Nhà nghiên cứu đi đến kết luận: về nội dung “Với Tản Đà, tình cảm đã được đặt lên hàng đầu và chính tình cảm đã vẽ nên những nét lãng mạn rõ rệt trong thơ ca Tản Đà”; về hình thức nghệ t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG
TÌM HIỂU PHONG CÁCH THƠ TẢN ĐÀ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 23 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Thị Như Trang
TÌM HIỂU PHONG CÁCH THƠ TẢN ĐÀ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 23 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS ĐOÀN LÊ GIANG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 3MỤC LỤC Trang
1 Lí do chọn đề tài 1
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn………… 10
4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu……… 11
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SƠ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH THƠ
1.1 Giới thuyết về Phong cách nghệ thuật……… ……… 15
1.2 Nền văn học giao thời và tác gia giao thời tiêu biểu: Tản Đà………… 22
2.4 Cái tôi giang hồ, yêu cái đẹp ……… 57 2.5 Cái tôi Tản Đà - sản phẩm độc đáo của nền văn học buổi giao
thời…… 68
CHƯƠNG 3: NHỮNG PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN PHONG CÁCH THƠ TẢN
ĐÀ 82
3.1 Các thể loại thơ ca Tản Đà……… ……… 82
Trang 43.1.2 Dân tộc hóa thơ Đường luật (Đường luật khẩu ngữ thi) ……… 85
3.1.3 Trở về với các thể loại thơ ca dân tộc……… 92
3.1.4 Đến với hát nói……… 106
3.1.5 Mở đường cho thơ Mới……… 112
3.2 Ngôn ngữ thơ Tản Đà……… ……… 119
3.2.1 Sự đan xen giữa ngôn từ tượng trưng, ước lệ với ngôn từ đời thường, khẩu ngữ…….……… 120
3.2.2 Cách tân nhạc điệu trên nền nhạc điệu thơ ca truyền thống………… 131
3.2.3 Sự trùng khít giữa dòng thơ với câu thơ và tính trực giác trong tư duy thơ Tản Đà……… 141
3.3 Giọng điệu thơ Tản Đà… ……… 148
3.3.1 Giọng ngông nghênh phóng túng……… 149
3.3.2 Giọng cảm thương ưu ái……….……… 157
KẾT LUẬN……… 167
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 170
PHỤ LỤC……… 178
Phụ lục 1……… 178
Phụ lục 2……… 182
Trang 5DẪN LUẬN
1 Lí do chọn đề tài:
Nền thơ Việt Nam giai đoạn giao thời (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) đã sản sinh ra thi tài văn học Tản Đà Sứ mệnh đón chào thời đại thi ca mới trong xu thế hội nhập thế giới đã thuộc về Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, người Nho sĩ cuối mùa cấp tiến Sáng tác của Tản Đà trải trên nhiều thể loại khác nhau Bằng những cách thức khác nhau, dường như đó là sự kiểm tra, tổng duyệt lại năng lực biểu đạt nghệ thuật của toàn bộ hệ thống thể loại văn học truyền thống trước những đòi hỏi mới mẻ nảy sinh từ thực tiễn đời sống văn học Điều này lý giải vì sao trong tất cả các bộ văn học sử, Tản Đà luôn được nhắc tới như một tác gia quan trọng của giai đoạn văn học giao thời Tài năng, thành tựu trên nhiều phương diện thơ ca của Tản
Đà cũng đã được khẳng định trong hàng nghìn trang sách của giới nghiên cứu Địa
vị vững chắc của ông trong lịch sử văn học nước nhà là điều không còn cần phải bàn luận Song, trước những thử thách nghiệt ngã đối với vận mệnh thơ ca thế kỷ XXI, việc nghiền ngẫm lại những gì tiền nhân đã gặt hái được trong quá trình lập nghiệp, đặc biệt là thơ ca, có lẽ vẫn là điều bổ ích giúp ta hình dung được cốt lõi diện mạo thơ Việt Nam buổi giao thời, giai đoạn khởi đầu đầy ý nghĩa trên bước đường hiện đại hoá nền văn học dân tộc
Tản Đà là một tác giả lớn của văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ
XX Việc tiếp cận, khám phá, bình giá và lý giải sự nghiệp văn chương của Tản
Đà dù đã bắt đầu từ thuở ông đến với văn chương, nhưng đến nay vẫn còn đang tiếp tục Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của văn chương giai
đoạn giao thời 1900 – 1930 Vì vậy, Tìm hiểu phong cách thơ Tản Đà cũng
chính là để hiểu rõ hơn đặc trưng về sự vận động của thơ văn từ thời trung đại sang thời hiện đại: đó không phải là con đường thẳng, càng không phải chỉ bước một lần là xong, mà phải qua những bước trung gian đầy kì khu khó nhọc nhưng cũng đầy kỳ thú đáng để chúng ta tìm hiểu, khám phá Hơn nữa, từ việc nghiên cứu này, người viết có thể tìm ra những vấn đề chung mang tính quy luật cho toàn
bộ giai đoạn văn học khá phức tạp này
Trang 6Tản Đà là con người của giao thời Vị trí giao thời cũng như những giá trị nghệ thuật ông cống hiến cho nền văn học nước nhà ai cũng thừa nhận Tuy vậy, việc tìm hiểu thơ văn Tản Đà hầu như cũng chỉ mới dừng lại ở khám phá và soi xét giá trị nội dung, khẳng định vai trò trung gian, chuyển giao giữa hai thời trung đại và hiện đại, còn việc tìm hiểu về phong cách thơ ông thì chỉ mới dừng lại ở việc phát hiện, ngợi ca từng phương diện nhỏ chứ chưa mổ xẻ thật tường tận, thấu đáo một cách có hệ thống Như vậy, thơ Tản Đà cần được nhìn nhận như một chỉnh thể với những quy luật vận động nội tại dưới góc độ hình thức của nội dung
Chúng tôi chọn đề tài Tìm hiểu phong cách thơ Tản Đà nhằm mục đích tìm hiểu
một cách đầy đủ và toàn diện sự đóng góp của Tản Đà cho thơ ca và cố gắng chỉ ra những dấu hiệu thuộc tính riêng trong nội dung và nghệ thuật của thơ ông, để
khẳng định những phương diện cơ bản nhất, bản chất nhất thuộc Phong cách thơ Tản Đà
Thơ ca Tản Đà bấy lâu nay đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông, nhất là ở bậc phổ thông trung học; được chọn giảng thành những chuyên đề lớn trong các trường Đại học, trong các hội thảo khoa học lớn, Chọn
đề tài Tìm hiểu phong cách thơ Tản Đà, chúng tôi muốn đóng góp một phần nhỏ
bé vào việc tìm hiểu, đánh giá một tác gia tiêu biểu nhất cho một giai đoạn văn học Việt Nam được dạy trong nhà trường Qua đề tài này người viết có thêm một dịp tìm hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về Tản Đà cũng như những đóng góp to lớn của ông cho văn đàn Việt Nam Hơn nữa, với tư cách cá nhân, chúng tôi mong muốn sẽ tích lũy được nhiều hơn tri thức khoa học và phương pháp nghiên cứu để phục vụ cho quá trình giảng dạy và nghiên cứu sau này Đồng thời đây cũng là một cách thể hiện sự tâm đắc, ngưỡng mộ đối với Tản Đà mà người viết ấp ủ bấy lâu nay
Trang 7Đông Hồ, Đinh Hùng, Quách Tấn, Vũ Bằng, Xuân Diệu, Nguyễn Văn Phúc,… Các bài viết này cung cấp cho người đọc những hiểu biết chi tiết, sống động về con người, tính cách Tản Đà cũng như hoàn cảnh ra đời của một số sáng tác cụ thể của thi nhân
1.2 Kiểu bài thẩm bình, cảm nhận về các sáng tác cụ thể của Tản Đà, gồm
có các tác giả: Phạm Quỳnh, Trương Tửu, Nguyễn Khắc Xương, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Văn Hoàn, Triêu Dương, Bùi Văn Nguyên, Trần Yên Hưng, Nguyễn Hữu Cự, Nguyễn Văn Hạnh,… Giá trị của những trang viết này là giúp người đọc tiếp cận những cách hiểu khác nhau về các vấn đề như: Tản Đà thuộc loại hình nhà văn nào? có yêu nước hay không? tinh thần dân tộc được ông thể hiện như thế nào trong văn chương?,… Đồng thời cung cấp những cách hiểu về các tác phẩm cụ thể của Tản Đà
1.3 Kiểu công trình có tính chất chuyên luận, chuyên khảo: tìm hiểu, phê bình, đánh giá chung về toàn bộ văn nghiệp của Tản Đà hay một vài đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật văn chương Tản Đà Kiểu công trình này chiếm số
lượng đông đảo các bài viết Đó là các bài viết như: Thi sĩ Tản Đà – Lê Thanh;
Tản Đà – Khối mâu thuẫn lớn – Tầm Dương; Vũ Ngọc Phan với phần viết về
Tản Đà trong Nhà văn hiện đại; Dành hẳn cho Tản Đà một chương trong các bộ
giáo trình của nhóm Lê Quý Đôn (1957), Lê Trí Viễn (1961), Nguyễn Đình Chú (1962), Phạm Thế Ngũ (1956), Thanh Lãng (1967), Trần Đình Hượu, Lê Chí
Dũng (1974, 1988, 1996), Phạm Văn Nhu (1987), hay trong Từ điển văn học
(1984),… Ngoài ra còn có các bài viết tiêu biểu của Trần Ngọc Vương (1997)
trong Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung; Xuân Diệu với Tiểu
luận Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu; Đặc biệt là các bài viết trong dịp Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tản Đà do khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội tổ chức năm 1988
và Hội nghị khoa học về Tản Đà do Viện Văn học tổ chức năm 1989 với nhiều
tham luận đáng chú ý như: Tản Đà nhà văn hóa tiền đạo, Hữu vô tương tác
trong thi pháp Tản Đà của Tầm Dương, Vấn đề thể loại văn học trong sáng tác của Tản Đà – Lê Chí Dũng,…
Trang 82 Trong phạm vi tư liệu đã tiếp cận ấy, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến
những bài nghiên cứu đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến Phong cách thơ Tản
Đà Vì thế, trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi sẽ đi sâu vào kiểu bài thứ ba, có
liên quan trực tiếp đến đề tài mà chúng tôi thực hiện Các công trình nghiên cứu trên, bên cạnh việc cung cấp cho người đọc hiểu biết tổng quát về cuộc đời và sự nghiệp văn chương cũng như những giá trị về nội dung và nghệ thuật trong thơ
văn Tản Đà thì vấn đề Phong cách thơ Tản Đà cũng xa, gần được đề cập đến
2.1 Trước hết là bài viết của Phạm Quỳnh khi Giới thiệu Khối tình con I (1916) và Khối tình bản chính, bản phụ trên Tạp chí Nam Phong (1918) Xuất
phát từ mục đích riêng tư cá nhân, do “ghen ăn ghét ở” với Tản Đà, Phạm Quỳnh
đã phê bình lối văn chương “chạm lồng rồi lại chạm tỉa”, “thiệt là tinh, thiệt là xảo” của “một tay thợ khéo” Tản Đà Trong cái lối viết mỉa mai ấy, Phạm Quỳnh
đã xa gần đề cập đến cái tôi Mộng và Ngông cũng như tài năng về phương diện
nghệ thuật của Tản Đà
Cũng viết về vấn đề này, Nguyễn Mạnh Bổng trong bài viết giới thiệu Tản
Đà vận văn (1944) đã nhận xét lối văn “điêu luyện óng chuốt” của “một tay thợ quá ư công tế” cùng với lối làm văn “dễ nhớ, dễ cảm biết được” của Tản Đà đã
“đạt đến cái đích tuyệt đối của nghệ thuật” Đây là hai bài viết dù còn mang đậm
tính chủ quan cá nhân, nhưng bước đầu đã hướng đến tìm hiểu hình thức thơ văn Tản Đà
2.2 Tiếp đó, Nguyễn Triệu Luật trên Tao Đàn (số ra ngày 16/7/1939) đã hết
lời ca ngợi “Thơ Tản Đà hơn người về nhạc điệu” và chỉ ra một đặc trưng ngôn ngữ thơ Tản Đà: “Lối văn Tản Đà có hai cái hay và hai nghiện” Đó là “dập đúng nhạc luật của tiếng Nam”, “dùng chữ rất táo bạo”, “nghiện chữ mà và chữ ai”
Từ đó tác giả đi đến kết luận “Hai hay, hai nghiện ấy, theo ý riêng tôi, là bốn trụ
cho cả một văn nghiệp nhà thi hào” Còn Phạm Văn Diêu trong Việt Nam văn học
giảng bình, (1961), cũng hết lời ca ngợi: “nói đến thơ ca, ông quả thật là một
thiên tài Dù là ở thể cách nào mặc lòng, điều mà ta nhận thấy vẫn là cái tính chất phong phú trong mỹ cảm đẹp đẽ, kỳ tuyệt trong văn tự Hình ảnh lại dễ dàng hào hoa, âm điệu êm ả, tiêu dao dồi dào, gây thành những rung động tràn lan man
Trang 9mác đi sâu vào lòng người…” Ở các bài nghiên cứu trên, Phong cách thơ Tản
Đà được đề cập còn tản mạn, chưa đặt thành vấn đề riêng để đi sâu vào tìm hiểu
hệ thống, toàn diện, thấu đáo
2.3 Tầm Dương trong Tản Đà khối mâu thuẫn lớn lại đặc biệt quan tâm
đến “kỹ thuật văn chương” của Tản Đà Ông tìm hiểu phong cách thơ Tản Đà trên
phương diện nghệ thuật Nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm nghệ thuật nổi bật trong thi ca Tản Đà như tận dụng khả năng gợi tả thần tình của nhạc điệu, kỹ xảo mỹ từ pháp, thủ pháp tu từ, sử dụng hư từ thường xuyên, đắt nghĩa và phát
huy ngôn ngữ dân tộc Tuy nhiên công trình này nghiêng về lý giải “khối mâu
thuẫn lớn” trong Tản Đà từ nhiều góc độ chứ không đi sâu vào nghiên cứu Phong
cách thơ Tản Đà
2.4 Nhà phê bình văn học Lê Thanh, trên Tao Đàn số về Tản Đà, 1939
cũng khẳng định tài năng nghệ thuật của thi nhân: “Thơ của ông là chất trong như lọc với những cảnh tượng không rõ rệt, những hình ảnh lờ mờ, ông vẽ nên những bức tranh tuyệt bút, với những tư tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ mộng, ông làm nên những câu thơ tuyệt mỹ” Trương Tửu cũng đã ca ngợi những đóng
góp lớn lao của thiên tài Tản Đà về phương diện hình thức nghệ thuật trong bài
viết Tản Đà một ảo thuật gia về chữ, âm thanh và nhạc điệu Nhà nghiên cứu
cũng đi đến kết luận ngợi ca Tản Đà là một “Kỹ sư điều khiển cái máy từ ngữ Việt Nam” Tuy nhiên những bài viết này mang tính phát hiện, ngợi ca chứ không đi
sâu vào nghiên cứu hệ thống
2.5 Xuân Diệu – người rất yêu thơ Tản Đà, trong bài Công của thi sĩ Tản
Đà trên báo Ngày nay (số 167, 1939) cũng khẳng định tài nghệ: “dùng chữ tinh
xảo, các mẹo luật ly kì và âm nhạc chảy trôi, bay bướm” của Tản Đà Nhà nghiên cứu cũng chỉ rõ “Tản Đà là thi sĩ đầu tiên mở đường cho thơ Việt Nam hiện đại Tản Đà là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám có một bản ngã, dám giữ một cái Tôi” Từ đó, Xuân Diệu đi đến khẳng định Tản Đà “là người đầu tiên trong thơ Việt Nam hiện đại, là cái mầm thứ nhất của thơ chân thành, Tản Đà còn là một thi sĩ rất An Nam”
Trang 102.6 Tác giả Hoài Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam khi nhìn lại
“một cuộc cách mạng trong thi ca” cũng đã Cung chiêu anh hồn Tản Đà lên địa
vị là người mở màn cho thơ Mới với những đóng góp về nội dung và nghệ thuật
Còn Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, quyển hai, năm 1942 cũng có một cái
nhìn khá tinh tế về thơ Tản Đà qua việc tìm hiểu ảnh hưởng của thơ Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Du trong nội dung và nghệ thuật thơ văn Tản Đà Từ
đó, nhà nghiên cứu đi đến nhận định “Thơ của ông giản dị, trong sáng, lại diễn tả tâm hồn Việt Nam đủ mọi vẻ màu, nên thơ ông quyết nhiên sẽ là thơ bất hủ và có
lẽ trên thi đàn gần đây, ông đứng nhất” Những bài viết này có tính chất tổng hợp
những ảnh hưởng từ thi pháp truyền thống trong thơ Tản Đà, chú ý đến đóng góp
ở phương diện cái tôi thoát ly và đóng góp ở phương diện hình thức trong thơ Tản
Đà, đi đến khẳng định vai trò dọn đường của thi nhân trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam
2.7 Sau đó, Trịnh Vân Thanh trong Giảng luận Việt văn, in năm 1971 đã
dành nhiều trang ca ngợi công của thi sĩ Tản Đà đối với văn học dân tộc qua việc phân tích cái mới của Tản Đà về phương diện nội dung và hình thể thi ca trong
giai đoạn giao thời Nhà nghiên cứu đi đến kết luận: về nội dung “Với Tản Đà, tình cảm đã được đặt lên hàng đầu và chính tình cảm đã vẽ nên những nét lãng mạn rõ rệt trong thơ ca Tản Đà”; về hình thức nghệ thuật, Tản Đà đóng góp đa diện từ thể thức, cấu tạo, âm điệu, cách dùng chữ,… Những cái mới này đã “đánh dấu một bước tiến rõ rệt trong phong trào thi ca Việt Nam” Còn Phạm Văn Diêu trong
Việt Nam văn học giảng bình từ những tìm hiểu chung về Tản Đà cũng đã đi đến
kết luận phong cách dân tộc đặc sắc ở Tản Đà
2.8 Việc tìm hiểu và đánh giá về thơ văn Tản Đà khá đa dạng và phong phú Có thể nói, các công trình nghiên cứu kể trên đều nêu lên những biểu hiện tư tưởng, xác định vị trí, sự cống hiến to lớn của Tản Đà về nội dung cũng như nghệ thuật trong nền văn chương Việt Nam Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng tình
ca ngợi một tài hoa thi ca, một luồng gió thơm mát giữa lằn ranh văn học trung đại
và hiện đại, đến tính chất giao thời trong thơ ca Tản Đà: cái cũ đang tồn tại và cái
mới manh nha,… Vấn đề Phong cách thơ Tản Đà được đặt ra hoặc ít, hoặc
Trang 11nhiều; hoặc tản mạn, hoặc tập trung vào những vấn đề như hình tượng, ngôn từ, thể loại,… chứ chưa được trình bày một cách hệ thống
3 Các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu về thơ văn Tản Đà đưới nhiều góc
độ Ngoài những công trình còn mang tính tản mạn, chưa hệ thống ở trên, chúng
tôi đặc biệt chú ý đến các công trình trực tiếp đề cập đến Phong cách thơ Tản Đà
ở nhiều phương diện Đây là những công trình giúp bản thân người viết có được những định hướng chắc chắn hơn trong khi thực hiện đề tài
3.1 Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III,
1968 sau khi tóm tắt những đóng góp về nội dung và nghệ thuật của thơ văn Tản
Đà Qua đó nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đóng góp to lớn của Tản Đà đối với
văn học dân tộc Nhà nghiên cứu nêu rõ ý nghĩa “luồng gió mới” mà Tản Đà tạo nên cho văn học bấy giờ chính là “chủ nghĩa lãng mạn” mà sau này thơ Mới đã kế
tục và phát huy tạo nên những thành công rực rỡ Phạm Thế Ngũ đánh giá thơ Tản
Đà về những đặc sắc nội dung và nghệ thuật Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra một
số hạn chế trong nghệ thuật thơ Tản Đà “đôi khi tập cổ quá, ông trở thành sáo rỗng, lâm ly, rẻ tiền” Những nhận định này có phần chủ quan, cực đoan nhưng
nhà nghiên cứu cũng đã tổng hợp được những đóng góp chung của Tản Đà trên
nhiều phương diện Nhà nghiên cứu cũng thống nhất khi xác định vai trò “gạch nối sang thơ Mới” của Tản Đà Công trình cũng đã chỉ ra “cây bút thơ ông đã đi quá cổ nhân và đưa ông lại gần thơ Mới sau này”
3.2 Phạm Văn Diêu trong Việt Nam văn học giảng bình, năm 1970 cũng đề
cập đến hình thức nghệ thuật thơ văn của Tản Đà qua việc khẳng định tính chất
giao thời của thi nhân: “Tản Đà đã làm trẻ lại những hình thức cổ truyền và đủ siêng năng đi tìm những hình thức mới có khả năng chứa đựng tâm tình và tư tưởng phóng túng, tự do hơn, đã làm cả một công cuộc bàn giao tốt đẹp Ông là người của hai thế kỷ” Tuy nhiên nhà nghiên cứu vẫn chưa có cái nhìn thật rõ ràng,
đầy đủ về các yếu tố hình thức thơ ca Tản Đà và chưa thấy được hết ý nghĩa của
nó
3.3 Trong cuốn Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Tập 4b (Nguyễn
Đình Chú, Lê Trí Viễn – NXB Giáo dục – 1965), khi nói đến loại hình thơ của
Trang 12văn học đã đề cập đến Tản Đà và các nhà thơ khác như Đông Hồ, Đoàn Như Khuê, Trần Tuấn Khải Tác giả đã có những nhận xét về những đóng góp của Tản
Đà ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật trong sáng tác Những nhận định
này cũng ít nhiều giúp người viết có cái nhìn khái quát về “Phong cách thơ Tản Đà”
3.4 Năm 1974, trong giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời
1900 – 1930 được biên soạn và giảng dạy ở Đại học Tổng hợp, in rô-nê-ô năm
1977, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đặt Tản Đà vào giai đoạn giao thời Đông –
Tây để lý giải các sáng tác của ông Với công trình này, “Phong cách tác giả Tản Đà” bước đầu đã được đặt ra và lý giải nhưng mang tính loại hình tác giả nhiều
hơn là hình thức thơ Tuy nhiên công trình nghiên cứu này là những luận điểm bổ ích giúp người viết định hướng đề tài
3.5 Nguyễn Khắc Xương trong bài viết Vấn đề Tản Đà dưới ánh sáng tư
duy mới đã trực tiếp đề cập đến sự đổi mới về hình thức thơ ca của Tản Đà: “Tản
Đà là người đầu tiên trong văn học Việt Nam áp dụng hình thức thơ mới thích hợp với nội dung mới của thời đại” Tuy nhiên cái hình thức thơ mới ông nói đến ở đây
chỉ là cái cũ tự do nhất trong số những cái cũ mất tự do chứ không thực sự là cái
mới Bài viết Hữu vô tương tác trong thi pháp Tản Đà của Tầm Dương và Vấn
đề thể loại văn học trong sáng tác của Tản Đà của nhà nghiên cứu Lê Chí
Dũng,… đã trực tiếp đề cập đến Phong cách thơ Tản Đà Hai công trình này với
những đóng góp sâu sắc là một định hướng quan trọng cho người viết khi thực hiện đề tài này
3.6 Phần viết về Tản Đà trong Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn
chung, 1998, Trần Ngọc Vương đã nêu lên những nhận định mới và có tính chất
khái quát về Tản Đà Từ những nghiên cứu, tác giả đã đi đến kết luận cương vị của nhà nho tài tử Tản Đà với sự nổ lực vượt lên trên mình và là sự đóng góp cuối cùng cho sự ra đời một nền văn học mới Công trình này mang tính lý giải toàn diện sự nghiệp thơ ca Tản Đà chứ chưa phải là một công trình nghiên cứu tổng
hợp về “Phong cách thơ Tản Đà”
Trang 133.7 Trong hai cuộc hội thảo với quy mô lớn nhân kỷ niệm một trăm năm
ngày sinh và năm mươi ngày mất Tản Đà vào năm 1988 và 1989, đề dẫn Về nội
dung tính giao thời khi nghiên cứu sáng tác của tản Đà của Trần Đình Hượu đã
đi sâu vào giải quyết những điểm vốn đặt ra trong giáo trình trước đó Tiếp đó, nhà
nghiên cứu Lê Chí Dũng với bài viết Tính chất giao thời trong của lời nói văn
chương trong sáng tác Tản Đ à cũng đã đưa ra cái nhìn cụ thể, hệ thống về ngôn
ngữ thơ ca Tản Đà, nhất là cung cấp cho người viết một cái nhìn khá toàn diện về đóng góp của Tản Đà ở phương diện thể loại Những đánh giá của các công trình trên mang tính tổng hợp toàn bộ văn nghiệp Tản Đà Đây là những bài viết có tính
định hướng trực tiếp để người viết thực hiện đề tài Tìm hiểu phong cách thơ Tản
Đà
3.8 Một số luận văn cao học giai đoạn gần đây viết về Tản Đà cũng ít nhiều
đề cập đến Phong cách thơ Tản Đà Luận văn của Phan Thị Mỹ Hằng với đề tài
Thơ Tản Đà trong tiến trình đổi mới thơ Việt Nam đầu thế kỷ XX (1900-1945),
(1998) đề cập đến những đóng góp về cả nội dung và hình thức thơ ca Tản Đà trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam Vũ Hào Hiệp trong luận văn viết
năm 2000 cũng đã đế cập đến Cảm hứng nghệ thuật trong thơ Tản Đà một cách
cụ thể và thấu đáo Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn và với phương pháp tiếp cận cụ thể, tác giả chưa đi sâu cũng như chưa làm nổi bật thế giới nghệ thuật thơ Tản Đà như một chỉnh thể toàn vẹn Các bài viết trên đề cập đến một vài phương
diện trong Phong cách thơ Tản Đà nhưng chưa khái quát hệ thống Những luận
điểm này cũng là những gợi ý rất hữu ích đối với người viết trong quá trình thực hiện đề tài
4 Như vậy, việc nghiên cứu và đánh giá Tản Đà trong giai đoạn giao thời
1900 – 1930 là một việc không dễ Đánh giá về Phong cách thơ Tản Đà có
những ý kiến khác nhau hoặc về phương diện nội dung hoặc về phương diện nghệ thuật Đó là ý kiến hết sức quí báu nhưng chưa có bài viết nào xem xét, đánh giá
về phong cách thơ Tản Đà một cách toàn diện Những ý kiến này mang tính chất
gợi ý, định hướng để chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài Tìm hiểu phong cách thơ Tản Đà Với những đánh giá, phân tích ở trên; trên tinh thần học hỏi, kế thừa
Trang 14và cố gắng tìm tòi, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài với mong muốn góp một phần nhỏ trong việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ văn của ông một cách hệ thống trong khả năng người viết có thể làm
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn
3.1 Mục đích
Đề tài có mục đích tìm hiểu, thẩm định, đánh giá phong cách nghệ thuật thơ Tản Đà ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật biểu hiện Chúng tôi hy vọng qua từng phần đánh giá, thẩm định có thể đóng góp cho sự nhận biết gương mặt thơ ca của Tản Đà Cũng mong đây chính là điều đóng góp nhỏ bé của luận văn trong quá trình tiếp cận và giải mã thơ Tản Đà
3.2 Nhiệm vụ
Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu văn bản thơ có kết hợp với các yếu tố thời đại, thân thế và hoàn cảnh cá nhân của nhà thơ, luận văn nhằm khám phá phong cách thơ Tản Đà một cách tổng thể bao hàm các thành tố cấu trúc và quy luật cấu
trúc riêng, thể hiện quá trình cái tôi nhà thơ nội cảm hóa thế giới khách quan bằng
tưởng tượng của mình Một mặt, thế giới nghệ thuật ấy gắn liền với kinh nghiệm
cá nhân, với phong cách sáng tác chủ quan của nhà thơ, mặt khác nó phản ảnh
trình độ nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử, một thời đại nhất định Tìm hiểu phong cách thơ Tản Đà vừa như sản phẩm sáng tạo độc đáo của một cá nhân,
vừa đại diện cho kiểu sáng tác, kiểu tư duy nghệ thuật của bộ phận thơ đóng vai trò làm gạch nối giữa thơ cũ trung đại và thơ mới lãng mạn
Khi thực hiện đề tài, ngoài những giới thuyết, luận văn đặt ra nhiệm vụ
nghiên cứu hình tượng cái tôi trữ tình và những phương thức, phương tiện tiêu
biểu đặc sắc trong thơ Tản Đà Trên cơ sở đó, luận văn phân tích mối tương quan
biện chứng giữa nội dung, hình thức trong sáng tác thơ và khát quát Phong cách thơ Tản Đà
3.3 Đóng góp mới của luận văn
Trang 15Thực hiện được các nhiệm vụ trên, luận văn sẽ làm nổi bật được những nét đặc sắc của thơ Tản Đà trong cái nhìn chỉnh thể Kết quả của luận văn một mặt khẳng định bản sắc riêng độc đáo của ngòi bút Tản Đà, mặt khác góp phần nhìn nhận quá trình vận động của lịch sử thơ ca dân tộc từ góc độ thi pháp học Hy vọng kết quả của luận văn cũng có tác dụng góp phần phục vụ công việc giảng dạy, học tập thơ Tản Đà trong nhà trường hiện nay
4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở nguồn tư liệu có được, luận văn tập trung “Tìm hiểu phong
cách thơ Tản Đà” dưới cái nhìn tổng thể Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chỉ
đi vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Tản Đà Cụ thể người viết sẽ đi khảo sát
các văn bản thơ Tản Đà in trong Tản Đà toàn tập, tập 1, phần thơ, gồm 545 trang,
2001, Nguyễn Khắc Xương sưu tầm, biên soạn và giới thiệu Phần văn xuôi với
các tác phẩm Tản Đà văn tập, Giấc mộng con I, Giấc mộng con II, Khối tình,
Thần tiền, Tản Đà tùng văn, Thề non nước, Kiếp phong trần, Trần ai tri kỷ, Tản Đà nhàn tưởng, Giấc mộng lớn, Tản Đà xuân sắc, chỉ mang tính chất
tham khảo để có cái nhìn toàn diện, bao quát hơn
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng các phương pháp chủ yếu sau:
4.2.1 Phương pháp lịch sử - xã hội:
Tản Đà là một nhà nhà văn, nhà thơ sống và sáng tác trong một giai đoạn
văn học đầy phức tạp (1900 – 1930) Vì vậy khi Tìm hiểu phong cách thơ Tản
Đà, chúng tôi đặt và lí giải phong cách tác trên chiều của lịch sử, xã hội, từ đó lí giải và làm nổi bật Phong cách thơ Tản Đà trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc
4.2.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Trang 16Đây là phương pháp quan trọng nhất, cơ bản nhất mà chúng tôi sử dụng để phân tích, tổng hợp từ cấp độ nội dung đến nghệ thuật của các sáng tác thơ Tản
Đà
4.2.3 Phương pháp so sánh hệ thống
Phương pháp so sánh nhằm mục đích phát hiện những điểm khu biệt và tương đồng của thơ Tản Đà với thơ ca trung đại cũng như thơ ca hiện đại Từ đó,
khái quát nên Phong cách thơ Tản Đà và làm rõ những đóng góp của nhà thơ
giao thời cho nền văn học dân tộc ở đầu thế kỉ XX
Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số thao tác như thống kê, loại hình, trong quá trình thực hiện đề tài
5 Cấu trúc của luận văn
Phù hợp với lôgic nội tại của vấn đề đặt ra, ngoài phần dẫn nhập (13 trang)
và phần kết luận (4 trang), luận văn được triển khai trong 3 chương lớn:
Ở Chương 1, chúng tôi đi tìm hiểu Những cơ sở lý luận nghiên cứu phong cách thơ Tản Đà Ở phần giới thuyết về phong cách nghệ thuật, chúng tôi
đặc biệt quan tâm đến phong cách tác giả và hình tượng cái tôi trữ tình trong phong cách tác giả Từ vấn đề giới thuyết, chúng tôi tìm hiểu về tác giả Tản Đà đặt trong bối cảnh nền văn học giao thời những năm đầu thế kỷ XX Cuối cùng, người viết đi đến khẳng định vai trò tiêu biểu nhất mà Tản Đà đến với văn học nước nhà
là một nhà thơ có phong cách độc đáo, tài hoa – một nhà thơ giao thời Chúng tôi
triển khai chương này bằng các đề mục sau:
1.1 Giới thuyết về Phong cách nghệ thuật
1.2 Nền văn học giao thời và tác gia giao thời tiêu biểu: Tản Đà
1.3 Tản Đà - Một phong cách thơ
Tiếp theo, ở Chương 2, chúng tôi triển khai tìm hiểu Phong cách thơ Tản
Đà về mặt nội dung qua hình tượng cái tôi trữ tình độc đáo của thi nhân Đó là
hình tượng của một cái tôi đa diện: ngông, mộng, say, đa tình, giang hồ, đậm
chất nhà Nho tài tử Hình tượng cái tôi trữ tình đó làm nên diện mạo cho một tác
Trang 17giả giao thời, đồng thời cũng chứa đựng những mâu thuẫn, phức tạp của một giai đoạn văn học đầy biến động: văn học giao thời Chúng tôi triển khai chương 2 bằng các đề mục sau:
2.1 Nhìn chung về hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Tản Đà
2.2 Cái tôi Ngông nghênh, Mộng và Say
2.3 Cái tôi đa tình của bậc tài tử
2.4 Cái tôi giang hồ yêu cái đẹp
2.5 Cái tôi Tản Đà - sản phẩm độc đáo của nền văn học buổi giao thời
Ở chương cuối cùng của luận văn, Chương 3, chúng tôi đi tìm hiểu Những phương thức thể hiện phong cách thơ Tản Đà trên ba nội dung lớn: Thể thơ, Ngôn ngữ và Giọng điệu
Phần thể thơ, sau khi nhận định chung về các thể loại thơ Tản Đà, chúng tôi
tìm hiểu bốn đóng góp lớn của Tản Đà về phương diện thể loại Phần Thể thơ
được chúng tôi triển khai với những mục như sau:
3.1.1 Nhìn chung về các thể thơ Tản Đà
3.1.2 Dân tộc hóa thơ Đường luật (Đường luật khẩu ngữ thi)
3.1.3 Trở về với các thể loại thơ ca dân tộc
3.1.4 Đến với hát nói
3.1.5 Mở đường cho thơ Mới
Phần ngôn ngữ thơ Tản Đà, chúng tôi tìm hiểu những đóng góp của Tản Đà trên ba phương diện: từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp Ở mỗi phương diện chúng tôi
cố gắng tìm hiểu những cái mới – cũ đan cài làm nên phong cách của tác giả giao
thời Đóng góp nổi bật nhất về phương diện từ vựng thơ Tản Đà đó là Sự đan xen
giữa ngôn từ tượng trưng, ước lệ với ngôn từ đời thường, khẩu ngữ; về phương
diện ngữ âm là sự Cách tân nhạc điệu trên nền nhạc điệu thơ ca truyền thống; còn về phương diện ngữ pháp đó là Sự trùng khít giữa dòng thơ với câu thơ và
Trang 18tính trực giác trong tư duy thơ Tản Đà Phần này được chúng tôi triển khai thành
ba đề mục như sau:
3.2.1 Sự đan xen giữa ngôn từ tượng trưng, ước lệ với ngôn từ đời thường, khẩu ngữ
3.2.2 Cách tân nhạc điệu trên nền nhạc điệu thơ ca truyền thống
3.2.3 Sự trùng khít giữa dòng thơ với câu thơ và tính trực giác trong tư duy thơ Tản Đà
Phần giọng điệu thơ Tản Đà, chúng tôi tìm hiểu hai giọng điệu chính làm nên giọng điệu đặc trưng của Tản Đà và triển khai thành hai đề mục chính như
sau:
3.3.1 Giọng Ngông nghênh phóng túng đầy hóm hỉnh, hài hước
3.3.2 Giọng cảm thương ưu ái
Ngoài phần chính văn ra, luận văn còn có phần phụ lục gồm hai phần: phần một là những bảng số liệu người viết thống kê trong quá trình thực hiện đề tài; phần hai với mục đích soi sáng thêm cho những nhận định ít nhiều có tính chất chủ quan của các nhà nghiên cứu, nhất là chủ quan của chúng tôi, người viết có dụng ý tập hợp và trình ra những ý kiến do chính Tản Đà phát biểu về thơ văn, nghệ thuật Đó là những quan niệm văn chương được Tản Đà phát biểu bằng thơ
và bằng văn xuôi
Trang 19Chương 1
CƠ SƠ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH THƠ TẢN ĐÀ
1.1 Giới thuyết về Phong cách nghệ thuật
Phong cách nghệ thuật là nét đặc sắc, độc đáo của chủ thể sáng tạo văn học thể hiện trong sự thống nhất giữa hình thức và nội dung Theo Lại Nguyên Ân
trong Từ điển thuật ngữ văn học thì “Phong cách là những nét chung, tương đối
bền vững của hệ thống hình tượng, của các phương thức biểu hiện nghệ thuật, tiêu biểu cho bản sắc sáng tạo của một nhà văn, một tác phẩm, một khuynh hướng văn học, một nền văn học nào đó” [3, tr 254] Còn Phan Ngọc thì cho rằng “Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sử, có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, hay một tác giả” [77, tr 9] Như vậy, nói đến phong cách là
muốn nhấn mạnh đến cá tính của chủ thể sáng tạo trong tác phẩm
Theo Phương Lựu thì “phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu
tú” [70, tr 89] Còn Nguyễn Đăng Mạnh trong Nhà văn, tư tưởng và phong cách
gắn phong cách với cá tính nhà văn Ông quan niệm “Văn chương là một hình thái
ý thức xã hội có đặc trưng riêng Đây là lĩnh vực cần đến năng khiếu và tài nghệ,
cần cá tính và phong cách” [72, tr 15] Rồi sau đó, trong Nhà văn Việt Nam hiện
đại: chân dung và phong cách, ông chỉ ra phong cách “phụ thuộc vào những thói
quen tâm lý và những sở trường riêng của nhà văn” [73, tr 24]
Như vậy, dù bề mặt từ ngữ có thể chưa trùng khít, và dù cách tiếp cận có
khác nhau, nhưng vấn đề nội hàm khái niệm phong cách trong lí luận văn học
Trang 20dường như đã có một sự thống nhất nhất định Các nhà nghiên cứu đều đồng loạt nhấn mạnh đến nét riêng, sự khu biệt, bản sắc của một cá nhân, một tác phẩm, hay một thời đại khi nói về phong cách Có thể nói, phong cách là sự biểu hiện hoàn
mỹ vào tác phẩm cái nhân cách, tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo Đây là một phạm trù quan trọng vào bậc nhất trong nghiên cứu văn học
Từ xa xưa, phương Tây cũng như phương Đông, đã có quan niệm: Phong
cách là bản thân con người, hay nói ngắn gọn hơn, “văn như kỳ nhân”, văn tức là
người Nhưng cũng cần phải nói rõ hơn, phong cách một tác giả không giản đơn chỉ là tính độc đáo về đề tài, chủ đề, ngôn ngữ, thể loại mà còn là quy luật riêng của mỗi chủ thể sáng tạo nghệ thuật Tính chất cá thể ở đó là vô cùng rõ nét Mỗi nhà văn trong quá trình sáng tác đều có cho mình một lựa chọn tiêu biểu Điều đó
đã hình thành nên những nét riêng biệt mà người ta có thể soi rọi vào đó để phân biệt tác giả này với tác giả khác, thời đại này với thời đại khác Tuy nhiên, không phải sự lựa chọn tiêu biểu nào cũng tạo nên dấu ấn Chỉ những chủ thể sáng tạo có năng lực và cá tính độc đáo mới làm nên một phong cách riêng cho chính mình Quan trọng hơn, việc “nhận diện” ra phong cách không thuộc về chủ thể sáng tạo
mà thuộc về độc giả và cả những thước đo của thời gian
Trong văn học, phong cách là sự thống nhất chủ quan và khách quan trong quá trình sáng tác Nhà văn bên cạnh việc vượt lên trên mọi sự mô phỏng giản đơn đối với tự nhiên còn phải vừa vượt lên trên cái tác phong, kiểu cách chủ quan của
cá nhân mình Có thể nói, phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật Nó làm bật lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ hay trong trào lưu văn học
Hiện đã có nhiều công trình lí thuyết trong và ngoài nước nghiên cứu về
phong cách Công trình Lí luận về phong cách (1968) của A.N Sokolov đã khẳng
định phong cách là một hiện tượng nghệ thuật, thể hiện quy luật của nghệ thuật, là phạm trù thẩm mỹ trong tất cả mọi nghệ thuật Bản chất của nó là sự thống nhất của mọi thành tố nghệ thuật theo những quy luật đặc thù Đồng quan điểm với
A.N Sokolov, D.X Likhashop trong Con người trong văn học Nga cổ và Thi
Trang 21pháp văn học Nga cổ quan tâm đến phong cách như là “hệ thống hình thức và nội dung”, “là sự thống nhất của cái nhìn với các phương pháp nghệ thuật” Theo
ông, phong cách bao giờ cũng là sự thống nhất nghệ thuật, thống nhất xuyên suốt của hình thức tác phẩm và nội dung của nó
Ở Việt Nam, phong cách học ra đời tương đối muộn Các công trình về
phong cách học rất ít Đó là công trình Dẫn luận phong cách học của Nguyễn Thái Hòa, Viết về phong cách ngôn ngữ thì có các công trình Tu từ học của Đinh Trọng Lạc, Phong cách học tiếng Việt hiện đại của nhóm Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, Phong cách học và đặc điểm tu từ của Cù Đình Tú,…
Các công trình phong cách nghệ thuật còn mang tính rải rác như quan niệm phong
cách nghệ thuật của Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học, Nguyễn Khắc Sính trong Phong cách thời đại nhìn từ một thể loại văn học, Nguyễn Đăng Mạnh trong Nhà văn tư tưởng và phong cách, Phan Ngọc với Tìm hiểu phong
cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều ,…
Xét về bản chất của phong cách, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng: phong cách trước hết phải là một dấu hiệu độc đáo, không lặp lại, đánh dấu phẩm chất thẩm
mỹ riêng biệt của một hiện tượng hay một cá nhân văn học nào đó Đó là sự sáng tạo, sự mới mẻ làm nên vẻ riêng biệt ít thấy ở hiện tượng văn học khác nhưng lại nhất quán, xuất hiện thường xuyên ở một hiện tượng văn học cụ thể Sự bền vững, nhất quán là cái cốt lõi, cái trong bản chất, còn trong quá trình triển khai thì phong cách lại đòi hỏi sự đa dạng và đổi mới Muốn đạt được yêu cầu ấy, phong cách cần phải có phẩm chất thẩm mỹ, nghĩa là khi nói tới một hiện tượng văn học nào đó có phong cách thì hiện tượng văn học ấy phải mang lại cho người đọc, người xem, người nghe một sự hưởng thụ thẩm mỹ dồi dào Cũng cần lưu ý thêm phẩm chất thẩm mỹ này không chỉ thuần túy về mặt hình thức, kỹ thuật mà tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể nó sẽ được biểu hiện chủ yếu ở phạm vi nội dung hay phạm vi hình thức Bên cạnh đó, phong cách còn là phẩm chất của chỉnh thể Nghĩa là phong cách mang “tính hệ thống”, “tính thống nhất”, “tính tổng hòa” Nói cách khác, phong cách là phẩm chất của hệ thống thể hiện qua các yếu tố chứ không phải là phẩm chất do tổng cộng các thuộc tính của các bộ phận của tác
Trang 22phẩm Phong cách là phẩm chất xuyên suốt qua các yếu tố tác phẩm, qua các tác phẩm của một tác giả hoặc các tác giả của một trào lưu nghệ thuật
Khi nói phong cách nghệ thuật là tính độc đáo của hình thức nghệ thuật thì
đó không phải là hình thức cụ thể của một tác phẩm cụ thể, cá biệt là cái hình thức được lặp đi lặp lại, vừa thống nhất vừa đa dạng trong nhiều tác phẩm khác nhau của một nhà văn, một trường phái hay một thời đại văn học, nghệ thuật,… Do các đặc điểm được lặp đi lặp lại tương đối thường xuyên, ít thay đổi nên phong cách là phẩm chất tương đối ổn định của sáng tác Ổn định là cơ bản, nhờ thế nó mới trở thành phong cách để phân biệt với các phong cách khác Nói như vậy không có nghĩa sự ổn định này là sự lặp lại giản đơn, nghèo nàn mà ổn định ở đây có sự phong phú đa dạng, có biến đổi
Rõ ràng, phong cách là gương mặt tinh thần, là bản thân con người với những phẩm chất trí tuệ, tình cảm, cá tính cụ thể Tư duy, hệ hình tư duy, thái độ cảm xúc, quan niệm giá trị tạo thành hình thức cảm nhận của chủ thể Hình thức cảm nhận của chủ thể dẫn đến những phát hiện mới về hình thức, bút pháp, kỹ thuật, tạo thành nền tảng của phong cách Như vậy, phong cách là hình thức của chủ thể Do đó nên phong cách có quan hệ mật thiết với phương pháp nghệ thuật
Có thể hiểu không phải mọi hình thức chủ thể có thể tạo thành phong cách mà là các hình thức chủ thể tạo thành giá trị nghệ thuật
Và, vì thế, không phải tác giả nào cũng có phong cách, thể loại nào cũng có phong cách và thời đại nào cũng có phong cách Để có được phong cách riêng, đó
là thiên tài và nỗ lực lao động của người cầm bút Một tác giả chỉ có được phong cách riêng khi đọc vài câu người ta có thể đoán biết tác giả là ai, và bản thân phong cách đó phải có một ý nghĩa thiết thực với việc làm đa dạng và phong phú đời sống văn học Để người ta có thể “đoán biết”, trước hết, tác giả đó phải có một ngôn ngữ, một giọng điệu rõ nét, nổi bật, nhưng phải khác biệt Điểm khác biệt đó
là yếu tố căn bản nhất để người đọc có thể nhận diện và gọi tên tác giả cũng như phong cách tác giả Một nhà văn có phong cách phải là một nhà văn có tiếng nói mới cho văn học Tiếng nói ấy đề cập đến vấn đề cuộc sống một cách sáng tạo, độc đáo, tạo nét riêng Thông qua vấn đề phản ánh trong các tác phẩm, nhà văn
Trang 23phải thể hiện được một lập trường tư tưởng vững vàng, có một cái nhìn độc đáo, tiến bộ, xứng đáng nếu không sẽ dễ bị quên lãng
Cái độc đáo của tác phẩm phải là cái mới lạ, cái sáng tạo chứ không phải cái rập khuôn Văn chương có thể là mô phỏng dựa trên chất liệu của người khác nhưng nó phải được nhà văn nghiền ngẫm thành cái riêng của chính mình Mặt khác, không phải bất kì một cái sáng tạo mới lạ nào cũng trở thành phong cách mà
nó phải có một giá trị thẩm mĩ Hay nói cách khác nó phải có sự rung cảm mãnh liệt, nó tạo cho con người hướng đến cái “Chân, thiện, mỹ” Đồng thời cái hay đó
nó cần phải có tính chất bền vững, tức nó được thể hiện trong nhiều tác phẩm, tạo thành một lối mòn tư duy, khuôn đúc nên một quan niệm nghệ thuật bền vững, chứ không xuất hiện như là một hiện tượng văn học
Như vậy, việc tạo nên phong cách của bất kì của một nhà văn nào nó cũng
có đòi hỏi thể hện trên hai phương diện cả hình thức lẫn nội dung Hai yếu tố này hoà quyện vào nhau tạo ra những giá trị thẩm mỹ đặc sắc, chứ không đơn thuần là
kĩ năng hay nội dung Phan Ngọc đã cho rằng: “Trong phong cách có nội dung, nhưng nội dung được xây dựng theo cái hình thức riêng thích hợp với phong cách này” [77, tr 10] Rõ ràng, muốn chỉ ra phong cách của một tác giả, khi tìm hiểu về
nội dung, chúng ta phải xem xét việc hình thức hóa nội dung và khi tìm hiểu về hình thức, chúng ta phải chỉ ra tác dụng của nó trong việc thể hiện nội dung
Hơn thế, khi xem xét phong cách một tác giả, chúng ta còn phải quan tâm
đến yếu tố thời đại, tức là xét mối quan hệ giữa tác giả với thời đại vì “phong cách một nhà văn, dù có vĩ đại đến đâu, cũng phải phản ánh phong cách thời đại” [77,
tr 12].Nhà văn sống trong một xã hội nhất định, mang tư tưởng thời đại, phản ánh con người và sự biến động xã hội đó Cuộc sống trong các tác phẩm là hình ảnh thu nhỏ của xã hội bên ngoài Vậy bao giờ một tác phẩm ra đời nó cũng gắn liền với thời đại xã hội nhất định, mà tác phẩm là tác phẩm do nhà văn sáng tạo, nếu nhà văn đó cũng mang dấu ấn của dân tộc và thời đại Như vậy, tìm hiểu phong cách một tác giả, chúng ta phải đặt tác giả ấy vào hai trục lịch sử và thời đại Phong cách thể loại trong mối quan hệ với phong cách tác giả và phong cách thời đại cũng là một mối quan hệ biện chứng, có quan hệ chặt chẽ với nhau
Trang 24Thể loại, là một yếu tố của hình thức Nhưng đặt ra hình thức thì dễ mà xây dựng phong cách cho nó thì lại rất khó khăn, cần một sự lao động nghệ thật nghiêm túc
và mẫn cảm Phong cách nghệ thuật thực chất là một cái nhìn mới mẻ, khám phá
và độc đáo có tính phát hiện đối với đời sống Cái nhìn mới mẻ ấy được thể hiện bằng một bút pháp nghệ thuật đặc sắc mang dấu ấn riêng, vẻ đẹp riêng, cá tính riêng của cá nhân
Từ những phân tích trên đây có thể thấy, khi đề cập đến vấn đề phong cách thì không chỉ nói đến một cấp độ phong cách nhà văn hay phong cách tác phẩm
mà còn phải nghiên cứu kỹ càng các cấp độ khác như phong cách thời đại, phong cách trào lưu, trường phái, Phong cách cá nhân nhà văn hay phong cách thời đại, trào lưu,… đều được soi rọi dưới ánh sáng của phong cách chung Đặc điểm phong cách chung này làm cho hiện tượng phong cách cá nhân của trào lưu hiện thực phong phú và đa dạng chưa từng có Khái niệm phong cách thời đại dùng để chỉ một phong cách chung, phong cách lớn bao trùm mọi thể loại trong một loại hình, mọi loại hình trong thời đại ấy Sự bao trùm này không chỉ ở một quốc gia, dân tộc mà nó chứa đựng tính chất xuyên dân tộc, xuyên quốc gia cùng chịu sự chi phối chung của một ý thức hệ nhất định
Dĩ nhiên, không phải công trình nghệ thuật nào cũng có phong cách Một tác phẩm chỉ có phong cách khi nó đạt được tính cấu trúc, tức có sự thống nhất hữu cơ của các bộ phận trong một chỉnh thể Bởi vậy, chỉ cần biết một bộ phận là
có thể suy ra cái toàn thể, như lý thuyết toàn đồ đã chứng minh Chính vì phong cách là một phạm trù chất lượng, nên trong nghệ thuật có được phong cách là một hiện tượng rất đáng trân trọng
Ta có thể hiểu, phong cách là tính độc đáo thống nhất đa dạng của sự sáng tạo nghệ thuật đã đến độ chín muồi của người nghệ sĩ Phong cách gắn liền sáng tạo của nhà văn với những đặc điểm có tính chất hệ thống về tư tưởng và nghệ thuật Một tác giả được coi là nhà văn, nhà thơ có phong cách chỉ khi các tác phẩm của họ chứa đựng những giá trị nhân bản, nhân văn sâu sắc đồng thời thể hiện được phong cách nghệ thuật đặc sắc của họ mà người đọc chỉ cần tiếp xúc với tác
Trang 25phẩm đã có thể nhận ra tác phẩm đó là của họ Điều này có thể xem như tác giả đó
đã gặt hái được thành công lớn
Văn học nghệ thuật có phương thức chiếm lĩnh và tái tạo hiện thực độc đáo, ít xuất hiện ở các loại hình khác Các văn sĩ làm sống lại sự việc, hiện tượng một cách cụ thể, sinh động, gợi hình và gợi cảm bằng một hình thức đặc biệt: ngôn
từ nghệ thuật Họ không diễn đạt trực tiếp ý nghĩ và tình cảm bằng khái niệm, định
lý, công thức mà bằng hình tượng thông qua con chữ Hình tượng nghệ thuật vì thế
là sản phẩm của phương thức thể hiện và tái tạo hiện thực một cách chọn lọc, sáng tạo theo quy luật hư cấu Thông qua trí tưởng tượng và tài năng nhà văn, nhà thơ, đem đến cho độc giả sự day dứt, trăn trở cùng những ấn tượng sâu sắc khi tiếp nhận tác phẩm Do vậy, khi đi tìm hiểu phong cách tác giả, nhất là phong cách của một nhà thơ, chúng ta không thể không đi tìm hiểu hình tượng cái tôi trong sáng tác của tác giả đó
Tác phẩm văn học không đơn thuần là bức tranh về đời sống mà còn là bức chân dung tinh thần của chủ thể sáng tạo Người nghệ sĩ tạo ra tác phẩm không chỉ
để nhận thức, cắt nghĩa đời sống mà còn bộc lộ tư tưởng tình cảm của mình, qua
đó giúp độc giả lĩnh hội những quan hệ muôn màu muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh Mỗi nhà văn, nhà thơ không chỉ tạo ra những giá trị tinh thần, họ còn là đối tượng miêu tả, biểu hiện của văn chương Vì vậy, khi tiếp xúc với tác phẩm văn học cũng là ta đang giao tiếp với tác giả Hình tượng tác giả được xem như là một yếu tố, một phương tiện bộc lộ tạo nên nội dung tác phẩm
Trong thi pháp học hiện đại, hình tượng tác giả là một phạm trù chuyên
biệt Trong đó, cái tôi là phần cốt lõi của hình tượng tác giả trong tác phẩm Đó
chính là kết quả của quá trình tự ý thức, đánh giá của bản thân tác giả với tư cách
là một nghệ sĩ thực thụ, là “sự nhập thân của ý thức người sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật”, là sự biểu hiện cái tôi thứ hai của tác giả một cách tổng hợp
qua cách nhìn, giọng điệu, thể hiện tập trung cho quan niệm và hệ giá trị của nhà văn, nhà thơ Chính vì vậy, hình tượng cái tôi là một trong những phương thức bộc
lộ ý thức của tác giả mà qua đó ta thẩm thấu được suy nghĩ, tình cảm, quan niệm của họ
Trang 26Khi nói về nguồn gốc phát triển thơ ca, Hêghen phát biểu: “Thơ bắt đầu từ cái ngày con người cảm thấy cần sự bộc lộ mình” Thật vậy, thơ trữ tình là tiếng
nói trực tiếp biểu lộ những cảm xúc suy tư, chiêm nghiệm của thi sĩ trước cuộc đời Với thơ, thi sĩ giải bày những tư tưởng, những cung bậc cảm xúc trong thế
giới quan nội tâm của mình Trong quá trình sáng tác, cái tôi nghệ sĩ bước vào thế giới nghệ thuật và trở thành một hình tượng trọn vẹn Bằng cái tôi đó, thi sĩ đã
trình bày những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của mình – những gì mà nhà thơ đã sống, đã trải qua, đã cảm bằng đôi mắt, bằng trái tim, bằng sự suy
nghiệm bản thân Cái tôi trữ tình là cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật hoá và trở
thành yếu tố phổ quát trong thơ, là một thành tố nghệ thuật không thể thiếu trong
tác phẩm Hình tượng cái tôi là nhân vật trung tâm trong tác phẩm thơ, mang vẻ
đẹp độc đáo, không lặp lại, là kết quả của sự điển hình hóa nghệ thuật khi cá nhân
nhà thơ nghe thấy mình trong người khác Hình tượng cái tôi trữ tình vì vậy đã
làm nên phong cách tác giả và ngược lại, thế giới nghệ thuật tồn tại trong hình
tượng cái tôi in đậm cá tính sáng tạo Tìm hiểu hình tượng cái tôi, sẽ giúp ta hiểu
chủ thể thẩm mỹ và phong cách tác giả
Thiết nghĩ với những yêu cầu, đặc điểm của phong cách và về hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ như đã đề cập ở trên, đặt vào trường hợp Tản Đà thì đây quả là một điển hình cụ thể, một tác giả có phong cách độc đáo trong một giai đoạn văn học nhiều biến động – văn học giao thời Chính những bề dày về giá trị nội dung rất hợp nhuần nhuyễn với tài năng tài tình của nhà thơ, tạo cho ông trở thành một tác giả tiêu biểu nhất của văn học thời kì này
1.2 Nền văn học giao thời và tác gia giao thời tiêu biểu: Tản Đà
Lịch sử văn học xét cho cùng chính là lịch sử của sự phát triển, cách tân và không ngừng hiện đại hóa bản thân nền văn học Quy luật vận động của văn học Việt Nam trong lịch sử là đưa văn học phát triển từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại Đây là một quá trình vận động, phát triển đầy chông gai, thử thách và khó khăn Nó không phải chỉ bước cái một là xong mà phải qua những khâu trung gian chuyển tiếp bao hàm trong một phạm trù kép tạm gọi là phạm trù cận đại diễn ra trong khoảng ba mươi năm đầu thế kỷ XX (1900 –
Trang 271930) với diện mạo một giai đoạn văn học giao thời Nền văn học giao thời Việt Nam chính là thời điểm và không điểm của sự giao thoa giữa hai thời đại văn học trung đại và hiện đại; đó cũng chính là sự giao thoa giữa hai lực hút Đông – Tây;
sự giao thời giữa một bên, “cái cũ” đã hoàn thành sứ mệnh với bên kia, “cái mới” đang manh nha Tính chất giao thời này không phải của chỉ riêng văn học mà là chung cho các lọai hình nghệ thuật khác: âm nhạc, hội họa, điêu khắc cũng như
nó đã diễn ra trên bề mặt của cả nền văn hóa dân tộc, thậm chí trên mặt bằng của toàn bộ đời sống xã hội
Giai đoạn giao thời là một khoảng thời gian chuyển tiếp giữa hai thời kỳ, có cái mới và cái cũ đan xen, có mâu thuẫn, xung đột và chưa có tính chất ổn định Cái mốc năm 1900 là quy ước cho sự chuyển tiếp giữa hai thời kỳ trong một dòng chảy thống nhất của lịch sử Đối với văn học, tính chất giao thời cũng bộc lộ trên mọi lĩnh vực họat động nghệ thuật: từ ngôn ngữ văn học đến thể lọai văn học; từ nội dung tư tưởng đến hình thức biểu hiện; từ tác giả văn học đến nhân vật văn học
Trước hết là về ngôn ngữ Văn học giai đoạn này vẫn tiếp tục tồn tại song song hai bộ phận: văn học chữ Hán và chữ Nôm bên cạnh bộ phận thứ ba: chữ Quốc ngữ mới manh nha nhưng đang tăng trưởng mạnh Ngoài ra còn có một ít văn học bằng chữ Pháp như một bộ phận đáng chú ý trong thời kỳ này Đối với bộ phận các nhà văn vốn hấp thụ nền văn học cũ, được giáo dục và đào tạo trong nhà trường cũ, dĩ nhiên chữ Hán và chữ Nôm vẫn là phương tiện thuận tay hơn cả để diễn đạt tâm trạng, tình cảm và cũng hợp với bộ phận độc giả của nó vốn còn khá đông đảo Trong tình hình đó sáng tác văn học bằng chữ Quốc ngữ vẫn là lựa chọn ngôn ngữ văn tự quan trọng nhất Một sự lựa chọn có tương lai đối với các nhà văn trong điều kiện lịch sử cụ thể bấy giờ, đây là phương tiện có nhiều khả năng phù hợp với trình độ, tâm lý, thị hiếu của người Việt Nam, có tiềm năng lớn nhất phản ánh đời sống và tâm hồn con người Việt Nam hiện đại
Về hình thức thể loại thì trong nhiều sáng tác giai đoạn này đã có sự đan xen, giao thoa giữa các yếu tố cũ và mới Riêng ở lĩnh vực thơ ca, câu thơ có nhiều biến động làm rạn vỡ quỹ đạo câu thơ Đường hay câu thơ Lục bát truyền thống
Trang 28Yếu tố tự do bắt đầu được để ý, câu thơ tự do kiểu Hát nói được đề cao Thậm chí
có những nhà thơ mô phỏng câu thơ Pháp, Tất cả làm tiền đề cho sự xuất hiện của câu Thơ mới sau này
Tư tưởng nghệ thuật giai đoạn văn học giao thời được hình thành dần từ những xung đột nghệ thuật cơ bản của văn học, bộc lộ một cách “phức điệu” và có khi đối nghịch giữa các xu hướng mới, cũ; mà một trọng tâm trong đó là xung đột giữa cá nhân với thực tại trong ý thức xã hội
Vì “Văn học là tấm gương phản ánh thời đại” (M.Goorki) nên mỗi thời đại
đều sản sinh ra con người của thời đại mình Văn học giao thời không là ngoại lệ
Hệ thống hình tượng nhân vật văn học giai đoạn này cũng mang tính giao thời; Đó
là những con người vừa quen, vừa lạ, có bóng dáng của con người trong văn học truyền thống trước đó nhưng cũng có bóng dáng của những con người thời đại mới chưa từng có trong văn học trước đây (những người tư sản, tiểu tư sản, trí thức, thị dân )
Xét một cách tổng thể, dấu ấn “giao thời” là khá đậm nét trong các sáng tác văn học cận đại Văn học cận đại tồn tại trong một thời gian không dài nhưng cũng
có nhiều biến đổi và phát triển về chất so với trước đó Do đó, văn học cận đại là văn học giao thời nhưng xét ở trạng thái vận động của nó thì đã phát triển theo chiều hướng hiện đại, dưới sự tác động của các ảnh hưởng văn học Pháp, văn học phương Tây Tuy nhiên, sự phát triển theo này mới dừng lại ở những thể nghiệm, trước hết bằng cách đem ra tổng duyệt lại hầu hết các hình thức cũ để cách tân, cải tiến và lựa chọn Nó tạo tiền đề cho sự phát triển hiện đại về sau của văn học Việt Nam mà quá trình sáng tạo hiện đại thực sự đã được trao cho giai đoạn văn học ngay sau đó Rõ ràng, văn học giai đoạn này đã có những đóng góp không nhỏ cho dòng chảy liên tục của văn học Việt Nam
Nền văn học giao thời với những đặc điểm, tính chất riêng đòi hỏi cho mình một đội ngũ nhà văn “vững tay lái”, gánh vác trách nhiệm “chuyển giao thời đại” của mình Nhu cầu xã hội mới của giai đoạn giao thời là cội nguồn thúc đẩy cá nhân và tài năng sáng tạo Những thời điểm xã hội chuyển mình chính là lúc đòi hỏi tính tích cực sáng tạo của cá nhân là sinh thể của xã hội, là kết tinh của các
Trang 29quan hệ xã hội và tinh hoa xã hội Trong buổi giao thời cũ, mới đan xen, sẽ có những con người đại diện Các nhà nghệ sĩ ngôn từ sẽ bằng tài năng, bằng những con đường khác nhau cùng “gánh vác trách nhiệm” “chuyển giao thế hệ”, góp phần vào quá trình đổi mới nền văn học Và Tản Đà đã xuất hiện để trở thành con người thời đại tiêu biểu nhất ấy với một phong cách rất độc đáo
Có thể nói, cuộc đời lẫn sự nghiệp sáng tác văn chương của Tản Đà đều
mang dấu ấn “người của hai thế kỷ”, đặc biệt là văn chương Tản Đà
Là thi sĩ cuối mùa của tầng lớp quí tộc Việt Nam lúc sắp sụp đổ hoàn toàn, Tản Đà đã “thổi một cơn gió lạ” trên văn đàn buổi giao thời, làm một cuộc hành trình văn học đầy sáng tạo, làm nên một đỉnh cao trên mặt bằng thơ ca truyền thống của dân tộc, trình diện với thế kỷ XX một phong cách vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính thời đại Tản Đà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà thời đại văn học cận đại giao cho mình, trở thành một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo của một nhà nghệ sĩ ngôn từ “giao thời” Nhà thơ buổi giao thời đã làm tất cả những nhiệm vụ mà thời đại đặt lên đôi cánh của thi ca
Bản thân sự sáng tạo nghệ thuật văn chương đòi hỏi luôn luôn phải có sự cách tân, đổi mới Mỗi một tác giả lớn trong lịch sử văn học nước nhà, trước hết phải là những người có tài năng lớn, có đóng góp đáng kể vào tiến trình của lịch
sử văn học dân tộc trong đó bằng cách này cách khác, ít hay nhiều đều phải là một nhà cách tân và thừa kế Sự cách tân bao gồm hai cấp độ: cách tân trong nội bộ một phạm trù văn học và cách tân có ý nghĩa chuyển đổi phạm trù, từ phạm trù văn học này lên phạm trù văn học khác mới hơn, tiến bộ hơn
Là tác giả tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam giai đoạn giao thời đầu thế
kỷ XX, sáng tác của Tản Đà nằm giữa hai mức độ cách tân đó Ở Tản Đà biểu hiện đầy đủ sự chuyển giao thời đại giữa cũ và mới, biểu hiện một bản lĩnh của sự cách tân Tản Đà đứng vào lớp người “khai sơn phá thạch” cho một nền văn học mới ra đời, là người đặt nền móng cho nền văn học ấy: cổ và kim cùng tồn tại, Đông và Tây gặp nhau trong văn Tản Đà bởi Tản Đà là cây bút của giao thời, là gạch nối giữa hai thời đại văn học sử Như vậy ta có thể lý giải được phong cách văn
Trang 30chương Tản Đà trên cơ sở Tản Đà là một nhà văn của buổi giao thời, “một ngôi sao lạ”, “một hiện tượng tân kỳ”
Là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực với khối lượng tác phẩm không nhỏ, Tản Đà đã góp một tiếng nói quan trọng vào các trào lưu tư tưởng đang diễn ra nhanh chóng Tản Đà để lại cho đời một di sản văn chương phong phú, nhiều thể loại Dù thơ ca là một bộ phận được khảo sát cặn kẽ nhất trong tổng thể di sản văn chương của ông Nhưng cũng không thể bỏ qua một thực
tế là bên cạnh một Tản Đà – thi sĩ, còn có một Tản Đà - viết văn xuôi, làm báo, một Tản Đà viết nhiều mẩu nhàn tưởng, châm ngôn, ngụ ngôn, bút ký triết học, truyện ngắn, bình luận báo chí, tiểu thuyết, biên khảo, thậm chí là một Tản Đà chú giải, dịch thuật,…Quả thật, sự nghiệp văn chương phong phú đã khẳng định tên tuổi sừng sững của Tản Đà trong lịch sử văn học Thi nhân xứng đáng là một cây đại thụ rợp bóng văn chương 30 năm đầu thế kỷ Đúng như nhận định của nhà
nghiên cứu Vũ Tuấn Anh: “Tụ lại trong ông và quanh ông là bóng dáng của cả thời đại trong văn chương; sự trì níu của cái cũ và những bước dấn vươn tới một đời sống báo chí – văn chương hiện đại, vinh nhục thành bại của nghề văn trong buổi giao thời: những năng lực và tài hoa như bừng thức và gấp gáp nhân lên ở mỗi người nghệ sĩ ” [2; tr 211]
Là đại biểu lớn vào bậc nhất của văn học Việt Nam giai đoạn giao thời văn xuôi Tản Đà đại diện luôn cho cả tính “chưa hoàn thành”, tính ngổn ngang của một thời đại Văn xuôi dường như là mảnh đất giao tranh giữa những xung đột gay gắt tồn tại bên trong Tản Đà mà mâu thuẫn lớn nhất là giữa nhà nghệ sĩ và nhà tư tưởng - đạo đức, môn đồ nhiệt thành của Khổng Mạnh cố níu giữ những giá trị cũ trong một thời đại mới; giữa phương thức tư duy và tư duy nghệ thuật đặc thù của nhà Nho chính thống và những yêu cầu của một thời đại văn học mới Cuộc xung đột đó không chỉ chi phối hệ thống nội dung, tư tưởng trong sáng tác của ông mà quan trọng hơn, nó còn chi phối cả phương thức cảm thụ, cái nhìn về thế giới, phương thức tư duy nghệ thuật của ông
Tản Đà kế thừa hàng loạt truyền thống lớn của văn chương trung đại, từ đó
cố gắng mở ra những con đường khác cho văn học hiện đại Tuy nhiên, chính
Trang 31phương diện con người – nhà tư tưởng, nhà đạo đức đã kiềm chế, làm cho những
cố gắng ấy bị cằn cỗi và đi dần đến bế tắc, ngăn trở không cho ông hội nhập được thực sự vào một thời đại văn chương mới Đối với một nhà Nho lỡ vận như Tản
Đà thì báo chí là một ngả đường lập thân hấp dẫn Bước vào sự nghiệp viết văn khi đời sống báo chí và văn học hiện đại ở Việt Nam mới phôi thai, có lẽ tính chất
“bác học” đặc thù của thuở phôi thai báo chí ấy đã lôi cuốn Tản Đà, hứa hẹn là chốn nhà Nho “nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng” có thể “đem quách cả sở tồn làm sở dụng” để đánh một canh bạc lớn với cuộc đời
Cùng với thi sĩ Tản Đà, nhà văn Tản Đà, ông chủ xuất bản Tản Đà, có một Tản Đà - người làm báo Nếu thơ đối với Tản Đà là “thơ chơi”, nơi chốn giãi bày tâm sự, giải tỏa những trầm uất và những khát vọng cá nhân thì văn xuôi là mảnh đất đầu tiên ông thử sức khi bước vào sự nghiệp văn chương để ông thực hiện những khát vọng xã hội, thực hiện giấc mộng “thiên lương”, những điều mà khoa
cử không thể giúp ông thực hành trọn vẹn “Nhà nho làm văn hóa” Tản Đà trong buổi giao thời đã dung hợp những lý tưởng Nho giáo với hệ tư tưởng đang manh nha trong xã hội tư sản Do đó, những tản văn luận thuyết ấy của Tản Đà cơ bản lại được sáng tác trên những nguyên tắc của lối văn luận thuyết Đường Tống, từ nguồn văn liệu, ngôn ngữ đến phương thức cấu trúc Vì thế sau năm 1925, khi xã hội chuyển mình mạnh mẽ theo hướng “tư sản hóa” thì Tản Đà – con người của những kinh nghiệm truyền thống ấy bỗng chốc trở thành một cung đàn lạc điệu cố thủ trong những kinh nghiệm sáng tác và gần như không có những thay đổi để thích nghi với đời sống mới, trở nên lạc điệu và đứng ngoài lề làn sóng Âu hóa những năm hai mươi Tự sự của Tản Đà là nơi hội tụ của những xúc cảm trữ tình
và những triết lý trừu tượng đầy tính chủ quan Dường như mười thế kỷ văn học trung đại đã làm cho tư duy trữ tình và tư duy thuyết lý hằn sâu trong tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ Điểm dừng của Tản Đà, có lẽ cũng chính là điểm dừng của một kiểu nghệ sĩ ngôn từ trung đại trước ngưỡng cửa của văn chương hiện đại Tản Đà không đủ sức làm một cuộc “lột xác” cho văn chương thời đại mình Như vậy, ở thời điểm chuyển giao của hai thời đại văn học, tác phẩm tự sự của Tản Đà
là sự kết thúc muộn một truyền thống văn học Hiển nhiên, sau ông sẽ có những
Trang 32người cố gắng nối lại khoảng đứt gãy giữa văn chương truyền thống và văn học hiện đại (Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng ) Như vậy, chỉ soi rọi sơ bộ tính chất thời đại vào trong văn xuôi của Tản Đà,
ta cũng cảm nhận rõ được vai trò chuyển tiếp giữa hai thời kỳ trung đại và hiện đại, từ đó ta lý giải được tính chất giao thời trong con người, đặc biệt là trong hệ thống trước tác của Tản Đà - một tác gia văn học Việt Nam cận đại Trong các phần chuyển giao mang tính chất tất yếu của lịch sử văn học Việt Nam, Tản Đà đã đóng góp phần hoàn thành nhiệm vụ đó một cách nhanh chóng và hiệu quả Ở một
thời kỳ “khó có thể không có” đó thì “sự xuất hiện những gương mặt tiêu biểu cho cái mới, những kết tinh trọn vẹn cho cái mới không thể nhiều, mà chỉ ở tư cách những người cơ bản, trong vai trò tiền trạm như Tản Đà” [66; tr 4]
Trong lịch sử văn học Việt Nam, Tản Đà giữ một vị trí quan trọng, là tác giả tạo sự chuyển tiếp giữa hai nền thơ ca cổ điển và hiện đại, là gạch nối cho hai chặng đường văn học Việt Nam, những đóng góp của Tản Đà mang tính chất giao thời rõ nét Thi nhân như một ngôi sao sáng nhất, giữ một vị trí quan trọng nhất trong văn học ở giai đoạn Tân - Cổ giao thời, bởi Đông – Tây, Kim - Cổ giao nhau
và kết tinh thành một phong cách mang tính cá biệt không lặp lại trong lịch sử văn học dân tộc Chúng tôi xin khẳng định: Văn học buổi giao thời 30 năm đầu thế kỉ
XX đã có cho nó một thi sĩ tiêu biểu Một hiện tượng thi ca độc đáo đã gắn tên tuổi và thi nghiệp của mình với một giai đoạn văn học giao thời trong tiến trình phát triển của văn chương hiện đại Việt Nam Đó là Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu Như vậy có thể khẳng định trong tổng thể Tản Đà - một tác gia lớn của văn học cận đại tính chất giao thời thấm nhuần sâu sắc Không xác định được tính chất giao thời trong sự nghiệp văn chương Tản Đà nói chung và trong ngôn từ nghệ thuật thơ ông nói riêng, thì chúng ta không nhìn ra đúng bản chất của hiện tượng Tản Đà, không lý giải được vận mệnh của Tản Đà trong lịch sử văn học dân tộc
1.3 Tản Đà - một phong cách thơ
Phải khẳng định rằng phong cách Tản Đà đọng lại nhiều nhất là ở thơ ca Là thi sĩ mang dấu ấn của một buổi giao thời đầy biến động, thơ Tản Đà tuy còn ảnh hưởng của thi ca truyền thống nhưng đã báo hiệu những đổi thay mới mẻ về hình
Trang 33thức lẫn nội dung được thể hiện rõ qua ngôn từ nghệ thuật Tản Đà thực sự là người của “đêm trước” mở đường Thơ mới để nó có thể dạo nên khúc nhạc đầu cho Thơ mới với những cung bậc khỏe khoắn, tự tin giữa những năm ba mươi ngay sau đó
Thi nhân vừa tiêu biểu cho đội ngũ những người cầm bút của văn học mới
ra đời ở thành thị, lại vừa là một nhà Nho tài tử trong xã hội buổi giao thời nên ông có quan hệ bên trong với Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tú Xương, Do đó, thơ Tản Đà vừa có hơi hướng của thơ lãng mạn với một bản ngã, một cái tôi đầy cá tính sáng tạo trong thơ và trong cả đời thường và những quan hệ bên ngoài với Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Tú Mỡ, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu
Tản Đà là một nhà Nho tài tử sống trong lòng một xã hội quá độ diễn ra nhiều quá trình thay đổi các bảng giá trị Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học, khoa hoạn lâu đời nhưng Tản Đà sống ở thành thị và hấp thụ lối sống tư bản hóa, tiếp thu những luồng tư tường mới mẻ, do đó thơ ông đã chuyển tải được cái tinh thần tự do trong cảm hứng nghệ thuật
Là người có công cách tân, sáng tạo thơ ca trong buổi đầu hiện đại hóa, nhưng cái mới của Tản Đà gắn chặt với truyền thống Dù ý thức hệ tư sản có ảnh hưởng đến thế giới quan, nhân sinh quan của ông thì quan niệm nhà Nho vẫn chi phối mạnh mẽ quá trình sáng tác, định giá thơ ca ở ông Do đó, đã níu kéo thi nhân trở về với văn thơ trung đại dù ban đầu ông đã thổi được luồng gió mới vào ngôn
từ thi ca
Tản Đà đã có những đóng góp đáng kể vào bước chuyển mình của văn học Việt Nam hiện đại Thế giới thơ của ông đủ các sắc thái, vừa đậm chất trữ tình, vừa hài hước, vừa đại chúng, vừa có ý vị hiện thực, lại vừa bàng bạc một màu sắc lãng mạn Với thi nhân, thi ca không thể giữ nguyên âm điệu cũ kĩ Một sự dồn nén vận động sôi sục ở bên trong nhất thiết sẽ phải biểu hiện ra bên ngoài bằng một sự rạn vỡ khuôn khổ cũ và Tản Đà là một biểu hiện tiêu biểu như vậy
Bản thân hiện thực cuộc sống, từ thời đại, văn hóa, chính trị, tư tưởng, trình
độ học vấn đến môi trường ông sống và tiếp xúc đã làm nên tính chất giao thời
Trang 34trong con người cũng như văn chương ông Bước chân vào địa hạt văn chương Tản Đà, tính chất giao thời ấy thể hiện rõ nét mà đọng lại và kết tinh cao nhất là ở thơ ca Tản Đà đã có những thành tựu rực rỡ, những cống hiến xuất sắc, xác định một hồn thơ, một phong cách thơ độc đáo, góp phần đổi mới bộ mặt thi ca hợp pháp của giai đoạn đang đi vào bế tắc, buồn chán, sáo mòn
Thơ Tản Đà là thứ thơ có bản lĩnh, bản sắc riêng, không lẫn vào đâu được Song giá trị lớn lao và đặc sắc hơn cả cũng vẫn là ở vị trí dẫn đạo của ông trên thi đàn đầu thế kỷ Đúng như những lời trân trọng mà Hoài Thanh và Hoài Chân khi
mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam (1941), đã “Cung chiêu anh hồn Tản Đà":
“Đôi bài thơ của tiên sinh ra đời từ hơn 20 năm trước, đã có một giọng phóng túng riêng Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đang sắp sửa" [23, tr 158]
Đương nhiên, Tản Đà chưa phải là một nhà thơ mới như các nhà thơ mới lớp sau ông Nhưng rõ ràng, ông là nhà thơ đã có tư tưởng cách tân, có nhiều tìm tòi, sáng tạo và mạnh dạn vượt ra ngoài khuôn sáo cũ Bên cạnh những bài thơ phóng túng, ngang tàng, Ngông nghênh là cái điệu buồn vẩn vơ, cái nỗi sầu man mác và cái tình bâng khuâng, những yếu tố muôn đời của chủ nghĩa lãng mạng, nhưng lại chỉ riêng có ở Tản Đà, và đó là chủ nghĩa lãng mạng Tản Đà, nếu có thể gọi được như thế!
Nền tảng chính làm nên phong cách Tản Đà chính là tính uyên thâm, bác học của thể thơ Đường luật kết hợp với cách sử dụng những chất liệu của đời sống thường nhật để đưa vào thơ ca nhằm phản ánh đời sống Không những thế, Tản Đà còn tạo ra một phong cách mới, một sức sống riêng, một "sự phá cách" thơ ca bác học Có thể nói, thơ Tản Đà là sự vươn tới những giá trị của thẩm mỹ và văn hoá ngôn từ, thể hiện rõ một tài năng sử dụng ngôn ngữ điêu luyện và tinh tế
Có thể mượn lời Phan Ngọc để nhận xét về trường hợp Tản Đà: “Một nghệ
sĩ chỉ vĩ đại khi anh ta có những đóng góp loại biệt mà trong thời đại mình không
ai làm được Không những thế, những đóng góp của anh ta còn vượt xa thời đại, đến nỗi thời đại sau có thể bắt chước được” [77, tr 18] Tản Đà là một trong
những biểu hiện của tài năng thi ca đích thực của văn học Việt Nam Tài nghệ thi
Trang 35ca đi liền với việc tạo lập nên nét riêng, không lặp lại của nhà thơ đã làm nên một phong cách Tản Đà
Với những giới thuyết ở trên, người viết chỉ muốn khẳng định một điều: trong thời kì Tản Đà quả thực là một tiếng thơ có bản sắc rất đậm nét, một phong cách thơ cần được ghi nhận Các đặc điểm phong cách thơ Tản Đà quy tụ ở ba điểm lớn:
Thứ nhất, Tản Đà là nhà thơ giao thời, thơ ông vừa là sự kết thúc một giai đoạn văn học, vừa có tính chất mở đầu cho một giai đoạn văn học mới – văn học hiện đại Điều này chi phối đề tài, chủ đề tác phẩm
Thứ hai, thơ Tản Đà đem đến một hình tượng cái tôi độc đáo vừa lãng
mạng, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, thâu tóm trong cái Ngông và
đa tình
Thứ ba, thơ Tản Đà độc đáo trong hình thức biểu hiện: kế thừa truyền thống
và mở đường cho hiện đại từ thể thơ ngôn ngữ đến hình ảnh Thơ Tản Đà còn mang đến giọng điệu riêng: vừa Ngông nghênh phóng túng đầy hóm hỉnh, hài hước, vừa cảm thương ưu ái;
Tóm lại, nghiên cứu khảo sát toàn bộ sáng tác của Tản Đà dưới góc độ phong cách nghệ thuật là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa vì nó đề cập đến một trong những phương diện cơ bản nhất nhằm đánh giá những thành tựu đầy sáng tạo của Tản Đà để qua đó có thể nhìn thấy nhiều vấn đề đặt ra trong sự phát triển văn học của cả một giai đoạn Mặt khác, trên cơ sở đó mà chỉ ra những đóng góp về phong cách thơ Tản Đà trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam
Trang 36Chương 2
PHONG CÁCH CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TẢN ĐÀ
1.1 Nhìn chung về hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Tản Đà
Nhu cầu được sống với chính mình là một trong những nhu cầu cơ bản của con người nói chung và nghệ sĩ ngôn từ nói riêng Tuy nhiên, khả năng nhận biết những phương thức để đáp ứng nhu cầu này khác nhau ở mỗi nền văn hóa, mỗi
giai đoạn lịch sử Vì vậy, cái tôi và cái tôi cá nhân trong văn học nói riêng là một
hiện tượng cần được nhận thức trong những tồn tại lịch sử cụ thể Đó là cả một hành trình vận động, phát triển không ngừng trên quỹ đạo tiến đến quá trình hiện đại hóa của văn học dân tộc
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã chỉ ra một trong những tiêu chí cơ bản
của sự khác biệt giữa thơ cũ và thơ mới: “Thơ cũ là thời đại của chữ ta, thơ mới là thời đại của chữ tôi”[99, tr113] Từ thời đại chữ ta đến chữ tôi là một quá trình
khó nhọc, phải qua nhiều bước trung gian Giai đoạn văn học giao thời, với Tản
Đà là đại diện tiêu biểu, đã đảm nhiệm và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyển
giao ấy Thi nhân đã mang đến cho văn học một hình tượng cái tôi đa diện, vừa là
sự tạo hình cái tôi chưa rõ nét của văn học trung đại, vừa là bước chuẩn bị lộ diện một cách mạnh mẽ cái tôi cá nhân lãng mạn của văn học hiện đại Do đó, hình tượng cái tôi của thi sĩ giao thời ấy độc đáo nhưng không kém phần mâu thuẫn
Văn học nghệ thuật Việt Nam thời trung đại chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của
Nho giáo với quan niệm “thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” Vì thế, hình tượng cái tôi phần lớn bị hòa tan trong cộng đồng, gia tộc, dòng họ, quốc gia, vương triều:
đó là cái tôi phi ngã Việc đề cao, khẳng định cái tôi, bản ngã cá nhân đều bị xem
Trang 37là trái đạo Có thể dễ dàng nhận ra điều đó ở hai loại hình chính thống: nhà Nho hành đạo và nhà Nho ẩn dật - lực lượng sáng tác cơ bản của văn học giai đoạn này
Từ giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, trước hoàn cảnh rối ren của đất nước, văn học dấy lên một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa với trung tâm là sự xuất hiện của con người cá nhân, chủ yếu trong các sáng tác của loại hình nhà Nho phi chính thống – nhà Nho tài tử Nhà Nho tài tử, gốc vẫn là Nho, nhưng ngày càng xa rời những quy phạm, chuẩn mực khắt khe, giáo điều của đạo lý Nho giáo Họ xem
trọng chữ Tài - nhất là tài văn chương nghệ thuật: Cầm, Kỳ, Thi, Họa và Tình - đặc biệt là tình đối và giai nhân Tài còn gắn với Tình, Sắc và hưởng thụ Hình
tượng con người cá nhân trong văn học Việt Nam từ đó khởi sắc Nó gắn liền với nội dung cảm hứng nhân đạo và thế sự đời tư của các nhà văn, nhà thơ tài tử Chính họ là lớp nhà Nho tạo nên trào lưu nhân đạo chủ nghĩa độc đáo trong văn học nửa sau thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX khi quan tâm đến hình tượng con người bản ngã, cá nhân Thơ văn từ âm hưởng vô ngã của ý thức công dân chuyển dần sang âm hưởng hữu ngã của ý thức cá nhân về nhiều mặt, là một bước tiến rõ nét của văn học trên tiến trình hiện đại hóa
Vấn đề giải phóng cá nhân, đề cao bản ngã cá nhân là thể hiện tinh thần dân chủ, sự đổi mới hệ suy luận mà ở châu Âu từ thế kỷ Khai sáng thế kỷ XVIII đã khởi xướng Với một xã hội nông nghiệp lúa nước hàng nghìn năm, với truyền
thống luôn đề cao cái ta – mang tính trung quân ái quốc, tính cộng đồng làng xã, thì việc chuyển sang cái tôi cá nhân với bản sắc riêng, một cái tôi muốn tự khẳng
định, muốn vùng vẫy tự do là một bước chuyển lớn trong tiến trình văn học Việt Nam, đã được các nhà thơ hiện đại đã chuyển tải một cách vẹn toàn
Cái tôi trong văn học hiện đại Việt Nam được đặt tương quan với cuộc sống hiện thực, mang đậm bản sắc con người Con người cá nhân trong Thơ mới thoát
khỏi ràng buộc lễ giáo, sống vì tình yêu và tự do, sống thật với chính mình trong trọn vẹn niềm vui, nỗi buồn và cả sự cô đơn Cùng những đổi mới về nghệ thuật,
cái tôi Thơ mới đã làm nên “một cuộc cách mạng trong thi ca” (Hoài Thanh) đưa văn học Việt Nam đi thẳng vào tiến trình hiện đại hóa Cái tôi ấy đã được phát
triển mạnh mẽ ở văn Việt Nam trung đại giai đoạn hậu kỳ mà Tản Đà là đại biểu
Trang 38Tản Đà - nhà thơ sống trong thời kì 1900 - 1930, một giai đoạn đặc biệt trong lịch
sử dân tộc: tình hình kinh tế - chính trị - văn hóa có những biến đổi sâu sắc, cùng những biến chuyển về tinh thần, tâm lý, lối suy nghĩ Cuộc sống vượt ra ngoài khuôn khổ, nhân tình thế thái trở nên đa dạng và sôi động hơn Chính sự thay đổi
ấy đã tạo ra những nhân vật văn học với luồng suy nghĩ, cảm xúc mới mà văn chương bác học của nhà Nho chính thống không thể chuyển tải được
Khi văn chương của nhà Nho chính thống dần đánh mất vai trò, Tản Đà đã
thổi vào thơ ca “luồng gió mới”, đem đến cho công chúng văn học thành thị một cái tôi lãng mạn, bay bổng Cái tôi Tản Đà đã xuất hiện và đã đáp ứng được mong đợi của cả thế hệ: “Hai mươi năm sau, một tâm hồn như Đào Tấn mất, vai trò đó
đã vào Tản Đà: Chủ nghĩa lãng mạn với cá thể in-đu-vi-đu đã bật nứt trong văn học Việt Nam trong những chục năm đầu thế kỷ XX bằng Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, và lần này cái cái tôi của nhà thơ không cần giấu giếm gì nữa Nhà thơ tự lấy mình làm đề tài, nói lên những tâm tư, tình cảm, những mộng mị của mình, kể những nơi mình đã du lịch và những thứ ăn chơi mình đã lịch lãm [15, tr 55]
Sự chuyển mình của Tản Đà thể hiện trên toàn bộ lĩnh vực sáng tác của ông: văn xuôi, tiểu thuyết, báo, kịch, dịch thuật, và đặc biệt là thơ ca: lĩnh vực làm
nên giá trị và tên tuổi bất tử của Tản Đà Cái tôi trong thơ Tản Đà vừa tiếp nối
truyền thống trữ tình của văn học dân tộc, vừa đánh dấu sự trỗi dậy những tư tưởng, tình cảm mới trong giai đoạn nhà nước Phong kiến trượt dài trên dốc suy thoái Trong thơ Tản Đà, ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh cá nhân với ý thức khẳng định vẻ đẹp và tài năng chính mình như trong thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến,… hay nhu cầu bộc lộ tình cảm riêng tư, tâm
sự u uẩn như trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,… hay con người khát
vọng tự do, bình đẳng, khát vọng tình yêu, hạnh phúc như trong Chinh phụ ngâm
khúc (Đoàn Thị Điểm?); Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Ai tư vãn
(Lê Ngọc Hân); Tự tình khúc (Cao Bá Nhạ), Thu dạ lữ hoài ngâm (Đinh Nhật Thận), Bần nữ thán (Khuyết danh) Cao hơn là cảm hứng hành lạc và khát vọng
nhu cầu trần thế bản năng của con người cá nhân như trong thơ Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương,… Cái tôi ấy cũng gần với cái tôi của các nhà
Trang 39Thơ mới: cái tôi yêu đời tha thiết của Xuân Diệu, cái tôi thoát tục lên tiên của Thế
Lữ, cái tôi mơ màng của Lưu Trọng Lư,
Với hình tượng cái tôi trong thơ, Tản Đà là lớp nhà Nho cuối cùng của ý
thức hệ phong kiến đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình: kết thúc nền văn học cũ, mở đường cho giai đoạn văn học mới với nhiều cách tân thơ ca và trở thành dấu nối cho văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945
Tài, Tình, Tính, Du, Mỹ là những tính cách tiêu biểu trong tác phẩm của nhà Nho tài tử Tản Đà Tài văn chương của Tản Đà khi “Xuống ngọn bút mưa sa, gió táp/ Vạch câu thơ quỷ thảm thần sầu” làm cho thiên nhiên đảo điên, quỷ khóc thần sầu Tình yêu trong thơ Tản Đà cũng mang nhiều cung bậc: lãng mạn, bay bổng và thăng hoa Tính là tính cách, thể hiện cá nhân, trong đó Ngông là một tính cách rất điển hình của Tản Đà Du là ngao du sơn thủy, đi đây đi đó, đi tìm cảm giác lạ, để khám phá những vùng đất mới Mỹ là yêu cái đẹp Gộp lại tất cả các
yếu tố trên, đã tạo nên một Tản Đà tài tử: vừa tài hoa đa tình, vừa biết khẳng định
mình qua cái tôi Ngông nghênh, phóng túng
Tản Đà cũng là nhà Nho tài tử kiểu mới – tài tử trong xã hội tư sản, nên đồng thời xuất hiện trong ông một con người mới: thị dân Thị dân tự khẳng định
cá nhân con người với tất cả thế mạnh: khát khao, mơ mộng, thất vọng, lạc quan, yêu, hận Trên nền phẩm chất của một nhà Nho tài tử trong xã hội thị dân, Tản Đà
lộ diện cái tôi độc đáo: một Tản Đà sầu - mộng – say với sự hiện diện của một cái tôi Ngông nghênh, phóng túng, cái tôi đa tình của bậc tài tử, cái tôi giang hồ yêu cái đẹp,… Ở Tản Đà, cái tôi là biểu hiện đỉnh cao của một nền văn học giao thời Chính vì vậy, đằng sau cái tôi đầy mâu thuẫn, phức tạp đó độc giả cảm nhận rất rõ một cái tôi mang màu sắc của tư tưởng Nho gia kết hợp với một phần cái tôi mang màu sắc triết lý Trang Chu và cái tôi cá nhân của giai cấp tư sản
1.2 Cái tôi Ngông nghênh, mộng và say
Nho giáo đề cao đức Khiêm cung ở người quân tử Khiêm là phải biết nhún mình xuống, không Kiêu, không ngạo mạn Thực tế dòng chảy văn học cho thấy,
những nhà Nho có bản lĩnh, cá tính sẽ thoát khỏi những ràng buộc của thuyết
Trang 40Khiêm cung Nho giáo: họ tự nhận thức – nhẹ nhàng hoặc mạnh mẽ Khi ấy, sự Kiêu đã thế chỗ cái Khiêm tạo thành cái Ngông
Ngông trước hết là một tính cách Biểu hiện tính Ngông đó là hành động
khác đời, gây sự chú ý trong số đông, những hành động ngang tàng, phóng túng,
đùa cợt Ngông còn là một hoạt động tư tưởng: thể hiện sự bất mãn, bất đắc chí, bất cần đời Đó là thái độ sống của kẻ tự coi mình là tài trí nhất đời Ngông là một
cách sống vượt ra ngoài khuôn khổ của xã hội đương thời, trở thành một thách thức đối với xã hội Cách sống ấy mang tính chất chủ quan và coi thường dư luận Điểm qua các sáng tác của nhà Nho ẩn dật Việt Nam, ta cảm nhận được sự
phát tiết của tính Ngông, dù chưa mạnh mẽ, qua việc khẳng định bản thân giữa
cuộc đời Với họ, thế giới này chỉ có hai: họ và đám người tầm thường còn lại Họ buộc phải tự định vị mình như một thiểu số tinh hoa giữa đám người tầm thường Chính vì thế, các nhà Nho ẩn dật thường quay lưng với toàn bộ thể chế chính trị, phủ nhận mọi bảng biểu giá trị trong cuộc sống, hoà mình vào thiên nhiên hoang
dã, coi mình tựa thần tiên Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tự nhận mình "dại" như một cách để phân biệt mình với thế nhân Ông hoan hỉ bởi cái "dại" của mình,
vì đó là cái “dại” của một người minh triết, đứng cao hơn hẳn thế nhân:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người ở chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
(Nhàn) Còn Nguyễn Khuyến, một trong những nhà nho ở ẩn cuối cùng của lịch sử
Nho giáo Việt Nam cũng bộc lộ cái Kiêu, khoe sự đỗ đạt của mình khi dặn dò con
trai trong bài Di chúc nổi tiếng:
Học tiếng rằng chẳng hay chi cả, Cưỡi đầu người kể đã ba phen