1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu phong cách nghệ thuật chế lan viên qua tập thơ điêu tàn

116 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có lắm khi những di tích xưa, những kỉ niệm cũ của giống dân Hời lại nằm ngay giữa hàng chữ của Lan Viên, phơi mình trần nhưnhộng trên mảnh giấy trắng đến ‘rợn người" của thi sĩ.”[1; tr.

Trang 1

TR TRƯỜ ƯỜ ƯỜNG NG NG ĐẠ ĐẠ ĐẠIIII H H HỌ Ọ ỌC C C C C CẦ Ầ ẦN N N TH TH THƠ Ơ KHOA KHOA KHOA KHOA KHOA H H HỌ Ọ ỌC C C X X XÃ Ã Ã H H HỘ Ộ ỘIIII V V VÀ À À NH NH NHÂ Â ÂN N N V V VĂ Ă ĂN N

B

BỘ Ộ Ộ M M MÔ Ô ÔN N N NG NG NGỮ Ữ Ữ V V VĂ Ă ĂN N

CH CHÂ Â ÂU U U THANH THANH THANH NH NH NHẢ Ả MSSV:

MSSV: 6106338 6106338

T

TÌÌÌÌM M M HI HI HIỂ Ể ỂU U U PHONG PHONG PHONG C C CÁ Á ÁCH CH CH NGH NGH NGHỆ Ệ Ệ THU THU THUẬ Ậ ẬT T

CH CHẾ Ế Ế LAN LAN LAN VI VI VIÊ Ê ÊN N N QUA QUA QUA T T TẬ Ậ ẬP P P TH TH THƠ Ơ Đ ĐIIIIÊ Ê ÊU U U T T TÀ À ÀN N

Lu Luậ ậ ận n n vvvvă ă ăn n n ttttố ố ốtttt nghi nghi nghiệệệệp p p đạ đạ đạiiii h h họ ọ ọcccc Ng

Ngà à ành nh nh Ng Ng Ngữ ữ ữ V V Vă ă ăn n

C

Cá á án n n b b bộ ộ ộ h h hướ ướ ướng ng ng d d dẫ ẫ ẫn: n: n: Ths Ths Ths NGUY NGUY NGUYỄ Ễ ỄN N N TH TH THỊỊỊỊ KI KI KIỀ Ề ỀU U U OANH OANH

C Cầ ầ ần n n Th Th Thơ ơ ơ,,,, n n nă ă ăm m m 2013 2013

Trang 2

ĐỀ ĐỀ C C CƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG CHI CHI CHI TI TI TIẾ Ế ẾT T

5 Phương pháp nghiên cứu

CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 1: 1: 1: NH NH NHỮ Ữ ỮNG NG NG V V VẤ Ấ ẤN N N ĐỀ ĐỀ ĐỀ CHUNG CHUNG

1.1 Đôi nét về tác giả

1.1.1 Cuộc đời Chế Lan Viên

1.1.2 Sự nghiệp văn chương

1.1.3 Quan niệm sáng tác

1.3.1.1 Quan niệm Chế Lan Viên về người làm thơ

1.3.1.2 Quan niệm Chế Lan Viên về thơ

1.2 Vài nét về vấn đề phong cách nghệ thuật

CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 2: 2: 2: PHONG PHONG PHONG C C CÁ Á ÁCH CH CH NGH NGH NGHỆ Ệ Ệ THU THU THUẬ Ậ ẬT T T CH CH CHẾ Ế Ế LAN LAN LAN VI VI VIÊ Ê ÊN N

QUA

QUA T T TẬ Ậ ẬP P P TH TH THƠ ƠĐ ĐIIIIÊ Ê ÊU U U T T TÀ À ÀN N N THTH THỂ Ể Ể HI HI HIỆ Ệ ỆN N N TR TR TRÊ Ê ÊN N N B B BÌÌÌÌNH NH NH DI DI DIỆ Ệ ỆN N N N N NỘ Ộ ỘIIII DUNG DUNG

2.1 Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n – “niềm kinh dị” giữa đồng bằng thơ Việt Nam

2.1.1 Sự đối lập khủng khiếp giữa quá khứ hào hùng và hiện tại đau thương của mộtdân tộc

2.1.2 Thế giới cõi âm mang hồn khí của chết chóc

2.2 Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n – triết lí sơ khai của Chế Lan Viên về thời gian, con người và cuộc đời

2.2.1 Quan niệm về thời gian

2.2.2 Quan niệm về con người và cuộc đời

2.3 Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n - tập thơ thể hiện tình cảm trong sáng của nhà thơ về quê hương và con

Trang 3

3.5 Không gian, thời gian nghệ thuật

3.5.1 Không gian nghệ thuật

3.5.2 Thời gian nghệ thuật

PH PHẦ Ầ ẦN N N K K KẾ Ế ẾT T T LU LU LUẬ Ậ ẬN N

T TÀ À ÀIIII LI LI LIỆ Ệ ỆU U U THAM THAM THAM KH KH KHẢ Ả ẢO O

M MỤ Ụ ỤC C C L L LỤ Ụ ỤC C

Trang 4

PH PHẦ Ầ ẦN N N M M MỞ Ở Ở ĐẦ ĐẦ ĐẦU U

1 1 L L Líííí do do do ch ch chọ ọ ọn n n đề đề đề ttttà à àiiii

Là một nhà thơ lớn của thế kỉ XX, Chế Lan Viên đã để lại cho hậu thế di sảnthơ và văn xuôi phong phú đa dạng Qua từng trang thơ, văn của ông, người đọc có thểnhận thấy những “vệt tư tưởng”, những “chất ngọc” được đúc kết từ sự lao động miệtmài của tâm hồn khát khao, gắn bó sâu sắc với cuộc sống Đi từ những tháp Chàm

trong tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n đến tháp Bay-on trong tập Di Di Di C C Cả ả ảo o o th th thơ ơ ơ, sự nghiệp sáng tác của

Chế Lan Viên thể hiện sự gắn bó sâu sắc với vận mệnh của dân tộc và đất nước Và ởmỗi chặng đường sáng tác, Chế Lan Viên luôn tìm cách tạo cho mình một dấu ấn riêng,một phong cách riêng mà khó có một nhà văn nào có thể làm theo hay bắt chước được

Tác phẩm Chế Lan Viên gây được ấn tượng mạnh và âm vang lớn trong lòng

bạn đọc bao thế hệ Ngay ở tập thơ đầu tay, tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, Chế Lan Viên đã xuất

hiện giữa thi đàn Việt Nam “như một niềm kinh dị” như Hoài Thanh đã nhận xét, vàcũng theo Phạm Hổ tập thơ này “tuy hình dáng rất khiêm tốn, nhưng lại làm cho người

đọc đến phải kinh ngạc và bàng hoàng…” [1; tr.91] Với tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, cái tên Chế

Lan Viên chính thức được ghi nhận vào phong trào Thơ mới với một gương mặt lạ vàmột bộ óc siêu phàm của “thần đồng” thơ khi mới chỉ 17 tuổi

Với tầm ảnh hưởng và vị trí lớn trên thi đàn trước cách mạng tháng Tám, tập

thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n giữ một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên.

Tuy nhiên, qua khảo sát của chúng tôi, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứumột cách chi tiết về phong cách thơ Chế Lan Viên trong tập thơ này, tập thơ có tínhchất mở đầu cho chặng đường thơ Chế Lan Viên Phong cách trong thơ ông ở tập thơnày chỉ dừng lại ở những bài viết hay bài phê bình văn học Người ta thường nói: “Văn

chính là người” hay “Thơ là tiếng nói trung thành của trái tim”, qua những trang thơ,

người đọc có thể xâm nhập vào thế giới nghệ thuật của nhà thơ, qua đó hiểu hơn vềtâm tư, tình cảm và dấu ấn mà nhà thơ thể hiện trong tác phẩm và thời đại Do đó,

chúng tôi thực hiện đề tài: “T T Tììììm m m hi hi hiểểểểu u u phong phong phong ccccá á ách ch ch ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt Ch Ch Chếếếế Lan Lan Lan Vi Vi Viêêêên n n qua qua qua ttttậ ậ ập p

th thơ ơ ơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n” là để tìm ra những nét mới lạ, những cái riêng, độc đáo tạo nên phong

cách của Chế Lan Viên, đồng thời, tìm ra những đóng góp của Chế Lan Viên trên thiđàn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám

2 2 L L Lịịịịch ch ch ssssử ử ử v v vấ ấ ấn n n đề đề đề nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Trang 5

Là tập thơ đầu tay với nhiều nét chấm phá độc đáo, Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n nhanh chóng thu

hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đương thời cũng như sau này

Nói về phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, Vũ Tuấn Anh nhận xét:

“Phong cách thơ Chế Lan Viên đã có ảnh hưởng khá rõ nét trong đời sống thơ Mạnh

mẽ, mới lạ và độc đáo – phong cách ấy quả là có sức hấp dẫn, lôi cuốn và kích thích sáng tạo đối với nhà thơ trẻ Có thể nói đến phong cách thơ Chế Lan Viên như một trong những phong cách đặc sắc nhất thơ Việt Nam hiện đại” [1; tr.40] Ngoài ra

phong cách thơ Chế Lan Viên theo Phạm Hổ còn rất dễ dàng có thể nhận ra, ông viết:

“Có những nhà thơ phải đọc cả chùm tập thơ mới thấy hiện ra phong cách Nhưng

cũng có nhà thơ chỉ đọc một bài thơ là đã thấy ra ngay Trường hợp Chế Lan Viên có thể nhận ra như vậy.” [1; tr.94] Trong suốt chặng đường thơ văn của mình, Chế Lan

Viên luôn có ý thức đổi mới thơ ca, ông luôn chọn cho mình một cá tính sáng tạo riêng,một dấu ấn riêng trong nền văn học nước nhà Phát hiện ra điều này, Huỳnh Văn Hoatrong bài viết “Chế Lan Viên với cái nhìn nghệ thuật thơ” đã nói: “Thế giới thơ ông là

một thế giới đa dạng, muôn màu, nhiều biến hóa Nhà thơ biết tìm tòi và gửi cho mình một phong cách, biết chỗ đi và chỗ đến của nghệ thuật Hơn nửa thế kỉ làm thơ, Chế Lan Viên đã đắp cho mình một con đường riêng, không lẫn với bất cứ ai Đây là điều kiện không dễ trong sáng tạo nghệ thuật.” [1; tr.121]

Sau khi đọc xong tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, Lê Thiều Quang nhận xét một cách chi tiết

hơn phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên ở tập thơ đầu tay này, trong bài viết “Cảm

tưởng tôi khi đọc Chế Lan Viên”, ông khẳng định: “Nó (tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n) bắt đầu lấp

ló trong vườn thơ Việt Nam, bên cạnh và cũng không kém những tia sáng khác và

đồng thời, nó không giống với một tia nào Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n mới lạ quá đến làm ngạc nhiên và

làm ngờ vực nhiều người.” [1; tr.227] Khác với Lê Thiều Quang, Đỗ Long Văn trong

“Thử phác họa một bản đồ của địa ngục theo Chế Lan Viên” đã cảm nhận thế giớitrong thơ Chế Lan Viên: “Trong thế giới Chế Lan Viên mà bóng tối xóa nhòa mọi dị

biệt, người ta thấy một đồ vật thường trở lại như một ám ảnh, ấy là cây tháp chàm đổ nát Nó xuất hiện trong những đêm mơ u uất như di tích của một thất bại không biết đã xảy ra từ thời nào, và cái hoang vu của cảnh vật, trông nó như một đồ thừa Ngay những con ma Hời cũng không buồn trở lại cây tháp cổ ấy nữa.” [17; tr.540] Niềm ưu

uất ấy theo Hoàng Diệp được thể hiện trên từng con chữ trong tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n: “Từng

hàng chữ, từng bài thơ đều có nhắc tới những lời than, điệu khóc hoặc dấu vết trên bờ

Trang 6

nghĩa địa, dưới chân ngọn tháp vắng Có lắm khi những di tích xưa, những kỉ niệm cũ của giống dân Hời lại nằm ngay giữa hàng chữ của Lan Viên, phơi mình trần như

nhộng trên mảnh giấy trắng đến ‘rợn người" của thi sĩ.”[1; tr.241] Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n mang

hình hài của một tháp Chàm đứng sừng sững, lẻ loi, bí mật và kinh dị giữa “đồng bằng

văn học Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XX” - nói theo Hoài Thanh - nên theo Hồ Thế Hà

nhận định: “Điều dễ thấy đầu tiên ở Chế Lan Viên, so với phong trào Thơ mới, là ông

đã tạo cho mình một thế giới khác – thế giới của cõi âm và những yêu ma, đầu lâu, sọ dừa, máu xương rùng rợn, được ngụy trang bằng một niềm bi hận mang vẻ thần bí, siêu hình để khóc cho một dân tộc bị chinh phục đến thành tro bụi.”[1; tr.261] Không

dừng lại đó, Trần Mạnh Hảo còn cho rằng Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n được coi là một trong “ba niềm

sửng sốt” trong sự nghiệp thơ Chế Lan Viên trước Á Á Ánh nh nh ssssá á áng ng ng vvvvà à à ph ph phù ù ù sa sa sa và Di Di Di ccccả ả ảo o o th th thơ ơ ơ,

ông viết: “Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, tập thơ mê sảng nhất của văn học Việt Nam, biểu hiện thiên tài kì

lạ Chế Lan Viên, là niềm sửng sốt, là cú sốc của mĩ học về cái chết độc nhất vô nhị vậy.” [1; tr.201]

Vẻ đẹp triết lí thể hiện từ chiều sâu của cái nhìn trí tuệ là một trong những đặcđiểm độc đáo làm nên phong cách thơ Chế Lan Viên Nhiều nhà phê bình, nghiên cứuđánh giá cao về đặc điểm này trong thơ ông Nguyễn Lộc trong bài viết “Chế Lan Viên

và những trong nghệ thuật thơ” đã viết: “Đọc thơ Chế Lan Viên chúng ta gặp những câu có tính châm ngôn, tính chất triết lí; một châm ngôn độc đáo nhưng xác thực, một triết lí súc tích, không xa lạ với mọi người, nhưng ở mọi người có khi còn cảm nhận lờ

mờ thì nhà thơ nói lên sắc sảo như một phát hiện.” [1; tr.57] Cũng cùng ý kiến đánh

giá về sự phổ biến vẻ đẹp triết lí trong thơ Chế Lan Viên, Nguyễn Quốc Khánh trong

“Vẻ đẹp triết lí trong thơ Chế Lan Viên” đã khẳng định: “Những khái quát bằng triết lí

trong thơ Chế Lan Viên cũng chính là những biểu hiện trí tuệ trong tư duy nghệ thuật của ông Có thể nói, đây là một thao tác tư duy thường trực của ông Dù là phân tích, liên tưởng hay hồi tưởng, suy tưởng, ông cũng hướng tới cái khái quát triết lí được nâng cao tầm nhận thức để vượt lên cái cụ thể - cảm tính.” [1; tr.152] Và chính từ cái

nhìn giàu trí tuệ đã tạo nên cái độc đáo trong thơ Chế Lan Viên, Hồng Diệu trong bàiviết: “Thơ về thơ của Chế Lan Viên” nhận xét: “Thơ - mà không chỉ riêng thơ - của Chế Lan Viên có một đặc điểm rất dễ nhận thấy: nhiều suy nghĩ, giàu trí tuệ Đặc điểm này rõ và mạnh đến mức làm cho thơ anh không lẫn với bất cứ một nhà thơ nào.” [1;

tr.174]

Trang 7

Nghệ thuật xây dựng hình ảnh là một trong những đặc điểm bao trùm tạo nênphong cách thơ Chế Lan Viên, thể hiện sự thành công về nghệ thuật trong thơ ông Nói

về hình ảnh trong thơ Chế Lan Viên, Vũ Tuấn Anh viết:“Hình ảnh trong thơ Chế Lan Viên góp nhiều ý, mở rộng trường liên tưởng, giàu tính khái quát và tượng trưng Nhiều hình tượng thơ nối tiếp hòa trộn, đối chọi, chuyển hóa đầy phong phú và biến

ảo tạo ra cảm giác của một hội hoa đăng….” [1; tr.36] Thế giới hình ảnh thơ Chế Lan

Viên phong phú, đa dạng thể hiện trí tưởng tượng cùng tài năng sang tao của ông Tuynhiên, có khá nhiều ý kiến trong phân chia hình ảnh thơ Chế Lan Viên Theo PhạmXuân Nguyên thơ Chế Lan Viên có hai loại hình ảnh: “một loại có tính hiện thực và

một loại có tính chất ẩn dụ, tương trưng Loại thứ hai này mới là những gì tiêu biểu cho nghệ thuật thơ Chế Lan Viên Hầu hết hình ảnh trong thơ ông, kể cả trước và sau năm 1945, điều cơ bản tồn tại dưới dạng biểu tượng, tượng trưng, khái quát.”[1;

tr.122] Nguyễn Lâm Điền trong Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên đã dành một

chương để nói về những đặc sắc hình ảnh thơ Chế Lan Viên, trong đó ông có nhận xét

hình ảnh trong tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n: “Thế giới hình ảnh trong Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n thật hư ảo nhưng

nó lại có sức ám ảnh mãi không thôi đối với người đọc Ở Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, thế giới ấy ‘đứng

sừng sững như một cái tháp chàm chắc chắn và len lõi, bí mật’” [7; tr.74].

Những nhận định trên nhìn chung đã thể hiện sự tìm tòi, khám phá của các nhànghiên cứu, nhà phê bình trong việc phát hiện ra cái hay trong thơ Chế Lan Viên Về

phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên qua tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, một số nhà phê bình tập

trung vào tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, một số nhà phê bình thì nhận định phong cách nghệ thuật

thơ ông cho cả giai đoạn hay trong một thời kì sáng tác Những nhận định này nhìnchung là chính xác với những nét độc đáo trong phong cách thơ Chế Lan Viên cho tập

thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n và những sáng tác của ông nói chung Nhưng cũng có thể thấy, những bài

nghiên cứu về phong cách Chế Lan Viên qua tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n còn sơ lược, chưa đi sâu

vào bức tranh tổng hợp làm nên phong cách thơ của ông Tuy nhiên, những ý kiến,nhận định trên là những tư liệu quý giá, góp phần vào việc mở đường cho người

nghiên cứu tìm hiểu phong cách thơ Chế Lan Viên qua tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n.

3 3 M M Mụ ụ ụcccc đí đí đích, ch, ch, y y yêêêêu u u ccccầ ầ ầu u u nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Trang 8

Thực hiện đề tài T T Tììììm m m hi hi hiểểểểu u u phong phong phong ccccá á ách ch ch ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt Ch Ch Chếếếế Lan Lan Lan Vi Vi Viêêêên n n qua qua qua ttttậ ậ ập p p th th thơ ơ

Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, người viết mong muốn:

Vận dụng lí thuyết về phong cách nghệ thuật vào nghiên cứu tác giả Chế Lan

Viên qua tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n nhằm: Giúp cho người đọc có hình dung nhất định về

phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên qua tập thơ đầu tay, đồng thời, tìm ra những nétriêng, độc đáo trong thơ ông và những đóng góp của nó vào việc làm phong phú hơn

bộ mặt thơ ca trước cách mạng tháng Tám

4 4 Ph Ph Phạ ạ ạm m m vi vi vi nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Luận văn tập trung tìm hiểu phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên chủ yếu ở tập

thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n Cụ thể là tiếp cận vấn đề ở hai phương diện nội dung và hình thức nghệ

thuật, từ đó chỉ ra những nét làm nên phong cách của nhà thơ

Ngoài ra, người viết có sử dụng một số bài nghiên cứu về phong cách nghệthuật và các bài nghiên cứu, phê bình của các nhà phê bình trong đánh giá thơ Chế LanViên

5 5 Ph Ph Phươ ươ ương ng ng ph ph phá á áp p p nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Người viết sử dụng nhiều phương pháp trong quá trình thực hiện nhưng chủ yếu

là các phương pháp:

Phương pháp phân tích – tổng hợp: phân tích vấn đề ở nhiều khía cạnh, đặcđiểm Qua đó khái quát thành những đặc điểm nghệ thuật làm nên phong cách của nhàthơ

Phương pháp so sánh: Đây có thể nói là một trong những phương pháp quantrọng trong nghiên cứu, tìm hiểu phong cách nghệ thuật của một tác giả Chính vì vậy,khi nghiên cứu phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên người viết có so sánh với một sốtác giả thuộc phong trào Thơ Mới như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,… và một

số tác phẩm của Chế Lan Viên sau năm 1954 để làm rõ hơn phong cách nghệ thuật của

ông qua tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n.

Bên cạnh đó, chúng tôi còn kết hợp sử dụng một số thao tác như: chứng minh,bình luận, giải thích… để làm rõ vấn đề nghiên cứu

CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 1: 1: 1: NH NH NHỮ Ữ ỮNG NG NG V V VẤ Ấ ẤN N N ĐỀ ĐỀ ĐỀ CHUNG CHUNG

Trang 9

1.1 1.1 Đô Đô Đôiiii n n néééétttt v v vềềềề ttttá á ácccc gi gi giả ả

1.1.1 1.1.1 Cu Cu Cuộ ộ ộcccc đờ đờ đờiiii Ch Ch Chếếếế Lan Lan Lan Vi Vi Viêêêên n

Chế Lan Viên (1920 – 1989), tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, thân phụ làPhan Sĩ Tân Ngoài bút danh Chế Lan Viên, ông còn sử dụng các bút danh khác như:Mai Lĩnh, Thạch Hãn, Thạch Mai, Chàng Văn Ông sinh ra ở Nghệ An trong một giađình viên chức, quê gốc ở huyện Cam Lô tỉnh Quảng Trị nhưng lớn lên ở Bình Định

Chế Lan Viên từ nhỏ là một cậu bé tài năng và thông minh Năm ông học lớpnhất trường tiểu học Bình Định, ông đạt được giải nhất với bài luận quốc văn hay nhấttrong kì thi khóa các trường tiểu học trên toàn Trung kì Sau khi đỗ bằng tiểu học vàonăm 1935, ông được nhận vào học lớp đệ nhất trường tỉnh, trường Quốc học QuyNhơn và bắt đầu sáng tác thơ ca từ lúc 12, 13 tuổi Năm 1937, khi còn đang học tại

Quy Nhơn (Bình Định), ông cho xuất bản tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n với bút danh là Chế Lan

Viên Năm 1939, ông chuyển ra học ở Hà Nội và sau khi tốt nghiệp về dạy học ởThanh Hóa, Huế

Cách mạng tháng Tám 1945 đã ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, tư tưởng củaChế Lan Viên Từ một con người chán nản, sầu khổ với thực tại, Đảng đã soi rọi vàdẫn đường cho Chế Lan Viên trở về với nhân dân, với Tổ quốc Vì vậy, trong thời kìnày ông đến với cách mạng một cách tự nguyện và tích cực tham gia cách mạng ở QuyNhơn, sau đó ông ra Huế làm báo Quyết Thắng của Việt Minh ở Trung bộ Nhữngnăm kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục làm báo và hoạt động văn nghệ ở khu IV vàBình-Trị-Thiên Với sự hoạt động tích cực của mình, vào tháng 7 năm 1949, trongchiến dịch ở Tà Cơn, đường 9, gần quê mẹ, Chế Lan Viên được gia nhập vào ĐảngCộng sản Đông Dương Đó là một niềm vui lớn của một con người hết lòng phục vụcông sức của mình cho Đảng, nhân dân, những cảm xúc ấy đã được ông ghi lại bằng

những vần thơ hết sức cảm động trong bài K K Kếếếếtttt n n nạ ạ ạp p p Đả Đả Đảng ng ng tr tr trêêêên n n qu qu quêêêê m m mẹẹẹẹ.

Hiệp định Pari năm 1954 được kí kết, hòa bình được lặp lại trên miền Bắc, thếnhưng, một phần nửa của tổ quốc, miền Nam vẫn còn bóng dáng của quân thù Theohiệp định Pari, Chế Lan Viên cũng như những người khác tiến hành tập kết ra Bắc Tại

Hà Nội, ông tiếp tục làm báo và công tác văn nghệ ở Hội Nhà văn Việt Nam Với tàinăng của mình, ông được bổ nhiệm vào nhiều chức vụ cao của Hội Nhà văn Việt Nam,Đại biểu Quốc hội, ông từng là ủy viên thường trực Ban chấp hành Hội Nhà văn ViệtNam; đại biểu Quốc hội khóa 4, 5, 6, 7; ủy viên Ban thống nhất Quốc hội khóa 4, 5

Trang 10

Sau năm 1975, Chế Lan Viên sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.Năm 1988 Chế Lan Viên được tặng Huân chương Độc lập hạng hai Năm 1989, ôngqua đời tại bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh.

Chế Lan Viên được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệthuật năm 1996 (đợt 1)

1.1.2 1.1.2 S S Sự ự ự nghi nghi nghiệệệệp p p v v vă ă ăn n n ch ch chươ ươ ương ng

Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ có số lượng tác phẩm phong phú, đadạng thuộc nhiều thể loại Ngoài sáng tác thơ ông còn viết truyện, tạp bút, phê bìnhvăn học, kinh nghiệm sáng tác văn chương… Dù ở bất cứ thể loại nào, Chế Lan Viêncũng thể hiện sự tài hoa, trí tuệ của mình trong việc nhìn nhận, đánh giá vấn đề vănhọc, cuộc sống

Chế Lan Viên sáng tác thơ khi ông còn rất trẻ, khoảng mười hai, mười ba tuổi

Năm mười bảy tuổi ông cho xuất bản tập thơ đầu tay, Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n (1937), tập thơ gây xôn

xao trên giới văn đàn văn học lúc bấy giờ với một phong cách mới mẻ, độc đáo Lấyhình ảnh nước Chiêm Thành từ trong quá khứ, Chế Lan Viên đã thể hiện cái buồn, nỗi

cô đơn, băn khoăn của cái tôi bản ngã trước thực tại Cũng trong thời gian này, ChếLan Viên cùng với nhà thơ Bích Khê, Hàn Mạc Tử, Quách Tấn lập nên nhóm thơ BìnhĐịnh và trường phái Thơ Loạn do Hàn Mạc Tử đứng đầu Trường phái Thơ Loạn đã

góp phần tạo nên một khuynh hướng mới, màu sắc mới cho phong trào Thơ mới (1932

- 1945)

Sau tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, Chế Lan Viên còn sáng tác một số bài thơ khác trong

những năm từ 1937-1945 và tập hợp thành tập thơ T T Tậ ậ ập p p th th thơ ơ ơ kh kh khô ô ông ng ng ttttêêêên n n nhưng chưa cho

in thành sách Sau năm 1945, thơ Chế Lan Viên thể hiện sự chuyển biến trong nhận

thức và tư tưởng của nhà thơ Sự ra đời của tập thơ G G Gử ử ửiiii ccccá á ácccc anh anh anh (1954) là một minh

chứng cho sự thay đổi đó Được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp, tậpthơ đã thể hiện lòng khát khao hướng về thực tại đời sống và nhân dân, phục vụ chocông cuộc đấu tranh, giành lại Tổ quốc

Sau năm 1954, thơ Chế Lan Viên thắm nhuần tư tưởng cách mạng, quần chúngnhân dân Đặc biệt là trong thời kì từ 1960-1975, thơ Chế Lan Viên mang đậm chất sửthi hào hùng, chất chính luận sắc bén cùng với tính thời sự thể hiện đậm nét trong thơông Bám sát thực tế đấu tranh dân tộc trước kẻ thù lớn mạnh là đế quốc Mĩ và tay sai,thơ Chế Lan Viên mang âm hưởng ca ngợi Tổ quốc và con người cách mạng trong

Trang 11

công cuộc giải phóng đất nước Nhiều bài thơ của ông trong thời kì này đã gây xúccảm mạnh mẽ đối với cách mạng và quần chúng nhân dân, thể hiện được cái nhìn tinh

tế của nhà thơ về cuộc sống và khát vọng hòa hợp vào cuộc sống Những bài thơ này

được tập hợp thành những tập thơ: Á Á Ánh nh nh ssssá á áng ng ng vvvvà à à ph ph phù ù ù sa sa sa (1960), Hoa Hoa Hoa ng ng ngà à àyyyy th th thườ ườ ường ng ng, chim chim b b bá á áo o o b b bã ã ão o o (1967), Nh Nh Nhữ ữ ững ng ng b b bà à àiiii th th thơ ơ ơ đá đá đánh nh nh gi gi giặ ặ ặcccc (1972), Đố Đố Đốiiii tho tho thoạ ạ ạiiii m m mớ ớ ớiiii (1973), H H Há á áiiii theo theo m m mù ù ùa a a (1976).

Sau năm 1975 và nhất là những năm tháng cuối đời, thơ Chế Lan Viên trở vềcuộc sống đời thường Thơ của ông trong thời kì này thể hiện sự băn khoăn, trăn trởcủa cái tôi trước sự vĩnh hằng của đời sống và lịch sử Chất triết lí, giàu suy tư của

người từng trải thể hiện rõ nét trong tập thơ Ta Ta Ta g g gử ử ửiiii cho cho cho m m mìììình nh nh (1986), và Di Di Di ccccả ả ảo o o th th thơ ơ ơ I, I,

II, II, III, III, III, tập thơ sau này được nhà văn Vũ Thị Thường – vợ của nhà thơ cho in lần lược

vào các năm 1992, 1993, 1994 Không những vậy, thời kì sau năm 1975 còn ghi nhận

sự thành công đỉnh cao của Chế Lan Viên trong việc tìm cái mới ở thể thơ tứ tuyệt qua

tập thơ Hoa Hoa Hoa tr tr trêêêên n n đá đá đá (1984).

Chế Lan Viên còn là cây bút văn xuôi tài năng với các tập bút kí V V Và à àng ng ng sao sao

(1942), Th Th Thă ă ăm m m Trung Trung Trung Qu Qu Quố ố ốcccc (1963), Nh Nh Nhữ ữ ững ng ng ng ng ngà à àyyyy n n nổ ổ ổiiii gi gi giậ ậ ận n n (1966), Gi Gi Giờ ờ ờ ccccủ ủ ủa a a ssssố ố ố th th thà à ành nh

(1977),… Các tập tiểu luận, phê bình văn học cũng gây tiếng vang lớn với V V Và à ào o o ngh ngh nghềềềề

(1962), Ph Ph Phêêêê b b bìììình nh nh vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc (1962), Suy Suy Suy ngh ngh nghĩĩĩĩ vvvvà à à b b bìììình nh nh lu lu luậ ậ ận n n (1971), Bay Bay Bay theo theo theo đườ đườ đường ng ng d d dâ â ân n ttttộ ộ ộcccc đ đ đang ang ang bay bay bay (1976), Ngh Ngh Nghĩĩĩĩ ccccạ ạ ạnh nh nh d d dò ò òng ng ng th th thơ ơ ơ (1981), T T Từ ừ ừ g g gá á ácccc Khu Khu Khuêêêê V V Vă ă ăn n n đế đế đến n n qu qu quá á án n n Trung Trung

T Tâ â ân n n (1981), Ngo Ngo Ngoạ ạ ạiiii vi vi vi th th thơ ơ ơ (1987).

1.1.3 1.1.3 Quan Quan Quan ni ni niệệệệm m m ssssá á áng ng ng ttttá á ácccc

1.1.3.1 1.1.3.1 Quan Quan Quan ni ni niệệệệm m m ccccủ ủ ủa a a Ch Ch Chếếếế Lan Lan Lan Vi Vi Viêêêên n n v v vềềềề ng ng ngườ ườ ườiiii llllà à àm m m th th thơ ơ

Quan niệm về nghề thơ hay “thợ thơ” của Chế Lan Viên được thể hiện chủ yếuqua các cuộc nói chuyện văn chương, phê bình văn học và ở một số bài thơ trong sángtác của ông

Trước cách mạng tháng Tám, theo Chế Lan Viên: “Thi sĩ không phải là người

Nó là Người mơ, Người say, Người điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tỉnh, là Yêu.

Nó xối trộn Dĩ vãng Nó ôm trùm Tương Lai” [20; tr.9] Người làm thơ theo quan niệm

của ông không phải là một người bình thường, đó là một con người phi thường đầy đủtrạng thái của người “điên loạn”, từ say, mơ, mộng, ảo, ma, quỷ,… cho đến khả năng

ôm trùm thời gian dĩ vãng và tương lai Và người ta không thể hiểu “Nó” vì theo lí giảicủa Chế Lan Viên: “Vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa đó hợp

Trang 12

lí Nhưng thường thường nó không nói Nó gào, nó thét Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt đầu,

nó khóc trào nước mắt, nó cười tràn cả tủy là tủy Thế mà có người tự cho là hiểu được nó, rồi đem so sánh với Người, và chê nó là giả dối với Người Với nó, cái gì nó cũng có cả.” [26; tr.9] Có thể nhận thấy trong phát biểu trên dấu ấn của chủ nghĩa siêu

thực thể hiện rõ qua quan niệm Chế Lan Viên về người làm thơ Ông đề cao yếu tố phi

lí trong thơ, nhu cầu phá vỡ lí trí, logic trong nhận thức thông thường Nhà thơ phảichân thành với cảm xúc từ miền vô thức, mặc cho miền vô thức ấy vô nghĩa, phi lí nhưJung đã từng nói: “Chỉ những người không biết mới hỏi bức tranh là có ý nghĩa gì Họ

dường như nghĩ rằng bức tranh là vô giá trừ khi nó có thể được hiểu bằng trí tuệ Đối với người thi sĩ không nhất thiết phải tin vào bức tranh của mình, anh ta không bao giờ sẽ nghĩ như vậy Anh ta dựa trên cảm xúc Đối với anh ta, bức tranh không có ý nghĩa gì nhưng anh ta thích vẽ nó, đánh giá nó không vì giá trị nghệ thuật mà vì cảm nhận về sự tự do hay những thành quả đạt được cùng sự tạo ra nó.” [4; tr.125] Để lí

giải cho những cái vô nghĩa nhưng hợp lí, ông đã ví dụ về dòng sông Linh, ngườiDũng Sĩ trong sách của ông và hỏi người đọc “Sông Linh ở đâu? Người Dũng Sĩ ăn

mặc như thế nào?” rồi ông tự lí giải “Hãy nghĩ lại! Có ai thấy, vào buổi chiều, rụng ở trong Tháp một viên gạch cũ mà hỏi: Viên gạch ấy chu vi, diện tích bao nhiêu? Đúc từ đời nào? Ở đâu? Bởi ai? Và để làm gì?” [26; tr.9] Đây là lối đối – đáp thông minh của

nhà thơ vừa thể hiện quan niệm về cái vô nghĩa mà hợp lí của người làm thơ, vừa cụthể hóa vấn đề nhà thơ trình bày Nói tóm lại, dấu ấn của chủ nghĩa siêu thực đã ảnhhưởng lớn đến quan niệm của Chế Lan Viên về người làm thơ Quan niệm này chiphối hầu hết những sáng tác của ông từ thơ và nhất là trong văn xuôi giai đoạn trướccách mạng tháng Tám Tuy mang dấu ấn siêu thực nhưng từ quan niệm này cũng cóthể nhận thấy, người thi sĩ trong mắt của Chế Lan Viên đã được nâng lên một vị trímới: Trong văn học trung đại, nhà thơ phải tuân theo sự gò bó tình cảm được quy địnhtheo ý thức hệ Nho gia thì giờ đây, người làm thơ có thể tự do bày tỏ cảm xúc củamình, thậm chí có thể vượt xa mỗi cảm xúc thông thường để vươn đến đỉnh cao củacảm xúc, phi lí trí

Sau cách mạng tháng Tám, cùng với một số nhà thơ khác như Lưu Trọng Lư,

Tế Hanh, Xuân Diệu, Huy Cận, … Chế Lan Viên đến với Đảng bằng một niềm tincháy rực Tưởng chừng như đi sâu vào bóng tối của cõi siêu hình, nhưng ánh sáng củaĐảng đã kéo Chế Lan Viên về với thực tại, soi rọi, khơi gợi niềm tin, lí tưởng cho

Trang 13

người thi sĩ Và Đảng đã thực sự đưa những con người như Chế Lan Viên từ mộtngười đến với mọi người, TT Từ ừ ừ thung thung thung llllũ ũ ũng ng ng đ đ đau au au th th thươ ươ ương ng ng đế đế đến n n ccccá á ánh nh nh đồ đồ đồng ng ng vui vui vui để Bay Bay Bay theo theo đườ đường ng ng d d dâ â ân n n ttttộ ộ ộcccc đ đ đang ang ang bay bay bay Sự chuyển biến này đã tác động sâu sắc không chỉ trong

quan niệm sáng tác thơ mà còn cả quan niệm của ông đối với người làm thơ

Ông quan niệm: “Thơ là một nghề rất nghiêm túc” [17; tr.309] nên người cầmbút trước tiên phải là người chân chính và phải có tài Từ cái chân chính, tài năng ấy,người làm thơ phải biết không ngừng học hỏi, rèn luyện vốn sống để có một trực giáclinh hoạt, nhạy cảm trước vấn đề của cuộc sống Đồng thời, chính vì xem thơ là mộtnghề nghiêm túc nên Chế Lan Viên đòi hỏi người làm thơ phải lao động miệt mài, cần

cù Sự ra đời của một tác phẩm thể hiện được công sức, sự khổ luyện của người làmthơ trong quá trình lao động Ông ví như một người làm thơ cũng như con ong mật:

“Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật Một giọt mật thành, đòi vạn chuyến ong bay

Nay rừng nhãn thôn Đoài, mai vườn cam xứ Bắc Mật ngọt ở đồng bằng mà hút nhụy tận miền tây”

(Ong Ong Ong vvvvà à à m m mậ ậ ậtttt)

Sự cần cù, chăm chỉ là đức tính cần có của người làm thơ, nhưng điều quantrọng hơn là người làm thơ phải tự ý thức về mình để có bước đi cho phù hợp Ông vínhà thơ như một ngọn hải đăng phải biết tự mình “chớp”, “xoay” thì mới có thể phátsáng được Tác phẩm cũng như một mùa gặt, người làm thơ muốn tác phẩm của mìnhhay thì phải biết cách gieo hạt, cách chọn giống:

“Người gieo là anh và người gặt cũng là anh, Chỉ gieo những cơn gió và gặt về mùa đào sao được?

Anh muốn gặt trang phì nhiêu sao anh lại cầm thóc lép để mà gieo?”

(S S Sổ ổ ổ tay tay tay th th thơ ơ ơ)

Đối với Chế Lan Viên, người làm thơ phải có lập trường và tư tưởng, lậptrường là cái có đầu tiên, và tư tưởng là cái then chốt Có lập trường tư tưởng thì nhàthơ, nhà văn mới có thể nói đúng được cái tốt, cái xấu và tránh được cái “ba phải”trong thơ Có lập trường, tư tưởng vẫn còn chưa đủ, Chế Lan Viên quan niệm lậptrường, tư tưởng phải đi đôi với hành động thì thơ mới có hồn, sống động

Thơ ca từ lâu vốn gắn liền với cuộc sống, từ cuộc sống mà đi ra Theo Tố Hữu,thơ chính là “cái nhụy của cuộc sống”, vì vậy nhà thơ muốn “có nhụy” thì “Chính

Trang 14

mình phải hút được cái nhụy của cuộc sống, phải phấn đấu cho cuộc đời có nhụy”

(Tâm sự làm thơ) Chế Lan Viên cũng đề cao vai trò của thực tế cuộc sống đối với nhàthơ, theo ông, cuộc sống dạy cho người làm thơ cách sống giữa chốn phức tạp của nó:

“Ở cùng ta (cuộc sống- Người viết) thêm vài ngày, ngươi sẽ bắt đầu hiểu ta, và chẳng

vì thế mà mi ghét ta Nhưng hãy ở cùng ta thêm vài ngày nữa người sẽ hiểu sâu ta và

vì thế, ngươi yêu ta vĩnh viễn” [24; tr.295] Có vốn sống thực tế thì nhà thơ mới có tư

tưởng phong phú, vì vậy, Chế Lan Viên khuyên nhà văn, nhà thơ phải biết hướng mình

ra cuộc sống, biết dời lòng đến những trời cao, cạnh bể, đến những ngã ba, ngã tư củacuộc đời để cảm nhận cuộc sống, thế thì những trang thơ, văn mới hay, mới hấp dẫn,ông viết: “đừng ở trong phòng! Mà sáng nay anh phải thấy bể để chiều nay ghép nó với chữ trời, mười năm trước anh phải sống với cuộc kháng chiến để giờ đây ghép nó với chữ hòa bình, và luôn phải ra khỏi nhà mình, vào trong thực tế khách quan, để lúc trở về, tâm hồn mới có nhiều tương quan đột ngột” [23; tr.248] Có hòa nhập với cuộc

sống thì người làm thơ mới có thể hiểu được sự vận động của cuộc sống với bao nốtthâm trầm, từ đó thêm cố gắng hơn trong công việc của mình, ông đã tâm tình điều

này trong bài Đ Đ Điiii th th thự ự ựcccc ttttếếếế:

“Suốt cuộc đời ăn hạt gạo nhân dân

Ngày thứ nhất nhà thơ đi học cấy Bỗng hối tiếc nghìn câu thơ nước chảy Chửa vì người bằng một bữa cơm ăn.”

Nhà thơ đối với Chế Lan Viên cần học cách “cho và nhận” Ông đã từng nói:

“tâm hồn của người thi sĩ đẹp ở chỗ nó biết nhận và càng đẹp hơn ở chỗ nó biết cho”[24; tr.272], “cho” theo quan niệm của Chế Lan Viên chính là đem tâm hồn của mìnhcho dân tộc, nhân dân, cho chiến thắng “Cho” và “nhận” gắn bó mật thiết với nhau, có

“cho” thì mới có “nhận” Xuất phát từ điều này, ông giải thích những người không có

gì để “cho” là vì “họ không có nhận được gì Họ không nhận được cái đau, cũng

không nhận được cái vui, họ cũng không nhận được máu chảy ra từ sự chia cắt” [24;

tr.273]

Chế Lan Viên quan niệm một nhà văn, nhà thơ thành công là khi anh ta biếtthừa hưởng những kinh nghiệm và những giá trị của thế hệ trước, nhưng quan trọng làanh ta phải nắm bắt được cuộc sống hiện nay Bởi vì cuộc sống luôn vận động và phát

Trang 15

triển, những biến động của xã hội đôi khi được tính bằng ngày, phút, giây, vì thế đòihỏi nhà thơ cần bám sát và phải nhạy bén trong việc nắm bắt vấn đề cuộc sống:

“Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây Đều có cái gì của đời không giống trước Miễn là anh lắng tai

Nếu anh ghi lại thì dòng sông kia ở lại

Và anh để đời trôi xuôi thì nước cũng trôi xuôi”

(Ngh Ngh Nghĩĩĩĩ vvvvềềềề ngh ngh nghềềềề ngh ngh nghĩĩĩĩ vvvvềềềề th th thơ ơ ơ ngh ngh nghĩĩĩĩ )

Ông cũng đã từng khuyên những người đi trước:

“Khi anh gần chạng vạng Thì có người bình minh Đừng lấy hoàng hôn ngăn cản Ban mai của họ sinh thành”

(Đừ Đừ Đừng ng ng ng ng ngă ă ăn n n ccccả ả ản n n)

Ngoài khả năng bám sát vào cuộc sống, khả năng quan sát của người cầm bútsáng tác văn học nói chung và nhà thơ nói riêng rất quan trọng Có quan sát thì nhà thơmới nắm bắt được nhịp độ của cuộc sống, mới hiểu được bản chất của sự vật vốn bịnhững hiện tượng đơn nhất bên ngoài che khuất Nói về khả năng quan sát của nhà thơ,Chế Lan Viên quan niệm nhà thơ phải chú ý quan sát, ông ví như muốn tả chữ “bể” thìphải thấy nhiều “bể”, đó là “bể vào lúc chiều, lúc yên lặng, lúc cuồng phong, vào mùa đông, hè ”[23; tr.146] Ngoài ra, Chế Lan Viên quan niệm, mỗi nhà thơ phải có sự

linh hoạt và khả năng nhìn xa trông rộng: “trong văn và thơ phải có con mắt to của

nhà triết học để thấy nam, bắc, đông, tây Đồng thời phải có con mắt bé như kiến để phát hiện chi tiết Mỗi chi tiết làm nên nhà thơ lớn” [25; tr.843], hay đôi khi nhà thơ

như một con bói cá phải có tầm nhìn xa trông rộng:

“Nhà thi sĩ như con bói cá, mắt bao gồm đầm hồ Bát ngát, phải thấy cả tam thiên mẫu của đời, Trước khi lao vào bắt một chú cá con”

(Ngh Ngh Nghĩĩĩĩ vvvvềềềề ngh ngh nghềềềề ngh ngh nghĩĩĩĩ vvvvềềềề th th thơ ơ ơ ngh ngh nghĩĩĩĩ )

Nền thơ ca nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung rất cần những ngườinghệ sĩ có phong cách Chính những phong cách của mỗi tác giả không chỉ góp thêmhương sắc cho vườn văn mà còn khẳng định sự trưởng thành của phong trào văn học

Trang 16

Để có cái riêng, nhà thơ phải có sự lao động chăm chỉ cùng với thái độ không ngừngtìm tòi, học hỏi, bởi theo ông, cái đẹp len lõi khắp mọi nơi nên nhà văn, nhà thơ phảitìm những khía cạnh, lấy cái rất riêng để diễn tả những cái thông thường, thế thì nhàvăn, nhà thơ mới có thể có dấu ấn phong cách của mình với bạn đọc và nền văn học.

1.1.3.2 1.1.3.2 Quan Quan Quan ni ni niệệệệm m m ccccủ ủ ủa a a Ch Ch Chếếếế Lan Lan Lan Vi Vi Viêêêên n n v v vềềềề th th thơ ơ

Trước cách mạng tháng Tám, quan niệm thơ Chế Lan Viên chịu ảnh hưởng củakhuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật Ông đã từng nói: “Nếu vẫn cứ quốc gia, đạo

đức, xã hội luân thường thì ba phần tư nhân loại sẽ chết vì đau dạ dày” [23; tr.30].

Ông quan niệm, mĩ thuật là phải huyền bí, huyễn tưởng thì mới vựt dậy được cái đẹp:

“Mĩ thuật là thần bí Sự linh thiêng cần phải đẹp mới dậy nổi những sóng bể khát thèm,

cái đẹp không linh thiêng sao có thể đè nén những nỗi khiếp sợ.” [23; tr.30] Đồng thời,

quan niệm về thơ và tác phẩm văn học nói chung, Chế Lan Viên đặt sự tương quan

giữa độc giả với tác phẩm Trong T T Tự ự ựa a a của tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n ông từng nói: “Đọc tập

Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n này xong, nếu lòng anh vẫn dửng dưng không có lấy một cơn sóng gió thì xin

anh hãy cầu khẩn tất cả những gì Thiêng Liêng, những gì cao cả tha tội cho phạm nhân là tôi đây Nếu, khi đọc xong mà cái Buồn, cái Chán, cái Hãi hùng cùng ùa nhau đến bọc hồn anh (…) thì xin anh chớ hẹp hòi gì mà cười cho mênh mang, gào cho vỡ

cổ, khóc cho hả hể, rồi gửi cái cười, cái gào cái khóc ấy cho không trung.” [26; tr.10]

Từ đoạn trích trên có thể nhận thấy, vai trò của người đọc và cảm xúc của người đọcgiữ vai trò quan trọng trong việc cấu thành sự thành công của một nhà thơ Đặt vị tríngười đọc làm trung tâm, tác phẩm nói chung phải khơi dậy sợi dây cảm xúc bên trongtâm hồn người đọc và phải có tác dụng nhất định với họ: “Mỗi người đọc lấy mười lần,

làm một bài toán nhân, phải chăng chúng ta đã có một số lớn bằng quần chúng Được như thế, quyển sách cần phải đủ sức vẹn nguyên và khác lạ sau mỗi lúc dùng xong –

đủ sức làm cho họ kém đi hay bồi đắp thêm sau khi đọc sách.” [23; tr.13]

Nhìn chung, quan niệm về thơ của ông trong giai đoạn này có sự tiến bộ nhấtđịnh khi ông nhấn mạnh vai trò và tương tác của độc giả với tác phẩm Tác phẩmchính là chiếc cầu nối giữa nhà văn với người đọc, thông qua tác phẩm, người đọc cóthể nắm bắt nội dung tư tưởng mà nhà văn muốn truyền đạt, chính vì vậy, một tácphẩm hay phải thực sự tác động đến nhận thức, tình cảm người đọc Đây là quan niệmmới về văn học nói chung của ông mà ít những nhà phê bình, lí luận trong thời giannày làm được

Trang 17

Sau cách mạng tháng Tám, quan niệm thơ Chế Lan Viên có sự chuyển biến rõrệt Quan niệm thơ của ông gắn với nhân dân và quần chúng, thể hiện bước đi tích cựctrong nhận thức về thơ của Chế Lan Viên.

Nền văn học Việt Nam nói chung và nền thơ ca Việt Nam nói riêng ngày càngkhẳng định bước tiến trong công cuộc hiện đại hóa trong thơ Tắm trong dòng chảyhiện đại ấy, thơ phải đi từ nội dung đến hình thức thể hiện phải hiện đại Chế Lan Viênquan niệm, một bài thơ được coi là hiện đại khi trong thơ thể hiện được “sự sống hiện

đại, cách xúc cảm hiện đại trước cuộc sống Rồi mới đến cách biểu hiện hiện đại về cuộc sống và xúc cảm.” [24; tr.332] Có thể nói, nhu cầu hiện đại hóa trong thơ ca là

điều cần thiết nhằm không ngừng đáp ứng nhu cầu cách tân của thời đại Vì thế, nhàthơ phải học hỏi từ hiện đại để tìm cái mới phục vu cho công cuộc hiện đại hóa ấy.Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Chế Lan Viên không ngừng tìm tòi, khám phánhững cái mới của giá trị thơ ca Theo ông thơ ca phải luôn đổi mới để đáp ứng nhucầu sáng tác của nhà thơ, ông chủ trương:

“Đừng làm những câu thơ khuôn mình theo văn phạm

Như những cây quá thẳng chim không về”

(S S Sổ ổ ổ tay tay tay th th thơ ơ ơ)

Quan niệm này đã góp phần cho việc giải phóng, khai thác tối đa tiềm năngcảm xúc của người làm thơ trong sáng tác Tuy nhiên, cách tân thơ là để làm chonhững câu thơ trở nên mới lạ và hay chứ không phải phá vỡ để “cú bất thành cú, thơbất thành thơ”

Theo quan niệm của Chế Lan Viên, thơ phải có ích Ông coi đó là bước đầu tiên,khởi đầu của người làm thơ, và thơ phải có tác dụng nhất định với người tiếp nhận:

“Đừng làm những những bài thơ ‘lớn’, suông mà không ai

thèm đọc

Vì không lo cho việc nhỏ của đời.

Bài thơ là con trận đánh, của vụ mùa, của các giọt

Trang 18

Là người sống trong suốt thời kì kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mĩ, ChếLan Viên ý thức rất rõ sự mất mác, hy sinh của dân tộc Vì vậy, thơ đối với ông còn là

vũ khí chiến đấu để góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước Ông quan niệm, mỗicâu thơ, bài thơ được sinh ra từ chiến đấu của nhân dân, thơ mang lại niềm tin và sứcchiến đấu cho cả dân tộc, cho nên “Thơ là vũ khí quý báu của chúng tôi” [18; tr.387]

Vũ khí trong thơ là sự tiếp nối truyền thống hào hùng của thế hệ đi trước với nhữngcon người đã hy sinh cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc:

“Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng

Súng thơ tôi, tôi kề lên xác đời anh”

(Nh Nh Nhậ ậ ậtttt k k kíííí ở ở ở b b bệệệệnh nh nh vi vi việệệện n n)

Và:

“Cho ai cũ thơ tôi làm ướt áo

Nay họ về sưởi ấm dưới thơ tôi”

“Giờ hòa bình tôi vẫn làm thơ- nhặt lá

Không phải vì đất nước mình còn chiến tranh

nghèo khó

Mà có bao nhiêu thằng đang sống xa hoa

Vì bọn người thoái hóa Khiến cho thắng trận rồi mà vẫn còn nhặt lá – kẻ làm thơ”

(H H Hồ ồ ồiiii k k kíííí)

Nhìn thấy “bọn người thoái hóa” đang hoành hành trong xã hội với cuộc sốngnghèo khổ của người dân, nhất là những người có công trong sự nghiệp đấu tranhchung dân tộc, Chế Lan viên đã từng hổ thẹn vì những câu thơ của mình chưa giải đápđược cuộc đời, cho số phận của người lính sau chiến tranh Đó cũng chính là sự suy tưcủa tác giả về vị trí, vai trò của người làm thơ trong thời bình:

Trang 19

“Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong

Mà tôi xấu hổ Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười”

(Ai? Ai? Ai? T T Tô ô ôi! i! i!)

Quan niệm về vị trí, vai trò của thơ và người làm thơ Chế Lan Viên có sự thayđổi rõ rệt từ trước và sau năm 1945 Nếu trước năm 1945, thơ và người làm thơ theoquan niệm Chế Lan Viên ít nhiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực,thì sau năm 1945 cho đến thời bình, thơ ông thể hiện sự gắn bó sâu sắc với thời đại,con người và cuộc sống Những chia sẻ, quan niệm của ông về thơ và người làm thơrất đáng để những người sau học hỏi và noi theo Đồng thời, từ quan niệm trên có thểnhận thấy, Chế Lan Viên là một nhà thơ có tâm huyết và tận tụy với nghề Nhữngdòng hồi kí của Võ Văn Trực về Chế Lan Viên trong những ngày cuối đời ở bệnh việnkhiến người đọc không khỏi cảm động về tinh thần làm việc không mệt mỏi của nhàthơ: “Chế Lan Viên hăm hở ngỡ như mình đang dần dần trở về trạng thái bình thường

Anh không thấy cơ thể đau đớn gì cả, nên càng hăng hái viết, giành giật thời gian viết câu thơ này rồi viết câu thơ khác, làm xong bài này rồi làm bài khác Viết ở nhiều tư thế Ngồi viết Nằm sắp viết Nằm nghiêng viết Những tờ giấy rời nằm rải rác ở đầu giường cuối giường…” [17; tr.265]

1.2 1.2 V V Và à àiiii n n néééétttt v v vềềềề v v vấ ấ ấn n n đề đề đề phong phong phong ccccá á ách ch ch ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt

Phong cách (cách nói tắt của phong cách nghệ thuật) từ lâu đã trở thành vấn đềthu hút đông đảo giới nghiên cứu và phê bình văn học Victo Hugo đã từng nói:

“Tương lai chỉ thuộc về những ai nắm được phong cách” [12; tr.205], câu nói đã nhấnmạnh tầm quan trọng của phong cách đối với thực tiễn sáng tác, nghiên cứu và phêbình nói chung Tuy nhiên, cho đến ngày nay giới nghiên cứu vẫn chưa có khái niệmthống nhất trong định nghĩa về phong cách nghệ thuật

Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Nh Nh Nhà à à vvvvă ă ăn n n Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam Nam hi hi hiệệệện n n đạ đạ đạiiii Ch Ch Châ â ân n n dung dung dung vvvvà à Phong Phong ccccá á ách ch ch đã dành vài trang đầu để nói về phong cách nghệ thuật Ông nhìn nhận

phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ, là một chỉnh thể nghệ thuật Quantâm đến thế giới nghệ thuật bên trong của nhà văn trong việc thể hiện phong cách củanhà văn đó, ông viết: “Mỗi nhà văn có phong cách tạo cho mình một thế giới nghệ

Trang 20

thuật riêng Thế giới ấy dù đa dạng đến đâu cũng có tính thống nhất Cơ sở của tính thống nhất này là một nhỡn quan riêng về thế giới và sâu xa hơn nữa là tư tưởng nghệ thuật riêng của nhà văn” [14; tr.6, 7] Mặc dù phong cách của nhà văn có sự vận động

từ tác phẩm này sang tác phẩm khác nhưng theo ông khi phong cách đã định hình thìmang tính bền vững

Cũng nhắc đến phong cách nghệ thuật, Phan Ngọc trong T T Tììììm m m hi hi hiểểểểu u u phong phong phong ccccá á ách ch Nguy Nguyễễễễn n n Du Du Du trong trong trong truy truy truyệệệện n n Ki Ki Kiềềềều u u đã nâng tầm vóc phong cách nghệ thuật của một nhà

văn Ông cho rằng, yếu tố làm nên phong cách của nhà văn khi: “anh ta đóng góp đặc

biệt mà trong thời đại mình không ai làm được Không những thế, những đóng góp của anh ta ngoài thời đại đến nỗi thời đại sau có thể bắt chước mà khó có thể vượt qua” [15; tr.9] Phan Ngọc cho rằng, phong cách là sự lặp lại ở tần số nhất định những

nét khu biệt thì mới tạo được sự chú ý và dấu ấn trong lòng người đọc Phong cáchkhông tách rời giữa nội dung và hình thức, hai yếu tố này không ngừng tác động qualại lẫn nhau trong phong cách của nhà văn, ông viết: “Trong phong cách có nội dung,

nhưng nội dung được xác định theo hình thức được xác định theo cái hình thức riêng thích hợp với một nội dung khác” [15; tr.14] Ngoài ra, phong cách theo Phan Ngọc

còn mang tính chỉnh thể, tính cấu trúc Chính vì tính chất đó nên người nghiên cứu cóthể nhận ra tác giả, thời gian ra đời tác phẩm, dấu ấn thời đại trong sáng tác của mộtnhà thơ Phong cách còn có khả năng khu biệt tác giả này với tác giả khác, đồng thờikhẳng định sự đóng góp của tác giả đó với mai sau: “Một tác giả chỉ có một phong

cách riêng khi đọc vài câu người ta đón biết tác giả là ai, khi cái phong cách mà tác giả xây dựng góp phần vào truyền thống văn hóa văn học, trở thành mẫu mực cho nhiều người khác nôi theo và học tập” [15; tr.34]

Trong cuốn T T Từ ừ ừ đ đ điiiiểểểển n n thu thu thuậ ậ ậtttt ng ng ngữ ữ ữ vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc của Lê Bá Hán cùng các tác giả đã định

nghĩa về phong cách nghệ thuật: “Phong cách nghệ thuật là phạm trù thẩm mĩ chỉ sự

thống nhất của hệ thống hình tượng của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo của nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” [10; tr.255, 256] Nhóm tác giả cho rằng, phong cách nghệ thuật có thể tri

giác được qua những yếu tố cơ bản của hình thức nghệ thuật, đồng thời “phong cách là

nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một chỉnh thể có thể cảm nhận được một giọng điệu, sắc thái thống nhất” [10; tr.256].

Khẳng định tài năng, những nét có tính chất lặp lại trong hình thành phong cách của

Trang 21

một tác giả, nhóm tác giả viết: “Không phải nhà văn nào cũng có phong cách, chỉ có

những nhà văn có tài, có bản lĩnh mới có được phong cách độc đáo Cái nét riêng ấy thể hiện các tác phẩm và được lặp đi, lặp lại trong những tác phẩm của nhà văn làm

ta có thể nhận ra sự khác nhau” [10; tr.256] Ngoài ra, các nhân tố khác như tâm lí,

khí chất, cá tính theo nhóm tác giả cũng quan niệm chúng cũng có ảnh hưởng đến sựhình thành phong cách của một nhà văn

Trong cuốn V V Vă ă ăn n n ttttâ â âm m m đ đ điiiiêêêêu u u long long long, Lưu Hiệp cũng có nhắc tới một số đặc điểm

của phong cách nghệ thuật Thuật ngữ phong cách được ông gắn liền với khí chất củangười làm thơ, cái khí chất ấy theo ông ảnh hưởng nhiều từ sự rèn luyện, tình cảm từbên ngoài: “Người ta do chỗ tình cảm và bản tính đào luyện, do sự giáo dục và ảnh

hưởng từ bên ngoài (nhiễm là nhuộm) tích lũy lại mà lời văn và sáng tác mỗi người một khác” [2; tr.192] Bên cạnh yếu tố bên ngoài, lối văn trình bày của tác giả cũng có

thể nhận thấy được trình độ học vấn của tác giả Lưu Hiệp cũng cho rằng, phong cáchđược hình thành từ cái tâm của tác giả đó Và theo ông, do mỗi người có cái tâm khácnhau cho nên lời văn cũng khác nhau: “Phong cách cứng hay mềm, [muốn đổi] may ra

chỉ có cách đổi khí chất (…) Mọi người đều lấy cái tâm của mình làm thầy, cho nên đều khác nhau như mặt người” [2; tr.193] Ngoài ra, khi bàn về phong cốt của nhà văn,

Lưu Hiệp cho rằng đây là hai yếu tố làm nên “tính tình và khí chất” của nhà văn Ôngtừng viết: “khi lòng đau xót cảm hoài muốn bộc lộ tình cảm mình thì thế nào cũng bắt

nguồn từ phong Khi ngâm vịnh trình bày lời văn thì không có gì quan trọng hơn cốt cách.” [2; tr.195] Ông so sánh cái cốt cách của con người cũng như bộ xương, tình

cảm chứa đựng cái phong cũng như các hình hài chứa khí chất, và “Khi lời văn được

xếp đặt đúng đắn và thẳng thì cái cốt cách của văn đã hình thành Nếu ý chí và khí chất [của nhà văn] hăng hái mạnh mẽ thì cái phong cách của nhà văn có tác dụng cảm hóa Nếu lời văn giàu có đầy đủ mà phong cách, cốt cách vẫn không bay bổng được thì đó là vì màu sắc văn mất vẻ tươi và âm thanh để nâng đỡ văn không có sức.”[2; tr.196, 197] Đóng góp của Lưu Hiệp chính là ông đã đặt phong cách với

phong thái, cốt cách (phong cốt) để làm nên cái khí chất của nhà văn, đồng thời, ôngcòn rất xem trọng cái tâm, sự đào luyện, tập dượt của nhà văn cũng như các yếu tố bênngoài của giáo dục Đây là lí luận mới so với đương thời mà ông sinh sống và cũng làtài liệu quý cho nghiên cứu phong cách của nhà văn thời hiện đại

Trang 22

Nói đến phong cách không thể không nhắc đến cuốn C C Cá á á ttttíííính nh nh ssssá á áng ng ng ttttạ ạ ạo o o ccccủ ủ ủa a a nh nh nhà à vvvvă ă ăn n n vvvvà à à ssssự ự ự ph ph phá á átttt tri tri triểểểển n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc của M.B Kharapchenko Trong cuốn sách này, ông đã

dành hẳn một chương để nói đến phong cách, theo đó, phong cách được hiểu và địnhnghĩa theo nhiều cách khác nhau Ar.Grigorian cho rằng: phong cách gắn liền với thểgiới quan, bút pháp, phương pháp, thời đại: “Phong cách không thể vô can với phương

pháp, thế giới quan, với bút pháp, với cá nhân nhà nghệ sĩ, với cách hiểu của nghệ sĩ với thời đại, với vẻ đặc thù dân tộc trong sáng tác của anh ta… phong cách là sự thống nhất của tất cả các phạm trù đó” [12; tr.131] Gắn phong cách với ngôn ngữ, V.

Turbin đã từng nói: “Phong cách – đó là ngôn từ được xem xét trong mối quan hệ của

nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và ý nghĩa nẩy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật” [12; tr.131] Còn

theo V.Kovalev thì “Phong cách là một thể thống nhất chỉnh thể của nhà văn …, đó là

qua lại giữa nhiều yếu tố trong hệ thống nghệ thuật của nhà văn, là sự quy định lẫn nhau của những yếu tố đó” [12; tr.132,133] Sau khi đã trình bày những ý kiến khác

nhau về phong cách của các nhà nghiên cứu, M.B Kharapchenko đã nêu ra ý kiếnriêng của mình về phong cách Ông cho rằng, phong cách có liên hệ mật thiết đến cátính sáng tạo của nhà văn: “Phong cách biểu hiện nhiều đặc điểm của cá tính sáng tạo

của nhà văn, sự hoàn chỉnh của nhận thức nhà văn về cuộc sống, của cái nhìn nhà văn về thế giới.” [12; tr.144] Ngoài ra, M.B Kharapchenko còn chỉ ra “tính giao tiếp”

nghệ thuật định hướng nhằm vào độc giả cũng có ý nghĩa trong hình thành phong cáchcủa nhà văn Sự định hướng vào độc giả ảnh hưởng đến cách tổ chức, hình thức sángtạo và kích thích cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật Vì vậy nên ông viết: “Phong cách

một nhà văn thực sự có tài có dung tích bên trong rất lớn, có khả năng ảnh hưởng đến tầng lớp độc giả khác nhau, của thời đại lúc bấy giờ cũng như thời đại sau này.” [12;

tr.151] Phong cách có chức năng là “chiếc máy phát năng lượng” và quan trọng hơn làhình thành cấu trúc bên trong của hình tượng văn học Nói đến các yếu tố biểu hiệnphong cách, ông khá xem trọng giọng điệu, đề tài và tư tưởng của nhà văn đó, theoông phong cách chỉ được thể hiện ở giọng điệu và với hệ thống giọng điệu đa sắc thái,sắc điệu, chúng làm cho việc nhìn nhận và giải quyết vấn đề trở nên phong phú và đadạng Những biểu hiện thủ pháp, kết cấu về không gian và thời gian cũng góp phầnvào việc thể hiện phong cách Đồng thời, việc lựa chọn ngôn ngữ thể hiện cái nhìn mới

mẽ của nhà văn: “… vẻ đặc thù của phong cách đã quy định việc nhà văn lựa chọn

Trang 23

nhiều phương tiện ngôn ngữ cho phép anh ta những dự định sáng tạo của mình.” [12;

tr.195] cũng thể hiện cá tính, cái riêng của nhà văn, nhà thơ đó

Những định nghĩa, cách hiểu khác nhau về phong cách nghệ thuật đã thể hiện

sự tìm tòi của các nhà nghiên cứu trong việc tìm hiểu về phong cách Mặc dù có những

ý kiến khác nhau nhưng nhìn chung phong cách nghệ thuật có những đặc điểm: Khôngphải nhà văn nào cũng có phong cách, chỉ có những nhà văn thực sự tài năng, sáng tạotrong nghệ thuật thì mới có phong cách Phong cách là sư lặp đi lặp lại những dấu hiệuđộc đáo có tính chất khu biệt thể hiện cá tính của nhà văn trong việc nhìn nhận và sángtạo Với tư cách là một chỉnh thể, phong cách nghệ thuật mang tính hệ thống, tínhthống nhất giữa các bộ phận tạo nên phong cách Phong cách thể hiện ở hai bình diện

là nội dung và hình thức nghệ thuật có một quan hệ chặt chẽ với nhau Những đặcđiểm trên là tiền đề cho người nghiên cứu tìm hiểu phong cách nghệ thuật Chế Lan

Viên qua tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n.

Trang 24

2.1 Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n – – – “ “ “ni ni niềềềềm m m kinh kinh kinh d d dị” ị” ị” gi gi giữ ữ ữa a a đồ đồ đồng ng ng b b bằ ằ ằng ng ng th th thơ ơ ơ Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam

2.1.1 2.1.1 S S Sự ự ự đố đố đốiiii llllậ ậ ập p p kh kh khủ ủ ủng ng ng khi khi khiếếếếp p p gi gi giữ ữ ữa a a qu qu quá á á kh kh khứ ứ ứ h h hà à ào o o h h hù ù ùng ng ng v v và à à hi hi hiệệệện n n ttttạ ạ ạiiii đ đ đau au

th thươ ươ ương ng ng ccccủ ủ ủa a a m m mộ ộ ộtttt d d dâ â ân n n ttttộ ộ ộcccc

Sinh ra trên vùng đất Quảng Trị nhưng có một tấm lòng gắn bó sâu sắc vớiBình Định, kinh đô cũ của dân tộc Chàm đã không ngừng ảnh hưởng, tác động đếnnhận thức của cậu bé Phan Ngọc Hoan khi mới mười bốn, mười lăm tuổi Ấn tượng vềnhững tháp Chàm đã được Chế Lan Viên sau này viết trong tập thơ đầu tay của mìnhbằng một sự cảm thông, ám ảnh mãi không thôi:

“Những cảnh ấy trên đường về ta gặp, Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi

Và từ ấy lòng ta luôn tràn ngập Nỗi buồn thương tiếc nhớ giống dân Hời”

(Tr Tr Trêêêên n n đườ đườ đường ng ng vvvvềềềề)

Nước non Chiêm Thành qua cái nhìn của tác giả được xuất phát từ quá khứhùng hồn, mạnh mẽ Họ, những chiến binh Chàm xuất hiện với vẻ hào hùng và sứcmạnh của họ:

“Chim câm tiếng, nắng chiều không dám động

Lá vàng kia sợ hãi cũng thôi rơi Làn suối trắng nghẹn lời trong ngàn rộng…”

(Chi Chi Chiếếếến n n ttttượ ượ ượng ng ng)

Sự mạnh mẽ của quân Chiêm được miêu tả bằng khung cảnh “Chim”, “nắng

chiều”, “lá vàng”, “suối trắng” thì phải “câm”, “không dám động”, “nghẹn” trước sức

mạnh của chiến binh Chiêm Thành Và những con voi Chàm, con vật thiêng và đặctrưng của dân Chàm xuất hiện với vẻ uy nghi, lẫm liệt, tác giả đã sử dụng từ “ngài” với

sự trân trọng và kính phục:

“Giữa ngàn rậm muôn cây chen lá thắm Voi Chàm đi lẳng lặng, đáp uy nghi Cũng rung chuyển, dưới chân ngài, rừng núi thẳm Dưới chân ngài rên rỉ lá vàng, xanh”

(Chi Chi Chiếếếến n n ttttượ ượ ượng ng ng)

Bên Chi Chi Chiếếếến n n ttttượ ượ ượng ng ng, cảnh chiến địa của dân Hời được miêu tả bằng một không

khí quyết liệt với “loa vang”, “máu gào”, “ngựa hí”, những con voi Chàm thì “hung

Trang 25

hăng như sóng bể” bên những đóm lửa và tiếng hét vang của dân Chiêm Bên cạnh đó,

không khí niềm vui chiến thắng đã được nhà thơ làm sống lại bằng những vần thơ:

“Nơi một sáng Đồ Bàn vang tiếng hát Muôn dân Chàm thắng trận giở quân về Đàn chiến tượng, trong hương trầm man mác Cùng oai hùng, lặng lẽ, nặng nề đi”

(Chi Chi Chiếếếến n n ttttượ ượ ượng ng ng)

Không dừng lại ở đó, quá khứ của dân Hời còn được sống lại trong thơ Chế LanViên với cuộc sống thái bình, thịnh vượng của nước non Chiêm Chúng được điểm tôbằng những cung đền, lâu đài, thành quách và những cuộc vui chơi của vua quanChiêm:

“Vua quan Chiêm say đắm thịt da ngà Những Chiêm nữ mơ màng trong tiếng sáo Cùng nhịp nhàng uyển chuyển uốn mình hoa”

(Tr Tr Trêêêên n n đườ đườ đường ng ng vvvvềềềề)

Âm vang cuộc sống thái bình của dân Hời vẫn còn đâu đó trong không gianhiện tại bằng những hình ảnh hết sức bình dị, đó là những chiếc thuyền “nằm mơ trên

sông lặng”, bầy voi Chàm thì “trầm mặt dạo bên thành” và hình ảnh của những người

phụ nữ Chàm:

“Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại ấp

Áo hồng nâu phủ phất xõa lời vui”

(Tr Tr Trêêêên n n đườ đườ đường ng ng vvvvềềềề)

Nhưng những vẻ uy nghi, lẫm liệt của nước non Chiêm Thành giờ đây chỉ còn

là quá khứ Những cung điện, thành quách và những cảnh sống thái bình chỉ nhắc lại

và làm đau thêm vết thương dân Hời Viết về hiện tại của dân Hời, giọng điệu buồnthương lan tỏa trong khắp những vần thơ Chế Lan Viên Dòng sông Linh, nơi chiếntrường ác liệt xưa dường như cũng buồn theo dòng chảy quá khứ ấy, thế nên chúngmới: “Quằn quại trôi giòng máu thắm sông Linh” Muôn dân Hời giờ đây xuất hiệnvới những bóng ma sờ soạng, lang thang trong không gian u tối bãi tha ma hoang vu:

“Trong gió rét, tiếng huyết kêu rạo rực Như cô hồn rạo rực bãi tha ma

Trang 26

Khi ồ ạt như muôn năm không đứt

Ồ ạc trôi nguồn máu chiến trường xa”

(S S Sô ô ông ng ng Linh Linh Linh)

Hiện về bên những chiến tượng, tìm những dấu vết xưa, nhưng càng đắm mình

về quá khứ, hiện tại càng đượm vẻ sầu bi tha thiết Cảnh huy hoàng cũ chỉ tạo thêmcho voi Chàm cảm giác nhớ tiếc, khiến chúng “lặng nhìn ngây” với vẻ buồn ảm đạm

Cả không gian với “Ngài” đều thắm “vẻ sầu bi” nhớ tiếc:

“Ngài vội bước trong giòng sâu đón lấy Những ngày xưa theo cuộn nước trôi về Nhưng nước chảy, mơ tan, Ngài bỗng thấy

Cả không gian nhuần thắm vẻ sầu bi”

(Chi Chi Chiếếếến n n ttttượ ượ ượng ng ng)

Và để thoát vẻ u buồn và làm sống dậy trong mình quá khứ xưa, những con voiChàm tự chọn cho mình một hướng giải thoát riêng, đó là cho hồn mình thả theo giótrôi về thành quách xưa:

“Bên sông vắng voi Chàm thôi cất bước

Để hồn trôi theo sóng đế trời xa Đến trời xa, nơi gió vàng tha thướt Bên lâu đài lặng ngủ dưới sương mờ”

(Chi Chi Chiếếếến n n ttttượ ượ ượng ng ng)

Trước vẻ điêu tàn của một dân tộc bị chìm đắm, nhân vật người thi sĩ đã đứnghẳn về phía dân Chàm để bày tỏ niềm thương cảm đối với họ Thậm chí khoảng cáchgiữa nhân vật trữ tình với dân Chàm đã được rút ngắn lại, máu của dân Chàm dườngnhư đã hòa trộn cùng máu của người thi sĩ để ngân lên âm điệu đau buồn hiện tại:

“Thi sĩ sầu, nhìn theo giòng huyết cuốn Tâm hồn trôi theo giòng máu bơ vơ Người lẳng nghe trong thành tim cuồn cuộn Máu dân Chàm lôi mạnh đóng xương khô.”

(S S Sô ô ông ng ng Linh Linh Linh)

Hòa cùng dòng máu của dân Hời, người thi sĩ mong muốn có một “trời xanh”vui vẻ để “ca hát đón xuân về” Thế nhưng, xuân về với vẻ đẹp tươi mát bao nhiêu thìngười thi sĩ càng nhớ vẻ chết chóc xưa bấy nhiêu, nhà thơ đã bảo mình:

Trang 27

“Hãy bảo ta: Cành hoa đào mơn mởn Không phải là khối máu dân Chàm Cành cây thắm nghiêng mình trong nắng sớm Không phải là hài cốt vạn quân Chiêm”

Và:

“Quả dừa xanh không phải đầu chiến sĩ Xác pháo rơi không phải thịt muôn người”

(Xu Xu Xuâ â ân n n vvvvềềềề)

Đọc những vần thơ của tác giả viết về dân tộc Chàm, Chế Lan Viên dường nhưkhông phải là Chế Lan Viên của hiện tại nữa Ông đã hòa nhập vào quá khứ huy hoàngcủa dân Chàm rồi trở về cùng với voi Chàm, hồn ma cất lên dòng thương tiếc, sự cảm

thông của nhà thơ với họ Có lẽ vì vậy mà khi đọc tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, Nguyễn Vĩ, người

sau này giới thiệu tập thơ này ra rộng rãi công chúng bạn đọc, trong lần gặp đầu tiênChế Lan Viên đã thốt lên câu hỏi: “Anh là người Chàm?” [20; tr.145 ] Hàn Mặc Tử,

nhà thơ rất thân với Chế Lan Viên, sau khi đọc tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n đã viết một bài phê

bình, nhận xét về tập thơ này: “Anh ở đâu? Trong bãi tha ma hay trên Nguyệt đàn?

Ngoài chiến trường đầy xương phơi máu đổ hay bên đống gạch nát của ngôi tháp cổ ở đất Chàm!” [1; tr.52 ] Hàn Mặc Tử tỏ ra kính phục về tài năng của Chế Lan Viên nên

sau này ông đã đã viết tặng Chế Lan Viên bài thơ Thi Thi Thi ssssĩĩĩĩ Ch Ch Chà à àm m m, kí tặng Chế Bồng

Hoan Thậm chí, Hoài Thanh đã khẳng định một cách chắc chắn: “vong hồn đau khổ

của giống họ (dân tộc Chiêm Thành) đã nhập vào Chế Lan Viên cho nên dầu không phải họ Chế, Chế Lan Viên vẫn là một nhà thơ Chiêm Thành”[21; tr.221].

Mà thật vậy, nỗi buồn trong tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n chính là nỗi đau về một quá khứ

của dân tộc Chàm Người thi sĩ dường như thấu hiểu được nỗi đau đó:

“Ta hãy nghe, trong lòng bao đỉnh tháp Tiếng thở than lời oán trách cơ trời

Ta hãy nghe, trong gạch Chàm rơi lác đác Tiếng máu Chàm rên rỉ chảy không thôi”

(B B Bó ó óng ng ng ttttố ố ối) i)

Hay:

“Trên đồi lạnh tháp Chàm sao ủ rũ Hay hận xưa muôn thuở vẫn chưa nguôi?

Trang 28

Hay lãnh đạm Hời không về tháp cũ”

(Đê Đê Đêm m m xu xu xuâ â ân n n ssssầ ầ ầu) u)

Thậm chí ở một số câu thơ, Chế Lan Viên đã tự nhận mình là dân của dân tộcHời Dân tộc Hời cùng quá khứ xa xưa của nước non Chiêm Thành dường như mớichính là “đất nước” thực sự của Chế Lan Viên Nhìn những ánh nắng ban mai soi rọikhắp vũ trụ, nhà thơ đã tự hỏi mình:

“Vì bạn ơi trong bao tia nắng rỡ Tia nào rơi tự nước Chàm ta?”

(N N Nắ ắ ắng ng ng mai mai mai)

Muôn thế gian đối với nhà thơ mang trong mình một nỗi buồn vô hạn, muôncảnh vật chỉ gợi thêm vẻ điêu tàn nên nhà thơ đã thốt lên niềm khát khao cháy bỏngcủa mình được về với nước non Chiêm:

“Tạo hóa hỡi hãy trả tôi về Chiêm Quốc Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian”

“Nhạc trần gian khôn vui hồn quạnh quẻ Rượu trần gian gây nhớ vết thương xưa”

(Đ Đ Điiiiệệệệu u u nh nh nhạ ạ ạcccc đ đ điiiiêêêên n n cu cu cuồ ồ ồng ng ng)

Nước non Chàm qua cái nhìn của nhà thơ bên cạnh những thành quách, lâu đài,chiến địa xưa thì hình ảnh người Chiêm nữ là một trong những nhân tố làm nên tập thơ

Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, chính vì vậy sẽ là một thiếu sót nếu không nói đến hình tượng người Chiêm

nữ trong tập thơ này của Chế Lan Viên

Người Chiêm nữ trong tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n gắn liền với trăng, mây, sao và bên

những tháp Chàm Bên cạnh những cô gái Chiêm đẹp với dáng người uyển chuyển

Trang 29

trong những bữa tiệc của vua quan Chiêm thì vẻ đẹp của người Chiêm nữ qua cái nhìncủa tác giả còn mang vẻ đẹp thực thực - ảo ảo:

“Ta vừa nghe bóng nàng trên cỏ biếc Suối tóc dài em chảy giữa giòng trăng

Ta vừa nghe giọng sầu bi tha thiết Của Chiêm nương gợn gợn sóng cung Hằng”

(M M Mộ ộ ộng ng ng)

Vẻ đẹp huyền ảo của Chiêm nương được tác giả miêu tả vừa mang tính trần tụcvới “bóng nàng trên cỏ biếc”, vừa ảo với cái nền trăng “suối tóc dài – giữa giòng

trăng”, “Giọng sầu bi – sóng cung Hằng” Với yếu tố này, hình ảnh người Chiêm

nương toát lên vẻ đẹp mang tầm vóc của không gian rộng lớn về chiều rộng lẫn chiều

cao Đọc những vần thơ trong tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, người đọc dễ dàng có thể nhận thấy

giữa nhân vật trữ tình và người Chiêm nương có mối quan hệ sâu sắc với nhau Họluôn đi bên nhau với:

“Khoan đã em! Nép mình vào bóng lá, Riết lấy anh cho chặt kẻo hồn bay”

Hay:

“Hãy kéo giùm anh đi, hai vạc áo.

Kìa bóng đêm kinh khủng chạy vào ta”

(Tr Tr Tră ă ăng ng ng đ đ điiiiêêêên n n)

“Anh” và “em” trong bốn câu thơ trên đã hòa nhập với nhau, hai linh hồn cùngtồn tại trong cùng một cơ thể, ở họ có mối tình sâu đậm nhau Tình yêu ấy đôi khi xatrần thế:

“Ta gặp nàng trên một vì sao nhỏ

Ta ôm nàng trong bóng núi mây cao

Ta ghì nàng trong những suối trăng sao”

(Ng Ng Ngủ ủ ủ trong trong trong sao sao sao)

Và đôi khi cũng gần gũi với trần thế với:

“Em ghen à! Thôi anh không đi nữa Hãy lau ngay ngấn lệ đọng trong mi Đưa môi đây, này môi anh chan chứa

Trang 30

Rượu yêu đương bừng nóng của tình si”

(Tr Tr Tră ă ăng ng ng đ đ điiiiêêêên n n)

Với nhân vật trữ tình, một phút vui tươi của người Chiêm nữ là vơi đi nhữngbuồn lo, những đau thương từ quá khứ của nước non Chàm, vì vậy cho nên nhân vậttrữ tình đã từng kêu gọi:

“Chiêm nương ơi, cười lên đi em hỡi!

Cho lòng anh quên một phút buồn lo Nhìn chi em chân trời cao vời vợi Nhớ chi em sầu hận nước Chàm ta”

(Đê Đê Đêm m m ttttà à àn n n)

Yêu say đắm người Chiêm nữ, người thi sĩ thường hay ngồi dưới những thápChàm để mong ngóng người yêu Nhưng hình bóng của người Chiêm nữ không phảilúc nào cũng xuất hiện, bởi suy cho cùng đây là tình yêu giữa hồn ma với người tronggiấc mơ huyền ảo Nhân vật trữ tình đã nhận ra điều đó và đã thốt lên:

“Mộng tàn rồi! Bóng người Chiêm nữ ấy Biết tìm đâu lòng hỡi giòng trăng ngà!

Trên trời cao, giòng Ngân kia lặng chảy Thấy cùng chăng tha thiết bóng xiêm qua?”

(M M Mộ ộ ộng ng ng)

Nói tóm lại, nước non Chiêm Thành qua cái nhìn của Chế Lan Viên là sự đốilập khủng khiếp giữa vẻ hào hùng, lộng lẫy của thời quá khứ và vẻ điêu tàn của hiệntại Từ đau thương của thực tại, Chế Lan Viên trở về với quá khứ xưa, nhưng càng trở

về với quá khứ xưa, sự đau đớn, dằn vặt trong tâm hồn của nhà thơ lại càng dữ dội, u

ám trước thực tại Nhà thơ cảm thấy đau khổ, bất lực, chỉ biết bày tỏ nỗi hoài cảm củamình về quá khứ Nhưng sống trong quá khứ ấy, nhà thơ cũng không thoát khỏi sựgiày vò bởi hiện tại Vì thế, nhà thơ cố “vùng vẫy”, “chạy trốn” nhưng cuối cùng cũngkhông thoát khỏi sự lẫn quẩn của thực tại Từ quá khứ của dân tộc Chàm, nhà thơ đãgián tiếp bộc lộ nỗi niềm tự sự của mình trước thực tại xã hội Việt Nam những năm1930-1945

Tìm về quá khứ có thể nói là một trong những đặc điểm nổi bật của văn học nóichung, thơ ca nói riêng Tìm về quá khứ có thể là tìm về những kỉ niệm đẹp, nhữngngày tháng qua đi để sống tốt hơn hiện tại, nhưng tìm về quá khứ cũng có thể là hướng

Trang 31

lẫn tránh với thế giới thực tại Trong phong trào Thơ Mới, không hiếm khi tìm gặp quá

khứ xưa trong các sáng tác của các nhà thơ Trong Nh Nh Nhớ ớ ớ rrrrừ ừ ừng ng ng, Thế Lữ đã thông qua

hình ảnh con hổ ở vườn Bách thú với oai phong xưa “Trong hang tối mắt thần khi đã

quắc/ Là khiến cho mọi vật im hơi” và hiện tại phải “nằm dài, trông ngày tháng dần qua” Đó là cách gián tiếp nhà thơ bày tỏ thái độ chán ghét của mình trước thực tại.

Hay trong bài Ô Ô Ông ng ng đồ đồ đồ của Vũ Đình Liên, quá khứ xưa của ông đồ vào mỗi dịp “hoa

đào nở” là những tờ giấy đỏ, mực tàu bên những con phố chật người qua lại Nhưng

“mỗi năm mỗi vắng”, hình ảnh của ông đồ dần khuất vào dĩ vãng Và nay, hoa đào lại

nở báo hiệu xuân đã về nhưng bóng dáng của ông đồ đã xa “Ông đồ vẫn ngồi đấy/ Qua

đường không ai hay”, bằng cảm xúc thương tiếc nhà thơ phải thốt lên “Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ ?”, từ đó thể hiện sự hoài cổ, thái độ luyến tiếc cho

giá trị truyền thống của dân tộc bị lãng quên theo thời gian Hay mạnh mẽ hơn, gắn

liền với cái tên cụ thể Tây Sở Bá Vương – Hạng Vũ, Ti Ti Tiếếếếng ng ng đị đị địch ch ch ssssô ô ông ng ng Ô Ô Ô của Phạm

Huy Thông là nỗi lòng của Tây Sở Bá Vương Là một người tài năng, xông pha cùngchiến trường quyết liệt với bao trận thắng “Những chiến thắng tưng bừng, những vinh

quang rực rỡ/ Ôi! Võ công oai liệt chốn sa trường”, nay giặc của Lưu Bang đang vây

nghịt cả bờ sông, sự hồi tưởng về quá khứ lẫm liệt ấy càng sát thương thêm vết thươnghiện tại của Tây Sở Bá Vương Qua đó, Phạm Huy Thông thể hiện thái độ buồn chánvới hiện tại đầy đau thương của dân tộc mình

Khác với các nhà thơ đương thời, quá khứ và hiện tại trong thơ Chế Lan Viên là

cả một dân tộc, với sự đối lập với nhau thật mạnh mẽ và quyết liệt giữa quá khứ hàohùng và hiện tại đau thương, qua đó thể hiện tâm trạng buồn chán của nhà thơ trướcthực tại xã hội Đồng thời, việc lựa chọn nước non Chiêm Thành với những tháp Chàm

làm đề tài cho tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n đã thể hiện một bước đi riêng, sáng tạo riêng của Chế

Lan Viên trên thi đàn Việt Nam 1932-1945, đúng như Nguyễn Văn Long đã nhận xét:

“Trên cánh đồng thi ca Việt Nam thế kỉ XX, Chế Lan Viên nổi bật lên như một ngọn

tháp Ngọn tháp vừa đứng vững trên mặt đất lại vừa hướng tâm trí người ta lên trời sao Ngọn tháp đa diện, mỗi mặt một hướng và trong lòng nó còn chắc chứa nhiều bí

ẩn, đã có sức thu hút nhiều kẻ lữ hành trên cánh đồng thơ, trong đó có cả nhiều nhà thơ thuộc thế hệ sau” [9; tr.108], đây cũng chính là đặc điểm đầu tiên thể hiện phong

cách nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên

2.1.2 2.1.2 Th Th Thếếếế gi gi giớ ớ ớiiii u u u á á ám m m mang mang mang h h hồ ồ ồn n n kh kh khíííí ccccủ ủ ủa a a ssssự ự ự ch ch chếếếếtttt ch ch chó ó ócccc

Trang 32

Trong phong trào Thơ Mới 1932-1945, khi cá nhân được giải phóng ra khỏinhững tư tưởng, lề lối của quan niệm phong kiến thì cái tôi được lên ngôi và khẳngđịnh vị trí của mình trên văn đàn văn học Khi cái tôi được khẳng định, mỗi nhà thơđược tự do trong tìm tòi, sáng tạo cho mình một thế giới nghệ thuật riêng, này đã tạonên một nền thơ Việt Nam đa màu sắc Không thoát lên tiên như Thế Lữ, không sayđắm nỗi buồn mang tầm vóc vũ trụ như Huy Cận, không đau đớn như Hàn Mặc Tử,Chế Lan Viên đã tạo nên một thế giới nghệ thuật với những đầu lâu, xương, máu, hồn

ma, tủy, huyệt, bóng tối…, đó là cách nhà thơ gây dấu ấn và giải thoát cuộc sống hiện

tại Qua việc khảo sát trong tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, những biểu tượng, hình tượng từ cõi âm

xuất hiện dày đặc: hồn: 59 lần, trăng (cung Hằng, điện ngọc): 46 lần, máu: 34 lần, sọ(đầu, đầu lâu): 29 lần, xương: 26 lần, bóng tối: 22 lần, mồ: 20 lần, và một số biểu

tượng, hình tượng khác như tủy: 8 lần, huyệt: 4 lần,…thậm chí trong lời T T Tự ự ựa a a của tập

thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, tác giả khẳng định:

“Trong thơ ta dân Chàm luôn sống mãi

Trong thơ ta xương máu khóc không thôi.”

Do đó, tìm hiểu, lí giải thế giới cõi âm mang hồn khí của chết chóc trong tập

thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n là một trong những việc quan trọng trong tìm hiểu phong cách nghệ thuật

thơ Chế Lan Viên

Đến với Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n là đến với những giấc mơ, đến với những miền vô thức của

nhà thơ dưới những tháp Chàm, trên những bãi tha ma và cả trên trời cao Về thế giới

vô thức, Freud - cha đẻ của ngành phân tâm học - định nghĩa: “Vô thức gắn với sự

“dồn nén” của ý thức có thể là những hành động hoặc “dồn nén” của tinh thần” [13;

tr.79] Là những gì còn sót lại trong đời sống lúc con người còn thức, hình thức biểuhiện rõ vô thức theo Freud đó chính là giấc mơ, ông cho rằng giấc mơ là những “dồn

nén” những ước mơ, tham vọng, ham muốn của con người không ngoại trừ với tình

dục Khác với Freud, C.G.Jung có cách hiểu về vô thức: “Vô thức được hình thành là

do sự dồn nén, kinh nghiệm ý thức Không có dồn nén, kinh nghiệm vẫn giữ trong mình ý thức, do đó vô thức được hình thành do sự dồn nén của ý thức Chính vì vậy, vô thức chỉ có thể nhận thức qua những giấc mơ.” Và ông cũng giải thích sự xuất hiện

của giấc mơ: “Giấc mơ xuất hiện như là biểu hiện của một quá trình tâm thần vô thức

tự động nằm ngoài khả năng kiểm soát của ý thức Nó cho thấy sự thực bên trong và thực tế của bệnh nhân một cách thực sự, không giống như bệnh nhân nghĩ” [4; tr.97].

Trang 33

Từ những cách hiểu về vô thức cũng như hình thức biểu hiện rõ nhất của vô thức –giấc mơ- cho ta thấy, vô thức là hoạt động nằm ngoài sự kiểm soát của con người, ở đókhông cho phép có sự hiện diện của ý thức và lí trí Những sáng tác của Chế Lan Viên

trong tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n chịu ảnh hưởng nhiều của chủ nghĩa siêu thực, vì thế lí thuyết

về vô thức của Freud là rất quan trọng khi tìm hiểu tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n Trong thế giới

của Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n, có thể nhận thấy sự tự do của nhà thơ khi ông tìm về với cõi âm Cõi âm

ấy mang nặng mùi của âm khí dưới những bãi tha ma, và chúng bất chợt lay độngnhững linh hồn từ cõi âm:

“Trống cầm canh đâu đây nghe nặng trĩu Trong tha ma dày đặc khí u buồn

Và vô tình lay động những linh hồn.”

(Ti Ti Tiếếếếng ng ng tr tr trố ố ống ng ng)

Trăng từ lâu đẹp và mang bản chất âm, chúng tượng trưng cho bóng đêm, trítưởng tượng, miền vô thức con người Trăng trong đoạn thơ trên góp phần soi rọi chonhững hồn ma từ cõi âm trở về trần gian và càng tô đậm hơn không khí rùng rợn cho

Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n Cõi âm của nhà thơ đôi khi xuất hiện vào một buổi chiều, khi ánh sáng đã

dần yếu nhường bước cho bóng tối vây quanh mọi vật, người thi sĩ bỗng bước vào thếgiới cõi âm:

“Chiều hôm nay bỗng nhiên ta lạc bước Vào nơi đây thế giới vạn cô hồn

Hơi người chết tỏa đầy trong gió lướt Tiếng máu kêu rung chuyển cỏ xanh non”

(X X Xươ ươ ương ng ng kh kh khô ô ô)

Thế giới cõi âm của nhà thơ chứa vạn cô hồn, của hơi người chết và cả tiếngmáu kêu Thế giới ấy có đầy đủ những yếu tố để hình thành từ thực thể: cô hồn, khôngkhí của người chết và âm thanh, tiếng động của cõi ma

Trang 34

Dựng nên cõi ma từ những bãi tha ma hay trên nền của những tháp vắng, ChếLan Viên đã thổi vào thế giới ấy một nguồn năng lượng mới của sự sống Trong tập

thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn, n, n, ta thấy sự sống len lõi khắp mọi nơi từ sọ, huyết, xương, sao, trăng…

Trong bóng tối, dưới những nấm mồ, người thi sĩ nghe thấy:

“Ta hãy nghe trong mồ sâu lạnh lẽo, Tiếng thịt người nảy nở tiếng xương rên,

Ta hãy nghe mơ màng trong cỏ héo, Tiếng cô hồn lặng thở khí trời đêm!”

(B B Bó ó óng ng ng ttttố ố ốiiii)

Thịt, xương dưới đáy mồ của những hồn ma vẫn mang trong mình sự sống, đó

là sự sản sinh của thịt, của tiếng xương rên và không khí để hồn ma “thở” Không

những vậy, máu, huyết trên con sông Linh trong tập thơ Đ Đ Điiiiêêêêu u u ttttà à àn n n vẫn len lỏi trong

mình dòng chảy:

“Trong gió rét tiếng huyết kêu rạo rực Như cô hồn rạo rực bãi tha ma

Khi ồ ạt như muôn năm không dứt

Ồ ạt trôi nguồn máu chiến trường xa.”

(S S Sô ô ông ng ng Linh Linh Linh)

Tiếng huyết kêu được nhà thơ đặt trong sự so sánh với cô hồn bãi tha ma bằngtất cả sự rạo rực và tràn đầy nhựa sống, đó thể hiện sự ầm ỉ và khát khao muốn trổidậy của dòng sông Linh Qua đó, nước từ sông Linh qua cái nhìn của nhà thơ mangsức mạnh sự sôi nổi và mạnh mẽ

Đi vào cõi âm, sống trong cõi âm và tồn tại như một phần của thế giới cõi âm,hơn ai hết Chế Lan Viên phát hiện ra nguồn sống từ những cô hồn Những cô hồn ấyvẫn mang trong mình những cung bậc tình cảm như con người:

“Phải hay chăng đêm qua khi thuyền mộng Của Nàng trăng vào đến bến mây xa

Một cô hồn về đây theo gió lộng Trên mộ tàn để lại dấu ngày qua

Rồi giữa cảnh sương mờ, sao nhỏ lệ Tiếng mộ kêu náo động những thương vong

Trang 35

Trống cầm canh xa vang nơi cõi thế Hồn yêu tinh chợt thấy động tơ lòng”

(X X Xươ ươ ương ng ng kh kh khô ô ô)

Những câu thơ mang tính thơ mộng, chứa chan tình cảm của những cô hồntrước những thương vong nơi trần thế, từ đó có thể nhận thấy, “tính người” trong hồnyêu tinh Không những một cô hồn có “tính người” mà có cả “vạn cô hồn” trong “các

cô hồn lặng ngắm cõi hư vô/ Rồi đua nhau trở lại trong nấm mồ”, hình ảnh đẹp nhưng

cũng không kém phần ghê rợn, tạo sự sợ hãi cho người đọc Thế nhưng, không phảihồn yêu tinh nào cũng đua nhau về nấm mồ, đôi khi mải mê suy tư mà hồn ma quên đi

sự trôi chảy của thời gian trên trần gian:

“Tiếng gà bỗng từ đâu vang dội lại Hồn yêu tinh chợt tỉnh giấc mơ nồng

Và vội vã trở về mồ u tối Quên làn xương trong đám cỏ xương trong”

(X X Xươ ươ ương ng ng kh kh khô ô ô)

Chế Lan Viên sống trong cõi âm, ông tự biến mình thành những người của cõi

âm, ông nuôi sống mình bằng chính những thứ có từ cõi âm: lấy thịt làm thức ăn, lấymáu, tủy làm thức uống và lấy hơi người chết để nuôi sống những hồn mơ Sống trongcõi âm ấy, ông hiểu và giành một tình cảm đặc biệt với chúng Ông đã từng điên cuồngcùng với thế giới cõi âm:

“Đêm mau đây chiếc sọ dừa ứ huyết Chiếc xương khô rợn trắng khí tinh anh

Và rót mau cho hồn ta tê liệt Những nguồn mơ, rồ dại của yêu tinh!”

Ta sẽ nhịp khớp xương trên đỉnh sọ

Ta sẽ ca những giọng của Hồn điên

Để máu cạn, hồn tàn, tim tan vỡ

Để trôi đi ngày tháng nặng ưu phiền”

(Đ Đ Điiiiệệệệu u u nh nh nhạ ạ ạcccc đ đ điiiiêêêên n n cu cu cuồ ồ ồng ng ng)

Như một chủ công trên sân khấu với nhạc cụ là những khớp xương rợn trắngcùng với nguồn lực từ “sọ dừa ứ huyết” hòa với “ nguồn mơ, rồ dại của yêu tinh”, tất

Trang 36

cả những điều đó tụ hợp lại để người thi sĩ điên cuồng cùng với điệu nhạc hỗn loạn củamình “Nhịp khớp xương trên đỉnh sọ” “ca những giọng của Hồn điên” là khơi dậycảm xúc từ những ngọn nguồn trong cảm xúc của con người, để cho tâm hồn hoảngloạn cùng “máu cạn, hồn tan, tim tan vỡ” Đó chính là cách để nhà thơ vơi đi nhữngngày tháng u buồn cõi trần gian Đây là hướng giải thoát táo bạo, mạnh mẽ nhưngcũng không kém phần điên cuồng của nhà thơ.

Thế nhưng, điên cuồng với những nhạc cụ xương, sọ, để ngân lên những giọng

của H H Hồ ồ ồn n n đ đ điiiiêêêên n n không làm thỏa mãn niềm cảm xúc rạo rực trong lòng của người thi sĩ,

bởi suy cho cùng, trên “sân khấu” ấy nhà thơ vẫn là người cô đơn, một mình ngân lêntiếng giọng cùng cảm xúc của mình Vì thế, ông quyết định dẫn “phái đoàn ma” về vớichúng ta trên cõi trần gian này:

“Hỡi những hồn yêu tinh trong bóng tối Những thương vong uổng tử đáy mồ sâu Hãy hiện lên trong lời ta truyền gọi Đem cho ta bay hỡi chiếc đầu lâu”

(X X Xươ ươ ương ng ng vvvvỡ ỡ ỡ m m má á áu u u tr tr trà à ào o o)

“Phái đoàn ma” mà Chế Lan Viên mang đến với chúng ta là những chiếc đầulâu, hồn của yêu tinh và những vong hồn uổng tử Chúng đến theo lời truyền gọi củanhà thơ từ địa ngục đen tối nơi cõi âm Ông đã quyết định truyền năng lượng cho chiếcđầu lâu, ban cho chúng những sinh khí của sự sống

“Ta sẽ áp sọ dừa vào ngực nóng Truyền những nguồn sinh khí của thân ta

Và sẽ đắm khối xương trong bể sóng

Và nhãn quang bừng sáng, ánh châu sa

Ta sẽ cắn lưỡi ta cho giỏ huyết Phun lên nền xương trắng rợn yêu ma

Để thức tỉnh bao giác quan tê liệt

Sẽ truyền cho sức mạnh của hồn ta”

(X X Xươ ươ ương ng ng vvvvỡ ỡ ỡ m m má á áu u u tr tr trà à ào o o)

Áp ngực vào truyền sự sống cho những chiếc đầu lâu, một trong ba trung tâmtrong cơ thể của con người: đầu lâu, rốn và cơ quan sinh dục; cắn lưỡi để phun bao

Trang 37

giòng máu – tượng trưng cho nguồn sống – lên trên những chiếc xương, để thức tỉnhnhững giác quan từ cõi chết, Chế Lan Viên dường như vô tình đã đẩy mình vào cõi sâucủa siêu thực Ở cõi siêu thực ấy, vị chủ soái đứng trên những chiếc sọ dừa và nhữngchiếc xương đã được truyền sự sống mà truyền gọi chúng:

“Sọ dừa ơi! Hãy nghe ta truyền phán Hãy ngã nghiêng, lăn lộn, hãy kêu gào Hãy rít lên những điệu xương vỡ rạn Hãy buông ra những tiếng máu sôi trào”

(X X Xươ ươ ương ng ng vvvvỡ ỡ ỡ m m má á áu u u tr tr trà à ào o o)

Người thi sĩ kêu gọi một sự tự do, bức phá với những chiếc sọ đầu lâu, để chochúng hả hê lăn lộn, kêu gào và bức mình trong lời truyền gọi của nhà thơ Khôngdừng ở đó, những điệu nhạc điên cuồng lại được vang lên trên tập thể những chiếc sọdừa ứ huyết:

“Hãy điên cuồng, múa may, trong cơn lốc Hãy cười những điệu cười như tiếng khóc Hãy hét vang rung động đến mây cao Cho hồn ta đỡ được phút u sầu

Hãy quay cuồng, múa may và nghiêng ngả Cũng cười thét, khóc gào vang núi cả Dưới búng hồn, họng máu của hồn Điên”

(X X Xươ ươ ương ng ng vvvvỡ ỡ ỡ m m má á áu u u tr tr trà à ào o o)

Một không khí náo động, quay cuồng cùng với những chiếc sọ dừa Như mộtbuổi tiệc dường như chỉ dành cho những chiếc đầu lâu, người thi sĩ kêu gọi chúng kêugào, la thét, múa may, cười “Dưới búng hồn, họng máu của hồn Điên” để nhữngnguồn năng lượng dâng trào, để tha hồ thả mình trong tự do, phóng túng Xây dựngnhững cảm xúc từ những chiếc đầu lâu, Chế Lan Viên đã vượt xa mọi cảm giác tầmthường để vươn lên cái tột cùng của sự sống và tình cảm Chỉ đạo những chiếc đầu lâu,truyền sự sống và nguồn năng lượng cho chúng, nhà thơ đã vươn ra ngoài ranh giớigiữa cảm xúc thật và giả, giữa sự sống và cái chết, giữa cõi trần thế với cõi âm đầychết chóc Nhà thơ chính là người nối kết giữa hai thế giới ấy, tạo cho người đọc đỉnhcao của cảm xúc và niềm kinh sợ

Trang 38

Dẫn đầu phái đoàn ma, truyền sự sống cho chúng đã thể hiện cảm xúc dữ dộicủa tác giả với thế giới cõi âm Với Chế Lan Viên, tìm sự chết chóc, truyền những cảmxúc cho thế giới ấy chính là cách để thoát khỏi những đau buồn cho cuộc sống thực tại.Thế nhưng, thế giới cõi âm đâu phải lúc nào cũng hiển hiện trong mơ tưởng của nhàthơ, vì vậy mới có hình ảnh người thi sĩ chờ đợi mòn mỏi những giấc mơ về để đượcchìm vào thế giới của chính mình Và đôi khi nhà thơ dâng trong mình một nỗi buồntrống trải bởi những hồn ma đã bị loài người “mang đi qua mộ khác” Cõi lòng của nhàthơ vốn gắn liền với cõi âm, nay chúng chỉ còn lại những dư âm của những tiếng cười,điệu khóc, làm dâng lên trong lòng người thi sĩ một nỗi buồn man mác:

“Thôi vắng bặt từ đây bao giây phút

Mà tiếng cười ghê rợn dậy vang mồ

Mà hơi khóc rung dài dây gió lướt

Mà lời than náo động cõi hư vô.”

(M M Mồ ồ ồ kh kh khô ô ông ng ng)

Đối với Chế Lan Viên, chiếc sọ trên đầu chính là nơi chứa biết bao nhiêu tội ác,chính vì vậy người thi sĩ muốn “cắt phanh” đi để thay thế cho một chiếc sọ khác:

“Biết làm sao tìm ra thanh kiếm sắt

Để cắt phanh làn cổ của ta đi?

Đã tràn trề, chứa chan bao tội ác Đỉnh sọ này lưu lại để làm chi?”

Chực ngăn giùm đừng cho nguồn máu vọt Khí tanh hôi ghê tởm cả muôn người!

Đừng nêu cao đầu lên cho những giọt Não bùn nhơ lầy lụa cả hoa tươi.

(Đầ Đầ Đầu u u m m mêêêênh nh nh mang mang mang)

Cái chết dường như đối với nhà thơ mới chính là sự sống, chúng mới chính lànhững “đóa hoa tươi” trên cõi trần gian Cắt chiếc đầu để cho máu trào thành nguồn,cho những khí tanh hôi tràn trề muôn người, đây có thể nói là cách nói siêu hìnhnhưng đồng thời cũng thể hiện được khát khao hướng thiện và quan niệm độc đáo củaChế Lan Viên: cái chết làm nên sự sống

“Lắp cho tan những thành sọ trắng

Trang 39

Một khối đầu bát ngát tựa không gian Cho ta chứa lấy một trời im lặng Cho ta mang lấy muôn vạn linh hồn

Cho ta đựng cả một bầu sao rụng

Cả một nguồn trăng sáng cả muôn hương Cho sọ ta no nê bao ý mộng

Cho hả hê, ngây ngất rượu đau thương!”

(Đầ Đầ Đầu u u m m mêêêênh nh nh mang mang mang)

Chiếc sọ theo Chế Lan Viên chứa muôn hình vạn trạng, chúng chính là mộtkhoảng không gian vô cùng lớn để nhà thơ “chứa lấy một trời yên lặng”, nơi mang

“vạn linh hồn”, “nguồn trăng”, “bầu sao” Qua đó nhà thơ đã nhất thể hóa chiếc sọdừa thành không gian của vũ trụ để vạn vật tồn tại và phát triển, đây là hướng liêntưởng độc đáo, mới mẻ của nhà thơ, đồng thời thể hiện tư duy thơ táo bạo, cá tính củaChế Lan Viên

Không tìm thấy mảnh đất màu mỡ cho những vần thơ của mình, Chế Lan Viêntìm về với cõi âm với không khí “sặc mùi” chết chóc, khí tanh hôi khiến cho bao ngườiđọc phải kinh hoàng, sợ hãi, thế nhưng đấy mới chính là cuộc sống của nhà thơ, mới lànguồn thi cảm cho nhà thơ sáng tác

Máu là đại diện cho sự sống, là nguồn sống của con người, và máu cũng chính

là nguồn sống nuôi dưỡng những vần thơ của Chế Lan Viên Điều mà ông đã từng thổ

lộ cùng với Chi Chi Chiếếếếcccc ssssọ ọ ọ ng ng ngườ ườ ườiiii:

“Hỡi chiếc sọ ta vô cùng rồ dại Muốn giết ta trong sức mạnh tay ta

Để những giọt máu đào còn đọng lại Theo hồn ta tuôn chảy những lời thơ.”

Lấy những giọt máu đào để hòa nhập với hồn thơ, cái nhìn ghê tợn của Chế LanViên thể hiện được thái độ tâm huyết của nhà thơ trong sáng tạo văn học Thế nhưng,lấy nguồn máu để nuôi nguồn thơ không thỏa mãn được nguồn cảm xúc của nhà thơ,

vì thế người thi sĩ quyết cắn những chiếc sọ dừa để tìm những nguồn thơ:

“Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô

Trang 40

Để nếm lại cả một thời xưa cũ

Cả một dòng năm tháng đã trôi xa.”

(C C Cá á áiiii ssssọ ọ ọ ng ng ngườ ườ ườiiii)

Chiếc sọ là một trong ba phần trung tâm của cơ thể, cùng với xương, chúngkhông bị phân hủy theo thời gian như thịt hay máu, vì vậy sọ người, xương chính làmột phần lưu lại của con người trên cõi trần Vì thế, “cắn” chiếc sọ, “nuốt khối xương

khô” là tìm lại những dĩ vãng thời xa xôi để nuôi dưỡng vần thơ của mình Đồng thời,

đoạn thơ thể hiện sự cảm thức về thời gian độc đáo của nhà thơ, tìm quá khứ từ hiệntại thông qua chiếc sọ Chiếc sọ vô tình đã trở thành một vật trung gian thể hiện liênthời gian của quá khứ với hiện tại Đó là hướng liên tưởng độc đáo của nhà thơ về thờigian

Giấy, bút có thể nói là những công cụ quan trọng đối với những người làm thơ,nhưng giấy để Chế Lan Viên viết những câu thơ của mình được nhà thơ liên tưởng độcđáo: “làn giấy ấp đầy hơi trinh tiết?” hay “làn xương trong bãi chém” trên bãi chiếntrường của tiếng búa, “nạo” sọ trắng:

“Nền giấy trắng như xương trong bãi chém Bỗng rung lên kinh hãi dưới tay điên

Tiếng búa đưa rợn mình như tiếng kiếm Nạo những thành sọ trắng của ma thiêng.”

(Ti Ti Tiếếếếtttt trinh trinh trinh)

Và đây chính là mực để nhà thơ viết những vần thơ đau thương:

“Và hồn, máu, óc, tim trong suối mực Đua nhau trào lên khúc giấy buồn thương Như không gian lùa vào ta chẳng dứt Những hương mơ say đắm mộng ngông cuồng”

(Ti Ti Tiếếếếtttt trinh trinh trinh)

Những “vật liệu” để nhà thơ sáng tác nên thơ là cả một niềm kinh dị với nhữngvới hồn, máu, tim, điều này chứng tỏ ước muốn ngông cuồng, táo bạo của nhà thơ khiđặt tác phẩm trước hình ảnh đầy sự chết chóc Với niềm cảm xúc mạnh mẽ, dâng trào

từ những chất liệu giấy, mực, người thi sĩ như trong trạng thái vô thức “lên đồng” khiviết những dòng thơ Không có dấu vết nào của ý thức, nhà thơ không thể ngăn cản lạiđược hành động của mình, thế nên ông mới kêu gọi:

Ngày đăng: 05/10/2015, 23:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w