Có thể tóm gọn các vấn đề được các nghiên cứu khai thác như sau: Khi tiếp xúc với những tác phẩm ký viết về đề tài chiến tranh của Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhiều nhà nghiên cứu đã chú ý đến
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẶNG THỊ TUYẾT TRINH
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận văn học
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 6
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 11
1.1 Khái lược về thế giới nghệ thuật 11
1.1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật 11
1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người 14
1.2 Hành trình sáng tạo của Hoàng Phủ Ngọc Tường 16
1.1.1 Vài nét về cuộc đời của Hoàng Phủ Ngọc Tường 16
1.1.2 Về hành trình sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường 18
1.2.3 Quan niệm của Hoàng Phủ Ngọc Tường về thể ký 19
CHƯƠNG 2 NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 25
2.1 Bức tranh đời sống phong phú, đa dạng 25
2.1.1 Bức tranh chân thực về đời sống xã hội 25
2.1.1.1 Chiến tranh và những vấn đề hậu chiến 25
1.1.1.2 Những vấn đề thế sự nóng bỏng 31
2.1.2 Chiều sâu văn hóa và khám phá về lịch sử 36
2.1.2.1 Chiều sâu văn hóa 36
2.1.2.2 Khám phá về lịch sử 41
2.1.3 Thiên nhiên 44
2.1.3.1.Thiên nhiên hòa hợp với con người 46
2.1.3.2 Thiên nhiên mang màu sắc triết lý 52
Trang 32.1.3.3 Thiên nhiên - đối thoại và dự cảm 53
2.2 Thế giới nhân vật 55
2.2.1 Nhân vật cái tôi tác giả 56
2.2.2 Các kiểu nhân vật 62
2.2.1.1 Nhân vật anh hùng 63
2.2.1.2 Những con người mới 67
2.2.1.3 Danh nhân, nghệ sỹ 69
2.2.1.4 Thiếu nữ trong miền hoài niệm 73
CHƯƠNG 3 ĐẶC SẮC VỀ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 77
3.1 Ngôn từ nghệ thuật 77
3.1.1 Ngôn từ đậm chất thơ và giàu tính liên tưởng 77
3.1.2 Ngôn từ giàu màu sắc suy tưởng và triết lý 84
3.1.3 Ngôn từ mang tính khoa học, rành mạch và chặt chẽ 87
3.2 Giọng điệu trần thuật 89
3.2.1 Giọng sử thi huyền thoại 89
3.2.2 Giọng trữ tình suy ngẫm trầm tư, thấm đậm triết lý 92
3.2.3 Giọng chính luận mang màu sắc báo chí 95
3.2 Nghệ thuật kết cấu 97
3.3.1 Kết cấu theo mạch tâm lý 98
3.3.2 Kết cấu theo trường liên tưởng 100
3.3.3 Kết cấu theo kiểu luận đề 101
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 4
Ký là một thể loại văn học ra đời từ rất sớm trong lịch sử văn học và là thể loại có tính cơ động, linh hoạt, nhạy bén Với tư tưởng dân chủ mạnh mẽ và tinh thần sẵn sàng dấn thân, nhập cuộc trên cơ sở tôn trọng hiện thực khách quan, ký được đánh giá là một trong những thể loại tiên phong trong văn học thời kỳ đổi mới Viết ký không phải là khó nhưng để viết được hay thì lại không
dễ chút nào Chính vì thế đã có nhiều nhà văn tham gia viết ký nhưng để thực sự
“chuyên tâm” với thể loại và gặt hái được thành công thì không nhiều tên tuổi Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số ít những nhà văn viết ký nổi tiếng của văn học Việt Nam hiện đại Ông đã tạo nên dấu ấn riêng với phong cách sáng tạo độc đáo, vừa trữ tình, lãng mạn, vừa thâm trầm, triết lí, tài hoa Có nhiều người cho rằng trong thể ký ở Việt Nam, sau Nguyễn Tuân phải kể đến Hoàng Phủ Ngọc Tường Chính Nguyễn Tuân cũng đánh giá cao những trang ký của
Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông gọi đó là những trang văn “rất nhiều ánh lửa”
Từ năm 2003, ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã được đưa vào giảng dạy
trong chương trình Ngữ văn 12 với tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông Đây
là một sự ghi nhận đáng kể vị trí của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đối với nền văn học nước nhà Ông cũng đã giành được nhiều giải thưởng cho những đóng góp của mình, nổi bật là giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007 Mặc dù, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một tác giả lớn về ký của văn học Việt Nam
Trang 5chúng tôi lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
2 Lịch sử vấn đề
Hoàng Phủ Ngọc Tường được xem như một hiện tượng của văn học miền Trung và văn học cả nước sau 1975 Vì thế, những bài viết về con người và tác phẩm ông tương đối nhiều Tính đến nay có đến hàng trăm bài viết trên các báo, tạp chí, trang web Có thể tóm gọn các vấn đề được các nghiên cứu khai thác như sau:
Khi tiếp xúc với những tác phẩm ký viết về đề tài chiến tranh của Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhiều nhà nghiên cứu đã chú ý đến “chất lửa” trong ký của ông Nguyễn Tuân – ông hoàng của thể ký Việt Nam có thể nói là một trong những người đầu tiên đã có cái nhìn rất bao quát về giá trị của ký Hoàng Phủ
Ngọc Tường: “Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường có rất nhiều ánh lửa” [76, tr.3]
Tiếp nối, có nhiều bài viết khác đã khẳng định vẻ đẹp của “chất lửa” đó trong ký
Hoàng Phủ Ngọc Tường như: nhà báo Phạm Xuân Hùng với bài Lửa phù dung đăng trên báo Quảng Trị số 5/1999; Ngô Minh Hiền với bài Biểu tượng lửa
trong văn xuôi Hoàng Phủ Ngọc Tường in trên tạp chí Khoa học số 6/2004; Dạ
Ngân với bài Hoàng Phủ Ngọc Tường - Nỗi niềm của lửa in trên báo Văn Nghệ
số tháng 12/2006
Một trong những yếu tố của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường mà các nhà phê bình hay đề cập đến là chất Huế và tính văn hóa Trần Đình Sử là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên đã đặt vấn đề về tính văn hóa của ký Hoàng Phủ
Ngọc Tường, ông cho rằng: “Bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cuộc đi tìm
cội nguồn, một sự phát hiện bề dày văn hóa, lịch sử của các hiện tượng đời sống” [74, tr.298] Hoàng Ngọc Hiến trong Ký và tiểu luận đã tìm thấy trong ký
Hoàng Phủ Ngọc Tường những “suy tư về bản chất Huế, về quan hệ triết học
Trang 6Con người – thiên nhiên” [8, tr.19] Đặng Nhật Minh thì khẳng định giá trị của
ký Hoàng Phủ Ngọc Tường nằm trong “chất Huế của con người anh” [52,
tr.65] Trần Thuỳ Mai thì khẳng định ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là “ký văn
hoá” trong bài viết Ký văn hóa của Hoàng Phủ Ngọc Tường (tạp chí Sông
Hương số 05/2002) Ngoài ra có thể kể đến một loạt những bài viết như: Đọc bút ký “Rất nhiều ánh lửa” của nhà văn Nguyễn Văn Bổng; Chiêm cảm Huế di tích và con người của Hoàng Bình Thi; Đọc nhàn đàm của Hoàng Phủ Ngọc Tường của Hoàng Sĩ Nguyên đăng trên tạp chí Sông Hương
Một đặc điểm khác mà các nhà nghiên cứu, phê bình cũng rất chú ý đó là cảnh sắc thiên nhiên trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường Tiêu biểu như các bài
viết: Huế vẫn xanh và Tường vẫn trong (báo Văn hóa Thể thao số 2/11/1998) và
Thế giới tồn tại bởi sự lễ độ (Văn nghệ Trẻ số 22/8/1998) của nhà văn Văn Cầm
Hải; Người lễ độ với thiên nhiên của nhà báo Lê Đức Dục (báo Thừa Thiên Huế
số 2/1/2000); Xin được nói về Hoàng Phủ Ngọc Tường như một thi sĩ của thiên
nhiên của Lê Thị Hường (tạp chí Sông Hương số 161-7/2002); Hoàng Phủ Ngọc Tường và nỗi ám ảnh hoa phù dung của Ngô Minh (báo Phụ Nữ số ngày
24/2/2005), Hoàng Phủ Ngọc Tường và tài sản sông Hương của Kim Oanh (báo
Tuổi trẻ số ngày 29/11/2008); Vẻ đẹp của một dòng sông của Vũ Thị Luyến (tạp
Đọc bút ký “Rất nhiều ánh lửa” của Hoàng Phủ Ngọc Tường của nhà văn
Nguyễn Văn Bổng (bài phát biểu trong buổi lễ trao giải thưởng văn học, Hội
Nhà văn Việt Nam 1981-1982); Viết về tập bút ký “Ngọn núi ảo ảnh” của nhà thơ Hoàng Cát (báo Văn Nghệ số 12/1999); Hoàng Phủ Ngọc Tường trong mắt
tôi của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng (báo Văn hóa và Đời sống, Xuân Quý
Mùi); Từ A đến Z với Hoàng Phủ Ngọc Tường của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo (tạp chí Sông Hương số 161-7/2002); Hoàng Phủ Ngọc Tường - người ham chơi
Trang 7của nhà thơ Ngô Minh (báo Tuổi trẻ số ngày 20/9/2007) và Người theo "chủ
nghĩa" mê đi của Hạnh Lê (báo Quảng Nam số 2/2007);
Đánh giá về những đặc sắc nghệ thuật, nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật Hoàng Phủ Ngọc Tường có những bài viết như: bài tựa của Nguyên
Ngọc trong tập bút ký Rượu hồng đào chưa nhắm đã say (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2001); Nghĩ về văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường của Ngô Minh (báo
Văn hóa Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh số 7/2002); Về việc giảng dạy thể
ký và ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong chương trình văn học phổ thông của
Lê Trà My (tạp chí Giáo dục số 49 năm 2006); Đọc Ngọn núi ảo ảnh của Hoàng Cát (tạp chí Cửa Việt năm 2000); Lễ hội riêng của Hoàng Phủ Ngọc Tường của Nguyễn Trọng Tạo (tạp chí Cửa Việt năm 2002); Đọc tuyển tập Hoàng Phủ
Ngọc Tường của Đặng Tiến (tạp chí Diễn đàn Paris năm 2002)
Phần lớn các nghiên cứu trên chỉ dừng ở mức độ là các bài viết Gần đây, cũng xuất hiện một số công trình khoa học công phu hơn về ký Hoàng Phủ Ngọc Tường nhưng chủ yếu đi sâu vào một khía cạnh để nghiên cứu, tiêu biểu
như: Văn xuôi Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường từ góc nhìn văn hóa
của Ngô Minh Hiền (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Viện Văn học, 2009) Ngoài ra, còn có một số luận văn do các sinh viên, học viên tại các trường đại học thực hiện
Nhìn chung, những bài viết, công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những nét tiêu biểu về con người và văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường, đánh giá cao vị trí, vai trò của nhà văn trong ký Việt Nam Tuy nhiên, những đánh giá
đó mới chỉ là những lời nhận xét chung, khái quát, những công trình nghiên cứu
hệ thống về văn chương của ông còn rất ít Do vậy, chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, để khám phá những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, từ đó khẳng định vẻ đẹp của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu mà luận văn xác định là: chỉ ra những nét độc đáo của bức tranh cuộc sống và con người trong thế giới nghệ thuật ký Hoàng Phủ Ngọc Tường và những đặc sắc của nghệ thuật biểu hiện
Trang 8Tường và các tập xuất bản sau năm 2002: Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường -
tập 1: Nhàn đàm (Trần Thức tuyển chọn, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí
Minh, 2002); Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường - tập 2: Bút ký (Trần Thức tuyển chọn, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 2002); Tuyển tập
Hoàng Phủ Ngọc Tường - tập 3: Bút ký (Trần Thức tuyển chọn, Nhà xuất bản
Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 2002); Huế di tích và con người (Nhà xuất bản
Đà Nẵng, 2003); Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé (Nhà xuất bản Trẻ, 2005); Miền cỏ thơm (Nhà xuất bản Văn nghệ, 2007)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp thống kê - phân loại
Phương pháp so sánh - đối chiếu
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần nội dung của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Khái lược về thế giới nghệ thuật và hành trình sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
1.1 Khái lược về thế giới nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật
Những năm trước 1970, sáng tác của nhà văn thường được nhìn nhận như một tập hợp đơn giản của các bộ phận, các mảng rời Thực tế, các tác phẩm của nhà văn tạo thành một thể thống nhất, giữa chúng tồn tại mối quan hệ gắn bó, chặt chẽ như một sinh thể Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, với sự xuất hiện của các lí thuyết nghiên cứu văn học khác Macxit, sáng tác của một nghệ sĩ được nhìn nhận như một chỉnh thể, một thế giới riêng, một cõi sống riêng Chính từ yêu cầu muốn tiếp cận tác phẩm văn học trong dạng chỉnh thể, khái niệm thế giới nghệ thuật đã xuất hiện Ở Việt Nam, khái niệm này được nhắc đến vào những năm 80 và đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả với sự ra đời của nhiều công trình khoa học nghiên cứu tác giả, tác phẩm, hiện tượng văn học từ góc độ thế giới nghệ thuật
Khái niệm thế giới nghệ thuật được hiểu với hàm nghĩa rộng, chứa đựng
nhiều cấp độ khác nhau Năm 1985, trong luận án Tiến sỹ Sự hình thành và
những vấn đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác định hàm nghĩa thế giới nghệ thuật như
sau: “Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mỹ học bao gồm tất cả các yếu tố của
quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả các kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mỹ Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực – đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh hiện thực, tư tưởng, tình cảm của nhà văn Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương đối với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn bản thân nó Nó có thể bao gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn, một trào lưu nghệ thuật,
Trang 11một thời kỳ nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan đến nhiều yếu tố khác của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng hiện thực
và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người…, là thế giới sinh động và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học, mỗi dân tộc, mỗi thời kỳ lịch
sử đều có thế giới nghệ thuật riêng của mình” [85]
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán chủ biên định nghĩa: “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, một tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người mặc dù nó phản ánh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng… chỉ xuất hiện có tính ước lệ trong sáng tác nghệ thuật” [18, tr.251 + 252]
Khẳng định tính chỉnh thể của thế giới nghệ thuật, Nguyễn Đăng Mạnh
trong Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn cho rằng: “Thế giới
nghệ thuật của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là một chỉnh thể tất phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng có nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu tố phải có tính quy luật” [51, tr.23]
Lê Lưu Oanh trong Thơ trữ tình Việt Nam 1975 – 1998 đã chi tiết hóa khái niệm này qua hình tượng cái tôi trữ tình: “Gọi cái tôi trữ tình là một thế giới
nghệ thuật bởi thế giới nội cảm này là một thể thống nhất có ngôn ngữ và quy luật riêng phụ thuộc vào lịch sử cá nhân, thời đại… Đi sâu vào thế giới nghệ thuật được coi như một kênh giao tiếp với những mã số, kí hiệu, giọng nói chương trình riêng, cần có thao tác phù hợp… Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình là một thế giới mang giá trị thẩm mỹ”
Trần Đình Sử trong Những thế giới nghệ thuật thơ đã khẳng định thế giới
nghệ thuật như một cõi sống riêng, mang dấu ấn cá nhân, cái nhìn chủ quan của
người sáng tạo: “Văn bản thơ không chỉ gồm câu chữ, vần điệu, ngắt nhịp,… mà
Trang 12bao gồm cả thế giới hình tượng bên trong như một thế giới sống đặc thù Phải miêu tả thế giới ấy, cho dù nó khác với thực tế như thế nào, có vẻ vô lí như thế nào Đó chính là thế giới chủ quan nội cảm của tác phẩm” [73, tr.6]
Có thể thấy, thế giới nghệ thuật là một khái niệm rộng, được triển khai với nhiều cấp độ, tác phẩm, tác giả, giai đoạn, thời kỳ văn học, nền văn học dân tộc, trào lưu Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể toàn vẹn, thống nhất trong đó mọi yếu tố có quan hệ ràng buộc, quy định và tác động lẫn nhau Mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới Khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tạo nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan, văn hoá chung, văn hoá nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ
Thế giới nghệ thuật của một nhà văn là một thế giới riêng, mang đậm dấu
ấn chủ quan của người sáng tạo Xét đến cùng, thế giới nghệ thuật của một nhà văn chính là thế giới hình tượng hiện ra như một chỉnh thể sống động, chứa đựng một quan niệm nhân sinh và thẩm mĩ nào đó, được xây cất bằng vật liệu ngôn từ Như vậy, thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ vừa là hiện thân của tư tưởng sáng tác Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một thế giới động, vừa vận động vừa phụ thuộc vừa phản ánh những biến chuyển trong tư tưởng của người nghệ
sĩ
Khi quan niệm thế giới nghệ thuật là chỉnh thể tức ta đã thừa nhận cấu trúc nội tại của nó Nó không chỉ là một tầng mà nhiều tầng, được đặt trong hệ thống từ cảm hứng đến sáng tạo, từ thấp đến cao: ngôn từ - hình tượng – kết cấu – văn bản Bàn về cấu trúc của thế giới nghệ thuật, có khá nhiều quan niệm khác nhau Trước thi pháp học, các quan niệm ngây thơ hiểu thế giới nghệ thuật chỉ như một ẩn dụ, do vậy thế giới nghệ thuật chưa có một cấu trúc xác định, dẫn đến cách tiếp cận thế giới nghệ thuật của một nhà văn hết sức tùy tiện, không định dạng được Quan niệm xã hội học của các lí thuyết trước Thi pháp học quan niệm thế giới nghệ thuật bao gồm: hệ thống cảm hứng, hệ thống chủ đề, khuynh hướng, cách quan niệm này rơi vào nhược điểm là cắt xẻ, thoát li hình tượng Thi pháp học thì cho rằng thế giới nghệ thuật được hình thành bởi hai bình diện cơ
Trang 131.1.2 Quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người
Thế giới nghệ thuật của một nhà văn là thế giới riêng, không trộn lẫn mà nhà văn đó đã tạo dựng nên, chứa đựng những quan niệm nhân sinh, xã hội của người sáng tạo Có thể nói, một trong những yếu tố cơ bản cấu tạo nên thế giới nghệ thuật của một nhà văn chính là quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người của nhà văn
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa quan niệm nghệ thuật là: “nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [18, tr.229] Cuộc
sống và con người là đối tượng hướng tới của văn chương nghệ thuật Để tái hiện cuộc sống con người, nhà văn phải hiểu cách họ giao tiếp với nhau, với thế giới và với bản thân, cách họ sống, hành động và suy nghĩ, điều họ quan tâm và không quan tâm trong cuộc đời Những điều đó tạo thành mô hình nghệ thuật về thế giới và con người bao quát mà tác giả xuất phát để khắc họa hình tượng những con người, số phận cụ thể, tổ chức quan hệ của các nhân vật, giải quyết xung đột, xây dựng kết cấu cho tác phẩm Cuộc sống và con người trong văn học không phải là cuộc sống và con người có thực trong thực tế, mà là cách quan niệm về cuộc sống và con người ấy một cách thẩm mĩ và nghệ thuật của nhà văn
Quan niệm nghệ thuật thể hiện “giới hạn tối đa trong cách hiểu thế giới và con
người của một hệ thống nghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó” [18, tr.229] Quan niệm nghệ thuật chính là "hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật và làm thành thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật” [18,
tr.230] Vấn đề quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người thực chất là vấn
Trang 14đề tính năng động của nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lí giải cuộc sống, con người bằng các phương tiện nghệ thuật, là vấn đề về giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, là khả năng xâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc đời
Con người là trung tâm của cuộc sống, con người cũng là đối tượng chủ yếu của văn học Do đó, cốt lõi trong quan niệm nghệ thuật của nhà văn chính là quan niệm nghệ thuật về con người Quan niệm nghệ thuật về con người là hình
thức đặc thù thể hiện con người trong văn học Trần Đình Sử trong Dẫn luận thi
pháp học đã cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó” [75, tr.55] Nhân vật là
hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học và quan niệm nghệ thuật
về con người hướng người ta khám phá cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng Quan niệm nghệ thuật về con người chính là sự khám phá về con người
Nó phản ánh cấu trúc của nhân cách con người và các hình thức phức tạp tương ứng trong quan hệ con người đối với thế giới, gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ, mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ
Quan niệm nghệ thuật về con người không phải là bất cứ cách cắt nghĩa,
lý giải nào về con người, mà là “cách cắt nghĩa có tính phổ quát, tột cùng mang
ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người” [75,
tr.59] Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của văn học Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá nhiều quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ
Mỗi nhà văn có quan điểm, tư tưởng, cách cảm thụ, cách phản ánh khác nhau… nên thế giới qua “sự thanh lọc” của lăng kính thẩm mỹ của mỗi người cũng rất khác nhau, tạo nên sự phong phú, đa dạng, đa sắc trong văn chương
Trang 15nghệ thuật Thế giới trong tác phẩm còn là sự phản chiếu thế giới tâm hồn của nhà văn Tuy nhiên, không phải người sáng tác nào cũng đủ tài năng để tạo dựng cho mình một thế giới nghệ thuật riêng, không trộn lẫn Hoàng Phủ Ngọc Tường
là một trong số không nhiều nhà văn đã làm được điều đó Ông đã tìm cho mình những góc độ riêng khi phản ánh, cắt nghĩa, lý giải về cuộc sống và con người để khám phá ra những chân giá trị, chiều sâu, nét độc đáo riêng trong bức tranh cuộc sống và con người
1.2 Hành trình sáng tạo của Hoàng Phủ Ngọc Tường
1.1.1 Vài nét về cuộc đời của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937 tại thành phố Huế Tuy nhiên, quê gốc của ông lại ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Ông từng sống ở Quảng trị một giai đoạn ngắn ngủi thời niên thiếu nhưng những kỷ niệm nơi đó đã để lại dấu ấn khó quên trên những trang văn của ông Cuộc đời ông chủ yếu gắn liền với Huế - mảnh đất kinh kỳ, giàu truyền thống, nơi hội tụ của tinh hoa văn hoá dân tộc Huế chính là nơi ông
“đã sinh ra, lớn lên, đã tranh đấu và chiến đấu, đã yêu thương, đã sống một đời công dân và một cuộc đời riêng tư” [94, tr.31] Và như chính ông đã từng viết
trong một tác phẩm của mình: “Con người sinh ra ở đâu thì mặt mày giống cha
mẹ, còn diện mạo tinh thần thì lại giống xứ sở nó sinh ra” [94, tr.31], đất Huế đã
thực sự đào luyện và hun đúc nên một người chiến sỹ cách mạng giàu nhiệt huyết và một nhà văn tài hoa với những trang văn thơ để đời: Hoàng Phủ Ngọc Tường
Ông sinh trưởng trong một gia đình chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho học Ông lại lớn lên ở Huế - mảnh đất của vua chúa, quan lại triều Nguyễn, nơi Nho giáo ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ Đến thời đại của ông, chữ nghĩa Nho gia không còn địa vị như trước đây, nhường chỗ cho chữ Quốc ngữ và các giá trị mang màu sắc Tây phương Tuổi trẻ của Hoàng Phủ Ngọc Tường đọc sách Tây, học trường Tây Nhưng những giá trị văn hoá một thời ấy đã lưu lại những dấu
ấn sâu đậm trong tâm hồn ông, hay nói như ông là “tửu, thư, hoa, mộng” -
“những người bạn thân thiết nhất của linh hồn tôi, những người bạn dâu bể nhất trong đời tôi bao nhiêu năm, kiên định như đá cũ, không hề thay đổi” [97,
Trang 16Ở Huế, ông học hết bậc trung học Năm 1960, ông tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Đại học Sư phạm Sài Gòn Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế Năm 1960-1966, ông trở thành giáo viên, giảng dạy tại trường Quốc học Huế Trong những năm 50 - 60, phong trào đấu tranh của giới sinh viên, trí thức yêu nước ở Huế chống chính quyền Mỹ - ngụy, đòi độc lập, thống nhất đất nước lan rộng và phát triển mạnh Hoà mình trong bầu không khí sôi động đó, ông đã tìm ra hướng đi đúng đắn cho mình Ông tích cực tham gia các hoạt động yêu nước như viết báo, tuyên truyền, biểu tình… và giữ chức Tổng thư ký Tổng hội sinh viên Huế
Năm 1966 - 1975, trước sự truy lùng gắt gao của kẻ thù, ông thoát ly lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ Ông vừa chiến đấu, vừa tham gia các hoạt động văn nghệ kháng chiến Tuy nhiên, thời gian này ông sáng tác không nhiều và hầu như ít được biết đến nhưng chính những năm tháng gian lao, vất vả, sống giữa lằn ranh của sự sống và cái chết ấy đã giúp ông có một vốn sống phong phú, dồi dào và đã trở thành một mảng đề tài với những trang viết chất lượng trong tác phẩm của ông
Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, ông trở về với cuộc sống đời thường bình dị ở Huế Ông hăng say sáng tác và tham gia vào công tác quản lý tại các Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế và Quảng Trị, là hội viên Hội nhà văn Việt Nam Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên-Huế, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí
Cửa Việt Năm 1998, ông bị quật ngã bởi một cơn bạo bệnh Từ một “người ham
Trang 17chơi”, thích xê dịch, đi khắp mọi miền của Tổ quốc, ông gắn mình với chiếc xe
lăn Nhưng vượt lên tất cả, ông vẫn tiếp tục sống để viết và vẫn tiếp tục cho ra đời những tác phẩm hay
1.1.2 Về hành trình sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Những trang viết đầu tay của Hoàng Phủ Ngọc Tường ra đời vào thời ông hăng hái tham gia viết bài cho các hoạt động yêu nước của sinh viên, trí thức Huế những năm 50 - 60 Trong thời kỳ thoát ly tham gia kháng chiến, ông cũng
có sáng tác tuy không nhiều và chủ yếu là các tác phẩm cổ động, tuyên truyền
Khi bắt đầu sáng tác, ông đã thử sức với truyện ngắn (Chuyện một người đi qua
sa mạc) và tiểu thuyết (Cửa rừng) nhưng không mấy thành công Và như duyên
kỳ ngộ, ông đã tìm đến với ký: “Bước ra khỏi cuộc chiến tranh, tôi nghiệm ra
một điều là tôi cần phải nói về những gì tôi trải nghiệm Tiểu thuyết và truyện ngắn có vẻ như không giúp được tôi làm điều này Thế là tôi chọn ký, thể loại gần nhất với hiện thực đời sống Với thể ký, tôi có thể nói tuỳ thích những gì đang diễn ra trong tâm hồn tôi, những trải nghiệm đẹp và cả những khổ đau nữa” [39, tr.1] Và chỉ đến ký, ông mới thực sự tìm ra cho mình lối viết và phong
cách riêng
Tuy nhiên, phải đến năm 1971, với sự ra đời của bút ký Ngôi sao trên
đỉnh Phu Văn Lâu, ông mới được biết đến như một cây bút trẻ đầy tiềm năng
của văn học Việt Nam lúc bấy giờ Đây cũng là tác phẩm được xem đã đánh dấu bước khởi đầu cho văn nghiệp của ông Nhà văn Dạ Ngân đã nhớ lại thời khắc
được đọc tác phẩm khi còn là một cô gái miền Nam sống ở trong cứ: “Bên cạnh
mạch văn sôi sục của Nguyễn Trung Thành, những bài ký của nhà văn xứ Huế
ấy mảnh dẻ như tiếng đệm của một thứ nhạc cụ thâm trầm Đúng hơn, đó là một ánh lửa ở chân trời cho dù nó rất xa nhưng dù sao lớp trẻ của chúng tôi cũng đã nghe thấy và nó có ý nghĩa an ủi nhiều hơn là hiệu triệu, thôi thúc” [63, tr.3] Có
thể thấy, ngòi bút của ông đã tìm được đúng hướng đi cho mình ngay từ tác phẩm của thời kỳ đầu tiên và về sau, trên cái hướng đó, ông mặc sức sáng tạo và nhận được sự tiếp nhận hồ hởi của người đọc Từ đây, ông sáng tác nhiều và sung sức Ông đi nhiều, sống, trải nghiệm và viết Ngay cả thời điểm sau khi ông
vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo, chỉ nằm một chỗ, ông vẫn“tiếp cận cuộc
Trang 18sống bằng cách nhớ lại”, theo cách nói của ông là thực hiện “du lịch nội tâm”
để viết: “Tôi đã đem tất cả sản phẩm hồi tưởng ấy ngâm vào trong dung dịch
của hiện hữu để nó mềm ra, trở thành nguồn nguyên liệu mới của văn học rồi mới đem dùng nó để viết bút ký” [4, tr.5]
Trong suốt chặng đường viết văn của mình cho đến nay, ông đã xuất bản hàng chục tập bút ký, thơ, nhàn đàm Ông đã vinh dự được nhận nhiều giải thưởng văn học cho những cống hiến của mình: giải văn học “Bông sen trắng” lần thứ I của Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên; giải thưởng văn xuôi của
Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980 trao cho tập bút ký Rất nhiều ánh lửa; giải
thưởng văn học của Uỷ ban Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (1999, 2008); giải A giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô (1998-2003); giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, 2007 Những thành công ông gặt hái được là thành quả của quá trình lao động miệt mài, miệt mài đi, khám phá, nhận thức và sáng tạo Bản lĩnh của một nhà viết ký lớn đã giúp ông thoát ra khỏi cái bóng của những người đi trước và từng rất thành công với thể ký để tạo lập cho riêng mình một thế giới nghệ thuật riêng với cá tính sáng tạo và phong cách không trộn lẫn trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam sau 1975 Ông đã xác lập một hệ thống quan điểm rất rõ ràng về thể loại để từ đó tìm ra đường hướng, bước đi trong hành trình sáng tạo của mình Tìm hiểu quan niệm của ông
về thể loại giúp chúng ta có một phương hướng để mở cánh cửa bước vào thế giới nghệ thuật ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường
1.2.3 Quan niệm của Hoàng Phủ Ngọc Tường về thể ký
Ký ra đời từ rất sớm trong lịch sử văn học và chiếm giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn học Là thể loại văn học thuộc phương thức tự sự, dựng lại những sự thật đời sống cá biệt một cách sinh động, cụ thể, ký nhạy bén với
các sự kiện mang tính thời sự, tươi mới nên có tính “xung kích, cơ động” [10,
tr.6], tính chiến đấu mạnh mẽ Ký là thể loại đa dạng và linh hoạt như Tô Hoài
từng nhận định: “Ký cũng như truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ, hình thù nó
đấy nhưng vóc dáng nó luôn luôn mới, đòi hỏi sáng tạo và thích ứng” [46,
tr.422] Ký rất gần với báo chí nhưng trước sau ký vẫn là tác phẩm nghệ thuật,
gắn liền với xúc cảm thẩm mỹ, quan điểm thẩm mỹ, với cái nhìn mang tính chủ
Trang 19quan của nhà văn Tính chất giao thoa giữa văn học và báo chí, tính truyện và nghiên cứu, sự đa dạng trong việc sử dụng các hình thức tự sự, trữ tình, chính luận… đã từng gây nên những phức tạp trong cách nhận thức về ký nhưng cũng chính vì thế ký luôn có sức hấp dẫn, cuốn hút và cũng đầy thử thách đối với những người cầm bút
Hoàng Phủ Ngọc Tường tìm đến với thể ký như một cái duyên nhưng không phải bằng sự tình cờ Ông nhận thức rất rõ ràng trong sự lựa chọn thể loại
và hình thành cho mình một hệ thống quan điểm chắc chắn về nhiệm vụ, chức năng của ký, đồng thời tạo dựng phương pháp, lối viết riêng cho con đường sáng tạo của mình Ông không viết những công trình nghiên cứu về thể ký, quan điểm của ông được bộc bạch như những lời tâm sự đầy tâm huyết Bởi vì, lý luận về thể loại của ông không phải là lý thuyết suông, đó là những gì ông đã đúc rút được bằng thực tiễn sống và sáng tác
Từ khi chưa phải là một nhà văn, còn là một nhà báo tham gia kháng chiến, lăn lộn với thực tế khốc liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, tiếp xúc trực tiếp với những con người sống, chiến đấu và hi sinh quên mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường được nghe, nhìn, trải nghiệm với những sự việc, sự kiện và thu thập được những thông tin quý giá về cuộc chiến tranh Từ đó, đã hình thành trong ông cái mầm thai nghén của thể loại văn học gọi là ký và cũng từ hiện thực
đã giúp ông ngay từ đầu bước chân vào nghề viết ký nhận ra: “Bút ký là thể loại
văn học đòi được tường thuật lại thực tế đã xảy ra và rất gần với hiện thực cuộc sống” [31, tr.1] Ở ký, một trong những nguyên tắc phản ánh và cũng là bản chất
của ký là phải tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả Không một thể loại
văn học nào lại “bám sát thực tiễn” như thể ký, “sự thật của đời sống đi vào
trong ký có thể đổi thay nhưng không hề mất đi tính xác thực của lịch sử” [11,
tr.20] Hoàng Phủ Ngọc Tường lựa chọn ký cũng chính bởi vì thế: “Thời đại nào
cũng cần sự thật Nhà văn càng cần phải nói lên sự thật” [39] Ngay từ đầu, ông
đã khẳng định một nguyên tắc sáng tạo quan trọng của ký là tôn trọng tính xác
thực: “Viết bút ký, muốn thành công thì phải viết cho thật Bút ký tính sự kiện rất
nặng” [40] Đó là sự thật của những sự kiện, con người có thật và sự thật của
tâm hồn Đối tượng miêu tả mà ký nhắm đến chính là người thật, việc thật, phản
Trang 20“văn chương thứ cấp”, “không giàu truyền cảm và tính điển hình so với truyện ngắn và tiểu thuyết”, thậm chí so với các mẩu tin báo chí cũng không “phục vụ kịp thời” Ông vẫn mạnh dạn chọn ký, bởi với ông, chỉ có ký mới giúp ông thể
hiện đuợc những trải nghiệm của mình một cách chân xác và sinh động, “phải
viết theo cảm xúc chân thực của mình” [31] Phê phán quan điểm xem thường
thể ký, cho rằng đó là những thành kiến vô lý, ông luôn luôn khẳng định vị thế
và giá trị của ký trong dòng chảy bao đời của văn học: “Tuổi của ký cũng gần
bằng với thi ca, và cũng giống như thi ca, cho đến bây giờ nó vẫn giữ được sức trẻ trung, khoẻ mạnh” [94, tr.165] Ký tồn tại và phát triển để có chỗ đứng trong
văn học như thế, bản thân nó phải đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của
nghệ thuật, phải làm sao để nó “không là thừa so với truyện ngắn, không là thiếu
so với tiểu thuyết” [94, tr.166], nói cách khác ký phải khẳng định chân giá trị và
bản sắc riêng có của nó
Bàn về chức năng, nhiệm vụ của ký, ông khẳng định: “Lý do tồn tại thiết
yếu của bút ký, ai cũng biết chính là nhiệm vụ thông báo của nó, thường được gọi là lượng thông tin chứa đựng trong thể ký” [94, tr.168] Khó có thể loại văn
học nào khác làm được như ký: “Với ký, văn học đã có thể thâm nhập một cách
nhẹ nhàng vào lĩnh vực của thông tin khoa học, và bằng ngôn ngữ riêng của mình, nó chuyên chở đến cho người đọc những hiểu biết cần thiết trên mọi lĩnh vực, kể cả chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu kiến thức thuần tuý” [94, tr.168] Theo
ông, chính nhờ nhiệm vụ này đã tạo cho ký “khả năng tháo vát hiếm có” so với
các thể loại văn xuôi khác Nhiều người đã khẳng định ký có tính cơ động và sức chiến đấu cao Có lẽ chính cái khả năng chứa đựng thông tin, cách truyền tải thông tin đặc biệt của ký đã tạo nên điều đó Ông đề cao chức năng thông báo
Trang 21của ký vì theo ông viết ký đòi hỏi phải xác thực, thông tin không chỉ “có lý” mà phải được “thực chứng” [94, tr.170] Điều quan trọng không chỉ là lượng thông tin mà thông tin ấy phải đánh thức được “những điều sâu xa” trong lòng độc giả
hay chính là “hiệu quả tâm lý” nó gây ra đối với người tiếp nhận Thông tin mà
ký mang đến cho người đọc không chỉ đơn thuần là thông tin mang tính tư liệu, khoa học, thông tin của sự kiện…, đằng sau nó là cảm xúc thẩm mỹ, là những rung động, những biến chuyển tế vi trong tâm hồn người đọc Sức nặng của ký
không phải chỉ ở tri thức, sức nặng của ký là “cùng với cảm xúc văn học, bút ký
chứa đựng tất cả sức nặng vật chất của các sự kiện được giữ lại từ trong cõi thực vốn là bản gốc của tác phẩm Sức nặng ấy được chuyển đi, không giống như một cảm giác mỹ học, mà như một quả táo Niu-tơn rơi xuống tâm hồn người đọc” [94, tr.171]
Trong lịch sử phát triển của thể ký, đã từng tồn tại quan niệm cho rằng ký không được hư cấu, phải tuyệt đối trung thành với sự thật B.Pôlêvôi – nhà viết
ký Xô Viết cho rằng: “Ký sự là không được phép hư cấu” [66, tr.38]; nhà nghiên cứu Hoàng Như Mai cũng cho rằng: “Tính chất của ký là xác thực và người viết
ký không được quyền hư cấu” [9, tr.43]… Xoay quanh vấn đề từng gây tranh cãi
nhiều trong giới học thuật này, Hoàng Phủ Ngọc Tường từ thực tiễn sáng tác của
mình nhận thức rất rõ: “hư cấu là một quá trình tất yếu của nghệ thuật”, vì thế
“hư cấu tồn tại trong ký như một phẩm chất mỹ học, nhờ đó bút ký giữ vững tư cách văn học của mình để khỏi bị sa sút thành một thứ văn chương người thực việc thực hoặc đại loại” [94, tr.172] Hư cấu không dẫn ký đi xa với sự thật mà
chỉ góp phần bồi đắp cho hình tượng của ký thêm sống động, từ đó giúp cho ký phản ánh cuộc sống một cách chân thực và bản chất hơn Theo ông, không nên
chỉ hiểu hư cấu theo nghĩa thông thường là “hoạt động tự do của trí tưởng
tượng”, là “thêm vào thực tại một các gì đó tự nó không có” Hư cấu cần được
hiểu theo nhiều nghĩa, nhiều dạng khác nhau Hư cấu còn là “sự lựa chọn trong
lúc quan sát, sự loại bỏ những yếu tố ngẫu nhiên và những chất thô, sự tổ chức các tài liệu theo một cấu trúc nào đó” [94, tr.174] Hư cấu nằm trong chính cảm
xúc, tưởng tượng, liên tưởng, hồi ức, suy nghiệm… của người viết ký: “Qua vai
trò trung gian của chủ thể, nhà văn thường tìm cách nối liền thế giới bên ngoài
Trang 22và thế giới bên trong thầm kín của mình, bổ sung vào những dữ kiện của thực tại bằng những dữ kiện của nội tâm, gắn liền cái hư và thực trong một thể thống nhất” [94, tr.175] Và theo ông, đó chính là cách vận dụng hư cấu trong ký
Từ đó, ông đặt ra cho nhà văn viết ký những yêu cầu, nhiệm vụ phải đạt
được Người viết ký trước hết phải có “thái độ tôn trọng sự-kiện-tính của những
gì đã xảy ra”, “tự đặt mình trước những kỷ luật nghề nghiệp rất khắt khe: phong phú trong tư liệu, chính xác trong hiểu biết và trung thực trong tất cả những gì được rút ra từ thế giới nội tâm của người viết” [94, tr.172] Bằng kinh nghiệm
viết ký của mình, ông chia sẻ: “cái nghề viết ký nó thật vất vả”, vì để viết ký được nhà văn phải đi nhiều “không đi đến tận thực tế thì không thể viết được, mà
cũng đừng nên viết” [94, tr.177], “đi để quan sát cuộc sống để nó thấm vào người” [40] Điều quan trọng nhất theo ông, không chỉ là đòi hỏi với riêng người
viết ký mà là sứ mệnh của nhà văn nói chung, đó là: “trước khi chảy qua ngòi
bút, những điều ấy đã chảy qua trái tim của anh như một dòng máu chưa?” [94,
tr.177] Nhà văn phải sống, trải nghiệm, “cho đúng nghĩa một con người” rồi
mới viết Những điều họ viết ra phải được họ nghiền ngẫm, nung nấu, phải gắn liền với những tâm tư trong chính tâm hồn họ, phải là “máu thịt”, thì khi ấy, đứa con tinh thần của họ mới thực sự gây nên những rung động đối với người tiếp nhận
Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ký chính là cách để trải nghiệm lại những thực tế, những xúc cảm, những rung động… bản thân đã trải qua Phải chăng vì thế ký của ông sâu sắc và gây xúc động mạnh Ông lựa chọn lối viết thiên về trữ tình, bên cạnh đó, ký của ông bộc lộ một vốn kiến thức phong phú về nhiều lĩnh vực văn hoá, lịch sử, địa lý, khoa học… và một tư duy sắc sảo Đằng sau những trang viết ấy là tâm hồn luôn trăn trở với đời, luôn tâm niệm làm sao để dâng hiến, đóng góp cho đời những gì tinh tuý nhất, đẹp nhất
Một số thể loại ký được ông thường xuyên sử dụng, bao gồm: bút ký, tùy bút, truyện ký và nhàn đàm
Bút ký: là một tiểu loại của ký văn học, được xếp vào thể loại trữ tình,
nằm trung gian giữa ký sự và tùy bút Bút ký thiên về ghi lại một cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe, thường trong các chuyến đi, biểu hiện khá trực tiếp
Trang 23khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả Kết hợp linh hoạt các phương thức nghị luận, tự sự, trữ tình nhưng tùy theo độ đậm nhạt khác nhau của các phương thức
mà ta có bút ký chính luận, bút ký tùy bút…
Tùy bút: Tuỳ bút là một thể loại văn xuôi thực sự tự do, phóng túng,
không bị ràng buộc bởi những khuôn khổ có tính quy phạm, cả về nội dung tư tưởng và cách thức thể hiện Hiểu theo cảm tính, tuỳ bút là những trang văn xuôi
mà nhà văn tùy theo ngòi bút mà đưa đẩy như Nguyễn Tuân từng quan niệm:
"Nguyên tắc quan trọng nhất của tùy bút là không có nguyên tắc gì cả" Trong
Hán việt từ điển giản yếu, tác giả Đào Duy Anh giải thích tuỳ bút là "tuỳ thời mà biên chép", nghĩa là ngoài cảm xúc chủ quan của người viết, tùy bút còn chịu sự
chi phối của hoàn cảnh khách quan Có thể hiểu một cách chung nhất, tùy bút là
sự ghi chép về những con người và sự kiện cụ thể có thực và qua đó, tác giả bộc
lộ cảm xúc, suy tư, nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc sống
hiện tại
Truyện ký: là thể loại có tính chất trung gian giữa truyện và ký nên tác
phẩm thường có cốt truyện hoàn chỉnh tập trung vào việc trần thuật một nhân vật, thường là những danh nhân về khoa học, nghệ thuật; những anh hùng trên mặt trận chiến đấu và sản xuất; những chính khách; những nhà hoạt động cách
mạng;
Nhàn đàm: Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường nhàn đàm cũng là một thể loại
văn học, một loại bút ký cực ngắn và chỉ triển khai một vấn đề Là người viết
nhàn đàm thành công, tuy nhiên ông cũng khuyến cáo “không nên lạm dụng nó”
vì “hễ lạm dụng thì vitamin B12 cũng trở thành có hại” [78]
Trang 24CHƯƠNG 2 NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
2.1 Bức tranh đời sống phong phú, đa dạng
2.1.1 Bức tranh chân thực về đời sống xã hội
Lựa chọn thể ký để gắn bó, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lựa chọn cách phản ánh trung thực với những sự kiện, con người của đời sống Ông thừa nhận trong ký không thể thiếu hư cấu nhưng hư cấu phải ở mức độ nhất định để luôn đảm bảo được đặc trưng của ký là tôn trọng sự thật Chính vì thế, tính chân thực trở thành một tiêu chí, một thước đo quan trọng với ông khi phản ánh về thế giới
và con người Những mảng cuộc sống được ông lựa chọn để phản ánh rất phong phú, đa dạng Ngòi bút của ông đi từ hiện thực đất nước trong những năm kháng chiến chống Mỹ đến hiện thực cuộc sống, chiến đấu và lao động của nhân dân Việt Nam sau chiến tranh, đến cả những vấn đề của cuộc sống đương đại; khám phá từ những vấn đề của đời sống thực tế đến những vấn đề nằm ẩn sâu trong cõi
bí mật của con người – hiện thực tâm hồn Và ở phương diện nào của đời sống con người, ngòi bút của ông cũng phản ánh chân thực và lấp lánh chân giá trị
2.1.1.1 Chiến tranh và những vấn đề hậu chiến
Hoàng Phủ Ngọc Tường viết nhiều về hiện thực chiến tranh cách mạng Lăn lộn và trưởng thành trong kháng chiến, có lẽ chính vốn sống, những trải nghiệm sâu sắc của một thời ấy đã trở thành động lực thôi thúc ông viết và viết rất hay về chiến tranh Có thể kể đến một loạt những bút ký, truyện ký nổi tiếng
của ông về đề tài này như: Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu, Rất nhiều ánh
lửa, Vành đai trong lửa, Đánh giặc trên hàng rào điện tử, Miếng trầu đỏ…
Với ông, viết về chiến tranh phải chân thực như chính cuộc chiến đấu thực từng
ngày của nhân dân ta suốt mấy vạn ngày đêm trên “mảnh đất đã một lần tử
vong”: “Tôi cho rằng các mô tả có tính cách hào nhoáng về chiến công đều thuộc phạm trù của chủ nghĩa lãng mạn, thậm chí còn bộc lộ cái phi đạo lý của một kẻ đứng ngoài cuộc, thích kể chuyện đùa về xương máu” [91, tr.7] Ông
chống lại chủ nghĩa lãng mạn trong văn học chiến tranh Ông không chấp nhận
Trang 25sự tô vẽ hời hợt, màu mè về cuộc chiến đấu sinh tử thiêng liêng của nhân dân ta, dân tộc ta Chiến tranh được nhà văn nhìn trước hết từ góc độ của một người dân mất nước, yêu nước cháy bỏng, cái nhìn của một người cộng sản đã đấu tranh hết mình vì Tổ quốc Với kẻ thù, là thái độ không khoan nhượng trước tội ác của chúng; với nhân dân là sự trân trọng, yêu quý, biết ơn; với những nỗi đau chiến tranh là sự cảm thông, chia sẻ… Đó còn là cái nhìn từ góc độ của một người đã
đi qua chiến tranh, thấu hiểu rất rõ những thăng trầm, khổ đau, vinh quang và mất mát của cuộc chiến Hình ảnh chiến tranh chủ yếu được hình dung lại bằng hồi ức, từ điểm nhìn của hiện tại để nhận cảm, phân tích, soi chiếu quá khứ Do vậy, cái nhìn của tác giả vô tư, khách quan và cũng đậm tính chiêm nghiệm, ưu
tư khi nhìn lại quá khứ Chiến tranh được nhà văn phản ánh từ nhiều góc độ, ở nhiều khía cạnh khác nhau: tội ác kẻ thù, chiến công của quân dân, những đau thương, hi sinh, gian khổ của cuộc chiến, những niềm vui và cả sự hài hước… Chiến tranh trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường không phiến diện một màu mà đa sắc, nhiều chiều để người đọc thấy được những gương mặt khác nhau của chiến
tranh Nguyên Ngọc khi viết tựa đề cho tập bút ký Rượu hồng đào chưa nhắm
đã say, đã cho rằng: “Tôi nghĩ tôi phải cảm ơn Hoàng Phủ Ngọc Tường vì bức tranh hết sức hiện thực về chiến tranh, về nhân dân xứ Quảng trong chiến tranh
Ta rất cần có một bức tranh chân thực, tỉnh táo như vậy, để mà thực sự hiểu về nhân dân của mình, nhân dân hôm qua và do đó, từ đó, nhân dân hôm nay” [91,
tr.8] Quả thực, viết chân thực đã khó, viết vừa chân thực, vừa hay lại càng khó, đòi hỏi bản lĩnh, sự dũng cảm và tài năng của người cầm bút Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm được điều đó
Ông viết về những cuộc chiến đã qua nhưng vẫn bằng những con chữ “rực lửa” để phơi bày hiện thực tàn bạo của chiến tranh và tội ác không thể dung thứ
của kẻ thù Câu chuyện về hàng rào điện tử Mác – Namara trong bút ký Đánh
giặc trên hàng rào điện tử cho người đọc nhận cảm sâu sắc về sự khốc liệt của
chiến tranh qua những toan tính ghê gớm của Mỹ - ngụy và sự chống trả quyết liệt ngày đêm của quân, dân đất Quảng Nhà văn đã tận dụng triệt để những con
số, tư liệu lịch sử chính xác để vạch trần dã tâm của kẻ thù: “Hàng rào được làm
bằng mười hai lớp dây thép bùng nhùng đặt chồng lên nhau, thành một bức
Trang 26tường thép cao gần ba mét, thứ dây thép lá mía bên trong vừa cứng, vừa có sức đàn hồi mạnh” [87, tr.66], “Mặt hàng rào là một bãi mìn dày đặc”, “Bãi mìn phía trước hàng rào rộng từ năm trăm đến bảy trăm” [87, tr.66]… Hàng rào
điện tử được xây dựng như một bức tường chắn khổng lồ kiên cố, một thứ “biên giới chính trị” ở vĩ tuyến 17, chia cắt khu vực phi quân sự Thông qua sự mô tả cặn kẽ từ kế hoạch, cách thức xây dựng, chiến thuật đi kèm hàng rào điện tử, nhà văn vừa cho thấy sức mạnh uy lực của kẻ thù, đồng thời cũng vạch trần sự thâm hiểm, xảo quyệt của chúng Chiến tranh đã được nhà văn tái hiện qua những chi tiết cụ thể và cặn kẽ, chính xác như thế Những chính sách tàn bạo và thâm độc như tố cộng, diệt cộng, xây dựng ấp chiến lược… của Mỹ - ngụy hằng ngày, hằng giờ đẩy số phận những người dân lương thiện vào nỗi thống khổ, chết chóc Chúng không từ một thủ đoạn nào để hòng “đốt sạch, diệt sạch” những thành quả của cách mạng, chia cắt cách mạng và nhân dân, dập tắt làn sóng nổi dậy
đấu tranh của nhân dân miền Nam: “Trong tay kẻ thù, chiến tranh là một cái
máy chém, là ấp chiến lược và cũng là cái rìu đánh xuống đầu dân như súc vật”
[91, tr.93] Chúng hủy diệt sự sống, biến những miền đất trù phú trong phút chốc
trở thành những “đất trắng”, những “no man’s land”: “tất cả chỉ là một mặt đất
trắng trơ trụi cho đến một con kiến cũng có thể nhìn thấy dưới ánh đèn pha của tàu soi đêm” [91, tr.109], xóa sạch những gì đã từng tồn tại đến nỗi: “Tất cả đều
đã biến mất, cả hình lẫn bóng, như thể là ngoài những gì mới được làm ra sau này, Gò Nổi chưa từng biết đến một quá khứ nhân văn nào hết” [91, tr.45] Viết
về cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1979, ông đã vạch trần tội ác
của bọn xâm lược Trung Quốc lúc bấy giờ qua những tác phẩm như: Ai về châu
xưa, Rừng hồi… Chúng mưu diệt cây hồi của nước ta – vốn là giống hồi quý
bậc nhất trên thế giới, hồi Trung Quốc không thể sánh bằng để chiếm bá quyền dầu hồi bằng thủ đoạn rêu rao thu mua vỏ và rễ cây hồi với giá cao Chúng hành
động ti tiện, đê hèn: “một đạo quân chủ lực lại can tâm chui xuống gầm giường,
bàn thờ, chui cả vào tủ quần áo nhà người ta để gài mìn, điều ấy có lẽ chỉ có trong binh pháp hiện đại của Trung Quốc” [93, tr.261]; lấp liếm tội ác hòng che
mắt thế giới bằng cái kiểu chưa từng thấy là “phi tang toàn bộ chiến trường”,
nhặt sạch sẽ mọi thứ kể cả vỏ đạn mang về nước hòng “phủi món nợ máu với cả
Trang 27dân tộc bằng cách chùi sạch cái cối bằng lưỡi của mình” [93, tr.267] Độc ác,
tham lam, cao ngạo, coi khinh dân tộc khác, nhưng chúng cũng là những kẻ nhát
chết, rệu rã “thằng nào lo mạng thằng đấy, thằng này chết thằng kia cứ đứng
nhìn” [93, tr.282], sớm bị tinh thần, ý chí, khí phách của nhân dân và quân đội
Việt Nam đập tan
Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về chiến tranh từ nhiều góc nhìn khác nhau
để đem lại cho người đọc cái nhìn khách quan và toàn diện về chiến tranh Phản ánh cuộc đấu tranh sinh tử của nhân dân miền Nam với Mỹ - ngụy, một mặt, ngòi bút của nhà văn cho người đọc thấy hình ảnh một cuộc kháng chiến đầy vinh quang và anh hùng Nhân dân miền Nam đã có những tuyên ngôn thể hiện lập trường vững chãi của mình trước những thủ đoạn lôi kéo, lung lạc của kẻ thù:
“Chẳng thà uống nước hố bom – còn hơn theo Mỹ lưng khom, chân quỳ” [91,
tr.11] Cuộc chiến đấu của nhân dân là “sự kết hợp có tính nguyên tắc giữa cái
cứng rắn của thép và cái uyển chuyển của nước, đã đẩy lùi kẻ thù từng bước đến chỗ bó tay, không thể nào “tát nước để bắt cá” như chúng muốn” [91, tr.110]
Điện Bàn, Giáng La, Phong Thử, Đà Nẵng, Quảng Nam… , sức sống mãnh liệt của đất đai và con người những vùng đất ấy thật lạ lùng Trước sức tấn công, tàn
phá mạnh mẽ, ghê gớm của kẻ thù, những mảnh đất vẫn “nghiễm nhiên tồn tại
theo ý muốn của nó”, “tồn tại như một ý thức quyết chiến trường cửu”, con người vẫn “đứng vững từ đầu đến cuối như trụ bằng cốt thép” [91, tr.142], thế
hệ này nối tiếp thế hệ kia “những đứa bé trong gia đình vừa lớn lên là thay thế
ngay vào chỗ cha anh vừa ngã xuống” Đó là cả một dòng thác cách mạng hào
hùng xiết chảy của dân tộc Việt Nam mà không gì có thể ngăn nổi Hoàng Phủ Ngọc Tuờng đã chỉ ra nguồn cội cho chiến thắng của cuộc kháng chiến chống
Mỹ chính là sức mạnh và trí tuệ của nhân dân Ông ví von rất hay nhưng lột tả
rất sâu sắc vai trò của nhân dân: “Tôi có đọc cuốn sách ở đâu đó nói rằng Mỹ có
bộ máy thăm dò hiện đại có thể phát hiện ra được một đốm lửa đang cháy ở một miệng núi nào đó trên mặt trăng Chắc là nó nhìn thấy được thôi bởi trên mặt trăng không có những con người mà chúng ta gọi là nhân dân” [91, tr.129]
Mặt khác, điều khiến ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường thực sự là những trang ký bám sát hiện thực cuộc sống là nhà văn đã phơi bày chiến tranh ở cả
Trang 28những mặt trái của nó, đó là gian khổ, đau thương, mất mát Có ai đong đếm được những thiếu thốn, khổ cực mà những người tham gia kháng chiến phải trải
qua Những anh bộ đội như Bình, Hoàng trong Bản di chúc cỏ lau phải nằm
rừng, ăn hạt rừng phơi khô thay gạo, dùng tro rễ tranh thay muối Mấy chiếc lá gói cá, gói muối còn sót lại của những người thợ rừng lại trở thành thứ thực phẩm quý giá với họ Hay những cán bộ nằm vùng như cô du kích Giáng La gặp khi địch càn, phải nằm hầm, uống nước giải để đỡ cơn khát cháy họng Có ai tính được thiệt hại về xương máu và tinh thần mà chiến tranh đã gây ra Lịch sử của miền Nam kháng chiến là những trang sử bi thương của máu và nước mắt:
“Bọn lính đánh bộ Mỹ đã giết một lúc 145 người hầu hết là người già, phụ nữ và trẻ em, trong đó có 115 người đã chết ngay chỉ trong mười lăm phút đầu của trận càn Gia đình ông Cương có sáu người đều gục chết bên mâm cơm, một em
bé bị báng súng đánh dập đầu, còn lại những bát cơm chan canh và máu, mẹ con chị Nhớ, mẹ bị bắn chết, đứa bé mới sinh hai hôm bị chúng nó xé làm hai mảnh ném vào lửa… Thoát chết, chỉ còn có 30 em bé đều bị thương, và duy nhất một người lớn, cô y tá, nhờ nằm vùi dưới xác những người khoác Thôn Thủy Bồ cũ
bị xóa dân số từ trận càn đó…” [91, tr.109] Người đọc không khỏi bàng hoàng,
phẫn nộ trước hình ảnh của người chiến sỹ cộng sản bị địch bắn hạ, gục chết
trong rừng: “Hoàng nằm sõng soài trên sạp, máu từ bụng chảy ra đọng thành
một đám đen bên cạnh hông, cánh tay bên trái đã cụt mất phần trước khuỷu, với ống tay áo bị xé mướp” [88, tr.49]; hay cái chết tức tuởi của chị Hoa – người
nuôi giấu cán bộ cách mạng trong nhà: “Chúng nó đánh đập tra tấn chị hết sức
đau đớn, cuối cùng nó mổ bụng, moi gan chị, chị nhìn thấy hòn mật của mình ngay trước mắt, vẫn cắn răng không hé ra nửa tiếng, lặng lẽ hi sinh” [91,
tr.128] Những trang viết ấy của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tạo nên những ám ảnh khôn nguôi về những mất mát, hi sinh của nhân dân miền Nam với sức lay động lòng người ghê gớm
Hoàng Phủ Ngọc Tường nhìn nhận chiến tranh không đơn giản, một chiều theo kiểu “ca ngợi ta, phê phán địch” Ngay cả với những người lính bên kia chiến tuyến, những kẻ gây ra tội ác với nhân dân, ông cũng nhìn thấy ở họ những mặt tốt đẹp, đời thường Nhiều người trong số họ cầm súng không phải vì họ
Trang 29muốn mà bị bắt buộc Họ cũng mang trong mình những “ước mơ chất phác,
nhân hậu hằng ấp ủ về cuộc đời”, những khát vọng, yêu thương bởi “họ đều là những người Việt ra đi từ những ngôi làng Việt” [90, tr.143] Ông không viết
nhiều về người lính bên kia chiến tuyến nhưng những gì ông thể hiện cũng đủ cho thấy cái nhìn rất nhân bản của nhà văn
Không “tô hồng” chiến tranh, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng nhìn nhận rất
chân thực về những vấn đề hậu chiến Ông buốt lòng khi nghĩ đến “có những
con đường không còn ai đi nữa, những năm tháng không còn ai biết nữa và những người chết không còn hắt bóng vào đâu nữa” [88, tr.11] Sự lãng quên
như một điều tất yếu nhưng đau đớn của lịch sử “cỏ lau mọc lên thật nhanh,
nhưng không nhanh bằng trí nhớ bội bạc của con người”[88, tr.11] Hòa bình,
cuộc sống với bao lo toan khiến người ta quên đi những năm tháng đã qua Thành cổ Quảng Trị một thời nay chìm trong cỏ dại Điều đau lòng nhất là sự lãng quên những chiến công của những người đã cống hiến cho cách mạng Hình ảnh mẹ Thỏa bên ngọn đèn dầu lờ mờ trong cái quán nhỏ chong đèn đêm thâu
ám ảnh tác giả và cả người đọc Mẹ Thỏa đã cống hiến gần như cả cuộc đời, sức lực cho cách mạng, giả điên để nuôi giấu cán bộ dưới hầm bí mật Đến khi hòa bình lập lại, mẹ mở quán nhỏ bán hàng nhưng bị hoạnh họe lên xuống, làm giấy
tờ có công với cách mạng mãi không được chấp nhận Hòa bình rồi mà đời mẹ
“vẫn khẩn trương từng ngày vì chữ ký, con dấu và bát cơm tuổi già” [89,
tr.220] Những trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường về những nỗi buồn hậu chiến không nhiều như viết về chiến tranh Nhưng chỉ như thế cũng đủ cho thấy cái nhìn hiện thực nhạy bén, sắc sảo và sự dũng cảm, chân thực của nhà văn, đã dám nêu lên những vấn đề mà không ít người không nhận ra hoặc né tránh
Bên cạnh những nỗi đau thời hậu chiến, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng hướng ngòi bút đến cuộc sống lao động, khôi phục, dựng xây đất nước của nhân dân sau chiến tranh Ông đã đem đến cho người đọc một bức tranh đầy phấn khích với sự say mê, hăng hái của những con người đã và đang quyết tâm xây dựng lại mọi thứ tươi mới và giàu có trên những mảnh vỡ đổ nát của chiến tranh
Đó cũng là không khí sôi nổi, vui tươi của đất nước sau những ngày thống nhất,
hòa bình lập lại Chế ngự cát, Đứa con phù sa, Rất nhiều ánh lửa, Rừng hồi,…
Trang 30là những tác phẩm mang tính thời sự, phản ánh kịp thời công cuộc đó của đất nước nhưng vẫn đậm chất văn xúc động lòng người Cuộc sống hậu chiến đầy vất vả, khó khăn như được thổi một luồng gió mát, trong lành với hình ảnh lớp học bình dân của người dân làng chài ven sông Hương với đủ mọi lứa tuổi, già trẻ trai gái say mê bên những con chữ Những người dân Gò Nổi từng phải bỏ đất, bỏ làng lưu lạc xứ khác trong chiến tranh lại trở về mưu sinh trên mảnh đất quê hương, với sức người, trí tuệ và niềm tin phơi phới vào tương lai, với tinh thần không ngại khó, ngại khổ, họ đã biến mảnh đất bị chiến tranh hủy diệt, chìm
trong cỏ dại thành vùng đất xanh tươi, màu mỡ: “Đường làng trồng keo…
thoáng nắng gió, nhẹ thênh”, “đường lộ, đường trục đều kẻ ô vuông thẳng tắp,
đủ rộng cho ô tô thông thương khắp nơi”, “cây cối trong các khu vườn cũng đã chững chạc”, “nét quy hoạch cứ bày ra trước mắt” [91, tr.46] Ở miền biển cát
Hải Lăng, già, trẻ, gái, trai từ khắp các làng mạc đều nô nức đổ về ven biển để
“ra trận” chiến đấu với “giặc cát”, xây dựng nên con đê cát khổng lồ - “công
trình ước vọng lâu đời của mình” với "hào khí ra quân rung chuyển một vùng đất cát" [87, tr.99] Có thể thấy, những trang ký của ông về đề tài này mang màu
sắc tươi sáng, lạc quan, đã đưa đến cho người đọc ấn tượng về vẻ đẹp, nhựa sống căng tràn và sức vươn lên mạnh mẽ của con người và đất nước ta những năm sau chiến tranh
1.1.1.2 Những vấn đề thế sự nóng bỏng
Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ viết về quá khứ để chiêm nghiệm về những gì đã qua nhưng chưa bao giờ cũ, ông cũng dành nhiều trang viết để đề cập đến những vấn đề thế sự nóng hổi Ông là một nhà văn “nhạy cảm” với những vấn đề mới mẻ, nảy sinh trong đời sống đương đại, đã không ngần ngại phản ánh từ những chuyện nhỏ đến chuyện lớn trong cuộc sống Đặc biệt, ông sử dụng những thể loại như nhàn đàm (những tác phẩm ký ngắn) như một công cụ hữu ích, đắc lực để thổ lộ những trăn trở của bản thân trước những vấn đề mang tính “thời sự” Khi viết về mảng đề tài thế sự, nhà văn đã ở lứa tuổi trung niên, lứa tuổi của độ chín về kinh nghiệm sống và hiểu biết xã hội Vì thế, ký của ông
ở giai đoạn này thâm trầm và sâu sắc
Trang 31Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn mang lương tâm của thời đại Ông luôn day dứt trăn trở, không yên trước những vấn đề của cuộc sống Không
đao to búa lớn, không giáo huấn theo kiểu sách vở, ông như một “cây ăng ten
cực nhạy, biết thu lượm tất cả những âm thanh nhỏ nhất trong cuộc sống để rồi chiêm nghiệm, suy ngẫm và phát sáng” [92, tr.13] Trong Có một con tàu nhỏ,
nhà văn bày tỏ nỗi lo sợ trước nguy cơ của vũ khí hạt nhân, đe dọa hòa bình và hủy diệt thế giới Viết về hình ảnh dũng cảm của con tàu Green Peace bé nhỏ trên hành trình đi ngăn cản vụ thử hạt nhân của chính phủ Pháp, ông đã thắp sáng ngọn lửa của lương tâm và ý thức bảo vệ, giữ gìn hòa bình trong mỗi con
người: “Phải giữ gìn ánh lửa của niềm hy vọng, giống như ngọn nến của lễ Phục
Sinh mà đứa bé che chở bằng bàn tay của mình để đưa tới được căn nhà của nó tên gọi là Tương lai” [92, tr.73] Cái chết của nhà lãnh tụ Palestin Yistzhak
Rabin khiến ông trăn trở suy nghĩ về một vấn đề mang tầm nhân loại: vấn đề chiến tranh - hòa bình và sự hóa giải hận thù giữa con người và con người Từ sự phân tích cặn kẽ những nguyên nhân dẫn đến cuộc xung đột trên mảnh đất Trung
Đông, ông cho rằng “chính những học thuyết tôn giáo, triết học, chính trị đã tạo
nên khái niệm thâm căn cố đế về những dân tộc – kẻ thù, con người – kẻ thù, đã đẩy số phận Yistzhak Rabin tới tận hố thẳm” [92, tr.88] Yistzhak Rabin là một
“nạn nhân thế kỷ của chiến tranh – hòa bình” và cũng là “thánh tử vì đạo vì sự nghiệp hóa giải hận thù” [92, tr.89] Nhà văn lấy bài học thủa vỡ lòng để ngẫm
ra rằng thế giới này cứ mãi trầm luân trong lửa và máu, chính bởi con người đã đánh mất “xích tử nhân tâm”, để đổi lấy hận thù và máu Ao ước của Hoàng Phủ Ngọc Tường nghe có vẻ thật giản đơn nhưng lại rất ý nghĩa, đó là bài học vỡ lòng ông đã được học về lòng nhân ái được dạy cho trẻ em toàn thế giới, để trẻ
em lớn lên vẫn giữ được “xích tử nhân tâm”, có như thế thế giới tương lai sẽ
không còn hận thù và lửa máu Suy nghĩ của ông rất sâu sắc và đậm tính nhân văn
Hoàng Phủ Ngọc Tường dùng những câu chuyện kể rất tự nhiên, viết về những vấn đề tưởng như thật giản đơn nhưng lại chứa đựng đằng sau đó những bài học nhân thế sâu sắc Nhiều chuyện tưởng như rất nhỏ mà tầm quan trọng, ý
nghĩa lại rất lớn như: Thăm mộ Nguyễn Công Trứ, Hội đền Đô, Chuyện cũ ở
Trang 32Nhã Nam, Chị Thu Uyên ơi… Ông mượn hình ảnh con chim bách thanh, hót
được trăm thứ tiếng nhưng không có thứ tiếng nào của riêng mình để ngụ ngôn cho những con người sống không có bản sắc, không có cá tính riêng Mượn câu chuyện của đôi dép Empédocle để luận bàn về một vấn đề không hề mới:
“Danh” – một phạm trù vốn đã được cha ông ta suy nghiệm nhiều, nhưng lại được ông soi chiếu dưới một cách nhìn khác, bằng những kiến giải mới mẻ, hợp
lý, đã cổ vũ niềm tin cho những con người muốn phấn đấu công thành danh toại
Ông cho rằng: “chỉ có hư danh mới là cạm bẫy nguy hiểm, còn hiếu danh lại là
một động cơ tâm lý tích cực, thúc đẩy sự nghiệp cống hiến của một con người”
[92, tr.90] “Gã hư danh thèm vinh quang giống như người đi tìm lượm của rơi,
còn người nổi tiếng làm ra cái tên của mình bằng chất liệu nhọc nhằn của người thợ xây cất lâu đài” [92, tr.90] Con người muốn thành công, muốn được “chính danh” phải “tự đi bằng đôi chân của chính anh” [92, tr.93], phải tự mình tạo
nên bản sắc riêng cho mình Cuộc đời vốn dĩ “đầy những bất trắc khôn lường”, cho nên con người luôn phải “nghiêm cẩn giữ mình, đừng bao giờ tự buông thả
trong ảo tưởng về một cuộc hạ cánh an toàn” [92, tr.141] Vì thế, con người sinh
ra phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng lên đường, “lên đường bằng tất cả lo âu
của kẻ vượt sông” [92, tr.139]
Ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã không ngần ngại khi phản ánh những vấn đề “nóng” của xã hội hiện nay Mượn câu chuyện về Thủ Huồng
trong Sợ địa ngục và nạn chuột trong Thạc thử… để đưa ra những lời cảnh tỉnh mang tính thời sự về tham nhũng, tham ô, ông bày tỏ thái độ kiên quyết: “phải
tiêu diệt thạc thử tận gốc, bởi chính bọn chúng đang trở thành di căn của một chứng ung thư đe dọa sinh mệnh của cả dân tộc đã sống còn bằng máu xương thần thánh” [92, tr.184] Ông ca ngợi vai trò của báo chí trong đấu tranh chống
tham nhũng: “báo chí dù gây ra tiếng ồn, nhưng không phải là nguy cơ, ngược
lại đó chính là cách trị bệnh của khoa Ngoại” [92, tr.97 + 98] Những vấn nạn
của xã hội, những việc làm trái pháp luật, bất công… được báo chí đăng tải đều được nhân dân theo dõi, thậm chí photocopy để truyền tay nhau đọc Ông đã có
một đề xuất hóm hỉnh về việc cho xuất bản một tờ Báo “Tiếng Dân” kiểu mới –
“Tiếng dân photocopy”: “in lại nguyên văn tất cả những bài báo đã công bố
Trang 33thuộc loại nói trên để bán cho bạn đọc với giá không bù lỗ Bài vở phong phú, khỏi cần duyệt, khỏi trả nhuận bút, trong khi lại có thêm một tờ báo được công chúng ưa thích” [91, tr.56], nhưng qua đó cho thấy tấm lòng luôn đau đáu vì
dân, vì nước của nhà văn
Đề cập đến một vấn đề mang tính thời sự nóng hổi của ngành giáo dục: giải quyết việc làm cho tuổi trẻ sau đại học, Hoàng Phủ Ngọc Tường thẳng thắn chỉ ra một thực tế thật đáng buồn đó là rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp ra
trường không tìm nổi việc làm: “những bác sỹ ra trường nay đứng quán cà phê,
làm thuê cho người buôn trầm…” Từ thực tế đó, ông đặt ra một câu hỏi nghe
buốt lòng: “Tuổi trẻ, tài sản quý báu của quốc gia, họ đang đi về đâu để gánh
vác thế kỷ XXI của cả dân tộc?” [92, tr.77] Ông đưa ra một đề xuất, đúng hơn là
một lời kêu gọi khẩn thiết: “Nếu vấn đề giải quyết việc làm của
tuổi-trẻ-sau-đại-học không được đặt thành quyết tâm chiến lược cấp bách của nhà nước, thì hãy coi chừng” [92, tr.77]
Bàn về nguy cơ suy thoái văn hóa thời mở cửa, nhà văn bày tỏ lo lắng làm thế nào để vừa hiện đại hóa đất nước, vừa bảo toàn được văn hóa dân tộc Ông cho rằng: muốn giữ gìn văn hóa thì điều trước hết là phải đặt văn hóa vào đúng
vị trí của nó trong chiến lược phát triển: “lấy văn hóa làm mục tiêu và nguồn lực
của sự phát triển xã hội”, “phải hiện đại hóa bằng chất liệu của Phương Tây, nhưng trên nền tảng những giá trị truyền thống của dân tộc” [92, tr.152] Từ câu
chuyện về bãi đỗ xe ở Tôn Nhơn Phủ, ông nhận ra nguy cơ đe dọa những di tích
văn hóa với nỗi lo lắng: “Nếu cứ làm kinh tế bằng cách bẻ di tích ra thành từng
miếng giống như ăn bánh tráng, thế thì một ngày không xa, Huế sẽ không tồn tại nữa Đó là nguy cơ chắc chắn sẽ xảy ra, không có gì ngăn chặn nổi, nếu chúng
ta cứ tiếp tục quản lý di sản bằng sự thiếu vốn kiến thức văn hóa đi đôi với chủ nghĩa thực dụng kinh tế” [92, tr.122] Ông không ngần ngại phê bình nghiêm
khắc sự thờ ơ của các cấp quản lý trước những di tích lịch sử như “mộ thủy tổ
của dân tộc Việt”: “Sao mà Bộ Văn hóa bấy lâu nay vẫn thờ ơ bỏ mặc thành phế
tích ngoài đồng?” [92, tr.237]
Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về vấn đề ô nhiễm môi trường bằng sự khẩn
thiết: “Cứ tiếp tục phá rừng, đúc nhựa mặt đất, xịt CO2 đậm đặc cả không khí,
Trang 34chọc thủng toang hoác tầng ôzôn với tốc độ khủng khiếp như thế này, thì liệu loài người còn sống được tới bao lâu nữa để mà “chinh phục tự nhiên?” [92,
tr.124] Ông trăn trở không yên khi nhìn thấy bao nhiêu nguy cơ từ những nhà
máy xi măng ở Vịnh Liên Chiểu – Đà Nẵng: “những cấu trúc vừa làm ra tiền
vừa gây độc hại ấy đã phá vỡ toàn bộ một cảnh quan đẹp hơn tranh đồng thời gây ô nhiễm cho cả một vùng sẽ làm giàu cho thành phố bằng ngành du lịch biển” [91, tr.92] Ông đau xót khi chứng kiến cảnh những hàng cây bên đường
Vĩ Dạ bị đốn hạ, biến con đường “Vỹ Dạ tre trúc sương khói ngày xưa ấy” thành
“thông thống, trần trụi như bị lột áo”, vô tình đã biến Vỹ Dạ văn hóa nổi tiếng
thành “một xóm lam lũ nào của vùng kinh tế mới” [92, tr.64] Từ bài học Vỹ Dạ, nhà văn chỉ ra “đốn cây không đơn giản chỉ đụng tới lĩnh vực giao thông, văn
hóa và môi trường, mà còn cả vấn đề dân chủ” [92, tr.67]
Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về những gì xảy ra xung quanh ông, những
sự việc, sự kiện của cuộc sống đời thường Ông không ngần ngại khi phản ánh bất cứ vấn đề nào của hiện thực đời sống và luôn đi đến tận cùng của vấn đề, do
đó, những trang ký của ông luôn đưa lại cho người đọc một cảm giác “thỏa mãn”
vì vấn đề được khám phá, kiến giải sâu sắc Ông không chỉ bày tỏ khúc mắc, nêu vấn đề mà còn lí giải cặn kẽ và đặc biệt đưa ra cả những đề xuất phương án giải quyết Mỗi bài viết về thế sự của ông là một câu chuyện nhức nhối, như một lời phê bình nghiêm khắc, thẳng thắn nhưng đầy tính xây dựng Mỗi nhà văn là một nhà tư tưởng, góp phần vẽ nên bức chân dung của thời đại mình Để làm được điều đó đòi hỏi nhà văn phải có chính kiến rạch ròi, bản lĩnh và bút lực mạnh mẽ Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn như thế Tất cả đều xuất phát từ cái tâm trong sáng và đầy nhiệt huyết của nhà văn – một con người hết lòng yêu quê hương, đất nước, yêu văn hóa nguồn cội, gắn bó và sẻ chia với mọi người Nói
như nhà thơ Ngô Minh khi nghĩ về văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Anh
Tường nói đến tận cùng, vì anh đang nói, đang viết bằng cái tâm đỏ thắm của mình vì Con Người vì Tổ Quốc” [97, tr.240]
Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là những trang ký luôn bám sát với hiện thực đời sống, chân thực trong phản ánh cuộc sống và con người Chân thực nhưng không có nghĩa là sự phản ánh một cách thụ động, “sao chép” đời sống, ngược
Trang 35lại ký của ông đưa lại ấn tượng mới mẻ về những vấn đề không hề mới như chiến tranh, cuộc sống lao động và chiến đấu… và đem lại nhiều góc nhìn khác nhau về cuộc sống và con người Ký của ông đã thoát ra khỏi “ký” với nghĩa ghi chép đơn thuần để vươn lên trở thành những áng văn chương giàu biểu cảm, đầy sức hút
2.1.2 Chiều sâu văn hóa và khám phá về lịch sử
2.1.2.1 Chiều sâu văn hóa
Nhà văn Ma Văn Kháng đã từng phát biểu trong phim tài liệu Miền cỏ
thơm dâng hiến: “Văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường viết bằng chiều sâu văn hóa, bằng những cảm hứng nhân văn Bút ký của anh là những tác phẩm điêu luyện, anh là một nhà văn đặc sắc, nếu không nói là vào bậc nhất nước – vô cùng quý hiếm” Phạm Xuân Nguyên thì cho rằng: “Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường là từ thực tế thoát ra khỏi thực tế, sau khi ngoảnh vào lịch sử văn hóa hiện trở ra đời” [93, tr.856] Quả vậy, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bằng “tâm
thức văn hóa” để nhìn nhận về cuộc sống, con người và văn hóa tạo nên chiều sâu, nét độc đáo riêng có trong ký của ông Những trang viết của ông về văn hóa đầy sức cảm và cuốn hút, đã truyền cho người đọc một tình yêu thật tự nhiên và lòng tự hào sâu sắc về văn hóa dân tộc
Đi tìm một định nghĩa cho văn hóa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khẳng định vai trò của nhân dân trong việc tạo dựng nền văn hóa của một dân tộc:
“Văn hóa chính là bài thơ cuộc sống, không phải được làm ra trong một khoảnh khắc cảm hứng của thi sĩ, mà được sáng tạo qua kinh nghiệm sống trường kỳ của nhân dân, là sức cố gắng vươn lên cái Đẹp của con người qua nhiều đời, trong cuộc tiếp xúc trao đổi giữa con người mang lối sống khác nhau thuộc các dân tộc” [94, tr.8] Gắn văn hóa với nhân dân không phải là cảm nhận chủ quan
của nhà văn mà đó là đánh giá đúng đắn dựa trên thực tiễn lịch sử Ông rất sắc sảo khi nhận ra cái tạo nên văn hóa chính là nỗi khát khao để vươn tới cái đẹp chân – thiện - mỹ của con người
Hoàng Phủ Ngọc Tường không phải là nhà văn hóa với những lí thuyết suông, ở trong ông có sự nhạy cảm văn hóa của một nghệ sỹ với trái tim đỏ thắm, đã sống hết mình với cuộc đời, với Tổ quốc và nhân dân Sự nhạy cảm ấy
Trang 36ông có được là bởi ông đã bằng “tâm thức văn hóa” để quan sát, phản ánh, đánh giá, nhìn nhận về thế giới và con người Nắm trong tay viên gạch cổ của thành
Châu Hóa mà ông có thể nghe được “tiếng vọng âm u” của nghìn năm dội về
Nhìn màu đỏ lạ lùng của bông hoa ngũ sắc, ông liên tưởng đến trí nhớ của đất như nhắc nhở về những năm tháng lịch sử hào hùng Rất tinh tế khi ông nhận ra chiếc nón không lợp lá cứng nhắc như gỗ và đôi guốc gỗ bự chát như những cái đòn dưới chân không hề phù hợp với tà áo dài duyên dáng trong lễ hội tôn vinh một nét bản sắc của văn hóa dân tộc Bằng tâm cảm, ông phát hiện ra xứ Thậm Thình trong truyền thuyết Vua Hùng xưa chính là xứ Thuận Thành, Bắc Ninh bây giờ Người dân đã từ đời này qua đời khác, trải qua bao thăng trầm, biến cố vẫn gìn giữ những di tích vô cùng quý báu của lịch sử, văn hóa dân tộc, điều đó
khiến nhà văn hiểu rằng: "không thể có ma lực nào đủ sức để đánh bật gốc tâm
hồn Việt ra khỏi ý thức tồn tại của mình, tồn tại như là cây có cội, nước có nguồn” [92, tr.238] Đó là sức mạnh trường tồn, là ý nghĩa nhân văn, là vị trí
không thể thay thế trong tâm hồn mỗi người Việt của văn hóa Văn hóa chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử Tổ quốc, làm nên bản sắc dân tộc và là sức mạnh cội rễ níu giữ con người gắn chặt với quê hương, đất nước
Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, văn hóa hiện diện trong mỗi con người, trên mỗi miền của Tổ quốc; mỗi dòng sông, ngọn núi, con đường, mỗi ngôi làng, mỗi
di tích… đều ẩn chứa những giá trị văn hóa Ông đã làm những cuộc “hành trình
văn hóa” để dẫn dắt người đọc về với cội nguồn Với ông, “mỗi bước đi tới một
ngôi làng là một bước tìm về cội nguồn sâu thẳm” [94, tr.112] Là một người am
tường về văn hóa, ông hiểu rõ trong văn hóa Việt “làng” nắm giữ một vị trí vô cùng quan trọng Làng không chỉ là một đơn vị hành chính vốn có từ lâu đời ở
nước ta, mà làng còn là “đơn vị cơ sở về văn hóa của tâm thức Việt” [94, tr.105] Văn hóa Việt Nam về căn bản là văn hóa làng: “Văn hóa Việt Nam, cội nguồn
của nó được hàm dưỡng lưu niên trong các ngôi làng Việt Nam” [94, tr.107]
Bằng những trang văn giàu xúc cảm, ông đã đưa người đọc đến với những ngôi làng nổi tiếng, đã có từ lâu đời với những nét văn hóa truyền thống đặc sắc Làng
Hiền Lương có từ giữa thế kỷ 16, nổi tiếng với nghề rèn đã đạt tới “trình độ cơ
khí rất tài tình” và một bộ hương ước có từ lâu đời, trong đó có những quy định
Trang 37tiến bộ, dân chủ như tiết kiệm trong cưới hỏi, ma chay…, cũng là nơi đã sinh ra
nhiều bậc hiền tài cho đất nước Làng Đình Bảng là “ngôi làng văn hiến vào bậc
nhất lưu truyền từ thời Đại Việt” [92, tr.239], nơi nổi tiếng bởi hội Đền Đô mở
vào rằm tháng ba hằng năm – một hội làng nhưng “chất ngất ngàn năm biết bao
điều lớn lao để cho đời sau chiêm nghiệm” [92, tr.243] Khám phá văn hóa Làng
Vân, nhà văn đã mô tả về tiệc rượu đặc biệt ở đây không phải chỉ như một minh
chứng cho triết lý “văn hóa, đó chính là cái ngưỡng của sự vật” [92, tr.314] mà còn bởi vẻ đẹp kỳ lạ của nó “giống như một cuộc tiệc của bộ lạc bán khai nào
đó trong ánh lửa rừng giữa đêm thẳm của lịch sử nhân loại” [92, tr.315] Trong
cái không gian huyễn hoặc ấy, ám ảnh lòng người là giai điệu quan họ lắng sâu
khiến muốn nắm bắt một điều gì như “nguồn cội thuộc văn hóa dân tộc” [92, tr.315] Đó còn là “những ngôi làng văn hóa” nổi tiếng như: làng nấu rượu ngon, làng ca hát, làng vẽ tranh, làng đúc đồng, làng trồng hoa… với “sản phẩm
vừa là hàng hóa, vừa là văn hóa” [92, tr.154] Đi nhiều, tiếp xúc nhiều, ở đâu
nhà văn cũng nhận ra đất và người luôn tồn tại mối quan hệ đặc biệt, như cha ông đã đúc kết qua thành ngữ “địa linh nhân kiệt” Xứ Quảng Nam từ xưa nổi tiếng về sản vật quý lạ, lại giàu sa khoáng, đã hun đúc nên những bậc trung tín, tài đức Men say của xứ Quảng không phải chỉ bởi rượu Hồng đào, mà còn bởi
vẻ đẹp lung linh của những huyền sử về “cửa biển và thanh kiếm” [91, tr.42]
Đằng sau “văn hóa uống chè” đặc biệt của người dân Hồng Lĩnh - những bát
nước chè xanh đậm đặc đến “đũa chúc không đổ” trong cái không khí vui vẻ
xóm làng quây quần quanh nồi chè mới nấu, là một đức tính đã được hình thành
qua bao đời: “Hà Tĩnh là làng khát Khát là khát nước và khát vọng Thật ít có
người biết khát vọng như người Hồng Lĩnh” [97, tr.67]
Hoàng Phủ Ngọc Tường dành nhiều tâm huyết và bút lực để viết về Huế
và văn hóa Huế Với nhà văn, Huế là một tình yêu lớn Hiểu rõ vị trí của Huế
trên “bản đồ văn hóa” của đất nước, ông khẳng định đây “là một trung tâm văn
hóa lớn nhất của đất nước” [94, tr.8], nơi lưu giữ “một truyền thống văn hóa nghệ thuật hoàn chỉnh riêng, một hệ thống ngữ âm và ngữ sắc riêng, một hệ thống các quan niệm nhân văn biểu hiện qua những tập quán ăn ở và thờ kính riêng, cách nấu ăn, may mặc, giải trí, cách xây dựng nhà cửa và đô thị riêng; từ
Trang 38đó người ta thường nói đến một lối sống kiểu Huế” [94, tr.24] Chính vì thế, để
nhận diện và khám phá Huế cần đến một “đôi mắt đặc biệt" Hơn ai hết, bằng tình yêu, sự gắn bó máu thịt tâm hồn với Huế và kiến thức văn hóa, lịch sử uyên
bác, ông hiểu rằng: “Người ta chỉ có thể nhận ra diện mạo của một Huế đích
thực không phải bằng con mắt của những chuyên viên thống kê về đô thị, mà bằng tâm thức Cái có thể nhìn thấy bằng tâm thức, đó chính là văn hóa” [92,
tr.23] Ông nhận ra chất Huế hiện hữu trên mỗi di tích, trong không gian của mỗi mảnh vườn, ở thiên nhiên, sông nước và trong mỗi con người Những quần thể
di tích Huế phản ánh rất rõ “bản chất triết – mỹ học của người Việt” [92, tr.21] Người Huế tìm thấy trên những “dấu rêu lặng lẽ” của “cánh đồng di tích” ấy
những dấu vết thầm lặng trong tiềm thức, đó là kỷ niệm riêng nơi mỗi người Bởi
vì, “tinh thần, chân dung người Huế rất giống với diện mạo thành phố sinh
trưởng của mình, nơi đó mọi ý niệm triết lý của cộng đồng đều được diễn đạt qua tổng thể các di tích” [92, tr.22] Nếu di tích là “trí nhớ của cộng đồng”, nơi
con người có thể soi vào để thấy quá khứ của mình thì vườn lại chính là nơi văn hóa Huế bộc lộ ý niệm về sự hoà hợp giữa con người với thiên nhiên trong tư tưởng của triết học Phật giáo Người Huế lập vườn như một nơi để con người có thể bầu bạn cùng cây cỏ, giao hòa với trời đất, vũ trụ Sâu xa, bởi trong mỗi người Huế vẫn tiềm ẩn văn hóa làng – văn hóa nguồn cội của người Việt, thế nên
từ bản chất “người Huế là một nhà thơ đồng nội hơn là một cư dân đô thị” [95,
tr.7] Đó là một phát hiện lý thú của Hoàng Phủ Ngọc Tường Nhận chân ra bản chất thật sự của tính cách Huế, ông hiểu rõ nguồn cội của những nét đặc biệt trong văn hóa Huế Chất dân gian kết hợp với cái lặng lẽ, trầm tĩnh, nhẹ nhàng,
“thơ hơn là thực”, “thiền hơn là Nho” và “xu hướng tâm linh” [95, tr.13] trong
tính cách Huế đã phổ vào trong văn hóa Huế từ âm nhạc, kiến trúc, mỹ thuật đến
cả văn hóa ăn uống Âm nhạc cổ điển Huế mang tính nội tâm, đã được sinh
thành trên sóng nước của sông Hương (Ai đã đặt tên cho dòng sông), nảy nở trong “không gian thân mật của bóng đêm” như “nỗi lòng để trở thành tài sản
riêng của tâm hồn gửi đến người tri âm” [94, tr.26] Mỹ thuật Huế sử dụng hệ
ngũ sắc dân gian: Vàng – tím – lục – xanh, trong đó màu tím Huế không gây
buồn mà gợi “một niềm vui trong sáng và thầm kín” [94, tr.26] Ngay cả kiểu
Trang 39kiến trúc cung đình Huế như kiến trúc cổng nhiều tầng mái cũng là “một cách
sáng tạo từ cái cổng làng Việt Nam cổ xưa ở phía bắc với cái tháp Chăm phương Nam” [94, tr.20] Văn hóa ăn uống của người Huế cũng rất đặc biệt:
“Người Huế ăn như là sống phận người, phải nếm đủ buồn vui sướng khổ, nhiều khi phải chấp nhận cả thử thách trong vị cay trào nước mắt” [97, tr.46] Đối với
người Huế ăn uống và làm bếp là vẻ đẹp văn hóa, thể hiện nét đẹp của tâm hồn Nghệ thuật ẩm thực của Huế cầu kỳ và tinh tế, ngay cả món cơm hến dân dã cũng cần đến 15 vị, nhưng mọi phẩm vật kho nấu lại rất bình thường có sẵn, thậm chí từ những thứ rất nghèo nàn, tưởng như không thể dùng đến như cá lẹp, rau mưng Nó thể hiện sự chịu thương chịu khó, ý thức tằn tiện và cả sự tài tình
của người Huế đã “tái tạo những vật vất đi để tạo thành những giá trị văn hóa
làm phong phú thêm cuộc sống của con người” [94, tr.53] Đó cũng chính là nét
nhân bản trong nghệ thuật làm bếp của người Huế Khám phá văn hóa Huế, nhà văn “nhìn ngược” trở lại tính cách con người Huế, để nhận ra một điều thật đẹp,
thật đáng quý ở họ, đó là: “Người Huế thích sống văn hóa hơn là hưởng thụ vật
chất, thích sống đẹp hơn là sống giàu có” [94, tr.30] Có lẽ chính vì thế, người
Huế yêu thích những thú vui, những nghề chơi gắn với truyền thống văn hóa và
nét rung động thẩm mỹ riêng của người Huế như trồng hoa, cây kiểng – “nghệ
thuật chinh phục cái hoang dại thành giá trị văn hóa” [95, tr.55] Hoàng Phủ
Ngọc Tường cho rằng: người Huế mang “dòng máu ham chơi” [92, tr.62], bày
đủ trò đàn hát, thả diều, uốn cây, xào nấu… Hóa ra, “ham chơi” không phải do
lười biếng mà đó là do con người Huế biết cách để sống đạt đạo, nắm vững “bản
chất phù hư của thế giới” nên hiểu rõ rằng “những giá trị vật chất có khả năng đến đâu trong cuộc mưu cầu hạnh phúc cho con người” [92, tr.62]
Vật chất sẽ mất đi, cái trường tồn ấy chính là văn hóa Cái có năng lực giao cảm và “an ủi” cho tâm hồn con người đó chính là văn hóa Văn hóa làm con người trở nên đẹp hơn và từ đó con người làm cho văn hóa trở nên giàu có hơn, phong phú hơn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bằng những trang ký văn hóa
để chứng minh cho điều đó Đó cũng là lí do vì sao ký Hoàng Phủ Ngọc Tường lại có sức cuốn hút đến thế trong tâm cảm người đọc, vì sao ký Hoàng Phủ Ngọc Tường được tôn vinh là “ký văn hóa”
Trang 402.1.2.2 Khám phá về lịch sử
Bên cạnh những trang viết về văn hóa, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường còn đưa đến cho người đọc những trang viết khám phá về lịch sử, trong đó chứa đựng những cách nhìn nhận khách quan, tiến bộ và nhân đạo của nhà văn
Hoàng Phủ Ngọc Tường là người hay suy nghiệm về lịch sử Dòng chảy miên viễn của thời gian vốn khắc nghiệt nhưng “quá khứ không hoàn toàn là dĩ
vãng” Trong suy nghĩ của nhà văn, “than đá là quá khứ của trái đất nhưng than
đá không bao giờ cũ; nó bị dồn nén cồn cào trong lòng đất và luôn đòi bốc cháy,
và như vậy, than đá là khát vọng của đất Mọi khát vọng được thực hiện thành cuộc sống bền vững đều mang theo những giá trị địa chất của nó, nhìn qua thời gian” Lịch sử sẽ luôn là những mạch vỉa than đá mang sức mạnh trường tồn
mạnh mẽ như thế Có lẽ đó cũng chính là lí do vì sao khi ông đặt chân lên vùng, miền nào của Tổ quốc cũng cố gắng để khám phá lịch sử của nó, để từ đó soi chiếu và đánh giá về hiện tại và dự cảm về tương lai Ông đã ngược dòng thời gian, tìm về cội nguồn để thắp sáng lên những giá trị của quá khứ có khi đã bị vùi lấp, lãng quên Ông đã tái hiện bức tranh lịch sử của những vùng đất như
Huế (Huế, di tích và con người, Vương triều Nguyễn trên đường phố Huế,
Chuyện Nhà Nguyễn…); Quảng Nam (Rượu Hồng đào chưa nhắm đã say),
Gò Nổi (Những đứa con phù sa), Cà Mau (Rừng nước mặn), Lạng Sơn (Rừng
hồi)… từ thủa ban đầu sơ khai cho đến tận ngày nay Nhìn vào lịch sử của những
vùng đất ấy, nhà văn nhận ra cuộc vận động đi tới, từ quá khứ, qua hiện tại để hướng đến tương lai của con người, cuộc vận động không hề dễ dàng mà đầy gian nan, khó khăn, đòi hỏi sự mưu trí, thông minh và sáng tạo của con người
Ông nhìn thấy ở đó vẻ đẹp của ý chí và khát vọng của con người đã “phá vỡ cái
quán tính của quá khứ trong tất cả những gì trì kéo và kìm hãm của nó để giành lấy thế chủ động sáng tạo trên hướng mới của cuộc sống” [89, tr.127] Con
người đã nỗ lực vượt qua những giông bão của lịch sử, “nắm lấy quy luật” để
“đưa lịch sử đi tới những cứu cánh đã quyết tâm” [89, tr.162 + 163] Đặc biệt,
ông viết nhiều về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ - ngụy giành độc lập, thống nhất hai miền Tổ quốc của nhân dân miền Trung Với ông, đó là những tháng ngày đẹp đẽ và vinh quang nhưng cũng đầy đau thương và mất mát để xây