Ông viết : "Tính hi ện đại trong thơ Hoàng Cầm không phải như Vũ Hoàng Chương nhà thơ đô thị Mưa và Lá Diêu Bông, hay những người con gái mờ ảo, những mối tình hư ảo xứ Kính Bắc nhìn b
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
….o0o…
NGUY ỄN HỮU CHÍNH
TH Ế GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ HOÀNG CẦM
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Chuyên ngành : Ng ữ văn
Mã s ố : 50433
Người hướng dẫn khoa học
TS Lê Ti ến Dũng
Thành ph ố Hồ Chí Minh, 2001
Trang 3L ỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành luận văn này chúng tôi xin chân thành cám ơn
Các thầy cô phòng Khoa học Công nghệ và sau đại học Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Các thầy cô, khoa ngữ văn trường Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm Hà Nội I, Viện Văn học, Viện Khoa
học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh
Sở giáo dục và Đào tạo Bạc Liêu
Thầy Lê Tiến Dũng, người trực tiếp hướng dẫn luận văn này
Nhà thơ Hoàng Cầm, nhà thơ Hoàng Hưng, những người cung cấp cho tôi tài liệu để hoàn thành luận văn này
Thầy Nguyễn Sáu, thầy Đào Đức Hạnh người đã hướng dẫn tôi những bước đầu tiên đến với văn học
Bạn bè, thân hữu lớp cao học Văn khóa 7 và khóa 8
Cha mẹ những người đã sinh ra và dưỡng dục tôi
Vợ và con, những người trực tiếp tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này Nhân dịp luận văn được bảo vệ, một lần nữa chúng tôi xin chân thành tri ân
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ 3
M ỤC LỤCPHẦN MỞ ĐẦU 4
PH ẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Đối tượng nghiên cứu 9
4 Ph ạm vi, phương pháp nghiên cứu 9
Chương 1: CHẤT TRỮ TÌNH TRONG THƠ HOÀNG CẦM 11
1 V ấn đề chất thơ 11
2 Ch ất trữ tình trong thơ Hoàng Cầm 13
Chương 2: TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ HOÀNG CẦM 42
1 Quan niệm về tư duy nghệ thuật thơ 42
2 Tư duy nghệ thuật thơ Hoàng Cầm, từ tư duy lãng mạn đến tư duy tượng trưng 44
K ẾT LUẬN 92
Trang 5PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
1.1/- Hoàng Cầm là một nhà thơ khá tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại Tác phẩm của ông từ lâu đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông Qua nhiều lần cải cách,thay đổi chương trình, sách giáo khoa, Hoàng cầm vẫn giữ được vị trí của mình Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của Hoàng Cầm trong tiến trình văn học Việt|Nam nói chung và thơ Việt Nam hiện đại nói riêng Do đó việc nghiên cứu về ông là một điều hết sức cần thiết
1.2/- Hoàng Cầm là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp Ông không thuộc lớp những nhà thơ tiền chiên nhu Xuân Diệu, Huy Cân, Chế Lan Viên và cũng không đi theo lối đi của những nhà thơ kháng chiến như Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Quang Dũng và cả những nhà thơ chống Mỹ sau này Ồng có một
lối đi riêng, âm thầm, lặng lẽ Chính vì vậy nghiên cứu về Hoàng cầm một mặt giúp chúng ta nhận diện được sự phát triển của tư duy thơ Việt Nam hậu lãng mạn, mặt khác cho thấy sự phong phú, đa dạng của nền thơ ca Việt Nam hiện đại
Do đó, mục đích của đề tài này nhằm nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm một cách toàn diện và có hệ thống Từ đó nhận diện được con đường phát triển của tư duy nghệ thuật thơ ông từ lãng mạn đến hậu lãng mạn Đồng thời qua đó thấy được
những đóng góp nhất định của Hoàng Cầm cho nền văn học Việt Nam nói chung và thơ ca Việt Nam hiện đại nói riêng
2 L ịch sử vấn đề
Về tác giả Hoàng Gầm có thể kbẳng định chưa có một công trình nào nghiên
cứu về ông một cách toàn diện và có hệ thống Toàn bộ nghiên cứu về ông chỉ là
những bài viết, những tiểu luận, những bài giới thiệu ngắn Chúng được tập hợp lại trong hai quyển sách tiêu biểu: Thứ nhất làiquyển "Phê bình, bình luận văn
tác giả Hồng Nguyên, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Quang Dũng và Hoàng Cầm Quyển thư hai tương đối đầy đặn hơn, đó là quyển "Hoàng Cầm thơ văn
Trang 61997 Ở đây chúng tôi xin giới thiệu sơ lược một vài bài viết tiêu biểu,có khen và có chê Đó là những bài viết ít nhiều có ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu chuyên
luận này của chúng tôi
Trước hết đó là bài về:"Mấy ý nghĩ nhỏ về thơ Hoàng Cầm'' của nhà nghiên cứu
Nguyễn Đăng Mạnh Đọc tập "Mưa thuận thành" của Hoàng Cầm, ông viết "Những vần
thơ cứ ngân nga, cứ ám ảnh hoài và nhói lên trong ta một nỗi xót xa, một niềm thương nhớ
được ông chứng minh và phân tích khá cụ thể Ông khái quát;"Hình như có một không
trên được Đỗ Đức Hiểu chia sẻ trong bài viết'"Hoàng Cầm" (107 –tr280) Ông viết : "Tính hi ện đại trong thơ Hoàng Cầm không phải như Vũ Hoàng Chương (nhà thơ đô thị
Mưa và Lá Diêu Bông, hay những người con gái mờ ảo, những mối tình hư ảo xứ Kính Bắc
nhìn bao quát tiếp cận được hệ thống thi pháp thơ Hoàng Cầm Nó tạo nên phẩm chất
trữ tình trong thơ ông Đi xa hơn vào thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cầm, Nguyễn
Đăng Mạnh xem thơ Hoàng Cầm như là "một thứ thơ hướng nội ở độ sâu thẳm nhất Nó
(72 -
tr 334) Có lẽ đây cũng là một hướng đi của tư duy nghệ thuật thơ Hoàng Cầm
Điểm tương đồng giữa nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh và Đỗ Đức Hiểu ở
chỗ,cả hai ông gợi ra một hướng tiếp cận mới trong thế giới nghệ thuật thơ Hoàng
Cầm mà cả hai tác giả đều gọi là "Siêu thơ" Có thể nói đây là một trong những
hướng tìm tòi về hình thức thơ ca Việt Nam hậu lãng mạn theo xu hướng tượng trưng Phải chăng tư duy thơ Hoàng cầm phát triển theo hướng đó? và ông đạt được
ở những mức độ nào? Hoàng Cầm rõ ràng mang những yếu tố lãng mạn nhưng ông
cũng vượt ra ngoài những yếu tố đó để tìm đến "một thế giới không tuân theo những lô
Trang 7Hoài Việt trong bài "Đền với Hoàng Cầm" giới thiệu tương đối đầy đủ về
Hoàng Cầm với tư cách một nhà thơ mà theo ông u trước 1945, trong bảng phong thần
giới thiệu chung chung chưa đi vào phân tích cụ thể thuyết phục trên tư liệu thơ Hoàng Cầm, ông gọi Hoàng Cầm là " một người làm vườn cần mẫn, cuốc xới trên
ông muốn nhận xét quá trình phát triển của tư duy nghệ thuật thơ Hoàng Cầm, nên ở
phần sau, trên cơ sở phân tích những tìm tòi của Hoàng cầm về dùng từ, đặt câu, xây
dựng hình ảnh ông kết luận : " Theo tôi, Hoàng Cầm là cuộc hôn phối giữa dân tộc và
xét như trên có tính gợi mở hơn là những khẳng định có tính khoa học, có tính thuyết
phục cao
Có lẽ đáng chú ý hơn cả và có tính chặt chẽ hơn cả là bài viết "Ấn tượng thơ
kết cấu của một tiểu luận hơn là một bài báo Trong bài viết trên tác giả đã cố gắng
lý giải những ẩn ức trong thế giới tình cảm thơ Hoàng Cầm ông viết: "Thơ Hoàng
ngào đó" (85 - tr286) Ông nói nhiều đến hồn thơ, đến điệu thơ và nhạc thơ
Hoàng Cầm Ông cố gắng đi tìm cái giọng điệu riêng của thơ Hoàng Cầm, "Có cảm
giác điêu thơ Hoàng Cầm như con hạc đầu đình, muốn bay không cất nổi mình mà bay, nó
Ngoài ra ông còn nói đến : "Một sự hội nhập của nghệ thuật thơ Hoàng Cầm" với
những bi kịch của cuộc đời được biểu đạt bằng những lớp nghĩa chồng lên nhau, để nén lại, để ẩn chứa : ''Hoàng Cầm đã nén chìm tính biểu cảm của câu chữ, để nỗi nghẹn
đời Bài viết trên có ý nghĩa lớn trong quá trình nghiên cứu thơ Hoàng Cầm
Chia sẻ với Chu Văn Sơn là bài viết của nhà văn Phạm Thị Hoài "Đọc Mưa
giả về thơ Hoàng Cầm Đó là những cảm nhận có tính rời rạo, chưa xâu chuỗi theo
Trang 8một đề tài nhất định Tác giả viết "Vậy thì trước hết tôi thấy Hoàng Cầm đẹp và xa
vừa gần gũi vừa xa xôi Tác giả đi tìm "trường liên tường rất đặc trưng trong thơ Hoàng
nhận như vậy tác giả đã cố gắng đi tìm cái riêng trong hồn thơ của Hoàng Cầm
Việc làm ấy là cần thiết nhưng chưa đủ Chưa đủ vì bài viết cũng chỉ dừng lại ở mức
độ gợi mở, giới thiệu, chỉ dừng lại ở sự đồng cảm của một nhà văn với một nhà thơ
Trần Mạnh Hảo trong bài "phê bình "Hoàng Cầm và 99 tình khúc"trên văn số 71
- 97 và được in lại trong "Phê bình, bình luận văn học" do Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn
đã nhìn nhận và đánh giá thơ Hoàng cầm ở một khía cạnh khác Tác giả Trần Mạnh
Hảo chủ yếu tập trung vào phê hơn là bình Ông phê phán sự thiếu trong sáng, các
yếu tố sex trong thơ tính Hoàng Cầm, cách dùng chữ, câu "Nhũng chữ cầu kỳ quá mức
Hoàng Cầm theo hướng xã hội học mà chưa thấy được những đóng góp nhất định
của ông Bài nghiên cứu còn mang nặng yếu tố chủ quan cả trong khen và chê do đó chưa thật sự là những cứ liệu khoa học khả dĩ có thể giúp được gì trong quá trình nghiên cứu thơ Hoàng Cầm
Ngoài ra còn có một số bài viết của các tác giả Nguyễn Thị Minh Thái, Đặng
Tiến, Mai Thục chủ yếu là các bài viết ngắn cảm nhận về thơ Hoàng Cầm với tư cách là những người đọc thơ ông và yêu thơ ông Những bai viết trên là những tham
khảo bổ ích trong quá trình nghiên cứu chuyên luận này
Tóm l ại, lịch sử nghiên cứu thơ Hòang Cầm, có thể thấy hai đặc điểm sau:
Th ứ nhát: Chưa có một công trình nào nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm một
cách đầy đủ và có hệ thống
Th ứ hai: Nhiều nhệ nghiên cứu đã chỉ ra được những đặc trưng của tư duy
nghệ thuật thơ Hoàng Cầm,nhưng chưa chỉ rõ quá trình phát triển của tự duy nghệ thuật thơ ông trong bối cảnh những tìm tòi về hình thức của thơ ca Việt Nam sau
1945
Trang 93 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khoa học của chuyển luận là thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cầm ở hai bình diện :
Thứ nhất là ở bình diện chất trữ tình của thơ Hoàng Cầm Trong đó, chúng tôi
chủ yếu nghiên cứu tư duy nghệ thuật trên chất liệu nội dung của thơ ông, những
cảm nhận của ông về thời gian, không gian nghệ thuật, những quan niệm về tình yêu Đó là những cảm hứng sáng tạo chủ quan của nhà thơ
Bình diện thứ hai đi sâu nghiên cứu những đặc trưng vá quá trình phát triển
của tư duy nghệ thuật thơ Hoàng Cầm trong bối cảnh những tìm tòi về hình thức thơ
ca Việt Nam sau 1945 Ở đây chúng tôi nghiên cứu Hoàng Cầm với tư duy nghệ thuật từ lãng mạn đến tượng trung Từ đó chúng ta thấy được những đóng góp nhất
định của ông đối với quá trình phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại
4 Ph ạm vi, phương pháp nghiên cứu
Tác phẩm của Hoàng Cầm khá phong phú : Từ kịch thơ, thơ đến văn xuôi Chuyên luận này chỉ chủ yếu nghiên cứu thơ Hoàng Cầm Kịch thơ và văn xuôi là
những phần tham khảo bổ ích của chúng tôi Cho đến nay Hoàng Cầm đã xuất bản
năm tập thơ : "Bên kia sông Đuống" NXB Văn hóa 1993, "Về kinh Bắc\ NXB Văn học
1994, "Mưa Thuận Thành", NXB Văn hóa 1991 "Men đá vàng\ NXB văn học 1995
và "99 tình khúc\ NXB văn học-1996 Có thể nói số lượng các tập thơ được xuất bản
là nhiều Tuy nhiên, số lượng các bài thơ không nhiều lắm bởi lẽ có nhiều bái trùng
lặp ở nhiều tập thơ khác nhau Do đó, đơn vị khảo sát của chúng tôi ở đây là bài thơ
Ngoài ra từ 1990 trở lại đây Hoàng Cầm có khá nhiều thơ trên các báo và tạp chí Đó không phải là đối tượng nghiên cứu của chuyên luận này mà chỉ là những
phần để tham khảo
Trong chuyên luận này, phương pháp nghiên cứu chủ yểu của chúng tôi là phương pháp phân tích trên văn bản tác phẩm thơ Hoàng Cầm và một phần cuộc đời ông
Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng các phương pháp lịch sử cụ thể, đặc biệt, phương pháp so sánh đổi chiếu, được ưu tiên sử dụng Qua đó thấy được những nét tương đồng và dị biệt giữa Hoàng cầm và các nhà thơ hiện đại khác
Trang 10Ở đây chúng tôi không chủ trương tách rời các yếu tố nội dung và hình thức trong quá trình nghiên cứu Chúng tôi nghiên cứu đồng thời nội dung va hình thức như là một quá trình sáng tạo Có chăng đôi khi có sự tách rời chỉ là những trừu xuất
để tiện nghiên cứu mà thôi
Chúng tôi xin chân thành cám ơn Phòng nghiên cứu khoa học; khoa Ngữ Văn, Đại Học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh; khoa Ngữ Văn và Báo Chí, Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhấn Văn thành phố Hồ Chí Minh; khoa Ngữ Văn Đại học Sư
Phạm và Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội; Viện Văn Học Viện Khoa
Học Xã Hội tại thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt chúng tôi xin chân thành cảm ơn
TS Lê Tiến Dũng người trực tiếp hướng dẫn chúng tôi hoàn thành chuyên luận này
Trang 11Chương 1: CHẤT TRỮ TÌNH TRONG THƠ HOÀNG CẦM
1 V ấn đề chất thơ
Nói đến thơ trước hết là nói đến chất thơ Chất thơ như là một yếu tố quan
trọng trong hệ thống giá trị của thơ ca Chất thơ không chỉ là một phương diện của
nội dung trữ tình mà còn là sự thống nhất giữa những phẩm chất của đối tượng khách quan và cảm hứng sáng tạo chủ quan Do đó, chất thơ là mạch nguồn, là sự rung động của nhà thơ trước thế giới, là chất men tạo nên cái say, cái đẹp của thơ
ca
1.1/- Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa có một quan niệm rõ ràng, có hệ thống về
chất thơ dù nhiều nhà nghiên cứu phê bình dùng thuật ngữ này Trước hết người ta hay nói đến chất thơ trong cuộc sống hoặc sâu hơn tác phẩm này giàu chất thơ Thực chất đây là cách nói chưa đi vào nội dung khái niệm Hà Minh Đức cho
rằng:"khi nói đến chất thơ là nói tới nhân tố thuộc nội dung" (34 - tr 33) và ở phần khác
ông viết "Những nhân tố đặc biệt quan trọng để tạo nên chất thơ là phần cảm xúc và suy
ngh ĩ chủ quan của nhà thơ" (34 - tr35) Như vậy chất thơ không chỉ là nội dung trữ tình
của thơ, nó chính là sự thống nhất nội dung, hình thức trong thơ, chất thơ,do đó không phải là khách thể thẩm mỹ mà là sự thống nhất khách thể chủ thể thẩm mỹ
Chất tho trong cuộc sống khác với chất thơ trong thơ ca : "Chất thơ trong nghệ thuật
bao g ồm sự thống nhất giữa những phẩm chất của đối tượng khách quan và cảm hứng sáng t ạo chủ quan của nhà thơ" (34 - tr35)
Chất thơ, đương nhiên bắt nguồn từ cuộc sống Nhưng nó là cuộc sống đã
được "chuyển hóa” được "cải hóa" trong sự đồng cảm của tâm hồn nhà thơ Trong
cồng trình "Tâm lý văn nghệ", nghiên cứu quá trình hoạt động của tâm lý sáng tạo,
Chu Quang Tiềm gọi đó là hình thức "Di tình tác dụng" Như vậy chất thơ là sản phẩm
của quá trình hoạt động tâm lý sáng tạo, là chức năng khứu biệt của thơ ca : "tác
ph ẩm trữ tình làm sống dậy cái chủ thể của hiện thực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế
Trang 12gi ới của những suy tư, tâm trạng, nỗi niềm - một phương diện rất, năng động, hấp dẫn của
hi ện thực"(70 - tr358)
Từ đó, Hà Minh Đức cho rằng : "Song để tìm hiểu và đánh giá cho đúng một tiếng
nói thi ca thì ph ải thấy được từ bên trong chất thơ tầm vóc về tư tưởng của mỗi tác giả Tầm
v ốc tư tưởng chỉ ra độ sâu và chiều cao của hồn thơ" (34 - tr54) Cái mà tác giả gọi là tư
tưởng ỏ đây chính là tư tưởng nghệ thuật Do đó, ông cho rằng chất thơ gắn liền với trí tưởng tượng, với tình cảm và cái đẹp Nó là cái đẹp của tâm hồn nhà thơ biểu đạt
trọn vẹn trên trang thơ Như vậy, nghiên cứu chất thơ là nghiên cứu nội dung trữ tình được biểu đạt qua hệ thống thi pháp
1.2/- Trong "M ỹ học" Hegel viết "Khi bàn đến nội dung của cái làm đối tượng cho cách quan ni ệm cái nên thơ (tức là chất thơ) - ít nhất là làm một cách tương đối - ngay từ đầu, loại trừ cái bên ngoài, tức là gạt bỏ các sự vật tự nhiên Đối tượng của thơ là những
h ứng thú tinh thần" (44 - tr483) Ở đây gạt bỏ quan niệm duy mỹ của nhà nghiên cứu
chúng ta cũng phải nhận rằng chất thơ không thể tách rời với trí tưởng tượng, với
đời sống tình cảm và sự rung động của nhá thơ trước thế giới "Cái hành trình của trí
tưởng tượng mang tính chất ngẫu nhiên bao nhiêu về mặt hình ảnh trực quan thì mang tính
t ất yếu bấy nhiêu về mục đích biểu hiện, mục đích tư tưởng (93 - tr77) Như vậy, chất
thơ, tất nhiên bắt nguồn từ cuộc sống thông qua quá trình "thanh lọc" của nhà thơ và
được biểu hiện trên văn bản tác phẩm thơ, chất thơ do đó được biểu hiện qua hệ
thống thi pháp Nghiên cứu chất trữ tình của một tác phẩm, tác giả, một trào lưu tất nhiên gắn liền với đời sống thẩm mỹ và các phương thức, phương tiện biểu hiện đời
sống thẩm mỹ đó
Từ hai phần trên, chúng ta có thể khẳng định, nghiên cửu chất thơ không phải
là nghiên cứu cái hiện thực, cái đề tài ở bên ngoài nhà thơ Nghiên cứu chất thơ
cũng không phải là nghiên cứu nội dung trữ tình được phản ảnh trong thơ ca Nghiên cứu chất thơ là nghiên cứu đời sống thẩm mỹ của nhà thơ được biểu đạt như thế nào qua hệ thống thi pháp Nó bao gồm việc chiếm lĩnh và biểu đạt không gian, thời gian nghệ thuật, những quan niệm thẩm mỹ về con người và cuộc đời
Trang 132 Ch ất trữ tình trong thơ Hoàng Cầm
Mỗi nhà văn, nhà thơ đều có những mảng đề tài, những nguồn cảm hứng riêng, nó tạo nên phong cách của chính họ Với thơ, điều này được hiện ra rõ hơn
“nhà thơ phải có một kinh nghiệm hết sức rộng, hất sức sâu về cải đề tài anh ta muốn viết yêu c ầu anh ta phải có thể nói là sống với đề tài ấy, sáp nhập nó vào cái tôi của anh ta sau khi đã đào sâu nó và hoán cải nó đi".(44 – tr519) Cái mà Hegel chỉ ra ở đây là "vùng
th ẩm mỹ" của mỗi nhà thơ Nó cho phép nhà thơ đi sâu hơn vào đời sống nội tâm,
đời sống tinh thần của cộng đồng và của chính mình Nói đến Hồ Xuân Hương là người ta nghĩ- ngay đến thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến; nói đến Xuân Diệu là nói đến những khát vọng về tình yêu Nếu như Vũ Hoàng Chương là
một nhà thơ lãng mạn của thị thành thì Nguyễn Bính lại là mọt nhà thơ lãng mạn
của vùng quê chiêm trũng Điều này không chỉ tạo nên phong cách, hệ thống thi pháp mà nó còn biểu hiện cá tính sáng tạo, tư tưởng nghệ thuật của nhà thơ
Hoàng Cầm là nhà thơ vùng quan họ Bắc Ninh, là "đất kinh Bắc huê tình, diễm lệ
đầy ắp huyền thoại và bảng lảng một làn sương khói dân ca", "Thơ Hoàng Cầm dìu chúng
ta qua nh ững chùa chiền lăng miếu, những cầu, những bến, những cây lá hội hè, qua
nh ững cặp mắt đa tình của những người gái xứ quê”(49 -tr227) Chất thơ
Hoàng Cầm chính là men say nồng nàn của đất trời kinh Bắc đầy huyền thoại và ảo ảnh
2.1 Không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ Hoàng Cầm
2.1.1/- Như đã trình bày ở trên, mỗi nhà thơ đều có một không gian tinh thần riêng Nó chính là mảnh đất nuôi dưỡng tâm hồn và tinh lực của nhà thơ Với Hoàng Cầm, thơ ông đắm chìm trong không gian của vùng đất kinh Bắc giàu truyền thống văn hóa Đó là mạch nguồn chảy suốt trong hồn thơ của ông Không gian nghệ thuật trong thơ Hoàng Cầm là không gian của vùng đất kinh Bắc với con
sông Đuống "nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ", con sông Cầu "G ấm sông c ầu khoác l ại áo ngày xưa” là vùng quê với hội Lim, hội Dóng, hội chen Nga
Trang 14Hoàng; là Lý cây đa, lý huê tình, là quan họ Bắc Ninh ngọt ngào diễm lệ; tà vùng quê của hhững huyền thoại về Ỷ Lan, Chiêu Thánh, là những địa danh lảng
bảng "Cầu bà sấm, bến cô Mưa"
Mỗi nhà thơ đều tạo dựng cho mình một hoạt không gian tinh thần riêng Với Hoàng Cầm đó là không gian của hội hè, quan họ Không gian quan họ có trong Hoàng Cầm từ máu thịt Ông có hẳn một tập thơ "Về kinh Bắc"
"Cúi l ạy mẹ con trở về kinh Bắc
Chi ều mưa giẻ quạt voi lồng"
(Đêm Thổ)
"V ề kinh Bắc phải đâu con hế miệng
Kh ế chua vôi bột lòng tay"
Ị (Đêm Mộc)
" V ề kinh Bắc phải đâu con nhắm mắt
Gài m ảnh gương giàn thiên lý đợi tua rua"
(Đêm Thủy)
Thơ ông trở về kinh Bắc sau bao thăng trầm của đời người, sau bao bể dâu như còn lắng đọng hồn ông, như đứa con trở về Đất Mẹ Đấy là lời tâm sự của ông : "Vâng đúng là năm Kỷ Hợi 1959, từ khi chiếc lá bàng rụng xuống báo tin thu, hồn tôi cứ chìm d ần chìm sâu Chìm và lắng thật sâu vào vùng quê tôi ngày xưa Thời tôi còn nhỏ dại,
v ới biết bao bóng dáng, màu sắc, đường nét hương vị đã quá xa, đã không còn nữa" (9 –
tr147) Với Hoàng Cầm quê hương la "bóng dáng", là "đường nét" là "hương vị", tất cả
như hòa nhập lại tạo nên một không gian vừa gần gũi, vừa xa xăm, vừa hiển hiện,
Trang 15"Ch ấp chới chè non
C ầu Lim, Nội Duệ The Hà Đông đón kiệu bỏ quê Xim "
(Sương cầu Lim)
Và không gian ấy, quê hương ấy thấm đẫm những khúc nhạc buồn :
"Mồ hôi tháng giêng mưa sũng Đằm ca dao sáo diều chiều lịm tím lưng trâu"
(Đêm Thổ)
"M ột tiếng buông khoan giữa nhịp
Vì chơi vơi điệu lúc tàu trăng
Ai ng ờ để lòng em muốn đổ Đông hoài đuổi mãi sao Hôm"
(Đếm sao)
Khúc nhạc ấy rất thực và cũng rất mơ :
"Trách gì ai sáo trúc gây mê Trách gì ai c ặm cụi vót tre Đan lồng vàng tía
Ng ờ trời mây trăm sắc ước ao"
(Đếm nắng)
Có thể nói, khống gian nghệ thuật trong thơ Hoàng Cầm là không gian của âm
nhạc Nó vừa nhẹ nhàng, vừa lắng đọng, vừa réo rắt, vừa trầm bổng thiết tha Đó là không gian của vùng quê quan họ ông sinh ra trên vùng quê quan họ, lớn lên bằng câu hát quan họ, và ông đắm chìm vào đó, tận hưỏng cái say của quan họ Bắc Ninh
Chất thơ Hoàng Cầm là chất men của quan họ Bắc Ninh:
À ơi
Câu ru m ẹ mới
Có bàn tay v ỗ tốc
ng ủ đi con
Trang 16(Đứa trẻ)
"Lý lý ơi khát khô cháy giọng Tình tình ơi chớ động mành thưa Chìa vôi qu ệ gió hững hờ
B ờ ao sáo tắm bạo giờ
h ở Em" (Theo đuổi)
ới Diêu bông
(Lá diêu bông)
"Lý cây đa, lý huê tình Nguy ệt cầm long phím dỗ dành ai ca Người ơi! người ở hay là" !
(Th ể phách tinh anh)
Và bên cạnh những câu quan họ ngọt ngào là những hội hè đình đám Nhưng
với, Hoàng Cầm nó không phải là cái rộn ràng của hội hè mà là cái sâu lắng chất
ngất của tình yêu Với Hoàng Cầm hội hè là tiếng vọng qua tình yêu :
Hôi thi bún :
" Ô i đêm đông hồ Nát nhàu thân t ố nữ
S ợi bún ngà vá lại dung nhan"
(H ội thi đội bún)
Hội đánh đu :
"Lu ồn tay ôm say
gi ấc bay lay đỉnh núi
Tu ột hàng khuy rơi tóc yếm buông mành"
(H ội đánh đu)
Trang 17Hội thi dệt vải :
"Thoi chim khách đến năm đi hết
V ải gột hồ hai má gột môi hoang"
(Thi d ệt vai)
Hội gióng :
"C ầm gậy tre đì se duyên cô Tấm ông Hoàng
V ớt Trương Chi về gấm đỏ lầu tây"
(H ội Gióng)
Hội Vân Hà :
"H ội tàn men
Qu ẩn quanh nghiên ngửa
Gi ật yếm đào túm vội đôi bầu"
(H ội Vân Hà)
Hội chen Nga Hoàng :
"Nh ẩn nha thôi ôi tiếng cuối âm vang Tay không r ời tay người chưa nguôi tê mê thầm”
(H ội chen Nga Hoàng)
Nguyễn Bính - nhà thơ cụng có một không gian vùng quê nhưng đó là một không gian cụ thể "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông" với những mối tình thiết tha nồng
nàn Với Hoàng Cầm thì lại khác, nó là một không gian chứa đựng, là một không
Trang 18gian hóa giải những tiềm thức tuổi thơ lặn trong hồn ông Ông có một không gian rất thực với con sông Đuống "nằm nghiêng nghiêng" với "Cầu Lim, Nội Duệ" với "Gấm
sông C ầu khoác lại áo ngày xưa" Trong một không gian huyền sử của "Bến Lúy Lâu" c ủa "Cổ loa cú vúc chòi canh" của "Ngựa ô truy lao cầu vồng, Yên Thế" Và hơn thế trong thơ ông có cả một không gian huyền thoại "Qua cầu bà Sấm, bến cô Mưa"
"Nh ững có Bồng Thi với dế đầu si Những lá diêu bông với đôi xe Hồng Và trong cái
không gian vừa thực vừa mơ ấy là tiếng vọng buồn man mác, sâu lắng của quan họ
Bắc Ninh Đó không chỉ là không gian thực của Kinh Bắc hội hè mà là một không giàn văn hóa đã trầm tích trong cảm hứng thi ca của ông tạo nên một chất say kỳ lạ
"Cái h ệ lời ới hời, vi vút sấp ngửa, khép nép nghiêng ngửa mê và tê tê, vời vợi ấy lại đi đôi với một âm vận rất riêng " (50 - tr251) Cái riêng ấy, như đã nói ở trên,đã nhập vào
tiềm thức của ông từ khi còn là một tuổi thơ đầy vương vấn, đầy khát khao
Chất say trong thơ ông khộng chỉ là âm thanh mà còn là cái say của màu sắc Cái màu sắc thấm đậm, cái màu sắc rất riêng vừa lảng bảng, vừa nhạt nhòa sương
khói Đó là cái màu của "đồng chiều, cuống rạ" cái màu của "nắng quái chiều
đông", của "nhạt nắng xiên khoai" Khác với Xuân Diệu, người có một màu sắc không
gian đầy ấn tượng, một màu sắc mơn mởn, rực rỡ tràn đầy khát vọng Và cũng khác với Nguyễn Bính với một không gian xanh của vùng quê Hoàng Cầm có một vùng quê, một vùng thơ mờ nhạt sương khói, mịt mờ xa xăm Không phải ông không có
những gam màu sáng, nhưng rất ít và chỉ xuất hiện ở tập "Bên kia sông Đuống"
"Xanh xanh bãi mía b ờ dâu Ngô khoai biêng bi ết "
(Bên kia s ống Đuống)
" Hình nhâ n má điệp mực tàu"
"Cười như mùa thu tỏa nắng"
(Bên kia s ống Đuống)
Trang 19Nhưng đến "Về kinh Bắc" thì tất cả dường như chìm trong một màn sương mờ
ảo Ông, tâm sự : "Tôi chìm vào một quê hương xa, có thực mà như ảo ảnh, là ảo ảnh mà
như gần gũi đâu đây, cứ chập chờn năm tháng và lảng bảng không gian " (107 -tr 201) :
Em vun ng ực lép tê chân bước
Đi quá đông già chẳng thấy xuân"
(Bênh)
Nguyễn Đăng Mạnh trong chuyên luận "Mấy ý nghĩ nhỏ về thơ Hoàng
C ầm" (72 - tr231) nhận xét: " Ở bên kia sông Đuống có thơ say mà vần có tỉnh, có màu tối nhưng cũng có màu sáng, thậm chí tươi tắn nữa Còn ở Lá diêu bông thì say triền miên và
ch ỉ có một thứ ánh sáng buổi chiều đông chiếu trên cánh đồng vắng có bóng ai đó đang
ng ẩn ngơ tìm kiếm một cái gì".
Quả vậy ta nhận thấy cả tập thơ như chim trong ảo ảnh, chỉ có một thứ màu sáng le lói của "Đồng chiều cuống rạ", một màu đêm của "Đêm thổ" "Đêm kim" :Đêm
m ộc", "Đêm hỏa" của "Anh chớ dìm em đêm nén đau" Cái màu sắc trong "Lá Diêu Bông" trong "Qu ả vườn ổi" hay "Cỏ bồng thi" cứ nhạt nhòa cứ mờ xa dĩ vãng :
"Em đi mãi nhưng đường làng ngơ ngắt
Nh ặt lá đa đan mũ chiêu quân Hát v ẩn vơ lời sẩm chợ
G ậy mù ngửi hơi đường lạ Bóng cây r ợp mát lưng gù Chi ều lá dứa tít mù chong chóng Giómát nàym ẹ quạt
t ừ chênh chếch nẻo tàn trăng”
(Đợi mùa)
Trang 20Cái riêng của Hoàng Cầm là ở chỗ : Trong găm màu mờ nhạt sương khói c ủa ông luôn thấm đẫm nhạc điệu và mở rộng ra không gian chứ không hề vì
thế mà thu hẹp lại
Trang 21(Hi ếu Sinh)
Những chùa chiều lăng miếu của xứ kinh Bắc với hương khói của nó luôn
phảng phất trong thơ ông :
" Ôi chi ều kinh Bắc Chuông chùa nhu ộm son"
"Đài hương tím bỗng uốn mình nở rộ "
" Em không nói chi ều nay không bóng tím
Ng ậm hình em lá ngọt tím môi chì"
(Ng ẩn ngơ)
Trang 22Tuy nhiín chúng ta cũng nhận thấy mău tím trong thơ ông không phải lă mău
thực Nó lă câi mău của "tơ tưởng", của "ngẩn ngờ', lă mău sắc của một tđm trạng,
một tđm trạng khât khao vă mang đầy nữ tính
Câi không gian tinh thần trong thơ Hoăng Cầm lă một không gian rất riíng không thể lẫn lộn Nó lă mảnh đất mă nơi ấy ông gieo mầm thơ vă nuôi dưỡng mầm thơ Nó tạo nín một không gian kinh Bắc vừa cụ thể vừa mang đầy ảo ảnh
2.1.2 Trong triết học không gian chính lă sự tồn tại vă thời gian lă một quâ trình Còn trong văn chương thời gian nghệ thuật lă thời gian được cảm nhận lă thời gian được quan niệm Vă ở bình diện cao hơn nó lă triết luận về cuộc đời "Những
hình tượng văn học, về mặt hình thức được khai triển theo thời gian (tính tuần tự của văn
b ản), về mặt nội dung nó tâi tạo bức tranh vừa không gian, vừa thời gian về thế giới, hơn
n ữa, lại tâi tạo ở bình diện giâ trị tư tưởng - tượng trưng của bức tranh ấy (4 - tr317) Như
vậy,cùng với không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật có giâ trị như lă những phương tiện (vă lă phương tiện quan trọng) biểu đạt những quan niệm nghệ thuật.Trong thơ ca thời gian, nghệ thuật lă một hệ thống thỉ phâp mă nhă thơ biểu đạt quan niệm nghệ thuật của mình Chế Lan Viín có thời gian luôn quay về quâ
khứ quay "về những phế tích của Chiím Thănh Do đó thơ ống chính lă thời gian
của nỗi sầu vạn cổ, của sự nuôi tiếc ngăy qua :
"Ai đđu trở lại mùa thu trước
Nh ặt lấy cho tôi những lâ văng? Với của ủoa tươi mẵn cânh rê về đđy đem chắn nẻo xuđn sang"
Trang 23chảy vô tận trong sự hạn hữu của đời người 'Thuyền qua mà nước chẳng
qua" Hoàng Cầm có một thời gian nghệ thuật khác, một quan niệm về thời gian khác Với Hoàng Cầm thời gian lả sụ kiếm tìm, là thời gian của những ảo vọng vụt qua Nhưng trước hết thời gian nghệ thuật trong thơ Hoàng Cầm luôn gắn chặt với không gian Không gian mờ mịt trong thơ ông là không gian của sự giằng xé giữa ngày và đêm :
"Một nắm cơm khô cạn túi gương tàu
Dùng d ằng bẻ đôi chiều nấng quái
(Gái h ậu lê)
sáng r ồi mịt mù, xa tắt như những huyền thoại thuở hoang sơ" (107 - tr283) Nó mang
cái buồn vời vợi của những câu quan họ, mang đầy những mất mát mà ông cố nén,
Trang 24"Em đừng lớn nữa chị đừng đi"
(Cây tam cúc)
Dường như có một bi kịch nào đó về thời gian Nó như đẩy thơ ông ngược dòng thời gian, chứa đựng những đau thương, mất mát :
"B ốn mùa dông bão vò duyên phận Trả nợ
cu ồng phong hết kiếp chưa"
(U ẩn)
"Nh ớ em từ một đường khâu Hai n ăm bát mẻ đũa còng chia nhau"
(Ngày gi ỗ)
" Trăm năm nhào quyện hư vô
Bi ết đâu em vẫn lửng lơ hát buồn"
(Hai ng ả)
Dù là bốn mùa, là hai năm, là trăm năm, nhưng nó không phải là một thời gian
định lượng Nó là thời gian của 'Trăm năm trong cõi người ta" của "Nghìn năm mây
tr ắng bây giờ còn bay" Nhưng điểm khác là ở chỗ thời gian của Hoàng Cầm là thời
gian chứa đựng : Chứa đựng những tình yêu, những mất mát, những đắng cay,
những khát vọng, những nỗi buồn Chính vì vậy mà ông nghe thời gian như vọng lại
của huyền thoại :
"Gi ếng ngọc ễnh ương quát đêm tiền sử"
Trang 25Trong thơ Hoàng Cầm quá khứ, hiện tại và tương lai như chập lại, như hòa vào nhau :
" V ề khuya mê bóng, bóng theo Nhìn chênh th ế kỷ bóng vèo qua mi"
(Ngày gi ỗ)
Và nó tạo nên một "triết luận về thời gian" Thời gian cứ vùn vụt trôi đi trong sự
hạn hữu của đời người Thời gian không chỉ là khách thể mà nó trở thành chủ thể
trữ tình Cái chủ thể trữ tình luôn mang tâm trạng hoài vọng, chìm khuất, ẩn chứa :
"Có nét bu ồn khôi nguyên Chìm sâu vào đăng đẳng
Có ti ếng ca ưu phiền Chìm sâu vào l ẳng lặng"
(Bu ồn có lý )
Cái sâu lắng của thời gian như cứ chìm dần, chìm dần, cứ qua đi, qua đi mà
nhà thơ như ngồi đó để "đếm giờ", để nhìn sự tàn phai mà tiếc nuối :
" Cây đa đường xứ
l ớn lên ai hay
V ẫn cơn gió cũ
bao nhiêu chi ều vụn đá "
(Đếm giờ)
Thời gian trong thơ ông tạo nên nột trường liên tưởng về thời gian Nó không
chỉ là cái liên tưởng về quá khứ, hiện tại mà còn là sự liên tưởng giữa cuộc đời và thơ ca Ca dao có sự liên tưởng cũng rất hay :
"Cây da b ến cũ bây giờ còn đây"
Và sự liên tưởng của Huy Cận trong "Tràng Giang'
Trang 26"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làn xa vãn chợ chiều "
Thời gian qua đi, nhưng vết tích của nó thì đọng lại Nhà thơ nắm bắt được cái hữu hình đó của thời gian để tạo nên chất say của thơ "Dầu hành trình thơ là đi
ngược vào quá khứ, nhưng đó là cuộc tìm kiếm vĩnh cửu của thi nhân đi về phía trước (107
-tr302) Do vậy thời gian trong thơ Hoàng Cầm không chỉ là thời gian của quá khứ, không chỉ là thời gian chứa đựng mà còn là thời gian kiếm tìm Sự kiếm tìm hạnh phúc giữa những bi kịch của đời người Có thể nói với Hoàng Cầm đời người là
một cuộc hành hương đi tìm hạnh phúc, mặc dù với ông hạnh phúc cũng chỉ là ảo ảnh Chúng ta sẽ khảo sát hai bài thơ sau để thấy rõ quan niệm về thòi gian kiếm tìm của ông
Trước hết là bài "Tử nguồn đến biển", bài thơ là những bước nhảy về thời gian,
những dấu lặng Đỗ Đức Hiệu gọi là " những khoảng không, những khoảng trống,
nh ững cái lặng ấy chính là nơi chất thơ lan tỏa" (46 - tr 17 ):
"Sau chuy ến đi xa lần thứ nhất Anh về Sau chuy ến đi xa lần thứ ba Anh về Sau chuy ến đi xa lần thứ chín Anh về
Giữa ba khoảng trống ấy của thời gian là những biến đổi của bi kịch đời người :
Nhìn m ắt anh ao mưa nhòe nắng Nhìn n ếp nhăn vầng trán anh
ngang; t ầm bão biển Nghe tóc anh xào x ạc lũy tre mờ khói tím"
Bi kịch cứ diễn ra càng lúc càng quyết liệt Sự tìm kiếm, sự đợi chờ cứ dài ra
với những khẳng lặng, những rung động Mỗi chuyến đi là một lần tìm kiếm, mỗi lần tìm kiếm là một lần hằn dấu thời gian Hạnh phúc mong manh như chính cái đẹp
của chất thơ Bài thơ "Lá Diêu Bông" cũng vẫn là cái bi kịch của sự kiếm tìm hạnh
phúc:
Hai ngày em tìm th ấy lá
Trang 27Mùa đông sau em tìm thấy lá Ngày cưới chị
gi ờ tìm thấy, nó ngẩn ngơ tìm quanh quẩn Đó là bi kịch muôn thuở của con người" (107
-tr283) sự kiếm tim dường như là vô vọng :
Lá diêu bông chỉ là một huyền thoại ảo ảnh, và sự kiếm tìm hạnh phúc chính
là sự kiếm tìm cái ảo ảnh Nhưng đó không phải là bi kịch của cuộc đời Bi kịch của cuộc đời là ở chỗ con người không hề kiếm tìm những ảo ảnh về hạnh phúc Cái kết thúc của cả hai bài thơ chính là chỗ đó, là sự "triết luận vê thời gian" Tất cả tạo thành một chất thơ viên mãn, lung linh, tạo thành…những chủ đề vĩnh hằng, những chân giá
tr ị thách thức mọi xói mòn, xô giạt của thời gián lãnh đạm" (16 – tr8) Có thể nói thơ ca
Việt Nam từ lãng mạn đến sau lãng mạn (và một vài hiện tượng khác) chưa ai tạo nên một ý nghĩa của thời gian như Hoàng Cầm Chính nó tạo nên cái đặc biệt trong
thơ ông Nếu như Đoàn Phú Tứ có một "Màu thời gian" mang chất tượng trưng thì
Hoảng Cầm trái lại mang đến cho chúng ta những suy ngẫm, "nghiền ngẫm r
về thời gian (mà chúng tôi sẽ nói ở phần sau) :
“Ông phó may già mười đêm chẳng ngủ
R ủ xô gai biển động tìm kim"
(Đêm kim)
" Y ếm may ba ngày mẹ vá lại
Trang 28Khuya nghe bu ồng động bóng đêm rằm"
(Đêm mộc)
Bằng phương tiện tư duy về thời gian, thơ đã nói được những điều không thể
nói, đã cảm nhận, đã linh cảm được những sâu thẳm nhất của cuộc đời, của "Miền
im th ẳm, thắm môi tê" của những "giấc mơ dang dở", của "Cõi đời nghiêng ngửa giấc u minh" Thời gian không gian nghệ thuật chính là nơi mà nhà thơ bày tỏ tâm trạng, nỗi lòng của minh, là mảnh đất cho thơ lan tỏa Hoàng Cầm nằm trong số đó Ông có
một không gian, một thời gian tinh thần được chuyển hóa từ cảm xúc và tài năng
Nó chính là sự ẩn dụ của cuộc đời ông, một cuộc đời đầy những hoài vọng sương khói và lảng bảng huyền thoại
2.2 Tình yêu, sự trải nghiệm của thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cầm
2.2.1/- Nói đến thơ là nói đến tình cảm và chủ yếu là tỉnh yêu đôi lứa Thi ca muôn đời vẫn vậy, dù mỗi giai đoạn, mỗi trào lưu, mỗi tác giả đều có sự khác nhau trong quan niệm về tình yêu Cách đây gần mười lăm thế kỷ Lưu Hiệp trong
"Văn tâm điêu long" đã nói đến 'Văn" và "tình", văn sinh ra tình (tất nhiên cái "tình" khi
đó gắn với cái "tính"), ông chia văn làm ba loại Trong dó "thứ ba là lối văn lấy tính tình
làm c ốt (13 – tr176) Tuy nhiên suốt hơn mười thế kỷ tiếp theo thơ vẫn chỉ là "văn dĩ ngôn ch ỉ' cho đến khi xuất hiện cuộc cách mạng về tư tưởng, đặc biệt là Mỹ học
Hegel viết "Vì vậy cho nên nhiệm vụ chính của thơ là gợi lên cho ý thức nhận thấy những
s ức mạnh của cuộc sống tinh thần và tất cả những gì lay động ta làm ta xúc cảm trong các
d ục vọng và các tình cảm nhân tính" (44 - tr484) Cái xúc cảm, cái dục vọng ở đây
chính là đời sống tinh thần, là tình yêu của con người và theo Hegel nó là "nhiệm vụ
chính c ủa thơ' Thơ luôn đi sâu vào đời sống tâm hồn con người, là ước mơ là khát
khao của con người Thơ luôn hướng nội ở độ sâu thẳm nhất và nơi ấy thơ bắt gặp tình yêu Lịch sử thơ ca nhân loại cho thấy nhiều nhà thơ trở nên nổi tiếng mà chủ
yếu là thơ tình : Puskin, A.Lamactin Veclen và ở Việt Nam,: thơ lãng mạn cũng
chủ yếu là thơ tình với Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Nguyễn Bính vế thơ tỉnh Xuân
Diệu, Trần Đình Sử viết "Ông đòi hỏi mội tình cảm được biểu hiện tuyệt đối nồng cháy,
cao độ tối đa" (86 - tr 42), cái "tuyệt đối nồng cháy cao độ, tối đa"ở đây chính là tinh
yêu, là mạch nguồn là bản chất của thơ ca : "Với bản chất của thể loại thơ là tiếng nói
nh ạy cảm nhất của tình cảm, trái tim con người Tình yêu là đề tài muôn thuở của văn chương nói chung và thơ nói riêng" (114 -tr305)
Trang 29Với thơ ca Việt Nam sau 1945 Hoàng Cầm là một nhà thơ khá đặc biệt Ông không hòa vào mọi người, ông âm thầm, lặng lẽ và cho ra đời nhiều bài thơ viết về tình yêu rất hay Hoàng Cầm là một nhà thơ tình vừa đặc biệt vừa khá tiêu biểu của thơ Việt Nam hậu lãng mạn, ông tự họa mình :
"Ta sinh đôi trái tim
t ừ hai dòng tóc óng đêm đợi hoa quỳnh
mà duyên ki ếp vò nhàu
xé n ửa vầng trăng lạnh lẽo"
(Nh ịp điệu Hồng Châu)
Và với Hoàng Cầm thơ ca chính là mảnh đất của tình yêu
"Thu ở ấy Chị chưa về thơ Anh
Á o tơ dính chặt bó thân hình Đến khi xé lụa bừng da thịt
Ng ửa mặt phù du khép gió xanh "
(Dáng thơ)
Thơ tình Hoàng Cầm có thể nói gắn liền với tuổi thơ của ông Tuổi thơ sinh ra trên một miền quê diễm tình, một miền quê quan họ của "Gái cầu Lim Nội Duệ"của
"Cô hàng xóm răng đen -cười như mua thu tỏa nắng" Nơi đó cái đẹp, cái tình cứ như
ám vào tuổi thơ của ông và theo ông suốt hành trình thơ "Hình nhân mã điệp mực
tàu, m ắt nghiêng dựa liếp" rồi thì "Váy đình bảng buông chùng cửa võng" Tình yêu trong
thơ Hoàng Cầm do đó càng ngày càng lớn lên, rộng ra, nhiều cung bậc, màu sắc
Co lúc tình yêu trong ông thâm trầm sâu lắng, lúc cay đắng nghẹn ngào, lúc bùng lên dữ dội với những khát khao những nhục dục và cả cái libido Trần Mạnh Hảo, trong một bài phê bình u
99 tình khúc?' (văn 71 - 97) nhận xét : Tựu chuung, thơ tình
Hoàng C ầm vẫn đằm thắm, nồng nhiệt, thậm chí mê cuồng nhưng không kém phần quằn
qu ại đau thương (43 - tr 113)
Trước hết ta nhận thấy thơ tình của Hoàng Cầm thật sâu lắng Nó sâu lắng
như chính cuộc đời ông, cái sâu lắng của một tình yêu đơn côi, của "Em mười hai
Trang 30tu ổi biết gì Chị ơi' , của "lẻo đẽo em đi vườn mai sau - cúi nhặt chiều mưa dăm quả
r ụng Cái tình yêu sâu lắng trong ông cứ như bồn chồn :
"Ấy bởi thương em
mái nhà um c ỏ Chim vào ra vách đứng cột ngồi"
Và tình yêu chỉ được cảm nhận bằng những tiếng vọng rất mơ hồ, xa lắng
của cõi tâm linh :
"Vắt áo nghe thầm tiếng vái kêu "
(T ắm đêm)
Chừng như không phải là tiếng vái kêu mà là tiếng vọng của tình yêu, một tình yêu vừa nồng ấm, vừa diết da Thế nhưng tình yêu luôn đi liền với dang dở Xuân Diệu viết :
"Tinh yêu đến, tình yêu đi ai biết Trong g ặp gỡ đã có mầm ly biệt"
Và ông cay đắng :
"Ta ngây phơ vội tưởng họ yêu mình
Ta dâng v ội cả ân tình thứ nhất Đương vương chủ ta bỗng thành hành khất
Ch ỉ vì nghe mội lời hứa như chim"
(Xuân Di ệu - Yêu mến)
Trang 31Với Hoàng cầm sự cay đắng trong ông thật sâu lắng, nhẹ tênh mà đầy hụt
hẫng :
"Chìa vôi qu ệt gió hững hờ
B ờ ao sáo tắm bao giờ
h ở em"
(Theo đuổi)
I
Ông nhấm nháp tình yêu trong cái trống không nhạt nhòa, hụt hẫng :
"Li ệu còn gì của men say
C ạn ly cũng bỏ môi gầy nhạt tênh "
(Li ệu còn gì nữa)
Và cũng đẩy lạnh lẽo : "Chăn nệm dày càng rét phía nằm em" Niềm cô đơn
trong ông mang nỗi đau và những mặc cảm đầy nữ tính vẫn l ồng đau ấy vào thương
ph ận này" Nỗi đau trong tình yêu của Hoàng cầmcó cái gì đó thật quặn thắt :
"Ch ắt chiu quấn lụa càng đau ruột tằm"
ông-mới thật đau đớn, quyết liệt
"Không t ừ ân ái nhỡ nhàng Lòng t ỏi than lạnh gio tàn làm sao?"
(Người hàng xóm)
Riêng Hoàng Cầm thì lại khác, nhà văn Phạm Thị Hoài cho rằng : "ông không
đơn giản tới mức cứ đau đồi từ trang này sang trang khác (50 - tr253) mà thâm trầm xót
xa phiền muộn "Thế giới tình cảm trong mưa thuận thành, dù gồm nhiều mảng rất khác
nhau, ch ỉ xót xa phiền muộn, yểu điệu, yếu ớt tinh vi, nhiều mặc cảm, nhiều nữ tính" (50 -
tr253) Và tác giả viết tiếp: "bản năng cũng được kìm nén chỉ êm dịu một lẽ chấp nhận
Trang 32thoáng chút xót xa, th ế giới ấy khó chia sẻ" (107 - tr254) Quả thật ông không tìm
sự đồng cảm, không bày tỏ một cách thiết tha nhưng vẫn thấy đầy chua xót :
" Còn em l ảng đảng nơi đâu Anh v ề
Nh ớ em từ miếng cơm không Hai năm bát mẻ đũa còng chia nhau "
(Ngày gi ỗ)
Đó là cái ọhua sót trọng sự "so sấm" tẩn mẩn của cuộc tình "bát mẻ đũa
còn ự Ta có cảm giác như ồng cố nén, cổ thu minh lại, cố lặn thật sâu vào bản thể
của mình trước bể dâu cuộc dời Vỉ vậy cho nên với ống cuộc đời chỉ là một nửa :
"M ột nửa tôi theo về cuối trời
M ột nửa em về trang giấy lạnh"
(Ng ỏ với gió biển)
Và thật xót xa cho hồn thơ, hồn đời của ông :
"L ắm loài súng sính sinh đôi Nòi tình thui th ủi một đời một không"
(Thua m ột không)
Sự xót xa trong tình yêu, sự thất vọng cứ âm ỉ ngân lên :
"Tan r ồi hạt bụi ái ân Vướng mi em mộ ĩ dôi lần phải không "
(Ngày gi ỗ)
Trang 33Dẫu vậy, mặt khác tình yêu trong thơ Hoàng Cầm có một cái gì đó gần với Xuân Diệu, người có "tiếng lòng của một khát vọng sống mãnh liệt nồng nàn" (25 - tr55)
có "n ỗi lòng của một người khát sống và say sống” (25 - trôi)
"Tôi c ần tin, rỏi khao khái được nhầm "
(M ời yêu - Xuân Diệu)
Với Hoàng Cầm thế giới tình yêu trong ông là thế giới của khát khao, khát khao đến tận cùng, lực kiệt
"Ôm em su ốt đợi sóng trào
v ẫn thèm nghén nghẹn cồn cào của chua"
(Chuy ện cô đơn)
"Mi ền in thẳm
th ắm môi tê Hôn em c ạn máu
đi về tận không"
(Tu)
Sự khát khao tình yêu trong thơ Hoàng Cầm luôn thường trực, từ "những khát
khao m ột đêm dài trắng nuột” đến "Nước khát chiều sóng ngực em đâu” Tình yêu luôn
đi liền với những khát khao mà nếu không có nó tình yêu sẽ trở nên vô vị Ông khát khao một đêm, khát khao một chiều và "Khát hôm mai cháy khôn nguôi'
ì
Như đã nói ở trên, Hoàng Cầm có một tuổi thơ, một đời thơ kỳ lạ Cậu bé Hoàng Cầm cầm chiếc lá diêu bông "đi đầu non cuối bể” như ám vào đời thơ Hoàng
Cầm Hoài Việt trong công trình sưu tầm biên soạn "Hoàng Cầm thơ văn và cuộc đời”
nhận xét : "Còn một cái bóng khác đang lặn lội tìm về quá khứ, điềm tĩnh hơn, trầm lặng
hơn, sâu sắc hơn nhưng lại là tiếng lòng riêng muốn giải tỏa những ẩn ức”(107 – tr16)
Nỗi khát khao trong ông như một niềm ẩn ức dồn nén từ lâu :
"Khát thêm t ừng trận
Khát hòai tu ổi xưa"
Và khát khao dai dẳng :
Trang 34" Và dai d ẳng em ơn
Là cơn say khát lá
(Nh ớ lá)
Sự ám ảnh tạo cho thơ Hoàng Cầm có những mạch cảm xúc đặc biệt Đó là
sự ám ảnh của tình yêu vô bờ bến trong hồn thơ, trong cảm xúc của ông Nếu ví
hồn thơ của Hoàng Cầm như là những hạt giống thì có thể nói đó là những hạt
giống nó có thể mọc lên ở mọi mảnh đất Với Hoàng Cầm tình yêu len vào tận cửa thiền :
" Ơi chiều Kinh Bắc Chuông chùa nhuộm son"
Và nhập vào con người :
"Ong bay vai áo ti ểu thon mình"
gì đó thật khó chịu, bị bó buộc, bị nhấn chìm, bị đè ngang trong câu chữ, cố thoát lên nhưng
Trang 35không sao thoát được, cứ nghẹn ngào u uất, tức tưởi* (85 - Ư285) Và có thể nói điệu
thơ Hoàng cầm như con hạc trong ca dao :
"Em như con hạc đầu đình Muôn bay không c ất nổi mình mà bay "
(Ca dao)
Con hạc ấy rất muốn bay nhưng sải cánh của nó cứ chới với Nó phải mang
nặng hơn nhiều lần cái mà nó có thể mang Quả vậy hồn thơ Hoàng Cầm chất chứa
vào đó bao nhiêu là tình cảm, vũ mềm Cái duyên kiếp nghẹn ngào "Em đứng nhìn
theo em g ọi đôỉ” vì chị đã "Xòe tay phủ mặt” mang bao nhiêu là u uất nghẹn ngào :
"Em nói như gió ngh ẹn
Chi ều nghiêng mây Thị Màu"
(Anh đứng đây là đâu)
Đó là cái nghẹn ngào của tuổi xuân :
"L ụa sồng nén ngh ẹn búp thanh xuân"
(Đêm thổ)
Cái nghẹn ngào của nụ cười :
"Thôi em xin t ắt cơn cười ngh ẹn"
(Bênh)
Cái nghẹn ngào của đất trời :
"Tr ời sao nuốt ngh ẹn kh ối u mềm"
(Xa)
Cái nghẹn ngào của khát khao :
"V ẫn thềm nghén ngh ẹn c ồn cào của chua "
(Chuy ện cô đơn)
Trang 36Với sự tan vỡ của tình yêu chưa phải là sự kết thúc Nó vẫn âm ỉ, vẫn nghén nghẹn, vẫn uất ức :
" Sao v ẫn còn gìờ ấy ngh ẹn ngào chia"
(V ề cõi thật anh)
Nó âm ỉ đến tưởng chừng như tận cùng vẫn không kết thúc
"Bước sắp qua cầu ngh ẹn tiếng"
(Đêm thủy)
Có thể nói cái nghẹn tắt trong thơ ông chính là sự mâu thuẫn giữa một tâm hồn nữ tính với một khát khao vô tận Đó chính còn là sự dồn nén tình cảm của một tuổi thơ nhạy cảm sinh ra trên vùng đất huê tình diễm lệ, đầy những đam si Nó chính là mạch nguồn tạo nên chất thơ Hoàng Cầm rất đặc trưng, Không hề lẫn lộn
2.2.2 Ở đây chúng ta cùng tìm hiểu một mạch nguồn khác trong thơ ông: Đó
là những dục vọng trong tình yêu (chứ không phải chủ nghĩa khoái lạc (Plecssure Seekinh) Trước hết chúng ta cần khẳng định Hoàng Cầm không phải là một nhà thơ chủ trương lấy nhục dục thân xác làm cứu cánh cho thi ca Nó xuất hiện trọng thơ ông như là một tất yếu trên con đường đi tới cái đẹp, là sự rung động mãnh liệt
của một hồn thơ đầy mê đắm, là sự thăng hoa của những khát vọng về cái đẹp Trên
cơ sở phân tích quá trình sáng tạo văn hóa S.Freud viết "Do đó tính lực tính dục sẽ
được thăng hoa có nghĩa là, nó sẽ khơi mục tiêu cho tình dục để chuyển sang mục tiêu xã
h ội cao cả" (dẫn theo Phương Lựu trong "khơi dọng lý thuyết” (67 - tr99) Quả vậy
những yếu tố
Trang 37tính dục trong lịch sử thơ ca Việt Nam không phải là một cái gì đó quá hiếm hoi Ca dao tự ngày xưa đã viết rồi :
"B ắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi"
Hoặc táo bạo hơn :
"M ấy cô yếm thắm bỏ bùa cho sư"
Hồ Xuân Hương cũng không phải là ngoại lệ trong nền thi ca Việt Nam Thì Hoàng Cầm có có cả tâm hồn của một người trai "Dải yếm lòng trai mãi
ph ất cờ” có cả một "Hội yếm bay" với :
"Bay c ờ triệu yếm ríu ran ca "
(H ội yếm bay)
Ông tâm sự “Tôi chưa thấy một thứ áo ngực nào đẹp mà tình mà quyến rũ đáo để
như yếm trong trang phục cổ của cô gái quê Kinh Bắc, với cái chất liệu mềm mại : Sụt, sồi, đãi, nái, … với lộng lẫy các màu sắc : Lòng trai, xác pháo, hồng điều, vàng mỡ, thanh thiên, nâu non, lá m ạ, hoa liễu, vỏ đỗ" (94 - tr351) Với Hoàng Cầm yếm tượng trưng cho cái
đẹp, cho những xúc cảm thẩm mỹ "thắt yếm đào tuổi son" Yếm là tình yêu, là những
khoái cảm tận cùng của tình yêu :
" Y ếm hãm xuân tình em hé môi"
(H ội yếm bay)
Nó không trần tục mà bồng bềnh đầy gợi cảm :
"Hai đứa lung linh lơi yếm áo Thuy ền trăng dềnh
s ả cánh cô đơn "
(Ch ị em xanh)
Trang 38Và cũng đầy sự nổi loạn :
"Đã phanh yếm mỏng thì quăng hết
Nh ững nếp xiêm hờ giả bộ ngây"
(H ội yếm bay)
Sự nổi loạn với ông chất chứa từ trong sâu thẳm của một nến văn hóa phồn
thực với tranh Đông Hồ :
"Y ếm may ba ngày mẹ vá lại Khuya nghe bu ồng đọng bóng đêm rằm"
(Đêm mộc)
Với hội họa, khỏa thân trở thành một đề tài muôn thuở Với thơ cũng không
phả là hiếm Nữ sĩ Xuân Hương với cuộc nổi loạn "Yếm đào trễ xuống dưới nương
long” c ũng là tiếp nối bức tranh của Nguyễn Du vẽ nàng Kiều "Dáy dày đúc sẵn một
tòa thiên nhiên" Bích Khê thi s ĩ cũng có cả một "Tranh lõa thể" :
"Đêm u Huyền ngu mê trên mải tóc Vài chút trăng say đọng ở làn môi Hai vú nàng, hai vú chàng chao ôi Cho tôi nút cả dòng sông ngọt lộng :
Ô l ồ lộ một tòa hoa nghiêm động "
(Tranh lõa th ể -Bích Khê)
Bức tranh nuy (khỏa thân) của Hoàng Cầm không lồ lộ Nó xa xăm, mịt mù sương khói như tình yêu, như hồn thơ của ông Nó thật gần mà thật xa
"Tu ột hàng khuy lơi yếm tóc buông mành Nghe nghìn muôn năm sau
xoa n ắn đôi bầu vú lụa"
(N ắng phù xa)
Trang 39Nó như toát lên từ một nơi xa khuất nào đó của tâm linh, của huyền sử :
"Bỗng âm dương toát mình trần "
"Cõi trương chi đã lạnh dần Anh còn qu ấn tóc trói trần Mị Nương"
(T ập Kiều)
I
Nhưng cũng thật gần gũi thật gợi cảm :
"Vú xuân đường phèn căng bưởi Nga Mi"
Tình yêu là kết quả của một quá trình dồn nén, tiếp tục được dồn nén Nó như
là một sự ám ảnh, vừa rất thực nhưng cũng vừa "liêu trai':
"Dòng d ậy vực mãi đêm hồ tinh
ấp vú mình trần con dế trủi"
(T ắm đêm)
"H ội tăn men
qu ẩn quanh nghiêm ngửa
Gi ật yếm đào túm vội đôi bầu
B ỗng đốp chát mắt đom đóm nổ
M ịt mù mây sóng cuốn về đâu"
(H ội Vân Hà)
Chất thơ Hoàng Cầm cứ chênh vênh giữa thực và mơ, giữa hiện tại và ảo
ảnh, bởi hình như ông cũng có nhiều "giấc mơ" Từ "Chiều mê bến lịm bàng hoàng
ch ớp đông cho đến "với ai em nói đêm mê ấy cứ như lẩn quất, cứ như thấp thoáng
tronq thơ ông Và cõi thơ ông càng mịt mờ hơn
"Ng ủ lại giấc mơ dang dở"
(Đêm mộc)
Trang 40Có ý kiến cho rằng nhục tính trong thơ ông tục Đọc kỹ không thấy điều này Chúng ta chỉ thấy nhục dục trong thơ ông chỉ là những giấc mơ về tình yêu, là sự thăng hoa của một tuổi thơ nhạy cảm và khát vọng, là những u uẩn của những mâu thuẫn dồn nén Đó là mâu thuẫn giữa ham muốn và kìm nén giữa khát khao và thất
vọng, giữa hiện thực và tâm hồn, giữa tình yêu và tan vỡ
sử đó của thơ ca, Hoàng Cầm tiếp nối như là một quá trình chuyển tiếp của thi ca Việt Nam hiện đại
2 Thế nhưng Hoàng Cầm lại là một con người khác Con người được sinh
ra, được nuôi dưỡng và được lớn lên bằng ca dao, bằng quan họ Bắc Ninh Trong tâm hồn của ông là cả một không gian văn hóa Kinh Bắc với những hội hè, những huyền sử, những âm vang của đồng quê Thế cho nên chất thơ Hoàng Cầm khởi đi
từ dây
Và nó bắt gặp con thuyền thơ ca Việt Nam hậu lãng mạn Vì vậy ta bắt gặp trong thơ ông một không gian, thời gian nghệ thuật vừa rất thực, vừa rất mơ, vừa được nhìn bằng đôi mắt, vừa được nhìn bằng cảm giác Ông luôn cảm giác thế giới
bằng con mắt thơ vừa nữ tính vừa u huyền lo âu Ông cảm giác trong cái nghiêng
ngửa của đất trời, cái chập chờn của mộng ảo, cái mờ mịt của khói sương
Trong "Nh ững thế giới nghệ thuật thơ”, Trần Đình Sử viết: "Thơ lãng mạn đem lại một nguyên t ắc miêu tả mới" : "Tả chân sự vật bằng trực cảm mang nội dung tâm lý va tưởng tượng” (86 - tr50) Ở đây Hoàng Cầm không chỉ tả chân sụ vật bằng trực cảm mà
thường là sự vụt hiện của dòng vô thức giữa những câu thơ, bài thơ lồ lộ cảm xúc