1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách thơ tản đà

111 3,4K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 492 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ văn Tản Đà cũng chính là cuộc đời ông - chất liệu thơ ca đợc chắt lọc từ cuộc sống bản thân, nét độc đáo trong phong cách của Tản Đà cũng bởi cá tính mà nhà thơ biểu hiện, gửi gắm, đ

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Trang 2

Mở ĐầU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Vào những năm hai mơi của thế kỷ XX trên thi đàn Việt Nam, xuất

hiện một hiện tợng độc đáo và phức tạp: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu Tản Đà xuất hiện trong một giai đoạn đầy biến động - cũ mới giao nhau, á Âu xáo trộn Con ngời và sự nghiệp của Tản Đà mang đậm dấu ấn của thời đại ấy Việc tìm hiểu về tác giả là một nhu cầu thiết yếu, lâu dài trong lịch sử văn học

1.2 Tản Đà để lại cho nền văn học nớc nhà một khối lợng tác phẩm lớn, với

nhiều thể loại: thơ, văn, kịch, tiểu thuyết, dịch thuật với nội dung phong phú, sâu sắc, mỗi thể loại đều có lối đi riêng biệt, tuy nhiên thơ vẫn là lĩnh vực độc đáo hơn cả, thể hiện rõ một phong cách thơ độc đáo Nhng phong cách thơ Tản Đà là gì? Có thể nói, cho đến nay, câu hỏi này vẫn cha có lời đáp thoả đáng

1.3 Tản Đà là tác giả có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc

Ông là ngời có tính chất chuyển tiếp, vạch nối của hai thời đại văn học trung đại

và hiện đại Ông đã “thổi một cơn gió lạ” vào tâm hồn ngời Việt lúc bấy giờ

Ông đã làm “bật nứt” một cái tôi trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Trong thơ mình ông đã khẳng định một cái tôi độc đáo với những nét ngông, mộng, đa tình, xê dịch Thơ văn Tản Đà cũng chính là cuộc đời ông - chất liệu thơ ca đợc chắt lọc từ cuộc sống bản thân, nét độc đáo trong phong cách của Tản Đà cũng bởi cá tính mà nhà thơ biểu hiện, gửi gắm, đó là “một tâm hồn thi sĩ, một tâm hồn dệt bằng tất cả màu sắc của núi, sông, hoa cỏ, bằng chua cay mặn chát của thế tình, bằng tất cả mộng đẹp của yêu đơng, bằng tất cả nhạc điệu” Cuộc đời, thơ văn Tản Đà đã hấp dẫn bao thế hệ bạn đọc, thu hút giới nghiên cứu văn học Việc tìm hiểu vấn đề phong cách nghệ thuật của thơ ông một cách hệ thống, khoa học sẽ phục vụ cho việc dạy - học Tản Đà trong nhà trờng đợc tốt hơn, trớc hết là cho tác giả luận văn

1.4 Tản Đà cũng là tác giả mà bản thân thấy tâm đắc.

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trang 3

2.1 Lịch sử nghiên cứu về Tản Đà nói chung

2.1.1 Lịch sử nghiên cứu về Tản Đà đã có ngót gần một thế kỷ với những bớc thăng, trầm

Lịch trình nghiên cứu về Tản Đà đã đợc Nguyễn Đức Mậu khái quát trong cuốn Tản Đà về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003 Ta có thể thấy

rõ ở hiện tợng độc đáo này đợc nghiên cứu với những bớc thăng trầm

Năm 1916 Tản Đà bớc vào làng văn với Khối tình con đã gây đợc sử ảnh

h-ởng mạnh mẽ mà Phạm Quỳnh cho là đã “Dựng ra một văn phái mới”, “Quốc dân nhiều ngời cổ võ” bởi ông đã đem đến giọng mới, ý lạ Nhng khi “Giấc mộng con” của ông xuất hiện thì lại bị chính Phạm Quỳnh phê phán “Không những có ích mà còn có hại”, là đánh thuốc độc cho cả nớc, là phạm tội diệt chủng và Nguyễn Văn Ngọc không cho đó là văn chơng Lúc bấy giờ họ chỉ quan tâm đến văn có ích (văn luân lý, giáo huấn)

Khi Thơ mới xuất hiện, nhiều nhà thơ muốn Thơ mới thắng thế đã công

kích Tản Đà, Lu Trọng L khinh mạn “Nàng thơ ấm Hiếu mũi thò lò”

Đến 1939, sau khi Tản Đà mất, giới nghiên cứu mới nhìn nhận đúng

đóng góp của Tản Đà, đề cao ông, khẳng định đóng góp của Tản Đà cho văn học hiện đại Xuân Diệu cho rằng “Tản Đà là ngời mở đầu cho thơ Việt Nam hiện

đại, dám có một cái tôi, dám cho trái tim và linh hồn đợc có quyền sống cái đời riêng của chúng” Lu Trọng L, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Khái Hng đã viết chân dung Tản Đà với cá tính ngang tàng, phóng túng, tài hoa,

Năm 1974, trong cuốn Giáo trình văn học Việt Nam giai đoạn giao thời

1900 -1930, Trần Đình Hợu đặt Tản Đà vào giai đoạn giao thời Đông - Tây, giải

quyết các vấn đề yêu nớc, giai cấp, t tởng cải lơng… đặt ra trớc đó

Trang 4

Cuối những năm 70, 80, Tản Đà không đợc bàn thêm trên báo chí Năm

1983, Xuân Diệu khẳng định công của thi sĩ Tản Đà đó là đã đa cái tôi cá nhân vào văn học Năm 1984, trong Từ điển văn học tập II, xuất bản năm 1984, Nguyễn Huệ Chi khẳng định Tản Đà là một hiện tợng độc đáo, đột xuất, là một cây bút phóng khoáng, một nhà thơ giao tiếp giữa hai thế hệ cổ điển và Thơ mới Năm 1988, kỷ niệm 100 năm sinh Tản Đà, khoa Văn Đại học Tổng hợp hội thảo khoa học đã có thêm những tác giả mới đến với Tản Đà, quan tâm nhiều mặt hơn nh các thể loại, quan niệm, vị trí của Tản Đà

Năm 1989, hội nghị khoa học về Tản Đà do Viện văn học tổ chức tại Hà Nội đã mở rộng sự quan tâm hơn về Tản Đà Tại đây nhiều vấn đề đợc đặt ra, đ-

ợc xem xét lại và đợc giải quyết sâu hơn

2.1.2 Các chặng đờng nghiên cứu về Tản Đà với những thành công và hạn chế

Tản Đà đã đợc giới nghiên cứu và công chúng quan tâm, tuy nhiên ở những chặng đờng khác nhau có những thành công và hạn chế

Từ 1954 đến 1975, các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến văn chơng và

vị trí thi sĩ Tản Đà với nền văn học Việt Nam hiện đại ở miền Nam xuất hiện nhiều chuyên luận, chuyên khảo nh: Tản Đà thực và mộng; Luận đề về Tản Đà, khảo luận về Tản Đà … Ngoài ra, hằng năm đều có các bài viết về Tản Đà in

trên các báo ở các công trình đó khẳng định đóng góp của Tản Đà ở cái Tôi, cá

tính và t tởng Tản Đà Các khía cạnh của hình thức đợc bình phẩm phân tích, nhất là ở phơng diện câu và từ ở Việt Nam văn học giảng bình nói về Tản Đà

ngông, u hoài, đa sầu…

Bên cạnh các chuyên luận, khảo luận mang tính thao tác nghiên cứu, phần lớn các bài phê bình mang tính chất chủ quan Hệ thống lập luận, chứng minh ở

đôi bài viết không đủ sức nặng, bảo đảm cho những nhận định nghiêng về cảm thụ Bên cạnh các bài viết nhìn nhận đúng đóng góp của Tản Đà thì cũng có các bài viết có cái nhìn cha thoả đáng về con ngời, sự nghiệp của ông

2.2 Lịch sử nghiên cứu thơ và phong cách thơ Tản Đà

2.2.1 Về thơ Tản Đà

Trang 5

Thơ Tản Đà đã đợc quan tâm, nghiên cứu nhiều Có thể kể các công trình tiêu biểu nh: Tản Đà thơ và đời của Nguyễn Khắc Xơng; Cung chiêu anh hồn Tản Đà của Hoài Thanh - Hoài Chân; Công của thi sĩ Tản Đà của Xuân Diệu; Cái hay của thơ Tản Đà của Trơng Tửu; Tính dân tộc, hiện đại truyền thống và cách tân qua nhà thơ Tản Đà của Trần Ngọc Vơng; Nhà thơ lãng mạn của Phạm

Thế Ngũ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu của Trần Đình Hợu, Lê Chí Dũng; Tản

Đà- một văn nho tài tử và lãng mạn, một nhà thơ giữa hai thế kỷ của Phạm Văn

Diêu; Nghệ thuật thơ văn Tản Đà của Nguyễn Đình Chú, Viết về Tản Đà của

Huỳnh Phan Anh…

các phơng diện của thơ Tản Đà đã đợc giới nghiên cứu đề cập đó là: Vị trí của Tản Đà trong lịch sử văn học dân tộc: Tản Đà “mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại, dám có cá tính, dám có một cái tôi”(Xuân Diệu); tính chất giao thời của Tản Đà; dựng lên chân dung Tản Đà, Tản Đà bộc lộ chân dung nh ngông, đa tình, xê dịch, mộng, sầu Lê Chí Dũng chú ý đến: Thể loại trong sáng tác của Tản Đà “hứng thú của thi sĩ núi Tản sông Đà hớng vào phong thi, hát nói, ca lý, xẩm, hát giặm đò, vào các bài thơ Đờng luật”; thể loại ông tự đặt ra nh thơ tự do; ngôn ngữ dân tộc; giọng điệu trữ tình, Tính hiện đại và truyền thống, những cách tân qua thơ Tản Đà, phong cách dân gian ở thơ ông…

Nhìn chung, giới nghiên cứu đều đánh giá cao về thơ Tản Đà : là ngời của hai thế kỷ, mở đầu cho thơ hiện đại, đóng góp một cái tôi độc đáo cho văn học, khẳng định Tản Đà tiếp thu truyền thống thơ ca dân tộc và cách tân cho thơ, là nhà thơ có phong cách riêng

Trang 6

3.2 Phạm vi, giới hạn của đề tài

Luận văn khảo sát toàn bộ thơ Tản Đà, các thể loại khác của nhà thơ chỉ là

đối tợng để tham chiếu

Tài liệu mà luận văn lựa chọn khảo sát là các văn bản của Tản Đà đợc tập hợp trong: Tản Đà toàn tập (5 tập) do tác giả Nguyễn Khắc Xơng su tầm, biên

soạn và giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

4.1 Phân tích, tìm hiểu, xác định những cơ sở hình thành phong cách thơ

Tản Đà

4.2 Xác định t tởng và cái nhìn nghệ thuật của Tản Đà, xem đây nh là yếu

tố tiên quyết trong sự hình thành phong cách thơ Tản Đà

4.3 Tìm hiểu, phân tích, xác định đặc điểm của phong cách thơ Tản Đà trên

phơng diện bút pháp, giọng điệu và ngôn ngữ

Cuối cùng rút ra một số kết luận về phong cách thơ Tản Đà

5 Phơng pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề này luận văn sử dụng nhiều phơng pháp khác nhau, trong đó có những phơng pháp chính: Phơng pháp thống kê - phân loại, phơng pháp phân tích - tổng hợp, phơng pháp so sánh - loại hình, phơng pháp cấu trúc -

6.2 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chơng:

Chơng 1 Hiện tợng Tản Đà trong lịch sử thơ ca Việt Nam và sự hình thành phong cách thơ Tản Đà

Chơng 2 T tởng nghệ thuật và cái nhìn của Tản Đà về con ngời và thế giới

Trang 7

Chơng 3 Bút pháp, giọng điệu và ngôn ngữ thơ Tản Đà

Chơng 1hiện tợng tản đà trong lịch sử thơ ca việt nam

và sự hình thành một phong cách thơ

Trang 8

1.1 Hiện tợng Tản Đà trong lịch sử thơ ca Việt Nam

1.1.1 Tản Đà - con ngời, cuộc đời và thơ

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu (1889 - 1939), sinh tại làng Khê ợng, huyện Bất Bạt, Tỉnh Sơn Tây, một làng nhỏ bên Sông Đà, cách núi Tản Viên 10 km Chính dòng sông, ngọn núi ấy đã khơi nguồn, theo suốt văn nghiệp

Th-ông

Sinh trởng trong nền học vấn nho gia của gia đình, đợc ảnh hởng của thân mẫu có học thức, hát hay, thơ giỏi, hơn thế nữa lại đợc hai ngời anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Tái Tích và Nguyễn Mạn đều thuộc vào loại thời danh nuôi nấng là điều kiện tốt để Tản Đà phát triển tài năng Ông đã mang trong mình hy vọng tiến sĩ, đại khoa để kế chí phụ huynh

Tản Đà là ngời học giỏi nhng thi cử gặp nhiều trở ngại Năm 1912, ông lều chõng đi thi nhng đến ngày xem bảng, bảng không tên Theo ông sự thất bại đó

là bởi có sự vênh nhau giữa tài năng của ông không hợp với khuôn mẫu quan ờng, đó là do sự hỏi mẹo “bẩn thỉu”, và cho rằng:

Bởi ông hay quá ông không đỗ Không đỗ ông càng tốt bộ ngông.

(Tự trào)

Chí lớn không thành, hy vọng tiến sĩ đại khoa nhng mộng ớc đó của ông đã thất bại Sự học của ông lại có quan hệ với tình duyên Trong thời gian học ở Tr-ờng Quy Thức, cậu ấm Hiếu có mối tình đầu với cô gái họ Đỗ ở phố hàng Bồ là ngời nhan sắc, dịu dàng, lễ phép, biết chữ Nho và và chữ Quốc ngữ (nàng muốn

xe duyên cùng cử nhân, tri huyện) Tản Đà càng hăm hở học hành để toại nguyện đôi đờng Nhng khi thất bại trong công danh cũng là lúc Tản Đà đau xót chứng kiến cảnh ngời đẹp lên xe hoa Rồi tiếp đến ông lại có các mối tình khác (mối tình thứ hai, là mối tình đẹp nhng tuyệt vọng, mối tình thứ ba là yêu cô đào hát, đợc sản sinh dới ánh đèn sân khấu, mối tình thứ t là với ngời con gái ở Vĩnh Yên) Nhiều mối tình nhng có lẽ mối tình đầu vẫn là sự đeo đẳng trong cuộc đời

ông, ảnh hởng đến cách nhìn đời và văn chơng của ông

Tản Đà là ngời đã tự nhận về mình cái trách nhiệm là gánh cái tài tình của cặp tài tử giai nhân của thân mẫu và thân phụ ông để lại

Trang 9

Gặp cảnh gia đình éo le từ nhỏ, mất bố từ năm lên ba, bốn tuổi thì mẹ trở về quê cũ với nợ lầu hồng với tiếng cời câu hát, Tản Đà cho là không chính đáng nên u uất, buồn rầu Điều này trở thành nỗi đau tê tái trong suốt cuộc đời ông Tình duyên trắc trở, tình mẫu tử bị chia lìa từ tấm bé, thất chí, thất tình, đã để lại nỗi buồn đau này bàng bạc trong sáng tác của Tản Đà.

Lớn lên gặp cảnh Thực dân Pháp đặt ách cai trị, đô hộ, giày xéo đất nớc, Tản Đà nhận thấy giang sơn gấm vóc nay chỉ còn là mảnh bản đồ rách Sao đến bây giờ rách tả tơi Tản Đà vốn đa sầu đa cảm: Đêm trờng tôi đứng ngồi sầu thảm ở ông đeo đẳng một nỗi sầu, tơng t, buồn chán, mơ mộng, khao khát tình

cảm, khát khao tri kỷ

ông cố quên nỗi buồn, tìm đến vùng sơn cớc, rồi tế Chiêu Quân:

ái ân thôi có ngần này, Thề nguyền non nớc đợi ngày tái sanh.

Thất vọng, Nguyễn Khắc Hiếu đến ở nhà anh rể Nguyễn Thiện Kế sống

nh-ng đợc anh khuyên nhủ đọc Tân th ở nhà họ Bạch, tiên sinh đã có sự thay đổi trong suy nghĩ, bắt đầu một lý tởng mới, từ bỏ con đờng cử nghiệp

Một trang sử mới mở ra, Tản Đà bắt đầu cới vợ, sinh con, phải lăn lộn nuôi sống vợ con và dùng văn thơ để mu sinh

Tản Đà viết báo, hợp tác với tờ Đông Dơng tạp chí, viết tuồng, viết văn

xuôi, thơ Ông vào Nam ra Bắc, xoay đủ nghề để kiếm sống, thế nhng rồi: Cái nghèo khôn xiết, cái lo khôn cùng.

Và ông vẫn lấy điều đó để mà tự trào:

Ngời ta hơn tớ cái phong lu

Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo.

(Sự nghèo)

Nghèo nhng Tản Đà vẫn theo đuổi sự nghiệp văn chơng, dù việc viết văn gặp nhiều khó khăn, đồng tiền có hạn, đồng lơng eo hẹp, thu không đủ chi, lo văn ế Ông viết thuê vở chèo ở các rạp hát rồi xoay ra nghề viết báo, mở báo kiếm ăn Làm báo, ông lại không đủ phơng tiện làm một ông chủ báo, không thể

Trang 10

đủ trang trải để điều khiển một tờ báo cho đợc hoàn bị An Nam tạp chí mở ra

rồi đóng lại, cái khó bó cái khôn, ông phải lăn lộn:

Chốn ba đào phong vũ vẫn cời reo Thuyền một lái một chèo ai với nớc.

(Cảm hoài ANTC lại ra đời)

Tản Đà tâm sự “Việc đáng vài ba nghìn làm đợc ở mình thời nếu chỉ có một trăm là đủ làm mà không thể nào có, ở đời thật có những lúc đáng buồn”

Giấc mộng lớn Nghề báo không nuôi sống đợc làng văn, gia đình đông ngời,

cuộc sống của tiên sinh càng thêm túng quẫn:

Quanh năm gạo chịu tiền vay

Vợ chồng lo tính hôm này hôm mai.

(Cảnh vui nhà nghèo)

Cuộc sống tạm bợ, nay đây mai đó, một túp lều trú chân cũng không yên ổn:

Nhà ở thuê chật hẹp quanh co Tạm yên đủ ấm vừa no

Cái buồn khôn xiết cái lo khôn cùng.

(Cảnh vui nhà nghèo)

Ông đã phải kêu lên với trời rằng Trần gian thớc đất cũng không có Lại

còn nợ nần, lãi suất ảnh hởng đến hứng thú sáng tác “Bây giờ nhà xiêu vách nát vợ

đói con rét, dễ anh ngồi sao yên”; “Hết tháng ba qua tháng chín, bao nhiêu cái lo phiền khốn nhục” (Gửi ngời tri âm) Nghèo túng lại còn thuê mớn, gặp bọn chủ

nhà in bóc lột, một ớc mơ thật bình dị nhng đối với ông vẫn chỉ là mơ:

Ước sao tháng tháng sẵn tiền Tiền nhà cứ tháng ta liền đóng ngay.

Rồi ra thơ nghĩ mới hay Tri âm ai đó mới say vì tình.

(Ngẫu hứng)

Ông viết về cái nghèo của mình một cách thành thực, cay đắng Dẫu nghèo, Tản Đà vẫn không chịu cấu kết với bọn phản quốc, không chịu bợ đỡ Tây, không luồn cúi, dựa dẫm Tản Đà nghèo nhng thanh bạch Ông luôn trăn trở về thiên l-

ơng về vận mệnh của đất nớc Ông dồn hết tâm lực vào văn chơng, sáng tác không chỉ vì lẽ mu sinh mà là lẽ sống “Tuy nó là cái nghề bạc bẽo nhng phải

Trang 11

thành tâm với nó thì mới đợc Có thành tâm với nghề thì mới thành nghề đợc Bây giờ đi buôn gỗ lãi ngay tiền vạn, Hiếu đây cũng không buôn, bổ đi làm tổng

đốc lơng tháng bốn trăm, Hiếu đây cũng không làm, Hiếu chỉ phụng sự nghề văn

mà thôi” (Lâm tuyền khách - một tháng với Tản Đà Ngày nay số 17) Ông

không bận tâm đến cách lập thân khác giữa xã hội “ba đào”

Cuộc đời của Tản Đà là cuộc đời của một con ngời sinh ra trong gia đình dòng dõi nhng lại ít gặp may mắn, tình duyên không toại nguyện, cái tài không

đợc khẳng định nhng ở ông vẫn giữ đợc khí tiết của một con ngời thanh cao, bản lĩnh, phóng túng

Trong xã hội thực dân nửa phong kiến lúc này, nền khoa học hiện đại đang phát triển, xã hội đang đô thị hoá, những sinh hoạt của nền văn học hiện đại

đang từng bớc hình thành, công chúng đã đợc mở rộng, nhất là ở thành thị, điều kiện in ấn, xuất bản thay đổi tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà văn chú tâm vào việc sáng tác văn chơng, cho phép các nhà văn lựa chọn sáng tác văn chơng làm sự nghiệp chính của đời mình Làm văn cũng giống nghề nghiệp, nó cũng giống nh bao nghề khác, nó đã cứu sống đợc cho các nhà Nho đang ở giai đoạn thất thế trong đó có Tản Đà Gia đình trông chờ vào ngọn bút của ông Tản Đà từ một nhà Nho tài tử đã ra thành thị viết văn để kiếm sống

Ông để lại một gia tài văn học phong phú, khối lợng tác phẩm đồ sộ với nhiều thể loại, thơ, văn xuôi, dịch thuật, tuồng, chèo, chú giải truyện Kiều, viết báo ở thể loại nào Tản Đà cũng đạt đợc những thành tựu nhất định

Nhận xét về văn nghiệp Tản Đà, Xuân Diệu cho rằng “Phải đọc kỹ lại văn xuôi của ông mới hiểu hết bản lĩnh của ông Văn tài của Tản Đà phát tiết nhiều nhất trong thơ ông” Thơ ca là lĩnh vực đa ông lên vị trí chói rực trên thi đàn Việt Nam đầu thế kỷ Ông là ngời đi tiên phong trong việc phá bỏ những rào chắn của văn học trung đại, mở đờng cho văn học hiện đại phát triển Trong sáng tác của mình, Tản Đà đã thể hiện cái tôi bản lĩnh, lãng mạn, cái ngông riêng

Ông để lại một khối lợng thơ lớn, đa dạng về thể loại, có thể loại vay mợn Trung Hoa nh thơ tứ tuyệt, thất ngôn bát cú Đờng luật, thơ trờng thiên , một số lợng khá lớn viết theo thể thơ dân tộc nh hát nói, lục bát, song thất lục bát, và một số bài không định thể

Trang 12

Ông vừa đa thể thơ dân tộc lên đỉnh cao, vừa là ngời mạnh dạn có những cách tân, phá vỡ dần tính quy phạm, chọn thể loại ít gò bó, dùng ít điển tích điển

cố, có những bài thơ hình thức cũ nhng nội dung, ý tởng mới lạ phù hợp với tâm

lý, thị hiếu chung của thời đại nh Tơng t, Nhớ mộng Thơ Tản Đà thể hiện rõ

một cái tôi đa tình, cái tôi xê dịch và cái tôi ngông và tập trung nhất ở cái tôi đa tình ở đây ông luôn cảm thấy cô đơn, sầu, khát khao giao cảm, muốn giải sầu, muốn lấp chỗ trống của tâm hồn bằng tình cảm của ngời tri kỷ, nhng ngời tri kỷ hợp với Tản Đà lại là ngời phụ nữ, ngời đẹp Lấy tình cảm luyến ái làm thứ thuốc tiêu sầu, Tản Đà nhìn tri kỷ bằng tình yêu nam nữ, ở ông điều đó hình nh thành một thứ lăng kính để nhìn thế giới

Với thể thơ dân tộc Tản Đà đã thu hút đợc sự chú ý ở ngời đọc bởi nó đã thể hiện đợc một giọng nói dịu dàng, trong trẻo, nhẹ nhàng, có duyên, một tấm lòng chân thành, một hồn thơ đằm thắm

ở những bài thơ không định thể, hình thức thơ tự do và gần với những bài thơ mới nh: Cảm thu, Tiễn thu, Tống biệt.

Ông cũng thành công trong thể thơ dịch ở đây, Tản Đà đã thể hiện đợc ý ởng , nội dung nguyên tác vừa thể hiện đợc cái hồn dân tộc vừa thể hiện đợc cái riêng độc đáo của một nhà thơ tài năng (nh dịch Hoàng Hạc Lâu, thơ của Thôi

t-Hiệu, một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc)

Nhìn chung thơ Tản Đà dù ở thể loại nào cũng thể hiện một phong cách riêng, một hồn thơ độc đáo ở đó hiển diện một cái tôi riêng, một chân dung của con ngời mang một nỗi buồn thấm thía trớc cảnh tang thơng của đất nớc, sự phức tạp của xã hội ba đào, của một con ngời đa tài đa tình, nhạy cảm với mọi biến thái của xã hội đang trong sự chuyển mình - xã hội giao thời ở xã hội đó ông quan tâm đến mọi kiếp ngời bất hạnh đặc biệt là số phận những con ngời tài tử, giai nhân với lòng cảm thông chia sẻ và ông đã chọn cho mình một cách viết riêng với thể loại, giọng điệu phù hợp với cái ý tởng của mình

Tiếp xúc với cuộc đời, thân thế, cá tính của Tản Đà, có nhà nghiên cứu cho rằng con ngời Tản Đà là bài thơ hay nhất trong sự nghiệp Tản Đà

Trang 13

Đến với văn nghiệp Tản Đà ta hiểu đợc con ngời ông “Một tâm hồn thi sĩ, một tâm hồn dệt bằng tất cả màu sắc của núi, sông, hoa, cỏ, bằng chua cay, mặn chát của thế tình, bằng tất cả mộng đẹp của yêu đơng, bằng tất cả nhạc điệu” [64, 44].

1.1.2 Tản Đà Ngời của hai thế kỷ , Nhà nho tài tử trong xã hội t sản

Tản Đà là tác giả khá đặc biệt của văn học Việt Nam ông là ngời mang sắc màu của hai thời đại Ông “vừa là quá khứ vừa là hiện đại, vừa cổ học, vừa tân học, là một nhà nho mà cũng là một tiểu t sản thị dân” [24, 62] Tản Đà đã làm“bật nứt” cái tôi của chủ nghĩa lãng mạn với cái buồn, cái sầu, cái mộng, cái

đa tình với nhiều màu sắc Sáng tác của ông vừa cổ điển vừa hiện đại Nó vừa

“tải đạo” nh việc giáo dục thiên lơng, nó mang dáng dấp của các nhà nho, lại chứa đựng những nét tân kỳ hấp dẫn

Thấm sâu về truyền thống gia đình, sự đào tạo của Nho giáo với đạo lý Khổng - Mạnh, vốn Hán học phong phú, Tản Đà ớc mơ làm “ngời học trò Khổng Phu Tử ở á Đông” suốt đời day dứt về việc trời giao đem thiên luơng của nhân loại xuống thuật cho đời hay, ông muốn có “cái đời dài gấp 3,4 đời ngời thờng và cái số tiền nh tiền của chính phủ” để truyền bá Khổng học, và sửa đổi những khuôn vàng thớc ngọc của nho giáo Tản Đà quan niệm: “Thiên hạ hữu

đạo tắc hiện, vô đạo tắc hiện (Thiên hạ có đạo thì ra, thiên hạ không có đạo cũng

cứ ra làm việc với đời) “Dụng chi tắc hành, xã chi bất tàng” (Đời dùng thì đem ra làm, đời bỏ cũng chẳng xếp lại) Ông yêu thích cuộc sống nhàn tản, cuộc sống tao nhã, đạo nghĩa Cũng xuất phát từ chỗ cho rằng tiêu chí của ngời quân tử là lập đức, lập công và lập ngôn, Tản Đà dồn tâm huyết với sự nghiệp văn chơng

Đó là sứ mệnh, sự nghiệp và cũng là thú bất tận của tiên sinh

Ông lại lớn lên trong cơn bão táp của lịch sử, thực dân Pháp xâm lợc, cũ mới giao nhau, á Âu xáo trộn, lại đợc học ở trờng Quy Thức do Pháp mở nên Tản Đà ảnh hởng của hai nền văn hoá, văn học Đông Tây, truyền thống và hiện

đại

Tản Đà thông thạo các thể loại văn học truyền thống, sáng tác theo tính quy phạm nhng ông cũng đặt những bớc chân đầu tiên để mở ra một nền văn học hiện đại đó là khẳng định bản ngã, viết về tình cảm riêng t sâu kín của chính

Trang 14

mình, góp phần mở đờng cho chủ nghĩa lãng mạn của văn học Việt Nam Ông đã

sử dụng thể thơ không định thể, thể loại thơ cha có trong truyền thống, thích hợp với những nội dung mới của thời đại

ở Tản Đà có sự đan xen giữa ý thức hệ phong kiến và t sản, t tởng cũ và mới, sáng tác của ông vừa ảnh hởng của Hán học vừa ảnh hởng của văn học ph-

ơng Tây nhng phần Hán học vẫn chủ yếu Chính ông đã “dạo những bản đàn mở

đầu cho cuộc hoà nhạc tân kỳ đơng sắp sửa” (Hoài Thanh) Ông đợc xem là

“Ngời của hai thế kỷ” là nhà nho tài tử trong xã hội t sản

Tản Đà đa tài, đa tình nhng khi “cử tú không, rể cũng không”, thất chí, thất tình Tản Đà tìm đến những thú vui riêng nh sáng tác văn chơng, và thú xê dịch, thú vui chơi, tìm đến thiên nhiên, sông núi:

Túi thơ đeo khắp ba kỳ Lạ chi rừng biển thiếu gì gió trăng.

(Thú ăn chơi)

ở điểm này Tản Đà mang cốt cách của các nhà nho ẩn dật có màu sắc phóng túng, vô vi của Lão Trang Ông cũng là đồ đệ của Lu Linh, Lý Bạch về thơ rợu:

Trăm năm thơ túi rợu vò Nghìn năm thi sĩ tửu đồ là ai.

Trang 15

xử thế của họ cũng dựa trên Đạo, vẫn hợp với thánh hiền ẩn dật hay hành đạo thì vẫn là sự thống nhất trong mỗi ngời, nó không phải là sự đối lập Lại có một mẫu nhà nho đối lập với hai mẫu nhà nho trên đó là nhà nho tài tử Họ xem tài và tình làm nên giá trị của con ngời Tản Đà là ngời thuộc mẫu nhà nho này.

Xuất thân từ một nhà nho, đợc đào tạo trong nhà trờng Khổng học, con ờng mà Tản Đà lựa chọn cũng là học hành - thi cử - đỗ đạt - làm quan Ông đèn sách đi thi nhng hỏng thi ở Nam Định, thi vào trờng Hậu bổ cũng trợt vấn đáp Thất bại ở khoa cử, cay cú bởi không đợc kế chí phụ huynh, và lại liên quan đến tình duyênn hng Tản Đà vẫn tự hào về văn chơng của mình: “Xuống ngọn bút m-

đ-a sđ-a gió táp, Vạch câu thơ quỷ thảm thần kinh” Mặc đầu thi hỏng nhng đối với

ông đó là điều kiện khách quan, do xã hội, do chế độ thi cử, do không hợp thời, còn bản thân ông vẫn tự xem hơn ngời là có tài:

Vùng đất Sơn Tây này một ông

Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng.

ông muốn có sự nghiệp để xứng với tài năng, thế nhng xã hội không cho

ông thực hiện mộng khoa cử, chế độ thi cử không hợp với ngời phóng túng nh

ông:

Bởi ông hay quá ông không đỗ Không đỗ ông càng tốt bộ ngông.

(Tự trào)

Trang 16

Ông muốn sống một cuộc sống tự do, tự tại, theo sở thích cá nhân Trong sinh hoạt đời thờng Tản Đà có lối sống riêng khiến có lúc ngời ta thấy khó chịu Trong văn chơng, cách viết, nội dung cũng bộc lộ bản lĩnh của mình, muốn giải phóng cá nhân, tình cảm trần thế Thơ, rợu, những cuộc chơi kỳ thú là những thú vui bất tận, là đề tài chính trong sáng tác của ông:

Chơi cho biết mặt sơn hà Cho sơn hà biết ai là mặt chơi

(Chơi Huế)

Trớc Tản Đà đã có một loạt nhà nho tài tử nh Cao Bá Quát Uống mấy chung lếu láo cho tiêu sầu, hay Nguyễn Công Trứ:

Thú gì hơn nữa thú ăn chơi

Chi giàu khó sang hèn là phận cả

Đủ lếu láo với ngời thiên hạ

Tính đã quen đài các bấy lâu Đan một cung, cờ một cuộc, thơ một túi, rợu một bầu

Khi đắc chí phiêu du ờ cũng phải.

(Thích ngao du)

Nhng ở Nguyễn Công Trứ dù dõng dạc tuyên bố về công danh, sự nghiệp,

ăn chơi, hởng lạc, nhàn tản thì cuối cùng ông vẫn thực hiện “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung” Cái thú đó ở Tản Đà lại có nét độc đáo riêng Cái ngông của

“trích tiên”, cái ngông không phá phách Cái chơi cũng đợc ông miêu tả tỉ mỉ vào thơ văn“ Thú ăn chơi , Còn chơi ” “ ”

Ông lại tự nhận mình là ngời đa tình, cái tình của ông cũng riêng, ông đề vào thơ:

Ngời đâu cũng giống đa tình, Ngỡ là ai, lại là mình với ta.

(Nói chuyện với ảnh)

Trong cuộc sống ông cũng nặng lòng với mối tình không thành, mộng thành danh để kết duyên cùng ngời đẹp tan vỡ đã khiến ông vô cùng thất vọng:

Vì ai cho tớ phải lênh đênh Nặng lắm ai ơi một gánh tình.

Trang 17

(Chơi Hoà Bình)

Trong sự nghiệp ông đã dành nhiều trang viết cho cái tình, nhìn sự vật hiện tợng qua lăng kính phong tình ân ái Cái tình mà ông đem ra cũng qua cách nhìn mới mẻ, của một con ngời phóng túng, muốn phá cách là tình yêu ngoài hôn nhân, không bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến:

Nhác thấy không đành mắt Cho nên tiếc của đời.

( )

Tôi thấy ngời ta sao lại nói:

Có chồng càng lại dễ hơn cha.

(Tiếc của đời)

Ông làm thơ Th đa ngời tình nhân không quen biết, Th lại trách ngời tình nhân không quen biết, mơ về cuộc gặp gỡ với Tây Thi, Chiêu Quân và cũng lần

đầu tiên trong văn chơng Việt Nam nói đến tình yêu ngoài hôn nhân và đối lập với hôn nhân

Tài tình, ông coi trọng, đề cao nó Nó đã tạo nét riêng, khác biệt cho thơ

ông, nhng trong hoàn cảnh này nó có số phận ra sao?

Sống trong môi trờng thành thị t sản hoá, chủ nghĩa cá nhân có mảnh đất phát triển Nhng cũng ở đây đồng tiền là thớc đo của các giá trị Đối với Tản Đà thì giá trị lại ở thiên lơng Thị hiếu thẩm mỹ của công chúng khác trớc, kinh tế

và mọi điều kiện thay đổi Tản Đà cũng ôm mộng lập nghiệp bằng văn chơng:

Quyết đem bút sắt mà mài lòng son (Xuân sầu) Dù sao tài tình của ông vẫn khó

đợc đối đãi tử tế nhng Tản Đà “không kiêu ngạo thị tài nh Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát Tuy đa tình nhng cũng không quá khó tính đến mức cố chấp” [10, 174] Cái ngông của Tản Đà cũng không đến nỗi phá phách nh các nhà nho tài tử trong xã hội phong kiến mà cái ngông ấy cũng hiền lành hơn Ông chỉ sống theo

Trang 18

cảm, xót thơng cho những ngời tài tình nhng bất hạnh Bài thơ Thăm mả cũ bên

đờng đã thể hiện rõ tâm sự đó Ông cũng cho rằng: Trong cái sớng chung, thờng lại có ngậm một chút luỵ, trong cái sớng cao cách thờng có ngậm một chút sầu.

Ông lại không nhập cuộc đợc với cuộc sống t sản Ông vẫn giữ khí tiết thanh cao, không để tài tình bị mua chuộc mặc dầu cuộc sống trăm bề khổ cực Nên trong tình hình đó cái tài và tình ông cũng phải cất lên rằng: Tài tình luỵ lắm bạn tình ơi.

Đúng nh Trần Ngọc Vơng nhận xét: “Nếu nh Tản Đà chỉ lặp lại những chủ

đề, đề tài, cũng nh sử dụng lại các thể loại, phong cách bút pháp của các nhà Nho tài tử trớc đây thì đâu còn là nét riêng, nét độc đáo, mới lạ trong sáng tác của Tản Đà nữa” [64, 416]

Tóm lại, Tản Đà là một nhân vật khá đặc biệt, là con ngời của hai thế kỷ, là nhà nho tài tử cuối cùng đã kế thừa các thành tựu của các nhà thơ tài tử Việt Nam và kết thúc một kiểu tác giả của văn học thời kỳ giao thời mà mãi sau này những năm 30 - 45 ta thấy tiếp nối nét tài tử ấy ở nhà văn Nguyễn Tuân

1.1.3 Vị trí củaTản Đà trong lịch sử thơ ca dân tộc

Đối với lịch sử thơ ca Việt Nam, Tản Đà có một vị trí đặc biệt Với tài năng

độc đáo ông để lại một khối lợng tác phẩm lớn, đạt đợc những thành tựu nhất

định trên nhiều thể loại Đặc biệt văn chơng Tản Đà đã phản ánh đợc giai đoạn giao thời - giai đoạn mà văn học Việt Nam đang chuyển mình để thay đổi từ phạm trù văn học trung đại sang văn học hiện đại Tản Đà chính là chiếc cầu nối của hai thời đại văn học ấy

Ông có tài về việc sử dụng các thể thơ ca dân tộc Là ngời học trò đi thi, Tản Đà am hiểu thơ văn phú lục, văn chơng chữ Hán, thông thạo ca trù, thơ song thất lục bát, tuồng chèo, ca lý Nhà thơ Xuân Diệu đánh giá “Tản Đà là thi sĩ rất

An Nam” Ông lại là ngời mạnh dạn đặt những bớc chân đầu tiên mở đầu cho một nền văn học hiện đại Khi văn chơng quốc ngữ đang ở giai đoạn phôi thai, bớc đầu tìm các cuộc thử nghiệm thì ngòi bút của ông đã xông xáo trên mọi lĩnh vực Ông sáng tác những bài thơ với những vần điệu phóng túng, ý tởng mới lạ, trong bài Thơ mới ông khẳng định:

Nếu không phá cách vứt điệu luật

Trang 19

Khó cho thiên hạ đến bao giờ.

Từ những bứt phá đầu tiên đó ông đã ơm mầm cho thể thơ tự do sau này

Đã có nhiều ý kiến bàn luận khác nhau nhng đều khẳng định về vấn đề ấy.Ngô Tất Tố đánh giá về Tản Đà: “Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà vẫn là ngời đứng đầu của thời đại này” Và điều làm cho ông có thể đứng đầu đó theo Xuân Diệu là “Tản Đà là thi

sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại Tản Đà là ngời thứ nhất đã có can

đảm làm thi sĩ một cách đờng hoàng, bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám có một cái “tôi” Nguyễn Tuân cũng cho rằng “Trong chốn tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ ai dám ngồi chung chiếu với Tản Đà” Không phải ngẫu nhiên

mà Hoài Thanh trong bài tổng luận về phong trào Thơ mới 1932 - 1945 đã cung chiêu anh hồn Tản Đà và khẳng định “Tản Đà là con ngời của hai thế kỷ, là ngời dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đơng sắp sửa” Tản Đà là nhà nho trong xã hội t sản, nhà văn chuyên nghiệp đầu tiên xem văn chơng là một nghề

Tản Đà đã kết thúc một thế kỷ thơ ca trung đại, là ngời mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại Ông là ngời đã bắt đợc nhịp cầu truyền thống của thơ văn Nguyễn

Du, Phạm Thái, Hồ Xuân Hơng, Chu Mạnh Trinh, Tú xơng, với lớp sau nh Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Bích Khê, Hàn Mặc Tử Hoài Thanh khẳng định “Có tiên sinh ngời ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất cớc không có liên lạc với quá khứ giống nòi’’ [50, 12]

Ông đã góp một tiếng nói riêng vào diễn đàn văn học đầu thế kỷ, vào tiến trình lịch sử văn học Việt Nam một bản ngã, cái tôi cá nhân, đã “cắm một cái mốc cho bớc ngoặt tiến trình văn học” (Nguyễn Khắc Xơng) Xuân Diệu cho rằng: “thi sĩ Tản Đà những chục năm đầu của thế kỷ 20 đã làm cái nắp xì hơi cho xã hội, đã là ngời tiêu biểu nhất đa ra cái nỗi Buồn, cái Sầu của chủ nghĩa lãng mạn, và đã đa ra bằng những văn thơ hay mà những thi sĩ cùng thời không ai bì nổi’’

Khi xã hội Việt Nam đang đi vào con đờng t sản hoá, ở Tản Đà mặc dầu vẫn tồn tại trong mình dấu vết của nhà nho song đã mang dấu ấn của cái tôi tiểu

t sản Ông đa vào thơ ca một hơi thở mới, nó là sự trỗi dậy của một thứ tình cảm

Trang 20

không chịu đựng đợc sự chật chội của khuôn khổ, muốn bộc bạch, phơi trải, không giấu giếm mọi tâm tình Đó là điều đã bắt nhịp đợc với bao tâm hồn của thế hệ thanh niên lúc bấy giờ Ông là ngời đầu tiên nói đến cái sầu của cá nhân một cách thành thực, mạnh mẽ: “Sầu không có mối, chém sao cho dứt Sầu không có khối đập sao cho tan”.

Tản Đà đã nói lên đợc “cái sầu bàng bạc trong đất trời, tiềm tàng trong tim gan con ngời” Đó cũng chính là cái mầm của “căn bệnh thế kỷ” của phong trào thơ mới sau này

Tản Đà lại mạnh dạn nói đến cái tình một cách táo bạo so với văn học trung

đại Ông cho rằng mình là kẻ đa tình, thuộc “tình chủng” Gặp thất vọng trong tình duyên, ông tìm đến ngời tình trong mộng, đó là những ngời đẹp, giai nhân

mỹ nữ Đây là điều đã chi phối trong đề tài sáng tác, hình tợng nghệ thuật thơ Tản Đà, tạo nên nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật thơ ông Ông nói đến tình yêu ngoài hôn nhân, nhìn tình yêu một cách phóng khoáng hơn so với các nhà nho phong kiến: có nhớ mong, tơng t, giận hờn vô cớ Đó là nhu cầu tình cảm của bao thế hệ mà đến bây giờ mới đợc tìm sự đồng điệu trong thơ Tản Đà Sau này đề tài đó là đề tài tiểu biểu của thơ ca Việt Nam những năm 1930 -

1945, tiêu biểu nh ở ông hoàng thơ tình Xuân Diệu, hay ở những năm 80 với nữ

sĩ Xuân Quỳnh - tình yêu đợc thể hiện nồng nàn, cuồng nhiệt, dữ dội hơn

Thơ Tản Đà viết về cái mộng, cái ngông, cái say một cách say sa Đó chính

là thể hiện một cái tôi muốn khẳng định, muốn vợt thoát khỏi rào chắn của cái ta phi ngã Nh vậy Tản Đà chính là ngời mở màn cho trào lu lãng mạn của văn học Việt Nam

Với cá tính, cái tôi ấy Tản Đà sử dụng một cách thức thể hiện phù hợp, ông vẫn sử dụng các thể thơ dân tộc và đã đem vào chất phóng túng gần với lối thơ mới sau này Chính Tản Đà là ngời đã “dạo những bản đàn cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đang sắp sửa” (Hoài Thanh)

1.2 Sự hình thành phong cách thơ Tản Đà

1.2.1 Khái niệm phong cách và phong cách thơ

Trang 21

Phong cách (Style) là một trong những khái niệm đợc sử dụng rộng rãi, bàn luận nhiều Nét chung, nghĩa phổ quát của phong cách là chỉ cấu trúc với “kiểu”,

“vẻ” riêng, với những đặc trng khá ổn định, bền vững, mang tính độc đáo

Trong văn học, khái niệm này đợc hiểu theo nhiều nghĩa nh phong cách tác phẩm, phong cách tác giả, phong cách thể loại văn học, phong cách thời đại…

Nó đợc dùng từ rất sớm, ngay từ thời cổ đại, ở phơng Tây với các đại biểu nh Platon, sau đó là phơng Đông với đại biểu xuất sắc là Lu Hiệp Cho đến thời kỳ hiện đại khái niệm này là khái niệm trung tâm của nghiên cứu văn học

Phong cách (tiếng Hi Lạp cổ: Stylos, tiếng La tinh: Stylus), từ chỗ đơn nghĩa, chỉ dụng cụ viết, trong quan niệm của ngời Hi Lạp, La Mã đến chỗ phát triển nghĩa, chỉ nét chữ, cách viết rồi bút pháp, văn phong bao hàm cả những đặc

điểm ngôn ngữ và văn thể mà ngời Pháp đã quan niệm (Style) Buffon cũng quan niệm “phong cách chính là bản thân con ngời”, và “chỉ có t tởng tạo nên phong cách, phong cách chỉ là trật tự và sự vận động mà ngời ta đặt vào t tởng”

Theo Từ điển thuật ngữ Văn học: “Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tơng đối ổn định của hệ thống hình tợng của các ph-

ơng tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lu văn học hay văn học dân tộc…phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật, là một biểu hiện của tính nghệ thuật Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách, chỉ những nhà văn tài năng, có bản lĩnh mới có đợc phong cách riêng độc

đáo Cái nét riêng ấy thể hiện ở các tác phẩm và đợc lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn làm cho ta có thể nhận ra sự khác nhau giữa nhà văn này và nhà văn khác”

Tác giả Biện Minh Điền trong cuốn “Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến” khẳng định có sự gặp nhau ở nhiều ý kiến khi xác định phong cách đó là: “Phong cách là biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có tính thống nhất và tơng đối ổn định, đợc “lặp đi lặp lại” trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện cái nhìn và sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với con ngời và thế giới” [11, 38]

Trang 22

Chỉ có những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có phong cách riêng độc

Xã hội Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX là xã hội giao thời Trên nền xã hội ấy mọi hiện tợng có sự biến đổi Về chính trị, chính quyền thực dân Pháp đợc củng cố còn chính quyền phong kiến Việt Nam trở thành bù nhìn, tay sai Còn về kinh tế thì kinh tế nông nghiệp lạc hậu vẫn tồn tại bên cạnh kinh tế t bản chủ nghĩa đã xâm nhập vào Việt Nam nên nó chi phối vào đời sống xã hội, văn hoá Về văn hoá, thì nền văn hoá Khổng Mạnh từ lâu tồn tại ở Việt Nam giờ

đây bị nền văn hoá t bản chủ nghĩa xâm nhập và làm đảo lộn

Những biến động trong đời sống chính trị, xã hội nhanh chóng đợc phản

ánh vào văn học, tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của văn học Khi cơ

Trang 23

cấu xã hội thay đổi, nhiều tầng lớp mới xuất hiện, tâm lý xã hội thay đổi, thị hiếu của công chúng cũng khác trớc Các t tởng dân chủ tự do xuất hiện Lúc bấy giờ cái tôi cá nhân cá thể cựa mình Sự giao thoa của xã hội đó đã khúc xạ vào văn học Màu sắc trong văn học cũng phức tạp, muôn màu nh cuộc sống hiện thực Văn học Việt Nam có sự giao thoa giữa cái cũ và cái mới Cái cũ tuy đã lỗi thời nhng không dễ dàng bị loại bỏ Cái mới hình thành nhng ở trạng thái “ ngỡ ngàng” cha dễ dàng đợc chấp nhận.

Tản Đà là minh chứng tiêu biểu cho sự phức tạp của thời đại ở ông có sự phức tạp trong t tởng, phức tạp ở cá tính, đa dạng trong thể loại, có giọng điệu riêng biệt không trộn lẫn, tạo thành một phong cách độc đáo vào bậc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam

Tản Đà tiếp thu truyền thống văn hoá văn học dân tộc, tiếp nhận văn hoá văn học từ nhiều luồng khác nhau đầu thế kỷ XX Thơ văn Tản Đà vừa nằm trong sự chi phối của hệ thống văn học cổ điển, vừa chịu ảnh hởng của các yếu tố

cũ vừa chịu ảnh hởng của yếu tố mới Thế nhng nguồn ảnh hởng chính đối với sáng tác của Tản Đà là vốn Hán học, Đờng thi Tản Đà học chữ Hán từ nhỏ Trong thơ mình, Tản Đà đã nói về tình hình ấy Từ lúc năm tuổi Tản Đà đã học Tam tự kinh, ấu học ngũ ngôn thi

Cuối năm lên sáu ta về Khê Đà giang, Tản lĩnh nớc non quê.

Sách Nho học truyện lại học sử

(…) Quốc ngữ cũng mới làu a, b.

(Ngày xuân nhớ xuân)

Cái lãng mạn ở Tản Đà cũng chịu ảnh hởng từ Trung Quốc truyền sang qua các bậc tiền bối Nguyễn Du, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát

Tản Đà đi nhiều, có thú phiêu du lãng tử và trong cái thú xê dịch đó ông cũng có dịp tiếp thu lời ăn tiếng nói những ngời bình dân, gần gũi với đời sống của họ đã tạo chất liệu trong sáng tác của ông Trong thể loại thơ lục bát, hát nói,

Trang 24

phong dao , đề tài về thiên nhiên Việt Nam, cuộc sống hiện thực , ngôn ngữ dân tộc, giọng điệu dân tộc thể hiện đậm nét Nhà thơ dùng nhiều h từ, dùng từ

đa nghĩa mơ hồ, âm điệu ca dao tạo thành những tác phẩm đạt đến đỉnh cao nghệ thuật

Tản Đà đã kết hợp đợc hai nền văn chơng bác học và văn học bình dân, chất uyên bác của văn chơng bác học và chất duyên dáng, tự nhiên của văn chơng bình dân tạo nên nét hấp dẫn của thơ ông

Tản Đà viết về hiện thực xã hội Việt Nam, mô tả nó, tố cáo, đả kích bọn bán nớc hại dân, mỉa mai trò lố bịch ở đời (Sự đời, Nhắn Từ Đạm, Cảm đề) ở

đây ông đã nối tiếp các nhà thơ dân tộc nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng

Bên cạnh chịu ảnh hởng của yếu tố truyền thống, Tản Đà còn chịu ảnh hởng của văn học phơng Tây

Nếu trớc thế kỷ XX, văn học nớc ta chủ yếu chịu ảnh hởng của văn hoá, văn học trong khu vực thì đến đầu thế kỷ XX, văn học có chịu ảnh hởng của văn học phơng Tây (chủ yếu là văn học Pháp) Mặc dầu cuối thế kỷ XIX nớc ta đã có

điều kiện tiếp xúc với văn hoá phơng Tây bởi cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp nhng vẫn đang trong sự dè dặt Đến giai đoạn này văn hoá phơng Tây

du nhập vào nớc ta bằng nhiều con đờng Lối sống, tâm lý của ngời dân thành thị khác trớc Cùng với sự tiếp xúc với các tác phẩm của văn học phơng Tây với các tác giả tiêu biểu nh V.Huygô, Môlie, La Phôngten chữ quốc ngữ đợc sử dụng rộng rãi, điều kiện in ấn, xuất bản phát triển

Những điều kiện đó đã ảnh hởng tới sáng tác của Tản Đà Ông lại đợc học tập tiếng Pháp đến trình độ sơ học:

Hà thành qua trải một đời xuân Học chẳng cao thêm cũng rộng dần Mới học Pháp văn từ lúc ấy

ấy năm Thành Thái sang Duy Tân.

(Ngày xuân nhớ xuân)

Tản Đà cũng chịu ảnh hởng của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục mang khuynh hớng t sản hoá Đợc tiếp xúc với nền văn minh học thuật Âu Tây qua

Trang 25

Tân th Trung Quốc nên trong Tản Đà đã có yếu tố của một nền văn hoá văn học mới đặc biệt ở tinh thần đổi mới về ý thức, cái tôi cá nhân đợc bộc lộ một cách

đậm nét, thành thực, công khai Tản Đà đem tình cảm của con ngời cá nhân vào văn học, đó là nỗi buồn, niềm vui, sự lo âu, niềm hi vọng, những khao khát yêu

đơng vào sáng tác của mình Nhà thơ đã đem ngọn gió mới ấy vào văn học tạo tiền đề cho sự ra đời của trào lu văn học lãng mạn Việt nam 1930 - 1945 Điều này làm cho thơ ông hấp dẫn công chúng thị dân Thơ ông đã diễn tả đợc cái

“tâm trạng của một trí th ức phong kiến hết thời, vừa pha thêm màu sắc của một cái tôi t sản buổi đầu”

Ông là cây bút vừa lãng mạn, vừa hiện thực Hai yếu tố đó tồn tại trong một nhà thơ Tuy nhiên mâu thuẫn này có thể lý giải đợc Vậy nét thống nhất là ở

đâu? hiện thực hay lãng mạn? Tuy nhiên Tản Đà vẫn là nhà văn lãng mạn Có

điều ở thơ ông, lãng mạn không tách rời hiện thực Có thể thấy một thế giới mộng, lãng mạn, sơng khói, mây nớc huyền ảo trong sáng tác của tiên sinh nhng

đều có cội rễ từ hiện thực Ông có thể tìm vào mộng, lên tiên giới, thoát ly nhng không bao giờ quay lng với hiện thực thời đại mình

Tất cả những yếu tố trên cùng với sự năng động trong lựa chọn hớng sáng tác đã tạo nên phong cách thơ Tản Đà

Chơng 2

T tởng nghệ thuật và cái nhìn về con ngời,

thế giới của tản đà

2.1 T tởng nghệ thuật của Tản Đà

2.1.1 Khái niệm t tởng nghệ thuật

Trong Phong cách Nguyễn Khuyến, Biện Minh Điền khẳng định: “Một nhà

văn lớn bao giờ cũng có t tởng thẩm mỹ riêng, cái nhìn riêng độc đáo về con

ng-ời và thế giới”[11,103]

Trang 26

T tởng thẩm mỹ trong văn học thực chất là t tởng nghệ thuật, Nguyễn Đăng

ạnh xác định trong Con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn: đây là “thứ

t tởng có tính tổng hợp cao”, “thứ t tởng bao trùm cả toàn bộ sự nghiệp sáng tác

của nhà văn, chi phối về căn bản toàn bộ thế giới nghệ thuật của ông ta Nó tạo

ra cho sự nghiệp ấy tính thống nhất, tính hệ thống hay tính chỉnh thể”

Đấy là thứ t tởng đợc thể hiện qua hình tợng, sống bằng hình tợng, đợc nghệ thuật hoá “Trong sáng tác của một nhà văn, có thể có sự tham gia của nhiều loại

t tởng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nh chính trị, triết học, đạo đức, nhng tất cả những t tởng này đều thống nhất trong t tởng sáng tạo chủ đạo, tâm đắc mang

ý nghĩa xã hội - thẩm mĩ mới mẻ, sâu sắc (tức t tởng nghệ thuật) của tác giả” (Biện Minh Điền) Tác giả cũng khẳng định rằng: một nhà văn có phong cách phải là nhà văn có t tởng nh thế Nếu thiếu nó, dẫu kỹ thuật của nhà văn có tinh xảo đến đâu thì tác phẩm cũng chỉ là một sự xếp chữ mờ mịt, có đợc gọi là phong cách thì cũng chỉ là phong cách giả tạo nh khuyến cáo của G W Hêghen

mà thôi T tởng nghệ thuật cùng với quan niệm về con ngời và thế giới của nhà văn đóng vai trò là “kim chỉ nam” cho việc tạo dựng thế giới nghệ thuật của ông

ta M Khrapchenkô cho rằng “Gắn liền với cách nhìn cuộc sống bằng hình tợng, với những biểu tợng về các tính cách của con ngời, về những mối quan hệ giữa

họ và nó trở thành kim chỉ nam cho tìm tòi sáng tạo của nhà văn để xây dựng tác phẩm nghệ thuật” [26 ,25]

T tởng nghệ thuật chi phối cách nhìn, cách viết, cách xây dựng hình tợng của nhà văn Tìm hiểu về phong cách nghệ thuật của một nhà văn thì xác định đ-

ợc t tởng nghệ thuật là điều cần thiết Mọi tác phẩm nghệ thuật của nhà văn cũng cần đợc soi chiếu từ t tởng nghệ thuật ấy Hêghen gọi t tởng nghệ thuật là t tởng của tác phẩm nghệ thuật và theo ông đó là cái nhìn thấy đợc vì đợc biểu hiện ra bên ngoài và vừa là “cái ẩn náu bên trong tác phẩm Cái ẩn náu bên trong làm cho hiện tợng bên ngoài chan chứa sức sống”, và cái bên ngoài chỉ cho chúng ta thấy cái bên trong tức nội dung tinh thần, t tởng của tác phẩm nghệ thuật” [11, 104-105]

2.1.2 T tởng nghệ thuật của Tản Đà

Trang 27

T tởng nghệ thuật thể hiện ở từng tác phẩm cụ thể, riêng lẻ đến t tởng sáng tạo bao trùm, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định Tản Đà là hiện tợng phức tạp, theo Tầm Dơng Tản Đà là một “ khối mâu thuẫn lớn”, sáng tác của Tản Đà “vừa đậm chất trữ tình, vừa hài hớc và đại chúng, vừa

có ý vị hiện thực lại vừa bàng bạc một màu sắc lãng mạn” Trong tác phẩm của mình, Tản Đà đã dùng nhiều tên gọi khác nhau nh Khối tình con 1, Khối tình con 2, Giấc mộng con, Giấc mộng lớn.

ông thờng nói về cuộc đời, sự gắn bó sâu sắc với quê hơng đất nớc Tình yêu, thế giới mộng ảo đợc ông nhắc đến nhiều, thấm đậm nỗi buồn và cả sự hẩm hiu Tản Đà đã thể hiện một cái tôi ngông nghênh, phiêu du, lãng tử, xê dịch, đa tình Tất cả những nét ấy đã cấu thành t tởng nghệ thuật

Có thể nói t tởng nghệ thuật Tản Đà xoay quanh hai phạm trù cơ bản “tình”

và “mộng”- hai khái niệm xuất hiện nhiều nhất trong sáng tác Tản Đà “Tình” và

“mộng” thực sự trở thành một quan niệm, một t tởng, một ám ảnh khôn nguôi trong thơ văn ông Không phải ngẫu nhiên mà sáng tác Tản Đà cứ trở đi trở lại với hai phạm trù này Ông viết : Khối tình con 1, Khối tình con 2, Giấc mộng con, Giấc mộng lớn…

Trớc hết là về “tình” “Tình” là gì vậy? Đấy là tình yêu: với giai nhân, với con ngời, với những kiếp ngời tài hoa, phận bạc; với cuộc đời, với đất nớc, quê h-

ơng…Trong thơ ông viết nhiều về mình, bệnh đa tình, vui, buồn, tha thiết vì nó.

Còn “mộng”? Ông quan niệm cuộc đời là một giấc mộng Ông có Giấc mộng lớn, giấc mộng con rồi giấc mộng con thứ nhất, giấc mộng con thứ hai, rồi giấc mộng con thứ ba … đó là những tởng tợng lãng mạn của Tản Đà trong sáng tác Ông tìm đến mộng nh một thứ cứu cánh để giải thoát khỏi cái “luỵ trần gian” Ông cho rằng: Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng Mộng trong thơ ông

thể hiện rõ ở nhân vật, ở thời gian, không gian, thế giới mộng tởng

“Tình” và “mộng” cho thấy cái lãng mạn trong phong cách Tản Đà Ông viết về tình yêu, về mộng đủ màu sắc Ông viết về những tình cảm thành thực, về cái đa tình của chính mình, có nhớ thơng, hờn giận, trách móc, thơng cảm, xót xa… với giọng man mác buồn, sầu, hy vọng tha thiết…ở đâu cũng trong một tâm trạng yêu đơng, trong chia sẻ, thông cảm Ông viết về những khát vọng bay

Trang 28

bổng nh chim bằng, về cõi đời mới, về hầu trời, về chốn cung nguyệt với bao tiên nữ, gặp gỡ bao giai nhân, vĩ nhân… Tất cả đều biểu hiện một khát vọng mãnh liệt về tự do, về cá tính của mình Với Tản Đà, dẫu cho chính trị có theo xu hớng nào, đạo lý ra sao thì khi đi vào thơ ca cũng đợc ông lãng mạn hoá, phong tình hoá “Tình” và “mộng” chính là kim chỉ nam, sợi chỉ xuyên suốt trong t tởng sáng tạo của Tản Đà.

2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Tản Đà

2.2.1 Từ t tởng sáng tạo chủ đạo đến cái nhìn nghệ thuật của Tản Đà

Một nhà văn lớn bao giờ cũng có t tởng nghệ thuật mà Nguyễn Đăng Mạnh gọi là “t tởng nghệ thuật cơ bản”, đây “là thứ t tởng bao trùm cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chi phối căn bản toàn bộ thế giới nghệ thuật của ông ta Nó tạo

ra cho sự nghiệp ấy tính thống nhất, tính hệ thống hay nói đúng hơn, tính chỉnh thể” Nguyễn Xuân Nam xác định: “Nhận ra t tởng sáng tạo chủ đạo”, tức là “t t-ởng mà tác giả tâm đắc nhất trong cuộc đời và thiết tha chia sẻ với ngời đọc trong tác phẩm của mình”

Qua khảo sát, phân tích toàn bộ thơ Tản Đà chúng tôi xác định t tởng nghệ thuật của Tản Đà xoay quanh hai phạm trù cơ bản là “tình” và “mộng” nh ở 2.1.2

T tởng tạo ra cái nhìn “t tởng trở thành nguyên tắc của cái nhìn và của sự miêu tả thế giới” (M Bakhtin) Mỗi nhà văn có một cái nhìn cơ bản theo lăng kính riêng, từ đó đã tổ chức tác phẩm, tạo dựng thế giới nghệ thuật theo cái nhìn của mình

Phù hợp với t tởng sáng tạo của mình, nhà thơ Nguyễn Khuyến nhìn con ngời và thế giới qua lăng kính tiết, Nguyễn Du nhìn thế giới bằng “con mắt bao cả sáu cõi và tấm lòng nghĩ tới nghìn đời” Bà Huyện Thanh Quan thờng “nhìn cảnh vật theo lăng kính tà huy”, Hồ Xuân Hơng “nhìn thế giới lấp lửng hai mặt” Nguyễn Đình Chiểu quen nhìn con ngời và cuộc sống qua lăng kính “vì nghĩa” (dẫn theo Biện Minh Điền [11,118] ở Tản Đà t tởng nghệ thuật chủ đạo là là

“tình” và “mộng” Từ t tởng chủ đạo đó mà trong sáng tác của mình, Tản Đà đã

tổ chức tác phẩm theo cách riêng, “nhìn mọi ngời, mọi vật, mọi quan hệ theo một lăng kính ái ân phong tình” (Trần Đình Hợu) Từ cái nhìn nghệ thuật đó mà

Trang 29

mọi đối tợng của sự thụ cảm nghệ thuật đi vào thơ ông đều đợc soi chiếu, thẩm

định qua cái lăng kính thẩm mỹ độc đáo này

2.2.2 Tản Đà nhìn con ngời và thế giới qua lăng kính ái ân phong tình

“Văn học và cuộc sống là đờng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó là con ngời” Con ngời là đối tợng nhận thức trung tâm của văn học nghệ thuật Bất cứ một nhà văn nào dù miêu tả, về thiên nhiên, con vật thì cuối cùng cũng hớng

đến cuộc sống con ngời, nó là cái đích cuối cùng của văn học Mỗi nhà văn muốn trở thành một nhà văn thực thụ, có phong cách riêng thì phải có cách nhìn riêng về con ngời và thế giới

Tản Đà tự nhận mình là “cái giống đa tình” và “ta có một” Nhng trong thực tế ngời đẹp cứ lần lợt ra đi - giấc mộng tình duyên không thành, nó đã in dấu, chi phối sự nghiệp văn chơng của ông, dấu ấn đó gần nh phủ khắp các trang thơ, văn của ông Ông nhìn con ngời và thế giới qua lăng kính phong tình, ân ái Cái nhìn ấy, lăng kính phong tình ấy chi phối sức tởng tợng của ông, khiến cho ông nhìn con ngời và cảnh vật luôn trong một tâm trạng yêu đơng

ý thức rõ đợc cái tôi cá nhân rõ nét, Tản Đà lấy chính bản thân mình làm

đối tợng sáng tác, dám bày tỏ suy nghĩ của mình, khát khao phơi trải

Tản Đà thể hiện hình tợng cái tôi, dựng lên một cái tôi sừng sững trong văn học, công khai tồn tại giữa cuộc đời Tản Đà tự xng mình trong thơ: Tôi, ta,

tớ, ông, Tản Đà, bác Dù ở phơng diện nào Tản Đà cũng xem mình là ngời có tài tình “Hiếu ta bình sinh thích chè ngon, thích gái đẹp” Tản Đà cũng nói nhiều

đến cái tôi buồn, sầu, ngông Sống cuộc sống long đong vất vả nhng Tản Đà không chán nản Ông giải thoát vào một thế giới khác: thế giới mộng ảo Ông cho rằng toàn bộ cuộc đời ông là giấc mộng lớn “Đời ngời đã là giấc mộng lớn, trong giấc mộng lớn lại có giấc mộng con, giấc mộng con thứ nhất lại có giấc mộng con thứ hai” Cái mộng ấy là cuộc đời bất nh ý, ông đã tìm đến mộng, trong mộng ông cũng bộc lộ đợc cái tôi một cách tự do, thành thực, dám nói đến những ngõ ngách sâu kín của tâm hồn Tản Đà nói về mình, nhìn mình :

Văn chơng thời nôm na

Thú chơi có sơn hà.

(Tự thuật)

Trang 30

Hay: Trời sinh ra bác Tản Đà

Quê hơng thời có cửa nhà thời không.

Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông

Bạn bè sum họp vợ chồng biệt ly.

(Thú ăn chơi)

“Tản Đà tự khẳng định mình nh một độc giả, một nhà phê bình đầu tiên có thẩm quyền nhất để nói về chính mình”[16, 298]

Tản Đà nói về mình, nhìn thẳng vào mình Chính cuộc đời và con ngời Tản

Đà đã khơi nguồn cảm hứng cho thơ ca ông Ông nhìn mình với một sự say mê,

ông nhận thấy mình là con ngời có tài nhng không gặp thời:

Tài cao phận thấp chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hơng

Ông tự cho mình là ngời ham chơi, rợu thơ là thú vui bất tận và tự hào với nó:

Trăm năm thơ túi rợu vò Nghìn năm thi sĩ tửu đồ là ai.

(Thơ rợu)

Hay: Đời cha chán tớ tớ còn chơi

Tản Đà cho mình là ngông, mộng, say nhng cái nhìn về bản thân đậm nét nhất cũng là qua lăng kính phong tình - Tản Đà cho mình là một kẻ đa tình:

Ngời đâu cũng giống đa tình

Ngỡ là ai lại là mình với ta.

(Nói chuyện với ảnh)

Đa tình đã làm cho Tản Đà phải sầu, buồn, nhng đa tình cũng khiến cho cuộc sống thi vị Từ cái tình ấy mà khiến cuộc sống vui buồn, hi vọng, thất vọng,

đợi chờ nhung nhớ, khiến lòng tơng t:

Quái lạ! làm sao cứ nhớ nhau Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâu Bốn phơng mây nớc ngời đôi ngả

Hai chữ tơng t một gánh sầu.

(Tơng t)

Trang 31

Ông nhìn vào những nỗi riêng t, những tâm t sâu kín, thành thực, đáng yêu Nhìn mình là ngời đa cảm Nhớ chăng? Chăng hỡi? Hỡi cô mình? (Lu tình) Nhớ

ngời cụ thể nh chị hàng cau, nhớ bạn, nhớ bác Thù Nguyên, nhớ bạn sông Thơng

và nhớ cả những đối tợng mơ hồ Nhớ ai mà lắm nỗi sầu t Tiên sinh lại viết

những bức th tình gửi ngời tình nhân có quen biết, không quen biết và cũng trách móc tình tứ Thấy mình thật tếu táo: Xem cô chài đánh cá, Ghẹo ngời vu vơ, Đùa cô s , gạ gẫm cả Hằng Nga để Trời mắng Nhng cái con ngời tài tử ấy có số

phận phải luỵ vì hai chữ tài tình, “gánh tài tình”, Tài tình luỵ lắm bạn tình ơi (Đề tuồng Tây Thi) Nó trở thành gánh nặng cho con ngời tài tử, là kiếp đoạn trờng,

là bạc mệnh

Từ sự cảm nhận về bản thân mình, từ ý thức cá nhân đó mà ông nhận thấy nhiều số phận khác trong xã hội Ông đề cập đến cuộc sống bình thờng, cụ thể; quan tâm đến sự đau khổ và nghèo khó của con ngời Tản Đà nhìn con ngời với

sự cảm thông, chia sẻ, nhân đạo Ông quan tâm đến những số phận tài tử, giai nhân trong cuộc sống khắc nghiệt, trong tình huống “tài mệnh tơng đố” và có sự

đồng cảm sâu sắc Ông cho rằng đó là “kiếp tài tình”, và cùng hội cùng thuyền với mình:

Chuyến đò ngang mình sau ta trớc Kiếp tài tình mặt nớc chân mây

(Đề Tuồng Tây Thi)

Ông tởng tợng ra những số phận hẩm hiu Trong tác phẩm của mình, những bài thơ, những câu chuyện nói về điều đó một cách cảm động, sâu sắc :

Má hồng để tiếc cho ai Đời ngời nh thế có hoài mất không.

(Tế Chiêu Quân)

Cũng từ thân phận của mình, tác giả thấy có một mối liên hệ, có số phận chung:

Hồn cô ví có ở đây Đem tôi đi với lên mây cũng đành.

(Tế Chiêu Quân)

Trang 32

Thơ Tản Đà có sức khái quát cao, về những cảnh đời, về số phận chung của những “kiếp tài tình” Là ngời đa cảm, đa sầu, một cảnh đời, một hiện tợng, sự việc bắt gặp ngẫu nhiên cũng khiến nhà thơ trăn trở, day dứt Nó xuất phát từ vốn sống phong phú, từ sự gần gũi sẻ chia, từ trí tởng tợng của ông Đó cũng chính là nguồn mạch cho những tác phẩm giàu giá trị nhân văn Ông tởng tợng bao số phận của con ngời trong xã hội nếu tài tình thì đều gặp nhau ở “bạc mệnh” mà nhà thơ nhân đạo Nguyễn Du đã từng khái quát “Tài hoa bạc phận” Trớc nấm

mồ bên đờng, Tản Đà đã xúc động, xót xa và tự đặt ra bao câu hỏi:

Ngời nằm dới mả ai ai đó Biết có quê đây hay vùng xa?

(Thăm mả cũ bên đờng)

Với đại từ ai phiếm chỉ, nhà thơ suy nghĩ về số phận kẻ mệnh bạc đi vào cát

bụi Hơn thế nữa hai từ ai đi liền nhau liên tiếp ai ai đó là nhà thơ lại nói đến

định mệnh của cả “kiếp trầm luân” không trừ một ai Nó là những cảnh đời, số phận của kẻ cung kiếm, khách văn chơng, hay hồng nhan bạc mệnh gặp bớc phong trần , lu lạc, khách phong lu phải phiêu bạt, gặp cảnh phong sơng là bậc tài danh Giận duyên tủi phận hờn ân ái Nhà thơ tởng tợng ra những kiếp ngời,

số phận trong xã hội là những tài tử giai nhân, có kết cục bi thảm, xót xa Phải là ngời “Thơng ngời nh thể thơng thân” thì nhà thơ mới linh cảm tiên đoán đợc Nỗi niềm tởng đến mà đau Thấy ngời nằm đó biết sau thế nào? Cũng nh Thuý Kiều

trớc ngôi mộ Đạm Tiên, Tản Đà đa cảm, đa sầu, vận vào bản thân nh tự trói bằng sợi dây oan nghiệt Tiếng thơ là tiếng nấc, là sự uất ức:

Tài cao phận thấp chí khí uất Giang hồ mê chơi quên quê hơng.

(Thăm mả cũ bên đờng)

Những thanh trắc đi liền nhau, phá cách cũng là để diễn tả tâm trạng, thái

độ của một cái tôi ý thức đợc tài năng, ý thức đợc số phận của bản thân cũng nh những kẻ cùng hội cùng thuyền trong hoàn cảnh Tài tình chi lắm cho trời đất ghen Nhà thơ tự thốt lên rằng: Dở dang là cái tài ba Chắp tay vái lạy trăng già chứng cho

Trang 33

Từ thế kỷ XIX, chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn đã đạt đến đỉnh cao với các nhà thơ Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm , thế nhng đến Tản Đà cái nhìn về ngời khác không phải từ cảm nghĩ về con ngời nói chung mà xuất phát từ chính cái nhìn bản thân mình Xuất phát từ những số phận gần gũi với mình, là mẹ, là cô

đào nơng ở phố Dinh Hải Phòng, là thân thế ngời yêu đều trầm luân, lu lạc Trong bài Cảm thu, tiễn thu, nhà thơ cũng gọi lên:

Nào những ai:

Sinh trởng nơi khuê các, Khuya sớm phận nữ nhi , Song the ngày tháng thoi đi, Vơng tơ ngắm nhện nhỡ thì thơng hoa Nào những ai

Tóc xanh mây cuốn, Má đỏ hoa ghen Làng chơi duyên đã hết duyên Khúc sông trăng dãi con thuyền chơi vơi

Tất cả trong một sự ra đi, trong sự tiễn biệt, phù du của cõi đời: Vèo trông lá rụng đầy sân, Công danh phù thế có ngần ấy thôi Tản Đà bày tỏ nỗi lòng

đồng cảm, sẻ chia sâu sắc, thành thật Đó là tấm lòng nhân văn nhân đạo của một nhà thơ có tấm lòng luôn đau đáu với cuộc đời, trải lòng mình cùng những kiếp ngời “bạc mệnh” Trong Cánh bèo nhà thơ đã khái quát: Khắp nhân thế là nơi khổ ải và nhắn nhủ Ai ơi vớt lấy kẻo hoài Những vần thơ buồn, đó là tiếng than

của một cái tôi cá nhân, than cho những số phận bi thảm, tài tình bị vùi dập Cái nhìn của Tản Đà đối với con ngời là cái nhìn thơng cảm, xót xa Nhà thơ trân trọng cất tiếng kêu thơng “Tài tử cùng đờng, giai nhân bạc phận, con ngời ta đến thế cũng đành cho là một sự tại trời” Tản Đà gắn bó với đời, gắn bó với kiếp ng-

ời giữa cảnh “xã hội ba đào”, ở đó đang diễn ra sự thay đổi của các bảng giá trị

Tản Đà nhìn xã hội dới con mắt của một nhà Nho Xã hội t sản hiện lên trong thơ

ông đó là luân thờng, đạo lý bị phá huỷ, đồng tiền chế ngự, quan lại hoành hành:

Luân thờng đổ nát, phong hoá suy Tiết nghĩa rẻ rúng, ân tình ly ông thấy Gió gió ma ma đã chán phèo.

Trang 34

Dới con mắt của nhà thơ, mỗi ngời một số kiếp, từ quan lớn đến những kẻ khố rách áo ôm, ngời canh cửi hay thợ thuyền thì cũng đều nằm trong cảnh:

Đã sinh ra kiếp nhân hoàn Lao tâm lao lực một đoàn khác chi.

Tấm lòng nhân ái của Tản Đà trải lên bao số phận mọi kiếp ngời trong xã hội, từ những kẻ cố lý tha hơng, đến những kẻ đao cung, văn chơng, khách hồng nhan, khách phong lu đến bậc tài danh Mỗi kiếp ngời đều đợc Tản Đà nhìn ở một góc riêng nhng họ đều chung nhau ở số phận hẩm hiu, đặc biệt là những giai nhân tài tử Tiên sinh đồng cảm, sẻ chia với họ, xem rằng mình cũng cùng hội cùng thuyền, tri âm, tri kỷ:

Chi để khách đa tình đa cảm,

Một mình thay cảm những ai ai!

Nhìn lại quãng đời qua nghĩ về kiếp ngời, thân phận con ngời, Tản Đà nhìn thấy:

Nghĩ cho muôn vật hoá sinh

ở trong vũ trụ cái hình ra chi.

Trăng kia tròn đợc mấy khi Hoa kia nở đợc mấy thì hỡi hoa

.Cho hay những khách trần hoàn Nhìn xa ở lại thế gian mấy mà.

Trông lên một mảnh trăng tà Soi chung kim cổ biết là những ai.

(Trông trăng cảm tởng)

Tản Đà nhìn con ngời qua lăng kính phong tình, qua mộng Ông nhìn con ngời đặc biệt là ngời phụ nữ nh là ảo ảnh, những ngời mà tác giả mong muốn sẻ chia, gửi gắm mà trong xã hội lúc bấy giờ khó tìm kiếm, đó là những ngời đẹp Nói chung qua cái nhìn của Tản Đà, con ngời có tài tình đều bạc mệnh Cái nhìn

ấy là sự cảm thông, chia sẻ Hồn thơ của tiên sinh bàng bạc, mơ hồ, có lúc gợi cảm giác chơi vơi nhng chan chứa nghĩa tình

Ông nhìn cuộc đời, về thế giới ngoại giới (Cuộc sống, thiên nhiên, vũ trụ) cũng mang nét riêng biệt

Trang 35

Từ sự chứng kiến cảnh nhân tình thế thái bị đảo điên, đạo đức cũ suy đồi, với bi kịch riêng của cá nhân, Tản Đà mang một nỗi buồn, sầu nhân thế Với thiên tính nghệ sĩ bẩm sinh, Tản Đà muốn giải thoát vào mộng Tản Đà nhìn thế giới qua giấc mộng Ông cho rằng “Mộng và mộng, đời ngời cũng là mộng, mộng là cái mộng con, đời là cái mộng lớn chỉ khác nhau vì dài ngắn lớn nhỏ mà thôi” Là ngời đa tình, đa cảm, Tản Đà muốn thoát ra khỏi hiện thực tù túng Trong mộng, tiên sinh sẽ thực hiện đợc ớc mơ về sự nghiệp, về tình riêng, đợc gặp ngời tri kỷ để sẻ chia Trong cuộc sống hiện thực phải đối diện với túng thiếu

về vật chất, thiếu tri kỷ, bạn tình bỏ đi, luân thờng đổ nát, ông tự hỏi: Trăm năm trần thế duyên hay nợ Bao cuộc tang thơng sắc với tài (Gót sen lay động khách

là ai nên: Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng Ông xem “đời là một giấc mộng

lớn, trong giấc mộng lớn ông lại có giấc mộng con, trong giấc mộng con thứ nhất rồi lại giấc mộng con thứ hai rồi lại giấc mộng con thứ ba ông mộng rồi lại mộng” [16, 187] Tản Đà tìm một thế giới khác, một thế giới thật tự do trong

ý tởng, ở đó ông thấy đợc giải thoát khỏi cái tù túng, chật chội, cái nhỏ nhen ờng nhật Thế giới ngoại giới đợc Tản Đà nhìn qua mộng Trong mộng, mọi điều

th-sẽ đợc vẽ ra theo trí tởng tợng của mình, ở đó tiên sinh tìm đợc “ cái tự do trong sạch, cái độc lập thanh nhàn” Nơi đó mọi khắc nghiệt của số phận không thể chi phối đợc Còn trần gian thì Tài tình luỵ lắm bạn tình ơi ở đó đợc chu du với

cảnh đẹp “bao la bát ngát”, là núi tuyết, rừng băng, sông Ngân Hà, bể Nam Minh dạo chơi giữa dòng sông mà cảm nhận “thu thuỷ cộng trờng thiên nhất sắc” Trong mộng, Tản Đà thởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên đất nớc, nhìn cảnh vật trong sự đam mê:

Non xanh xanh xanh Nớc xanh xanh Nớc non nh vẽ bức tranh tình.

Qua mộng Tản Đà đã đem đến cho ngời đọc thấy cảnh đời, “cảnh sầu thành

u uất của lớp ngời kỹ nữ giang hồ” (Nguyễn Khắc Xơng)

ông mở rộng không gian nghệ thuật: lên trời gặp các tiên nữ: Chu Kiều Oanh, Tây Thi, Dơng Quý Phi , ông nói chuỵện với ngời trong mộng để giãi bày tâm sự “Thế giới của nhà thơ dựng nên giữa mộng” [5, 210] Hiện thực cuộc

Trang 36

sống không thực hiện đợc mơ ớc, Tản Đà mợn mộng để nói chuyện đời Đó là tiêu diêu du khắp thiên hạ, là phê phán những kẻ phản quốc, nói cái ý chí của mình nói với các mỹ nhân “quốc phá thân vong” hát khúc tiêu dao của tấm lòng hoài quốc

Tất cả đều bộc lộ một “thèm khát tình cảm: thiếu tri kỷ, thiếu bạn tình” (Trần Đình Hợu) Từ cái nhìn ân ái, phong tình chi phối sức tởng tợng, Tản Đà thấy thế giới cảnh vật cũng nh đang ở trong tâm trạng yêu đơng Trong bài Nhớ bạn sông Thơng nhìn cảnh vật ông cũng thấy nó nhớ thơng, cũng xa cách để lòng

ngời phải bối rối tơ lòng, trách đôi dòng Đà, Thơng chia hai ngời ra hai ngả:

Đà, Thơng đôi ngả cho ngời sầu thơng.

để rồi nhắc nhở Yêu nhau thì hoạ chữ thơng mấy vần Kết thúc bài thơ lại

bất ngờ, ngợc lại :

Hoạ may Hà Bá xoay vần, Thơng Giang, đà Thuỷ có lần nối nhau.

Hay ba bức th ngỏ của nhà thơ cũng có cái nhìn ân ái Đặc biệt trong Thề non nớc cảnh vật cũng đợc thổi vào một hơi thở của tình yêu, cũng nhớ nhung,

thề thốt, cách xa, thuỷ chung, hy vọng, ớc mơ:

Nớc non nặng một lời thề Nớc đi, đi mãi cha về cùng non.

Nhớ lời nguyện nớc thề non Nớc đi cha lại non còn đứng không.

( ) Còn non còn nớc hãy còn thề xa

Ông có những bài thơ vịnh cảnh nhng cũng rất phong tình nh Chơi

chùaH-ơng Tích:

Nớc tuôn ngòi biếc trong trong vắt

Đá hỏm hang đen tối tối mò Chốn ấy muốn chơi còn mỏi gối Phàm trần cha biết nhắn nhe cho.

Trớc cảnh đẹp chùa Hơng, Tản Đà nhìn thấy cái nét đáng yêu, tinh tế của tình yêu nam nữ Nhìn cảnh vật cũng có hồn bởi cái nhìn phong tình ân ái in màu

Trang 37

lên tất cả Cái nhìn ấy đã chi phối cách xây dựng hình tợng trong thơ ông tạo nên phong cách riêng, độc đáo.

2.3 Hệ thống hình tợng thơ Tản Đà

2.3.1 Hình tợng cái tôi trong thơ Tản Đà

Nguyễn Đình Chú cho rằng “ Một tác phẩm văn học dù ở thời đại nào, dù

đã tự giác hay cha tự giác, nhận thức cái tôi thì trớc hết vẫn là sản phẩm, là con

đẻ của một cá thể” (Vấn đề “ngã” và “phi ngã” trong văn học Viêt Nam trung- cận đại, Tạp chí Văn học, số 5-1999)

Cái tôi trong văn học nghệ thuật đợc biểu hiện ở hai bình diện:

Thứ nhất “cái Tôi” đợc hiểu là chủ thể sáng tạo, cái tôi ấy là ý thức của nhà văn, nó tạo ra cá tính sáng tạo của nhà văn Văn học nghệ thuật cần cá tính sáng tạo ấy, nó tạo ra phong cách nghệ thuật tác giả

Thứ hai “cái Tôi” với t cách là đối tợng của sáng tạo (khách thể) Cái tôi ấy

là hình tợng tác giả trong tác phẩm (Cái tôi nhà thơ, cái tôi tác giả), là sự diễn tả, giãi bày thế giới t tởng, tình cảm riêng t thầm kín của tác giả Đó là sự tự ý thức,

tự đánh giá, tự miêu tả (tự hoạ) của nhà thơ

Cá tính sáng tạo đã xuất hiện từ những tác giả nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,

Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ…Nhng phải đến đầu thế kỷ XX, ảnh hởng t ởng, kinh tế t bản chủ nghĩa thì cái Tôi cá nhân tiếp tục phát triển và mạnh mẽ

t-hơn, tự do hơn trớc Hoài Thanh nhận định rằng “Ngày thứ nhất - ai biết đích ngày nào - chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ Nó nh lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo một quan niệm cha từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân [50, 45]

Nhà thơ Đức I W.Gớt nhận xét: “mỗi nhà văn, bất kể dù muốn hay không

đều miêu tả chính mình trong tác phẩm một cách đặc biệt” Và chính Tản Đà là ngời tiêu biểu cho nhận xét đó

Thời kỳ trung đại cái tôi không đợc thể hiện một cách công khai, nó bị đè nén, đến Tản Đà thì chủ nghĩa lãng mạn với cá thể individu đã bật nứt trong văn

học Việt Nam, cái tôi công khai Lê Thanh cho rằng “Ngời ta mong đợi một ngời

có thể tả đợc những nỗi chán nản những điều ớc vọng của mình có thể ru đợc

Trang 38

mình trong giấc mộng triền miên Thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu ra đời Thi sĩ ra đời dới sự mong đợi của cả một thế hệ”.

Có thể nói rằng Tản Đà là ngời đầu tiên dựng lên một cái tôi cá nhân sừng sững trong văn học, công khai tồn tại giữa cuộc đời Cái tôi ấy dựng lên thành một hình tợng nghệ thuật với nhiều biểu hiện phong phú, mới mẻ, độc đáo: cái tôi ngông, cái tôi đa tình, cái tôi xê dịch, cái tôi đắm say bản thân mình

Những biểu hiện ấy trở thành nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Tản Đà

Là một tài năng độc đáo, ham sống, ham cống hiến, có khí tiết, có chí khí, thế nhng cuộc sống đã “bất nh ý”, những hy vọng, những giấc mộng không thành cùng với khí tính của mình đã tạo nên ở ông một cá tính ngông “Mục đích

sự học ở khoa cử, tiền đồ khoa cử có quan hệ với tình duyên” Giấc mộng lớn,

nh-ng “bảnh-ng khônh-ng tên” thi trợt, “cử tú khônh-ng”, cậu ấm tận mắt chứnh-ng kiến cảnh nh-

ng-ời yêu đi lấy chồng”, thất chí, thất tình, tiên sinh trở nên ngông Ngông là thái độ hành động khác thờng, bất cần sự khen chê của ngời đời Cái ngông mà Tản Đà biểu hiện trong thơ chính là ở thái độ hành động, suy nghĩ khác thờng ấy Ông tin

là mình có tài, không chịu đợc sự gò bó trong một khuôn khổ chật hẹp Ông coi sự hỏng thi không phải bởi kém tài, xem đó là sự trớ trêu của khoa trờng trong xã hội

đơng thời Đó là một sự cay cú mà phải thốt ra rằng:

Bởi ông hay quá ông không đỗ Không đỗ ông càng tốt bộ ngông.

(Tự trào)

Chỉ từng ấy lời giới thiêu cũng gồm đợc lai lịch, niềm tự hào về tài năng, biểu hiện một cá tính mạnh mẽ ý thức cá nhân càng lớn thì hầu nh đó lại là bi

Trang 39

kịch Văn chơng cử tử gò bó mà Tản Đà thì với cái máu nghệ sĩ thờng phóng khoáng trên phơng diện câu chữ nên dễ không thành Mặt khác còn do ở sự lắt léo của đề thi Ngời tài tử muốn có sự nghiệp để xứng tài thì giấc mộng đã tan Lòng tự ái, tự tôn ở ông có dịp bùng lên Ông tâm niệm đó là tài tình bị khinh rẻ,

ông xng hô, thách thức khác ngời, ông tự xng là “ông”, “anh”, “tớ” thật ngạo nghễ Dù có muốn sống có ý nghĩa nhng đối với ông quả là không dễ Nó làm cho một tính cách dù bình lặng, hoà hợp đến đâu cũng trở nên cục cằn, cay cú, khó chịu, căng thẳng, nặng nề

Giai đoạn này Nho tàn, bút lông pha bút sắt, sĩ khí nho phong cũng có phần giảm sút:

Càng học để thi, thi cứ hỏng Thi tàn, học cũng tàn theo thi.

(Ngày xuân nhớ xuân).

Trong tình trạng đó, ông muốn phá phách, xáo trộn, muốn hành động và giữ cách nhìn đời của mình:

Nghoảnh trông lên anh đếch thấy có ra gì

Ai rằng trăng sáng anh vẫn thấy tối sì cái bóng đêm.

Ngời ta hơn tớ cái phong lu

Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo.

(Sự nghèo)

Nghèo nhng trong sạch, không luồn cúi, bợ đỡ Tây Thật đáng tự hào !

Cái làm nên nhân cách của Tản Đà là đặc tính ngông trong suy nghĩ và hành động Tản Đà nổi tiếng bởi máu xê dịch Tản Đà nay đây mai đó, đến những nơi đặc biệt, làm những việc đặc biệt Ông đến đình thờ Thần Hoàng khi không đợc phép vào, ông thắp hơng khấn lạy trớc thềm Rồi ông đích thân đến

Trang 40

thăm mộ Nguyễn Phi Phúc - nơi mà đối với mọi ngời có vẻ thần bí Đối với Tản

Đà thì con ngời phải có cái tôi mạnh mẽ, dám khẳng định, dám đề cao, dám sánh ngang với thần linh, thợng đế Ông dám sánh thân thế của mình với Chiêu Quân:

Hồn cô ví có ở đây Đem tôi đi với lên mây cũng đành.

(Tế Chiêu Quân)

Ông muốn hoà mình vào vũ trụ, vào thiên nhiên:

Kiếp sau xin chớ làm ngời Làm con chim nhạn tung trời mà bay.

(Hơn nhau một chén rợu mời)

Ông tự hào, thách thức cái ngông đó khắp thiên hạ, tiên giới Tản Đà có giấc mơ lên tiên, hầu trời Trong giấc mơ ấy ông cũng thể hiện rõ cái ngông trong xê dịch, trong văn chơng và trong cá tính Ông h cấu cảnh Hầu trời để phô

diễn tài năng, để trổ tài Ông tự khẳng định văn thơ của mình là hay, mợn lời tán thởng của trời để ca ngợi văn mình: Văn đã giàu thay lại lắm lối, Văn trần đợc thế chắc có ít, Nhời văn chuốt đẹp nh sao băng (Hầu trời) Nhà thơ tả cảnh ch

tiên lắng nghe thi sĩ đọc thơ rồi vỗ tay tán thởng, tranh nhau dặn nhà thơ mang thơ lên bán Ông tự thấy cái tài của mình không đợc trọng dụng, thiếu kẻ tri âm Rồi nhà thơ thách đố:

Lộng hoàn này điệu từ đâu trớc Hoạ đợc hay chăng tớ đố đời.

Lo vì xã hội thiếu tiền tiêu Một kẻ phong lu chín kẻ nghèo.

(Hủ nho lo việc đời)

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Phan Cảnh (2006), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
3. Nguyễn Đình Chú (1993), Thơ văn Tản Đà, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Tản Đà
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1993
4. Nguyễn Đình Chú (1999), “Vấn đề “ngã” và “phi ngã” trong văn học Việt nam trung - cận đại”, Tạp chí Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề “ngã” và “phi ngã” trong văn học Việt nam trung - cận đại”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1999
5. Ngô Viết Dinh (tuyển chọn và biên tập) (2000), Đến với thơ Tản Đà, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Tản Đà
Tác giả: Ngô Viết Dinh (tuyển chọn và biên tập)
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
6. Phan Huy Dũng, Lê Huy Bắc (2008), Thơ mới trong trờng Phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới trong trờng Phổ thông
Tác giả: Phan Huy Dũng, Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
7. Tầm Dơng (1964), Tản Đà khối mâu thuẫn lớn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản Đà khối mâu thuẫn lớn
Tác giả: Tầm Dơng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1964
8. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
9. Phan Cự Đệ (1998), Văn học lãng mạn Việt Nam (1900 1945), – Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam (1900 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10. Phan Cự Đệ - Trần Đình Hợu - Nguyễn Trác - Nguyễn Hoành Khung - Lê Chí Dũng - Hà Văn Đức (2003), Văn học Việt Nam 1900 - 1945, Nxb Giáo dục 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ - Trần Đình Hợu - Nguyễn Trác - Nguyễn Hoành Khung - Lê Chí Dũng - Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục 2003
Năm: 2003
11. Biện Minh Điền (2008), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến
Tác giả: Biện Minh Điền
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
12. Biện Minh Điền (2003), “Giọng điệu trữ tình thơ Nguyễn Khuyến ” , Tạp chí Văn học, Số1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trữ tình thơ Nguyễn Khuyến”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Biện Minh Điền
Năm: 2003
13. Biện Minh Điền (2001), Những vấn đề lý thuyết lịch sử Văn học và ngôn ngữ (viết chung), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý thuyết lịch sử Văn học và ngôn ngữ
Tác giả: Biện Minh Điền
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
14. Biện Minh Điền (2005), “Vấn đề tác giả và loại hình tác giả”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tác giả và loại hình tác giả”, Tạp chí "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Biện Minh Điền
Năm: 2005
15. Biện Minh Điền (2006) “Sự thống nhất những nỗi cực trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Công Trứ”, Tạp chí khoa học, Tập XXXV, số 3B - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thống nhất những nỗi cực trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Công Trứ
16. Trịnh Bá Đĩnh - Nguyễn Đức Mậu biên soạn (2003), Tản Đà về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản Đà về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh - Nguyễn Đức Mậu biên soạn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
17. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
18. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
19. Đỗ Đức Hiểu (1985), “Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kỳ lịch sử Văn học Việt nam”, Tạp chí Văn học Số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kỳ lịch sử Văn học Việt nam”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Năm: 1985
20. Hồ Sỹ Hiệp (chủ biên) (1997), Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, á Nam - Trần Tuấn Khải, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, á Nam - Trần Tuấn Khải
Tác giả: Hồ Sỹ Hiệp (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
21. Bùi Công Hùng (1983), Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1983

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w