1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm nghệ thuật ký hoàng phủ ngọc tường

122 1,4K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tường, người viết mong muốn đóng góp một cái nhìn đầy đủ hơn về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật và các phương thức biểu hiện của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường – một trong những yếu tố

Trang 1

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐOÀN ĐỨC PHƯƠNG

Hà Nội - 2014

Trang 2

Xin cám ơn gia đình và người thân; cám ơn sự giúp đỡ, động viên của những người bạn và các đồng nghiệp…

Hà Nội, ngày 6 tháng 6 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huyền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu của luận văn trung thực, không sao chép của bất kỳ ai Các số liệu, tài liệu trong luận văn đều có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng

Học viên

Nguyễn Thị Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của luận văn 6

6 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ THỂ KÝ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 7

1.1 Khái lược về thể ký 7

1.1.1 Khái niệm thể ký văn học 7

1.1.2 Đặc trưng thể ký văn học 8

1.2 Hành trình sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường 11

1.2.1 Đôi nét về cuộc đời 11

1.2.2 Hành trình sáng tác 13

1.2.3 Quan niệm sáng tác 16

Chương 2 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 28

2.1 Khái lược về hình tượng, nhân vật 28

2.1.1 Khái lược về hình tượng nghệ thuật 28

2.1.2 Khái lược về nhân vật văn học và sự phân loại nhân vật theo cấu trúc hình tượng 29

2.2 Các loại hình tượng, nhân vật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 30

2.2.1 Hình tượng con người 30

2.2.2 Hình tượng thiên nhiên 49

2.3 Nghệ thuật xây dựng hình tượng, nhân vật 61

Trang 5

2.3.1 Thủ pháp miêu tả, kể chuyện 61

2.3.2 Nghệ thuật biểu hiện nội tâm 63

2.3.3 Hư cấu nghệ thuật 66

Chương 3 NGÔN NGỮ- GIỌNG ĐIỆU, THỜI GIAN- KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 73

3.1 Ngôn ngữ trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 73

3.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 73

3.1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 74

3.2 Giọng điệu trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 83

3.2.1 Khái niệm giọng điệu nghệ thuật 83

3.2.2 Giọng điệu nghệ thuật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 84

3.3 Thời gian nghệ thuật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 91

3.3.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 91

3.3.2 Thời gian nghệ thuật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 92

3.4 Không gian nghệ thuật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 99

3.4.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 99

3.4.2 Không gian nghệ thuật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường 100

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong văn xuôi bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn các thể loại ký văn học cũng đã tự xác lập cho mình một chỗ đứng vững chắc trong đời sống văn học đương đại Là thể loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong phản ánh hiện thực nên ký đã lôi cuốn, gợi lòng tin nơi độc giả và đem đến cho người đọc một cái nhìn chân thực nhất, tươi mới nhất về hiện thực cuộc sống muôn màu Khám phá sâu sắc về đối tượng, đề xuất được những tư tưởng quan niệm có ý nghĩa đối với đời sống hiện thực, vừa chạm đến chiều sâu cảm xúc con người… nên ký chính là nơi gặp gỡ của các nhân tố: trí tuệ và cảm xúc, sự thật cuộc sống và nghệ thuật Bằng vốn sống, bằng tài năng sáng tạo và cả tâm hồn của người nghệ sĩ, các nhà văn viết ký đã khẳng định được vai trò không thể thiếu được của mình trong việc xây dựng một nền văn học cân đối, hoàn chỉnh nhiều màu sắc

Trước năm 1975, ký Việt Nam phát triển mạnh và đạt được nhiều thành tựu xuất sắc với các tên tuổi như Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Tô Hoài… Sau chiến tranh, thể loại này tiếp tục được tỏa sáng với nhiều cây bút tâm huyết với văn học và cuộc sống, một trong đó có Hoàng Phủ Ngọc Tường Là nhà văn thể nghiệm sáng tác ở nhiều thể loại: truyện ngắn, thơ, ký, nhàn đàm… thể loại nào ông cũng có những thành công nhất định, nhưng bạn đọc nhớ tới ông nhiều nhất vẫn là: Hoàng Phủ Ngọc Tường – nhà viết ký tài ba Với thể ký, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm thấy thể loại phù hợp để chuyển tải hết những cảm xúc suy tư trăn trở của một đời

cầm bút và như lời nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc “Anh là một trong số

mấy nhà văn viết ký hay nhất của văn ta hiện nay” [87,tr.846] Có thể nói,

trong dòng ký hiện đại Việt Nam, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là một tiếng nói rất riêng, cũng là sự tiếp nối sáng tạo, sự khẳng định sức sống vững bền của

thể loại nói chung Với đề tài Đặc điểm nghệ thuật ký Hoàng Phủ Ngọc

Trang 7

Tường, người viết mong muốn đóng góp một cái nhìn đầy đủ hơn về nghệ

thuật xây dựng hình tượng nhân vật và các phương thức biểu hiện của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường – một trong những yếu tố góp phần làm nên phong cách và vị trí của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong sự vận động của ký Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề

Hiện nay các công trình nghiên cứu về ký Hoàng Phủ Ngọc Tường khá phong phú đa dạng và ở nhiều cấp bậc khác nhau Từ các nghiên cứu phê bình đăng tải trên các trang báo, tạp chí cho đến các luận văn, luận án tiến sĩ, hầu hết các công trình đều thể hiện sự dày công nghiên cứu và bày tỏ tình cảm đặc biệt mến mộ tài năng, tâm hồn của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã được thể hiện

qua các sáng tác

Khi đánh giá về mảng ký viết về chiến tranh, nhiều nhà nghiên cứu đã

chú ý rất nhiều đến“chất lửa” trong nội dung của ký Hoàng Phủ Ngọc

Tường Nguyễn Tuân là người đầu tiên có cái nhìn rất chính xác về giá trị của

ký Hoàng Phủ Ngọc Tường “Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường có rất nhiều ánh

lửa” [67,tr.3] Sau Nguyễn Tuân có nhiều bài viết, bài cảm nhận khác như: Lửu phù dung của Phạm Xuân Hùng (báo Quảng Trị số 5/1999), Biểu tượng lửa trong văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc Tường của Ngô Minh Hiền (Tạp chí Khoa học số 6/ 2004), Hoàng Phủ Ngọc Tường- Nỗi niềm của lửa của Dạ

Ngân (báo Văn nghệ số tháng 12/2006 )

Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ viết về chiến tranh và những con người trong cuộc chiến ấy mà các trang ký của ông còn mang đậm tính văn hóa, thấm đẫm chất Huế, đau đáu hướng cội nguồn Trần Đình Sử là một trong những người đầu tiên đặt vấn đề tính văn hóa của ký Hoàng Phủ Ngọc

Tường Ông cho rằng: “Bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cuộc đi tìm cội

nguồn, một sự phát hiện bề dày văn hóa, lịch sử các hiện tượng đời sống”

[52] Các tác giả khác như: Đặng Nhật Minh cũng khẳng định “cái làm nên

Trang 8

giá trị văn chương của Hoàng Phủ Ngọc Tường (…) không nằm trong những kiến thức văn hóa uyên thâm ấy, mà nằm trong cái “chất Huế” của con người anh”[37]; Trần Thùy Mai trong bài Ký văn hóa của Hoàng Phủ Ngọc Tường

lại bàn luận về giá trị những tác phẩm ký văn hóa trong tập 3 – tập bút ký chủ

yếu viết về đất Huế, người Huế Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết của các tác

giả khác như: Nguyễn văn Bổng với Đọc bút ký “Rất nhiều ánh lửa”; Hoàng

Bình Thi với bài viết Chiêm cảm Huế di tích và con người…cũng khẳng định

tính văn hóa và chất Huế trong các sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Khám phá vẻ đẹp văn chương của những trang ký viết về thiên nhiên

có các bài: Huế vẫn xanh và Tường vẫn trong (báo Văn hóa Thể thao số 2/11/ 1998) và Thế giới tồn tạo bởi sự lễ độ (báo Văn nghệ Tuổi trẻ số 22/8/1998 ) của Cầm Hải; Xin được nói về Hoàng Phủ Ngọc Tường như một thi sĩ của

thiên nhiên của Lê Thị Hường (Tạp chí Sông Hương số 161 – 7/2002 ); Hoàng Phủ Ngọc Tường và nỗi ám ảnh hoa phù dung của Ngô Minh (báo Phụ nữ ngày 24/2/2005); Hoàng Phủ Ngọc Tường và tài sản sông Hương của

Kim Oanh (báo Tuổi trẻ số 29/11/2008 )…

Đánh giá về những đặc sắc nghệ thuật, nét độc đáo trong phong cách

nghệ thuật Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng có nhiều bài viết, nhiều công trình

nghiên cứu Trong bài viết Đọc Ngọn núi ảo ảnh, Hoàng Cát đã nhận định

“Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút ký văn học của riêng

mình”[7,tr.69] Còn Nguyên Ngọc trong “Đọc Hoàng Phủ Ngọc Tường” thì

nhận xét “Hoàng Phủ Ngọc Tường là người hay suy nghĩ về lịch sử Và những

mô tả của anh, cố gắng thật tỉnh táo, nhưng bao giờ cũng được chống đỡ bởi những suy nghiệm sâu xa và ẩn ngầm về lịch sử; chính vì vậy mà những mô tả

ấy thật khách quan và không hời hợt” Trần Đình Sử đã rất sắc sảo khi nhận

thấy“Nhịp điệu của ký hết sức chậm rãi (phải chăng đó là điệu slow rất Huế

trong văn xuôi) khác hẳn với phong cách Nguyễn Tuân đầy chất văn xuôi, xương xẩu, gồ ghề với cái nhìn hóm hỉnh, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường nghiêng

Trang 9

hẳn về chất thơ thi vị ngọt ngào”[52] Lê Xuân Việt thì lại khẳng định “Sức hấp dẫn của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là do tác giả sử dụng thành công các thủ pháp nghệ thuật sinh động đa dạng” như “dùng những đoạn văn trữ tình giàu cảm xúc để miêu tả thiên nhiên, khả năng tung hoành của cái tôi, nghệ thuật sử dụng yếu tố lịch sử, yếu tố dân gian, truyền thống dân tộc”[95]

Ngay cả Đặng Tiến, một Việt kiều sống ở Paris sau khi “Đọc Tuyển tập

Hoàng Phủ Ngọc Tường” cũng đã đánh giá “Đặc điểm trong tác phẩm

Hoàng Phủ Ngọc Tường là chất trí tuệ, dựa trên vốn kiến thức sâu rộng về địa lí, lịch sử, văn học kết hợp với lý luận sắc bén, được phô diễn trong hành văn súc tích, say đắm và hào hoa Tình cảm dành cho đất nước, quê hương, bạn bè, thiên nhiên và nhân đạo vượt ra khỏi khuôn sáo văn chương, trở thành sinh lực lay chuyển tâm tư người đọc”[65]

Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu chỉ mới dừng ở mức độ bài viết, gần đây đã xuất hiện một số công trình khoa học nghiên cứu công phu hơn về

ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường tiêu biểu như: Văn xuôi Nguyễn Tuân và

Hoàng Phủ Ngọc Tường từ góc nhìn văn hóa của Ngô Minh Hiền (Luận án

Tiến sĩ Ngữ văn, Viện văn học, 2009) Ngoài ra còn nhiều luận văn do học

viên, sinh viên của các trường đại học thực hiện…

Nhìn chung những bài viết, những công trình nghiên cứu trên phần

nhiều đề cập đến nét tiêu biểu về con người, văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường, đánh giá cao vị trí, vai trò của ông trong nền ký Việt Nam đương đại Các đánh giá đó mới chỉ là những lời nhận xét chung, khái quát tùy theo tấm lòng của người yêu quý Hoàng Phủ Ngọc Tường mà các công trình nghiên cứu hệ thống về văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường còn ít, đặc biệt là các công trình tìm hiểu chuyên sâu về đặc điểm nghệ thuật

Vì vậy, với đề tài Đặc điểm nghệ thuật ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

tôi mong muốn đóng góp một cái nhìn đầy đủ hơn về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật và các phương thức biểu hiện của ký Hoàng Phủ Ngọc

Trang 10

Tường – một trong những yếu tố góp phần làm nên phong cách và vị trí của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong sự vận động của ký Việt Nam đương đại

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Làm rõ các đặc điểm nghệ thuật của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, từ

đó góp một tiếng nói khẳng định vị trí, đóng góp của ông trong sự tiếp nối và phát triển thể ký ở Việt Nam nói chung, ký trữ tình nói riêng

- Đối tượng nghiên cứu:

Đặc điểm nghệ thuật trong các tác phẩm ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

- Phạm vi nghiên cứu:

Trong luận văn này, người viết tập trung khảo sát các tác phẩm ký đặc sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường, chủ yếu là bút ký và tùy bút được tuyển

chọn trong tập 2 và tập 3 của Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường do Trần

Thức tuyển chọn, gồm 80 tác phẩm (trọn bộ 4 tập), được nhà xuất bản Trẻ,

thành phố Hồ Chí Minh in và phát hành năm 2002 Ngoài ra người viết còn khảo sát thêm hai tập ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường mới được xuất bản gần

đây nhất là Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của hoàng tử bé (Nhà xuất bản

Trẻ, 2005) và Miền cỏ thơm (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)

Đồng thời trong luận văn người viết cũng mạnh dạn so sánh đối chiếu tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường với ký của các nhà văn khác như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Vũ Bằng Nhưng các nghiên cứu, so sánh đó không được tách ra thành mục riêng mà đặt trong hệ thống các tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường Sự so sánh này không chỉ ra sự hơn kém giữa các nhà văn

mà chỉ giúp hiểu sâu sắc hơn về những nét nghệ thuật độc đáo của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại

Trang 11

- Phương pháp loại hình

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp lịch sử - xã hội

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chính trên, người viết còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp tiểu sử, phương pháp cấu trúc … để làm rõ hơn nữa những đặc điểm nghệ thuật mà nhờ đó ký Hoàng

Phủ Ngọc Tường đi vào lòng bạn đọc các thế hệ

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn tập trung tìm hiểu các tác phẩm thuộc thể loại ký (chủ yếu là bút ký, tùy bút và truyện ký) trong sự nghiệp văn học của Hoàng Phủ Ngọc Tường để làm rõ những đặc điểm nghệ thuật – yếu tố tạo nên sức hấp dẫn cho ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

Luận văn cũng góp phần khẳng định tài năng, vị trí và những đóng góp của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Khái lược về thể ký và hành trình sáng tác của Hoàng Phủ

Ngọc Tường

Chương 2: Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trong ký Hoàng

Phủ Ngọc Tường

Chương 3: Ngôn ngữ - giọng điệu, thời gian – không gian nghệ thuật

trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trang 12

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ THỂ KÝ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 1.1 Khái lược về thể ký

1.1.1 Khái niệm thể ký văn học

Theo các nhà biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học, ký là một loại hình

văn học trung gian nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là

văn xuôi tự sự như: bút ký, hồi ký, du ký, ký sự, phóng sự, tùy bút, tạp văn, tản

văn (ét-xe)… và là thể loại văn học “tôn trọng sự thực khách quan của cuộc sống, không hư cấu” Còn các giả trong Từ điển Tiếng Việt thì cho rằng: ký là

“thể văn tự sự có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực cao nhất” [tr.501] Tác giả Hoàng Ngọc Hiến cũng khẳng định “Trong nghiên cứu văn

học Việt Nam đương đại, ký là một thuật ngữ được dùng để gọi tên một thể loại văn học bao trùm nhiều thể hoặc tiểu loại: bút ký, hồi ký, du ký, ký sự, phóng sự, tùy bút, tạp văn, tản văn tiểu phẩm(ét-xe)…”.Tác giả cũng chỉ rõ

đặc trưng của ký là “thể loại nằm giữa báo chí và văn học”, “là sự hợp nhất

truyện và nghiên cứu” (M Gorki) và là sự “nhức nhối của trí tuệ” [3,tr.220]

Trong bài Ký, một thể loại văn học có giá, tác giả Lê Minh đã có những đánh giá chung nhất về thể ký: “sức mạnh của kí là công bố những sự

thật từ tâm huyết của tác giả từ nhức nhối trí tuệ và tình cảm của tác giả trước thời cuộc Người viết ký phải tìm được cái đẹp(…) Người viết ký phải hết sức tỉnh táo (…) phải luôn tìm được nguồn kiến thức tự trau dồi, nhìn thực

tế với con mắt của nhà văn nhưng tầm suy nghĩ của một nhà nghiên cứu khoa học xã hội Và chỗ đứng luôn luôn là người trong cuộc” [3,tr.260]

Như vậy trong quá trình xác định thể loại, các nhà nghiên cứu đã có nhiều cách tiếp cận để nhận diện ký, nhưng cho đến nay giới lí luận văn học vẫn chưa đưa ra được một hệ thống lý thuyết nhất quán cho thể loại văn học này Tuy nhiên, vẫn có thể khẳng định ký là tên gọi cho một nhóm thể tài nằm

Trang 13

ở phần giao nhau giữa văn học và cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép

tư liệu các loại), chủ yếu là văn xuôi tự sự Các thể ký văn học chủ yếu là các hình thức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi với nhiều dạng tường thuật, miêu

tả, biểu hiện, bình luận về những sự kiện và con người có thật trong cuộc sống, với nguyên tắc phải tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính thời sự của đối tượng miêu tả

1.1.2 Đặc trưng thể ký văn học

Trong cuốn Giáo trình Lí luận văn học các tác giả có viết “Về ký, thực tế

là không thể nói đến cái gì xác định được đặc trưng của thể loại” [32,tr.421]

Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là không thể xác định được các đặc trưng để phân biệt ký với các thể loại khác Ký vẫn có những đặc trưng riêng rất dễ nhận thấy bởi ký cũng như bất kì thể loại văn học nào đều bắt nguồn từ cuộc sống, nhưng mức độ phản ánh cuộc sống của mỗi thể loại là khác nhau

Ký là thể loại “quan tâm đến hiện thực mãnh liệt” và “Nguyên tắc tiếp cận,

phản ánh hiện thực cuộc sống sẽ là cơ sở để tìm hiểu đặc điểm tác phẩm ký”

[17,tr.217] Chính vì vậy các nhà nghiên cứu cũng đã rút ra được một số kết luận sau:

Đặc trưng quan trọng nhất của ký là: Ký lấy sự thật khách quan của đời

sống và tính xác thực của đối tượng làm cơ sở Người viết ký có thể viết về

một chiến dịch, một cuộc hành quân, một phong trào, một tập thể hay một cá nhân… nhưng những đối tượng này là đối tượng xác định, có địa chỉ cụ thể

Theo dõi những bài viết của nhà văn Bùi Hiển trong ký sự Đường lớn ta thấy

tác giả viết về những nơi và nhưng phong trào cụ thể: vụ tàn sát của giặc Mỹ ở Hương Khê, ở trại Quỳnh Lập… Những trang ký của Vũ Bằng lại cho ta biết

về những miếng ngon có thật của mảnh đất Hà Thành hay những lễ hội rất đỗi quen thuộc với những người dân Việt như hội Lim ở Bắc Ninh Ký của Nguyễn Tuân lại giúp người đọc hiểu về sông Đà, về miền Tây Bắc của Tổ quốc…

Trang 14

Viết về sự thật khách quan nên ký tôn trọng tính xác thực của đối tượng được miêu tả Đặc điểm này tạo nên niềm tin cậy và gần như là một định lệ giao ước giữa người viết và người đọc Sự bịa đặt sẽ tác hại đến lòng tin và cảm xúc thẩm mĩ của người đọc Đúng như nhà văn B Pôlêvôi - tác giả

của nhiều thiên ký xuất sắc nhận xét: “Một bài ký sự hay quả thật là một bài

có đủ mọi đặc trưng của thể báo chí thuần túy, nó hết sức cụ thể, có thể tái hiện được sự thật chân chính Những nhân vật tạo nên phải là những con người thật trong cuộc sống hiện thực, những sự việc mô tả phải dính chặt với địa điểm đúng như người ta thường nói: ký sự có địa chỉ chính xác của nó.”

Tác giả Nguyễn Xuân Nam, trong Từ điển Văn học (tập1) cũng khẳng định

“tính chính xác tối đa là đặc trưng cơ bản của ký” Còn Hoàng Phủ Ngọc Tường và nhiều tác giả trong Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký cũng cho rằng với thể loại ký “cõi thực vốn là bản gốc của tác phẩm”

Tuy nhiên việc phản ánh sự thật ở ký báo chí và ký văn học có sự khác nhau Ký văn học cũng lấy việc tái tạo thông tin sự thật làm cơ sở, nhưng nó không chỉ đơn thuần thông tin về sự kiện xã hội mà còn nhằm phản ánh cái đẹp, những giá trị, ý nghĩa xã hội - thẩm mĩ của con người Vì thế hư

cấu được quyền sử dụng rộng rãi trong tác phẩm ký ở những “thành phần

không thật xác định” như nội tâm của nhân vật, những cảnh sắc thiên nhiên

hay trong cảm xúc trữ tình của nhân vật và cả những nhân vật phụ xuất hiện

trong tác phẩm Nhà văn M.Gorki từng khẳng định “hư cấu nghệ thuật là rút

ra từ toàn bộ những yếu tố hiện thực cái ý nghĩa chủ yếu của nó và thể hiện thành hình tượng” Ở Việt Nam, nhà văn Nguyễn Tuân cũng như tác giả

Hoàng Phủ Ngọc Tường đều đề cao việc hư cấu trong ký Theo Nguyễn Tuân

“hư cấu không phải là tách rời thực tiễn và thực tế cuộc sống, mà chính là rất

gắn bó với cuộc sống” [3, tr.209], ông cũng cho rằng “cách diễn đạt của thể

ký cũng rất đa dạng và phức tạp (…) Ký có quyền dùng tất cả các cách của truyện, kịch, thơ ca, và các cách thức của điện ảnh, sân khấu, ca vũ, hội họa

Trang 15

điêu khắc…” [3,tr.217] Như vậy, tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu

tả và vận dụng hư cấu để hỗ trợ trong sáng tạo là vấn đề cần thiết và có thể kết hợp được trong phạm vi của thể loại ký

Về hình tượng tác giả trong thể ký, bất kì một tác phẩm nghệ thuật

nào cũng cần có vai trò của tác giả, bởi tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của các nhà văn Trong mỗi thể loại văn học, hình tượng tác giả lại có sự biểu hiện khác nhau Với các thể loại như kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn cái tôi tác giả thường không lộ diện trực tiếp mà ẩn mình Nhà văn thường bộc lộ cái nhìn, quan điểm, tư tưởng của mình thông qua hình tượng nhân vật, qua các

sự kiện Với thơ ca, cái tôi tác giả được bộc lộ rõ nhưng phải qua thao tác chuyển hóa thế giới nội tâm vào một nhân vật có tính hư cấu là nhân vật trữ tình Còn trong các tác phẩm ký, tác giả vừa là người tiếp cận cuộc sống, vừa khái quát ý nghĩa xã hội thẩm mĩ của các chi tiết, sự kiện, con người được ghi chép, phản ánh trong tác phẩm Để viết được một tác phẩm ký có sức lôi cuốn người đọc, người viết phải hòa mình vào cuộc sống để cảm nhận tất cả những biến đổi của cuộc sống, phải nắm vững đến từng chi tiết đối tượng mà mình phản ánh

Bên cạnh đó, tác giả ký cũng là người tham gia vào thế giới hình tượng nghệ thuật của tác phẩm, phát huy khả năng quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, kết nối các chi tiết, sự kiện, bày tỏ trực tiếp tư tưởng, tình cảm của mình để dẫn dắt người đọc cảm thụ cuộc sống theo hướng nhất định nào đó Như vậy, trong các tác phẩm ký, hình tượng tác giả chính là cái tôi thẩm mĩ, cái tôi ấy gắn liền với thế giới quan thẩm mĩ của tác giả Ở đó mỗi con số, mỗi sự kiện, mỗi chi tiết, mỗi nhân vật tự bản thân nó bộc lộ cái nhìn, sự đánh giá, luận giải của tác giả về thế giới thực tại bởi nó đã qua sự chọn lọc của nhà văn, đã được mài giũa bằng giác quan nghệ thuật tinh tế của nhà văn

Còn về đặc điểm văn phong và ngôn từ nghệ thuật của ký, các nhà

nghiên cứu cho rằng: cách diễn đạt của ký rất phức tạp nhưng đặc điểm văn

Trang 16

học của ký lộ rất rõ ở văn phong, ngôn từ nghệ thuật: ngôn từ nghệ thuật của

ký vừa cụ thể, sinh động, đậm chất đời thường, vừa khái quát; ngôn từ nghệ thuật của ký mang đậm tính chủ thể, gắn liền với cá tính sáng tạo của tác giả; Ngôn từ nghệ thuật của ký cũng rất linh hoạt về giọng điệu, không chỉ trần thuật mà trong ký trần thuật có thể kết hợp với phân tích, khái quát ý nghĩa của hiện tượng đời sống được đề cập, phản ánh trong tác phẩm

Với ba đặc trưng cơ bản, chúng ta có thể khẳng định ký văn học có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của nền văn học Ký không

thể và càng không phải là “thể loại đàn em” mà ký góp phần làm cho nền văn

học nước nhà phát triển cân đối, hài hòa, đa dạng, phong phú song hành với cuộc sống, đáp ứng được nhu cầu của con người và cả mặt tri thức lẫn thẩm

mĩ Đúng như nhận xét của Hoàng Phủ Ngọc Tường: “tuổi của ký xem ra

cũng đã già gần bằng với thi ca”[88,tr.165] và tuyệt vời thay đến nay nó vẫn

giữ được “sức trẻ trung, khỏe mạnh”

1.2 Hành trình sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường

1.2.1 Đôi nét về cuộc đời

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937 tại Huế, quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Nhưng cuộc đời ông chủ yếu gắn liền với xứ Huế, bởi đây là nơi Hoàng Phủ

Ngọc Tường “đã sinh ra, lớn lên, đã đấu tranh và chiến đấu, đã yêu thương,

đã sống một cuộc đời công dân và một cuộc đời riêng tư” [88,tr.31] Chính vì

vậy, thiên nhiên, cuộc sống, con người nơi mảnh đất kinh kì mộng và thơ này

đã đi vào trong các trang văn và thơ của ông một cách tự nhiên, hồn hậu nhưng cũng vô cùng sống động, chất Huế đã làm nên nét rất riêng cho ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

Xuất thân trong một gia đình chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho học, lớn lên ở mảnh đất kinh kì nơi ở của các bậc vua chúa – nơi Nho giáo phát triển

mạnh mẽ, nên Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của “mùi

Trang 17

hương sách vở của các Nho sĩ Trung Quốc với bộ văn phòng tứ bảo riêng, là bút nghiên, giấy mực” Nhưng thời đại mà ông sống lại là thời đại mà người

ta đã “vứt bút lông đi, dắt bút chì” (Tú Xương), tuổi trẻ của Hoàng Phủ Ngọc

Tường là tuổi trẻ học chữ quốc ngữ, đọc sách Tây, chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây… Những hiểu biết về văn hóa Đông, Tây đã tạo nên cho trang văn của ông sự thâm trầm, sức hấp dẫn đặc biệt

Cuộc đời Hoàng Phủ Ngọc Tường tiêu biểu cho cuộc đời của một người trí thức Việt luôn tranh đấu để vươn lên hướng đến cái Chân - Thiện -

Mĩ và có thể chia ra làm các giai đoạn như sau:

Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn khóa I ban Việt Hán năm 1960, nhận bằng cử nhân Triết Đại học Văn khoa Huế năm 1964 Dạy học ở trường Quốc học Huế từ 1960 đến 1966 Trong những năm sống dưới chế độ Mỹ - Diệm, ông hăng hái tham gia phong trào đấu tranh đòi hòa bình và thống nhất

Tổ quốc của học sinh, sinh viên và trí thức Huế, hòa mình vào cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Thời gian này, ông từng là Tổng thư ký Tổng hội sinh viên Huế, từng bị chính quyền bắt giam rồi thả tự do nhân vụ đảo chính tháng 11/1963 của quân đội Sài Gòn Từ năm 1964 đến năm 1966 ông tham gia phong trào chống Mỹ - Ngụy của Phật tử Huế, từng làm Chủ tịch lực

lượng giáo chức tranh đấu ở Huế, tham gia làm báo “Sinh viên Huế” và tạp chí “Việt Nam,Việt Nam” của phong trào đấu tranh Huế

Những 1966 – 1975 trước sự truy lùng gắt gao của kẻ thù, ông đã thoát

li lên chiến khu tiếp tục tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng các hoạt động văn nghệ và làm báo Thời gian này ông sáng tác không nhiều, ít được mọi người biết đến nhưng đây chính là những năm tháng gian lao vất vả, những tháng ngày phải gồng mình lên để chiến đấu và hướng đến ngày chiến thắng, những tháng ngày đó đã giúp ông có được những hiểu biết sâu sắc cùng vốn sống phong phú, dồi dào Chính vì vậy, chiến tranh là một trong những mảng đề tài được đánh giá cao trong những trang viết của ông

Trang 18

Sau 1975, đất nước được thống nhất, trở về với muôn mặt đời thường Hoàng Phủ Ngọc Tường lại hăng say sáng tác văn học và tham gia công tác quản lí tại Hội văn nghệ Thừa Thiên Huế và Quảng Trị, làm Tổng biên tập tạp

chí Sông Hương và sau đó là tạp chí Cửa Việt

Năm 1998, ông bị quật ngã bởi một cơn bạo bệnh, nhưng vượt lên tất

cả ông vẫn tiếp tục sống và viết, vẫn tiếp tục cho ra đời những tác phẩm ký có giá trị

1.2.2 Hành trình sáng tác

Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn tự nhận mình là “người ham chơi” vì theo ông “ham chơi là văn hóa gốc của người Việt” Chính quan niệm và lối

sống thú vị đó đã đem đến cho đời sự nghiệp viết ký phong phú, tài hoa

Những trang viết đầu tay của Hoàng Phủ Ngọc Tường không phải là ký

mà là truyện ngắn và tiểu thuyết Năm 1959, truyện ngắn Chuyện một người

đi qua sa mạc viết từ phong trào đấu tranh của học sinh viên và tiểu thuyết Cửa rừng ra đời sau đó ít năm đã báo hiệu sự có mặt của Hoàng Phủ Ngọc

Tường trên văn đàn nhưng không mấy thành công Phải đến năm 1971 với sự

ra đời của bút ký Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu thì tên tuổi của ông mới

được công chúng cả nước biết đến và nhà văn coi đây là tác phẩm “khai sinh”

cho sự nghiệp văn học của mình Ông từng tâm sự: “Bước ra khỏi cuộc chiến

tranh, tôi nghiệm ra một điều là tôi cần phải nói về những gì tôi đã trải nghiệm Tiểu thuyết và truyện ngắn có vẻ như không giúp được tôi làm điều này Thế là tôi chọn ký, thể loại gần nhất với hiện thực đời sống Với thể ký, tôi có thể nói tùy thích những gì đang diễn ra trong tâm hồn tôi, những trải nghiệm đẹp và cả những khổ đau nữa” [92] Đến với ký để phản ánh một

cách đầy đủ nhất, chân thực nhất sắc màu của cuộc sống, đây cũng là xu hướng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới Đối với Hoàng Phủ Ngọc Tường, có lẽ ngòi bút của ông hầu như chỉ dành riêng cho đất nước và con người Việt Nam Ta có thể bắt gặp mọi miền của Tổ quốc trong những trang

Trang 19

ký nồng nàn tình yêu quê hương, đất nước và con người của ông Đề tài của

ký thực sự rộng lớn, đi từ rừng hồi Lạng Sơn đến mảnh đất mũi Cà Mau, từ các nhân vật lịch sử như Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ… đến các nghệ sĩ như Trịnh Công Sơn, Phùng Quán… đều đi vào trang viết của ông

Là một người sinh ra và lớn lên ở Huế, nên Hoàng Phủ Ngọc Tường chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa và con người xứ Huế Do đó ông dành phần lớn những trang viết của mình để nói về thiên nhiên, con người Huế cũng như những truyền thống đặc sắc của chốn kinh kì xa xưa

Đọc văn ông, chúng ta không chỉ thâu nhận đời sống, lịch sử, văn hóa, triết học, kinh tế hay chính trị mà còn cảm nhận được cả một tình yêu lớn đối với con người, dân tộc, thời đại Ngay cả khi mắc trọng bệnh, nhưng với sự giúp đỡ của người thân, ông vẫn sáng tác, viết báo và cho xuất bản nhiều cuốn sách có giá trị

Trong suốt chặng đường viết văn của mình Hoàng Phủ Ngọc Tường đã xuất bản hàng chục tập bút ký, thơ, nhàn đàm

- Bút ký

Rất nhiều ánh lửa (1979)

Bản di chúc của cỏ lau (truyện ký, 1991)

Hoa trái quanh tôi, Huế di tích và con người (1995)

Ngọn núi ảo ảnh (1999)

Trong mắt tôi (2001)

Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của hoàng tử bé (2005)

Miền cỏ thơm (2007)

Trang 20

- Nhàn đàm

- Thơ

Những dấu chân qua thành phố (1976)

Ông đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng văn học cho những cống hiến của mình như:

- Giải văn học Bông sen trắng lần thứ nhất Hội văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên

- Giải thưởng văn xuôi của Hội nhà văn Việt Nam trao cho tập bút ký

Rất nhiều ánh lửa (1980)

- Giải thưởng văn học của ủy ban liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật

Việt Nam trao cho tập bút ký Ngọn núi ảo ảnh (2000)

- Giải thưởng văn xuôi của Hội nhà văn Việt Nam trao cho tập bút ký

Ngọc Tường sách Ngữ văn lớp 12 viết: “Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong

những nhà văn chuyên về bút ký Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học,

Trang 21

văn hóa, lịch sử, địa lí… Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.”

1.2.3 Quan niệm sáng tác

Trong sự nghiệp viết ký của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã đưa ra những quan điểm rất rõ ràng về thể loại văn học này để từ đó tìm ra đường hướng, bước đi trên con đường sáng tạo nghệ thuật Tìm hiểu quan niệm của ông về thể loại giúp chúng ta có được phương hướng để đi vào mở cánh cửa nghệ thuật trong các tác phẩm ký của nhà văn

1.2.3.1 Quan niệm của Hoàng Phủ Ngọc Tường về thể ký

Quan niệm của ông thường được bộc bạch như những lời tâm sự đầy tâm huyết Bởi vì, lí luận về thể loại của ông không phải là lí thuyết suông, đó là những gì ông đúc rút được bằng thực tế sống và sáng tác.Từ khi chưa phải là một nhà văn, khi tên tuổi chưa được biết đến nhiều, khi mới chỉ là một nhà báo tham gia kháng chiến, lăn lộn với thực tế khốc liệt của cuộc kháng chiến chống

Mỹ, Hoàng Phủ Ngọc Tường được nghe, nhìn, trải nghiệm thực tế, điều đó giúp ông nhanh chóng nhận ra sở trường sáng tác của mình và đến với thể ký Nhà văn kể lại rằng khi ông quyết định đến với thể ký thì thể loại này đang bị

“thất sủng” Trên văn đàn nhiều người chĩa mũi nhọn công kích với thái độ

xem thường ký, họ cho rằng “ký chỉ được xem là một loại thủ công nghiệp

mang tính chất gia công (…), là một sản phẩm văn học thứ cấp”, “không giàu truyền cảm và tính điển hình so với truyện ngắn và tiểu thuyết” [88,tr.163]

Nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bác bỏ những quan niệm sai trái đó, trong

bài viết Một vài suy nghĩ về thể ký ông đã chứng minh sức sống, vai trò của ký

trong lịch sử với các tác phẩm bất hủ: đầu tiên là Platon với Tê-ét – bút ký xuất hiện sớm nhất của Hi Lạp, rồi đến Tứ thư, Ngũ kinh của Mạnh Tử,

Luận ngữ của Khổng Tử, Sử ký của Tư Mã Thiên… Ở nước ta tác phẩm ký

xuất hiện từ thế kỉ XV với tác phẩm Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi, rồi đến các tác phẩm như Ô Châu cận lục của Dương văn An, Nam Triều công

Trang 22

nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô

gia văn phái… Tất cả đều là bằng chứng sinh động cho thấy “sức sống của

thể loại này trải qua cuộc hành trình nghìn năm của lịch sử văn học thế giới”

[88,tr.164] Tác giả tự hào nhận xét “tuổi của ký xem ra cũng đã già gần bằng

với thi ca” [88,tr.165] và tuyệt vời thay đến nay nó vẫn giữ được “sức trẻ trung, khỏe mạnh” Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng lí do khiến ký có được

sức sống trường tồn ấy là bởi “tự thân nó đáp ứng được yêu cầu bản chất nào

đó của nghệ thuật”

Khi đã chọn ký làm thể loại sáng tác chính cho sự nghiệp viết văn của

mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn tâm niệm “Bút ký là thể loại văn học đòi

hỏi được tường thuật lại thực tế đã xảy ra và rất gần với hiện thực đời sống”

và “Viết bút ký, muốn thành công thì phải viết cho thật Bút ký tính sự kiện rất

nặng”, bởi theo ông giá trị chính của ký là “chứa đựng tất cả sức nặng vật chất của các sự kiện được giữ lại từ trong cõi thực vốn là bản gốc của tác phẩm” [88,tr.171] - đó là sự thật của các sự kiện, là con người có thật và sự

thật của tâm hồn… Tức là nhà văn đã đi vào khẳng định đặc trưng quan trọng

nhất của kí là: ký lấy sự thật khách quan của đời sống và tính xác thực của

đối tượng làm cơ sở

Nhưng không chỉ đề cao chức năng thông báo của ký, mà Hoàng Phủ

Ngọc Tường còn khẳng định tính hư cấu trong ký Trong lịch sử phát triển

của thể ký, đã từng tồn tại nhiều quan niệm cho rằng ký không được hư cấu,

ký phải tuyệt đối trung thành với sự thật… Ngay cả B Pôlêvôi – nhà viết ký

tài ba người Xô Viết cũng từng cho rằng “Ký sự không được phép hư cấu”; nhà nghiên cứu Hoàng Như Mai thì nhấn mạnh “Tính chất của ký là xác thực

và người viết không được quyền hư cấu”… còn Hoàng Phủ Ngọc Tường từ

thực tiễn sáng tác của mình đã nhận thức rất rõ “hư cấu là một quá trình tất

yếu của nghệ thuật” và “hư cấu tồn tại trong ký như là một phẩm chất mỹ học, nhờ đó ký giữ vững tư cách văn học của mình” [88,tr.172] Bàn về vấn

Trang 23

đề này ông khẳng định việc chọn lọc các dữ liệu, yếu tố cũng xem như là một

sự sáng tạo cần thiết hay nói cách khác nó gồm một quá trình loại bỏ Trong

vô vàn những sự kiện, những va đập của cuộc sống xung quanh vào giác quan của nhà văn, để cho ra đời một tác phẩm ký là một chặng đường dài mà anh

cần “loại bỏ ra khỏi thực tại những gì bị xem là thừa thãi” Đây là công việc,

là thao tác tư duy, trí tuệ không kém phần vất vả, sáng tạo Nhưng bên cạnh

đó, quá trình viết ký không thể thiếu yếu tố “hư cấu- thêm” Hư cấu sẽ giúp

cho nhà văn có thể mở rộng khoảng không gian tự do để thoải mái, tự nhiên bộc lộ cảm xúc, tư tưởng, tâm trạng của mình dù trước những vấn đề mang tính khách quan khoa học Hư cấu nằm trong chính cảm xúc tưởng tượng, liên tưởng, hồi ức, suy nghiệm… của người viết ký Các tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chứng minh tính đứng đắn của quan niệm này vì trước mọi vấn đề, sự kiện ông cũng không bị bó buộc bởi bất cứ điều kiện, tính chất

gì của ký nói chung và các sự kiện ấy nói riêng Với cách xưng hô quen thuộc

ở ngôi thứ nhất “tôi”, nhà văn đã để mình phiêu du đến góc bể chân trời, trải

qua những hành trình dài để đi tìm cái Đẹp trong một thế giới vô tận Dung hòa cho tất cả những thắc mắc, trăn trở khi quan niệm về tính chất hư cấu của

thể ký, nhà văn khẳng định: “Qua vai trò trung gian của chủ thể, nhà văn

thường tìm cách nối liền thế giới bên ngoài và thế giới bên trong thầm kín của mình, bổ sung vào những dữ kiện của thực tại bằng những dữ kiện của nội tâm (tưởng tượng, xúc cảm, hoài niệm, suy nghiệm…), gắn liền cái hư với cái thực trong một thể thống nhất” [88,tr175]

Từ đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ

buộc mình phải hướng tới Theo ông, người viết ký trước hết phải biết “tôn

trọng sự - kiện – tính của những gì đã xảy ra”, phải “tự đặt mình trước những

kỷ luật nghề nghiệp rất khắt khe; phong phú trong tư liệu, chính xác trong hiểu biết và trung thực trong tất cả những gì được rút ra từ thế giới nội tâm của người viết” [88, tr.171] Bằng kinh nghiệm của người viết ký, Hoàng Phủ

Trang 24

Ngọc Tường chia sẻ “cái nghề viết ký nó thật vất vả”, vì để có được một trang

ký mang tính xác thực thì người viết ký phải đi đến tận nơi để quan sát, tìm

hiểu “không đi đến tận thực tế thì không thể viết được mà đừng nên viết”

[88,tr177]… Tuy nhiên với Hoàng Phủ Ngọc Tường điều quan trọng nhất là

“trước khi chảy qua ngòi bút, những điều ấy đã chảy qua trái tim anh như

một dòng máu chưa?” [88,tr.177] Đây là một câu hỏi nhưng cũng là lời tổng

kết ngắn gọn mà sâu sắc, thấm thía của nhà văn bởi nó xuất phát từ cái tâm, từ tấm lòng của một con người – một nghệ sĩ đầy trách nhiệm trước văn học, trước cuộc đời

Như vậy, có thể nói những quan niệm của Hoàng Phủ Ngọc Tường về thể ký nói riêng, văn học nói chung là sự chắt lắng của cả một đời cầm bút Ông đã hướng suy nghĩ của mình vào những vấn đề mấu chốt của thể ký, nhất

là những vấn đề còn nhiều tranh luận để bày tỏ quan niệm riêng với những kiến giải hợp lí Tìm hiểu để hiểu rõ quan niệm của Hoàng Phủ Ngọc Tường

về thể ký chính là người viết muốn mở ra cho mình một con đường để đi vào tìm hiểu cõi nghệ thuật của nhà văn

1.2.3.2 Quan niệm của Hoàng Phủ Ngọc Tường về đời sống xã hội và con người

Quan niệm nghệ thuật của nhà văn về thế giới, chính là cách cảm thụ và

cắt nghĩa về xã hội và con người trong tác phẩm Quan niệm này vừa là “hình

thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống”, lại vừa là “hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật”, “góp phần làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật” [20,tr.230]

Mỗi nhà văn đều tạo cho mình một thế giới riêng để “vẫy vùng” và để thể hiện những nét tài hoa qua ngọn bút Đến với những trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta sẽ thấy quan niệm nghệ thuật về đời sống xã hội và con người được thể hiện đậm nét dưới nhiều cách nhìn, cách tiếp cận khác nhau của tác giả Lí giải được quan niệm về đời sống xã hội và con người của

Trang 25

Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ là một trong những chìa khóa quan trọng trong việc giải mã những đặc điểm nghệ thuật trong ký của ông

Tuy quê gốc của Hoàng Phủ Ngọc Tường thuộc tỉnh Quảng Trị nhưng ông lại được sinh ra và lớn lên tại Huế Huế mộng, Huế thơ từ lâu đã là cái nôi của các danh nhân, nghệ sĩ Chính mảnh đất này đã nuôi dưỡng và hun đúc cho tâm hồn nghệ sĩ của Hoàng Phủ Ngọc Tường ngay từ thuở ấu thơ Vì vậy nên chúng ta không hề ngạc nhiên khi Huế trở thành đề tài trọng tâm trong văn nghiệp của ông suốt mấy chục năm qua Nói như vậy không có nghĩa là Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ thành công khi viết về Huế mà nhà văn viết về nhiều vấn đề và ở nhiều miền đất khác nhau, đã đặt chân đến đâu là ông đều có tác phẩm về nơi đó Nhưng điều quan trọng là trong sáng tác của mình ông luôn ý thức khai thác và tái hiện lại vấn đề bằng tâm thức văn hóa

dân tộc Nhà văn Ma văn Kháng đã từng phát biểu trong phim tài liệu Miền

cỏ thơm dâng hiến: “Văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường viết bằng chiều

sâu văn hóa, bằng những cảm hứng nhân văn”; Phạm Xuân Nguyên thì cho

rằng: “Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là từ thực tế thoát ra khỏi thực tế, sau khi

ngoảnh vào lịch sử văn hóa hiện trở ra đời” [87,tr.856] Đúng như vậy,

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bằng “tâm thức văn hóa” để nhìn nhận về cuộc sống và con người, điều này đã tạo nên chiều sâu, nét độc đáo riêng cho những trang ký của ông

Đọc Hoàng Phủ Ngọc Tường đâu đâu ta cũng gặp một tâm hồn luôn thiết tha với đất nước và dân tộc Những tình cảm sâu xa nhất của tác giả về đất nước, về dân tộc, về cuộc sống được biểu hiện ngay từ những tựa đề đầy

sức gợi cảm và lay động: Như con sông từ nguồn ra biển, Châu thổ ngàn

năm, Đứa con phù sa, Đất mũi, Rừng nước mặn… Từ đỉnh Chi Ma địa đầu

đất nước đến tận cùng đất mũi Cà Mau, từ những dòng sông cuồn cuộn phù sa

ẩn chứa sức mạnh ngàn năm của châu thổ sông Hồng đến những ngọn núi trầm mặc thời gian… tất cả đều cùng nhau tạo nên dáng hình đất nước

Trang 26

Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, phải nói là ông đã từ Huế mà nhìn ra cả nước Đó là cái nhìn được soi rọi qua một tâm hồn Huế Mỗi vùng đất đai thường đem lại cho tâm hồn Hoàng Phủ Ngọc Tường những khám phá mới

mẻ trong những liên hệ đã ràng buộc nó với mạch nguồn đất nước Ông khẳng

định: “Trong tâm hồn mỗi người có những miền đất đai thật kì lạ Ta chưa hề

sống ở đó một ngày, nhưng từ bao giờ, nó đã da diết trong ta bằng tiếng gọi của quê hương yêu dấu, và hình như nó vẫn không ngừng làm sinh sôi những hoa trái của tâm hồn bằng những phù sa xa xôi của nó” [87,tr,39] Châu thổ

sông Hồng chính là “miền đất đai thật kì lạ” đó, hiện diện trong tâm hồn thơ

ấu của Hoàng Phủ Ngọc Tường bằng dáng hình của một con đê thật kì vĩ Trong sâu xa của tâm hồn mình, mỗi người luôn hướng vọng về cội nguồn dân tộc và những cuộc trường kì gian khổ đấu tranh cho lẽ sống còn Chính vì thế, những năm ở Trường Sơn, dù chưa bao giờ nhìn thấy những dòng sông miền Bắc, nhưng trong lòng Hoàng Phủ Ngọc Tường, nỗi buồn vui vẫn phập phồng theo con nước sông Hồng trong suốt những mùa lũ và những chiến

công bảo vệ đê trên vùng châu thổ bao la ấy Về với Cà Mau “vốc từng nắm

bùn mới sinh dưới chân ngọn triều”, “nghe chất phù xa ướt nhão ấy rung động trong tay như một mẩu thịt da mới mọc”, Hoàng Phủ Ngọc Tường sung

sướng được sống trong cảm giác sung mãn, thấy sức sống của mình “tiếp tục

lớn lên như một gã trai bước vào tuổi trưởng thành” (Rừng nước mặn) Tâm

hồn ông hòa nhập cùng sông nước để nghe âm vang tiếng mái chèo khua mặt nước, nghe xao xuyến chất bưng biền Nam Bộ mà ngỡ như dưới lớp mỡ màu phù sa châu thổ, một mẩu nhau rốn sơ sinh của mình đã được cưu mang… Rất nhiều, rất nhiều vùng đất khác nhau trên cả nước đã được Hoàng Phủ Ngọc Tường hướng đến bằng một tâm thức đậm chất văn hóa như vậy Đó có thể là Lạng Sơn, là xứ Thậm Thình, là Côn Sơn, là vùng Gò Nổi đất học, là quê hương đại thi hào Nguyễn Du, quê hương cụ Nguyễn Công Trứ… và đặc

biệt là xứ Huế thân thương nơi ông đã sinh ra và lớn lên Ông hiểu rằng “chỉ

Trang 27

có thể nhận ra diện mạo của Huế đích thực bằng tâm thức Cái có thể nhìn

bằng tâm thức đó chính là văn hóa” (Di tích và con người) Tâm thức văn

hóa gắn chặt với kí ức, thói quen, tập tính của con người do văn hóa tạo ra và

có ý nghĩa cộng đồng Viết về xứ Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường hay hướng đến các vấn đề như thiên nhiên, ẩm thực và con người Hoàng Phủ Ngọc

Tường rất có lí khi nhấn mạnh “nếu chỉ chú ý về cái nghèo thì không thể nhìn

thấy Huế” (Mấy đặc trưng của “văn hóa ăn” vùng Huế)

Quả thực, hiện thực trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện lên hết sức

đa dạng và được triển khai thật rành mạch qua cái nhìn đậm chất văn hóa Bằng tâm thức văn hóa, Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ viết về các nét đặc sắc ở từng vùng miền trên cả nước mà ông còn chú ý khắc họa lại tên tuổi lẫy lừng của các vị anh hùng dân tộc Đứng trên quan điểm văn hóa nhìn qua

mẫu người, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã “chiêm ngưỡng” các vị anh hùng dân

tộc, phát hiện những sức mạnh, giá trị làm nên sức sống vĩnh hằng của họ trong lịch sử dân tộc Lịch sử luôn vận động và biến đổi, đặt con người trước những suy nghĩ, lựa chọn Sự lựa chọn của con người trước lịch sử thực chất

là một cách ứng xử văn hóa với xã hội, với chính mình

Trong suy nghiệm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, cuộc đời của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi từ lúc tìm đường rồi tham gia vào cuộc kháng chiến chống giặc Minh… đều là kết quả của sự tìm kiếm từ trong thực tế của đất nước, nhân dân Khởi nghĩa Lam Sơn là một tất yếu lịch sử nên quyết định đến với cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trãi là một định hướng chính xác, thể hiện một sức suy nghĩ, một tầm nhìn xuyên thấu lịch sử Sự lựa chọn của Nguyễn Trãi trong

mỗi thời điểm mang ý nghĩa quyết định “không phải là một tình cờ lịch sử” mà

là một sự lựa chọn đầy quyết tâm và bản lĩnh Nguyễn Trãi đã vượt qua thời đại

mình bằng sự giải quyết vấn đề “khủng hoảng về đường lối đánh giặc, cứu nước

của toàn bộ phong trào kháng Minh vào đầu thế kỉ XV và làm đổi mới số phận của người Việt” Viết về Nguyễn Trãi với những trăn trở và những lựa chọn của

Trang 28

ông trước bước ngoặt của thời đại, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã suy ngẫm,

phán đoán và đi tới một kết luận hết sức mới mẻ: “Nguyễn Trãi là một thiên

tài định hướng” và “như một biệt lệ lịch sử”, ông “luôn luôn chọn đúng

hướng” (Nguyễn Trãi trước ngã ba thời đại)

Viết về Nguyễn Huệ với cái tâm nhân nghĩa, Hoàng Phủ Ngọc Tường

tập trung sự chú ý của mình vào quyết tâm “dìu dắt dân vào con đường lớn,

đưa dân lên cõi đài xuân” và thái độ “quên đi sức mạnh sấm sét của mình để

sống với người tài bằng quả tim lớn” của Nguyễn Huệ (Nguyễn Huệ với

chiến lược con người) Bằng sự am hiểu về văn hóa, Hoàng Phủ Ngọc Tường

đã thấu suốt những vang động của văn trị, đức trị, lòng người trong sâu

thẳm bản chất minh tuệ của vị anh hùng mang “sức mạnh nội lực hấp thụ từ

nhân dân” Nguyễn Huệ đã mang cái tâm nhân nghĩa của mình để đi hết hành

trình giải phóng và xây dựng đất nước Cuộc chinh phục của Nguyễn Huệ đối với tầng lớp trí thức Bắc Hà được Hoàng Phủ Ngọc Tường xem như một biểu hiện của niềm tin sâu thẳm, mãnh liệt vào con người được đảm bảo, che chắn bằng tinh thần yêu nước và tư tưởng nhân đạo rất đỗi Việt Nam

Bên cạnh việc ca ngợi cống hiến của các vị anh hùng dân tộc, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng tìm ra được những ý nghĩa thú vị không lặp lại ở họ Chẳng hạn, ở Lí Thường Kiệt là sức gánh vác tận tụy, ở Trần Hưng Đạo là lòng hòa ái vì nghĩa lớn, ở Lê Lợi là sự bền chí không lùi bước Cũng như thế, Nguyễn Công Trứ độc đáo ở nét lẫm liệt của một người thực sự lớn về đức

độ, về sự học, về sự làm, về sự chơi; Đào Duy Từ tuy xuất thân từ kẻ giữ trâu

ở thôn Tùng Châu - Bình Định nhưng lại thực sự có tài và được tiến cử, đặc biệt là có tư thế của kẻ sĩ để đối diện với vương quyền… những mẫu người này khi đi vào ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đều được soi rọi bằng một tâm thức văn hóa dân tộc một cách mạnh mẽ và sâu sắc

Những miền đất khác nhau trên cả nước, những vị anh hùng dân tộc hiện lên qua ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường thật đẹp và sinh

Trang 29

động Nhà văn không chỉ dừng lại ở mức độ phản ánh mà ông còn có những khám phá mới mẻ trong cách nhìn, cách nghĩ đậm chất nhân văn Chính quan niệm như thế đã giúp các trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường có một sức lan tỏa rộng trong lòng người đọc

Một trong những nét đặc sắc trong quan niệm sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là ông ít khi khai thác đối tượng ở trạng thái tĩnh mà thường đặt đối tượng trong tiến trình đầy biến động Chính trong cuộc đời riêng, trong thời đại nhà văn sống và cống hiến cũng đầy biến động

Gắn bó lâu đời với Huế, mảnh đất cố đô giàu truyền thống, nơi các tư tưởng Nho giáo, Phật giáo còn in sâu đậm trong đời sống của con người, hơn nữa lại được trang bị vốn kiến thức khá đầy đặn về văn hóa, văn học, triết học, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã sớm định hình cho mình một lẽ sống và hành động riêng Tình yêu đất nước, dân tộc đã giúp Hoàng Phủ Ngọc Tường hiểu

rõ bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra trên quê hương mình Ông đã sớm đến với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với

một niềm tin không thay đổi được sản sinh từ những “suy ngẫm thấu suốt mọi

lẽ về số phận nhân dân và những nguyên tắc thuộc về chân lí lịch sử” (Bản di

chúc của cỏ lau)

Hiện thực chiến tranh là một trong những đề tài lớn của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường Mảnh đất miền Trung, nơi Hoàng Phủ Ngọc Tường từng sống

và chiến đấu hiện lên trong trang viết của ông bằng tất cả những đau thương,

bi tráng và tự hào Sau những đợt càn quét của giặc “tất cả chỉ còn là một

mảnh đất trắng trơ trụi cho đến một con kiến cũng có thể nhìn thấy dưới ánh

sáng đèn pha của tàu soi ban đêm” (Vành đai trong lửa) Dường như tất cả

đều đã biến mất như thể “Gò Nổi chưa từng biết đến một quá khứ nhân văn

nào hết”(Đứa con phù sa) Vượt lên tất cả đau thương, sức mạnh dân tộc,

ánh sáng của lòng yêu nước vẫn được nuôi dưỡng và bảo vệ Chiến đấu và hi

sinh cho tổ quốc đã trở thành “nhật lệnh của lương tâm nhân dân”(Vành đai

Trang 30

trong lửa), là danh dự của mỗi người “trong mối quan hệ thầm kín của lương

tâm đối diện với đất nước” (Cồn Cỏ ngày thường) Lương tâm ấy chính là

lòng yêu nước, là niềm tin và trách nhiệm cao cả của những người Việt Nam chân chính trong cuộc chiến chống ngoại xâm

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tái hiện và cảm nhận không gian sống ác liệt, bi tráng như huyền thoại của người dân Vĩnh Linh - Quảng Trị trên con đường “tiếp máu” cho đảo Cồn Cỏ trong những năm tháng chiến tranh Ông khám phá giữa sóng nước, bão gió và bom đạn ác liệt hình ảnh những người dân biển bình dị mà vĩ đại đang sống, chiến đấu bằng danh dự, lương tâm của mình Ngay tại mảnh đất da thịt của Trường Sơn nằm giữa biển khơi, Hoàng Phủ Ngọc Tường như thấu suốt ý thức đánh giặc giữ nước của dân tộc trong cuộc chiến tranh nhân dân Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết những dòng thật chân thực, đầy cảm xúc về sự lẫm liệt và bi tráng của tinh thần quyết tử cho tổ

quốc quyết sinh trong những con người Vĩnh Linh: “Đã có những con thuyền

ra khơi từ lúc chiều tối để sáng hôm sau không trở về bến Nhưng cứ đúng giờ thì mỗi gia đình lại vẫn có người tiếp tục xuống thuyền, đủ quân số; anh chết thì em đi, em ba, em tư, sau cùng là bố già; chỉ cất lên một câu hò tạ từ rồi

nắm lấy tay chèo, khẳng khái ra đi như đất nước thời cổ”(Cồn Cỏ ngày

thường)…

Tâm thức văn hóa dân tộc đã giúp Hoàng Phủ Ngọc Tường nhìn cuộc chiến tranh bằng con mắt sắc sảo, biện chứng, đậm chất nhân văn Những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm là biểu hiện tự hào của truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc, ý thức cộng đồng được nuôi dưỡng từ bao đời trong lòng người Việt Song, chiến tranh là sự bất thường của cuộc sống Sự thể hiện của nó ảnh hưởng đến mỗi số phận con người Bằng cách nhìn ấy ông đã miêu tả số phận con người trong chiến tranh từ nhiều chiến tuyến khác nhau

“Chiến tranh là một cái gì thật cay đắng, tàn bạo và vô cùng mỉa mai; rất

nhiều khi chẳng ai muốn, chẳng một bên nào muốn, ấy vậy mà nó cứ phải là

Trang 31

chiến tranh! ” Đêm xem cải lương ở vùng giáp ranh Cửa Việt đã để lại trong

Hoàng Phủ Ngọc Tường một nỗi xao xuyến về tâm hồn của những khán giả mặc áo lính ở hai phía đối nghịch Trong khoảnh khắc hòa bình của cuộc chiến đẫm máu còn kéo dài, Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận sâu sắc những ước mơ chất phác, nhân hậu về cuộc đời của những người lính trận Dù là

những chiến sĩ giải phóng hay lính thủy quân lục chiến, họ “đều là người Việt,

ra đi từ những ngôi làng Việt” (“Dệt Gấm” với thủy quân lục chiến ở Cửa

Việt), mang trong trái tim mình nỗi khát khao thành khẩn yêu thương và khát

vọng sống của loài người

Bên cạnh những trang ký hướng về các miền đất khác nhau của Tổ quốc, hướng đến các vị anh hùng trong lịch sử dân tộc và hướng đến hiện thực của cuộc chiến tranh chống Mỹ, đọc Hoàng Phủ Ngọc Tường ta gặp một gương mặt nguời cầm bút với những suy tư, trăn trở đầy trách nhiệm trong hàng trăm việc lớn nhỏ cần phải được “đổi mới tư duy” Do vậy, những con

người đi đầu trong phong trào cải tạo cuộc sống mới như A Sao trong Đời

rừng, Sơn trong Chế ngự cát, Thi trong Rất nhiều ánh lửa, Ngọc trong Khái niệm Lê Minh Ngọc, nicô Minh Tú trong Tấm lòng ni cô… chiếm một vị trí

không nhỏ trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường Ngoài việc chọn viết về những tấm gương đi đầu các phong trào, Hoàng Phủ Ngọc Tường như người đa sự, nhìn đâu đâu cũng thấy có vấn đề cần giải quyết cấp bách, và ông thường viết bằng lời của lửa - ngọn lửa xây dựng, cháy bỏng gay gắt Vấn đề nhìn nhận trở lại công lao của một số vị chúa và vua triều Nguyễn, vần đề chính sách người có công với cách mạng, vấn đề Huế - di sản văn hóa thế giới, vấn đề bảo vệ môi trường, vấn đề đào tạo và sử dụng nhân tài… Những đề xuất của Hoàng Phủ Ngọc Tường đều mang tính văn hóa và được nhìn trên bình diện văn hóa

Là một trí thức, hơn ai hết Hoàng Phủ Ngọc Tường hiểu được rằng văn hóa có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nên nhân cách thế hệ trẻ Bất cứ

Trang 32

vấn đề nào khi đi vào tác phẩm của ông cũng được soi rọi, đánh giá dưới góc

độ văn hóa cụ thể Nghiên cứu tác phẩm của ông điều dễ nhận thấy nhất đó cũng chính là chất văn hóa ấy được hiện lên đầy tinh thần trách nhiệm qua từng trang viết Với quan niệm về thế giới có sức hàm chứa hết sức đa dạng, phong phú về hiện thực và con người như vậy đã giúp các tác phẩm của ông không những tạo được nét độc đáo riêng mà còn có sức lan tỏa rộng và mang tính nhân văn phổ quát

Như vậy, đi dọc theo chiều dài đất nước; lăn lộn trên các mặt trận ác liệt trong chiến tranh; mạnh mẽ, dũng cảm trên mặt trận đổi mới thời bình, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có những trang văn phản ánh chân thực, sinh động hiện thực đời sống xã hội: từ hành trình chinh chiến đến hòa bình xây dựng, hàn gắn vết thương chiến tranh và những vấn đề bức xúc thời hiện đại Ông đã không ngại kể ra những đau thương mất mát và đôi khi là cả những con số trần trụi để tố cáo kẻ thù nhưng những trang ký chiến tranh của ông vẫn lấp lánh niềm tin vào ngày chiến thắng Ra khỏi cuộc chiến, mải đi mải viết, viết thật nhiều nhưng ông luôn tự cảm thấy mình mắc nợ cuộc sống Chính vì vậy, Hoàng Phủ Ngọc Tường với cây bút, với những trang ký chân thực đã dũng cảm, phản ánh, phơi bày muôn mặt ngổn ngang, muôn chuyện “chướng tai gai mắt” của thời thế Đó là những bài ký viết về mặt trái xã hội thể hiện tinh thần dũng cảm và nhân cách của tác giả trong cuộc sống thời bình

Với tâm thế của một người công dân yêu quê hương, đất nước, yêu con người Việt Nam đến cháy bỏng, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thể hiện rõ quan niệm về con người của mình qua những trang ký viết về con người Việt Nam trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm cũng như xây dựng đất nước giàu mạnh Đó là niềm tin của ông vào những con người nhỏ bé, bình dị nhưng luôn tiềm ẩn sức mạnh là lòng yêu nước; niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn của con người và sự lựa chọn thái độ sống đứng đắn của người trí thức Việt Nam trước những bước ngoặt của lịch sử

Trang 33

Chương 2 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG KÝ

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 2.1 Khái lược về hình tượng, nhân vật

2.1.1 Khái lược về hình tượng nghệ thuật

Khi nói tới hình tượng nghệ thuật, các nhà nghiên cứu lí luận phê bình

văn học đều khẳng định “hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của các phương

thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của nghệ thuật”

[20,tr.122] Trong các tác phẩm nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật được hiểu

chính là “các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo

trong các tác phẩm nghệ thuật(…) Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận Nhưng nói tới hình tượng nghệ thuật người ta thường nghĩ tới hình tượng con người, bao gồm cả hình tượng một tập thể người (như hình tượng nhân dân hoặc hình tượng Tổ quốc) với những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú” [20,tr123]

Tức là người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình giúp con người thể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màu muôn

vẻ của bản thân và thế giới xung quanh Nhưng khác với các nhà khoa học, nghệ sĩ không diễn đạt trực tiếp ý nghĩ và tình cảm bằng khái niệm trừu tượng, bằng định lí, công thức mà bằng hình tượng, nghĩa là bằng cách làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng đáng làm ta suy nghĩ về tính cách và số phận, về tình đời tình người

Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống nhưng không phải sao chép y nguyên những hiện tượng có thật mà tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của người nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại được ấn tượng sâu sắc từng làm cho nghệ sĩ day dứt trăn trở cho người khác

Trang 34

Mỗi loại hình nghệ thuật lại sử dụng một loại chất liệu riêng để xây dựng hình tượng Chất liệu của hội họa là đường nét, màu sắc; với kiến trúc là hình khối; với âm nhạc lại là các giai điệu, âm thanh… còn văn học lấy ngôn

từ làm chất liệu để xây nên các hình tượng nghệ thuật

2.1.2 Khái lược về nhân vật văn học và sự phân loại nhân vật theo cấu trúc hình tượng

Nói đến “nhân vật văn học là nói đến con người cụ thể được miêu tả,

thể hiện trong tác phẩm văn học” [32,tr.202] Đó có thể là những nhân vật có

tên như Tấm, Cám (Tấm Cám), Thúy Kiều, Kim Trọng (Truyện Kiều – Nguyễn Du), Tào Tháo, Lưu Bị (Tam quốc diễn nghĩa – La Quán Trung)… cũng có thể không có tên riêng như thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện

Kiều… Nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau nhất

Đó có thể là một người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, tiểu sử như thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch Đó có thể là người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật trần thuật hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình… Khái niệm nhân vật cũng có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Ví dụ, nhân dân là nhân vật chính trong

Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, những người lính là nhân vật chính

trong Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, chiếc quan tài là nhân vật trong truyện Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan… nhưng chủ yếu

vẫn là chỉ hình tượng con người trong tác phẩm

Văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Nhân vật văn học là nơi nhà văn thể hiện quan niệm về con người, nơi tập trung khái quát về hiện thực đời sống, nơi nhà văn thể hiện tư tưởng và nghệ thuật

Từ những góc độ khác nhau người ta có thể phân loại nhân vật văn học

Trang 35

theo cấu trúc hình tượng thành nhiều kiểu loại khác nhau Dựa vào cấu trúc

hình tượng, nhân vật được chia thành: nhân vật chức năng, nhân vật loại

hình, nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách

2.2 Các loại hình tượng, nhân vật trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trong các trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường ta thường bắt gặp kiểu

nhân vật văn học được phân loại theo cấu trúc hình tượng Hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm có thể là những con người hay là một hiện tượng nổi bật như thiên nhiên Đó có thể là những nhân vật thể hiện tập trung một loại phẩm chất, tính cách nào đó của con người hoặc các phẩm chất, tính cách, đạo đức của một loại người nhất định của một thời đại chẳng hạn như nhân vật

Bình hay Hoàng trong Bản di chúc của cỏ lau… hay cũng có thể là một hiện

tượng nổi bật như hình tượng sông Hương, cảnh vật xứ Huế… Các hình tượng, nhân vật này chính là nơi Hoàng Phủ Ngọc Tường tập trung khái quát hiện thực đời sống và gửi gắm những quan niệm về con người, về nghệ thuật của mình

2.2.1 Hình tượng con người

2.2.1.1 Hình tượng cái tôi tác giả

Ở bất kì thể loại văn học nào, tự sự, trữ tình, hay kịch chủ thể sáng tạo bao giờ cũng xuất hiện, dù có thể là đậm nhạt khác nhau Với trí tưởng tượng phong phú, khả năng lựa chọn đề tài, chủ đề, sự vận dụng kéo léo các thủ pháp nghệ thuật và ngôn từ… người nghệ sĩ đã sáng tạo ra tác phẩm nghệ

thuật để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình Do vậy, “Tác phẩm là sự kết

tinh quá trình tư duy nghệ thuật của tác giả, biến những biểu tượng, ý nghĩ, cảm xúc bên trong của nhà văn thành một sự thực văn hóa, xã hội khách quan cho mọi người soi ngắm suy nghĩ” [32,tr.241] Dấu ấn của chủ thể sáng tạo để

lại trong tác phẩm văn học thể hiện rất rõ nét ở hình tượng tác giả

Theo các nhà nghiên cứu thì “Hình tượng tác giả là phạm trù thể hiện

cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong

Trang 36

tác phẩm, một vai trò được người đọc chờ đợi(…) Cơ sở tâm lý của hình tượng tác giả là hình tượng cái tôi trong nhân cách của mỗi người thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật hình tượng tác giả trong văn học chính là chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: văn bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời nói của người trần thuật, người kể chuyện, hoặc nhân vật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra hình tượng người phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định” [20,tr.125]

Hình tượng tác giả cũng là một hình tượng được sáng tạo ra trong các

tác phẩm như hình tượng, nhân vật nhưng theo nguyên tắc khác: “Nếu hình

tượng, nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, được miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con người và theo tính cách nhân vật, thì hình tượng tác giả được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mĩ đối với thế giới nhân vật” [55] Mỗi thể loại văn học, hình tượng tác

giả lại có sự biểu hiện khác nhau, “nếu đọc truyện thường là người ta quên đi

sự có mặt ở tác giả, thì khi đọc ký người ta luôn thấy vai trò của tác giả” [20]

Ở thể ký, tác giả là người trực tiếp tham gia vào thế giới hình tượng nghệ thuật của tác phẩm, phát huy khả năng quan sát, tưởng tượng kết nối các chi tiết, sự kiện, trực tiếp bày tỏ tư tưởng tình cảm của mình để người đọc cảm nhận cuộc sống theo định hướng nào đó Chính vì lẽ đó người kể chuyện trong ký thường lộ diện trực tiếp trong hình thức người kể chuyện xưng “tôi” như cách mà Vũ Bằng, Nguyễn Tuân và nhiều nhà viết ký khác vẫn dùng:

“Nhưng hỡi ai ở đất lạ đã có lần đặt chân lên đất Bắc Việt, có thể cho tôi biết

tại sao Bắc Việt nghèo như thế mà người xa phần tử vẫn thương, vẫn nhớ,

vẫn yêu, vẫn quý”(Thương nhớ mười hai- Vũ Bằng), “Ở đây tôi ghi lại một

số xúc cảm của tôi về xòe” (Xòe – Nguyễn Tuân), hay “Đêm nay là một đêm chuẩn bị, ngày mai chúng tôi sẽ lên đường” (Đường chúng ta đi – Nguyễn

Trung Thành)…

Trang 37

Đến với ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta bắt gặp hầu như trong các trang ký một nhân vật xưng “tôi” Nhân vật “tôi” ấy là sự hóa thân của hình

tượng tác giả hay chính là cái tôi nhập vai của nhà văn Bằng cái tôi đó, nhà văn đã trình bày những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội, con người: những gì nhà văn đã thấy, đã trải qua, đã cảm nhận bằng cả trái tim

của mình

Hiện lên trên những trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường trước hết đó

là cái tôi công dân giàu lòng yêu nước, trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh

chống giặc ngoại xâm và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước; cũng là một cái tôi đầy trăn trở với những vấn đề thời sự nóng hổi đáng báo động – cái tôi đầy ý thức trách nhiệm với quê hương xứ sở, với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc - một thái độ “nhập cuộc” tích cực

Rời bục giảng, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã hòa mình vào cuộc kháng

chiến của dân tộc, nhà văn đã lấy máu “làm mực”, “trải đời”, “làm giấy” để

viết nên những trang sử bằng văn, đồng thời cũng thể hiện những cảm xúc chân thành của cái tôi trực tiếp tham gia vào công cuộc kháng chiến ấy Tội

ác của đế quốc Mỹ đến nay vẫn để lại nỗi đau cho đất nước và con người Việt Nam Tội ác đó được ghi lại trong nhiều tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường bằng giọng văn đầy đanh thép xen lẫn sự xót xa của một cái tôi công

dân giàu lòng yêu nước như: Hành lang của người và gió, Đánh giặc trên

hàng rào điện tử, Vành đai trong lửa, Miếng trầu đỏ, Bản di chúc của cỏ lau, Đất Mũi… Nhà văn xót xa, căm phẫn khi đặt chân đến đâu cảnh “Cuộc

tàn sát diễn ra khắp nơi, ác liệt khẩn trương, như thể bọn chúng tranh thủ thời giờ để giết người” [87,tr.476], “Ở Cồn Tiên, trên diện tích hai trăm héc

ta được giải phóng, đã thu hồi 62.425 quả mìn và với một trăm ba chục héc ta của Dốc Miếu, con số là 75.000 quả” [87, tr.232] Nhà văn hơn ai hết chính là

người thư kí trung thành của thời đại, chính vì vậy Hoàng Phủ Ngọc Tường không ngại kể ra những mất mát đau thương đôi khi là cả những con số trần

Trang 38

trụi để tố cáo kẻ thù Đọc ký chiến tranh của ông, ta mãi ám ảnh với những

hình ảnh “Hoàng nằm sõng soài trên sạp, máu từ bụng chảy ra đọng một đám

đen cạnh hông, cánh tay bên trái đã cụt mất phần trước khuỷu, với ống tay bị

xé mướp, thi thể của Hoàng nghe đã nặng mùi” [87,tr601], hay hình ảnh

“Chúng nó đánh đập, tra tấn chị hết sức đau đớn, cuối cùng nó mổ bụng moi

gan chị, chị nhìn thấy hòn mật của mình ngay trước mắt, vẫn cắn răng không

hé nửa tiếng, lặng lẽ hi sinh” [87,tr.503]… những hình ảnh đầy đau thương,

mất mát nhưng vô cùng anh dũng của những con người Việt Nam trong chiến

tranh Từ những hình ảnh này nhà văn bật ra những suy tư “Có một thời kì lạ

như vậy, Tổ quốc đã tạo ra nhân cách lớn lao cho những người con của mình, ngang tầm với những vị thánh” [87,tr.604] Những suy tư của nhà văn cho ta

thấy một các tôi công dân yêu tha thiết quê hương xứ sở và luôn tự hào về những con người trên mảnh đất ấy

Ra khỏi cuộc chiến tranh, cái tôi ấy mải miết đi và viết, viết thật nhiều

nhưng lúc nào cũng cảm thấy mắc nợ cuộc sống “Một nhà văn trong thời đại

tôi, tôi tạm định nghĩa, là một tay Chúa Chổm mang nợ đất nước của mình cho đến chết”[87,tr.428] Bởi không còn đổ máu của chiến tranh nhưng đời

thường lại có những nỗi đau khác Đó là những vấn đề tiêu cực, nhức nhối, bức xúc trong cuộc sống hành ngày Với cái tôi công dân “nhập thế” tích cực, đầy trách nhiệm với đời Hoàng Phủ Ngọc Tường lại lên đường dùng ngọn bút làm vũ khí để phơi bày muôn chuyện “chướng tai gai mắt” của thời thế Giọng văn của ông ở những trang viết này đầy trăn trở, suy tư, thậm chí có cả

sự đau đớn Ông băn khoăn, lo lắng cho văn hóa dân tộc thời mở cửa (Văn

hóa thời mở cửa), cho bài toán giáo dục thế hệ trẻ của đất nước (Đại học chi đạo), đau đáu với những vấn nạn tham nhũng (Thạc thử, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà, Sợ địa ngục…), nạn phá hoại môi trường (Để bảo vệ trái đất), hay thói vong ơn của người đời (Đêm chong đèn nhớ lại, Bản di tích của cỏ lau), không yên trước mỗi cơn lũ tràn về…

Trang 39

Không tô vẽ không né tránh, đó cũng là thái độ dũng cảm của người cầm bút Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khẳng định rõ cái tôi công dân của mình, trong kháng chiến, nhà văn nguyện pha máu làm mực, lấy bút làm vũ khí thì trong thời bình ngòi bút ấy vẫn giữ nguyên tính chiến đấu, bởi nó được bắt nguồn từ một cái tâm của người nghệ sĩ đối với cuộc đời Cái tôi công dân nhập thế ở Hoàng Phủ Ngọc Tường dường như có sự đồng cảm sâu sắc với những nhân cách lớn mà phần đông trong số họ đề là những con người bản lĩnh lớn lao, có dáng dấp của đấng trượng phu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Trần Cao Vân… những con người này đều mang trong mình những nỗi niềm băn khoăn trăn trở, hết lòng vì dân vì nước Đối diện một cái tôi như vậy vào thời điểm hiện tại, người đọc không chỉ thêm kính trọng mà còn thấy vô cùng cần thiết cho chúng ta học tập hôm nay

Lắng đọng lại trên những trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta không chỉ bắt gặp một cái tôi công dân đầy trách nhiệm với quê hương, đất

nước mà còn có một cái tôi khác - cái tôi thẩm mĩ của một nghệ sĩ tài hoa

Đó là cái tôi đầy tinh tế nhạy cảm trong việc cảm nhận, miêu tả thiên nhiên, cuộc sống cũng như tâm hồn con người và cũng là cái tôi luôn hướng đến chiều sâu lịch sử, văn hóa

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người nghệ sĩ, với tâm hồn nhạy cảm ông luôn hướng lòng mình ra thiên nhiên cảm nhận mọi vẻ đẹp của thiên nhiêu và dành hết những năm tháng có ý nghĩa của cuộc đời mình để đi tìm và khám phá những sắc màu của thiên nhiên ở mọi miền khác nhau của Tổ quốc Nhà văn đã đi dọc chiều dài đất nước, để lòng mình say mê với vẻ đẹp của cỏ hoa, của núi sông, của đất trời và con người ở những nơi ấy Vì thế người đọc chúng ta được chiêm ngưỡng những hình ảnh nên thơ của sông Hương trong

Ai đã đặt tên cho dòng sông: “Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về

hướng chính Bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre

Trang 40

trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng Đông Tây để gặp lại thành phố một lần ở thị trấn Bao Vinh xưa cổ Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thật bất ngờ biết bao ” [87,tr320] Hay vẻ đẹp của núi Bạch Mã mang

trong mình những dấu ấn của thời gian và sức mạnh hoang dã của tự nhiên

trong Ngọn núi ảo ảnh: “Bạch Mã là một ngọn núi cao ngất ở phía Nam

Huế, cao gấp ba lần độ cao của đèo Hải Vân, đến nỗi ngay cả vào tiết trời đẹp cuối xuân, núi hứng sương mù từ biển vào, tỏa thành những cơn mưa mịt

mù, giống như bóng núi đổ lênh láng xuống mặt đất suốt quãng quốc lộ ngang dưới chân nó” [87,tr.721] Vẻ đẹp ảo diệu như trong huyền thoại của

Côn Sơn trong Côn Sơn “Trời chốc nắng, chốc mưa, cơn mưa thưa và qua

mau, không đủ ướt áo, sau cơn mưa rừng thông lại sáng bừng lên, lá thông óng mượt như ướt đẫm chất dầu, để rồi huyền ảo trở lại trong một thứ ánh sáng dịu dàng như ánh trăng” [87,tr.782] Cũng có khi là vẻ đẹp hoang dã, giản dị của

những cây cỏ ven đường, những bông hoa nhỏ bé ẩn mình trong tán lá ở vườn

nhà bà An Hiên trong Hoa trái quanh tôi “Những bông súng nhiều màu, vàng

trắng hồng, búp lại vào buổi chiều, lá từng phiến tròn trải sát mặt nước Phong cách của hoa súng cũng lạ giống như lá, nó dính sát mặt nước,nở ra khép lại vài lần là hết, người ta không nhìn thấy nó tàn và rã cánh dần như hoa sen, nó lún xuống, trốn vào trong nước và biến mất” [87,tr.392]… Vẻ đẹp của thiên

nhiên quả thực đã được Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận đầy tinh tế bằng trái tim, bằng ngòi bút của một người nghệ sĩ tài hoa Nhưng đẹp nhất vẫn là hình ảnh của con người với sức vươn lên mạnh mẽ, sống hết mình vì lí tưởng, không sợ hiểm nguy gian khó Người đọc khó có thể quên được những hình ảnh của mẹ E, mẹ Duyến hay chị Cầm, anh Hoàng… trong chiến tranh, cũng khó có thể quên được những con người rất đỗi bình thường trong thời bình,

Ngày đăng: 04/09/2015, 10:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w