1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật thơ hoàng phủ ngọc tường

102 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế Giới Nghệ Thuật Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tác giả Phạm Trần Bích Nguyệt
Người hướng dẫn TS. Ngô Minh Hiền
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 626,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông nhận xét về con người, phong cách nghệ thuật và đặc biệt dừng lại phân tích về những đặc tính trong thơ HPNT: “Trong thơ, bằng cái tôi mạnh mẽ đó, Hoàng Phủ đã đào sâu đến mạch vỉa c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 2

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGÔ MINH HIỀN

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 3

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Đà Nẵng, tháng 12 năm 2014

Tác giả

Phạm Trần Bích Nguyệt

Trang 4

1 Lí do chọn đề tài………1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu………2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu………5

4 Phương pháp nghiên cứu……… 5

5 Đóng góp của luận văn……….6

6 Bố cục luận văn………6

CHƯƠNG 1: THƠ TRONG HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 7

1.1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA HPNT – “NHÀ THƠ CỦA NỖI BUỒN” 7

1.1.1 Về cuộc đời HPNT 7

1.1.2 Hành trình sáng tạo nghệ thuật 11

1.2 THƠ TRONG QUAN NIỆM SÁNG TẠO CỦA HPNT 15

1.2.1 Cảm hứng thơ-mạch nguồn của sáng tạo nghệ thuật 15

1.2.2 Thơ là sự trở về “căn - nhà - ở - đời” của nó 18

CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 23

2.1 HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH 23

2.1.1 Cái tôi chiêm nghiệm về thân phận con người 23

2.1.2 Cái tôi suy tư về số phận của đất nước, quê hương 31

2.2 HÌNH TƯỢNG KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 38

2.2.1 Không gian thiên nhiên cảnh sắc 38

2.2.2 Không gian tâm tưởng 43

2.3 HÌNH TƯỢNG THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 49

Trang 5

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THƠ HOÀNG PHỦ

NGỌC TƯỜNG 63

3.1 NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 63

3.1.1 Ngôn ngữ giàu nhạc tính, họa tính 63

3.1.2 Ngôn ngữ giàu tính triết lí 69

3.2 GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT 75

3.2.1 Giọng hoài cảm 75

3.2.2 Giọng suy tư, chiêm nghiệm 79

3.3 BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT 84

3.3.1 Biểu tượng con đường - dấu chân 84

3.3.2 Biểu tượng hoa và cỏ 87

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Thế giới nghệ thuật được hiểu như một chỉnh thể toàn vẹn bao hàm

nhiều cấp độ, yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật Việc đi sâu vào nghiên cứu thế giới nghệ thuật của một nhà văn cũng là quá trình tìm hiểu sự sáng tạo, quan niệm về nghệ thuật, về cuộc sống của chính nhà văn ấy

Thơ là một loại hình nghệ thuật xuất hiện sớm Để hiểu rõ được bản chất của thơ là điều không đơn giản, bởi thế giới của thơ là một thế giới của

ảo ảnh đầy tính nhiệm màu Hơn nữa, thơ ca là nghệ thuật biểu hiện tâm trạng, là nơi để cái tôi chủ quan của mỗi chủ thể sáng tác bộc lộ đời sống riêng của mình Tìm hiểu những vấn đề bản chất trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ là con đường đi vào giải mã các phương thức, hình thức nghệ thuật biểu hiện mà nhà thơ sử dụng để phản ánh và sáng tạo hiện thực

1.2 Được biết đến là “nhà văn của những dòng sông”, HPNT để lại dấu

ấn rõ nét trong văn học Việt Nam với tài năng của một nhà viết kí nổi tiếng của thế kỉ XX Ông khẳng định tên tuổi bằng một phong cách viết vừa trữ tình, lãng mạn vừa thâm trầm, triết lí Không chỉ là nhà văn, duyên phận với thơ đã làm nên một HPNT - “nhà thơ của những nỗi buồn” Đến với thế giới thơ ông, ta như lạc vào cõi giới của sự suy tư, chiêm nghiệm Nó mở ra một cánh cửa bỏ ngõ trong không gian và trong tâm hồn Chất thơ với gam màu chủ đạo là những nỗi buồn tâm sự và thế sự đan cài, kết nối với nhau tạo nên

một vẻ đẹp “huyền bí” Vì vậy, thơ HPNT có sức hút đặc biệt với bạn đọc

1.3 Tiếp cận thơ HPNT, chúng tôi chọn đi sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật

thơ của ông nhằm làm nổi bật những đặc trưng thẩm mỹ của một hồn thơ độc đáo Việc nghiên cứu này không chỉ hướng đến nhìn nhận giá trị thơ HPNT

mà còn xác nhận vị trí, đóng góp của nhà thơ trong sự vận động và phát triển của thơ ca Việt Nam

Trang 7

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

HPNT là một nhà văn, nhà thơ được đông đảo bạn đọc cũng như các nhà phê bình, nghiên cứu biết đến Bên cạnh thể loại kí, sự xuất hiện của thơ ông đã tạo nên một giá trị thẩm mĩ riêng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Ngoại trừ những bài viết bình bàn về mảng văn xuôi của HPNT, chúng tôi xin đề cập đến những bài viết liên quan ít nhiều đến đề tài

Tháng 10/1994, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã viết bài Thơ Hoàng Phủ

Ngọc Tường một cõi tâm linh Trong bài viết, tác giả đã đi sâu vào bình diện

nội dung của tập thơ Người hái phù dung và đưa nhận định : “bao trùm tập thơ Người hái phù dung là tâm trạng của một con người “ốm nặng”, luôn luôn đối mặt với cái chết Nếu triết học cổ kim từng dụng tâm nghiên cứu về cái

chết, và nhiều cuộc tranh cãi bất phân thắng bại đã nổ ra giữa Duy tâm và

Duy vật thì Hoàng Phủ Ngọc Tường là tờ giấy thấm, thấm đẫm triết học về

cái chết từ cả hai phía Có lúc thơ anh rất thiền: “Nợ người một khối u sầu -

Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi”, có lúc lại rất biện chứng: “Màu xanh ấy

là đổi bằng máu thắm - Đâu phải màu trời của buổi Nguyên Sơ” Không phải tình cờ mà thơ anh nhiều lần chạm tới cái chết Hồi còn là sinh viên Văn

khoa, Cái chết (La Mort) đã là đề tài cho luận văn của anh Và mỗi lần chạm

tới cái chết, thơ anh buồn một nỗi buồn đứt ruột Nỗi buồn dai dẳng kéo dài suốt tập thơ như một sự cố hữu đã định trước Phải chăng, “Nỗi buồn là căn nhà ở đời của thơ” đích thực là quan niệm nghệ thuật của anh?” [38]

Ngô Minh khi tiếp cận với thơ HPNT đã ví nhà thơ như “những mạch vỉa than đá” Ông nhận xét về con người, phong cách nghệ thuật và đặc biệt dừng lại phân tích về những đặc tính trong thơ HPNT: “Trong thơ, bằng cái tôi mạnh mẽ đó, Hoàng Phủ đã đào sâu đến mạch vỉa của nỗi buồn và hư vô, làm cho những hình tượng thơ có sức bám vào tâm khảm con người.” “…tôi bao giờ cũng rất thích những vẻ đẹp huyền bí trong thơ Hoàng Phủ Đó là vẻ đẹp thần thái, từ sự ngất ngưỡng thi sĩ và tri thức uyên bác thốt lên, chứ không

Trang 8

phải là viết ra! Vậy sức mạnh của thơ Hoàng Phủ là gì ? Thứ nhất đó là sự hồn nhiên thi sĩ Hồn nhiên như trẻ thơ, vô thức như ma ám.” “Một nét riêng cần nhấn mạnh là thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường có hơi hướng, khí chất như bay lên như ở xứ đền đài miếu mạo thâm u linh thiêng nào đó, hay như từ đất vọng lên” [36] Cuối cùng Ngô Minh kết luận: “Thơ Tường là cái thốt lên chứ không phải là cái được viết ra” [36]

Trong Bài thơ hay và lạ của Hoàng Phủ Ngọc Tường đăng trên báo

Thừa Thiên Huế (5/7/2000), nhà thơ Ngô Minh một lần nữa đã phân tích cặn

kẽ vẻ đẹp, khí chất rất riêng của bài thơ Bềnh bồng cho tới mai sau và khẳng

định: “… trong nguồn thơ như từ đất vọng lên của Tường lại có một bài thơ khác lạ, bài thơ như từ trời vang xuống, đầy chứa chan, khoái cảm và trí tuệ

Ðó chính là bài thơ Bềnh bồng cho tới mai sau, bài thơ về trái tim tình yêu,

trái tim mặt trời vĩnh cửu, một bài thơ tình hay và mới” [37]

Cũng trên nguồn thơ và hồn thơ HPNT, Bùi Bích Hạnh đã khai thác những “địa chỉ buồn” của thơ HPNT Bài viết mở ra thế giới của cái tôi, của tâm linh, chất hiện sinh trong thơ ông và tác giả nhận định: “Không ngần ngại khi gọi Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà-thơ-của-cõi-vô-thường Một chút lãng đãng, một chút trầm tư, một chút phiên bản đời mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm duyên cho thế giới nghệ thuật của ông Một cái gì đó lặng lặng, buồn buồn len thấm trong ta khi đi vào thế giới thơ Hoàng Phủ” [35]

Hồ Thế Hà trong Thông điệp thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đưa ra nhận

xét khái quát về động thái thơ, nghệ thuật tổ chức, xây dựng hình ảnh, vận dụng ngôn ngữ thơ và chìa khóa giải mã ẩn số thơ của HPNT Sau khi phân tích cụ thể trong bài viết, tác giả kết luận: “Đấy là toàn bộ những ẩn số của thế giới thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường dù anh muốn thông điệp đến chúng ta

Và đó cũng là ẩn số của chính cuộc đời anh để chiến thắng nỗi buồn và thần chết để tiếp tục sáng tạo” [8]

Trang 9

Quan tâm, “yêu con người trong thơ, quý con người trong văn” của HPNT, Lê Thị Hường đã “luôn trăn trở để tìm một ý niệm chính xác” về

phong cách nghệ thuật của nhà thơ này Ở hai bài viết Thế giới cỏ dại trong

văn thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường và Xin được nói về Hoàng Phủ Ngọc Tường như một thi sĩ của thiên nhiên, Lê Thị Hường nhận định: “Cảm nhận văn thơ

anh Tường là cảm nhận tự trái tim, với cả vốn liếng văn hóa có sẵn ở mỗi người” [16] Đồng thời, tác giả đi sâu phân tích những vần thơ trữ tình triết lí

mà đầy nghệ thuật và gợi hướng giải mã thơ Hoàng Phủ: “cõi thơ của người

thi sĩ rất Huế này cũng là một vũ trụ thu nhỏ với hình ảnh đồi cỏ thơm, trời

mây khói, thiên hà, miền cỏ gai, ngàn thông, châu chấu và chim sẻ Trong thế

giới nghệ thuật đó, cỏ trở thành ẩn dụ cho triết lí vô thường” “Nếu thử tìm một chiếc chìa khóa để giải mã thế giới nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc

Tường, theo tôi, có lẽ đó là một ca từ rất đẹp của Trịnh Công Sơn “Đời ta có

khi tựa lá cỏ- ngồi hát ca rất tự do” (Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ghi lại trong

mẩu kí Hoa trái quanh tôi) Cỏ trong văn thơ Hoàng Phủ Ngọc Tương đã nối

không gian và không gian, nối cõi lòng và cõi đời, nối con người và vũ trụ, nhất thời và vĩnh hằng Nhỏ nhoi quá là cỏ, lớn lao quá cũng là cỏ Ngôn ngữ cỏ hoa Triết- lí -đời- người ”[15]

Theo một hướng tiếp cận khác, Trần Anh Phương đi vào Tình yêu dâng

hiến trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường Tác giả phân tích tỉ mĩ những biện

pháp nghệ thuật HPNT sử dụng trong thơ, đồng thời nêu lên bản chất tình yêu hiện tồn trong thơ của nhà thơ này: “… tôi nhận ra gương mặt tình yêu trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đẫm chất nhân văn cao cả, với anh tình yêu là giai điệu của bài ca dâng hiến Thơ anh không trau chuốt gọt đẽo đến cầu kỳ

mà hồn nhiên như hơi thở hay chính cuộc đời anh hoá thân làm câu chữ để thắp lên khát vọng cho sự vô biên tuyệt đích, khát vọng vĩnh cửu trong tình yêu” [22]

Trang 10

Khi cảm nhận tập thơ Người hái phù dung của HPNT, Thanh Thảo đưa

ra nhận xét độc đáo khi gọi HPNT là “người hái phù du”: “Nhưng đọc thơ Tường, tôi nghĩ anh là người hái phù du Phù du không nở không tàn, lúc có không, hiện hữu đó mà vô thường đó, mới là loài hoa mà "loài" thi sĩ hái được trong thế giới hiện đại này Nghĩ như thế thì dễ sống hơn, dù ai cũng biết đã dám tự nhận mình là nhà thơ là đã dám nhận lãnh một sứ mạng, dẫu sứ mạng

ấy cũng là phù du” [27]

Như vậy, qua các bài nghiên cứu, phê bình trên đây chúng tôi nhận thấy các tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện ra một số đặc điểm về nội dung, nghệ thuật của thơ HPNT Tuy nhiên, các bài viết chưa

đi sâu nghiên cứu có hệ thống toàn diện về thế giới nghệ thuật thơ ông Do

đó, với việc nghiên cứu Thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường trên

tinh thần kế thừa những thành quả của các tài liệu trên theo chúng tôi là điều cần thiết, phù hợp với yêu cầu của việc nghiên cứu thơ ca Thực hiện luận văn này, nếu thành công sẽ gợi mở được nhiều vấn đề về thơ HPNT, đồng thời có được cái nhìn toàn diện và chân xác giá trị thơ ông

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hai tập thơ: Người hái phù dung (1992), Nxb Hội nhà văn và Hoàng

Phủ Ngọc Tường – tuyển tập 4 (thơ) (2002), Nxb Trẻ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thế giới nghệ thuật thơ HPNT bao gồm hình tượng cái tôi trữ tình, hình tượng không gian, thời gian nghệ thuật và một số phương thức nghệ thuật như ngôn ngữ, giọng điệu, biểu tượng nghệ thuật

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp hệ thống-cấu trúc

Hệ thống lại toàn bộ thơ HPNT thành một chỉnh thể thống nhất và xem xét chỉnh thể ấy theo một cấu trúc đã được vạch định

Trang 11

4.2 Phương pháp phân tích-tổng hợp

Chúng tôi tiến hành chia, xem xét, đánh giá các hình tượng nghệ thuật đặc trưng như cái tôi trữ tình, không gian, thời gian và các phương thức nghệ thuật: ngôn ngữ, giọng điệu, biểu tượng trong quá trình khảo sát thơ HPNT

để tổng hợp lại và đi đến khái quát

4.3 Phương pháp so sánh

Tiến hành so sánh thơ HPNT trong mối tương quan với tác giả trong chiều đồng đại và lịch đại như Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ… để qua đó thấy được sự khác biệt, độc đáo làm nên giá trị thơ ông

5 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu Thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, chúng tôi

mong muốn đóng góp thêm một hướng tiếp cận, giải mã thế giới thơ ông Đồng thời với việc đi sâu khám phá đặc sắc của hình tượng thơ cùng những phương phức nghệ thuật thơ sẽ góp phần khẳng định bản sắc riêng, độc đáo của thơ HPNT Người viết cũng hi vọng rằng kết quả của luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu thơ HPNT

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận

văn gồm ba chương:

Chương 1: Thơ trong hành trình sáng tạo của Hoàng Phủ Ngọc Tường Chương 2: Hình tượng nghệ thuật trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường Chương 3: Một số phương thức nghệ thuật thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trang 12

Từ nhỏ cho đến khi học hết bậc trung học, HPNT sinh sống tại Huế Năm 1960 ông tốt nghiệp khóa I ban Việt Hán, Đại học Sư phạm Sài Gòn Trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến 1966, ông về dạy các môn Văn và Triết tại trường Quốc học Huế Đến năm 1964, HPNT nhận bằng Cử nhân triết tại Đại học Văn khoa Huế Từ những ngày còn đi học, ông đã hăng hái tham gia phong trào đấu tranh đòi hòa bình của học sinh, sinh viên, tri thức Huế Từ năm 1964-1966, HPNT tham gia vào phong trào chống Mỹ Ngụy của Phật tử Huế Và cũng trong khoảng thời gian này, ông giữ chức

Tổng thư kí tòa soạn báo Sinh viên Huế, báo Dâng và tạp chí Việt Nam,Việt

Nam

Là một trí thức yêu nước, HPNT đã từng gắn bó đời mình với cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ, anh hùng của dân tộc Năm 1966-1975, ông

Trang 13

thoát ly lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng hoạt động

văn nghệ: tiếp tục làm báo Cờ giải phóng của Thành ủy Huế

Từ năm 1968 đến 1975 , ông nắm giữ trọng trách ở các chức vụ như: Tổng thư kí Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, ủy viên Ủy ban nhân dân

cách mạng tỉnh Quảng Trị, Tổng thư kí Liên minh các lực lượng dân tộc Và

năm 1978, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam Thời gian này, HPNT vừa sáng tác vừa làm chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên,

Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt

Năm 1998, trong chuyến công tác ở Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, ông không may bị tai biến Tuy nhiên, nhờ ý chí, nghị lực và sự giúp đỡ của mọi người ông đã vượt qua bệnh tật và tiếp tục lao động, sáng tạo không ngừng nghỉ

Vượt lên trên tất cả những thăng trầm, ông luôn luôn khát khao sống để viết và cho ra đời những tác phẩm hay Trong sự nghiệp cầm bút, ông đã đạt được những giải thưởng có giá trị: Giải thưởng văn xuôi của Hội nhà văn Việt

Nam trao cho tập bút kí Rất nhiều ánh lửa (1980); giải thưởng văn học của

Ủy ban liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam trao cho tập bút kí

Ngọn núi ảo ảnh (2000); giải thưởng văn xuôi của Hội nhà văn Việt Nam trao

cho tập nhàn đàm Miền gái đẹp (2002)

Ông là một trong những nhà văn đã tạo nên dấu ấn riêng với phong cách sáng tạo độc đáo Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch

sử, địa lí Tất cả được thể hiện qua ngòi bút hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa Có thể nói, con người đầy trách nhiệm với đời của HPNT trên hành trình sáng tạo của ông đã chứng tỏ được bề dày kinh nghiệm của người cầm bút

Trang 14

Là một người có bản lĩnh, với vốn hiểu biết sâu rộng về nhiều mặt, HPNT đã cung cấp cho bạn đọc một lượng tri thức lớn Các tri thức ấy đã được ông vận dụng linh hoạt để đi vào khám phá những vấn đề của cuộc sống, chiêm nghiệm giá trị cuộc đời Nhắc đến HPNT là nhắc đến tấm gương của một con người luôn nỗ lực hết mình trong những trang viết và dành trọn cuộc đời cho ý nghĩa chân thật và trọn vẹn của chữ “Tâm” Với phong thái nghiêm túc, đôi mắt nhìn đời thấu sáng cũng như tâm hồn yêu đời “đắm say đến độ mê mải”, mỗi trang viết của HPNT sẽ là những suy tư, trăn trở của chính con người ông trước nhân tình thế thái, một con người mà cái tâm luôn ngời sáng và “thắm đỏ”

Trong suốt cuộc đời HPNT, quê hương, gia đình và đặc điểm con người nhà thơ đã ảnh hưởng rất lớn đến những sáng tác của của ông Quê gốc ở Quảng Trị nhưng HPNT được sinh ra và lớn lên ở Huế - một miền non nước đẹp và thơ Tại đây, nhà thơ đã sống, học tập và công tác, phần lớn cuộc đời với những buồn vui của ông đã trải qua ở miền đất này Bởi vậy, qua thơ của ông, ta luôn thấy phảng phất bóng dáng của thành phố Huế mộng mơ Bên cạnh đó, Huế cũng là cái nôi trong những năm kháng chiến sục sôi, là nơi tâm hồn nhà thơ luôn hướng về với một nỗi niềm thiết tha tình yêu quê hương, sự

lo âu cho số phận của quê nhà

Gia đình cũng là một nhân tố quan trọng của cuộc đời của HPNT Đặc biệt là người bạn đời gắn bó với ông: nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Chính điều ấy

đã tạo nên sợi dây vô hình gắn kết tâm hồn HPNT với thơ Bà Mỹ Dạ vừa là

vợ lại vừa là một người bạn tri kỉ, luôn bên cạnh và sẻ chia với ông trong suốt hành trình đến với thơ, là nơi để lắng nghe ông, để ông có thể bộc bạch, thủ thỉ, tâm tình Những tâm hồn đồng điệu cùng sáng tạo những vần thơ

Cuộc đời HPNT ghi dấu tên tuổi của một nhà giáo Triết học, một nhà văn lớn thành công về thể kí và cả một nhà thơ Dù rất thành công với văn

Trang 15

xuôi nhưng bản thân HPNT vẫn mong muốn được trở thành nhà thơ, một nhà thơ đích thực Với nhà thơ, đời không chỉ có văn mà còn là đời thơ nữa Chính cái duyên thơ đã len lỏi, bén rễ trong tâm hồn ông như huyết mạch nuôi dưỡng hồn thơ ngày càng lớn, đam mê và sâu sắc hơn Có kiến thức uyên bác,

có nền tảng văn hóa và trưởng thành cùng với những trải nghiệm cuộc sống dường như khiến cho bút lực HPNT có phần dồi dào Vì lẽ đó mà thơ của ông đầy những sắc thái độc đáo lấp ló trong từng câu chữ

Thơ HPNT viết nhiều về những gì xảy ra xung quanh ông, về những sự việc, sự kiện của cuộc sống Nhưng trong mỗi vần thơ luôn chứa đựng sự day dứt và sâu lắng Quê hương, đất nước đi vào những trang thơ cũng đã trở thành một phần máu thịt trong ông Bên cạnh đó, thiên nhiên xuất hiện trong thơ HPNT dường như là “một niềm ân huệ” Tất cả những rung cảm sâu sắc của tâm hồn hiện lên một cách trọn vẹn dưới bút thơ ông “vừa lặng lẽ”, “vừa lay động”, thực hư - hư thực đã làm nên một cốt cách rất riêng của nhà thơ

Là người đam mê viết, ông đến với thơ như một duyên hạnh ngộ, như cây rễ bám sâu vào vách đá tìm những giọt nước nguồn, bền bỉ vươn xanh.Quả là tinh chất của tâm hồn, được chắt chiu cả một đời, gửi gắm vào thơ Theo dòng thời gian, thơ là sự phản ánh tâm tư của HPNT về mọi khía cạnh của cuộc đời mà ông từng trải nghiệm Số phận không chỉ ưu ái cho ông với

sự thành công vang dội của thể kí mà còn dành cả một duyên tình khi cho ông đến với thơ Với HPNT, thơ cho ông sự an ủi, cho ông nhận biết ý nghĩa sự tồn tại của mỗi cá nhân và của riêng bản thân ông trong đời sống này Chính

vì vậy, “nếu những trang bút kí làm sang trọng đời văn Hoàng Phủ Ngọc Tường thì thế giới nghệ thuật thơ là duyên phận đời ông” [35]

Như vậy, cuộc đời và con người của HPNT là một minh chứng cụ thể cho thái độ sống đầy trách nhiệm với đời, một quan điểm sống tích cực Bằng

sự hiểu biết rộng và sâu về mọi lĩnh vực cộng với tình cảm chân thành của

Trang 16

mình trong mỗi trang viết, ông đã gieo vào tâm hồn bạn đọc những hạt giống của nhân cách, của giá trị nhân bản cao đẹp Dù trải qua nhiều thăng trầm nhưng ông vẫn giữ trọn nhân cách của người cầm bút, không ngừng sáng tạo

để cống hiến cho đời “Những trang viết của HPNT, dù là văn xuôi hay thơ đều là “những trang đời chắt lọc” Vì vậy, tìm hiểu thế giới thơ ông cũng là con đường để thấu thị thêm một cái tôi đa dạng trong thể loại nhưng thống nhất trong tư tưởng

1.1.2 Hành trình sáng tạo nghệ thuật

Hành trình sáng tạo nghệ thuật của HPNT là một chuỗi nối kết của sự

nghiệp văn xuôi và thơ Tên tuổi của ông có thể tính từ khi tập bút kí có tên

Ngôi sao trên đỉnh Phu Vân Lâu được xuất bản năm 1972 Trong gần bốn

mươi năm bền bỉ với đời văn, đời người, HPNT đã lưu được danh thơm của mình trên văn đàn hiện đại như một trong số những nhà viết kí nổi tiếng Bằng ý thức, trách nhiệm của một nhà văn trong mong muốn làm giàu có thêm đời sống thể loại văn học, ông đã dành trọn sự nghiệp văn xuôi của mình cho thể loại kí Ở đây, với đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào hành trình sáng tạo nghệ thuật thơ của HPNT

Trước khi đến với thơ, ông viết văn, làm báo trong những ngày còn đi học rồi sau đó chọn bút kí là mảnh đất để phát huy tài năng của mình Song chính cái tạng người thích ngẫm suy, trầm tư, luôn khao khát một thế giới mà cái tôi bản thể tìm về được với chính mình đã khiến HPNT tìm đến thơ như một tất yếu để phơi trải lòng mình Con đường đến với thơ của HPNT cũng là quá trình in dấu rõ rệt tâm hồn, tư tưởng, phong cách sáng tác của ông ở từng gia đoạn khác nhau của lịch sử

Với HPNT, thơ là một lối rẽ, một duyên nợ của người cầm bút Hành trình sáng tạo thơ của ông được gói gọn trong hai chặng đường cụ thể với những cảm hứng độc đáo riêng của mỗi chặng Ở đây, chúng tôi chọn cách

Trang 17

chia những chặng đường thơ của nhà thơ theo đặc trưng cảm hứng trong mỗi chặng thơ để thấy rõ mạch vận động cũng như sự chuyển hướng tư tưởng trong sáng tác của ông

Mang trong mình trái tim đầy tâm huyết với nghề, chất nghệ sĩ đa tài của HPNT đã phát tiết trên nhiều thể loại, trong đó có thơ Năm 1976, ông

xuất bản tập thơ đầu tay Những dấu chân qua thành phố Có thể nói, đây là

cột mốc quan trọng đánh dấu sự bén duyên của nhà văn với thơ ca Tập thơ

này thể hiện rõ nét cảm hứng về đất nước - con người…

Trong thời gian thoát ly lên chiến khu tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng hoạt động văn nghệ, HPNT đã cảm nhận rất rõ và sâu sắc

hoàn cảnh nước nhà, quê hương trong khói lửa chiến tranh Những dấu chân

qua thành phố là tập thơ chứa đựng cảm hứng của ông về đất nước - con

người, đặc biệt là tình cảm dành cho quê nhà Đất-núi-thành phố là những hình ảnh chủ đạo, xuyên suốt của tập thơ Có thể nói, đây là tập thơ của những trang thơ chứa chan nhiệt huyết của một thầy giáo trẻ, từ giã giảng đường để khoác lên mình màu áo lính, bước vào cuộc kháng chiến với lời tạ

từ giản dị mà chân thành

Ký ức của những năm tháng hành quân nơi núi rừng, những con đường trải dài gắn liền với tình yêu và nỗi nhớ đã đi vào thơ HPNT một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà chứa chan xúc cảm… Những bài thơ trong tập này được soi chiếu bằng đôi mắt của người lính hành quân ra trận với biết bao cung bậc cảm xúc đối với đất nước, quê hương Dưới con mắt của một người trực tiếp tham gia kháng chiến, cảm nhận nỗi đau thương, những vần thơ hiện lên chân thực và rung động Hình ảnh thành phố, mẹ, chị, em…rồi cả họ-những con người không tên lần lượt xuất hiện trong các bài thơ phải chăng cũng chính nỗi niềm, tiếng lòng của HPNT?

Trang 18

Tập thơ còn là những bài ngợi ca tấm gương anh dũng của những con

người đã hiến dâng đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc như: Bàn tay trên

trán, Chim và hoa trên đất em nằm, Cánh tay mọc lại…

Như vậy, ông mở đầu con đường thơ của mình bằng cảm hứng đất

nước - con người xuyên suốt tập Những dấu chân qua thành phố Trái tim

nặng tình, nặng lòng với quê hương, xứ sở cùng với bút thơ đã chắp cánh cho hồn thơ HPNT viết nên những vần thơ chan chứa tình đời, tình người:

“ Đất-Núi-Thành phố ơi Muôn năm tình lớn rộng

Vì Người, tôi dâng đời

Vì Người, tôi cầm súng”

(Đất-núi-thành phố)

Với tập thơ đầu tay này, nhà thơ đã góp vào thơ kháng chiến lúc bấy giờ một hồn thơ đầy nhiệt huyết, một giọng thơ chân thành để lại nhiều xúc cảm nơi bạn đọc

Chặng đường thơ đầu tiên bắt đầu từ năm 1976 nhưng mãi đến năm

1992, HPNT mới xuất bản tập thơ thứ hai Người hái phù dung ra đời là một

sự chuyển hướng sáng tác của ông Từ cảm hứng về đất nước-con người trong chặng đường thơ trước, ông đã chuyển sang cảm hứng về thân phận-vũ trụ

Khác với Những dấu chân qua thành phố, Người hái phù dung là tập

thơ của nỗi buồn Hầu hết các bài đều viết về nỗi buồn Bao trùm tập thơ là tâm trạng của một con người “luôn đối mặt với cái chết” Những hình ảnh hoa

cỏ được nhà thơ nhắc đến khá nhiều đã được nâng lên thành biểu tượng nghệ thuật có sức “ám ảnh” Bằng vốn tư duy thấm đẫm triết học, HPNT đã phả hồn vào thơ những vấn đề mang tính “hiện sinh” Thân phận-tình yêu; cái chết-sự sống; thời gian; vô thường… Tất cả làm nên một màu sắc khác lạ của

Trang 19

tập thơ, một nỗi buồn cứ như kéo ra miên man, không dứt Nỗi buồn lắng đọng và thấm đượm vẻ đẹp của sự tinh tế

Người hái phù dung đã cho thấy sự chuyển hướng rõ rệt trong phong

cách thơ của HPNT Ở chặng thơ này, nhà thơ chạm sâu vào những vấn đề mang tính bản chất, để mình đắm chìm trong cõi giới sáng tạo riêng – sự lắng đọng của tâm hồn Đó là những khoảnh khắc thăng hoa tinh diệu khi ông chọn

“sống trong bóng tối, hít thở bóng tối, và biết nghe trong bóng tối những tiếng

mơ hồ” [34;182] Qua tập thơ này, cũng như ở chính nhan đề tập thơ ông đã đặt, HPNT chứng tỏ ông là người hiểu rất rõ “bản chất phù hư của thế giới” Những cánh hoa phù dung không chỉ là cảm hứng sáng tạo mà đã trở thành nỗi “ám ảnh”, ấn vào trí nhớ nhà thơ như những vết sẹo, như một mối duyên

nợ của ông với hoa và với thơ:

“Thôi em cảm tạ chờ mong Ngày anh đi hái phù dung chưa về…”

(Đêm qua)

Đến tập Người hái phù dung, thơ HPNT đã đạt đến độ chín mùi và

thăng hoa Những vần thơ càng ngày càng lắng sâu vào nội tâm con người với

sự chiêm nghiệm, suy tư về cuộc đời

Có thể nói, hành trình sáng tạo thơ của HPNT tuy chỉ gói gọn trong hai chặng đường với hai tập thơ tiêu biểu, song ở mỗi chặng đường thơ ông cũng

đã để lại những dấu ấn khá rõ nét Thơ ông thiên về chất trữ tình truyền thống

và nổi bật ở sự quyện hòa tính nhạc, tính họa Đặc biệt, ở chặng thứ hai với

tập Người hái phù dung, HPNT khiến độc giả không chỉ nhớ đến ông là một

nhà văn mà còn yêu mến ông với vị thế chính thức của nhà thơ - “một thi nhân khác kiểu”

Trang 20

1.2 THƠ TRONG QUAN NIỆM SÁNG TẠO CỦA HPNT

1.2.1 Cảm hứng thơ-mạch nguồn của sáng tạo nghệ thuật

HPNT là nhà văn chuyên về kí nhưng rất mê thơ Thơ đến với ông chỉ

là “duyên” nhưng mỗi vần thơ ông viết đều chất chứa những cảm xúc mãnh liệt trong sâu thẳm tâm hồn Với ông, thơ cũng chính là sự trăn trở lớn nhất của cuộc đời người thi sĩ Vì thế, khi làm thơ HPNT cũng có những quan

niệm nghệ thuật rất riêng

Người xưa từ nhiều góc độ khác nhau đã cảm nhận khá đầy đủ và sâu sắc đặc tính của cảm hứng thơ Dấu hiệu trước tiên của cảm hứng thơ là cảm xúc mãnh liệt, dào dạt hơn bình thường Người cầm bút không thể dửng dưng trước những gì đang diễn ra xung quanh mà cất bút viết nên những dòng thơ theo mạch cảm xúc Các sách bàn về nghệ thuật làm thơ đều nhấn mạnh đến cảm hứng, coi đó là trạng thái tâm lý cơ bản, có vai trò then chốt và bao trùm trong quá trình cấu tứ cũng như xây dựng hình tượng ngôn từ Đối với người làm thơ, ai ai cũng đều hiểu cảm hứng là nhu cầu bộc lộ tình cảm kết hợp với năng lực tưởng tượng, liên tưởng khác thường cộng hưởng với những điều kiện thuận lợi khác để sản sinh ra được một áng thơ hay Vây, xét về bản chất thì chính cảm hứng đã thôi thúc mãnh liệt khiến nhà thơ buộc phải viết ra những điều đang nung nấu cháy bỏng trong lòng:

“Trong khi hứng động vừa đêm tuyết Ngâm được câu thần dặng dặng ca”

(Ngôn chí – 3, Nguyễn Trãi)

Cảm hứng vốn là một trạng thái tâm lí đặc biệt, khi đó sức chú ý được tập trung cao độ kết hợp với cảm xúc mãnh liệt sẽ tạo điều kiện cho óc tưởng tượng và năng lực sáng tạo một cách hiệu quả nhất Trong quá trình sáng tác,

để cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật chân chính, lẽ tất nhiên các nghệ thuật gia phải trải qua giai đoạn của trạng thái cảm hứng Thi sĩ cũng không

Trang 21

ngoại lệ Một tác phẩm thơ được sáng tác mà nhà thơ không có cảm hứng thì không đáng nói đến, vì chất nghệ thuật chẳng có là bao Chính vì vậy, cảm hứng là khâu quan trọng trong quá trình sáng tác nghệ thuật nói chung cũng

như thơ ca nói riêng Ta có thể nhận thấy rõ điều này trong Sang thu của Hữu

Thỉnh: “Bỗng nhận ra hương ổi/ Phả vào trong gió se” còn “Sương chùng chình qua ngõ”, thế là có cảm giác “Hình như thu đã về” Cảm hứng thu được huy động từ các giác quan: Khứu giác (hương ổi), xúc giác (gió se), thị giác (sương chùng chình) Hai chữ “hình như” rất tinh tế, như là một cảm nhận bất ngờ, như là nói với lòng mình “Hình như” thì cũng có thể là thật, cũng có thể

là hư Mơ màng Đến hình ảnh cũng mơ màng, hư thực: “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu” Cái hay của bài thơ chính là ở cảm hứng về mùa thu được biểu hiện qua những tâm trạng, hình ảnh đi giữa hai bờ hư thực này… Như vậy, cái quyết định thơ hay thơ dở vẫn là cảm hứng Cảm hứng quán xuyến, chi phối cấu tứ, hình tượng thơ, mở lối cho sự sáng tạo trong thơ Cảm hứng chân thành, say mê may ra mới có thơ đạt được độ chín Cảm hứng giả, say mê giả sẽ chỉ có những câu thơ giả, sống sượng

Theo quan niệm của HPNT thơ là phải bắt nguồn từ cảm hứng và cảm hứng sẽ là mảnh đất cho sự thăng hoa Với ông, cảm hứng thơ, tự nó đã mang nhiều tính thần bí, nó bắt nguồn từ đâu và sẽ đi về đâu chúng ta không thể giải thích được, chỉ có thể dùng một số từ ngữ để miêu tả trạng thái của nó, đó là đột nhiên tỉnh ngộ, thi tứ tuôn ra, cây bút như có thần…Thực tế thì cảm hứng thơ có tính chất bí ẩn, diệu kì, đặc điểm lớn nhất của nó là không hẹn mà đến, hay đến không sao đoán trước được, cũng không sao cản lại được Cho nên, ông làm thơ xuất phát từ chính cảm hứng nội tại của cái “tâm” và viết như một lẽ tự nhiên Tất cả những rung động của trái tim nghệ sĩ tài hoa, những suy tư trăn trở về con người, cuộc đời, lẽ sống chết dường như đã thổi nguồn cảm hứng trong ông, tạo nên những vần thơ “thăng hoa” Với nhà thơ, thơ là

Trang 22

sự bộc bạch trước hết với bản thân và cảm hứng thơ chính là chất xúc tác để ông sáng tạo

HPNT cũng cho rằng cảm hứng thơ sẽ là yếu tố quan trọng trong quá trình sáng tác của mỗi nhà thơ Bởi với tính chất thần bí, cảm hứng thơ sẽ đến một cách đột nhiên, trước những cái bình thường chưa nắm bắt được lại bất ngờ “thấu thị” và sự vật được chiếm lĩnh sâu sắc, tinh tế, toàn diện Cộng hưởng với những rung cảm tinh tế của trực giác thi sĩ, cảm hứng sẽ mở đường cho những sáng tạo thẩm mỹ trong thơ Cảm hứng thơ được nảy sinh trong ý thức và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên tâm hồn của thi sĩ làm nảy sinh những tình cảm chân thành Cảm hứng thơ vừa là cuộc hành trình nhọc nhằn, vừa là sự nghỉ ngơi thư thái trong tâm hồn nhà thơ, khơi dậy sự sáng tạo bằng niềm say mê, bằng tất cả niềm hứng khởi Chính vì thế, nó sẽ nâng giấc tâm hồn thi sĩ với những khát khao được chinh phục, khám phá những ngọn nguồn sâu kín để từ đó giãy bày qua những vần thơ, con chữ

Nói cách khác, HPNT ý thức rõ tầm quan trọng của cảm hứng thơ Ông cũng ví một cách rất độc đáo rằng thơ có cảm hứng sẽ là “ngón tay lượm được cả trời” Theo ông, cảm hứng thơ không chỉ cần thiết mà còn đóng vai trò quan trọng đối với việc sáng tác thơ Cảm hứng sẽ là nhân tố gieo vào mỗi người những rung cảm để sáng tạo nghệ thuật, để có thể viết nên những vần thơ đích thực:

“Tôi còn ngọn nến hao gầy Chảy như nước mắt từ ngày sơ sinh Tôi xin em chút lòng thành Cài lên một phiến u tình làm hoa”

(Địa chỉ buồn)

Trang 23

Cảm hứng thơ đưa người làm thơ đến với thơ và những rung động thật

sự Có cảm hứng, thơ sẽ có hồn cốt, từ đó làm nên sức sống của tác phẩm Và khi cảm hứng chân thực được xuất phát từ những trực cảm sâu lắng nơi trái tim thi sĩ sẽ mở ra được con đường đến với sự sáng tạo nghệ thuật

Hiểu và nhận thức rõ được tầm quan trọng của cảm hứng thơ, HPNT càng nuôi khát vọng và không ngừng phấn đấu trong bút lực để thơ thực sự là điểm tựa của tâm hồn, của con người, là nơi chắt chiu tiếng lòng, bộc lộ cảm xúc:

“Vẽ tôi một nữa mặt người Nửa kia mê muội của thời hoang sơ

Vẽ tôi nghe tiếng mơ hồ Bàn tay em vỗ bên bờ hư không

Vẽ tôi một đóa bông hồng Tàn phai từ bữa em cầm trên tay

Vẽ tôi một nét môi cười Một dòng nước mắt, một đời phù du”

(Vẽ tôi)

1.2.2 Thơ là sự trở về “căn - nhà - ở - đời” của nó

Theo quan niệm mĩ học thì nỗi buồn là “cái đẹp trong sự đổ vỡ” của nó Thơ chính là cái đẹp nhưng khi trong thơ không ẩn chứa nỗi buồn thì cũng

có nghĩa nó đã đánh mất cái “bùa duyên” quyến rũ nội tại Do vậy, cái đẹp được bảo tồn trong nỗi buồn, nỗi buồn là hiện thân của cái đẹp Nỗi buồn nâng cao tâm hồn con người Nỗi buồn ở đây không phải là biểu hiện của sự yếu đuối, ủy mị, mà trái lại chính là sức mạnh của nhân tính, sức mạnh của cái đẹp Thấu hiểu vẻ đẹp toàn triệt ấy của nỗi buồn nên HPNT luôn gắn thơ với nỗi buồn như một quan niệm riêng của bản thân trên con đường đi vào những chân trời thơ

Trang 24

Với HPNT, thơ được tạo ra từ nỗi buồn Thơ ông được khai sinh từ chính khối cảm xúc buồn của bản thân mình Ở đó, cái tôi của HPNT được sống đúng với những rung cảm sâu lắng của bản thể Và thơ ra đời trên chất liệu chủ đạo là nỗi buồn Ông cho rằng, hành trình đến với thơ không chỉ là một hành trình được vun vén bởi những cảm hứng mà còn là sự trở về đúng nghĩa bản chất thơ Cổ nhân có câu: “Thơ chính là viết về cái đau, cái thốn, cái cảm của con người trước hoàn cảnh” Vì vậy, bản chất của thơ cũng đã hàm chứa nỗi buồn Hiểu đúng bản chất của nỗi buồn trong thơ, ta sẽ nhận thấy hình như cái buồn, cái đau thương lại là nét đẹp thanh cao và trong sạch

Xuất phát từ quan niệm ấy, nỗi buồn trở thành thi liệu để HPNT sáng

tạo và thơ là nơi để ông diễn tả nỗi buồn Không phải ngẫu nhiên mà ông

được mệnh danh là “nhà thơ của nỗi buồn” Bởi lẽ, vẻ đẹp của nỗi buồn không chỉ là nội hàm thơ ông phản ánh, mà nó còn là ánh quang toát ra từ tinh thần, từ quan niệm và góc nhìn căn bản của thơ ông Trong nỗi đau, nó vẫn toát lên vẻ điềm tĩnh, vẻ đẹp ở miền tinh thần còn vương víu Điều đó minh chứng cho quan niệm nghệ thuật đã được thẩm thấu, nghiệm sinh của nhà thơ với toàn bộ mọi khía cạnh mà ông cảm nhận, phản ánh sau những nếm trải và thức ngộ Nhưng HPNT không chú tâm nhiều về câu chữ, không chạy theo những cái "mốt" của hình thức thơ, không phụ thuộc thơ truyền thống hay hiện đại, mà dùng thơ để diễn tả vẻ đẹp toàn triệt của nỗi buồn, cốt sao mỗi bài thơ là mảnh đất bay lên của lời ca, sự chiu chắt của tình yêu thương, dù là trong nỗi cô đơn, trống vắng đến hoang lạnh của ông về nỗi niềm thân phận Mối quan tâm đau đáu, thường trực trong thơ ông vẫn là con người và cuộc đời Vì thế, ngay cả ở những câu thơ, những bài thơ buồn nhất, vẫn vọng lên

từ trong sâu thẳm của nó tiếng thì thầm, vẫn thấy toát lên ở đó vẻ đẹp của nỗi buồn

Trang 25

Mục đích cuối cùng của nhà thơ luôn hướng tới là vẻ đẹp và HPNT cũng không ngoại lệ Song, ông đã vượt thoát ra những cái đẹp vốn dĩ hiện hữu bình thường mà tìm đến cái đẹp tiềm ẩn trong nỗi buồn để được sống với nỗi buồn:

“Trên kỉ niệm giận hờn

Có ngôi sao chiều tím

Là môi em cuối xuống Trên mình anh, vết thương”

(Bài ca sao)

Trong trạng thái chống chếnh tỉnh thức đó, HPNT đã hái được những câu thơ đẹp từ nỗi buồn Khi sống đúng với nỗi buồn, cảm và hiểu bản chất của nó, người nghệ sĩ sẽ biết tự chủ để quay trở về bản thể của ngọn lửa tâm hồn âm thầm cháy trong mạch tư duy của mình Tỉnh táo và sâu lắng, nỗi buồn mang ý nghĩa thật mông lung, không cùng

Với một cách nhìn khác, thơ với HPNT cần phải “trở về căn nhà ở đời là nỗi buồn” Nỗi buồn được nhìn nhận một cách sâu sắc và nâng lên thành triết lí Đó chính là vẻ đẹp của những nỗi đau và khát vọng đời thường Buồn cũng như một thực thể gắn với con người, với cuộc đời Chính trong nỗi buồn, con người ta mới thật sự chiêm nghiệm được đủ đầy những giá trị cuộc sống Nhờ có nỗi buồn mà “con người ta khát sống tốt đẹp hơn” Do đó, thơ một khi trở về đúng với “căn nhà” của nó sẽ đánh thức ở người đọc sự đồng cảm, trăn trở, sự suy tư của những trải nghiệm Những câu thơ quay về đúng

Bằng chất thơ là nỗi buồn HPNT đã bộc lộ quan điểm của ông về thơ Buồn vẫn là căn nhà mà thi sĩ trú ngụ Bản thân nhà thơ làm thơ khi cô đơn cùng cực Nỗi buồn là một ám ảnh đôi khi như định mệnh Ông có khá nhiều bài thơ đào sâu hiện thực tâm trạng, thể hiện nỗi buồn ở nhiều dáng vẻ khác

Trang 26

nhau Bước vào thế giới thơ HPNT, ta bắt gặp những nỗi buồn mang đậm màu sắc triết học, nỗi buồn làm nên chất thơ và thành ngôi nhà tâm hồn, chốn trở về nương náu của hồn thơ ông Nỗi buồn trong thơ HPNT là nỗi buồn nhiều hương sắc, có khi đó là những “tình sử buồn” trong tình yêu, những thương nhớ đầy ấp trong tâm hồn con người thơ vốn đa cảm ấy, có khi lại là nỗi buồn nhuốm màu thân phận… Nhưng cho dù ở phương diện nào đi chăng nữa, nỗi buồn vẫn là nơi trở về của hồn thơ ông, ngôi nhà ở đời ấy là nơi nuôi dưỡng rung cảm của trái tim, dệt sự rung cảm thành những vần thơ qua những dòng chữ dạt dào Bởi vậy, ông càng nhận ra rằng, chỉ có về đúng “căn nhà” của nó là nỗi buồn thì thơ mới đích thực là thơ Một quan niệm rất riêng nhưng không kém phần sâu sắc và tinh tế của HPNT: “Mỗi người chỉ thực sự

là chính mình trong căn nhà của nó Thơ cũng vậy, Thơ cần trở về đời của nó là nỗi buồn Một quyền của thi sĩ là quyền được buồn.”[34; 6]

căn-nhà-ở-Như vậy, nhà thơ giữ lại cho riêng mình nỗi buồn như một lẽ đương nhiên Cảm xúc ăm ắp của thơ sẽ được giữ nhịp trong căn nhà thật sự của nó

“căn nhà nỗi buồn”:

“Nhà tôi ở phố Đạm Tiên Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu

Có mùi hương cỏ đêm sâu

Có loài hoa biết nuôi sầu tháng năm”

(Địa chỉ buồn)

Căn nhà sẽ là nơi ấp ôm, che chở cho con người, và nỗi buồn sẽ là căn nhà ở đời của thơ, nuôi dưỡng để hồn thơ sáng tạo nên những giá trị đích thực Và trong căn nhà ấy, HPNT thực thi tuyên ngôn của mình: ông làm Thơ không chỉ với những gì quí hiếm cần có trong Văn mà còn hơn thế nữa - với những nỗi buồn của tâm sự và thế sự kết nối với nhau trong nghệ thuật

Trang 27

Qua những nét đặc trưng trong chặng đường sáng tạo thơ của HPNT, đặc điểm con người cũng như quan niệm nghệ thuật về thơ của ông có thể thấy đây là một thi sĩ có tâm huyết, tận hiến hết mình vì nghệ thuật Bên cạnh

đó, tìm hiểu những vấn đề cơ bản về thơ trong suốt hành trình sáng tạo không ngừng nghỉ của nhà thơ sẽ là điều kiện hình thành thế giới nghệ thuật thơ HPNT

Trang 28

CHƯƠNG 2

HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

2.1 HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH

2.1.1 Cái tôi chiêm nghiệm về thân phận con người

Thơ vốn dĩ là nơi để con người bộc bạch những rung động của cảm xúc, những trải nghiệm cuộc sống và thể hiện thế giới quan của mình Nếu với Hêghen “Thơ bắt đầu từ cái ngày con người cảm thấy cần sự bộc lộ mình của mình” thì với HPNT, những trang thơ như mở ra thế giới một cái tôi hướng nội, khắc khoải đầy suy nghiệm ở cõi trần gian Cái tôi thân phận nhuốm màu của nỗi buồn, trầm lặng mà đầy triết lí

HPNT đã trải qua khói đạn chiến tranh Những trải nghiệm nơi chiến trường ác liệt đã giúp ông thức nhận cái mong manh của sự sống Hơn thế nữa, HPNT còn là một thầy giáo dạy Triết, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Triết học hiện sinh, cho nên, trong ông luôn hiện diện nỗi ám ảnh sống-chết và

“tiềm thức thân phận mong manh”:

“Một nghìn năm sẽ qua nhanh Ngõ xưa phố cũ cũng thành bóng rêu”

(Ngàn năm tóc bay)

Vấn đề thân phận con người không phải là tâm trạng của riêng ai Sống chết là quy luật muôn đời, là định mệnh tiền kiếp của con người Vấn đề là quan tâm nhiều hay ít và bộc lộ sự ám ảnh về sống chết dưới hình thức nào Ở nhiều góc độ khác nhau, qua tác phẩm nghệ thuật các thi sĩ đã thăng hoa và giải thoát cho những dự cảm và triết lý của họ về cái chết Nếu với Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ… cái chết là những dự cảm bắt nguồn từ thực tế ác liệt của chiến tranh trần trụi, của bom đạn, khói lửa, là cái chết của đồng loại,

và là những nỗi buồn mang tính cá nhân, những tác động của đời sống bản thân, thì với HPNT từ sâu trong bản ngã, nỗi ám ảnh ấy đã vây lấy cái tôi nhà

Trang 29

thơ, thể hiện rõ sự ảnh hưởng của Phật giáo và chủ nghĩa hiện sinh Mỗi vần thơ như một lời tự vấn từ đáy lòng:

“Dẫu đi hết cuộc đời Nơi này tôi gửi bóng Gửi cả tiếng khóc cười Của đời tôi vang vọng”

(Nơi tôi gửi bóng)

HPNT sinh trưởng và lớn lên ở Huế, mảnh đất của văn hóa Phật Giáo

và nhà thơ đã từng tham gia vào phong trào chống Mỹ Ngụy với Phật tử Huế Thế nên, tâm hồn nhà thơ cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng của đạo Phật Vì vậy, tiềm thức thân phận mong manh với những nghĩ suy lật trở về

sự sống, cái chết đi vào thơ HPNT một cách hiển nhiên Thấm nhuần tư tưởng Phật Giáo, nhà thơ luôn trăn trở về kiếp người Cộng với trực cảm của con người hiện sinh tồn tại trong ông đã hình thành cái tôi thân phận với những

ám ảnh mơ hồ:

“Rồi sẽ một ngày tóc trắng Nhưng lòng anh vẫn khôn nguôi Thời gian sao mà xuẩn ngốc Mới thôi đã một đời người”

(Dù năm dù tháng)

Cái hư vô, lo âu, trăn trở không ngừng của nhà thơ chính là dấu ấn rõ nét của triết học hiện sinh Một đời người tựa một chớp mắt, khi vòng xoay thời gian không dừng lại để chờ đợi bất cứ ai, khi những dự cảm chia xa cứ vây lấy nhà thơ trong nỗi lo sợ cuộc đời kia sẽ vội vàng khép lại thì hiển hiện trong vô thức là hình ảnh loài chim nhỏ, bé bỏng giữa đất trời:

“Con chim sơn ca ngày thơ bé

Nó bay về hót mãi không thôi”

(Sinh nhật)

Trang 30

Trần gian hóa ra cũng chỉ là cõi tạm bợ diệu thường để nhà thơ gửi lại

“chút hương cho gió” Nếu Trịnh Công Sơn, người bạn thân của nhà thơ đã khẳng định thân phận bằng nhạc thì có thể nói, với riêng HPNT, ông đã

“khẳng định thân phận bằng thơ” Nhà thơ ý thức được toàn cõi nhân sinh của một thân phận Với ông, con người tồn tại trong trần gian này là phận phù du, nổi trôi bọt bèo:

“Cánh phù du bay hoài không nghỉ Chút thời gian lay động ở trên cao Bụi phù du kết thành tinh thể Người trần gian mê mải nhìn sao”

(Tình sử Hy Lạp)

Con người vốn dĩ cũng chỉ như người lữ khách trong một cõi của riêng mình Có lẽ, ở một góc nào đấy trong thẳm sâu tâm hồn, ông đã gặp được mình như trong thơ haiku của Basho:

“Một lữ khách Xin gọi tên tôi là thế Cơn mưa mùa thu này”

Trước cuộc đời, nhà thơ cũng chỉ xin là một lữ khách của hành trình hữu hạn thân phận Người thi sĩ ý thức rõ nét về thân phận của mình trong đời

và đối diện với tình yêu vô cùng kia Đối thoại với chính mình, đối thoại với thân phận và đối thoại với thơ, HPNT đã bước trong một hành trình trở về thân phận cùng thơ:

“Dù năm dù tháng em ơi Tim anh chỉ đập một đời Nhưng trái tim mang vĩnh cửu Trong từng hạt máu đỏ tươi”

(Dù năm dù tháng)

Trang 31

Nỗi ám ảnh phù du, ám ảnh tàn phai ma mị đã ăn sâu, bám rễ không chỉ trong tiềm thức mà cả trong kinh nghiệm sống của nhà thơ Ông đã triển khai

tứ thơ bằng sự liên tưởng độc đáo từ sâu trong tiềm thức thành “mệnh đề triết học đầy sức ám ảnh về sự “xuẩn ngốc” của thời gian sống một đời người” [34,196] Trong vô thức, nhà thơ như “nghe thấy được tiếng nói của mình từ thế giới bên kia vọng lại, và thế là hai thế giới âm dương cùng hòa quyện vào nhau” [34,187] Phải chăng cũng vì thế mà ông mang tâm trạng tiếc nuối vời vợi, thấu hiểu sự mong manh của thân phận trước cõi đời:

“Mai kia rồi cũng xa người Tôi về ngủ dưới khung trời mộng mơ

Có nàng tóc xõa tiên nga Quỳ hôn cát bụi khóc òa như mưa”

(Địa chỉ buồn)

Khoảnh khắc nhà thơ lắng nghe tiếng gọi mơ hồ như mở ra một địa giới của cõi mơ, hay nói đúng hơn nó phảng phất dư vị “cõi âm” Cái tôi như băng qua ranh giới của hai thế giới thực và ảo, “đi mê trong thế giới tâm linh”

Những bài thơ viết về thân phận con người của HPNT là nỗi ám ảnh tàn phai trước sự sống và cái chết Vốn dĩ , “Hoàng Phủ Ngọc Tường hay lo

Trang 32

âu về cái chết (thực chất cũng là nỗi buồn) trong tương quan với sự sống.” [34; 200] Đời sống là khổ đau và không có điều gì là vĩnh cửu là hai chân lý nhuốm màu Phật giáo được lặp đi lặp lại nhiều lần trong thơ ông Và cái chết vẫn luôn là nỗi ám ảnh, lửng lơ ngay trên đầu Theo ông, cái chết xuất hiện dường như cùng thời với sự sống và có vai trò không nhỏ trong đời sống tinh thần của mỗi chúng ta, trở thành nỗi ám ảnh đối với con người Cho nên, vấn

đề muôn thuở của con người, “vòng quay sống chết” được nhà thơ nâng thành triết lí về sự ngắn ngủi của cuộc đời Mượn hình ảnh hoa phù dung trong khoảnh khắc đổi màu, tác giả đã tinh tế mở ra quy luật của thời gian:

“Anh hái cành phù dung trắng Cho em niềm vui cầm tay Màu hoa như màu ánh nắng Buổi chiều chợt tím không hay”

(Dù năm dù tháng)

Kiếp người là cái nghiệp của số phận Theo Phật pháp đó là sự luân hồi Phạm trù triết học này đã được nâng lên thành triết lí trong thơ HPNT Giữa bến bờ sống chết mong manh và nỗi lo âu thường trực, những vần thơ trăn trở của ông cũng là những khắc khoải của cái nhìn thấu suốt về quy luật của sự sống, cái chết Vì thế con người hiện sinh trong thơ HPNT là con người tỉnh ngộ, dám nhìn thẳng vào sự thật với nhãn quan, với khả năng của mình:

“Đã đến lúc phải nghĩ về món quà tặng sau cùng đời dành cho anh

Không phải là lời nguyện cầu về nghìn thu (anh biết đấy, thời gian với anh lúc ấy đã cùng tận)

Hoa cũng không còn nghĩa lý gì (anh biết đấy, rồi ra chỉ còn cỏ mọc lên quanh anh) Món quà tặng sau cùng đời dành cho anh

Là nấm đất ủ hơi bàn tay bạn bè

Sẽ gửi theo anh…”

(Nói với bóng mình in trên vách)

Trang 33

Cái nhìn chăm chú vào sự chết đã xua đi nỗi sợ hãi tột cùng của mất mát để kiếm tìm đằng sau cái chết và nỗi khiếp sợ ấy những ý nghĩa và sự tái sinh Có thể nói, “cái chết” đã được HPNT chạm vào như một đối tượng thẩm

mĩ để tâm niệm về triết lí “sống-chết” một cách nhân văn Nhà thơ đã đào sâu vào cái tôi bản thể, biến nó thành cái tôi chứa đựng những chiêm nghiệm, trăn trở và rung cảm sâu xa trước cuộc đời Chính sự chiêm nghiệm về thân phận con người với lẽ sống chết hiện hữu đã khiến nhà thơ nguyện sống hết mình với đoạn đời còn lại Ở đây, có thể thấy sự gặp nhau trong tư tưởng giữa HPNT và đại thi hào Ấn Độ R.Tagore Nhận thức, lí giải về sự sống và cái chết khiến nhà thơ có thể đón nhận cái chết bằng một cảm giác nhẹ nhàng

Có thể thấy, trong thơ HPNT đầy ắp những suy ngẫm về cái chết Những cảm xúc, suy tưởng về cuộc sống con người được thể hiện bằng những lời thơ bình dị không chút điểm tô nhưng chứa đựng nhân sinh quan sâu sắc Theo HPNT những suy nghĩ, lắng lo về sự chết chính là sự ý thức một cách sâu sắc về cái hữu hạn của cuộc sống con người Cuộc sống con người sẽ giống nhau ở cái chết, nhưng khác nhau ở phần để lại Sự hữu hạn của cuộc đời sẽ hoá thành vô hạn khi con người sống hết mình cho cuộc đời trần thế Vậy nên, trong thơ ông không chỉ tồn tại nỗi ám ảnh về cái chết mà còn đầy

ắp niềm khao khát gắn bó với cuộc đời

Văn chương xét đến cùng cũng chính là thân phận con người Tác phẩm văn chương chỉ có giá trị khi người nghệ sĩ nhận thức rõ bản chất của con người Cái tôi trong thơ HPNT ngoài suy tư, chiêm nghiệm về sự sống, cái chết còn đi sâu vào bản chất cô đơn cùng nỗi đau trong tình yêu của con người

Những cuộc tình đến đi là những chặng đường trải nghiệm của cái tôi

đa cảm, lặng thầm, hòa mình trong cõi vô cùng của nỗi buồn mang tên thân phận Tình yêu lặng lẽ đi qua từng trang thơ tình của HPNT Với ông, yêu là

sự cho đi nhiều hơn ước muốn được nhận lại Có lẽ thế mà cái tôi tràn ngập nỗi cô đơn :

Trang 34

“ Có buổi chiều nào như chiều nay Căn phòng anh bóng tối dâng đầy Anh lặng thầm như cái bóng Hoa tàn một mình mà em không hay.”

(Dạ khúc)

Con người hiện sinh chất chứa một nỗi niềm không ai thấu tỏ, sự hoang lạnh đẩy nỗi buồn thân phận lên đến đỉnh điểm Và như thế, những giấc mộng buồn ám ảnh, nỗi đơn côi vây lấy tâm hồn khiến nhà thơ không thôi khao khát giấc mộng tình yêu:

“Có chiều nào như chiều xưa Anh về trên cát nóng Đường dài vành môi khát bỏng

Em đến dịu dàng như một cơn mưa”

(Dạ khúc)

Cái tôi nghệ sĩ luôn cần có đủ nỗi buồn để thấy mình còn tồn tại giữa cuộc đời, cần những giây phút đắm mình trong cô đơn để nhận ra mình yêu đời, yêu người và đôi khi phải rơi xuống đáy của nỗi buồn để chiến thắng nỗi

ám ảnh về thân phận, về cái chết, sự tàn phai… HPNT để cái tôi của mình “đi mê” trong mọi ngõ ngách của mê cung cuộc đời Ông đã nhận ra sự vận động

của tình yêu trong chính bản ngã mỗi con người

Mỗi một bài thơ tình của HPNT là một bức tranh về những khoảnh khắc của cái tôi trữ tình tràn ngập ước muốn suy tư “Thơ tình Hoàng Phủ Ngọc Tường đẹp muốn khóc”[35] Có lẽ vì thân phận của tình yêu trong cảm quan “cho-nhận” được tô vẽ bởi màu sắc của nỗi buồn đã làm cho nó mang vẻ đẹp “ma mị” khó cưỡng Tình yêu-phận người-khổ đau-hi sinh thầm lặng…tất

cả hòa vào nhau tạo nên một cái tôi rất riêng của HPNT Cái tôi chiêm nghiệm về thân phận con người trong nỗi đau tình yêu, trong sự cô đơn là hành trình nhà thơ “quay quắt” đi tìm những cung bậc thẳm sâu của cảm xúc

Có khi, cái tôi thân phận như bồng bềnh, lãng du trong thế giới vô định:

Trang 35

“Những hành tinh ngẫm rồi thấy lạ Bềnh bồng mà vẫn theo nhau Anh với em, ừ thì cũng lạ Bềnh bồng cho tới mai sau”

(Bềnh bồng cho tới mai sau)

Rồi phút chốc, cái tôi xoay trở, nhà thơ hoài nghi chính mình trong quạnh quẽ :

Tôi nhìn trong khoảng mông lung ấy Chỉ có tôi ngồi với bóng tôi”

(Thiền định)

Cô đơn và tình yêu là những vấn đề muôn thuở của phận người Với HPNT, cô đơn trong tình yêu, âu lo và suy tư để cái tôi mang nỗi buồn trở về đối diện với chính mình, tìm lại mình trong cuộc hành trình mang tên thân phận:

Vẽ tôi một nét môi cười Một dòng nước mắt một đời phù du”

(Vẽ tôi)

Giữa thế giới mênh mông kia, vẫn còn nhiều điều chưa thể nào giãi bày, thấu tỏ Trăn trở, suy ngẫm để tìm thấy chính mình trong nỗi buồn rũ rượi của phận đời Cái tôi chiêm nghiệm về thân phận con người âu cũng chính là con đường nhà thơ trở về với cái bản ngã sâu thẳm, với con người luôn khát khao sống tận hiến với cuộc đời:

“Khoảng trời xanh mông lung Tôi đi hoài chẳng tới Tôi ném vào tận đáy Nỗi khát vọng vô cùng”

(Nơi tôi gửi bóng)

Trang 36

2.1.2 Cái tôi suy tư về số phận của đất nước, quê hương

Cũng như khá nhiều nhà thơ, nhà văn khác, HPNT sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh chiến tranh, trực tiếp tham gia vào cuộc chiến chung của dân tộc Cho nên, trong tập thơ đầu tay, cái tôi của HPNT gói trọn một nỗi niềm suy tư của ông với đất nước, quê hương

Một điều dễ nhận thấy trong con người HPNT là tâm hồn luôn nặng lòng với quê hương, đất nước Bản thân ông không bao giờ thôi trăn trở, ước

ao, mong mỏi quê hương có một ngày mai tươi sáng, không còn cảnh chinh chiến, lầm than Cho nên, trong thơ ông có thể thấy cái tôi trữ tình đã hòa cùng nỗi đau của dân tộc, cái tôi tình nguyện lên đường:

“Em nhìn thầy muốn hỏi Nước mắt thầy tuôn rơi Đừng hỏi nữa em ơi Thầy lên đường đánh Mỹ”

(Câu hỏi)

Niềm trăn trở thúc giục nhà thơ dấn thân Trên con đường hành quân máu lửa, khi súng đạn, bom rền vẫn dội bên tai hằng ngày, người thi sĩ, người chiến sĩ ấy không thể nào im lặng, ông luôn mang trong mình những câu hỏi thổn thức tận đáy lòng:

“Ai hành quân qua đây?

Đất vẫn in mòn lối cũ

Ai dừng chân nơi đây?

Đá vẫn nguyên hình bếp lửa Đồng chí nào chia tay nơi đây?

Ngã ba rừng hoang đầy lá”

(Tôi đi trên những con đường rừng cũ)

Một loạt những câu hỏi như chồng chéo tâm hồn nhà thơ Thực tế khốc liệt của chiến tranh được mở ra, nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp bởi ẩn chứa sau đó

Trang 37

là ân tình, là nỗi niềm của đứa con đang cùng toàn quân giữ gìn non sông, đất nước:

“Tôi đi trên những con đường ấy Mang Việt Nam trong linh hồn Cuộc hành trình hai mươi năm chân chưa hề mỏi Nên tôi theo đường rừng mê mải vượt Trường Sơn”

(Tôi đi trên những con đường rừng cũ)

Mỗi thi sĩ có một cách nhìn riêng để qua đó thể hiện suy nghĩ của mình bằng phương thức riêng Với một tâm hồn luôn ưu tư như HPNT, từng bước chân hành quân là một vết thương lòng nhức nhối của ông khi đối diện với cơn đau dài mà nhân dân, đất nước đang ngày ngày gánh chịu:

“Đường phố ấy bây giờ giặc chiếm Ngã ba ngã tư quỷ sứ đứng giăng bầy Từng hơi thở của mái trường uất nghẹn Trong khói mù lựu đạn hơi cay”

(Đường phố ấy)

Nhịp thơ của cảm xúc, của tiếng lòng nặng trĩu những day dứt, đớn đau Chứng kiến thảm cảnh chiến tranh, nhà thơ đau cùng nỗi đau của dân tộc Tận sâu nơi trái tim ông là những xót xa, vụn vỡ đến nghẹn ngào:

“Sáng nay mang khăn trắng

Em thành trẻ mồ côi Hôm qua trên đường vắng

Mỹ giết mẹ em rồi”

(Câu hỏi)

Trăn trở với hiện trạng của đất nước, nhà thơ luôn tự vấn với lòng mình, lắng nghe lời của trái tim thôi thúc mà hình thành ý chí sôi sục, quyết tâm khôn cùng:

Trang 38

“Đánh địch mà đi

Mở đường mà tiến Quả tim hồng Đông Dương Máu không bao giờ đổi hướng Này kẻ thù cuồng ngông Đường ta đi vẫn dài vô tận Đường ta đi dài mãi đến quang vinh Đường ta đi mang tên Hồ Chí Minh”

(Ta xây mộ mày ở Bản Đông)

Ý thức về lòng căm thù lũ giặc bán nước, cướp nước không lúc nào nguôi, nó góp phần dấy lên sự phẫn nộ của ông:

“Không thể mặc cho loài bán nước Vung bàn tay cướp đoạt những thiêng liêng Không thể mặc cho quân xâm lược Dẫm gót giày lên thành phố yêu thương”

(Đường phố ấy)

Để rồi từ đó, ý chí chiến đấu tràn đầy trong lòng, là động lực giúp người lính vượt lên mọi khó khăn, nguyện một lòng vì non sông, đất nước:

“Tôi thầm lặng dâng người tất cả

Ôi Việt Nam nghìn năm, Núi Sông-Núi Sông”

(Năm năm ta đi)

Người chiến sĩ với tâm hồn nghệ sĩ dạt dào xúc cảm là một nét đẹp của hồn thơ HPNT Âm thầm, lặng lẽ, chàng lính ấy cuối cùng cũng chỉ mong đóng góp sức mình cho Tổ Quốc yêu thương:

“Đã góp vào đất nước Cuộc chiến đấu âm thầm Hiếu nghĩa đời tha thiết Thương tóc hoài ngàn năm”

(Tóc cũng theo người)

Trang 39

“Xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”, trong lòng HPNT lúc này Tổ quốc là tiếng gọi thiêng liêng, là hình ảnh chất chứa niềm suy tư Tổ quốc vốn

đã được khá nhiều các nhà thơ khai thác Nếu Chế Lan Viên, Huy Cận, Lê Anh Xuân…xuất phát từ điểm nhìn lịch sử để xây dựng hình tượng Tổ quốc thì HPNT lại có cách biểu hiện riêng về hình tượng này Tổ quốc qua đôi mắt nhà thơ là một thực thể với vẻ hùng vĩ, choáng ngợp:

“Tôi trèo lên trên đỉnh Trường Sơn Nhìn thấy quê hương nguyên hình chữ S Thấy con sông Hồng đỏ máu ra khơi Thấy mũi Cà Mau nhọn vút chân trời”

(Hành trang)

Bắt nguồn từ cảm quan thiên nhiên: thiên nhiên là một thực thể có tâm hồn cho nên hình ảnh Tổ quốc trong thơ HPNT mang dáng dấp con người, trở thành người hằng đêm bầu bạn với nhà thơ trong những đêm hành quân nơi chốn rừng xa:

“Một đôi mắt sao Hai đôi mắt sáng

Tổ quốc nhìn tôi Một trời mắt sáng Đêm hành quân tôi ngủ dưới ngàn sao Thấy đất nước cười lấp lánh chiêm bao”

(Ngủ dưới sao)

Từ tâm thức đối thoại với thiên nhiên trong kí, HPNT đã tiếp tục chuyển tiếp nó vào thơ Ông coi thiên nhiên là những sinh thể Dường như nhà thơ lắng nghe, cảm nhận và giao hòa đến từng vi mạch của vạn vật Chính điều này mà ông đã dựng nên hình ảnh Tổ quốc-một thực thể gần gũi mà độc đáo khác lạ Cảm hứng trữ tình được nâng đỡ bằng cảm hứng cách mạng đã đem lại cho HPNT những dòng thơ có giá trị Đằng sau sự trăn trở trong

Trang 40

những năm tháng chiến chinh là tấm lòng dành trọn tình yêu chung cho đất nước:

“Tổ quốc mến yêu Tôi sẽ bảo vệ Người

Dù một vùng trời Một dòng sông nhỏ không tên”

(Ngủ dưới sao)

Đến thơ HPNT, Tổ quốc không còn được cảm nhận ở bình diện lịch sử nữa mà trở thành một tâm hồn đồng điệu, là nơi để nhà thơ gửi gắm, giãi bày những nỗi niềm suy tư nơi đáy lòng

Quê gốc ở Quảng Trị nhưng HPNT sinh ra và lớn lên ở Huế Phần lớn cuộc đời ông đã gắn bó với mảnh đất yêu thương này Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà xứ Huế lại hiển hiện trong thơ ông Từ những ngày còn là sinh viên, nhà thơ đã luôn tranh đấu để bảo vệ cho xứ Huế xinh đẹp, mộng mơ Ông luôn nhìn thấy ở Huế những nét đẹp lung linh sắc màu Đó không chỉ là

vẻ đẹp đắm say với núi Ngự, sông Hương, hoa trái quanh vườn…ở bút kí mà còn là vẻ đẹp của thành phố ân tình, sôi sục tinh thần chiến đấu trong thơ:

“Nên Huế đã trăm lần nổi dậy Đường càng đi dấu chân người càng đông”

(Những dấu chân qua thành phố)

Quê nhà giờ đây đang từng ngày phải đối mặt với chiến tranh tàn khốc Nhưng trong tâm trí ông lúc này, Huế mang một vẻ đẹp mới, vẻ đẹp của thành phố anh hùng trong chiến đấu, đối lập với vẻ dịu dàng vốn có của nó:

“Lời đất nước giương trùng cờ biểu ngữ Người đi lên tóc lộng nắng như cờ Đường áo trắng hôm nay thành sông lửa Nổi đuốc thiêng nhìn rõ mặt quân thù”

(Đường phố ấy)

Ngày đăng: 12/05/2021, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Aristote (1964), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn học nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Văn học nghệ thuật
Năm: 1964
[2]. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945-1995(nhìn từ phương diện vận động của cái tôi trữ tình), Nxb Khoa học xã hội ,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945-1995(nhìn từ phương diện vận động của cái tôi trữ tình)
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
[3]. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
[4]. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
[5]. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
[6]. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[7]. Hồ Thế Hà (2004), Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Hồ Thế Hà
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
[8]. Hồ Thế Hà (2002), “Thông điệp thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường”, Tạp chí Sông Hương (161) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông điệp thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường”, "Tạp chí Sông Hương
Tác giả: Hồ Thế Hà
Năm: 2002
[9]. Lê Bá Hán-Trần Đình Sử-Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán-Trần Đình Sử-Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1997
[10]. Lê Bá Hán, (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[11]. Nguyễn Văn Hạnh-Huỳnh Như Phương (1998), Lý luận văn học-vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học-vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh-Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[12]. Ngô Minh Hiền (2009), “Hoàng Phủ Ngọc Tường - văn hóa qua cái nhìn lịch sử” Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học Khoa Ngữ văn ĐHSP Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Phủ Ngọc Tường - văn hóa qua cái nhìn lịch sử”
Tác giả: Ngô Minh Hiền
Năm: 2009
[13]. Bùi Công Hùng (2000), Quá trình sáng tạo thơ ca, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình sáng tạo thơ ca
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
[14]. Bùi Công Hùng (2000), Sự cách tân thơ văn Việt Nam hiện đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cách tân thơ văn Việt Nam hiện đại
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
[15]. Lê Thị Hường (2005), “Thế giới cỏ dại trong văn thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường”, Tạp chí Sông Hương (202) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới cỏ dại trong văn thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường”, "Tạp chí Sông Hương
Tác giả: Lê Thị Hường
Năm: 2005
[16]. Lê Thị Hường (2002), “Xin được nói về Hoàng Phủ Ngọc Tường như một thi sĩ của thiên nhiên”, Tạp chí Sông Hương (161) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xin được nói về Hoàng Phủ Ngọc Tường như một thi sĩ của thiên nhiên”, "Tạp chí Sông Hương
Tác giả: Lê Thị Hường
Năm: 2002
[17]. Mã Giang Lân (1997), Cái tôi trong thơ trữ tình, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái tôi trong thơ trữ tình
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 1997
[18]. Mã Giang Lân (2001), Tiến trình thơ hiện đại việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thơ hiện đại việt Nam
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
[19]. Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[20]. Bùi Văn Nguyên-Hà Minh Đức (2003), Thơ ca việt Nam hình thức và thể loại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca việt Nam hình thức và thể loại
Tác giả: Bùi Văn Nguyên-Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w