1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu tư tưởng canh tân ở việt nam cuối thế kỉ xix và nguyên nhân thất bại của nó

51 143 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu tư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX và nguyên nhân thất bại của nó
Tác giả Nguyễn Thị Phượng
Người hướng dẫn Th.S. Huỳnh Đức Thiện
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam
Thể loại Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 726,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN (9)
    • 1.1. Tiền đề hình thành tư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX (9)
    • 1.2. Sơ lược tiểu sử các nhà canh tân tiêu biểu (14)
    • 1.2. Nguyễn Lộ Trạch (16)
    • 1.3 Các nhân vật có tư tưởng canh tân khác (17)
  • CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN (21)
    • 2.1. Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ (21)
    • 2.2. Nội dung cơ bản tư tưởng canh tân của Nguyễn Lộ Trạch (28)
    • 2.3. Tư tưởng canh tân của một số quan lại triều Nguyễn (31)
  • CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN (35)
    • 3.1. Nguyên nhân khách quan (35)
    • 3.2 Nguyên nhân chủ quan (40)
  • KẾT LUẬN (45)

Nội dung

BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN

Tiền đề hình thành tư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX

Cuối thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam trải qua nhiều biến động lớn, đặc biệt từ khi thực dân Pháp xâm lược vào năm 1858, khiến vận mệnh đất nước bị đe dọa và đời sống nhân dân càng thêm khổ cực Xã hội đứng trước nguy cơ khủng hoảng, theo giáo sư Trần Văn Giàu, Việt Nam đang đối mặt với hai nhiệm vụ lịch sử quan trọng: duy tân để phát triển chủ nghĩa tư bản và bảo vệ độc lập dân tộc chống thực dân Hai nhiệm vụ này có mối liên hệ chặt chẽ, đòi hỏi cải cách và đổi mới trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội.

Nước ta có nền kinh tế lạc hậu, chủ yếu phát triển nông nghiệp Vào thế kỷ XIX, triều Nguyễn đã đề cao nông nghiệp qua chính sách “trọng nông ức thương”, tuy nhiên, mặc dù có chú trọng đến khai hoang, diện tích đất nông nghiệp vẫn còn hạn chế Đến năm 1847, mặc dù diện tích đất nông nghiệp tăng, nhưng vẫn còn nhiều đất bỏ hoang, đặc biệt ở phía Nam, nơi có diện tích đất hoang lớn Năm 1870, chỉ có 522.000 ha đất được khai phá trên tổng diện tích 5.600.000 ha Chính sách khai hoang của nhà Nguyễn đã giúp phát triển nông nghiệp nhưng chưa đủ để nâng cao trình độ sản xuất Tốc độ khai hoang còn chậm và chủ yếu dựa vào sức người.

1 Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỉ XIX đến cách mạng tháng Tám, Tập 1, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, tr,54

2 Nguyễn Thế Anh (1971), Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn, tr

Nguyễn không đưa ra một biện pháp nào hoặc một chính sách nào nhằm cải tiến kỹ thuật, phát triển nông nghiệp

Kết quả khẩn hoang cuối cùng rơi vào tay địa chủ phong kiến, khiến chế độ sở hữu ruộng đất công ngày càng thu hẹp, trong khi ruộng tư lấn chiếm ruộng công Để đáp ứng nhu cầu vật chất của nhà nước, triều đình nhà Nguyễn áp đặt thuế khóa nặng nề lên nông dân nghèo, bao gồm nhiều loại thuế như thuế ruộng, thuế thân và các phụ thu khác Nông dân không chỉ phải đối mặt với ruộng đất không đủ nuôi sống mà còn gánh nợ thuế chồng chất Trước tình cảnh này, họ đã đứng lên khởi nghĩa chống triều đình, biến cuộc đấu tranh vì ruộng đất thành cuộc đấu tranh chính trị, nhằm đánh đổ giai cấp phong kiến vừa nắm quyền vừa bóc lột Trong suốt bốn triều vua từ Gia Long đến Tự Đức (1802-1883), nhà Nguyễn đã phải đối phó với 466 cuộc khởi nghĩa nông dân.

Nhà Nguyễn phải tập trung lực lượng quân sự để đối phó với các cuộc khởi nghĩa nông dân và "tiểu phỉ", trong khi mối quan hệ giữa quan và dân ngày càng căng thẳng Triều đình lúng túng và sai lầm trong việc giải quyết vấn đề này, dẫn đến sự xa cách giữa quan và dân, làm suy yếu năng lực quân sự của triều đình Trong bối cảnh xã hội khủng hoảng, vua quan nhà Nguyễn lại sống xa hoa, tạo điều kiện cho nạn tham nhũng gia tăng do quan lại không đủ sống với đồng lương ít ỏi từ triều đình.

1 Bộ giáo dục đào tạo(2002), Lịch sử Việt Nam (1858-1945) NXB Giáo Dục, Hà Nội, tr 4

Nguyễn Trường Tộ đóng vai trò quan trọng trong việc canh tân đất nước, theo nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội – Sở Văn hóa Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh (1992) Tài liệu này, được xuất bản bởi NXB Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm, cung cấp cái nhìn sâu sắc về những đóng góp của ông trong bối cảnh lịch sử Việt Nam.

Nguyễn Trường Tộ đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm canh tân đất nước, theo tài liệu của Viện Khoa học xã hội – Sở văn hóa thông tin Thành Phố Hồ Chí Minh (1992) Những ý tưởng của ông được ghi nhận trong cuốn sách do NXB Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, trang 26.

Hiện nay, đất nước đang đối mặt với nỗi khổ của nhân dân và sự tham nhũng của quan lại, trong khi tình hình Tây Dương và lợi ích thương mại đang yêu cầu sự chỉnh đốn kịp thời.

Chính sách “trọng nông ức thương” đã gây ra nhiều khó khăn cho thương nghiệp Việt Nam, dẫn đến tình trạng buôn bán trì trệ Nhà nước áp dụng độc quyền ngoại thương với chính sách “bế quan tỏa cảng,” không giao dịch với phương Tây Mặc dù có nỗ lực cải thiện mạng lưới giao thông để thúc đẩy giao lưu kinh tế trong nước, nhưng Nhà nước vẫn kiểm soát chặt chẽ và giữ độc quyền đối với các sản phẩm thiết yếu như gạo và muối So với các quốc gia khác, nền ngoại thương của Việt Nam còn khá dè dặt, khiến thương nhân trong nước gặp khó khăn Chính sách hạn chế thương mại của triều đình, do sự cảnh giác và bảo thủ, đã kìm hãm sự phát triển của thương nghiệp, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và cả ngoại giao quân sự của đất nước.

Nhà nước độc quyền khai thác mỏ dưới triều Nguyễn, với khoảng 140 mỏ được giao cho quan lại và người Hoa Kiều Mặc dù sản phẩm được thu gom bởi Nhà nước, nhưng phương thức lãnh trưng do thương nhân Hoa kiểm soát đã tạo ra năng suất nhất định và chuyển biến trong quan hệ sản xuất Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến thất thoát tài nguyên ra nước ngoài mà nhà Nguyễn không thể ngăn chặn Các mỏ do Nhà nước tổ chức gần như thất bại hoàn toàn do chế độ lao dịch, quản lý kém và kỹ thuật lạc hậu Trong giai đoạn này, nhà Nguyễn còn lập ra “tượng cục” quan trọng với các xưởng đúc súng, đúc tiền và đóng tàu tập trung tại Huế, Hà Nội và Gia Định.

1 Đoàn Lê Giang, Nguyễn Lộ Trạch (1995), Điều trần và thơ văn, NXB KHXH,Hà Nội, tr.142- 143

2 Lê Minh Quốc(2000), Những nhà cải cách Việt Nam, NXB Trẻ, tr.78

Các vua nhà Nguyễn đã triệu tập những thợ thủ công tài ba từ khắp nơi về kinh đô để xây dựng lăng tẩm cho các vua chúa Tuy nhiên, điều này đã dẫn đến sự trì trệ trong sự phát triển của nghề thủ công, do thiếu hụt thợ giỏi.

Kinh tế bất ổn, đất nước đắm chìm trong bóng tối, đời sống nhân dân cùng quẫn, thêm vào đó tình hình xã hội ngày càng phức tạp

Sau nhiều năm loạn lạc, đất nước Việt Nam đã thống nhất dưới triều đại Nguyễn, bắt đầu từ năm 1802 với sự thất bại của nhà Tây Sơn Gia Long đã thiết lập một bộ máy nhà nước quan liêu, độc tôn quyền lực và dựa trên tư tưởng Nho giáo Đến thời Minh Mệnh, chế độ chuyên chế càng phát triển, quyền lực địa phương bị hạn chế Triều Nguyễn đã tham khảo mô hình nhà nước của Trung Quốc để xây dựng một bộ máy nhà nước vững mạnh, nhưng dần xa rời thực tế và trở nên bảo thủ Nguy cơ xâm lược từ thực dân Pháp đang cận kề, và triều đình hèn kém đã không thể đoàn kết cùng nhân dân chống lại kẻ thù Trong bối cảnh khẩn cấp, triều đình lại chia rẽ, ngăn cấm các cuộc kháng chiến của nhân dân, thay vì tập trung lực lượng để đánh Pháp.

Việc triều đình nhà Nguyễn ký các hòa ước bất lợi từ hiệp ước Nhâm Tuất (1862) đến hiệp ước Giáp Tuất (1874) thể hiện sự nhu nhược và hèn nhát trước sự lấn lướt của thực dân Pháp Sự yếu kém này đã đẩy phong trào kháng chiến của nhân dân vào tình trạng khó khăn, khi họ vừa mất chỗ dựa vừa phải đối mặt với sự phản kích từ kẻ thù Dù có những nỗ lực kháng cự ban đầu, triều đình vẫn không thể chống lại sức mạnh quân sự mới mẻ của Pháp, dẫn đến những thất bại liên tiếp trong cuộc kháng chiến Tư tưởng bi quan trong hàng ngũ quan lại đã khiến việc ký kết hòa ước trở nên tất yếu, đồng thời đặt ra nguy cơ mất nước Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XIX, tư duy canh tân đã bắt đầu hình thành với sự tiếp xúc trực tiếp với nền văn minh phương Tây qua các sứ bộ sang Pháp và những cá nhân như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, cùng các đoàn công cán Đông Nam Á.

Một số trí thức Việt Nam thời kỳ đó đã tiếp xúc với các tác phẩm “Tân thư”, phản ánh tư tưởng canh tân từ Trung Quốc, với những tên tuổi tiêu biểu như Đàm Tự Đồng, Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi.

Nền văn hóa và văn minh phương Tây đã xâm nhập vào Việt Nam thông qua các đạo quân viễn chinh Pháp, cùng với khí tài quân sự, giáo sỹ mang kiến thức khoa học kỹ thuật, bộ kinh thánh và lối sống của thương nhân Sự hiện diện này đã tạo điều kiện cho nền văn minh mới phát triển ở các vùng bị chiếm đóng, đồng thời khơi dậy tư tưởng canh tân trong xã hội.

Cuối thế kỷ XIX, tư tưởng cải cách ở Việt Nam xuất hiện do bốn điều kiện cơ bản: sự xâm lược của thực dân Pháp, tiếp xúc với văn minh phương Tây, tinh thần yêu nước mạnh mẽ của dân tộc, và năng lực tư duy của các nhà tư tưởng cải cách Những yếu tố này phản ánh những đòi hỏi khách quan của lịch sử và là xu thế phát triển tất yếu, đồng thời tạo tiền đề cho sự can tân đất nước.

Sơ lược tiểu sử các nhà canh tân tiêu biểu

Cuối thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam đã nảy sinh nhu cầu đổi mới và canh tân đất nước Tuy nhiên, yêu cầu này chưa được giải quyết triệt để và chỉ dừng lại ở một xu hướng canh tân trong một số ít trí thức và quan chức.

Các nhân vật có tư tưởng canh tân tại Việt Nam rất hiếm, chỉ có một số ít như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Trần Đình Túc và Đinh Văn Điền Trong số này, chỉ Phạm Phú Thứ và Trần Đình Túc từng giữ chức Tổng Đốc, nhưng họ vẫn chưa có tiếng nói quyết định tại triều đình Đặng Huy Trứ và Bùi Viện giữ chức quan nhỏ, trong khi Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch không được trọng dụng Đinh Văn Điền là người dân bình thường, cùng với một số nhân vật khác, đã có dịp sang Pháp và các nước Đông Nam Á Vũ Văn Báo, một phó bảng và Tổng đốc, từng tham gia phái đoàn sang Pháp, nhưng không để lại bất kỳ đề nghị canh tân nào.

Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam chưa có một phong trào canh tân mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu lịch sử, chỉ mới xuất hiện những nhân vật khởi đầu xu hướng canh tân Bài viết sẽ điểm qua cuộc đời và sự nghiệp của những tư tưởng canh tân này tại Việt Nam trong giai đoạn này.

Nguyễn Trường Tộ, sinh năm 1830, xuất thân từ một gia đình nghèo ở Nghệ Tĩnh, là một người theo đạo thiên chúa thông minh và ham học Mặc dù đỗ đầu kỳ khảo thí năm 1855, ông không được tham gia thi hương do chính sách phân biệt của triều đình Năm 30 tuổi, ông được mời dạy chữ Hán cho người theo đạo và gặp Giám mục Gauthier, từ đó học tiếng Pháp và kiến thức khoa học kỹ thuật Sau khi Giám mục rời Việt Nam năm 1859, ông sang Pháp, nơi đã học hỏi nhiều lĩnh vực khoa học tiên tiến Trong thời gian ở Pháp, ông gặp Itohirobumi, một nhà cải cách lớn của Nhật Bản Năm 1861, ông trở về Việt Nam, làm thông dịch cho Pháp nhưng sớm từ bỏ khi quân Pháp xâm lược Sau khi ký hiệp ước 1862, ông rút lui về Gia Định và gửi nhiều bản điều trần cho vua Tự Đức về các vấn đề tôn giáo, kinh tế, chính trị và quân sự, cho đến khi ông qua đời.

Trong giai đoạn từ 1866 đến 1868, Nguyễn Trường Tộ được triều đình sử dụng và đặc biệt được Tự Đức tiếp xúc để lắng nghe ý kiến Tuy nhiên, triều đình lại rất thận trọng trong việc khai thác tài năng của ông Vào giữa năm 1866, ông được giao nhiệm vụ cùng với lang trung.

Hồ Văn Long đã được giao nhiệm vụ tìm kiếm mỏ than ở Hải Dương, nhưng sau đó nhận chỉ thị trở về Huế cùng với Giám mục Gauthier để sang Pháp thuê thầy thợ và mua sắm máy móc Vào tháng 4 năm 1868, Nguyễn Trường Tộ đã trở về quê Nghệ An và qua đời vào ngày 22 tháng 11.

Cuộc đời cống hiến của ông đã khép lại vào năm 1871, mặc dù những ý kiến và mong muốn đổi mới của ông chưa được thực hiện Trong những năm đau thương cuối thế kỉ XIX, ông nổi bật như một tấm gương sáng về lòng yêu nước và tinh thần phục vụ nhân dân Ông thể hiện ý chí không ngừng học hỏi và cầu tiến, cùng với đạo đức trong sáng, không màng đến công danh phú quý Đây là nét son rực rỡ của một trí thức dân tộc chân chính, có giá trị vượt thời gian.

Nguyễn Lộ Trạch

Nguyễn Lộ Trạch, sinh ngày 15/02/1853 tại Cam Lộ, Quảng Trị, là một nhân vật canh tân quan trọng, quê gốc ở làng Kế Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Tên chữ của ông là Hà Nhân và hiệu là Kỳ Am Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng với trí thông minh, học giỏi và đam mê đọc sách, mặc dù không lấy cử nghiệp làm mục đích chính trong cuộc sống.

Năm 20 tuổi, ông lập gia đình với bà Trần Thị Nhàn – con gái của thượng thư bộ binh Trần Tiễn Thành Sinh trưởng trong một gia đình có cha là tiến sỹ (đỗ năm

Nguyễn Lộ Trạch, sinh ra và lớn lên dưới triều Tự Đức (1848-1883), đã có điều kiện học tập và tiếp xúc với nhiều tài liệu quan trọng nhờ cha vợ làm quan to và bản thân từng giữ chức vụ thượng thư bộ binh Ông đã tiếp xúc với các bản sao văn bản của Nguyễn Trường Tộ và các tân thư từ nước ngoài, giúp ông hiểu rõ hơn về xã hội đương thời Trong bối cảnh đất nước rối ren và mất chủ quyền, khi các quan lại chỉ biết bàn luận mà không hành động, tinh thần yêu nước đã thôi thúc ông viết những tư tưởng canh tân đặc sắc Ông đã dâng lên vua bản điều trần “Thời vụ sách (thượng)” để bày tỏ quan điểm của mình.

25 tuổi, nhưng không được nhà vua đoái hoài

Trong những năm tiếp theo, đất nước rơi vào tình trạng bế tắc nghiêm trọng khi ba tỉnh miền Đông và miền Tây lần lượt bị Pháp chiếm đóng Ông tiếp tục gửi bản “Thời vụ sách (hạ)” lên triều đình Tự Đức đã mời ông đến và giao cho viện cơ mật cử ông sang Hương Cảng (Trung Quốc) để học về “cơ xảo”, nhưng kế hoạch này sau đó đã bị đình chỉ.

Và đến năm 1884, trông thế sự buồn mà không biết làm gì hơn, ông đã nêu tập hợp tất cả những bài viết, chép lại thành “Quy ưu lục”

Nguyễn Lộ Trạch, mặc dù có tiểu sử chưa đầy đủ và nhiều di sản đã bị thất lạc, vẫn để lại những giá trị đáng trân trọng cho thế hệ sau nhờ tấm lòng yêu nước và tinh thần đổi mới kiên cường của ông.

Các nhân vật có tư tưởng canh tân khác

Cùng có tư tưởng tiến bộ muốn canh tân đổi mới đất nước còn có các nhân vật như Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Bùi Viện

Phạm Phú Thứ là một nhân vật quan trọng trong lịch sử tư tưởng canh tân của Việt Nam, với nhiều đóng góp đáng kể Cuộc đời và tư tưởng của ông phản ánh những quan điểm đổi mới và tiến bộ, thể hiện sự nhạy bén trước những biến động xã hội Những điểm nổi bật trong tư tưởng của ông không chỉ giúp định hình tư duy của thế hệ sau mà còn góp phần vào quá trình phát triển văn hóa và giáo dục trong nước.

Giáo Thi, hiệu Trúc Đường,, biệt hiệu Giá Viên và Trúc An, thuỵ Văn Ý Công, người tỉnh Quảng Nam sinh năm (1820 – 1880)

Năm 1842, ông đỗ thủ khoa thi Hương và năm sau trở thành tiến sĩ, giữ chức Thượng thư Bộ Hộ Tuy nhiên, ông sau đó bị giáng chức xuống Tham Tri Năm 1863, ông được cử làm phó sứ trong sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ Trong thời gian này, ông đã ghi chép lại những trải nghiệm hàng ngày của mình, được tập hợp trong các tác phẩm như “Tây phù thi thảo” và “giá viên biệt lục” (hay “Tây hành nhật ký”), đồng thời ông cũng mua về nhiều bộ sách khoa học kỹ thuật như Bác vật tân biên.

Khai môn hiến pháp; hàng hải, kim châm và vạn quốc công pháp Ông đã cho khắc in các sách kể trên

Vào năm 1867, Phạm Phú Thứ đã tâu vua về việc mở cửa biển để buôn bán với các nước phương Đông và phương Tây, đồng thời cử người đi học Ông được cử sang Pháp và có thể đã tiếp cận nhiều sách báo mà triều đình mua từ Hồng Kông, mở rộng tầm nhìn của mình Tuy nhiên, trong chính bản thân mình, Phạm Phú Thứ thể hiện sự giằng co giữa canh tân và bảo thủ, với mong muốn đổi mới nhưng vẫn mang tâm lý e ngại, do dự khi tiến bước Ông là một đại diện tiêu biểu cho tư tưởng canh tân rụt rè của các nhà nho Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX.

Đặng Huy Trứ, một nhân vật quan trọng của dân tộc vào cuối thế kỉ XIX, được nghiên cứu và công nhận với nhiều vai trò như nhà thơ, nhà văn hóa, nhà kinh tế, nhà quân sự và nhà tư tưởng xuất sắc Ông sinh năm 1825 trong một gia đình có truyền thống nho học và đã nhận được sự ưu ái từ triều đình nhà Nguyễn, góp phần quan trọng trong việc khai sáng tư tưởng cho đất nước.

Năm 18 tuổi (1843) ông thi đậu cử nhân, năm 1847 ông đi thi hội, thi đình đỗ tiến sỹ nhưng phạm huý nên bị cách cả cử nhân lẫn tiến sỹ cùng năm ấy, đi thi hương ông lại đỗ giải nguyên Từ đó đến năm 1853 ông dạy học Ông dạy học khoản 10 năm ở quê, chính môi trường giáo dục của gia đình đã ảnh hưởng đến những ý tưởng cải cách giáo dục của Đặng Huy Trứ Ông là một nhà canh tân xuất sắc đương thời Một nhà nghiên cứu đã cho rằng Đặng Huy Trứ là một nhân vật tiêu biểu trong số ít người lúc bấy giờ, ông có “nhân cách độc đáo và tài năng đa dạng, dấn thân hoạt động trên nhiều lĩnh vực văn hóa, giáo dục, kinh tế… ở đâu cũng thể hiện được những tư tưởng đặc sắc 1

Đặng Huy Trứ đã để lại những di thảo có giá trị lớn trong lĩnh vực giáo dục, với các quan điểm và phương pháp luận mang tính ứng dụng cao cho thời đại hiện nay Mặc dù ông không có điều kiện tiếp cận kiến thức từ nước ngoài như Nguyễn Trường Tộ, nhưng những đóng góp của ông vẫn thể hiện sự sâu sắc và ý nghĩa trong việc cải cách giáo dục.

Trương Thị Yến (2003) trong tác phẩm "Xu hướng mới trong lịch sử Việt Nam" đã chỉ ra rằng, tầm nhìn chiến lược trong nhiều lĩnh vực là yếu tố quan trọng để canh tân đất nước Sự kết hợp các tư tưởng này không chỉ góp phần tạo nên sức mạnh dân tộc mà còn hỗ trợ trong cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ quốc vững mạnh.

Bùi Viện (1389-1878), hiệu Mạnh Dực tiên sinh, quê ở làng Trình Phố, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, là một nhân vật yêu nước nổi tiếng với tư tưởng canh tân vào thời kỳ cuối thế kỷ XIX Ông đỗ cử nhân năm 1856 và được vua Tự Đức khen ngợi vì đã coi việc nước như việc nhà Bùi Viện đã hai lần sang Mỹ để tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế nhằm cứu nước, nhưng chủ trương này không thành công Sau khi trở về, ông tích cực tham gia các công cuộc cải cách, như mở cửa biển Ninh Hải (Hải Phòng hiện nay) và xây dựng đội tuần dương bảo vệ bờ biển chống hải tặc Dù cuộc đời ngắn ngủi và sự nghiệp cải cách chưa hoàn tất, ông đã để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử ngoại giao Việt Nam.

Mỹ nói riêng, trong dòng tư tưởng canh tân và lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX nói chung

Những con người như Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện… xứng đáng được đời sau ngưỡng mộ, học tập

Cuối thế kỷ XIX, bên cạnh những nhân vật nổi bật, còn có nhiều nhân vật khác như Nguyễn Điền và Đinh Văn Điền với tư tưởng canh tân Mặc dù không thể kể hết cuộc đời và sự nghiệp của họ trong khuôn khổ bài viết, nhưng lòng yêu nước của họ luôn được ghi nhận và trân trọng bởi thế hệ sau.

Tất cả các nhà cải cách đều có nền tảng Nho học và tiếp xúc với văn minh phương Tây, dẫn đến việc họ chịu ảnh hưởng của nền văn hóa này Tình yêu nước và khát vọng cải cách đất nước của các chí sĩ cuối thế kỷ XIX đã trở thành xu hướng tất yếu của thời đại, mặc dù tư tưởng của họ chưa được thực thi.

Tư tưởng cải cách ở Việt Nam vào nửa cuối thế kỉ XIX, theo Lê Thị Lan (2002), phản ánh lòng yêu nước sâu sắc của các nhân vật lịch sử, điều này đã được thế hệ sau ngưỡng mộ và học hỏi rất nhiều.

NỘI DUNG CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN

Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ

Thông qua 58 bản điều trần gửi lên triều đình Huế, có bốn tác phẩm chính của ông về cải cách đất nước, bao gồm Thiên hạ phân hợp đại thế luận, Dũ tài thế cập luận, Giáo môn luận và Tế cấp bát điều.

Từ các tác phẩm của Nguyễn Trường Tộ, nổi bật lên những vấn đề cải cách đất nước như kinh tế, quân sự, ngoại giao và giáo dục Tất cả những ý kiến và tư tưởng này tạo thành một hệ thống nhất quán, chứng tỏ ông có suy nghĩ chín chắn về các vấn đề quan trọng Điều này cũng khẳng định ông là một nhà bác học và tư tưởng xuất sắc của giai đoạn lịch sử vào những năm 60 thế kỷ XIX.

Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “làm cho dân giàu nước mạnh” trong các bản điều trần của mình, cho rằng “phú đứng đầu” trong ngũ phúc Ông cho rằng khi bị đè nén bởi nghèo đói, con người sẽ không còn thời gian để bàn về lễ nghĩa, mà chỉ lo cho kế sinh nhai Do đó, cần phải đảm bảo rằng “đất nước giàu mà dân cũng giàu” để tạo ra một xã hội thịnh vượng.

Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị lên triều đình nhiều chương trình phát triển kinh tế

Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành kinh tế nông nghiệp và thực trạng của nó trong thời kỳ đó Ông đề xuất triều đình cần chú trọng vào việc đào tạo một đội ngũ chuyên trách để quản lý nông nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững cho lĩnh vực này.

1 1 Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỉ XIX đến cách mạng tháng Tám, Tập 1, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, tr 364

Nguyễn Trường Tộ đề xuất triều đình tuyển chọn cử nhân và tú tài làm quan nông để đáp ứng nhu cầu cấp bách Những quan nông này cần vừa làm vừa học, đọc sách chuyên môn về nông nghiệp nhằm trang bị kiến thức cần thiết và nắm vững tình hình đất đai tại địa phương mình Họ có thể được đào tạo tại các trường nông chính trong nước hoặc gửi đi học tập ở nước ngoài.

Nguyễn Trường Tộ khuyến nghị triều đình cần hạn chế thiệt hại do lũ lụt gây ra bằng cách trồng rừng và đào kênh, nhằm bảo vệ ngành nông nghiệp của đất nước, vốn thường xuyên đối mặt với mối đe dọa từ thiên tai này.

Để quản lý lũ lụt và cung cấp nước tưới cho cây trồng, cần thiết phải đào các kênh nhánh kết nối với các sông chính Đồng thời, việc đặt các trạm thu thuế trên các dòng sông sẽ giúp kiểm soát và thu phí từ các thuyền buôn qua lại.

Cần điều chỉnh kinh giới và xác định diện tích canh tác, đồng thời áp dụng thuế đối với các loại ruộng để ngăn chặn tham nhũng từ quan lại địa phương Hơn nữa, việc điều tra và lập kế hoạch khai hoang cũng là điều cần thiết.

“phải có bản đồ toàn quốc ghi những vị trí, địa thế, diện tích tài nguyên”

Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc triều đình thu thập kinh nghiệm và phát huy sáng kiến Ông đề xuất rằng để đạt được điều này, triều đình cần thiết lập các khoa hải lợi, sơn lợi, địa lợi và thuỷ lợi nhằm rút ra bài học kinh nghiệm, đồng thời khen thưởng những cá nhân có sáng kiến và kinh nghiệm xuất sắc.

Như vậy về nông nghiệp thì Nguyễn Trường Tộ đã khá kĩ càng trong từng việc cụ thể nền nông nghiệp nước nhà

Tư tưởng “trọng nông” đã tồn tại từ lâu, do đó, các đề xuất cải cách nông nghiệp của Nguyễn Trường Tộ không mang tính chất “lật ngược vấn đề” như những đề nghị liên quan đến công nghiệp và thương nghiệp sau này.

Cho đến nay, công nghiệp ở nước ta vẫn chưa được chú trọng, chủ yếu chỉ tập trung vào thủ công gia đình và một số xưởng sản xuất nhỏ phục vụ triều đình Nguyễn Trường Tộ đã dự đoán rằng tài nguyên thiên nhiên của đất nước rất phong phú, với "năm loại kim, tám loại đá" cùng nhiều vật quý khác từ núi non, rừng gỗ, sông biển giàu cá muối và đất đai màu mỡ Để xuất khẩu tài nguyên hiệu quả, ông đã đưa ra những đề xuất cụ thể nhằm phát triển ngành công nghiệp.

Để khai thác hiệu quả các nguồn lợi, cần tiến hành điều tra cơ bản và áp dụng ba phương thức: cho công ty nước ngoài khai thác với phần lợi nhuận chia sẻ, hợp tác liên doanh, hoặc tự mình thực hiện khai thác.

Nhà nước nên đầu tư vào việc mua tàu để vận chuyển nông lâm hải sản ra nước ngoài và nhập khẩu hàng hóa cần thiết về trong nước, nhằm tối ưu hóa lợi nhuận gấp ba lần Trước khi thực hiện mua tàu, cần cử người sang Anh, Pháp để học cách sửa chữa máy móc, điều này giúp giảm chi phí và nâng cao tính chủ động Nếu có mua thuyền máy, chỉ nên mua một số lượng hạn chế và tổ chức sản xuất tại chỗ.

Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người dân tham gia vào hoạt động buôn bán Ông đề nghị rằng các nhà buôn trong cộng đồng nên được hỗ trợ để góp vốn thành lập các cửa hàng, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương.

Chính phủ khuyến khích phát triển thương mại bằng cách thưởng cho những ai có vốn đầu tư để đóng hoặc mua thuyền, cho phép họ giao thương với Đại Thanh hoặc nước ngoài Để thúc đẩy hoạt động thương mại nội địa và quốc tế, cần cải thiện cơ sở hạ tầng như đắp đường, nạo vét sông ngòi, xây dựng kênh từ Hải Dương đến Huế, và tạo điều kiện cho việc vận chuyển hàng hóa bằng thuyền và ngựa.

Nội dung cơ bản tư tưởng canh tân của Nguyễn Lộ Trạch

Tư tưởng canh tân của Nguyễn Lộ Trạch được thể hiện chủ yếu trong hai tác phẩm “thời vụ sách (thượng)” và “thời vụ sách (hạ)” Nội dung cơ bản của tư tưởng này có thể được tóm tắt như sau:

Trong "thời vụ sách (thượng)", ông chú ý đến tình hình an ninh của đất nước và con đường phát triển phù hợp Ông nhận thức rằng khả năng quốc gia không thể đối phó với kỹ thuật và vũ khí phương Tây, do đó đã đưa ra thuyết để tìm ra giải pháp thích hợp.

“Hòa”, thuyết “Quyền nghi” nghĩa là hòa nhưng nghĩ tới một kế hoạch tự cường, chứ không phải coi “Hòa là kế lâu dài”

Nguyễn Lộ Trạch nhận thức rõ ràng về tình hình thời cuộc không chỉ trong nước mà còn ở các khu vực lân cận Ông quan sát rằng toàn bộ xã hội Châu Á đang bị thực dân phương Tây xâm lấn Do đó, ông cho rằng trong bối cảnh như vậy, chúng ta không thể ngồi im chờ đợi; nếu không có các biện pháp tự cường đất nước, thì sẽ không thể cứu vãn được vận mệnh quốc gia.

Trong "thời vụ sách (hạ)", có một kế hoạch táo bạo được triển khai Nội dung cơ bản trong tư tưởng canh tân của ông có thể được tóm tắt qua các bài viết của ông.

Có thể nhặt ra trong hai bản “thời vụ sách (thượng)”, “thời vụ sách (hạ)” và các bài viết khác của Nguyễn Lộ Trạch, các luận điểm sau đây:

1- Tự lực tự cường (được gom trong khái niệm “tự trị”) là yếu tố quyết nhất đảm bảo chống giặc thắng lợi Nguyễn Lộ Trạch viết: “… về cách chống giặc, nói kỹ từng mục thì rất nhiều, nhưng điều quan trọng nhất chẳng qua chỉa là một tiếng “tự trị” mà thôi 1

1 Đoàn Lê Giang, Mai Cao Thương, Nguyễn Lộ Trạch(1995), Điều trần và Thơ Văn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,tr 388

1 Đoàn Lê Giang, Mai Cao Thương, Nguyễn Lộ Trạch(1995), Điều trần và Thơ Văn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,tr 388

2- Muốn tự lực tự cường thì phải canh tân; canh tân chính là để đủ sức tự lực tự cường Ông viết: “Điều đáng lo của thiên hạ không phải là ở chỗ thiếu thốn, yếu kém, mà ở chỗ không gắng sức tự cường Song tự cường nếu qủa đã gắng sức rồi mà thời thế thay đổi thì lại lo không cải cách kịp”

3- Canh tân cũng như đánh giặc, cần phải nhờ viện trợ bên ngoài, nhưng trước hết phải tự lực tự cường Không thể chỉ trong cậy vào viện trợ, không tự lực tự cường mà chỉ dựa vào viện trợ thì sẽ rơi vào tình thế “đưa hỗ cửa trước rước beo cửa sau” Ông viết: “nhưng nếu muốn nhờ vào ngoại viện ắt trước hết phải biết tự lập Cái gọi là giúp đỡ chỉ đặc biệt dùng bổ sung vào chỗ sức ta chưa đủ mà thôi, chứ không phải hoàn toàn dựa vào sức người để giữ nước Nếu chỉ trông cậy vào sự giúp đỡ bên ngoài à lười biếng, vui chơi thì điều lo lắng lại không ở Anh, Phổ đâu” 1

Nguyễn Lộ Trạch nhấn mạnh rằng để đạt được sự hỗ trợ từ bên ngoài, trước tiên cần phải tự lực tự cường Ông khẳng định rằng "tự lực tự cường" là cách để duy trì nền tảng của đất nước, trong khi sự hỗ trợ bên ngoài chỉ là giải pháp tạm thời nhằm bổ sung cho những thiếu hụt Nếu chúng ta cứ mãi lười biếng và chần chừ, thì dù có nhận được hàng trăm sự hỗ trợ từ bên ngoài cũng sẽ không có giá trị đáng tin cậy.

4- Học tập kỹ thuật nước ngoài là cấp bách, nhưng trước hết phải có tinh thần tự lực tự cường Việc ra nước ngoài học tập phải đặc trên cơ sở tự lực tự cường Ông viết: “…nhiệm vụ cấp bách hiện nay, cố nhiên không thể chậm trễ trong việc học kỹ thuật được, nhưng tư tưởng tự trị thì lại càng không thể không gắng sức Nếu ta biết trước hết lo tự cường tự trị đã, rồi sau tìm những nước với Pháp mà giao thiệp để dò xét những chỗ yếu kém của chúng, thì ngày nay tuy chưa làm được gì, nhưng không hẳn là không có cơ hội để làm được” 2

Nguyễn Lộ Trạch nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của tự lực tự cường trong việc phát triển đất nước, từ đó tạo cơ hội giành lại độc lập cho dân tộc trước thực dân Pháp Ông nhấn mạnh việc phát triển quốc gia để có tiếng nói trong cộng đồng quốc tế và khéo léo lợi dụng mâu thuẫn giữa kẻ thù để phân hóa chúng Tư tưởng này thể hiện sự tiến bộ và có sự kế thừa từ những tư tưởng trước đó của Nguyễn Trường Tộ.

1 Đoàn Lê Giang, Mai Cao Thương, Nguyễn Lộ Trạch(1995), Điều trần và Thơ Văn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,tr 390

2 Đoàn Lê Giang, Mai Cao Thương, Nguyễn Lộ Trạch(1995), Điều trần và Thơ Văn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,tr 391

Ông đề nghị triều đình chuyển đô ra Thanh Hóa vì cho rằng đây là vị trí lý tưởng với nhiều lợi thế về địa điểm, binh lực và tài lực Điều này nhằm thiết lập một căn cứ phòng ngự hiệu quả để đối phó với thực dân Pháp khi họ tiến sâu vào xâm lược nước ta.

Nguyễn Lộ Trạch đã mạnh dạn đề xuất với vua về việc chuyển Thủ đô từ Phú Xuân sang Thanh Hóa, nhằm tạo điều kiện cho việc kháng Pháp Ý tưởng này không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược dài hạn mà còn có khả năng thực thi hiệu quả, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Nuôi quân là một vấn đề quan trọng đối với nhà Nguyễn và các triều đại phong kiến, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế nông nghiệp lạc hậu Quân lính đói khổ sẽ không có đủ sức lực để chiến đấu và giành chiến thắng Nguyễn Lộ Trạch đã đề ra chính sách kết hợp giữa phát triển nông nghiệp và quân sự, khuyến khích cày cấy để tự túc và làm giàu Ông cũng chủ trương mở rộng thương mại với nước ngoài nhằm nâng cao kinh tế và học hỏi những điều bổ ích, góp phần làm cho đất nước trở nên phú cường.

Vấn đề huấn luyện đồn binh:

Nuôi quân và huấn luyện là hai yếu tố quan trọng quyết định sức mạnh của một đạo quân Nguyễn Lộ Trạch nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải tiến tổ chức, huấn luyện và trang bị để xây dựng một đội quân có khả năng chiến đấu thực sự Ông mong muốn thay thế những vũ khí lạc hậu bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, nhằm tạo ra một đội quân được đào tạo bài bản, có khả năng và quyết tâm cao Để đạt được điều này, cần học hỏi kỹ thuật từ phương Tây bằng cách tuyển chọn thanh niên thông minh, có năng lực, và tạo điều kiện ưu đãi để họ ra nước ngoài học tập Với sự đầu tư đúng đắn, chỉ trong vài năm, chúng ta sẽ có đội ngũ kỹ thuật tài năng phục vụ cho quân đội.

Nguyễn Lộ Trạch đã chỉ ra những thiệt hại và đề xuất việc mua tàu thuyền, quân vận tải nhằm bảo vệ của cải và lương thực, đồng thời giảm thiểu thất thoát và chi phí thuê vận chuyển, thuế vận chuyển Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế thị trường, chúng ta càng nhận thấy sự sắc sảo của Nguyễn Lộ Trạch khi ông đưa ra những quan điểm quan trọng cho sự canh tân trong lĩnh vực kinh doanh vận tải và phát triển giao thông.

Tư tưởng canh tân của một số quan lại triều Nguyễn

Vào giữa thế kỷ 19, triều đình nhà Nguyễn đã nhận ra sự yếu kém trước sức mạnh của phương Tây khi Pháp tấn công Việt Nam Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hiểu rõ “thời cuộc” và xây dựng “sách lược” để đối phó với nguy cơ Các quan lại và trí thức thời bấy giờ, như Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ và Bùi Viện, đã vượt qua tư tưởng Nho gia để tìm kiếm những ý tưởng mới nhằm cứu vãn đất nước khỏi khủng hoảng Họ ý thức rõ ràng về trách nhiệm của mình trong việc “ăn lộc ta cùng lo việc nước” và mong mỏi đất nước tự cường.

Đặng Huy Trứ là một nhân vật xuất sắc của dân tộc ta vào cuối thế kỷ XIX, nổi bật với vai trò là nhà thơ, nhà văn hóa, nhà kinh tế, nhà quân sự và nhà tư tưởng Trong bài viết này, chúng ta sẽ tập trung vào Đặng Huy Trứ như một nhà tư tưởng yêu nước và tiến bộ, người đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển chủ nghĩa yêu nước truyền thống và đặt nền tảng tư tưởng cho chủ trương canh tân của đất nước.

Trong giới trí thức và quan chức, rất ít người có quan điểm tiến bộ như ông, mặc dù ông có nền tảng nho học vững vàng Là một người nho học, nhưng ông đã bắt đầu sự nghiệp quan lại của mình với lĩnh vực quân sự, thể hiện sự chú trọng đến việc học hỏi binh thư và cải tiến kỹ thuật tàu thuyền Ông mong muốn xây dựng một đội quân mạnh mẽ để bảo vệ đất nước Hơn nữa, ông đã nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế trong việc xây dựng một đất nước thịnh vượng.

Ông là một người tiên phong trong việc đổi mới tư duy giáo dục, đã chỉ trích mạnh mẽ lối học từ chương và tư tưởng nông nghiệp trọng thương, tạo ra ảnh hưởng sâu sắc đến cách tiếp cận giáo dục.

Đặng Huy Trứ không chỉ đổi mới tư tưởng và tán đồng quan điểm canh tân, mà còn thực thi những ý tưởng này thông qua việc mở hiệu buôn và lập Ty Bình Chuẩn để phát triển kinh tế quốc gia Ông là nhà khoa bản Nho học đầu tiên mở hiệu ảnh “Cảm hiếu đường” tại Hà Nội và đã hạ mình viết văn “quảng cáo” để giới thiệu cho hiệu ảnh của mình Bên cạnh những hoạt động thực tiễn phong phú, ông còn đóng góp về mặt tư tưởng bằng cách đưa ra nhận thức mới về kinh doanh và nêu lên các vấn đề đạo đức liên quan đến các quan lại và nhân viên trong hoạt động kinh tế của Nhà nước.

Đặng Huy Trứ đã khẳng định rằng “sinh tài đại đạo sự phi khinh”, tức là việc tạo ra của cải là một đạo lý lớn không thể xem nhẹ Câu thơ này không chỉ thể hiện tư tưởng sâu sắc mà còn mang lại giá trị cao cho hoạt động kinh tế, sản xuất và giao lưu hàng hóa, điều mà Nhà nước và các nhà Nho Việt Nam đã xem thường Trước Đặng Huy Trứ, chưa ai ở Việt Nam dám vượt qua khuôn khổ của Nho giáo để có được nhận thức đúng đắn như ông.

Đặng Huy Trứ là người tiên phong trong việc phá vỡ những tư tưởng sai lầm của Nho giáo và hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam, khẳng định giá trị của đạo lý trong hoạt động kinh tế Ông đã chứng minh chân lý này qua những hoạt động thực tiễn của mình, mặc dù phải trải qua một quá trình giằng co giữa cái mới và tư tưởng cố hữu Tấm lòng và trí tuệ của ông đã nhìn thấy hướng đi của thời đại, nhưng tiếc rằng giấc mơ canh tân và tự cường đất nước của Đặng Huy Trứ không thể thành hiện thực vì nhiều lý do.

Phạm Phú Thứ, một nhân vật tiến bộ trong hàng ngũ quan lại, đã được cử làm phó sứ trong sứ bộ Phan Thanh Giản vào năm 1863 để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ Ông ghi chép những điều mắt thấy tai nghe hàng ngày trong các cuốn "Tây phù thi thảo" và "Giá viên biệt lục", đồng thời mua về nhiều bộ sách khoa học kỹ thuật như "Bác vật tân biên", "Khai môn yếu pháp", "Hàng hải, kim châm" và "Vạn quốc công pháp" Ông cũng cho khắc in các sách này để phổ biến kiến thức.

Năm 1867, ông tâu vua xin cho mở cửa biển buôn bán với nước ngoài và cử người đi học cả phương Đông và phương Tây

Phạm Phú Thứ, sau khi sang Pháp, đã mở rộng tầm nhìn qua việc đọc sách báo mà triều đình mua từ Hồng Kông Tuy nhiên, trong bản thân ông diễn ra sự giằng co giữa canh tân và bảo thủ, với mong muốn đổi mới nhưng lại có thái độ ngần ngại, vừa muốn tiến về phía trước vừa ngoái nhìn quá khứ Ông cũng là một trong những đại thần, cùng với Nguyễn Tri Phương, Võ Trọng Bình và Trần Tiễn Thành, đã ký tên trong một bài sớ gửi lên triều đình.

Vào năm 1866, Tự Đức chỉ ra sự thiếu hụt tài chính và đề xuất sử dụng ngân sách cho việc quân sự cũng như sửa chữa các miếu điện, dinh thự và kho tàng tại kinh thành, thay vì đầu tư vào việc đóng tàu, thuê chuyên gia và cử người ra nước ngoài học tập.

Bốn vị đại thần, trong đó có Phạm Phú Thứ, đã chỉ ra tình trạng suy yếu của quân đội và sự tàn phá của kinh thành, khẳng định rằng củng cố quân đội là nhiệm vụ quan trọng Tuy nhiên, họ đã từ chối đổi mới trang thiết bị quân đội, tập trung vào việc tu bổ kinh thành mà không dám đề xuất giảm chi tiêu của triều đình Thiếu tầm nhìn để giải quyết vấn đề tài chính, họ chỉ biết trông chờ vào vận may Tư tưởng của Phạm Phú Thứ vẫn bị ràng buộc bởi nho giáo, thể hiện sự giằng co giữa bảo thủ và canh tân, dẫn đến thái độ bất nhất trong quan điểm Ông đại diện cho tư tưởng canh tân rụt rè của các nhà nho Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX.

Tư tưởng canh tân của Bùi Viện thể hiện qua những nỗ lực mở cửa biển Hải Phòng và tìm kiếm con đường sang Mỹ để mở rộng hoạt động ngoại giao cầu viện Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, kế hoạch sang Mỹ của ông không thành công, gây ra nhiều trớ trêu cho bản thân ông và triều đình Tự Đức.

NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN

Ngày đăng: 07/05/2021, 23:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w