vậy biểu tượng thuộc dạng này cũng tạo được trường liên tưởng rộng rãi nơi người tiếp nhận giống như ẩn dụ
Một số ví dụ:
-Hôm nay gặp buổi êm trời,
Má đào lại được sánh người trượng phu (TL I - tr 1115)
-Anh xa em chưa đầy một tháng Nước mắt lai láng hai mươi tám đêm ngày (TL III - tr.175)
-Anh quen em năm ngoái lại giữ (giờ) Cơi trầu anh mang đến đó, em chối từ không ăn
-Cơi trầu anh mang đến, hãy chịu khó mang về,
Em đang còn theo chân thầy, gót mẹ cho trọn bề hiếu trung
(TL II(1) - tr.229)
Trang 39Trong các bài trên, má đào biểu hiện người con gái trẻ, đẹp (quan hệ lôgich
khách quan giữa bộ phận - toàn thể), nước mắt biểu hiện tâm trạng nhớ thương, đau
khổ (quan hệ giữa cái cụ thể - cái trừu tượng), cơi trầu - sính lễ cưới xin (quan hệ bộ
phận -toàn thể), Các hoán dụ này được sử dụng nhiều lần, trở thành công thức, hàm
chứa nghĩa biểu tượng
Nếu đem so sánh, biểu tượng được tạo thành từ các ẩn dụ và hoán dụ cũng có
nh ững điểm khác biệt: "Cái lôgich trong ẩn dụ tu từ là cái lôgich mang tính chủ quan
do con người tạo ra, trái lại cái lôgich trong hoán dụ tu từ là cái lôgich có thực, mang
tính chân thực khách quan, nó có khả năng khắc họa, nhấn mạnh một đặc điểm có
thực nào đó của đối tượng định miêu tả" [178, tr.300] Cùng thực hiện chức năng thay
thế CĐBĐ', nhưng mỗi bên, sự thay thế mang những tính chất không giống nhau
Như vậy, trong ca dao, biểu tượng được xác định thông qua ba phép tu từ: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ Có những biểu tượng tồn tại ở một dạng thức nhất định, cũng có
những biểu tượng được dân gian sử dụng linh hoạt hơn, chẳng hạn như: Dạng so sánh
và ẩn dụ:
Biểu tượng bướm -hoa:
-Say em như bướm say hoa, Như ong say mật, như ta say minh (TLI-tr 1829) -Rừng hoang sóc nhảy tưng bừng,
Hoa chưa nở nhụy, bướm đừng lao xao (TLI tr 1808)
Biểu tượng quế- cú;
-Em như cây quế giữa đồng,
Để cho cú đậu cực lòng quế thay (TLI tr.965) -Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Để cho cú đỗ chán chường quế thay (TLI tr 1916)
Biểu tượng trầm hương:
Trang 40-Tới đây gặp bạn sướng thay,
Cũng bằng lên nùi gặp cây hương trầm (TLIII-tr.398)
-Mẹ ơi, son điểm phấn dồi,
Trầm hương không gặp, găp chồi cỏ may (TLI -tr 1349)
Dạng so sánh, ẩn dụ và hoán dụ:
Biểu tượng trầu-cau:
-Răng em không nói khi đầu,
Giữ em như thể lá trầu đã têm (TLII-tr.386)
-Đôi ta rày được gặp nhau,
Như bếp gặp lả (lửa), như cau gặp trầu (TLII-tr.291)
-Bây giờ trầu lại gặp cau,
Cũng mong ta ở với nhau một nhà (TLI-tr.259)
-Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng ,
Cau tươi ăn với trầu vàng xứng không? (TLI-tr.774)
-Thương ai chẳng nói khi đầu,
Để cho thầy mẹ ăn trầu người ta (TLI-tr.2107)
-Con cu nó gáy cu cù,
Thương em nên phải bưng trù (trầu) hai tay (TLI-tr.432)
Biểu tượng thuyền :
-Lóng tai nghe con ve ve kêu, con chèo beo kể
Lóng tai nghe hai bên bụi bờ tiếng dế khóc than
Thiếp nằm thiếp ngủ răng an,
Một minh đây tựa hồ như chiếc đò đầy sóng lượn, biết thở than với ai
chừ? (TLI-tr 1286)
-Nhất cao là núi Chóp Chài,