Với vải thổ cẩm, màu sắc và những hoa văn trên vải thể hiện được nét đặc sắc, nét văn hoá, mỹ thuật của mỗi dân tộc.. Vì vậy, qua việc tìm hiểu nghề dệt vải thổ cẩm, chúng tôi muốn tìm h
Trang 1KHOA VIỆT NAM HỌC
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm : Sung Sang Hoon (08VNH39)
Thành viên : Oh Huyn Joung (08VNH23)
Trang 2DẪN NHẬP 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỔ CẨM VIỆT NAM 7
1.1 Thổ cẩm là gì? 7
1.2 Nguồn gốc của nghề dệt thổ cẩm ở Việt Nam 7
1.3 Những đặc sắc của thổ cẩm một số dân tộc ở Việt Nam 8
CHƯƠNG 2: NGHỀ DỆT THỔ CẨM Ở NAM PHƯƠNG DANH - AN NHƠN - BÌNH ĐỊNH 9
2.1 Vài nét về làng dệt Nam Phương Danh 10
2.2 Qui trình dệt vải thổ cẩm ở Nam Phương Danh 12
2.3 Những đặc sắc của thổ cẩm Nam Phương Danh 20
CHƯƠNG 3: THỔ CẨM NAM PHƯƠNG DANH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP – LIÊN HỆ VỚI HAN SAN MOSI (HÀN QUỐC) 24
3.1 Những khó khăn của nghề dệt thổ cẩm ở Nam Phương Danh 24
3.2 Những nỗ lực duy trì và phát triển nghề dệt thổ cẩm ở An Nhơn 24
3.3 Liên hệ với nghề dệt Han San Mosi và những kiến nghị 29
KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC 45
Trang 3DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Nằm trên dải đất miền Trung Trung bộ của Việt Nam, Bình Định được xem là vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với phong cảnh hữu tình, núi non xinh đẹp Trải qua hàng ngàn năm với nền văn hóa Sa Huỳnh từ đầu thiên niên kỷ;
đã từng là cố đô của vương triều Chămpa với thành Đồ Bàn (thế kỷ X-XV), là
cố đô của triều Nguyễn với thành Hoàng Đế (thế kỷ XVIII), Bình Định đã trở thành một vùng đất mang trên mình nhiều tầng văn hóa, một vùng đất còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử của đất nước Việt Nam
Với tính cần cù, với bàn tay khéo léo, với trí thông minh, sáng tạo và xuất phát từ nhu cầu cung cấp vật phẩm cho triều đình phong kiến lúc bấy giờ, người dân Bình Định đã phát triển các nghề thủ công và hình thành nên các làng nghề nổi tiếng cho đến ngày nay Trong đó, trang phục là một trong những vật phẩm quan trọng nhất đối với nhà vua nói riêng, người dân nói chung vì nó gắn liền với đời sống hàng ngày của con người Vì vậy, nghề dệt vải rất được coi trọng và phát triển Hơn nữa, dưới thời kỳ phong kiến, người dân thường sống theo phương thức tự cung tự cấp nên ai cũng biết dệt vải Đặc biệt, người
mẹ thường truyền lại cách dệt vải cho con gái, vì qua trang phục, người con gái thể hiện được năng khiếu và vẻ đẹp của mình
Với vải thổ cẩm, màu sắc và những hoa văn trên vải thể hiện được nét đặc sắc, nét văn hoá, mỹ thuật của mỗi dân tộc Do vậy, nghệ thuật dệt hoa văn trên vải là nghệ thuật tạo ra những biểu tượng và tín hiệu văn hoá riêng của mỗi dân tộc Thổ cẩm ở Bình Định cũng mang những đặc trưng riêng, thể hiện nét hài hòa giữa nền văn hóa Chămpa và văn hóa Việt; là sự giao thoa của núi rừng Tây nguyên hùng vĩ với văn hóa đặc trưng của vùng đất này
Vì vậy, qua việc tìm hiểu nghề dệt vải thổ cẩm, chúng tôi muốn tìm hiểu những nét văn hoá đặc sắc của người dân Bình Định; muốn biết họ gìn giữ và duy trì nghề truyền thống này như thế nào Bên cạnh đó, chúng tôi cũng muốn biết nghề dệt thổ cẩm ở An Nhơn đang đối diện với những vấn đề nào và những người sống bằng nghề này sẽ khắc phục ra sao Đó là lý do nhóm chúng tôi
Trang 4chọn đề tài này
Ngoài ra, qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy nghề dệt thổ cẩm ở Việt Nam rất gần với nghề dệt vải gai, Han san Mo si của Hàn Quốc Vì vậy, qua đây, chúng tôi cũng muốn giới thiệu nghề dệt vải gai của đất nước chúng tôi
Hy vọng qua đề tài nghiên cứu này, người dân hai nước có thêm hiểu biết về nhau, có thể học hỏi lẫn nhau để phát triển nghề dệt thủ công của mình
2 Phạm vi nghiên cứu
Hiện nay, ở Bình Định, nói đến nghề dệt thổ cẩm truyền thống, người ta thường nhắc đến các làng dệt của người Bana Đó là làng Bok Tới, làng Đak Mang ở huyện Hoài Ân và làng Hà Ri ở huyện Vĩnh Thạnh, Vân Canh Trong điều kiện và thời gian cho phép, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu nghề dệt thổ cẩm của người Kinh ở làng Nam Phương Danh (Thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định), trong mối liên hệ với nghề dệt vải gai Han san Mo si của Hàn Quốc Vì chưa có nhiều thời gian nghiên cứu nên chúng tôi không so sánh cụ thể nghề dệt của hai nước mà chỉ liên hệ nhằm rút ra vài kinh nghiệm
và khơi gợi điều gì đó ở người đọc Chúng tôi hy vọng sẽ có những đề tài lớn hơn, nghiên cứu sâu hơn, có giá trị thực tiễn hơn về vấn đề này
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Dân tộc nào cũng có nền văn hoá đặc trưng riêng của mình Hiện nay,
dù kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin phát triển, nhiều người cũng muốn tìm về với những đặc trưng văn hoá truyền thống của từng dân tộc Nhờ
đó mà các quốc gia có thể thu hút nhiều du khách nước ngoài đến tham quan và tìm hiểu cuộc sống người dân bản địa Hơn nữa, sự phát triển của ngành du lịch cũng đóng góp vào sự phát triển kinh tế của một nước Vì vậy, các nước trên thế giới hiện nay đang đầu tư nhiều vào việc bảo tồn và phát triển những nét đặc trưng văn hoá truyền thống, giáo dục và đào tạo thế hệ sau kế thừa, giữ gìn
và phát huy những giá trị ấy
Dệt thổ cẩm là một trong những nghề truyền thống rất độc đáo của Việt Nam Nghề dệt thổ cẩm và vải thổ cẩm đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong đó, sự quan tâm thường hướng đến sự đặc sắc về màu sắc, các họa tiết hoa văn thổ cẩm của người dân tộc thiểu số Đáng chú ý là các
Trang 5bài viết: “Thổ cẩm Chăm- mỹ nghiệp: Đứng vững trên thị trường nhờ nét hoa
văn truyền thống” của Ngọc Lan (Báo Dân tộc và Phát triển), “Ngôn ngữ thổ cẩm Việt Nam” của Nguyễn Thu Thủy (Báo Hà Nội mới), “Thổ cẩm Tây
Nguyên nhìn từ nhiều góc độ bảo tồn văn hóa” của Linh Nga Niê Kdam (Tạp
chí Dân tộc) Một số bài viết băn khoăn về sự phát triển của nghề dệt thổ cẩm:
“Duy trì và phát triển nghề dệt thổ cẩm ở Nghệ An” (Hội doanh nghiệp Nghệ Tĩnh ở TPHCM), “Dệt thổ cẩm Chăm Ninh Thuận, hiện trạng và giải pháp” (Irasara), “Hãy cứu nghề dệt thổ cẩm truyền thống” (P.T, Báo Công an Nhân dân) v.v…
Về nghề dệt thổ cẩm ở Bình Định nói chung và làng Nam Phương Danh, thuộc thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn nói riêng, cũng có nhiều bài viết quan tâm Vương Liêm (2009) có bài: “Làng dệt thổ cẩm Hà Ri” viết về nghề dệt thổ cẩm của người Bana Hoài Thu (2009), ca ngợi những “Bóng mát ở làng nghề”, trong đó có những bóng mát của nghề dệt thổ cẩm Đó là những nghệ nhân cao niên nặng lòng với nghề (ông Tám Vũ và bà Năm Thìn) Trong bài “Nơi quy tụ những làng nghề truyền thống”, tác giả A.T cũng dành sự quan tâm cho nghề dệt thổ cẩm ở Nam Phương Danh qua hình ảnh những nghệ nhân lớn tuổi: “… lão nghệ nhân N.H.H ở làng dệt này đã trên 70 tuổi vẫn còn ngồi trên khung dệt thủ công cũ kỹ, để dệt ra vải thổ cẩm Nhìn thấy cụ tay giật sợi dây phía bên, chân đạp, cứ vậy nhịp nhàng liên tục, và sản phẩm cụ tạo ra là tấm vải thổ cẩm nhiều hoa văn rất đẹp”
Trong bài “Dệt hồn núi giữa đồng bằng”, Hoài Thu khẳng định: “Thời cực thịnh, thổ cẩm Phương Danh rất được đồng bào thiểu số khu vực miền Trung và Tây Nguyên ưa chuộng…” Tác giả cho rằng, dệt thổ cẩm ở Nam Phương Danh là “dệt hồn núi giữa đồng bằng” Trong bài “Nghệ nhân cao tuổi với nghề dệt thổ cẩm ở Bình Định”, Vương Liêm đã giới thiệu nghề dệt thổ cẩm ớ Nam Phương Danh và khẳng định: “Thổ cẩm nơi đây mang tính đặc thù,
đó là sự kết hợp hài hòa của nền văn hóa Chăm với văn hóa Việt, giao thoa của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ và văn hóa cồng chiêng, trong các điệu múa, trong sử thi”
Trang 6Ngồi ra, trong những cuốn sách viết về văn hĩa, đất và người Bình Định, trong các tạp chí, làng dệt Nam Phương Danh và nghề dệt thổ cẩm cũng
được các tác giả giới thiệu: Văn hĩa dân gian vùng thành Hồng Đế (Nguyễn Thanh Mừng-Trần Thị Huyền Trang), Văn hĩa dân gian xã Nhơn Thành (Mai
Thìn), Làng dệt Nam Phương Danh (Hà Giao)… Các tác giả đều đánh giá cao
sản phẩm thổ cẩm nơi đây, đồng thời bộc lộ sự băn khoăn khi nghề này đang bị mai một dần
Trong kỷ yếu “Kỷ niệm 10 năm thành lập cơ sở Nguyễn Nga 2003)”, tác giả Lê Viết Thọ giới thiệu Nguyễn Nga là người đầu tiên cĩ ý định tận dụng khả năng vốn cĩ của một làng dệt truyền thống để dệt thổ cẩm, đưa ra những cải tiến về màu sắc và từ đĩ thiết kế những mặt hàng Đến nay, mẫu mã của cơ sở đã cĩ sự thay đổi đang kể Nhân dịp Festival Tây Sơn-Bình Định năm
(1993-2008, tại hội chợ làng nghề truyền thống Bình Định, chị Nguyễn Nga đã giới thiệu về nghề dệt thổ cẩm Nam Phương Danh như giới thiệu một nét văn hĩa của Bình Định Bài viết đề cao giá trị của thổ cẩm từ gĩc độ văn hĩa và sự cơng phu: “Để cĩ được những mảnh vải thổ cẩm, người dệt thường sử dụng nguyên liệu chỉ dệt bằng sợi bơng, sợi lanh, gai trên rừng Các hoa văn bằng sợi được nhuộm bằng phẩm màu tự nhiên từ củ quả, cây, lá … Quá trình để cĩ thể dệt ra được tấm vải đến khi may thành những trang phục thì phải trải qua nhiều cơng đoạn và kéo dài vài ba tháng mới cĩ được” Giá trị của chúng trước hết là tất
cả các cơng đoạn làm nên một tấm vải thổ cẩm đều hồn tồn bằng tay, khung dệt và xa quay bằng gỗ, bằng tre chỉ là phương tiện hỗ trợ cho việc dệt thành tấm vải” Và điều đặc biệt ở đây là người dệt thổ cẩm khơng phải là người dân tộc thiểu số mà lại là người dân tộc kinh lớn tuổi vẫn cịn đang sinh sống tại nơi này, họ đã thừa kế nghề dệt này từ trước những năm 45…”1
Tĩm lại, nghề dệt thổ cẩm nĩi chung và ở Nam Phương Danh nĩi riêng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và nhìn nhận dưới nhiều gĩc độ Là những sinh viên nước ngồi, chúng tơi cũng muốn gĩp một cái nhìn về nghề
1 Giới thiệu thổ cẩm Nam Phương Danh, Đập Đá- An Nhơn – Một nét văn hĩa của Bình Định, tại
“Hội Chợ Làng Nghề Festival Tây Sơn Bình Định – 2008”
Trang 7thủ công vất vả mà thú vị này của người Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp quan sát tham dự
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để tiếp cận đối tượng nghiên cứu, thu thập thông tin Nhờ có sự giúp đỡ và hướng dẫn của những người dân địa phương, chúng tôi đã đi gặp nhiều nghệ nhân tìm hiểu, quan sát và làm thử các công đoạn dệt vải thổ cẩm của người dân Bình Định
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Đây là phương pháp chủ yếu nhóm tôi đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu Chúng tôi đã gặp nhiều cán bộ địa phương phỏng vấn về lịch sử, sự hình thành, phát triển, những khó khăn triển vọng của nghề này Đặc biệt, chúng tôi đã phỏng vấn các nghệ nhân dệt Ngoài ra, chúng tôi cũng đã gặp một
số nhà nghiên cứu, thu thập được rất nhiều thông tin về lịch sử và văn hoá của huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định
- Phương pháp thống kê
Chúng tôi thực hiện phương pháp này để nắm được tình hình hiện nay của làng nghề Chẳng hạn, bao nhiêu người dân thuộc thị trấn Đập Đá, An Nhơn làm nghề dệt, ở cấu kinh tế của làng, thu nhập trung bình của người dân làm nghề dệt trước đây và hiện nay Căn cứ vào thực tế báo cáo cuả lãnh đạo
Uỷ ban Nhân dân thị trấn Đập Đá và các nghệ nhân ở đây, chúng tôi cố gắng phân tích, tổng hợp và rút ra được những kết luận về nghề dệt thổ cẩm trước đây và hiện nay
5 Cấu trúc báo cáo :
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của
báo cáo gồm 43 trang chia làm 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu chung về thổ cẩm
Chương này giới thiệu lịch sử, nguồn gốc của nghề dệt thổ cẩm và một
số nét đặc sắc chung về thổ cẩm của các dân tộc ở Việt Nam
Trang 8Chương 2: Nghề dệt thổ cẩm ở Nam Phương Danh - An Nhơn – Bình Định
Chương này tập trung giới thiệu Vài nét về làng dệt Nam Phương Danh Thị trấn Đập Đá, Huyện An Nhơn, Tỉnh Bình Định; Qui trình dệt vải thổ cẩm ở Nam Phương Danh và Những đặc sắc của thổ cẩm ở địa phương này
Chương 3: Nghề dệt thổ cẩm Nam Phương Danh trong thời kỳ hội nhập – Liên hệ với nghề dệt vải gai Hansan Mosi (Hàn Quốc)
Báo cáo trình bày những khó khăn của nghề dệt thổ cẩm ở Nam Phương Danh cũng như những nỗ lực duy trì và phát triển nghề thổ cẩm ở An Nhơn Chúng tôi cũng dành một phần liên hệ với nghề dệt vải gai Hansan Mosi (Hàn Quốc) để đưa ra một vài kiến nghị cho việc phát triển nghề dệt thổ cẩm ở An
Nhơn
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỔ CẨM VIỆT NAM
1.2 Nguồn gốc của nghề dệt thổ cẩm ở Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu, nghề dệt thổ cẩm có từ rất lâu đời ở Việt Nam,
là một nét đặc trưng văn hoá của các dân tộc thiểu số Trước đây, sản phẩm thổ cẩm được tạo ra chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu trong gia đình, làm của hồi môn khi con gái về nhà chồng, và một phần để trao đổi hàng hoá Ngày nay,
thổ cẩm còn là món quà lưu niệm ý nghĩa cho du khách thập phương.
Nghệ thuật dệt và thêu hoa văn trên vải chính là nghệ thuật tạo nên những biểu tượng và tín hiệu văn hóa riêng của mỗi dân tộc Hoa văn, trước hết
đó là một biểu hiện của quan niệm thẩm mỹ, thông qua các bố cục, mô típ, kỹ thuật Mặt khác, trong đời sống cổ truyền của các dân tộc, nó còn phản ánh những khía cạnh tâm lý, xã hội khác, như tín ngưỡng chứa đựng bên trong các hình vẽ, màu sắc… Phong cách bố cục hoa văn ấy là biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc trong tiến trình phát triển của lịch sử; là văn hóa và sự giao thoa văn hóa của các tộc người
Hoa văn của mỗi dân tộc đều mang những nét đặc trưng riêng về bố cục, màu sắc, lối trang trí, tạo nên sự phong phú đa dạng, nhưng chúng lại thể hiện một sự thống nhất cao về tính hình học và cách điệu hóa Các hoa văn này phản ánh một thế giới quan về vũ trụ và thiên nhiên, đó là các hoa văn về hiện tượng
tự nhiên, mặt trời, hoa lá, sông nước, núi non, các loài động vật và những biểu tượng khác.khi phụ nữ dân tộc còn tiếp tục dệt và thêu hoa văn trên vải là họ đang góp phần bảo tồn nền văn hóa của các dân tộc Việt Nam Nói chung, nghề dệt thổ cẩm đã hình thành từ rất sớm và đã phát triển đến mức tinh xảo
2 Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trang 101.3 Những đặc sắc của thổ cẩm một số dân tộc ở Việt Nam 3
1.3.1 Thổ cẩm của dân tộc Chăm
Nghề dệt thổ cẩm Chăm có nguồn gốc từ rất sớm Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được nghề dệt thổ cẩm hình thành như thế nào trong quá trình lịch sử Truyền thuyết về Bà Chúa Xứ kể rằng: Po Inư Nưgar từ Trung Quốc trở về, đã đặt kinh đô Champa ở Nha Trang và dạy người Chăm - lúc đó còn trong thời kỳ mông muội - cày cấy, dệt vải, xây tháp, tổ chức hành chánh… Trong suốt chiều dài lịch sử từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ XVIII, người ta tìm thấy các nét hoa văn được chạm trổ thật tinh vi trên các tượng đá (Shi va, Apsara , vương mão (Po Mưh Taha - đầu thế kỷ thứ XVII), hiện vẫn còn được lưu giữ ở làng Raglai, tỉnh Ninh Thuận4
Thổ cẩm của người Chăm có đặc điểm là các hoa văn hình thoi, chân chó, hoa mai hay các họa tiết hiện đại hơn như hình voi, đầu tượng
1.3.2 Thổ cẩm của dân tộc Bana
Hoa văn trên thổ cẩm làm màu
sắc sặc sỡ, chủ yếu là chạy dọc theo
chiều tấm vải, màu đen là màu chủ
đạo gây ấn tượng mạnh mẽ về phong
cách Đây chính là những hoa văn
phản ánh đường nét văn hóa truyền
thống và đời sống sinh hoạt hàng ngày của người Ba Na Thổ cẩm tươi sáng,
3 Những hính ảnh minh họa trong mục này, chúng tôi lấy từ Internet
4 Dẫn theo Irasara, “Dệt thổ cẩm Chăm Ninh Thuận, hiện trạng và giải pháp”, Irasara.com
Thổ cẩm của dân tộc Chăm
Thổ cẩm của dân tộc Bana
Trang 11rực rỡ bay bổng như ước mơ, khát vọng Mỗi màu lại có tiếng nói riêng, màu đen tượng trưng cho đất rừng trù phú, màu đỏ của khát vọng và tình yêu Khăn đội đầu của thiếu nữ mang trong mình một giai thoại về tình yêu, lòng thuỷ chung, ngoài ra chiếc khăn đội đầu làm cho duyên thêm các cô gái, những hàng cúc màu trắng, chuỗi cườm tua tủa, cúc bạc lung linh bao hàm sự ước mơ, hạnh phúc luôn đầy đủ
1.3.3 Thổ cẩm của dân tộc Mường
Thổ cẩm của người Mường mang đậm màu sắc hoa văn của núi rừng Hoa văn trên thổ cẩm là những hình cách điệu từ hoa dẻ, hoa hồi, hạt gấc, quả trám… tuy không cầu kỳ nhưng gắn liền với tình yêu thiên nhiên và con người
xứ Mường Để nhuộm màu cho vải, bà con thường sử dụng nguyên liệu là các loại cây trong rừng Màu đỏ là cây ban, màu vàng lấy từ cây nghệ, màu đen lấy
từ cây chàm, v.v…
1.3.4 Thổ cẩm của dân tộc Thái
Người Thái bản luôn tự hào vì sản phẩm vải thổ cẩm của mình Cầm trên tay mảnh vải thổ cẩm, chúng ta có thể cảm nhận được màu xanh của cây cối, màu vàng, trắng, hồng, đỏ của hoa rừng, màu vàng rực rỡ của ánh nắng mặt trời Những đường nét hoa văn trên mảnh vải thổ cẩm thể hiện nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ Thái
Thổ cẩm của dân tộc Mường
<Http://htx.dongtak.net/spip.php?article3944>
Thổ cẩm của dân tộc Thái
<Http://htx.dongtak.net/spip.php?article3944>
Trang 12CHƯƠNG 2: NGHỀ DỆT THỔ CẨM Ở NAM PHƯƠNG DANH - AN
NHƠN - BÌNH ĐỊNH
2.1 Vài nét về làng dệt Nam Phương Danh
Phương Danh là tên một ngôi làng xưa Trước đây, làng này rất lớn, bây giờ được chia thành bốn đơn vị hành chính gắn với các hướng: Đông Phương Danh, Tây Phương Danh, Nam Phương Danh và Bắc Phương Danh Làng Dệt gắn liền với địa danh Nam Phương Danh
Làng Nam Phương Danh cách thành Đồ Bàn khoảng 3 km, về phía Đông Nam thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn Trong bài viết về làng dệt Nam Phương Danh, tác giả Hà Giao cho biết: Theo gia phả họ Nguyễn Phương Danh thì đệ nhất thế tổ Nguyễn Văn Tài ở ngoài Bắc theo chúa Nguyễn vào đạo Quảng Nam, sinh được hai người con giỏi nghề canh cửi, con trưởng là Nguyễn Văn Lược vào Bình Định lập nghiệp, con thứ là Nguyễn Văn Lực ở lại Điện Bàn, Quảng Nam Cháu đích tôn của đệ nhất thế tổ là Nguyễn Văn Huỳnh vào lấy vợ ở Ngãi Chánh, rồi lập nghiệp ở làng Phương Danh, từ đó truyền nghề dệt cho con cháu và dân làng Phương Danh
Cũng theo tác giả, ở đây còn nhà thờ nghề dệt gọi là ty, tại xóm Cửi, có
thờ hai câu đối:
Kinh dinh cơ xảo thiên thu tại
Nghiệp hộ trang hoàng vạn đại hưng
Và
Thinh chấn đông tây giai trữ trục
Tượng trưng nam bắc quán càn khôn
Hai câu đối thờ thể hiện sự tự hào và ý thức nghề nghiệp hết sức cao cả của người dân nơi đây
Làng dệt Nam Phương Danh còn nhắc tên các nghệ nhân nổi tiếng ở mỗi loại hàng và mỗi thời kỳ như ông Bầu Địch (Nguyễn Chức) dệt xuyến, ông Mười Chuỗi (Nguyến Hộ) dệt đũi, ông Bảy Ất (Phan Minh Ất) dệt nhiễu, ông Cầm (Võ Sáu) nhuộm nhiễu… Ca dao dân ca Bình Định vẫn còn lưu lại những câu ca về nghề dệt:
Đêm dài xóm vắng trăng mờ
Trang 13Thương anh dệt nhiễu trao go một mình
Cắt áo cổ giữa em tra núi vàng
Lúc bấy giờ, người dân ở Bình Định dệt tơ lụa, tơ tằm, lãnh hoa, lương thùng phục vụ cho Triều đình, quan lại Về sau, nghề dệt phát triển mạnh, cả làng xã dệt vải đủ loại, phục vụ dân sinh và mua bán trao đổi hàng hoá Thợ dệt
ở Nam Phương Danh không chỉ dựa vào nguồn nguyên liệu sản xuất tại chỗ (nghề trồng dâu nuôi tằm ở các làng xã xung quanh) mà còn sử dụng nguồn nguyên liệu do các địa phương khác cung cấp: kén ở Bồng Sơn, Tây Sơn; bông kéo ở Phù Mỹ, Phù Cát (là tỉnh Bình Định ngày nay), nhất là khi quy mô nghề dệt đã phát triển cao) Tham gia vào quá trình sản xuất này không chỉ có người thợ dệt mà còn có cả một đội ngũ thương nhân đông đảo (của thị tứ và của cả các nơi khác), cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm Chợ Kén được lập ra
là một minh chứng cho sự hoạt động nhộn nhịp của nghề dệt ở Nam Phương Danh Sản phẩm dệt ở Nam Phương Danh cũng đa dạng, kỹ thuật cao bao gồm các loại lụa, lãnh, lương, đũi, xuyến…
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, nghề dệt vải ở đây rất phát triển Người dân chuyển sang dệt vải tám, vải xi-ta (nhuộm màu xám), cung cấp cho chiến trường Khu V Những anh bộ đội mặc xi-ta nhuộm xám thắm thiết tình nghĩa quân dân Vì vậy, màu áo xám Nam Phương Danh đã đi vào thơ
ca nhạc họa thời kháng chiến Ví dụ: “Trùng trùng áo xám qua sông núi” (Dương Minh Ninh), “Thương anh áo xám ra đi cứu nước với bao nồng thắm”
(Lê Trọng Nguyễn)…5 Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoàng kể, năm 1968, máy bay địch ném bóm tàn phá nhà cửa, xóm làng, lập vành đai trắng ở Nam Đập Đá (Nam Phương Danh), Ty thờ nghề dệt cũng bị phá Đến năm 1971, Ty thờ mới được xây dựng lại Hằng năm, người ta tổ chức Lễ cúng Tổ (Lễ hội Ty, kén nghề Dệt ), vào ngày mười bảy tháng giêng âm lịch nhằm tưởng nhớ và tôn vinh bậc Tổ nghề, những người có công truyền dạy nghề
Về sau, nghề dệt ở đó không có sự phát triển do nhu cầu người tiêu dùng
5 Theo Hà Giao, Tạp chí Văn hóa Bình Định, số 16, 2000
Trang 14đòi hỏi cao Mặt khác, có những mặt hàng có mẫu mã đẹp cạnh tranh Do đó, các nghệ nhân ở Nam Phương Danh đã chuyển từ dệt vải đến dệt những mặt hàng khác như mùng, gạc y tế Hiện nay, đa số người dân địa phương ở Nam Phương Danh vẫn còn dệt gạc y tế
Vào đầu những năm 1970, ông Chín Rỗ đã lên Gia Lai học nghề dệt thổ cẩm của đồng bào dân tộc Bana về truyền cho nhiều nghệ nhân khác Nghề dệt thổ cẩm bắt đầu phát triển Thổ cẩm Nam Phương Danh cũng mang tính đặc thù của vùng đất này, đó là sự kết hợp hài hoà của nền văn hoá Chăm và văn hoá Việt Điều đặc biệt ở đây là người dệt thổ cẩm không phải là người dân thuộc các dân tộc ít người mà là người Kinh lớn tuổi đang sinh sống tại đây Họ
là những người đã làm nghề dệt từ trước những năm 1945 như bà Năm Thìn (Nguyễn Thị Phương), ông Tám Vũ (Nguyễn Hữu Hải) Họ là những nghệ nhân già còn sót lại đến nay Tất cả đã tạo nên giá trị văn hoá phi vật thể cho địa phương Tuy nhiên, nghề dệt thổ cẩm phát triển với nhiều thăng trầm theo thời gian và dù có sự nỗ lực của một số nghệ nhân, nghề dệt thổ cẩm tại làng dệt Nam Phương Danh vẫn bị mai một dần trong thời kì đổi mới và hội nhập
Đến năm 1995, sau hội chợ hàng thủ công tại Hà Nội, cơ sở Nguyễn Nga đã phục hồi và phát triển lại nghề dệt thổ cẩm nơi đây Những nghệ nhân cao tuổi đang cùng với cơ sở Nguyễn Nga, nỗ lực duy trì, phát huy nhằm bảo tồn và tạo công ăn việc làm cho người dân nơi đây Cho đến nay, sản phẩm thổ cẩm của cơ sở Nguyễn Nga đã có mặt khắp tại các hội chợ triển lãm trong cả nước, được nhiều du khách nước ngoài ưa chuộng và đã được biết đến như một sản phẩm truyền thống chính thống của Bình Định
2.2 Qui trình dệt vải thổ cẩm ở Nam Phương Danh 6
Thổ cẩm là một mặt hàng thủ công mang tính truyền thống Vì vậy, giá trị của sản phẩm nằm ở các công đoạn sản xuất, hoàn toàn bằng phương pháp thủ công, từ khâu chuẩn bị nguyên liệu đến khâu dệt thành sản phẩm
Nguyên liệu chính được dùng để dệt vải thổ cẩm là bông vải Sau khi thu hoạch bông vải, người thợ phải trải qua một quá trình xử lý bông, nhuộm, dệt khá phức tạp và công phu mới cho ra được những mét vải đẹp, hấp dẫn
6 Tư liệu được chúng tôi sử dụng trong phần này do cơ sở Nguyễn Nga cung cấp
Trang 15Trước tiên, người thợ tách hạt bông trên giá tách hạt, rồi lấy cây cung
bắn cho các thớ bông bung ra Sau khi bông được trải thành thớ mỏng, họ dùng
thanh tre có một đầu nhọn cuộn chúng lại thành từng con bông để rút và se sợi Tiếp đến là những công đoạn như: quay thành cuộn, ngâm đập, nhuộm, hồ, chải và đánh óng Khâu cuối cùng là mắc thành cuộn sợi dọc và bắt go để lên
hoa văn, chuẩn bị đưa vào khung dệt
2.2.1 Se bông, kéo sợi, chuyển sang đảo sợi ra chuyền sợi
Ngày xưa, đồng bào dân tộc muốn dệt thổ cẩm thì phải tự làm sợi, cứ khoảng tháng 3, tháng 4 là bà con lên rẫy trồng bông, đến tháng 8-9 thì bông được thu hoạch Quả bông được đem về phơi khô rồi kéo thành sợi, còn với nguyên liệu dệt bằng cây gai thì lấy dao cạo lớp vỏ bên ngoài, đập dẹp, đem phơi khô, rồi dùng tay xé nhỏ, xoắn hai hoặc ba sợi lại, đem ngâm vào nước gạo cho sợi kết lại, sau đó dùng đảo quay thành từng tết sợi… Quy trình này, tức là từ lúc trồng cây bông, lấy vỏ cây trên rừng về đạp, dập xe chỉ, nhuộm màu, lên khung, dệt ra một tấm vải, như vậy, rất công phu, mất nhiều thời gian,
ít nhất là một tháng
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoàng7, trước đây người Bana lấy
vỏ cây K`don, K`pong, cây Sui, ngâm nước, dùng dụng cụ bằng gỗ đập mềm tưa sợi xe chỉ, rồi đem nhuộm bằng nhiều màu sắc Sau này, người ta tìm được vài giống cây có tính chất mềm hơn, dai hơn để làm ra sợi, đó là cây bông, cây lanh Nghề dệt thổ cẩm chuyển sang một bước mới
Tuy nhiên, ngày nay, do yếu tố khách quan, người Kinh kế thừa nghề dệt của người dân tộc Trong thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá, việc trồng bông làm sợi đã không còn phổ biến mà thay vào đó, người kinh nhập sợi từ các xí nghiệp chế biến sợi lớn trong cả nước về để dệt vải Sợi họ mua về phải
Trang 16
2.2.2 Đạp nước, nhuộm sợi
Ngày xưa, màu nhuộm dành cho thổ cẩm có thể được tạo ra từ nhiều chất liệu thiên nhiên (vỏ cây, củ, lá tùy mỗi địa phương) và chế biến bằng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng chủ yếu là đem nấu và vắt lấy nước màu làm thuốc nhuộm Mỗi màu, được làm từ những nguyên liệu khác nhau Chẳng hạn, màu nâu thì lấy từ quả cau, lá trầu không, củ nâu; màu hồng nhạt thì lấy từ vỏ cây mận, màu vàng thì lấy từ vỏ cây xoài hay gỗ cây hem, màu tím thì lấy từ quả cọ, màu xanh thì lấy từ lá bàng, màu cam thì phải tìm các cây quả trong rừng như hạt quả xum-pu và rễ cây xét, màu đen ngâm lá chùm bầu với bùn non hoặc ngâm lá chàm…
Sau đó ngâm sợi vào nước màu nhuộm qua một đêm rồi vớt ra, phơi khô, xả sạch, quấn thành cuộn theo từng màu sắc riêng biệt thể hiện nét đặc thù của mỗi dân tộc
Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển và cũng
do nhiều yếu tố khách quan khác, người dân khó có
thể lên rừng hái quả, củ, để làm thành thuốc nhuộm
mà là nhập màu hoá chất để nhuộm Tuy nhiên, các
công đoạn nhuộm cũng được thực hiện rất thủ công
Sau khi được đảo ra chuyền, sợi sẽ được đem đi ngâm
nước, nói theo cách nói của địa phương là Đạp nước
trong các chậu lớn bằng đất cho sợi mềm dễ nhuộm
Rồi tùy theo màu sắc, hoa văn, tùy theo tỷ lệ màu, người dệt cân đối với
Nấu màu nhuộm trong các chảo bằng gang
Trang 17số lượng sợi đã nhuộm sao cho việc nhuộm màu này được hiệu quả Thường thì người dân nơi đây dùng các chảo bằng gang để nấu màu nhuộm Sau khi nhuộm xong, sợi được đem đi xả sạch và để đảm bảo màu không bị phai, người dệt lại phải qua một công đoạn nữa là cầm màu Chất cầm màu này cũng là một loại hoá chất đặc thù dành cho ngành dệt Chất cầm màu được cho theo tỷ lệ nhất định nhằm đảm bảo việc không phai màu
Trang 182.2.4 Quay sợi ra át bằng xa quay
Át: là một dụng cụ chứa sợi được làm bằng gỗ đan chéo nhau bằng 4
trục, chiều cao khoảng 25 cm Để có thể bắt đầu bước vào các công đoạn dệt thành vải, những chuyền sợi đã nhuộm, hồ xong sẽ được máng vào xa quay, sợi được quay ra rất nhiều át theo các màu sắc riêng biệt
Xa quay: là một bộ công cụ để đưa sợi từ chuyền sang át bao gồm cái
tàng xa là cái vòng được đan bằng máy, hoặc
có thể dùng bằng chiếc niềng xe đạp Tàng
xa này được nối với một trục có gắn át bằng
một sợi dây có thể là bằng vải sợi hoặc bằng cước Bên cạnh đó, chuyền sợi sẽ được
máng vào một dụng cụ kèm với xa quay là
gọi là dày Cấu tạo của dày là những thanh
tre được đan chéo nhau và được nối với nhau bằng những sợi cước, chuyền vải
sẽ được máng vào đây Người quay sợi sẽ ngồi ở giữa dày và tàng xa, còn át thì
Quay sợi ra át nhiều màu
Bà Phương bên xa quay
Trang 19ở giữa để người quay điều chỉnh sợi cho đều trên át
2.2.5 Mắc sợi
Toàn bộ át đã quay xong, được đưa lên giàn
át rồi từng sợi chỉ sẽ được xỏ qua lỗ cườm và qua cửa sổ để bắt nhịp mà vào bàn mắc (thường thì màu nền được mắc trước, sau đó hoa văn sẽ được mắc sau) Sau khi sợi đã mắc xong thì sẽ được cuốn vào một trục lớn để đưa vào khung cửi dệt, trục này còn gọi là trục canh Dàn át, bàn mắc cũng là một bộ
công cụ dùng để mắc sợi, hình thành kích thước, hoa văn rồi cuốn vào trục lớn
trước khi đưa lên khung dệt
Công đoạn này là công đoạn quyết định để cho ra những thước vải thổ
cẩm theo mong muốn Việc phân bố màu sắc hợp lý, tạo các hoa văn cần thiết
là hết sức quan trọng vì khó thay đổi được sau khi đã cuốn sợi vào trục lớn
Hoa văn, họa tiết trang trí thì được thể hiện tuỳ theo nét riêng của từng dân tộc
Ví dụ: Thổ cẩm của người Bana ở Vĩnh Thạnh dùng nhiều họa tiết hoa văn
hình học với các đường thẳng, đường cong, hình tam giác, ngôi sao tám cánh
… Có khi là những hình chim thú, hoa lá, những ô vuông nhỏ hay hình quả
trám cân đối, tỉ mỉ trong cách phối màu, tạo cảm giác hoang sơ, huyền bí Mỗi
hoa văn đều thể hiện biểu tượng riêng của từng dân tộc …
Hoa văn chủ đạo của làng dệt Nam Phương Danh hiện nay là bông vỉ,
bông nhảy, bông dâu, mang đậm
bản sắc dân tộc Chăm Còn màu sắc,
dù được nhuộm bằng chất nhuộm
hóa học nhưng cũng giữ gìn được
sắc màu của dân tộc Chăm …
Bàn mắc, mắc sợi Giàn át
Trang 202.2.6 Suốt chỉ
Để dệt được thành những thước vải thổ cẩm thì không thể thiếu con thoi
và suốt chỉ Trục canh là trục chỉ đã được mắc xong, chỉ mới là sợi chỉ dọc theo trục, còn suốt chỉ trong thoi đưa khi dệt là sợi chỉ ngang, chỉ xưa kia người dân
nơi đây hay gọi là Canh, Cửi hay là Canh, chỉ
Công đoạn suốt chỉ là đưa sợi từ át ra cái suốt, cũng là dùng một bộ công cụ giống như xa quay nhưng thay vì dùng át, người ta dùng cái suốt nhỏ
để đưa vào con thoi mà dệt
2.2.7 Dệt vải
Về cách dệt thổ cẩm thì kỹ thuật của người Bana, Chăm, H’rê tương đối giống nhau Bộ khung dệt vải của họ khá đơn giản, chỉ cần hai ống nứa dài khoảng 0,6m đến 1m, có chức năng căng dợi dọc của thảm vải, một thanh gỗ khác có bảng rộng từ 10cm đến 20cm, một đầu được vót nhọn có nhiệm vụ luồn sợi đan nang và hai cạnh được làm tròn nhẵn thành mép mỏng để dập cho sợi ngang khít chặt vào sợi dọc Một thanh gỗ đẽo cong, ôm sau eo lưng người
dệt và được nối chặt với các ống nứa căng sợi dọc
Khung dệt của người Kinh tại làng Nam Phương Danh là bộ khung dệt được làm bằng gỗ, có cấu tạo phức tạp hơn bộ khung của người đồng bào dân tộc khác: thường gọi là khung cửi Giàn khung có
Nghệ nhân Năm Thìn bên khung dệt
Trang 21kích thước chiếm diện tích khoảng 6 mét vuông mặt đất, với nhiều chi tiết đi kèm với khung cửi như bộ go và khổ dệt Bộ go thì được làm bằng thép, mỗi
cọng go có một lỗ sỏ, mỗi bộ go của một khung dệt có khi có hơn 400 cọng go trên một tấm go Còn khổ dệt thì cũng được làm bằng gỗ và rất nhiều sợi thép
Tuy nhiên, nó được gắn chặt vào hai thanh gỗ của khổ giống như cái lược dày Ngoài ra, khung dệt còn có chân đòn cũng được làm bằng gỗ và được đặt dưới khung chân Mỗi khung dệt có thể có từ hai đến mười hai chân đòn tùy theo hoa văn đã chọn
Điều khác biệt giữa khung dệt của làng
Nam Phương Danh và khung dệt của người dân tộc
khác là khi dệt phải dùng cả tay và chân Để có thể
dệt ra những thước vải thổ cẩm đẹp mắt, người dệt
phải hết sức điêu luyện và thông thạo cách dệt
những hoa văn theo nhu cầu Họ phải biết kết hợp
giữa tay và chân sao cho hoa văn dệt được đúng
theo mong muốn
Trục sợi canh (trục canh) sau khi cuộn xong
được đưa lên khung cửi Các đầu sợi chỉ sẽ được
đưa qua từng sợi go Sau khi đưa qua go sẽ được tiếp tục xỏ qua khổ rồi mới bắt đầu dệt Khi đã dệt được một đoạn thì đoạn vải đầu tiên sẽ được cuốn vào trục và tiếp tục dệt … cho ra nhiều thước vải thổ cẩm xinh đẹp Các công đoạn dệt nên thổ cẩm được tiến hành công phu và rất tỉ mỉ Những người thợ dệt thổ cẩm vừa là thợ dệt vừa là thợ thêu đầy tài năng, sáng tạo
Dệt thổ cẩm là nghề truyền thống Sản phẩm làm ra của đồng bào dân tộc miền núi trong tỉnh Bình Định nói chung và làng dệt Nam Phương Danh nói riêng, không chỉ có giá trị về mặt bảo tồn văn hóa mà còn có giá trị về kinh
tế Thổ cẩm đang được xem là một loại hàng hóa đặc sắc, cần có chính sách bảo trợ, tạo điều kiện để người làm ra sản phẩm từ nghề truyền thống bán được sản phẩm và đặc biệt là duy trì - bảo tồn được nghề truyền thống của địa phương
Khi dệt phải dùng cả tay và chân
Trang 222.3 Những đặc sắc của thổ cẩm Nam Phương Danh
Thổ cẩm là một nét văn hoá đặc sắc của đồng bảo miền núi Trước kia dân tộc thiểu số Bana ở Bình Định chiếm 80%, một vài phần trăm là người Êđê, một vài phần trăm là người Gia Rai Do vậy, người Bana ở đây có lịch sử văn hoá rất lâu đời Một trong những văn hoá đặc sắc ấy là văn hoá về thổ cẩm, nó tạo nên một nét văn hoá riêng của núi rừng
Thổ cẩm ở Bình Định mang nét mềm mại, uyển chuyển, có sự cách điệu Chúng ta có thể mặc một chiếc áo bằng tơ lụa, nhưng điểm thêm một vài nét của thổ cẩm, sẽ cảm thấy đầy thi vị Bởi chúng ta có cảm giác đang “gánh” (chữ dùng của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoàng) trên mình bản trường ca của núi rừng Chính vì vậy, điều này trở nên có ý nghĩa hơn Có nhà nghiên cứu cho rằng, không ở đâu, thổ cẩm vừa mang tính văn hoá, truyền thống, tính kế thừa vừa mang tính sáng tạo như thổ cẩm ở Bình Định
Hiện nay, thổ cẩm ở Bình Định chỉ còn một vài làng mang tính xưa Đó
là làng dệt thổ cẩm ở Hà Ri, Vĩnh Thạnh (cách TP Quy Nhơn 45km), nhưng đã
có nhiều thay đổi Trước kia, khung cửi rất đơn giản, chỉ có 2 cái nẹp tre và có những sợi vắt ngang Bây giờ, người dân sử dụng máy móc hiện đại nên năng suất lao động tăng lên Nhưng điều này làm mất đi tính truyền thống của làng nghề Bởi theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoàng, làng nghề “thuần” là làng nghề phải sản xuất bằng thủ công, không mang tính công nghiệp Nó chỉ mang tính nghê thuật, tính truyền thống và tính văn hoá Ba yếu tố này sẽ tạo nên đặc trưng cho sản phẩm của một làng nghề Nếu không đảm bảo được ba yếu tố này, làng sản xuất không được xem là một làng nghề Việt
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy thổ cẩm Nam Phương Danh có những nét đặc sắc so với thổ cẩm những nơi khác ở những điểm sau:
2.3.1 Nguyên liệu
Ngày nay, tất cả các nguồn nguyên liệu từ sợi cho đến sản phẩm nhuộm đều được mua trên thị trường Có những địa phương có nghề dệt thổ cẩm phát triển như ở Sapa, Hà Nội và những vùng lân cận, người ta không còn lên rừng
để lấy nguyên liệu về dệt thổ cẩm, và những công đoạn dệt như ngày xưa cũng không còn nữa Rất nhiều địa phương mua trực tiếp sợi nhập từ Trung Quốc, đã
Trang 23được nhuộm sẵn, thậm chí người ta dùng sợi len để dệt thổ cẩm Nhưng những người thợ dệt thổ cẩm Bình Định rất tự hào vì vải thổ cẩm ở đây hoàn toàn được dệt bằng quy trình thủ công và chất liệu 100% cotton Nếu đến Bình Định, vào đúng thời điểm người dân đang dệt thổ cẩm, chúng ta sẽ tận mắt chứng
kiến các công đoạn dệt thổ cẩm, từ khâu đảo sợi, hồ sợi, nhuộm sợi, xả sợi, rồi mắc lên khung cho đến khâu dệt ra thành phẩm, tất cả đều rất thủ công Cô
Nguyễn Nga cho biết, sắp tới cơ sở Nguyễn Nga (NNC) sẽ kết nối làng dệt thổ cẩm Nam Phương Danh với những vùng dệt thổ cẩm khác ở Bình Định như Vĩnh Thạnh, Vân Canh, An Lão (thuộc huyện Hoài Ân) Nghĩa là cơ sở Nguyễn Nga sẽ cung cấp nguyên liệu và yêu cầu họ dệt sản phẩm theo đúng truyền thống, giữ được những hoa văn của các dân tộc thuộc tỉnh Bình Định Sau đó, cửa hàng sẽ trình bày giới thiệu sản phẩm của từng vùng có gắn “nhãn hiệu”, chú thích rõ : Đây là sản phẩm của làng dệt Vĩnh Thạnh, đây là sản phẩm của làng dệt Vân Canh, đây là sản phẩm của làng dệt An Lão và đặc biệt
là sản phẩm của làng dệt Nam Phương Danh, v.v Đó cũng là trăn trở, mong muốn của cô Nga về sự ra đời của “Trung tâm du lịch - bảo tồn và phát triển thổ cẩm Bình Định”
2.3.2 Hoa văn
Hoa văn thể hiện nét văn hoá, mỹ thuật, nét đặc sắc của vùng miền Do vậy, mỗi dân tộc thể hiện mỗi kiểu hoa văn khác nhau tùy theo đặc trưng văn hoá của mỗi vùng miền Hoa văn của dân tộc H’Mông là những ô trang trí đường diềm hình chữ thập, chữ đinh, chữ công được chuyển biến một cách đa dạng, kết hợp với các ô hình quả trám hoặc tam giác có các đường viền hình gẫy khúc trong các thể bố cục khác Hoa văn của dân tộc H’re thường là hình học như hình thoi, hình quả trám, hình chữ nhật, hình vuông được liên kết thành những ô nối tiếp nhau; hoa văn đường thẳng, đường lượn sóng tạo nên hình dáng cách điệu con sông, con suối; hoặc hoa văn có hình giống các loài vật trong thiên nhiên Còn người Bana ở Bình Định chủ yếu dùng hoa văn sọc ngang, hoa văn hình quả trám Bởi vì họa tiết của người Bana đã phản ánh quan niệm về vũ trụ, lý âm dương, trời đất lấy thiên nhiên làm hình mẫu, thổ cẩm của người Ba Na không khác nào cảnh thiên nhiên thu nhỏ Đó là cách điệu của
Trang 24hình học, cảnh núi rừng của người dân Bana
2.3.3 Màu sắc
Về màu sắc, thổ cẩm ở Bình Định thường có bốn màu; đen, xanh, đỏ, vàng Trong đó, màu đen là màu chủ đạo Mỗi màu mang ý nghĩa khác nhau:
- Màu đen là màu nền Theo văn hoá người Tây Nguyên nói chung và
người Bana nói riêng, màu đen biểu hiện cho đất đai và độ che phủ của cây rừng Theo nhà nghiên cứu Nguyên Xuân Hoàng, khi về chiều, nhìn một màu đen bao phủ như vậy, nghĩa là cánh rừng đang xanh tốt, muông thú vẫn quanh quẩn đâu đây Nghĩa là điều kiện sinh sống vẫn còn Đó cũng là niềm mong ước của mỗi người dân Đất đai, theo triết lý của phương Đông, nó gắn bó đời sống của mỗi con người, từ khi sinh ra lớn lên đến khi chết đi Vì vậy, đó là màu chủ đạo Màu đen được lấy từ cây chàm và cây mơ (một loại cây thân mộc
lá nhỏ, khi ngắt lá vò đi sẽ ra nhựa đen, rất đẹp, bây giờ cây này hình như không còn nữa)
- Màu xanh biểu hiện cho da trời và cây lá
- Màu đỏ là màu của máu, lửa, thể hiện cho sự vươn lên, sự đam mê,
Trang 25về việc dệt vải, khéo cả về may mặc) Điều này tạo nên ấn tượng tốt cho người đàn ông, nhất là những “ý trung nhân” của mình Vì qua trang phục của người con gái, người con trai có thể biết được sự giỏi giang khéo léo của họ Điều này thể hiển “tính văn hoá”, “tính gia đình” trong lối sống của người Việt nói chung
Vì vậy, có thể nói, sắc màu thổ cẩm mang cả sắc màu văn hoá, truyền đi cả đời sống tinh thần của người dân Bình Định nói riêng cũng như đồng bào các dân tộc miền núi nói chúng