1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm nghệ thuật truyện ngăn và tiểu thuyết của nguyễn trí

152 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm của ông được giới chuyên môn đánh giá là giàu trải nghiệm, có phong vị riêng”, “Trước khi bén duyên với văn chương, tác giả Nguyễn Trí trải qua nhiều nghề: đào vàng, đốt than, t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHAN THỊ DIỆU THU

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHAN THỊ DIỆU THU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHAN HUY DŨNG

NGHỆ AN - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp cao học này được hoàn thành tại Trường Đại học Vinh Để có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Trường Đại học Vinh, tập thể Thầy cô giáo khoa Sư phạm Ngữ Văn, phòng đào tạo sau đại học, đặc biệt là PGS TS Phan Huy Dũng

đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa học quý giá

trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Trí”

Nghệ An, tháng 8 năm 2016

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 12

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp của luận văn 13

7 Cấu trúc luận văn 13

Chương 1 CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN TRÍ 14

1.1 Một cuộc đời sóng gió 14

1.1.1 Xuất thân 14

1.1.2 Những lăn lóc trường đời 14

1.1.3 Những nỗi đau 17

1.2 Những mối duyên bút mực 20

1.2.1 Tình yêu với văn chương thuở học trò 20

1.2.2 Duyên bút từ nỗi bất hạnh 21

1.2.3 Sự nâng đỡ của những nhà văn lão luyện trong nghề 23

1.3 Sự đón nhận của làng văn 28

1.3.1 Tính chất của hiện tượng Nguyễn Trí 28

1.3.2 Đón chào Nguyễn Trí - đón chào một nhà văn của những con người dưới đáy 43

1.3.3 Vinh danh Nguyễn Trí - vinh danh một kênh sáng tác bám sát hiện thực cuộc đời 45

Chương 2 HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN TRÍ 51

2.1 Phạm vi hiện thực được miêu tả trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Trí 51

2.1.1 Cuộc sống những con người dưới đáy 51

Trang 5

2.1.2 Thế giới giang hồ, du đãng 61

2.1.3 Những bù đắp ân tình 68

2.2 Hình tượng con người nổi bật trong truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Trí 74

2.2.1 Con người nghĩa khí 74

2.2.2 Con người thất bại 80

2.2.3 Con người bền bỉ sống và yêu 84

2.3 Nét mới trong nghệ thuật chiếm lĩnh hiện thực và con người trong truyện ngắn và tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Trí 88

2.3.1 Nhìn hiện thực từ con mắt của người trong cuộc 88

2.3.2 Đào sâu vào bản thể khi kể chuyện đời 94

2.3.3 Bóp méo hiện thực theo nhãn quan “có hậu” 98

Chương 3 KẾT CẤU, NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN, TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN TRÍ 103

3.1 Những phương thức kết cấu tác phẩm 103

3.1.1 Men theo hành trạng nhân vật chính 103

3.1.2 Lồng truyện trong truyện 107

3.1.3 Lắp ghép những bức tranh tả thực 110

3.2 Ngôn ngữ trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Trí 116

3.2.1 Ngôn ngữ của thế giới giang hồ, du đãng 116

3.2.2 Ngôn ngữ thông tục và mang đậm dấu ấn vùng miền 122

3.2.3 Ngôn ngữ người kể chuyện 126

3.3 Giọng điệu trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Trí 130

3.3.1 Giọng ngang tàng, bụi bặm 130

3.3.2 Giọng xót xa, chua chát 134

3.3.3 Giọng suy tư, triết lí 137

KẾT LUẬN 141

TÀI LIỆU THAM KHẢO 144

Trang 6

“nhà văn của những phận nghèo” Nguyễn Trí

1.2 Nguyễn Trí là một cây bút mới gia nhập văn đàn Việt Nam với những trang viết ngồn ngộn hơi thở của đời sống thực Truyện của ông (cả truyện ngắn và tiểu thuyết) đã được đón nhận khá nhiệt tình từ phía độc giả và nhiều nhà văn lão luyện trong nghề Đây là một hiện tượng cần được quan tâm nghiên cứu Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào đặt vấn đề khám phá một cách toàn diện những yếu tố làm nên sức hấp dẫn của truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Trí Với đềtài này, chúng tôi hi vọng sẽ đưa đến được những phân tích và lí giải khoa học về hiện tượng văn học độc đáo này

1.3 Hiện nay, trong các cấp học từ phổ thông trở lên, tiểu thuyết và truyện ngắn là những thể loại được đưa vào giảng dạy và nghiên cứu Bản

Trang 7

thân chúng tôi là giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy nên để trau dồi thêm

về chuyên môn, chúng tôi rất quan tâm đến các thể loại này Việc nghiên cứu

đề tài “Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Trí” sẽ giúp chúng tôi hiểu sâu hơn các thể loại này, hiểu hơn nền văn học đương đại của nước nhà

Nhóm bài viết về tác phẩm có lúc xoáy vào một vài truyện, có lúc giới thiệu về một tập sách Một số bài đưa ra những nhận xét, đánh giá chung nhất

về đặc điểm truyện Nguyễn Trí trên nhiều phương diện

Trong Lời giới thiệu cho tập truyện Bãi vàng, đá quý, trầm hương của Nguyễn Trí, nhà văn Hồ Anh Thái cho rằng: “Chùm truyện Bãi vàng, đá quý trầm hương thực sự là nếm trải của người trong cuộc Văn chương tưng tửng,

tung tẩy đối đáp giữ nhân vật với nhân vật, giữa nhân vật với người đọc, giữa người viết với người đọc Không cần rạch ròi, phân định bởi sự chồng mờ, chèn lấn tạo nên nhiều sắc độ hơn Nguyễn Trí đưa người đọc đi qua những cuộc đối thoại ấy, rồi cắt nghĩa từng khái niệm, cắt nghĩa từng hành vi và tâm trạng của dân giang hồ Những bươn chải, những mưu tính, những nghĩa cử trong đám giang hồ với nhau, có lúc cuốn hút, có lúc gây hồi hộp, có lúc gây

Trang 8

phẫn nộ hoặc khiến người đọc rưng rưng Như vậy, tác phẩm của Nguyễn Trí gây hấp dẫn bằng chất sống thực và sự từng trải” [44]

Tập truyện ngắn này được viết bởi một người đàn ông hơn 50 tuổi, từng trải, lăn lộn giữa cuộc đời, làm không biết bao nhiêu nghề từ chính đáng đến phạm pháp Tập truyện này được viết bằng những trải nghiệm của người trong

cuộc, mang tính hiện thực rất cao Trên trang http//eviluriko.wordpress.com, Bạch Tử có viết: Bãi vàng, đá quý, trầm hương có một giọng văn Nam bộ,

không sử dụng nhiều phương ngữ nhưng đọc vào thì sẽ biết đó là Nam bộ Văn phong không trau chuốt mà tự nhiên, tưng tửng như lời nói thường ngày Kiểu văn này sẽ không hợp với những độc giả ưu ái sự bay bổng nhẹ nhàng hoàn mỹ, không hợp với những ai thích đọc truyện tình yêu lãng mạn hưng phấn xa rời hiện thực, cũng không hợp với những bạn thích ám ảnh u ám hay siêu thực fantasy

Đọc truyện có cảm giác như đang nhìn vào một thế giới khác, Việt Nam đấy, nhưng song song tồn tại với thế giới những kẻ lắm tiền hay tầng lớp trí thức trung lưu đang sống, mà cụ thể là bản thân tôi Cảm thấy cuộc đời này có quá nhiều thứ mà mình không biết, nhiều chuyện éo le như một

vở cải lương Phải đọc những truyện hiện thực thế này mới thấy rằng quẩn quanh trong cái tôi cá nhân với nỗi cô đơn mất phương hướng, trong tổ ấm được che chở bảo vệ thì bản thân mình nhỏ nhoi lắm, nông cạn lắm, như ếch ngồi đáy giếng, ngoài kia bầu trời rộng lớn bao la, cuộc sống muôn màu đa dạng vô cùng

Những câu chuyện về dân anh chị giang hồ, gái điếm, buôn lậu gỗ, phu tìm trầm, người đào hầm đãi vàng đá quý… và cả những cán bộ nhà nước suy đồi đạo đức rồi phạm pháp, tất cả hiện lên vô cùng sinh động chân thực Thể loại văn này, ngồi một chỗ không thể viết được, người trẻ thiếu trải đời càng không thể viết được Tập truyện như một bộ phim tư liệu về miền Nam kéo dài từ thời Việt Nam cộng hòa đến giải phóng 1975, đến thời mở cửa làm kinh tế 1986, và đến cả ngày nay khi nước ta hội nhập thế giới tham gia WTO Tất nhiên là những điều này được thể hiện bằng góc nhìn của tầng lớp

Trang 9

được gọi là dưới đáy xã hội hay thường dân Nam bộ nơi thành thị Điều này,

làm tôi liên tưởng đến hồi ký Tâm si-da

Toàn bộ tập truyện là hiện thực nghiệt ngã mà vẫn chứa đựng tình người, nhưng nhìn góc độ khác thì con người ta rất tàn nhẫn với thiên nhiên Nhiều đoạn khiến tôi lạnh cả người vì hành động phá rừng phá núi để làm giàu, đó là sự tận diệt thiên nhiên, khai thác đến cạn kiệt không thể phục hồi

Và ngày nay, hậu quả đã hiện hữu rõ ràng ở tất cả mọi nơi trên dải đất hình chữ S Đổ lỗi cho biến đổi khí hậu toàn cầu, nhưng chính người Việt cũng đã

và đang giết chết chính mình và thế hệ sau” [57]

Nguyễn Trí từng chia sẻ: “Truyện về vàng, đá quý, trầm hương thì tôi

cứ tự nhiên mà viết bởi tôi đã từng trải nghiệm nghề này lâu năm nên khi viết cũng giống khi ăn cơm, uống nước hàng ngày Tìm trầm tôi cũng đi vài năm, làm vàng thì 5-7 năm, rồi đôi ba năm đi làm đá quý Cuộc sống của tôi thì rừng là chủ đạo, thành ra viết về rừng tôi thấy dễ lắm”

Một độc giả khác trên trang http: //docbao.biz cũng nhận định: “16 câu chuyện trong Bãi vàng, đá quý, trầm hương có thể lôi người đọc ra khỏi

những vụn vặt thành thị, những ngôn từ thời thượng để rồi trao cho họ một món lạ, đầy tính nguyên bản-điều khó đạt trong nghiệp văn hiện nay” [52]

Cát Đằng trong bài báo: Máu và nước mắt từ “Bãi vàng, đá quý, trầm hương (trang web: baocantho.com.vn) nhận xét: “16 truyện ngắn, có phân

nửa là những câu chuyện về nghề đào vàng, khai thác đá quý và trầm hương Đây cũng là phần hấp dẫn nhất thỏa trí tò mò của người đọc về những nghề nguy hiểm và một thế giới khác với đời thường Dù biết trước rằng bối cảnh của tác phẩm là những nơi “rừng thiêng, nước độc”, nhân vật giang hồ tứ chiếng nhưng những trang viết của Nguyễn Trí vẫn làm người đọc rùng mình

về sự trần trụi khốc liệt Đôi lúc, đọc truyện mà cứ ngỡ đang đọc phóng sự điều tra của báo chí bởi nó quá chân thực, quá cụ thể Trong chất phóng sự ấy vẫn có chất tiểu thuyết nên câu chuyện vừa đời thực, vừa hấp dẫn nhờ cách xây dựng nhân vật” [11]

Tác giả bài báo còn khẳng định thêm: không chỉ viết những gì mình có,

Trang 10

những điều đã từng trải; Nguyễn Trí còn khiến người đọc bất ngờ khi khai thác các đề tài xã hội, nhất là về số phận những người phụ nữ bất hạnh Các

truyện: “Nín lặng khóc”, “Trại viên cũ quay trở lại đông lắm”, “Đoạn trường”… là góc nhìn nhân văn về những kiếp mà hồng phận bạc Các truyện

này được viết mềm mại hơn, có tình hơn, góp phần làm nên sự đa dạng và đặc

sắc của tập truyện“Bãi vàng, đá quý, trầm hương” [11]

Truyện ngắn của Nguyễn Trí có nhiều yếu tố mang tính tự truyện, mang ý nghĩa đời tư và có tưởng nhân văn sâu sắc Vì vậy, khi nhà văn xuất hiện trên văn đàn thì ngay lập tức gây tiếng vang Văn của ông đủ sức lôi cuốn các nhà lí luận, phê bình văn học bởi phong cách riêng

Trong mặt bằng văn chương hiện nay, chúng ta phải thừa nhận: Nguyễn Trí nói đúng: “Truyện của tôi đọc cũng được, không đến nỗi tệ” [10] Sự bứt

phá của Bãi vàng, đá quý, trầm hương so với những tác phẩm tranh giải năm

ấy (2013) hẳn không phải vì tập truyện quá xuất sắc mà vì có hơi thở mới, đi vào đề tài ít người đụng đặc biệt người viết chứng tỏ vốn sống dồi dào

Sức hấp dẫn của Bãi vàng, đá quý, trầm hương ngoài đề tài,nội dung

khác lạ: tập truyện là chuyến phiêu lưu với những trải nghiệm độc đáo, lạ lùng cùng những phận giang hồ hay hảo hán gác kiếm, những kẻ ham vàng mà nợ ngãi, những mảnh đời công nhân khu công nghiệp hay gái làng chơi dựa vào nhau để tìm chút hạnh phúc tạm bợ; thì tập truyện còn hấp dẫn người đọc bởi một lối kể chuyện, một giọng điệu, ngôn ngữ mang màu sắc Nguyễn Trí

Với giọng văn và lối viết rất riêng, Bãi vàng, đá quý, trầm hương của

Nguyễn Trí đã đem lại cho độc giả chất Nam Bộ “không lạ mà lạ” của lời ăn tiếng nói thông thường Nguyễn Trí dường như kế thừa mạch văn của Sơn Nam, có chút kì bí xa xưa hơn của truyện đường rừng Thế Lữ, Thanh Tịnh… Những câu chuyện thô phác nhưng kì thực lại rất có ý thức về chữ, những con chữ cứ tự nhiên xô đẩy mà dậy gắt lên xung đột mạnh mẽ

Hoàng Ngọc Điệp (trang web: baodientudongnai.com.vn) cũng cho rằng: truyện ngắn đầu tay Nín lặng khóc in trên báo Tuổi trẻ cuối tuần của

Nguyễn Trí đã làm bạn đọc bất ngờ Sau đó hàng loạt truyện ngắn được viết

Trang 11

bằng giọng văn “giật cục”, tưng tửng, với hàng trăm nhân vật gồ ghề, góc cạnh gồm: thợ đãi vàng, lâm tặc, đĩ điếm, chủ chứa, dân nghèo thành thị… Thế giới bần cùng ấy sống, hít thở, yêu đương, sinh con đẻ cái… trong lao động cực nhọc, hiểm nguy bủa vây, thiện ác lẫn lộn Chính giọng điệu lạ, những nhân vật hoang dã mang lại cho tác phẩm của anh sức lôi cuốn và nét riêng không trộn lẫn” [13]

Trên trang webvanhien.vn, tác giả Huỳnh Thu Hậu trong bài viết Đọc Bãi vàng của Nguyễn Trí có những cảm nhận thú vị: “Đọc Bãi vàng, chúng ta

cảm thấy hấp dẫn bởi ngôn ngữ cực hạn, cách viết câu đặc biệt, nghệ thuật dùng phương ngữ, ngôn ngữ đời thường tràn vào trong tác phẩm Nguyễn Trí không sa vào miêu tả rườm rà, mà đi ngay vào bản chất của vấn đề Văn anh viết, vì thế rất kén người đọc Đã có những người đọc truyền thống thích cách

viết câu phải mượt mà, bay bổng, bảo truyện Bãi vàng rất khó đọc, cứ trúc tra,

trúc trắc Những câu văn của anh ám gợi mà phần lớn là câu đặc biệt, câu rút gọn… Việc sử dụng câu đặc biệt mang đến hiệu quả nghệ thuật là tạo ra nhiều điểm nhìn trong một thông báo” [23]

Tác giả bài báo còn khẳng định: Cùng với ngôn ngữ đối thoại cực hạn,

là cách dùng phương ngữ Cũng giống như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Trí đã

thành công khi sử dụng các từ địa phương như: dzô, cà chớn, thiệt hông… để

tạo nên chất riêng Không chỉ dùng từ địa phương, ngôn ngữ phố phường như

ùa vào trong truyện với các từ chửi tục, chửi thề như: đù má… Những tiếng lóng: đánh bồi, đụng bổi… Hiện thực cuộc sống vì thế chân thực hơn và trần

trụi hơn” [23]

Cái tài của Nguyễn Trí là đọc Bãi vàng, chúng ta như thể đang nhắm

mắt mà lắng nghe được rất nhiều giọng nói cùng vang lên Đó cũng chính là

cái đa âm, phức điệu mà ta bắt gặp trong tiểu thuyết của Dostoievski: “Tướng

tá rất bụi, dân đi đây đi đó không bụi mới lạ Giang hồ đúng nghĩa với thừ này Là sao? Giải thích nghe chơi Được thôi, muốn đến xứ người làm ăn phải có cái miệng Tô Tần, cái đầu Chu Du Ngọt như mật và mưu mô, giảo quyệt nhiều nhiều chút” Bãi vàng là tạp âm Nguyễn Trí bằng cảm quan tự

Trang 12

nhiên đã tạo cho chúng ta nghe được tất cả sự hỗn độn của bãi vàng Văn của anh vì vậy mới và chạm đến hậu hiện đại” [23]

Sau Bãi vàng, đá quý, trầm hương Nguyễn Trí xuất bản tập truyện ngắn

Đồ tể tiếp tục gây xôn xao dư luận 27 truyện ngắn trong tuyển tập xoay

quanh các nhân vật có cuộc đời bi kịch hoặc cơ cực Các câu chuyện mà Nguyễn Trí kể thật giống với những mẩu tin trên báo rao hằng ngày Ông khắc hoạ rõ nét những tệ nạn, chuyện đau lòng như lô đề, lừa đảo, kiếm tiền

từ xà xéo, đất đai đền bù vay hụi… Những chuyện đàn ông, đàn bà lao vào nhau bất kể già trẻ như là mất trí nhằm khoả lấp nỗi cô đơn cũng được Nguyễn Trí nhắc tới trong sách

Lê Minh Khuê trong bài Đẹp và thiện (trang: nhavantphcm.com.vn)đã

khẳng định: “… Đọc thiên kinh vạn quyển để xem các tác giả lớn miêu tả cuộc sống theo cách nào Trí miêu tả cuộc sống theo cách Trí… Những câu chuyện Trí kể có thể gặp rất nhiều trong các trang báo, nhất là báo về pháp luật và an ninh Nhưng các câu chuyện báo chí đó đơn thuần thông tin cho người đọc cái vừa xảy ra Có nhiều người mới vào nghề còn non tay đã chỉ

thông tin một chuyện đọc vậy để biết vậy.“Đơn thuần thông tin” (chữ Hồ

Anh Thái hay dùng) không hề có trong truyện ngắn của Trí Trí có vô số thông tin và đã biến thông tin đó thành thế giới tưởng tượng của riêng anh để truyện nào cũng có nhân vật rõ tới sờ thấy được và tình huống truyện rất kì lạ

và cái quan trọng là cảm xúc nhà văn tràn đầy ở người viết đã biến những cái

thông thường thành cảm xúc chung lớn lao” [30] Như truyện Đồ tể: một anh

chàng đẹp trai yêu tiểu thư nhà có cha và anh dạng sĩ quan triều cũ Cả nhà chuẩn bị phỏng vấn để đi Hoa Kì Nàng ở lại theo trai nghèo đẻ ba đứa con rồi cùng chồng trằn lưng qua khốn khó Truyện này không có chữ tình yêu cũng chẳng có một dòng mùi mẫn cho tình yêu nhưng tình huống cuộc đời của hai con người là bài ca tình yêu lớn lao đến độ nó khoả lấp cái sự bạo tàn của nghề đồ tể Truyện của Nguyễn Trí là thế Trần trụi, khốc liệt, đau thương nhưng luôn ngời lên vẻ đẹp lạ kì

Lê Minh Khuê tiếp tục nhận xét về tập truyện Đồ tể: “Các truyện đều

Trang 13

không dài dòng Trí viết theo cách tỉ mỉ quan sát Cái cách chấm phết nhưng

rất ra màu sắc, có góc có cạnh nổi rõ có thể cầm nắm được từ tính cách nhân vật đến tình huống truyện…

Các truyện ngắn của Trí thường có một câu chuyện, là thế giới của cái ác; nếu lần đầu đọc nó, không truyện nào yên ổn và rất bất an và mong manh Nhưng hãy đọc lại nó và sẽ thấy cái âm hưởng chung là cái tình giữa con người

lúc nào cũng hiện hữu Trong tập có truyện Ngoại tình mô tả hai vụ ngoại tình

có giằng có kéo từ vụ này sang vụ khác Cũng là truyện có độ lạnh nhất nhưng vẫn gợi tới lòng thương Người nghèo vẫn khổ ngay cả khi có tiền

Tác giả có lẽ cũng không ý thức được cuộc sống và tâm hồn mình dù xáo trộn phức tạp giằng xé vẫn có một khoảng lớn lao dành cho sự thiện và cái đẹp Điều đó in đậm trong sáng tác của anh” [30]

Cũng nhận xét về tập truyện Đồ tể, Lam Thu (web: giaitri.vnexpress.net)

cho rằng: Nguyễn Trí không viết về những truyện bằng phẳng, an lành Nhân vật của ông đau thương, câu chuyện của ông khủng khiếp, hiện thực của ông trần trụi Thế nhưng ẩn sau đó luôn là vẻ đẹp của sự hướng thiện, tính nhân

ái” [50] Truyện Đồ tể, Chân mình thì mình đứng là những truyện như vậy

Tác giả bài viết cũng khẳng định: trải nghiệm, lăn lộn với cuộc sống đã

cho Nguyễn Trí vốn liếng chi tiết để viết văn Truyện Chả có gì là bất thường

thể hiện rõ quan điểm của Nguyễn Trí Ông dựng lên nhân vật Linh - một cô gái từng có ba đời chồng và ba đứa con riêng Người chồng thứ nhất chết do ngộ độc rượu Người chồng thứ hai chết do bỗng nhiên nổ lốp xe Còn Linh chết vì bị người chồng thứ ba ném cái chén đúng vào mạch máu… Đầy

chuyện kì quặc như vậy mà Nguyễn Trí tuyên bố: “có gì đâu mà ái ngại, chuyện thường tình thôi” Có lẽ với một người từng trải như Nguyễn Trí,

những thân phận, cảnh ngộ, những trớ trêu, éo le giống như chuyện “chẳng có

gì mới dưới ánh mặt trời”

Cuối bài, Lam Thu còn khẳng định: Một trong những yếu tố khiến tác phẩm của Nguyễn Trí có sức thu hút là cách dùng từ ngữ Không hoa văn trau chuốt, Nguyễn Trí khiến người đọc cảm giác ông bê nguyên ngôn ngữ giao tiếp

Trang 14

hàng ngày vào trang viết Nhưng nếu chỉ đặt văn nói vào tác phẩm mà thành công thì quá dễ Nguyễn Trí biết cách đặt đúng, đặt trúng từ cần dùng vào ngữ cảnh của truyện Thế giới ngôn từ của Nguyễn Trí sinh động, hấp dẫn, ông

dùng những từ như: mới rợi, xụ mặt một đống, đẹp dậy xóm làng… không hề

khiên cưỡng khiến tác phẩm mang vẻ đẹp của sự chân thực giản dị” [50]

Về cuốn Thiên đường ảo vọng (Nhà xuất bản Trẻ - 2015), Cát Đằng (Web: baocantho.com.vn) khẳng định: “Tác phẩm của Nguyễn Trí luôn tạo

cảm giác như cuộc sống cuộn chảy trong từng trang viết Ông thể hiện điều đó bằng văn phong độc đáo, giọng điệu riêng biệt với câu chữ đời thường pha chút khẩu khí giang hồ Đặc biệt là lối viết trong vai người dẫn chuyện và nêu

ra những thắc mắc; vừa trong vai người trả lời để người đọc dễ hiểu Nếu

trong Bãi vàng, đá quý, trầm hương, phận đời những phu đào vàng được khai thác thành những truyện ngắn riêng lẻ, thì đến Thiên đường ảo vọng, Nguyễn

Trí đã khái quát, lột tả trọn vẹn tâm lí nhân vật cũng như phát triển hài hoà đường dây, cốt truyện mang đến cho độc giả một câu chuyện khốc liệt, gian truân” [12]

Cũng giống với Bãi vàng, đá quý, trầm hương, Đồ tể, tiểu thuyết Thiên đường ảo vọng của Nguyễn Trí tiếp tục khai thác những đề tài nóng hổi, nhức

nhối trong xã hội hiện nay Chất liệu chính của tác phẩm là 99% sự thật: thân phận những người con bán mạng xa quê hoá thân thành giang hồ tứ chiếng, tìm đến nơi rừng thiêng nước độc, kiếm manh áo, miếng cơm, ôm ấp giấc mộng đổi đời

Đúng như tựa đề cuốn tiểu thuyết, tất cả những gì diễn ra trong tác

phẩm chỉ là Thiên đường ảo vọng Vì những đồng tiền mà con người sẵn sàng

bỏ mạng, cướp giật, đâm chém nhau May mắn thay trong những cay nghiệt vẫn le lói tình người, tình bằng hữu mà nhân vật Lâm là điểm sáng Gạt bỏ những đau thương và oán hận trong quá khứ, Lâm sống vì tương lai, hết lòng giúp đỡ bạn bè sa cơ lỡ thế Lâm và cái chết của anh đã thức tỉnh những người còn lại trong nhóm, kéo họ ra khỏi “thiên đường ảo vọng” để làm lại cuộc đời Truyện của Nguyễn Trí là vậy Trần trụi, khốc liệt, đau thương nhưng luôn

Trang 15

ngời lên vẻ đẹp nhân văn Gấp sách lại nhưng câu chuyện luôn khiến người đọc nghĩ về giá trị đích thực của cuộc sống

Quỳnh Anh với bài Thiên đường ảo vọng - giấc mơ đổi đời của phu đào vàng (trang: vnexpress.net) cho rằng: “Nguyễn Trí từng được cả nước

biết đến khi viết thư xin giảm án cho kẻ sát hại con mình Ông cầm bút viết như một cách xoa dịu nỗi đau mất con Tác phẩm của ông được giới chuyên môn đánh giá là giàu trải nghiệm, có phong vị riêng”, “Trước khi bén duyên với văn chương, tác giả Nguyễn Trí trải qua nhiều nghề: đào vàng, đốt than, tìm trầm, làm đồ tể, dạy anh văn… Những năm tháng bôn ba đã cho ông vốn

sống và nguồn tư liệu để dựng nên những câu chuyện chân thực trong Thiên đường ảo vọng Cuốn tiểu thuyết lôi cuốn không phải bằng những tình tiết

giật gân, chớp nhoáng mà bằng cách kể chuyện chân thực và giản dị của tác giả Nguyễn Trí cũng đưa phương ngữ miền Đông Nam bộ vào tác phẩm, tạo cho câu chuyện không khí gần gũi, khiến người đọc có cảm giác như đang rong ruổi trên xe đò và được một phu đào vàng kể chuyện đời” [2]

Cũng chia sẻ cảm nhận về cuốn tiểu thuyết Thiên đường ảo vọng của Nguyễn Trí, tác giả Tô Hoàng trong bài viết Thêm cơ hội tiếp xúc với văn xuôi của Nguyễn Trí cho rằng: “Mở đầu Thiên đường ảo vọng - cuốn tiểu

thuyết đầu tay của mình, Nguyễn Trí cho người đọc gặp ngay thế giới nhân

vật trong Bãi vàng, đá quý, trầm hương Bắt đầu bằng Cường Linh… Ngoài

Cường Linh còn có Lâm, Điệp, Bình Mỗi người một xuất xứ, một nguồn cơn, cũng có một điểm chung “đời đen như mõm chó mực” Hết đường sống, hết

kế sinh nhai, họ kéo nhau lên một vùng rừng có tên Suối Bến Tỉ… Đương nhiên khi bắt tay vào việc đào vàng ở Suối Bến Tỉ người đọc sẽ được nhìn những cận, trung, toàn, hành động, tâm lí và cả triết lí sống của họ đầy đủ hơn Có một nhận xét như thế này: Mẫu nhân vật dưới đáy như thế, xa xưa

lắm chúng ta bắt gặp trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, hoặc Số đỏ của Vũ Trọng

Phụng Từ khi nhân vật văn học phải gượng gạo nhận trọng trách “làm chủ số phận mình, làm chủ của xã hội” tuyệt nhiên không thấy nhân vật loại này Dù trong cuộc đời thật lớp người “dưới đáy” ấy cứ vững bền hiện hữu Bước sang

Trang 16

thời kì văn chương đổi mới, họ còn chưa xuất hiện hoặc xuất hiện một cách

nhạt nhoà Có nên ghi công đầu cho Nguyễn Trí không khi với Bãi vàng, đá quý, trầm hương và bây giờ là Thiên đường ảo vọng nhà văn đã làm cho họ

sống dậy, nhi nhúc, chen chúc, đâm chém, giành giật nhau… với mọi vui buồn, mọi lo âu, vật lộn, kiếm sống như một thực thể văn chương không thể phủ nhận nổi” [27]

Thiên đường ảo vọng,cũng giống như Bãi vàng, đá quý, trầm hương và

Đồ tể, hấp dẫn người đọc bởi chất sống thực và sự từng trải Cũng theo Tô

Hoàng: “Bỏ công là người “dấn thân” trong môi trường sống có một không hai đó, tưởng đâu như trong truyện, trong tiểu thuyết của mình Nguyễn Trí chỉ bán dầu thô, vàng nguyên cũng đã quý lắm rồi Ấy vậy mà ngòi viết của Nguyễn Trí rất điêu luyện, rất tinh lọc, biết kiềm nén để không sa đà, lại chan chứa chất tự sự, trữ tình khi phải đụng chạm tới những góc khuất lâm ly, thống thiết của nhân vật Giọng văn, cách hành văn của anh là cách nói tưng tửng, in đậm dấu ấn Nam Bộ, văn nói và văn viết đan quyện, hoà hợp với nhau rất nhuần nhuyễn, hữu cơ Này đây: Chao ôi cái thuở ấy Thuở mà xăng dầu quý như máu, xe đạp còn mang biển số Ai có đài đeo bên hông, đồng hồ treo trên tay, xe đạp phượng hoàng lướt trên phố là số một”

Cuối bài viết tác giả bày tỏ: “Nghề đào vàng hiển nhiên là phạm luật pháp của nhà nước Nhưng cái tiết tấu sôi sục, cuộn réo, cái thứ công việc phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, bất kể ngày đêm mưa nắng, đói khát, bệnh tật

được miêu tả kĩ càng, chính xác, đầy sức thuyết phục trong Thiên đường ảo vọng - về một phương diện nào đó, sao không thể xem như một bản tráng

ca của sức lao động trong cuộc quyết đấu để sinh tồn của những con người tội nghiệp?

Giới phê bình văn chương chúng ta lâu nay xem ra dè dặt, đắn đo, suy nghĩ quá kĩ khi chấm điểm son cho các tác phẩm văn chương Chưa thấy một

ai, một lần lên tiếng khẳng định truyện, tiểu thuyết, tản văn, thơ của nữ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư là một thành tựu sáng chói, độc nhất vô nhị trên chiếu chơi, ít nhất là của văn học Nam Bộ? Hai, ba năm trở lại đây, vừa bước vào

Trang 17

ngồi xuống chiếu ấy, có thể là Nguyễn Trí nữa chăng? [27]

Nhìn chung, nhiều bài viết đã đưa ra những nhận diện ban đầu về một

số đặc điểm, nét riêng với mục đích ghi nhận dấu ấn của nhà văn Nguyễn Trí trên văn đàn Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu, phát triển các ý kiến của các nhà nghiên cứu, chúng tôi sẽ tập trung khắc sâu những đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn, tiểu thuyết Nguyễn Trí trong sự phát triển của văn xuôi nói riêng, văn học Việt Nam nói chung từ 1986 đến nay trên các phương diện: hiện thực - con người, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn là

Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Trí

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Chúng tôi khảo sát trên 40 truyện ngắn và 01 tiểu thuyết của Nguyễn Trí được in trong các tập sách sau:

- Bãi vàng, đá quý, trầm hương, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2013

- Đồ tể, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2014

- Thiên đường ảo vọng, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2015

Ngoài ra, chúng tôi khảo sát thêm một số tập truyện ngắn, tiểu thuyết của nhiều nhà văn Việt Nam hiện đại khác, đặc biệt là Mạc Can, Ngô Phan Lưu… để có thêm căn cứ so sánh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Tìm hiểu những cơ duyên đưa Nguyễn Trí đến với làng văn

4.2 Khảo sát hiện thực và con người trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Trí

4.3 Nghiên cứu những nét đặc sắc của truyện ngắn, tiểu thuyết Nguyễn Trí trên các phương diện kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi đặc biệt chú ý sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 18

6 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu một cách hệ thống đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Trí - một tác giả mới nổi, còn chưa được chú ý tìm hiểu

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung

chính của luận văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1: Con đường đến với văn chương của Nguyễn Trí

Chương 2: Hiện thực và con người trong truyện ngắn và tiểu thuyết

của Nguyễn Trí

Chương 3: Kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn và

tiểu thuyết của Nguyễn Trí

Trang 19

Chương 1 CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN TRÍ

1.1 Một cuộc đời sóng gió

1.1.1 Xuất thân

Nguyễn Trí - cái tên lạ hoắc trong giới văn chương, kể từ sau khi lên nhận giải thưởng về văn xuôi năm 2013 của Hội Nhà văn Việt Nam với tác

phẩm Bãi vàng, đá quý, trầm hương, đã trở thành tác giả ăn khách của một số

tờ báo lớn Sau Bãi vàng, đá quý, trầm hương là tập truyện ngắn Đồ tể (2014)

Và mới đây nhất là tiểu thuyết Thiên đường ảo vọng (2015) Độc giả thật sự

bất ngờ trước cái tên Nguyễn Trí và tò mò muốn biết nhà văn đó là ai?

Nguyễn Trí, sinh năm 1956, quê gốc ở Quảng Bình, sinh ra ở Bình Định, lang bạt qua nhiều vùng đất và dừng chân ở Đồng Nai đã ba chục năm nay

Ông là con thứ năm trong gia đình có chín anh em Cha ông từng là lính của vua Bảo Đại Đó là lí do vì sao quê gốc của ông là Quảng Bình mà anh em của ông người sinh ra ở Huế, người sinh ra ở Đà Lạt, còn ông lại sinh

ở Bình Định

Sau khi vương triều Bảo Đại bị lật đổ, cha ông lại làm lính cho Ngô Đình Diệm Sau đó tiếp tục làm lính cho nền đệ nhị cộng hoà từ Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu… Cha ông đi đến đâu lại đưa vợ con theo đó Cuộc sống thường xuyên thay đổi khiến việc học của Nguyễn Trí

bị gián đoạn Tới năm 1975, nhà văn mới học lớp 10

Rồi cha ông rời bỏ đời lính, sự thiếu đói về kinh tế khiến anh em Nguyễn Trí phân tán mỗi người một nơi Ông vào Đồng Nai và bắt đầu công cuộc mưu sinh chật vật khi mới 17 tuổi

1.1.2 Những lăn lóc trường đời

Giới viết văn ở Đồng Nai vừa đón nhận một tin vui: ngày 23-3-2016, Hội viên Hội văn học - nghệ thuật Đồng Nai, Nguyễn Trí đã chính thức được

Trang 20

kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam Sự kiện này trở thành động lực thúc đẩy những đồng nghiệp khác cố gắng hơn trên con đường sáng tạo văn học, nghệ thuật vốn chưa bao giờ là dễ dàng

Nguyễn Trí vào Hội Nhà văn thực ra không làm ai ngạc nhiên Cách đây hơn ba năm (2013), Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho tập

truyện Bãi vàng, đá quý, trầm hương đã biến tên tuổi ông thành “hot” trên

văn đàn Việt Nam Từ đó truyện ngắn của Nguyễn Trí thường xuyên xuất hiện trên khắp các mặt báo trong Nam đến ngoài Bắc, chưa kể ông được các nhà sản xuất săn đón, “đặt cọc” trước Sức hấp dẫn của cái tên Nguyễn Trí không chỉ do “tài văn” đem lại mà còn vì ở ông hội tụ nhiều sự “khác người” Gương mặt đen đúa cày sâu những vết nhăn do thời gian và sự khó nhọc, cái trán vồ, thân hình thấp bé nhưng rắn đanh, toàn bộ con người Nguyễn Trí toát lên vẻ phong trần và cực ngầu khiến người ta nghĩ Nguyễn Trí là dân “anh chị” Nhưng khi tiếp xúc, sự dè dặt của người ta lui dần, nhường chỗ cho lòng cảm phục một con người không ngừng vươn lên, bất chấp mọi nghịch cảnh

Nguyễn Trí sinh năm 1956, quê gốc Quảng Bình Thời thế xô đẩy ông qua nhiều vùng đất, làm nhiều nghề nặng nhọc

Nguyễn Trí sinh ra ở Bình Định, nhưng tuổi thơ lại nằm tuốt trên Tân Cảnh (Tây Nguyên) Bố Nguyễn Trí là người Quảng Bình, năm 1945, ông đi lính cho vua Bảo Đại, qua thời Bảo Đại đến Ngô Đình Diệm Năm 1956, ông được yêu cầu lên Tây Nguyên mang theo cả gia đình, lúc đó mẹ Nguyễn Trí mới sinh ông được một tuần Sống ở Tây Nguyên chừng mười năm, từ năm

1966, gia đình ông lại trở về Bình Định Nguyên cả thời kì Mậu Thân, tuổi trẻ của ông nằm trong vùng chiến lược

Điều đặc biệt là trong khoảng thời gian này (1966 đến trước 1975), Nguyễn Trí nằm trong vùng bão lửa, nhưng ông không đi lính Tuổi trẻ của ông gắn với cây đàn ghi-ta và sách Nguyễn Trí từng chia sẻ rằng: “Tôi biết đọc sách từ rất sớm, nhớ và thuộc nhiều đoạn văn, thậm chí đến bây giờ vẫn

có thể đọc thuộc lòng không trừ một dấu phẩy” [16]

Trang 21

Cũng trong thời gian này, Nguyễn Trí học Anh văn do có một người

Mỹ kèm Ông nói tiếng Mỹ bồi cũng tàm tạm Năm đó, Nguyễn Trí bị bệnh nặng, tưởng chết, không dám vô rừng mà ở nhà phụ lò heo, sau đó ông kiếm sống bằng nghề này

Chủ lò mổ thích môn tiếng Anh nên nhờ ông dạy kèm Nguyễn Trí tâm sự: “Khổ quá, cái gì cứ ra tiền là tôi làm Tôi dạy có lẽ cũng tốt nên người ta tìm tới cũng hơi đông đông… Bà Hiệu phó của trường trung học gần đó đi ngang, vậy là mời tôi dạy” [48]

Học bao nhiêu, dạy bấy nhiêu Cùng với khối kiến thức phong phú được học từ sách vở cứ ngỡ Nguyễn Trí có thể đã có một công việc an nhàn Nhưng “Tôi tham lam lắm Cái tôi muốn là trở thành tỉ phú Làm sao có thể ngồi yên khi bạn bè đi đào vàng, đi tìm trầm mỗi lần trúng về cả trăm triệu,

ngồi đếm tiền trước mặt?” - Nguyễn Trí chia sẻ trên Báo phụ nữ TP.HCM

[42] Cùng với gánh nặng gánh nặng áo cơm với một gia đình: một vợ và bốn đứa con, Nguyễn Trí đã quyết định: “Đào vàng - cái nghề cực nhọc, nguy hiểm khôn lường nhưng cũng đầy ma lực quyến rũ” [42]

Đang là một “thầy giáo” dạy tiếng Anh, đang là một đồ tể, bỗng dưng Nguyễn Trí quyết định bôn ba tìm vàng, tìm trầm Phải chăng do bản tính phiêu lưu? “Bất cứ nghề nào tôi đã làm đều mang tính chất phiêu lưu Nhưng thực ra tôi không cố ý phiêu lưu Tôi đi làm chủ yếu lấy tiền nuôi một bầu đoàn thê tử: một vợ và bốn đứa con Tôi cần tiền lo cho gia đình, vì trách nhiệm Trong thời kì gian khó nhất, cái gì có tiền là tôi làm” [16]

Đúng như “tâm nguyện”, đúng như mơ ước của ông, nghề đào vàng đã mang lại “vinh hoa” cho ông, cho gia đình ông Nguyễn Trí kể lại: “Tôi đã từng ôm mười một cây vàng về nhà đó chứ” [42]

Vào những thập niên 70 - 80 của thế kỉ trước, một người bình thường

mà có trong tay mười một cây vàng thì quả thiên hạ phải vô cùng ngưỡng mộ, thán phục!

Nhưng đời không như là mơ Và cuộc đời Nguyễn Trí có bao giờ được xuôi chèo mát mái Không muốn kiếp làm thuê, ông vét hết tiền hùn vốn đào

Trang 22

hầm khai thác vàng, tiếp tục giấc mộng đổi đời Oái ăm thay, chưa được gì thì

bị quét mất hết của cải, đến cả tiền xe về nhà cũng phải đi xin…

Từ một “phu vàng” nắm trong tay hàng chục cây vàng, bỗng chốc ông thành kẻ trắng tay Gánh nặng gia đình, gánh nặng áo cơm tiếp tục đè lên đôi vai của một kẻ không nghề nghiệp, không tiền tài Ông tiếp tục cuộc đời lang bạt, mưu sinh bằng nghề lái xe ôm ở thành phố Hồ Chí Minh Cái gia đình 6 con người ấy phải lăn lộn, chật vật kiếm từng bữa ăn giữa cái thành phố hoa

lệ Nhưng điều ông buồn nhất, khổ tâm nhất không phải là cuộc sống thiếu cơm rách áo mà chính là trong khoảng thời gian sống ở đây làm đứa con trai của ông bị nghiện Ông tâm sự rằng: “Nếu được, thì khoảng thời gian sống ở Sài Gòn… tôi sẽ không chọn” [16]

Phiêu bạt khắp nơi, làm đủ thứ nghề nhưng cuộc đời ông lại phải chịu nhiều vất vả, mất mát Cuối cùng, ông quyết định về Đồng Nai làm công nhân Nhưng rồi lại mất việc Và theo lời ông thì hiện ông ở nhà “kẻ chân mày cho vợ”

“Gã giang hồ’ Nguyễn Trí bất ngờ trở thành chủ nhân giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2013 Người ta không biết Nguyễn Trí ở đâu ra mà tác phẩm khốc liệt đến vậy? Văn có giọng, hừng hực chất đời, lại có vốn sống phong phú nên mỗi truyện ngắn cuốn hút người đọc đi mãi, mê miết, một lèo không kịp nghỉ Lí do thật đơn giản, nhờ những năm tháng bươn chải, mưu sinh, những lăn lóc trường đời mà Nguyễn Trí có được vốn sống phong phú, độc đáo và làm nên một “hiện tượng” lạ trên văn đàn

1.1.3 Những nỗi đau

Chẳng có nhà văn nào có tiểu sử sửng sốt như Nguyễn Trí Ông lăn qua

đủ thứ nghề: nghề nấu rượu, nghề nhảy tàu, nghề đồ tể, nghề đi tìm vàng, nghề khai thác đá quý, trầm hương, chặt củi, đốt than, xe ôm… lung linh nhất

có lẽ là nghề dạy Anh văn (chính xác là dạy tiếng Anh “bồi”)

Đến hôm nay, chính thức ông đi vào nghề viết văn chuyên nghiệp Liên tục viết truyện ngắn, truyện nhiều kì gửi các báo và đầu tư sáng tác tiểu thuyết, có lẽ với Nguyễn Trí, thời điểm này là lúc ông viết sung sức nhất, viết

Trang 23

như một sự bù đắp suốt những năm tháng lăn lóc với đời, như một cuộc trả nợ với quá khứ và những người đã khuất Viết là “để trải lòng mình” - Nguyễn Trí bộc bạch

Không hề lãng mạn như trang sách, cuộc đời Nguyễn Trí bầm dập trên

đủ mọi phương diện vật chất lẫn tinh thần

Cha Nguyễn Trí là một thiếu tá chế độ Việt Nam Cộng hoà Cả gia đình ông phải thường xuyên di chuyển tứ tán, khi ở Quy Nhơn, lúc tới Kon Tum, khi về Sài Gòn, cũng chỉ vì phải theo người cha mỗi lúc nhận lệnh chuyển công tác sang đơn vị mới, đến một vùng đất mới nào đó

Anh trai của Nguyễn Trí cũng từng là đại uý trong chế độ cũ Chính Nguyễn Trí từng thừa nhận: với cách mạng, gia đình ông đã thành người của

“phía bên kia” Bản thân ông luôn dằn vặt vì những khủng hoẳng của thời cuộc và của chính gia đình mình trước những sự biến hàng ngày diễn ra trong quá khứ

Rồi cha ông rời bỏ đời lính, sự thiếu đói về kinh tế khiến anh em Nguyễn Trí phân tán mỗi người một nơi Ông vào Đồng Nai và bắt đầu công cuộc mưu sinh chật vật khi mới 17 tuổi

Lang bạt khắp nơi, khi trở về thì bi kịch gia đình ập đến: “Cha tôi chết,

bi thiết lắm; anh tôi chết, cũng bi thiết lắm Cha chết, anh chết, tôi không có ở nhà Mẹ tôi chết, đến khi tôi về đến nhà, nắp áo quan đã đậy rồi” [10]

Sự ra đi liên tiếp của những người thân là một sự mất mát quá lớn đối với chàng trai trẻ Nguyễn Trí lúc này Ông trở nên trống trải, cô đơn, chống chếnh vô cùng

Rồi một tình yêu đã đến Nguyễn Trí đem lòng yêu tha thiết một người con gái đồng hương Cứ ngỡ tình yêu đó sẽ phần nào xoa dịu được nỗi đau tinh thần trong trái tim ông Ngược lại, nó làm trái tim ông một lần nữa rỉ máu

Do hoàn cảnh gia đình, cha mẹ cô gái phản đối quyết liệt Đôi trẻ bất chấp cấm đoán, vẫn về ở với nhau, nhưng được vài ba tháng, không hiểu lí do

gì, cô gái kiên quyết đòi vào Sài Gòn để chờ được cha mẹ cô bảo lãnh sang

Mỹ Nguyễn Trí chấp nhận chia tay Ông ở lại Quy Nhơn, rồi sau này trong

Trang 24

một dịp vào Đà Lạt, đã gặp và cưới người con gái khác làm vợ

Số phận tưởng đã an bài, chẳng ngờ một lần, ông bất ngờ gặp lại người tình cũ tại Đồng Nai Tưởng nàng đã yên phận ở Mỹ, nào ngờ vì trục trặc chuyện xuất ngoại, nàng vẫn ở Bình Dương bấy lâu Lân la hỏi chuyện, Nguyễn Trí mới hay, nàng không có chồng, nhưng lại đang sống với một người con trai

Quyết tìm hiểu, rốt cuộc, ông thảng thốt biết rằng: giọt máu rơi của mình năm nào sau quãng thời gian chung sống ngắn ngủi đã thành một bé trai Cha con gặp nhau, mừng mừng, tủi tủi

Nhưng chẳng ngờ, đứa con trai đó, sau này trong một lần đi tìm mua tặng cho ba cây đàn ghi ta đã bị tai nạn và qua đời

Phải tự tay chôn cất đứa con của mình tưởng đã là cùng cực nỗi đau Vậy nhưng Nguyễn Trí đã phải hai lần nếm trải nỗi đau xé lòng đó Cách đây chừng dăm năm, cô con gái út của ông trong một lần đi làm về, vì tò mò ghé xem người ta đánh nhau, đã vô tình hứng trọn một nhát dao của người dưng vào tim và tử vong tại chỗ

Sau cái chết của con gái, Nguyễn Trí ngập trong men rượu Cuộc đời ông tưởng như không còn chỗ bấu víu khi mọi điều bất hạnh cứ liên tiếp giáng xuống, nỗi đau chưa dừng lại Một đứa con trai của anh vướng phải ma tuý, vào trại rồi ra trại mấy lần Ông tự tay cai nghiện cho con, xích lại một chỗ “nhưng vì một phút lơ là mà nó trộm được chìa khoá, mở xích và… đi hút lại” [42] Cực chẳng đã, Nguyễn Trí phải báo công an bắt con mình

Đã đủ cùng cực chưa khi anh và người vợ đang phải thay con nuôi dưỡng hai đứa cháu nội khi mẹ nó bỏ đi lấy chồng sau khi con trai anh nghiện ngập?

Có thể nói, cuộc đời Nguyễn Trí chỉ gói gọn trong hai chữ “nỗi đau” Nỗi đau, nỗi bất hạnh luôn tìm đến ông Và cuộc đời ông luôn phảng phất trên những trang viết Nhưng càng tiếp xúc với Nguyễn Trí, càng đọc truyện của ông, càng thấy đằng sau khuôn mặt hằn đầy dấu tích của sự u uẩn, khắc khổ đau đớn cùng tận ấy là những câu chuyện chưa bao giờ được kể Ông cứ như người đi gom bão, nhặt hết bi ai của một thân phận khốn cùng để rồi mọi giá

Trang 25

trị tìm thấy trong cuộc đời cuối cùng chỉ có thể nén lại trong một câu nói:

“Phải đi qua hết những nỗi đau thương của cuộc sống mới hiểu hết được tình người là thứ quý giá nhất trên đời” [42]

1.2 Những mối duyên bút mực

1.2.1 Tình yêu với văn chương thuở học trò

Ngay từ khi Nhà xuất bản Trẻ ấn hành tập truyện ngắn Bãi vàng, đá quý, trầm hương (4/2013), cái tên tác giả Nguyễn Trí đã gây tò mò bởi danh

phận đặc biệt “từng đãi vàng, đá quý, khai thác trầm hương, chặt củi đốt than,

xe ôm và cả dạy Anh văn…”

Gương mặt và đôi bàn tay (in trên tay gấp của cuốn sách) cũng đầy khắc khổ, không có chút gì dính líu đến văn chương Ấy nhưng, ông vừa trở thành chủ nhân giải thưởng về văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam 2013 Khán giả thắc mắc: một phu đào vàng, một đồ tể bỗng chốc vụt sáng thành nhà văn?

Hãy nghe Nguyễn Trí chia sẻ: “12 tuổi, tôi đã biết đọc sách rồi và rất ngưỡng mộ các nhà văn Ông trời cũng thương tôi lắm, ông cho tôi cái bộ nhớ tương đối gọi là, có những truyện hay quá tôi thuộc lòng luôn, đặc biệt có

những truyện tình tiết li kì như Tội ác và trừng phạt” [10]

Hoá ra tình yêu văn chương, niềm đam mê đọc sách ở Nguyễn Trí đã

“manh nha” từ thuở học trò

“Con đường đến với văn chương thì từ hồi đi học tôi đã mê lắm Dốt các môn, nhưng môn Văn thì tương đối gọi là Tôi biết đọc truyện năm 12 tuổi, thuộc lòng Tây Du Kí, Tam Quốc, Thuỷ Hử… Hồi đó giải trí chỉ có sách

và cây ghi-ta Sau đó, tôi tập tành viết lách, từng có truyện in trên báo… tường Sau đó là nội san của lớp và đặc san toàn trường… Thầy cô khen tôi lắm, bạn bè thì thán phục Tôi mơ mình sẽ thành một nhà văn” [48]

Tuổi trẻ và ước mơ, ai cũng thế, không ngoại trừ Nguyễn Trí Ông đã

mơ trở thành nhà văn từ năm 16 tuổi

Nhưng, sống trong bối cảnh đất nước loạn lạc, cái nghèo đeo bám thì giấc mơ chữ nghĩa cũng trở thành xa xỉ Ông phải bươn chải, tất tả kiếm sống

Trang 26

Học không đến nơi đến chốn, cơm không đủ ăn, thành ra ông phải làm đủ mọi nghề, hễ nghề nào có tiền là lao vào làm

Nguyễn Trí tâm sự: “Có lẽ số phận đã buộc tôi phải đi một đoạn đường rất dài trần ai mới có thể quay về với chữ nghĩa được” Giấc mơ trở thành nhà văn thuở nào tạm gác lại Nhưng tình yêu văn chương trong ông cứ giống như hòn than âm thầm ủ lửa, chỉ cần một ngọn gió thổi vào là lập tức bùng cháy

Tuổi 16, ông ước mơ Nhưng ước mơ không trở thành hiện thực Trong suốt đoạn đời trần ai đó, ông vẫn đọc sách Với ông, sách là điểm sáng nhất cuộc đời Sách là không thể thiếu Ông nói rằng: Nhà ông có Lênin toàn tập, Nguyễn Trãi toàn tập, Nguyễn Du… Với ông, đọc sách là nhu cầu để sống Thậm chí, lúc đi làm lồ ô, ông đi thuê, đi mượn từng hai, ba chục cuốn, mang theo bên mình, dăm bữa nửa tháng lại mang xuống trả người ta Cứ như thế ròng rã trong nhiều năm, Nguyễn Trí đọc và say sưa cảm thụ vẻ đẹp văn chương tuyệt vời của các bậc thầy thế giới Và những ngày tháng ấy đã trôi qua không vô ích chút nào

1.2.2 Duyên bút từ nỗi bất hạnh

Nguyễn Trí kể rằng: ông yêu thích, đam mê văn chương từ khi ngồi trên ghế nhà trường, nhưng cuộc sống vất vả khiến ông không có điều kiện viết lách Ông lao vào công cuộc mưu sinh, làm đủ thứ nghề kể cả phạm pháp

Trải đủ nghề, nhưng rốt cuộc chẳng nghề nào nuôi nổi ông và gia đình Thiếu thốn, chật vật về vật chất cùng với những thảm kịch của gia đình liên tiếp xẩy ra, cuộc đời Nguyễn Trí tưởng không còn chỗ bấu víu, tưởng như ông không còn đủ sức đứng dậy

Trải qua những biến cố, những thăng trầm dữ dội trong cuộc sống,ông

đã tìm đến rượu Nhưng rượu không làm cho ông say, không làm cho ông hết buồn Và ông quyết định… viết Viết để trút nỗi buồn vào trang giấy, viết như trút ra một gánh nặng, một kiếp nợ, để rồi khi đọc lại những trang làm mình thống khoái, mê ly, niềm vui chợt bừng dậy khiến ông quên hết mình đang phải trả nợ cuộc đời từng ngày

Trang 27

Liên tục viết truyện ngắn, tiểu thuyết, có lẽ với Nguyễn Trí, thời điểm này là lúc ông viết sung sức nhất, viết như một sự bù đắp những năm tháng lăn lóc với đời, như một cuộc trả nợ với quá khứ và những người đã khuất

“Vẫn còn những người bạn nằm trong đầu, tôi phải lôi họ ra viết hết thì lòng mới yên Có người đã về làm lại cuộc đời, nhưng cũng có người đã vùi thây ở bãi vàng, mỗi người một số phận Nếu không viết, tôi thấy mình nợ họ

Viết xong tiểu thuyết Thiên đường ảo vọng coi như tôi đã dứt nợ với bãi vàng

Cuốn sách này sẽ cận cảnh vào cuộc sống của hơn 3.000 con người mưu sinh giữa chốn rừng thiêng, nước độc Những ngày tháng ấy cứ ám ảnh tôi” - Nhà văn Nguyễn Trí bộc bạch [42]

Trong hành trình rong ruổi mưu sinh, trong vô số nghề mà ông nếm trải, có lẽ nghề đào vàng là nghề khốc liệt và ám ảnh ông nhất Ông may mắn được trở về nhưng biết bao “đồng đội” của ông đã bỏ mạng trên non cao Nỗi đau đó đeo đẳng, day dứt mãi trong ông, thôi thúc ông cầm bút

Nguyễn Trí viết văn trước hết là để trả nợ với những người đã khuất, sau nữa là để trả món nợ của chính cuộc đời ông Cuộc đời ông có thể viết thành nhiều cuốn tiểu thuyết mà không cần hư cấu

Nguyễn Trí kể về lần đầu cầm bút của mình: “Hồi con gái tôi qua đời, tôi buồn nhiều và cầm bút viết Cô phóng viên Vũ Mai khuyến khích tôi viết những dòng tâm sự sau khi xin giảm án cho kẻ giết con mình, bài viết đăng

trên báo VnExpress và được nhiều người chia sẻ Tôi bắt đầu viết để trải lòng

mình” [15]

Nhà văn cũng chia sẻ rằng: “chỉ viết lại những điều cuộc đời mình đã trải qua, không hư cấu, không tô vẽ quá nhiều Viết bằng chính những trải nghiệm trung thực nhất của cảm xúc trong lòng mình” [33]

Làm người viết không khó Cái khó nhất chính là ở chỗ: anh có câu chuyện gì để kể cho người đọc không? Mà với Nguyễn Trí, những câu chuyện lại chứa quá nhiều, quá phong phú cả trải nghiệm lẫn ý nghĩa nhân sinh Nó nẩy ra từ chính những trang đời thấm đẫm mồ hôi, máu và cả những tổn thương, mất mát lớn lao của đời ông

Trang 28

Các cụ ta có câu “có khổ mới nên người” Còn các văn hào lớn trên thế giới đều khẳng định, nếu không trải qua gian lao khổ ải, người ta khó lòng viết văn hay được

Còn với Nguyễn Trí, ông thấm thía một điều với riêng mình: con người

ta, càng trải qua nhiều đau khổ, bất hạnh thì cái tôi, cái ích kỷ càng bớt dần đi Trong mỗi người, sự ích kỷ và sự tự ái, lòng yêu cái tôi vô cùng sâu sắc, dường như người ta không thể quên mình, dù chỉ là một phút giây hiếm hoi ngắn ngủi Nhưng người ta sẽ bớt đi được điều đó, nếu đã nếm trải những điều cùng cực nhất của cuộc đời!

Với Nguyễn Trí, có nỗi đau nào hơn khi anh đã mất hai đứa con trong

số năm người con với hai người phụ nữ? Có nỗi bất hạnh nào hơn khi một đứa con trai của anh vướng vào vòng ma tuý, bỏ lại hai đứa con thơ mà ngày ngày vợ chồng ông phải oằn lưng nuôi nấng? Có nỗi cô đơn nào hơn khi một người từng phải ở rừng một mình trong suốt 20 ngày Tết, không được nói tiếng người, thèm gặp mặt người tới cháy lòng cháy ruột?

Khổ ải của kiếp người là cái lực đẩy kéo người ta tới văn chương, nhưng hẳn nhiên không phải là tất cả Sự chân thực của cảm xúc và những nỗi đau giằng xé tận trái tim và cần phải được chia sẻ, giãi bày sẽ làm nên sự thuyết phục của văn chương

Trong một lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn Trí chia sẻ mộc mạc: “Cám

ơn đời đã cho tôi cái nghèo, cái khổ… Nhờ cái khổ, cái nghèo mà tôi biết yêu thương, biết tha thứ, chia sẻ với những số phận bất hạnh Nếu có tiền của thì chưa chắc tôi đã chững chạc, trưởng thành như bây giờ” [32]

Đam mê văn chương từ nhỏ, nhưng không thực hiện được Rốt cuộc, nghề văn chọn Nguyễn Trí Âu cũng là duyên!

1.2.3 Sự nâng đỡ của những nhà văn lão luyện trong nghề

Là một gã “giang hồ viết văn”, Nguyễn Trí cũng tự biết ông đang đi trên một con đường không hề dễ dàng Ông vẫn hay tự trào mình “thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội ngoi lên”, như một “hạt bụi chờ ngày hoá kiếp” Bởi một

Trang 29

phu đào vàng trần ai, một kẻ từng bị nghiện rồi vào tù ra khám, lăn lê bụi đường trong cuộc mưu sinh không từ một công việc nào lấy đâu ra chữ nghĩa nhiều đến vậy?

Ít ai biết rằng Nguyễn Trí đã mơ thành nhà văn từ năm 16 tuổi Sống giữa cảnh đất nước loạn lạc, giấc mơ chữ nghĩa đó trở thành xa xỉ Nhưng trong suốt đoạn đường trần ai đó, ông vẫn đọc sách Đọc trong tù, trong cả những ngày vất vả tìm trầm

Và ông trời và cuộc đời đã không phụ công gã giang hồ có một không hai Cuối cùng thì giấc mơ trở thành nhà văn đã trở thành hiện thực khi Nguyễn Trí ngấp nghé tuổi… 60

Có được thành quả lớn lao đó, trước hết là bởi tài năng thiên bẩm, ở niềm đam mê văn chương cháy bỏng của Nguyễn Trí Và không thể không nói tới sự nâng đỡ của những nhà văn lão luyện

Trong một lần trả lời phỏng vấn báo Thanh niên, Nguyễn Trí đã chia sẻ

rất thẳng thắn: “Tôi là một nhà văn ít học và không bao giờ ảo tưởng về giải thưởng Văn chương của tôi là văn chương bình dân, dành cho những người dưới đáy xã hội Cuộc đời tôi nhiều bi kịch, chán chường, nhiều khi tôi mượn rượu để quên đi, nhưng không thể quên được

Có lúc tôi viết vài trang tâm sự với chính mình, để rồi khi tỉnh táo đọc lại thấy cũng tạm được Cứ thế tôi đã viết lại quá khứ cuộc đời mình qua 40 cuốn vở học sinh Ban đầu, tôi tự gửi báo đăng nhưng không có kết quả” [8]

Khổ ải của kiếp người là cái lực đẩy kéo người ta tới văn chương Điều đó thật đúng với nhà văn Nguyễn Trí Trải qua bao thăng trầm, đau khổ, cuối cùng ông quyết định cầm bút Với một lí do thật đơn giản: “viết để quên… buồn”

Ông viết liên tục “Tôi viết ra được những gì ứ trong đầu, tôi thấy thoải mái” [10] Với ông, được đăng báo hay không không quan trọng Đạt giải có

lẽ là điều ông chưa nghĩ tới

Ông đã đưa ra quan điểm rất mộc mạc: “Tôi là người nông dân, là

người thợ rừng Cái cày, cày mãi, lưỡi sẽ bén lên, sáng lên Trong truyện Đá

Trang 30

quý tôi viết: “Đừng nghĩ cát là bỏ đi Hãy tưởng tượng một con trai há miệng

kiếm ăn thì một cục cát tình cờ vương lại và từ đó sự tình cờ làm nên sự kì diệu” [10]

Và sự tình cờ đã làm nên kì diệu cho Nguyễn Trí

Nguyễn Trí kể rằng: “Truyện ngắn đầu tiên của tôi được xuất bản một cách rất tình cờ Một buổi chiều năm 2012, tôi ghé nhà sách Thăng Long, trên đường Nguyễn Thị Minh Khai (TP Hồ Chí Minh), đang thơ thẩn chọn sách thì nghe hai cậu thanh niên đứng gần trò chuyện về các nhà văn hiện thời và trao đổi nhau vài email của một số nhà văn có quan tâm đến các tác giả mới Tôi nghe lỏm được địa chỉ của nhà văn Hồ Anh Thái, chép cẩn thận vào sổ tay rồi tối về đánh liều gửi truyện cho ông Tôi không dám hi vọng nhiều sau những lần gửi truyện đến các toà soạn báo không có hồi âm Buổi tối tôi viết sẵn ra giấy, sáng đi làm trong xưởng nhuộm, chiều xin về sớm ghé của hàng internet gửi email cho nhà văn Tôi thậm chí còn không biết gửi file đính kèm,

mà gõ thẳng vào phần viết email Tôi còn nhớ đó là câu chuyện có tựa đề

Tình cho không Nhà văn Hồ Anh Thái đã in truyện này trên báo Người đại biểu nhân dân và sau đó là tờ Tuổi trẻ cuối tuần” [40]

Được sự gọt dũa của nhà văn Hồ Anh Thái, trong vòng 28 ngày, ông có tới 4 truyện ngắn được đăng trên các báo

Khi nhìn thấy truyện ngắn của mình trên mặt báo, Nguyễn Trí đã sung sướng đến mức ông phải chạy chiếc Wave Tàu suốt đêm để giải toả sự vui sướng đó Với người khác, đó có thể là điều bình thường Còn với Nguyễn Trí

- một con người suốt cuộc đời nếm trải mọi đắng cay thì đó là niềm hạnh phúc vô bờ

Với Nguyễn Trí, Hồ Anh Thái không đơn thuần là một người bạn, một độc giả Hơn thế, ông còn là một người thầy dù Hồ Anh Thái kém Nguyễn Trí

6 tuổi Buổi đẩu viết lách, buổi đầu mò mẫm, Nguyễn Trí thậm chí không biết

sử dụng vi tính; Hồ Anh Thái đã tận tình dạy cho, dạy cả cách sử dụng ngôn

Trang 31

từ… Nguyễn Trí “đã viết liên tục dưới sự động viên qua mạng của nhà văn Hồ Anh Thái Rồi anh Thái tự tập hợp các truyện của tôi lại thành bản thảo cuốn

Bãi vàng, đá quý, trầm hương, gửi sang Nxb Trẻ, giúp tác phẩm ra đời” [8]

Sẽ ra sao nếu “gã giang hồ” Nguyễn Trí không gặp được “người thầy”

Hồ Anh Thái? Cuộc gặp gỡ tình cờ đó có lẽ là mối duyên văn chương mà không phải ai cũng may mắn có được! Bởi “Không có anh ấy, tôi quăng bút lâu rồi Tính tôi dứt khoát lắm Đã không được là làm cái khác, không có đuổi hình bắt bóng” - Nguyễn Trí bộc bạch [8]

Sau đó, Nguyễn Trí tiếp tục gửi truyện cho Hồ Anh Thái Anh Thái gửi

khắp các báo, rồi tuyển chọn thành Bãi vàng, đá quý, trầm hương Sau đó,

thông qua sự giới thiệu của nhà văn Nguyễn Thái Hải, nhà văn Trần Đức Tiến

đã gửi đi dự thi

Số phận tập truyện đầu tay của Nguyễn Trí cũng kì diệu như số phận của chủ nhân nó Nhà văn Nguyễn Đức Tiến chia sẻ: Trong số hơn 90 tác phẩm mà các nhà xuất bản, Hội văn nghệ và cả cá nhân nhà văn tiến cử năm nay, Hội đồng văn xuôi chưa thấy tác phẩm nào thật sự xuất sắc Và cái tên Nguyễn Trí “lướt qua” trong tâm trí ông Trước đó, ông chỉ nghe loáng thoáng một số thông tin và đọc rải rác một số truyện ngắn của Nguyễn Trí

trên báo chí Sau đó, Trần Đức Tiến lập tức đi tìm tập truyện Bãi vàng, đá quý, trầm hương để đọc lại Nhà văn Trần Đức Tiến nói rằng: chỉ mới đọc 5 -

7 truyện ngắn trong số 16 truyện trong tập truyện này ông đã quyết định đề cử

tác phẩm Bãi vàng, đá quý, trầm hương cho Hội đồng văn xuôi của Hội Nhà

văn Việt Nam

Tuy nhiên, nhà văn Trần Đức Tiến cũng “lo lắng” cho số phận của tác phẩm khi không biết có sự đồng thuận hay không vì trong tập truyện này, Nguyễn Trí sử dụng khá nhiều phương ngữ Nam bộ, độc giả miền Bắc có thể

se bị “vấp”

Trái với lo lắng của nhà văn Trần Đức Tiến, Bãi vàng, đá quý, trầm

Trang 32

hương đã nhận được số phiếu tuyệt đối 9/9 của các thành viên trong Hội đồng

chung khảo

Nhờ sự nỗ lực của nhà văn Trần Đức Tiến, gần như đến phút 89 tập truyện ấy đã “đăng quang” xứng đáng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013

Khi nhà văn Trần Đức Trí báo tin “đoạt giải rồi anh Trí ơi”, Nguyễn Trí nói rằng không dám tin vào tai của mình, niềm sung sướng tột đỉnh đó “còn hơn cả khi thấy một viên đá quý hay thỏi vàng trong hầm” “với tôi là cả một giấc mơ” [40]

Niềm vui, niềm hạnh phúc quá đỗi lớn lao và bất ngờ khiến, ba ngày sau đó Nguyễn Trí không viết được gì!

“Trái ngọt đầu mùa” đã mang đến thành công vang dội cho Nguyễn Trí Thành công đó là cả một quá trình lao động mệt nhọc không ngừng nghỉ của gã giang hồ đam mê văn chương một cách cuồng nhiệt

Trong hành trình bươn chải kiếm sống, bôn ba, nhiều lúc Nguyễn Trí rơi vào cô đơn, tuyệt vọng Nhưng trong hành trình “lột xác” từ một phu đào vàng, một đồ tể thành một nhà văn, bước lên bục vinh quang Nguyễn Trí không còn đơn độc, bên ông luôn có những người bạn đồng hành, dìu dắt ông, động viên ông, tiếp cho ông nguồn sức mạnh để ông vững vàng bước đi trên con đường đầy chông gai, thử thách Những người bạn đồng hành đó là các nhà văn lão luyện như: Hồ Anh Thái, Nguyễn Thái Hải, Trần Đức Tiến… và độc giả trên cả nước

Bây giờ thì cái tên Nguyễn Trí đã dần quen thuộc với bạn đọc Truyện của ông thường xuyên được báo chí đăng tải Ông vừa được Nhà xuất bản Trẻ

TP Hồ Chí Minh in tập truyện thứ hai mang tên Đồ tể (2014) và tiểu thuyết Thiên đường ảo vọng (2015)

“Xưa nay tôi luôn sống trong mặc cảm, tự ti, tự cho mình là thứ bỏ đi của đời sống Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và sự ưu ái của bạn đọc

Trang 33

đã cho tôi thấy cuộc đời thật đáng quý!” [26] Đó là những sẻ chia đầy chân tình của Nguyễn Trí Nó làm chúng ta thấm thía hơn tình đời, tình người trong cuộc đời này!

1.3 Sự đón nhận của làng văn

1.3.1 Tính chất của hiện tượng Nguyễn Trí

Hiện thực xã hội, cuộc sống của con người có nhiều thay đổi, nhu cầu thẩm mĩ, sự tiếp nhận của độc giả cũng khác Lúc này, độc giả muốn nhìn nhận vấn đề ở hai mặt của nó chứ không đơn thuần chỉ là một chiều Thực tế

đó đòi hỏi nhà văn phải bứt phá từ tư duy, cách nhì nhận cuộc sống đến cách viết Quả thực ta thấy văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt là văn xuôi không hoàn toàn cắt đứt với những kinh nghiệm nghệ thuật của văn học giai đoạn trước đó nhưng đã có sự đổi mới đáng kể về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Văn học sau 1975 đã chuyển từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, tức là nghiêng về tư duy phản ánh những khía cạnh đời tư, đời thường, những

số phận cá nhân phức tạp thay cho những vấn đề mang tính sống còn của cộng đồng, dân tộc, vẫn viết về hai đề tài: chiến tranh và xây dựng, nhưng giờ đây các nhà văn đã thẳng thắn vạch trần những thành phần cặn bã, biến chất, thoái hoá trong đời sống xã hội nên cuộc sống trong tác phẩm trở nên thực hơn, “đời” hơn

Sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, văn học Việt Nam phát triển trong tinh thần tự do, dân chủ, đổi mới tư duy nhìn thẳng vào sự thật Các nhà văn được “cởi trói” nên có nhiều cơ hội để bộc lộ quan điểm, cá tính sáng tạo của mình Đây là một động lực lớn để các nhà văn cùng nhau sáng tạo, đóng góp cho văn học nước nhà những tác phẩm có giá trị Bởi vậy mà chúng ta được chứng kiến đông đảo các thế hệ nhà văn với nhiều kiểu, nhiều xu hướng sáng tác Họ ở các lứa tuổi khác nhau, hoặc đối nghịch nhau trong quan niệm về cuộc sống và văn chương, nhưng các thế hệ cầm bút đều đang nỗ lực sáng tạo,

ở mỗi thế hệ lựa chọn cho mình một cách tồn tại và ở mỗi thế hệ đều quy tụ những ngòi bút tạo nên phong cách nghệ thuật của riêng mình

Trang 34

Quan niệm nghệ thuật về con người cũng khác rất nhiều so với văn học trước năm 1975 Con người trong văn học trước 1975 là những con người hoàn thiện hoàn mỹ, những viên ngọc không tì vết, đặc biệt là những người anh hùng thì khó mà tìm được khuyết điểm Con người sau 1975 là những con người hiện hữu trong đời thường, gần gũi, người hơn Bên cạnh những phẩm chất tốt đẹp như lòng vị tha, khả năng đồng cảm với người khác… thì con người ta cũng nhỏ nhen, ganh đua, chà đạp lẫn nhau Phải thấy con người trong văn học thời kì này được nhìn nhận trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ, ở nhiều cung bậc, tầng bậc ý thức và vô thức, ở đời sống tư tưởng tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, trong những con người có những giao tranh, chen lẫn bóng tối và ánh sáng, “giữa rồng phượng, rắn rết, thiên thần và ác quỷ, cao cả và tầm thường” Như vậy, con người trong văn học sau

1975 được nhìn nhận trong mối quan hệ biện chứng chứ không phải một chiều như văn học trước đó Trên cơ sở quan điểm đó, chiến tranh cũng được nhìn nhận chân thực hơn để nhận ra rằng: thì ra chiến tranh cũng có nhiều mặt xấu chứ không phải hoàn toàn tốt đẹp và hào hùng như văn học trước đây đã

mô tả Nông thôn Việt Nam cũng được nhìn nhận ở hai chiều tốt - xấu, tích cực - tiêu cực Nông thôn vốn tưởng như thanh bình hoá ra lại là nơi chứa đựng mọi bi kịch

Tư duy và quan niệm về con người thay đổi tất yếu đòi hỏi cách viết, hình thức nghệ thuật cũng phải thay đổi Đó là sự đa dạng trong tình huống Cốt truyện trong văn học đương đại không còn được quá đề cao như trong truyền thống mà có xu hướng nới lỏng cốt truyện Vai trò của cốt truyện bị hạn chế một cách tối đa, thậm chí không có cốt truyện hoặc có nhưng bị đảo lộn một cách không có trật tự hoặc là sắp xếp các mảng không hề quen biết bên cạnh nhau Kết cấu chính là một phương tiện quan trọng góp phần vào việc tạo nên diện mạo mới của văn học thời kì này Khảo sát những tác phẩm văn xuôi thời kì đổi mới, ta nhận thấy lối kết cấu mở ngỏ được sử dụng phổ biến và rộng rãi gợi nhiều suy ngẫm, dằn vặt, trăn trở Kiểu kết cấu này nhiều khi nhà văn chỉ đưa ra vấn đề mà không có kết luận khiến người đọc có cảm

Trang 35

giác câu chuyện còn tiếp diễn và kéo dài ra nữa, độc giả có thể tham gia sáng tạo, dự đoán, đánh giá, phán xét theo mọi cách hiểu Điều này đáp ứng xu

hướng dân chủ trong văn học

Việc tổ chức điểm nhìn trần thuật cũng trở nên đa dạng, linh hoạt, lúc

sử dụng một điểm nhìn, lúc lại có sự phối hợp nhiều điểm nhìn trần thuật Giọng điệu trần thuật cũng rất đa dạng Mỗi nhà văn bộc lộ cá tính sáng tác của mình ở một giọng điệu riêng Nét đổi mới rõ rệt về giọng điệu trần thuật của văn xuôi thời kì này là giọng trần thuật mang tính chất hướng nội

Nghệ thuật xây dựng nhân vật có nhiều nét mới, tiêu biểu là: nhân vật được xây dựng như một đề án mở và nhân vật mang tính chất biểu trưng Các tác giả đã chú ý miêu tả nét tâm lí, cuộc sống bên trong của con người, nhân vật bộc lộ những nét tính cách, phẩm chất qua sự suy nghĩ đấu tranh với chính bản thân mình Giọng chủ âm là giọng đa thanh, phức tạp

Chính sự đổi mới trên nhiều phương diện khiến văn xuôi Việt Nam đương đại sau 1975 có nhiều biến chuyển, khởi sắc và đạt được nhiều thành tựu Chúng ta đã có một nền văn học phát triển sôi động, đa sắc màu, nhiều dáng vẻ

Giữa dòng chảy sôi động ồ ạt của văn học Việt Nam đương đại, để không bị cuốn trôi, mỗi thế hệ tác giả, từng nhà văn phải có những định hướng, cách thức để tồn tại Và trong dòng chảy văn học ấy, có những nhà văn chỉ mới xuất hiện nhưng đã làm nên một hiện tượng Chẳng hạn: hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp, hiện tượng Nguyễn Ngọc Tư và gần đây nhất là hiện tượng Nguyễn Trí

Trước khi nói về hiện tượng Nguyễn Trí, chúng tôi sẽ đề cập một cách khái quát một số nhà văn tiêu biểu cho các thế hệ khác nhau trong tiến trình phát triển phong phú, đa dạng của văn học Việt Nam đương đại

Trước hết xin nói về thế hệ nhà văn thời kì đầu đổi mới, đã từng sáng tác ở giai đoạn văn học trước 1975, tiêu biểu là Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng Phải nói rằng họ là những nhà văn mang đầy nhiệt huyết, bước ra từ nền văn học phục vụ cho cách mạng, cho nhiệm vụ chính trị

Trang 36

trọng đại của dân tộc và cũng là thế hệ đàn anh của văn chương Việt Nam đổi mới Trong hoàn cảnh mới của đất nước, ý thức trách nhiệm và nhiệt huyết của thế hệ nhà văn này lại được phát huy ở khía cạnh khác Họ ý thức rõ về sứ mệnh của mình, luôn muốn sáng tác của mình can dự tích cực vào đời sống, luôn muốn nêu vấn đề và gợi ý cách giải quyết vấn đề Nhà văn tham gia vào đời sống Họ khám phá, soi xét đời sống để rồi đưa ra những triết lí nhân sinh đầy nhân bản mong sao góp phần vào sự phát triển tốt đẹp, bền vững của đời sống con người và xã hội

Đọc những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu chúng ta nhận thấy sự nhạy cảm của ông với những đổi thay của con người và đời sống xã hội, ở đó ông đã khiến những con người, những số phận được kết tinh từ cuộc sống hiện hình trên trang sách với một nghệ thuật điêu luyện Nguyễn Minh Châu

đi sâu vào khám phá bản chất con người trong những hoàn cảnh sống bình thường mà ở đó con người bộc lộ tất cả những phẩm chất của nó, từ đó ông bộc lộ quan điếm của mình Nguyễn Minh Châu bám sát các đề tài thời sự nóng hổi mà ông thấy trong đó chứa đựng biết bao sự trớ trêu, nghịch lý Chính điều này đã khiến ông xuất hiện như một hiện tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới giúp con người ý thức sâu hơn về sự thật Ông đã sớm nhận ra thói đạo đức giả, một thói xấu tồn tại trong xã hội mà nhiều năm sau chúng ta mới thấy Tác giả đi sâu vào mối quan hệ người với người, người với loài vật, người với thiên nhiên, rồi từ đó ông triết lý, chiêm nghiệm, suy tư

về cuộc sống như Phiên chợ Giát, Một lần đối chứng, Chiếc thuyền ngoài xa Quả thực Nguyễn Minh Châu đã tự mình nhìn nhận lại mọi vấn đề của đời sống, thấy chúng từ mọi góc cạnh phức tạp nhất Trong truyện Sắm vai

nhà văn đã nói về bi kịch của nhà văn T để rồi nêu lên một vấn đề đó là: xung đột giữa cái bản ngã thực và những vai diễn giả dối vẫn mãi là một xung đột vĩnh cửu của đời sống Từ đó nhà văn muốn cảnh tỉnh: đừng hy sinh bản ngã của mình đế đổi lấy dù là cuộc sống bởi cuộc sống trong vai diễn bao giờ cũng là địa ngục trần gian; đánh mất chính mình mới là cái mất lớn nhất

Sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975 đã kể cho độc giả nhiều

Trang 37

chuyện về nhiều mặt khác nhau của đời sống Đó là chuyên về những rạn nứt, những sự bất an trong cơ cấu gia đình ngày hôm nay, là chuyện về cuộc sống những người chẳng cần biết đến vai trò của lý trí tỉnh táo, là chuyện về tâm trạng dằn vặt của một số người từng mang món nợ tinh thần đối với cuộc sống và chuyện về những con người dị thường, chuyện về tương lai, chuyện

về thực tại, thậm chí cả chuyện về quá khứ Tất cả đều được mang ra để xem xét, nhìn nhận lại với con mắt của một nhà văn tự đối mới trong tư duy nghệ thuật Bởi vậy mà sáng tác của Nguyễn Minh Châu thời kỳ này xoáy vào lòng người đọc những băn khoăn, trăn trở có tính chất muôn đời Ông đặt ra vấn đề chúng ta phải sống sao cho ra cuộc sống có ý thức trách nhiệm, đặc biệt là vấn

đề lý trí tỉnh táo được coi là xuất phát điểm tối quan trọng, cho phép ta nhìn nhận đúng hiện trạng của đời sống và khắc phục được nếp nghĩ, thói quen, hành động chủ quan, duy ý chí Trước hiện thực cuộc sống mới bao bộn bề Nguyễn Minh Châu đã triển khai nhiều góc nhìn mới mẻ về con người, cuộc đời và bày tỏ suy nghĩ chính kiến của mình xuất phát từ lòng tin đối vói con người và tinh thần trách nhiệm đối với cuộc đời

Nguyễn Khải thì cho rằng: “Nhà văn đồng thời là nhà tư tưởng, một người hoạt động xã hội bằng phương tiện của mình, một nhà nhân đạo chủ nghĩa”; “Một tác phẩm văn học lớn tức là tư tưởng của tác phẩm phải là tư tưởng của thời đại, những tính cách của nhân vật phải là những tính cách của thời đại Nói tóm lại tác phẩm đó phải khái quát được bộ mặt tinh thần của dân tộc mình, do đó mà khắc họa được những nét chủ yếu của bộ mặt nhân loại” Ý thức trách nhiệm của một nhà văn đồng thời cũng là nhà tư tưởng và tác phẩm văn học phải mang tư tưởng của thời đại khiến cho ngòi bút Nguyễn Khải luôn xông vào những lĩnh vực phức tạp của đời sống, những nơi được coi là nhạy cảm nhất của xã hội Tác phẩm của ông luôn đưa ra những vấn đề

mà đó là tiếng nói, tư tưởng, là cách tham dự của nhà văn vào cách tham dự của nhà văn vào cuộc đấu tranh chung vì sự tiến bộ của xã hội

Tác phẩm của Nguyễn Khải luôn phát hiện và đặt ra vấn đề thiết yếu của đời sống Ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề, tư tưởng, nhận thức của những

Trang 38

người đã gắn bó sâu sắc với chế độ Sài Gòn cũ Đây là vấn đề rất đáng để lưu tâm sau khi cách mạng đã giành được thắng lợi Ông đặt ra vấn đề phải làm sao cho những con người đó nhận ra được ý nghĩa nhân đạo của cách mạng và tự nguyện góp phần xây dựng cuộc sống mới, đó mới là điều quan trọng

Trong thời kì đất nước đổi mới phát triển theo hướng kinh tế thị trường, Nguyễn Khải lại đánh động về mối quan hệ giữa người với người, đổi thay của những giá trị đạo đức của con người trước biến thiên của xã hội Từ đó ông thiết tha giục giã con người cần sống có trách nhiệm, quan tâm đến nhau Mặt khác, ông rất có thiện cảm với những con người trẻ tuổi vừa làm ăn giỏi, vừa chừng mực trong quan hệ với đồng tiền, lại có tâm trong sáng, lương thiện Ngược lại, ông không mấy thiện cảm với những người quá thực dụng Điều nhà văn muốn khẳng định là: dù thời thế có thay đổi thì những chuẩn mực đạo đức truyền thống bền vững vẫn cần phải được giữ gìn Có vậy thì mới có được sự phát triển bền vững, lành mạnh và thực sự là vì con người Triết lí ấy thể hiện thái độ trăn trở đầy trách nhiệm của nhà văn với thế hệ trẻ, với cuộc đời

Nguyễn Khải mang đến cho chúng ta nhiều cách nhìn về cuộc sống, con người và cả việc nhìn lại chính mình Tất cả đều một niềm khát khao về một xã hội phát triển trong sự thấm đẫm tình người

Ma Văn Kháng đặc biệt nhạy cảm và suy tư, trăn trở với cuộc sống đô thị thời mở của Ông quan tâm đến mọi lĩnh vực của đời sống con người như

nó vốn có: tình yêu, tình dục, hôn nhân gia đình, ước mơ hạnh phúc tốt đẹp hay thấp hèn, chuyện sinh hoạt hang ngày với bao chuyện mè nheo… Những chuyện tưởng như vặt vãnh nhưng đã phản ánh được một thực tế là dưới sự tác động của đồng tiền và sự xuống cấp của xã hội, các mối quan hệ gia đình,

họ hàng, làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp trở nên chao đảo, ngả nghiêng Chính

vì vậy mà tác phẩm của ông đặc biệt là mảng truyện ngắn mang chiều sâu triết luận đầy tính nhân bản về đời sống Đọc truyện ngắn về thành thị của Ma Văn Kháng “người đọc nhận ra tiếng nói ngậm ngùi, cảm khái chứa đựng tình thương và nỗi buồn mênh mông trước một thế nhân đang phai nhạt nhân tình” (Lã Nguyên)

Trang 39

Bên cạnh đó chúng ta còn nhận ra tiếng reo hân hoan trước sự thăng hoa của tình đời, tình người trong nhiều trang viết của Ma Văn Kháng Ở đó nhà văn bộc lộ niềm tin tưởng, lạc quan về bản tính lương thiện của con người

Tất cả những điều trên cho ta thấy Ma Văn Kháng quan tâm tới mọi chiều kích của cuộc sống đời thường Đằng sau bức tranh toàn cảnh sinh động của cuộc sống con người trong trang văn của ông chứa đựng biết bao triết lí nhân sinh về ý nghĩa cuộc đời, về cách làm người trong thời đại đầy biến động phức tạp này Vạch rõ cái tiêu cực để phê phán, chống lại và loại trừ nó nhưng cũng chắt lọc, nâng niu những cái tươi đẹp đáng sống để tạo cho con người ta niềm hi vọng

Có thể nói rằng, các tác giả như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng là các chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng Các nhà văn thực sự mong muốn tư tưởng, tinh thần cao đẹp trong mỗi con người sẽ là nền tảng để xây đắp một môi trường xã hội phát triển tốt đẹp, văn minh Chính vì thế mà dù nền văn học đương đại nở rộ với nhiều xu hướng, nhiều cách tân nhưng sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng đã thực sự đóng đinh vào lịch sử phát triển của nền văn học cũng như độc giả

Thế hệ tiếp nối sau đó gồm những Nguyễn Huy Thiêp, Phạm Thị Hoài,

Hồ Anh Thái… là lớp nhà văn được giải phóng khỏi chức năng làm chiến sĩ

Họ có sự thay đổi cách nhìn nhận về văn chương và nhà văn Với họ văn chương không phải là thứ quá đỗi thiêng liêng, làm xong phải rưng rưng xúc động, cũng không phải là nơi để đưa ra những lời phán truyền mà văn chương chỉ là sản phẩm của con người hiện thực nói những điều từ riêng suy nghĩ của mình mà thôi

Họ chuyên tâm sáng tác và có ý thức làm một nhà văn chuyên nghiệp, rất chú ý học hỏi, đổi mới bút pháp và ý thức được rằng không có bút pháp, phong cách riêng thì không có gì cả Nhiều hướng tìm tòi mới cũng được họ công khai thể hiện như hình thức cắt gián, lồng ghép, đồng hiện, sử dụng dòng ý thức, sử dụng cái kì ảo…

Đây là thế hệ những nhà văn đoạn tuyệt với lối viết tô hồng quen thuộc

Trang 40

cũ để nói lên sự thực bằng hình ảnh, bằng biểu tượng, bằng ẩn dụ, bằng kí hiệu ngôn ngữ Một mặt họ vừa phản ánh được bộ mặt thật của xã hội, mặt khác họ lại đưa ra lối viết độc đáo, trình bày hiện thực khác hẳn với những người đương thời

Cuối thập niên 80 một số tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện

như Tướng về hưu, Muối của rừng, Con gái Thuỷ Thần… đã làm xôn xao dư

luận, có nhiều cuộc tranh cãi căng thẳng đã nổ ra Tác giả cũng phải chịu nhiều búa rìu của dư luận Phải nói rằng Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra cú sốc lớn và khuấy động cả bầu không khí sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam thời kì đổi mới Ông đã thực sự phá vỡ thế bình ổn trên văn đàn Cho đến nay,

dù ý kiến đánh giá chưa có sự đồng thuận song phải nói rằng “hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp” chính là thành quả của đổi mới văn học cộng với bản lĩnh, nỗ lực sáng tạo của chính ông Bởi vậy mà Nguyễn Huy Thiệp đã bước vào đội ngũ nhà văn hiện đại một cách đàng hoàng, chững chạc

Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp rất lạ cả về nội dung và hình thức Cái mới mà Nguyễn Huy Thiệp đưa đến là một nhận thức mới về thực tại cùng với lối viết đầy ám ảnh Cùng một cách nhìn mới về con người, về thực tại sau 1975 nhưng nếu Nguyễn Minh Châu sâu sắc thâm trầm thì Nguyễn Huy Thiệp lại sắc sảo một cách gai góc và không cố để đưa ra thông điệp Ông chỉ trình bày hiện thực như ông đã tự cảm thấy và nêu lên những sự suy

tư của mình chính trong sự trình bày ấy Đó là những trăn trở về thiện ác, vinh quang và thất bại, cao sang và thấp hèn, người và thú…

Văn Nguyễn Huy Thiệp khiến mọi người tiếp cận phải dồn mình lên, đọc và nghĩ gấp gáp, nó cứ khiến người ta bứt rứt, khó chịu, làm xáo trộn trong lòng người Quả thực văn Nguyễn Huy Thiệp đã rất thành công trong việc tác động đến người đọc Có được điều đó là bởi cái lối viết lạ của ông được song hành với nội dung là viết về những cái tàn nhẫn, thậm chí ghê sợ,

là trạng thái nhân sinh của con người sau đối mới Đặc biệt những câu chuyện giả lịch sử được viết trên tinh thần giải thiêng đã khẳng định khả năng sáng tạo, táo bạo của nhà văn Bởi vậy mà lối viết của ông không bắt ai phải suy

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w