1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật thơ xuân hoàng

109 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế giới nghệ thuật thơ xuân hoàng
Tác giả Phạm Phương Loan
Người hướng dẫn TS. Phan Ngọc Thu
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 804,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (5)
  • 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu (6)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (11)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (12)
  • 5. Đóng góp của luận văn (12)
  • 6. Cấu trúc đề tài (13)
  • CHƯƠNG 1. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ XUÂN HOÀNG (14)
    • 1.1. CUỘC ĐỜI (14)
      • 1.1.1. Quê hương và tuổi thơ (14)
      • 1.1.2. Những chặng đường đời của một nhà thơ- chiến sĩ (18)
    • 1.2. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC (23)
      • 1.2.1 Quan niệm sáng tác (23)
      • 1.2.2. Thành tựu qua các thể loại (26)
  • CHƯƠNG 2. HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ XUÂN HOÀNG (30)
    • 2.1. CÁI TÔI SÂU NẶNG NGHĨA TÌNH QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC (32)
    • 2.2. CÁI TÔI TRỮ TÌNH HỒN NHIÊN ĐA CẢM VÀ SÂU LẮNG (46)
  • CHƯƠNG 3. NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TRONG THƠ XUÂN HOÀNG (60)
    • 3.1. NGÔN NGỮ THƠ XUÂN HOÀNG (60)
      • 3.1.1. Ngôn ngữ trong thơ Xuân Hoàng giản dị và trong sáng (61)
      • 3.1.2. Ngôn ngữ thơ Xuân Hoàng giàu nhạc điệu (65)
    • 3.2. HÌNH ẢNH TRONG THƠ XUÂN HOÀNG (0)
      • 3.2.1. Hình ảnh thiên nhiên (70)
      • 3.2.2. Hình ảnh những con người trong kháng chiến (73)
      • 3.3.1. Thể thơ dân tộc (84)
      • 3.3.2. Thơ tự do (90)
    • 3.4. GIỌNG ĐIỆU THƠ XUÂN HOÀNG (96)
  • KẾT LUẬN (103)

Nội dung

Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong suốt hành trình sáng tác của nhà thơ Xuân Hoàng, nhiều bài viết, bình luận và nghiên cứu về thơ ông đã được công bố trên sách, báo và tạp chí trong hơn vài thập kỷ qua Bài viết này sẽ điểm qua một số tác phẩm tiêu biểu liên quan đến đề tài.

Sau tuyển tập thơ Dải đất vùng trời của Xuân Hoàng do Hội Văn nghệ

Quảng Bình xuất bản năm 1976, với lời Tựa của nhà thơ Chế Lan Viên, năm

Năm 1984, trong nghiên cứu về Nhà thơ Việt Nam hiện đại do Viện Văn học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện, Xuân Hoàng được chọn là một trong 32 nhà thơ tiêu biểu Nhà nghiên cứu Đặng Quốc Nhật đã viết một bài phân tích sâu sắc về thơ của ông Mặc dù tác phẩm chỉ tập trung vào thơ Việt trước thời kỳ đổi mới, nhưng tác giả đã khái quát hành trình sáng tác của Xuân Hoàng qua hai cuộc kháng chiến, đồng thời khẳng định những đóng góp quan trọng của ông cho nền thơ Việt Nam, đặc biệt qua hai bản trường ca "Sông Gianh" ra đời năm 1949.

"Du kích sông Loan" được sáng tác vào đầu những năm 1960, góp phần vào nền thơ chung của cả nước trong hai cuộc chiến tranh Đặng Quốc Nhật đã phân tích và cảm nhận rằng những bài thơ hay của Xuân Hoàng, cũng như thơ kháng chiến, mang trong mình sắc thái và linh hồn, vì vậy chúng vẫn sống mãi và tiếp tục chạm đến cảm xúc của người đọc cho đến tận bây giờ.

Trong bài nghiên cứu của Đặng Quốc Nhật, tác giả đã phát hiện và khẳng định sự thay đổi mạnh mẽ trong bút pháp của thơ Xuân Hoàng khi ông bước vào giai đoạn chống Mỹ tại quê hương Quảng Bình.

Thơ của Xuân Hoàng đã phản ánh sâu sắc không khí thời đại, thể hiện tiếng nói chung trữ tình của những người đang chiến đấu tại các chiến trường như Đồng Hới, đèo Mụ Giạ, Tổ đại bàng, Sông Lê, và Phu la nhíc Những tác phẩm này không chỉ là những bài thơ hay mà còn là biểu tượng của thơ ca chống Mỹ.

Trần Hùng trong công trình "Chân dung văn học Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên sau 1975" của khoa Văn, Trường Đại học Khoa học Huế đã nhận định rằng thơ Xuân Hoàng không ngừng phát triển và hoàn thiện, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả.

Năm 2001, Chi hội Nhà văn Quảng Bình phát hành tập chân dung Nhà văn Việt Nam hiện đại Quảng Bình, trong đó nhà thơ Trần Nhật Thu đã viết bài “Anh bạc đầu theo những cánh hoa lau”, ghi lại những kỷ niệm sâu sắc với thơ ca và người anh Xuân Hoàng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Ông nhớ lại những đêm tối tăm dưới hầm sâu, bên ngọn đèn dầu mờ ảo, nơi ông đã đọc những bài thơ tình trong sáng và cảm động của Xuân Hoàng Trần Nhật Thu cũng nhấn mạnh rằng trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, họ đã dựa vào niềm tin và sự sáng tạo của Xuân Hoàng để sống sót và tồn tại.

Nhiều văn nghệ sĩ tại Quảng Bình, như Trần Nhật Thu, đã thể hiện sự gắn bó sâu sắc với Xuân Hoàng và thơ ông, cho thấy ảnh hưởng lớn của cuộc đời và thế giới nghệ thuật của Xuân Hoàng đối với con đường sống và sáng tác thơ ca của họ.

Hoàng Vũ Thuật chia sẻ rằng trong suốt hành trình cuộc đời từ khi còn trẻ cho đến hiện tại, ông luôn có một người bên cạnh, che chở cho ông bằng những điều giản dị và chân thật, như tàu lá chuối xanh giữa vùng cát trắng và gió Lào, thay vì những vật dụng xa hoa mà người đời thường ưa chuộng.

Mai Văn Hoan trong bài viết "Người lữ khách trên ‘con tàu trần thế’" đã khẳng định những nét đặc sắc của nhà thơ Xuân Hoàng, cho rằng ông là "một nhà thơ gắn bó máu thịt với quê hương Quảng Bình; một thi sĩ tài hoa, đa tình và lãng mạn; một con người vô tư, hồn nhiên, hóm hỉnh nhưng sâu nặng tình đời, tình người." Bài viết cũng nhấn mạnh giá trị của trường ca "Từ tiếng võng làng sen" của Xuân Hoàng.

Nhà thơ Xuân Hoàng đã dành nhiều công sức và thời gian để nghiên cứu tài liệu về cuộc đời Bác, đi khắp nơi từ Huế, Phan Thiết đến Pắc Bó để tìm hiểu và lắng nghe những hồi âm về Bác Mặc dù tác phẩm của anh chưa phải là đặc sắc, nhưng những nỗ lực và sáng tạo trong bản trường ca "Từ tiếng võng làng Sen" rất đáng trân trọng, thể hiện tấm lòng tri ân chân thành đối với Bác.

Thơ Xuân Hoàng về Bác Hồ, như Diệp Minh Luyện đã chỉ ra, thể hiện sự chuyển biến từ thời điểm lịch sử thuần túy sang thời điểm lịch sử thẩm mỹ Nhà thơ không chỉ là người quan sát mà còn là nhân chứng sống động, thấu hiểu từng chi tiết của hoàn cảnh Trong bài thơ "Về làng" (6-1957), tác giả hòa mình vào đám đông, không để lộ vị trí riêng biệt, mà thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng qua cụm từ "làng ta", tạo nên cảm xúc thân thuộc và gần gũi.

Mai xuân rộn rã bờ tre

Truyền tin đi Bác đã về làng ta

Thơ của Xuân Hoàng về Bác Hồ Chí Minh là những tư liệu lịch sử quý giá, được tái hiện bằng hình ảnh sắc màu và cảm quan thi sĩ Điều này giúp nhà thơ thoát khỏi sự ràng buộc của thông tấn xã, mang đến một không gian thơ đầy biểu cảm và chân thực Tác phẩm phác họa rõ nét tâm hồn người dân Việt, thể hiện niềm kiêu hãnh và tự hào về hình tượng Bác Hồ, một biểu tượng đẹp đẽ và gần gũi trong lòng dân tộc Việt Nam.

Ngô Minh trong bài viết "Xuân Hoàng – ha hả điệu cười rung mắt kính" đã chia sẻ những kỷ niệm sâu sắc về tình yêu quê hương qua những câu thơ về chiến tranh của Xuân Hoàng Những dòng thơ như "Em đi phố nhỏ động cành dừa" và "Phố nhỏ quê ta thức nhiều kỷ niệm" gợi nhớ đến những ký ức đau thương nhưng cũng đầy ắp tình yêu và hy vọng Bên cạnh đó, những câu thơ tình lãng mạn như "Nếu cần nữa tôi là hồ trên núi" thể hiện vẻ đẹp của tình yêu trong sự tĩnh lặng và thanh bình Những tác phẩm này không chỉ là những câu chữ mà còn là những cảm xúc chân thành, khắc sâu vào tâm hồn người đọc.

Xuân Hoàng đã tham gia kháng chiến chống Pháp và Mỹ bằng thơ, đồng thời xây dựng quê hương và tình yêu cũng bằng thơ Mọi hoạt động trong cuộc sống của anh đều gắn liền với việc sáng tác thơ ca, cho thấy thơ là phần không thể thiếu trong cuộc đời anh.

Khi nhà thơ Xuân Hoàng qua đời, tạp chí Nhật Lệ của Hội Văn học

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài thế giới nghệ thuật thơ Xuân Hoàng chúng tôi áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau :

Phương pháp hệ thống: Nhằm tiếp cận một cách hệ thống các tập thơ của Xuân Hoàng và các bài nghiên cứu về thơ Xuân Hoàng

Phương pháp phân tích và tổng hợp là cách tiếp cận bắt đầu từ việc phân tích tác phẩm, từ đó xây dựng các luận điểm, luận cứ và luận chứng phù hợp với yêu cầu của luận văn.

Phương pháp so sánh giúp đối chiếu các tác phẩm của các nhà thơ cùng thời, từ đó phát hiện những yếu tố độc đáo và bản sắc riêng trong thế giới nghệ thuật thơ của từng tác giả.

Phương pháp thống kê được sử dụng để phát hiện các hệ thống ngôn ngữ, hình ảnh và thể thơ đặc trưng trong thơ Xuân Hoàng Qua đó, chúng ta có thể nhận diện rõ nét các đặc điểm trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ, giúp hiểu biết một cách toàn diện và đầy đủ về nghệ thuật thơ Xuân Hoàng.

Đóng góp của luận văn

Bài viết nghiên cứu thơ Xuân Hoàng dưới góc độ thế giới nghệ thuật, coi đây là một chỉnh thể nghệ thuật với nhiều khía cạnh liên quan chặt chẽ Tác giả mong muốn đóng góp một hướng tiếp cận mới để khám phá đầy đủ sự nghiệp sáng tác của Xuân Hoàng, tập trung vào các vấn đề nổi bật như cuộc đời và sự nghiệp của ông, hình tượng cái tôi trữ tình, cũng như đặc trưng nghệ thuật trong thơ Qua đó, bài viết khẳng định bản sắc độc đáo của ngòi bút Xuân Hoàng và vị thế của ông trong tiến trình phát triển của thơ Việt Nam hiện đại.

Người viết hy vọng rằng tài liệu và kết quả từ luận văn sẽ đóng góp thiết thực vào việc giảng dạy văn học địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông hiện tại.

Cấu trúc đề tài

Bài viết này gồm ba chương chính, bắt đầu với cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Xuân Hoàng, tiếp theo là khám phá hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ của ông.

Chương 3 Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Xuân Hoàng

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ XUÂN HOÀNG

CUỘC ĐỜI

1.1.1 Quê hương và tuổi thơ

Xuân Hoàng (1925-2004), tên thật là Nguyễn Đức Hoàng, có quê gốc ở Phước Hòa, Tuy Phước, Bình Định, nhưng xóm Câu, Đồng Hới, Quảng Bình là quê mẹ của ông Làng Đồng Đình, nơi ông thường gọi là Động Đình Hồ, nằm giữa phố thị bên cửa sông Nhật Lệ, là nơi nhà thơ sinh ra và lớn lên trong âm thanh của sóng Những kỷ niệm tuổi thơ của ông gắn liền với hình ảnh cánh buồm trắng no gió và những chiếc thuyền chở cá trở về làng vào buổi chiều, cùng với gió nồm từ biển thổi lên mang lại cảm giác ngợp Dải cát bên kia sông sáng chói dưới ánh nắng vàng, bên cạnh những lùm cây xanh rì và mái ngói đỏ tươi, tạo nên một khung cảnh thơ mộng, trong khi nước sông mang màu xanh đặc trưng, đầy quyến rũ.

[26,tr.34] Cảnh sắc ấy cũng đã hòa vào thơ ông:

Quê hương tôi vốn hiền lành xinh đẹp

Sông rất xanh cửa biển mở chân trời,

Những động cát vàng ngói hồng chen lá biếc,

Một dãy thành rêu ấm nắng phơi

(Gửi quê hương chiến đấu)

Nhà thơ Xuân Hoàng đã chia sẻ rằng mỗi người đều có quê hương, và chính quê hương từ thuở ấu thơ là nền tảng giúp chúng ta hình thành khái niệm đầy đủ về đất nước, mở rộng ra là về Tổ quốc.

Dòng sông Nhật Lệ hiện lên với vẻ đẹp xanh lạ lùng, nơi ánh đèn biển in bóng trên nền cát và những đám mây hòa quyện cùng sóng bạc Cảnh sắc nơi đây không chỉ gợi nhớ về tuổi thơ mà còn là nguồn cảm hứng cho những ước mơ Biển quê hương, với những con sóng vô tận, phản ánh hành trình cuộc đời của ông như một con thuyền lênh đênh, luôn hướng về những bến bờ xa xôi, ngoài tầm với và tầm nhìn.

Xuân Hoàng, như nhiều văn nhân khác, đã sống và đi qua nhiều nơi trong cuộc đời, nhưng phần lớn thời gian ông gắn bó với quê hương Đồng Hới - Quảng Bình Tại đây, ông đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời và sáng tác của ông.

Mỹ, trong những năm tháng hòa bình gian khó, luôn gắn bó sâu sắc với quê hương Xuân Hoàng nhớ từng con đường, ngõ phố của thị xã Đồng Hới, thể hiện tình yêu và sự gắn kết máu thịt với nơi mình lớn lên.

Tôi thuộc hết tên đường trong thị xã

Những con đường mang những tiếng thân yêu: Đường Lê Trực sớm chiều thường rộn rã,

Lê Thành Đồng xưởng mộc, biển sơn treo,

Lối cô Tám rẽ ngang về bến chợ, Đào Duy Từ kè vững mở tầm khơi,

Lâm Úy vẫn cười kia bên nẻo phố,

Quách Xuân Kỳ cũng hẹn xuống đường vui

(Gửi quê hương chiến đấu)

Tình yêu quê hương của Xuân Hoàng được thể hiện sâu sắc qua tập thơ “Thơ gửi Quê hương” cùng nhiều tác phẩm khác.

Hoàng đã cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực cho quê hương Quảng Bình, nơi mà dấu ấn của nhà thơ hiện diện khắp mọi nơi trên mảnh đất kiên cường và đầy gan góc này.

Xuân Hoàng sinh ra trong một gia đình có ông nội là cử nhân, từng làm tri huyện và sau đó là Án sát ở Bình Thuận, nhưng vì liên hệ với các sĩ phu yêu nước, ông đã phải từ bỏ công việc quan lại để sống cuộc đời tự do, giúp đỡ người nghèo Dù chỉ gặp ông nội một lần khi còn nhỏ, hình ảnh của ông vẫn để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn Xuân Hoàng Ông ngoại của Xuân Hoàng là một người yêu sách, không ham thi cử, và luôn tìm kiếm để bổ sung tủ sách của gia đình Tủ sách đồ sộ của ông ngoại đã tạo nguồn tri thức phong phú, giúp Xuân Hoàng nhận thức được giá trị của việc học và khám phá những bí mật ẩn giấu trong sách vở.

Thân mẫu Xuân Hoàng, con út trong gia đình, thông thạo chữ Nho và có khả năng đọc sách Hán Nôm Từ năm chín tuổi, bà được ông ngoại và các cậu kèm cặp dạy chữ Sau sáu năm học, bà không chỉ thuộc lòng Tứ thư, Ngũ kinh mà còn nhiều thơ Đường và các tác phẩm khác Bà cũng đã học và đọc được sách chữ quốc ngữ.

Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Thu dạ lữ hoài ngâm ru các cháu Tuổi thơ

Xuân Hoàng đã lớn lên trong lời ru của mẹ

Xuân Hoàng được tiếp xúc với môi trường văn hóa từ nhỏ và được học chữ nho, tốt nghiệp tiểu học ở Đồng Hới và tiếp tục bậc trung học ở Huế, nơi ông may mắn được học từ các thầy giáo nổi tiếng như Tôn Quang Phiệt, Đào Duy Anh, Hoài Thanh Với vốn học vấn này, Xuân Hoàng đã có hành trang kiến thức và trí tuệ để tự tin bước vào nghề dạy học khi về quê nhà Đồng Hới Yêu thơ từ nhỏ, ông đã bắt đầu tập làm thơ từ năm lớp ba tiểu học và đường đời của ông đã gắn liền với đường thơ cho tới tận sau này.

Huế là miền quê không thể thiếu trong hồn thơ của Xuân Hoàng, người đã sống tại đây trong thời trẻ Sau khi đất nước thống nhất, ông trở lại Huế công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật trong giai đoạn 1976-1989, khi ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế sáp nhập thành tỉnh Bình Trị Thiên Tình yêu của Xuân Hoàng dành cho Huế sâu sắc, thể hiện qua tập thơ tình gửi gắm nỗi lòng với những tác phẩm như “Một chiều cố đô”, “Đây trăng Vĩ Dạ”, “Hát về sông Hương”, “Những đêm Huế khi xa” và “Giã từ mưa Huế” Những bài thơ này không chỉ là kỷ niệm mà còn là tâm tư của ông dành cho mảnh đất này.

Xuân Hoàng, sâu lắng kỷ niệm, bồi hồi và “rất Huế” xiết bao:

Tôi đi kháng chiến hai lần

Trở về: Huế vẫn trong ngần trời xanh

Vẫn vườn cây Huế thanh thanh

Vẫn mây vây khói xây thành vào xuân

Hương sen vẫn ngát mặt đầm

Vẫn xôn xao chút hương thầm tuổi hoa

Bồi hồi quên buổi cách xa

Xuân ơi, nhắc tháng năm tà mà chi?

1.1.2 Những chặng đường đời của một nhà thơ- chiến sĩ

Xuân Hoàng, một thanh niên trí thức lãng mạn, vừa dạy học để kiếm sống vừa đam mê thơ văn Hành trình học tập của ông không hề dễ dàng, và một trong những tác phẩm đầu tay của ông là bài thơ Động Đình, thể hiện tình yêu quê hương cùng tâm trạng sâu lắng.

Hồ, có đoạn: Động Đình Hồ! Động Đình Hồ

Nắng vàng, trăng biếc, mộng san hô

Thu sương nương cầu Cô Tô

Liễu mềm, lụa súng, bướm ngô rụng vàng Đây thôn buồn! Đây thôn buồn Đây thôn vạn cổ hoàng hôn tím sầu

Người đi đâu? Người đi đâu?

Lang thang gió bụi bạc màu tóc xanh?

Dừng chân lại dưới lều tranh

Chàng thi nhân sầu bên mành

Rượu tháng ngày một mình nghiêng ngả

Nợ bút nghiên, chàng không trả nữa…

Dòng thơ cuối vừa bày tỏ thái độ, vừa như một lời tiên cảm Năm

1945, hai mươi tuổi Xuân Hoàng làm đơn xin vào học lại trường Việt Anh ở

Huế quyết tâm hoàn thành bằng tốt nghiệp Trung học, nhưng tình hình chính trị bất ngờ thay đổi Trong hồi ký, tác giả ghi lại khoảnh khắc tỉnh dậy giữa đêm bởi tiếng súng nổ khắp nơi, cùng nhận xét của bạn mình về cuộc xung đột Nhật - Pháp Tại Việt Anh, họ không còn chú tâm vào việc học mà chỉ tìm kiếm những tin tức phức tạp Trước tình hình căng thẳng đó, nhà thơ quyết định trở về quê hương, bắt đầu chuỗi ngày hoạt động cách mạng để “trả nợ nước”.

Tháng 3 năm 1945, Xuân Hoàng tham gia vào Đoàn Thanh niên cứu quốc tại thị xã Đồng Hới, phụ trách công tác tuyên truyền, chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945 Công việc đầu tiên là tham gia diệt giặc dốt- một trong ba nhiệm vụ cấp thiết của cách mạng hồi bấy giờ Xuân Hoàng theo những người đi biển để dạy chữ cho họ ngay trên thuyền, giúp họ biết chữ để có thể hiểu và giác ngộ cách mạng Ông hăng hái nhiệt tình tham gia mọi nhiệm vụ được cách mạng phân công: Dạy học ở trường tiểu học Bảo Ninh, Đồng Hới Làm cán bộ thông tin tuyên truyền ở huyện Quảng Ninh và thị xã Đồng Hới Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Xuân Hoàng hòa vào dòng người kháng chiến, sáng tác thơ văn kịp thời động viên tinh thần chiến đấu của quân dân tỉnh nhà Tháng 9 năm 1947 ông được điều động về làm cán bộ biên tập tại Ty Thông tin - Tuyên truyền Tỉnh Quảng Bình

Trong ba năm 1947, 1948, 1949, Xuân Hoàng tham gia lớp bồi dưỡng cán bộ văn nghệ do Đoàn văn nghệ kháng chiến Liên khu bốn tổ chức tại Quần Tín, Thanh Hóa Lớp học do thầy Đặng Thai Mai phụ trách, nơi Xuân Hoàng được học hỏi và giao lưu với các thầy giáo là những nhà văn hóa và nhà văn nổi tiếng như Trương Tửu và Vũ.

SỰ NGHIỆP VĂN HỌC

Trong cuộc trò chuyện với nhà thơ Xuân Hoàng trên tạp chí Sông Hương, Bửu Nam đã ghi lại rằng thơ của ông mang hai xu hướng chính: sử thi và trữ tình, chịu ảnh hưởng từ Vich-to-Huy gô Ông nhấn mạnh rằng thơ sử thi ca ngợi những anh hùng lịch sử, phản ánh số phận dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thách thức và chiến thắng kẻ thù mạnh mẽ Nhà thơ không thể đứng ngoài cuộc sống, mà phải là người dẫn dắt, khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu của nhân dân Với ngòi bút như vũ khí, nhà thơ cần có tâm hồn, trí tuệ, lòng căm thù và tình yêu, cùng niềm tin vững chắc để truyền tải thông điệp mạnh mẽ qua thơ ca.

Xuân Hoàng sáng tác với quan niệm sâu sắc về con người, thể hiện qua thơ ca mang đậm hồn sử thi Ông không ngừng ca ngợi những nhân vật giản dị nhưng anh dũng trong cuộc kháng chiến, như mẹ Suốt và chị Trần Thị Lý Bên cạnh đó, ông cũng nhấn mạnh rằng nhà thơ cần nỗ lực trở thành con người nhất, không có gì thuộc về nhân loại là xa lạ với họ.

Cái tôi của nhà thơ và cái ta của dân tộc, thời đại cần hòa nhập để tạo nên bản lĩnh sống và khái quát trong thơ trữ tình Thơ trữ tình xuất phát từ cảm xúc cá nhân của nhà thơ, phản ánh mối quan hệ với thiên nhiên, xã hội lớn và nhỏ, cùng với những mâu thuẫn nội tâm cần được giải quyết để đạt được sự hài hòa Đây là tiếng nói của con tim, bộc lộ tâm sự và cảm xúc khi đối diện với thế giới bên ngoài hoặc khi nhìn lại thế giới bên trong Xuân Hoàng nhấn mạnh rằng thơ trữ tình cần đạt được sự hòa nhập giữa "trữ tình cá thể" và "trữ tình công dân", ngay cả trong bối cảnh chiến tranh, vẫn tìm thấy vẻ đẹp bình thường của cuộc sống để tạo sự quân bình Cảm xúc với thiên nhiên, như hình ảnh một đêm trăng Trường Sơn, mang lại sự bình ổn cho tâm hồn, đồng thời tạo ra những giây phút nghỉ ngơi quý giá cho cả nhà thơ và độc giả giữa những âm thanh cuồng nộ của chiến tranh.

Theo Xuân Hoàng, sự giao thoa giữa sử thi và trữ tình trong thơ, đặc biệt là thơ về đề tài chiến tranh, rất quan trọng Khi sự giao tiếp giữa hai thể loại này trở nên nhuần nhuyễn, thành công của bài thơ cũng dễ dàng đạt được hơn Thơ chiến tranh của chúng ta mang đậm chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhưng để không trở nên chung chung hay hời hợt, nó cần thể hiện cái riêng của người sáng tác.

Những chia sẻ trên thể hiện quan niệm sáng tác của nhà thơ, cho thấy sự vận động của nghệ thuật thơ theo hướng mà ông theo đuổi.

Từ năm 1975 trở về trước, ba mươi năm sáng tác thơ của Xuân Hoàng được khái quát trong tuyển tập Dải đất vùng trời (1976), nơi thể hiện rõ nét hình ảnh một Xuân Hoàng hùng tráng, ca ngợi lịch sử và khát vọng lý tưởng cộng đồng Ông là một trong số ít nhà thơ chuyên nghiệp tham gia kháng chiến bằng thơ, ghi lại những địa danh bi tráng như Bố Trạch, sông Gianh, cùng những anh hùng kháng chiến từ du kích đến bộ đội Những sự kiện kháng chiến, như cuộc đưa tiễn và hội nghị ngoài khơi, được ông miêu tả chân thực, mang đến cảm hứng ngợi ca sâu sắc trong từng tác phẩm.

Bức tranh thời đại còn nguyên nét

Con ngẫm mà yêu những lớp người Áo rách dày lem đời hoạt động

Tìm trong đêm đói những ngày vui

( Gửi con gái 15 năm sau -1951)

Xuân Hoàng đã tiếp tục phát triển chất sử thi trong thơ của mình một cách giản dị, đặc biệt trong mạch thơ chống Mỹ Ông thể hiện phẩm chất này với nhiều đường nét phong phú hơn, tạo ra hình tượng thơ động và tứ thơ sâu lắng, như trong các tác phẩm Hương đất biển và Biển và bờ Đến tập thơ Quãng cách và lặng im, Xuân Hoàng nhận định đây là một tập thơ trữ tình thực sự, nhờ vào hoàn cảnh xã hội thuận lợi và quan điểm văn nghệ rộng mở hơn Ông cảm thấy tinh thần và tâm hồn trữ tình của mình được giải phóng, và tập thơ này đánh dấu bước đi mới trong sự nghiệp sáng tác của ông.

Xuân Hoàng là một nhà thơ chuyên nghiệp, thể hiện quan niệm nghệ thuật qua hình tượng thơ phong phú Là một nhà thơ - chiến sĩ, thơ ca của ông luôn chịu ảnh hưởng từ cuộc sống cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử Đối với Xuân Hoàng, quan niệm nghệ thuật gắn liền chặt chẽ với quan niệm sống của ông.

1.2.2 Thành tựu qua các thể loại : a Thơ và trường ca:

Thơ là biểu hiện rõ nét nhất của tài năng trí tuệ Xuân Hoàng, để lại dấu ấn sâu sắc cho quê hương và đất nước Đối với ông, thơ không chỉ là nghệ thuật mà còn là sự sống, như Lâm Thị Mỹ đã từng nói.

Xuân Hoàng mang đến vẻ đẹp trong sáng và hồn nhiên như những vần thơ Mỗi ngày sống như một bài thơ đầy cảm xúc, da diết và độc đáo Liệu có ai trên thế giới này đồng hành cùng thơ ca mà không bao giờ nguôi say?

Các tập thơ và trường ca của Xuân Hoàng đã xuất bản:

Tiếng hát quê hương (in chung với Minh Huệ), Nxb Văn học, 1959

Du kích sông Loan (trường ca), Nxb Văn học, 1963

Miền Trung, Nxb Văn học, 1965

Hương đất biển, Nxb Văn học, 1970

Biển và bờ , Nxb Văn học, 1976

Dải đất vùng trời, Hội Văn nghệ Quảng Bình, 1976

Về một mùa gió thổi, Nxb Tác phẩm mới, 1983

Từ tiếng võng làng Sen (trường ca), Nxb Văn nghệ, Tp HCM, 1983

Quãng cách lặng im, Nxb Thuận Hóa, 1984

Thời gian và quãng cách, Nxb Văn học, 1990

Thơ tình Xuân Hoàng (100 bài xonê), Nxb Thuận Hóa, 1991

Thơ tình gửi Huế, Nxb Thuận Hóa, 1995

Nỗi niềm trao gửi, Nxb Thuận Hóa, 1997

Gửi quê hương, Thị ủy-UBND Thị xã ĐH-SởVHTT Quảng Bình (1997)

Khi nào thấy ( tuyển thơ ), Nxb Hội Nhà văn, 2006 b Văn xuôi:

Cánh buồm đỏ (ký), Nxb Phổ thông, 1971 Đá trắng (truyện ký, in chung với Nguyễn Đình Hồng) Nxb Phụ nữ,

1972 Âm vang thời chưa xa (hồi ký), Nxb Văn học, 1995 Âm vang thời chưa xa (hồi ký, tập II), Hội Văn học-Nghệ thuật Quảng Bình, 2000

Một nhà thơ có tay nghề không thể chỉ mãi giữ nguyên chất lượng tư tưởng và nghệ thuật trong các tác phẩm của mình Đối với Xuân Hoàng, việc tiếp cận gia tài tác phẩm cho thấy sự trăn trở và khát khao vươn lên trong sáng tạo Dù không phải lúc nào nhà thơ cũng thành công, nhưng sự nỗ lực không ngừng nghỉ của Xuân Hoàng là điều đáng ghi nhận.

Hoàng luôn nhận thức rõ ràng về việc phát huy những điểm mạnh vốn có của mình, đồng thời không ngừng thay đổi tầm nhìn, tư duy và phong cách sáng tác để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống và độc giả qua từng giai đoạn lịch sử.

Trước năm 1965, thơ Xuân Hoàng trong ba tập: Tiếng hát quê hương, Du kích sông Loan, Miền Trung thể hiện sự giàu chi tiết hình ảnh chân thực về quê hương Quảng Bình trong cuộc kháng chiến, tuy nhiên thiên về trần thuật và thiếu chất tưởng tượng cần thiết Đến Hương đất biển, Biển và bờ…, thơ Xuân Hoàng đã vươn tới vẻ đẹp mới, hòa quyện giữa chất sử thi và trữ tình, phản ánh tâm hồn của cuộc sống và con người quê hương Xuân Hoàng đã đóng góp nhiều tác phẩm nổi bật vào nền thơ chống Mỹ, như bản tình ca Đồng Hới, Biển và bờ, cùng với những bài thơ về Trường Sơn miền Tây Quảng Bình như Phu-la-nhíc, Sông Lê, Ba bài thơ trăng Trường Sơn, Ngọn tháp…

Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất và cuộc sống trở lại bình thường, Xuân Hoàng đã sớm thể hiện tầm nhìn của mình về sự thay đổi trong xã hội ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới.

Cái đẹp cũ bắt đầu ra sóng gió

Trước tầm nhìn thời đại mở bao la ( Tình ca mùa thu)

Và, cũng trong bài thơ ra đời năm 1977 ấy, nhà thơ đã không giấu khát vọng của mình:

Anh hát những khúc buồn khúc vui trong cuộc sống

Cây trúc này không mọc ở bờ ao

Khi tiếng hát thổi từ thanh ngọc trắng

Quả tim hồng đòi đổi mới ca dao

Những tập thơ Về một mùa gió thổi,Quãng cách lặng im, Thơ tình Xuân

Xuân Hoàng chia sẻ rằng cảm quan thẩm mỹ và biên độ cảm xúc của anh đã được mở rộng, mang đến niềm vui như một người làm thơ lâu năm được “giải phóng” bản ngã Thơ của anh không chỉ giữ chất trữ tình công dân mà còn sâu lắng hơn với những yếu tố trữ tình đời tư và thế sự.

HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ XUÂN HOÀNG

CÁI TÔI SÂU NẶNG NGHĨA TÌNH QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC

Trong thơ Xuân Hoàng, cái tôi trữ tình phản ánh quy luật chung của nền thơ cách mạng và kháng chiến Việt Nam từ 1945 đến 1975, thể hiện cái tôi công dân với cảm hứng lãng mạn - sử thi Cái tôi cá thể trong thơ thường hòa quyện với cái ta rộng lớn của cộng đồng, tạo nên sự thể hiện lý tưởng cao đẹp và khát vọng chung Do đó, cảm hứng chủ đạo trong thơ là cảm hứng ngợi ca.

Xuân Hoàng, mặc dù chỉ sống một thời gian ngắn ở Hà Nội, nhưng phần lớn cuộc đời ông gắn bó với quê hương Quảng Bình và miền Trung thân thiết Điều này tạo nên bản sắc trữ tình đặc trưng trong thơ của ông, với một hồn thơ sâu nặng tình yêu quê hương và đất nước.

Xuân Hoàng, một người con của Quảng Bình, mang trong mình tâm hồn thơ mộng và rộng mở Ông say mê hát về con người, quê hương và những chiến công oanh liệt của mảnh đất này, thể hiện tình yêu sâu sắc với quê hương.

Bình trong thời kì chiến tranh gian khổ ấy

Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta đã tạo nên một bản anh hùng ca, ảnh hưởng sâu sắc đến cảm xúc của Xuân Hoàng trong việc viết về quê hương Trong tập thơ "Dải đất vùng trời", tình yêu quê hương đất nước được thể hiện rõ nét, đặc biệt qua hình ảnh mảnh đất Quảng Bình oanh liệt Cái tôi trữ tình công dân của Xuân Hoàng được bộc lộ qua những bài thơ ca ngợi các vùng đất gắn liền với chiến công của quê hương Tình yêu và nỗi niềm của ông dành cho mảnh đất thân yêu thật lớn lao, thể hiện sự gắn bó sâu sắc với quê hương.

Cảm xúc của ông luôn mãnh liệt và chân thành, thể hiện qua những rung động tinh tế trước những biến động lớn của lịch sử Qua đó, chúng ta cũng khám phá được một vùng trời thơ mộng trên dải đất miền Trung thân thương.

Một Trạm Đồng Bằng cũng đi vào thơ

Trung châu xóm nhỏ uốn sông xanh

Rải rác đồng sâu mấy nếp tranh

Tựa mé lưng đồi nghiêng mái trạm

Vồng khoai đôi luống cạnh vuông hành

Bài thơ khắc họa chân thực khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp của một vùng quê, nơi có dòng sông xanh uốn lượn Nhà thơ không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh sắc, mà còn thể hiện cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ của người dân nơi đây vì độc lập Niềm tin vào ngày độc lập luôn hiện hữu trong lòng mọi người, tạo nên sức mạnh và hy vọng cho vùng đất yên bình này.

Nghĩ đến ngày mai ngày độc lập

Mắt mòn thâu sáng bỗng long lanh

Trung Châu trạm nhỏ vùng du kích Đang ngát hương đời dưới nếp tranh

Cảm hứng lãng mạn từ một thời đại sử thi thể hiện vẻ đẹp và tinh thần lạc quan của dân tộc Dưới những nếp tranh, cuộc sống vẫn ngát hương, dù gian khổ nhưng lòng người luôn khát khao cống hiến cho quê hương.

Hay viết về dòng sông Gianh:

Bên kia sông hàng tre chờ lặng lẽ

Nắng ngập bờ không một bóng dân quân

Làng hiền từ…(mà bí mật lạnh lùng)

Dòng sông Gianh không chỉ đẹp thơ mộng mà còn mang trong mình lịch sử hào hùng của những con người dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì độc lập của quê hương Đây là nơi ghi dấu những trận chiến oanh liệt, với tiếng hát ca ngợi vẫn vang vọng mãi trong lòng người dân.

Súng ống, ba- lô, vịt gà… quăng thục mạng

Toán tàn binh tán loạn chạy ra bờ

Bờ sông Gianh lặng lẽ thản nhiên chờ

Một lần nữa, giặc xô vào tang xác…

Mỗi địa danh mà Xuân Hoàng ghé thăm đều in dấu ấn trong thơ ca của ông, khi ông say mê viết và kể lại Tại mỗi nơi, ông đều cảm nhận được hình ảnh của những con người trong cuộc kháng chiến, sống và chiến đấu vì lý tưởng cách mạng.

Ai đi qua Quảng Bình hẳn từng quen huyện Bố

Dưới chân Ba Rền thăm thẳm một màu xanh

Cảm hứng sử thi lãng mạn đã biến những vùng đất quen thuộc thành những tác phẩm thơ đầy vẻ đẹp Trong những gian khổ và khó khăn, con người cần có niềm tin vào điều gì đó để tồn tại và vượt lên trên những điều tầm thường của cuộc sống.

Những mảnh đất anh hùng cứ chảy mãi vào trong thơ:

Sáng trăng sáng lạch Ba Đồn

Gió từ cửa biển gió nồm thổi lên

Ngày mai xuống chợ ăn phiên

Tiếng hò sông lặng lẽ nghe quen quá chừng

Trong bài thơ "Tiếng hò năm ấy phải người hôm nay," hình ảnh ánh trăng được sử dụng để biểu đạt tâm tư con người, cho thấy rằng dù trong hoàn cảnh khó khăn, con người vẫn có khả năng vươn lên và tỏa sáng Hình ảnh cách mạng và đất nước luôn được nhắc đến, khẳng định tinh thần kiên cường và lòng tự hào dân tộc trong mọi hoàn cảnh.

Trăng rằm ra khỏi đám mây

Sông mênh mông lặng nước lay ngọn sào

Về khuya tiếng hát càng cao

Tưởng nghe đất nước thấm vào lời ca

( Tiếng hò năm ấy phải người hôm nay?)

Hình ảnh của đất nước đã trở thành biểu tượng quen thuộc, in đậm trong từng lời ca, tiếng hát, nhắc nhở mọi người về cuộc chiến gian khổ không thể nào quên.

Cự Nẫm anh hùng qua ngòi bút của Xuân Hoàng càng khiến cho những người con đất Quảng Bình không thể nào quên được:

Dần dà sang chuyện dân quân,

Anh cười: - Cự Nẫm tinh thần như xưa,

Tay cày tay súng sớm trưa,

Sân phơi, bãi tập cũng vừa sửa thêm…

Con người nơi đây, vừa cầm cày vừa cầm súng, vẫn đầy nhiệt huyết và quyết tâm tiêu diệt kẻ thù Dù quân địch có mạnh mẽ đến đâu, nhưng sức mạnh của lòng dân thống nhất sẽ vượt qua mọi thử thách Mọi người, mọi nhà đều cùng nhau chung sức vào cuộc chiến.

Những tên đất, tên làng trong tác phẩm của nhà thơ đã trở thành huyền thoại, phản ánh sự hi sinh và mất mát của dân tộc Hình ảnh đất nước luôn ẩn hiện trong con người Xuân Hoàng, khi ông viết để ca ngợi những mảnh đất anh hùng Đặc biệt, ông dành nhiều tâm huyết cho mảnh đất Đồng Hới, quê hương thân yêu, với những lời chân thành và mộc mạc.

Em đi phố nhỏ động cành dừa

Cửa biển về khuya gió đêm ngã lạnh

Phố nhỏ tan rồi qua bao trận đánh

Chúng ta về, ấm lại dãi đường xưa

Quê hương tôi vốn hiền lành xinh đẹp,

Sông rất xanh cửa biển mở chân trời,

Những động cát vàng ngói hồng chen lá biếc,

Một dãy thành rêu ấm nắng phơi

( Gửi quê hương chiến đấu)

Trong những mảnh đất anh hùng ấy còn có cả những nơi mà không có tên Chiến công của nó chỉ được lưu giữ ở trong lòng người

Từ những đồi hoang, đạn pháo vút lên

Bắt tội ác quân thù phơi ánh sáng

Biết cách ngụy trang hoa không cần đổi dạng

Trên bản đồ đồi đâu có ghi tên

(Những vùng đồi không tên)

Những vùng đất không tên nhưng ghi dấu chiến công trong lịch sử, cùng với loài hoa dại biểu trưng cho tinh thần kiên cường của con người Dù xuất phát từ đâu, khi tổ quốc lâm nguy, mọi người đều sẵn sàng hy sinh và tham gia bảo vệ quê hương.

CÁI TÔI TRỮ TÌNH HỒN NHIÊN ĐA CẢM VÀ SÂU LẮNG

Sự thay đổi của lịch sử đã tác động mạnh mẽ đến cảm hứng trữ tình của nhà thơ Xuân Hoàng Sau khi đất nước được giải phóng, với hoàn cảnh xã hội thuận lợi hơn và quan điểm văn nghệ rộng mở, cái tôi trữ tình của ông được giải phóng, tạo nên một hồn thơ hoàn toàn mới Xuân Hoàng khao khát bộc bạch cảm xúc đa chiều, nơi cái tôi công dân gắn bó với quê hương đất nước vẫn hiện hữu, nhưng cũng nhường chỗ cho cái tôi cá nhân phát triển mạnh mẽ Là một nhà thơ chiến sĩ, thơ của ông chủ yếu mang cảm hứng ngợi ca quê hương, nhưng bên cạnh đó, độc giả còn khám phá được những khoảnh khắc riêng tư, mơ mộng của Xuân Hoàng, tạo nên một hình ảnh độc đáo không thể nhầm lẫn.

Ngay từ thời kỳ kháng chiến, bài thơ "Đồng Hới" của Xuân Hoàng đã thể hiện rõ nét chất trữ tình trong sáng tác của ông.

Em đi phố nhỏ động cành dừa

Cửa biển về khuya gió đêm ngả lạnh

Phố nhỏ tan rồi qua bao trận đánh

Chúng ta về ấm lại giải đường xưa

Anh yêu em không phải chỉ riêng em,

Bởi lẽ tình ta nhen từ phố nhỏ

Phố nhỏ đổ nhưng lòng ta ở đó

Vẫn ngọt ngào trong nỗi nhớ đầu tiên

“Anh yêu em không phải chỉ riêng em” thể hiện cảm hứng trữ tình cá nhân đã tiềm ẩn trong thơ Xuân Hoàng, nhưng bị kìm hãm bởi hoàn cảnh Khi có điều kiện, cảm xúc này bùng lên mạnh mẽ Xuân Hoàng chia sẻ rằng “tâm hồn trữ tình của tôi được giải phóng”, đánh dấu sự chuyển mình trong sáng tác Sau khi giải phóng bản ngã, nhà thơ không còn say sưa với những khúc ca cách mạng, mà hướng đến những cảm xúc sâu lắng mà ông từng trải nghiệm ở Đồng Hới hay Trăng Trường Sơn, đặc biệt là sau chiến thắng mùa xuân.

Năm 1975, đất nước thống nhất, cuộc sống dần trở lại với nhịp sống thường nhật Ngay từ những năm trước đổi mới, nhà thơ Xuân Hoàng đã sớm nhận ra và dự cảm được những biến chuyển trong xã hội.

Cái đẹp cũ bắt đầu ra sóng gió

Trước tầm nhìn thời đại mở bao la

Chất liệu chính trong thơ của Xuân Hoàng giai đoạn này là tâm hồn, dẫn đến sự chuyển biến trong cách thể hiện Trước đây, thơ của anh thiên về tự sự và miêu tả cảm nhận tức thời về cuộc sống, nhưng hiện tại, thơ trở thành sự biểu hiện và cảm nghĩ sâu sắc về cuộc sống, được chắt lọc từ cả một đời người đã trải nghiệm và chiêm nghiệm.

Xuân Hoàng là một hồn thơ nhạy cảm, thường thể hiện nỗi nhớ và kỷ niệm trong tác phẩm của mình Những hình ảnh sâu sắc in đậm trong tâm hồn ông, từ hương dạ lan đến màu hoa học trò, gợi nhớ về “Đồng Hới hủy mình”.

“Màu cờ thắm son pha”

Sắc đỏ gần và xa

Nửa hư và nửa thực

Huế ơi, mùa học trò

Còn không trong ký ức?

Chỉ còn trong ký ức

Màu cờ thắm son pha,

Tháng Tám rung thành quách,

Trời xanh và lời ca

Màu đỏ của hoa học trò gợi nhớ đến màu cờ đỏ của dân tộc, biểu trưng cho một thời kỳ chiến tranh oanh liệt mà tác giả đã trải qua Câu hỏi tu từ được đặt ra nhằm khơi gợi những hồi ức sâu sắc về quá khứ.

Mùa học trò, theo tác giả, là thời điểm không thể quên, gắn liền với sắc màu cờ dân tộc, in sâu vào tâm trí mỗi người con xứ Huế và toàn thể dân tộc Việt Nam.

Gặp mùa xoài chín ông nhớ ngày xoài còn xanh:

Giờ đây xoài chín trong ngoài

Em xa…và rặng hương dài cũng xa

Mỗi năm nở một mùa hoa

Mỗi năm quả trĩu một mùa mà thôi

Xoài xanh nay đã chín rồi

Chẳng hay giọt lệ có muồi theo hương?

Nỗi nhớ gắn liền với suy tư và trăn trở, khi nhìn mùa xoài chín, ta không khỏi nghĩ đến cuộc đời con người "Chẳng hay giọt lệ có muồi theo hương?" - câu hỏi không có lời đáp nhưng lại khắc khoải trong lòng người đọc Mùi hương của mùa xoài vẫn còn đó, nhưng người đã xa, khiến cho nỗi lòng day dứt mãi không nguôi.

Nỗi nhớ trong thơ của ông phản ánh những trăn trở và trải nghiệm sâu sắc trong cuộc sống Tác phẩm của ông mang trong mình sức nặng tâm tư và ánh sáng trí tuệ, thể hiện qua câu hỏi đầy ý nghĩa: "Không biết đường cong con sông Tiền Đường có giống đường cong sông Lam?"

Mà ngọn sóng ở đây cứ cồn lên nổi tang điền, thương hải? Ơi cánh chim bằng ba chìm bảy nổi!

Ba trăm năm là mấy đời người?

… Đâu phải ở đây tất cả cuộc đời,

Nhưng cốt lõi cuộc đời nơi đây từng đọng lại

Cảnh sắc này và tâm trạng ấy,

Từng trang đời vằng vặc truyện Kiều soi… Đến với Tiền Đường, tôi biết Nguyễn Du vui

Trong nét núi đường sông chiều gặp gỡ

Sông Lam dẫu bên bồi bên lở,

Trang thơ nay bớt lở bồi

Bên sông Lam, Xuân Hoàng trăn trở với những câu hỏi tu từ, tựa như những suy nghiệm của Nguyễn Du về cuộc đời Ông đặt ra câu hỏi: “Ba trăm năm là mấy đời người?” để khám phá chiều sâu của thời gian và số phận con người.

Không biết ba trăm năm lẻ nữa

Người đời ai nhớ Tố Như không?

Xuân Hoàng thể hiện sự suy tư về cuộc sống và ý nghĩa của đời người, khi không ai có thể dự đoán được thời gian tồn tại của mình Ông cảm nhận rằng cuộc sống có thể kết thúc bất ngờ, thậm chí ngay ngày mai Những trăn trở về cuộc đời đã khiến Xuân Hoàng sáng tác thơ, thể hiện tâm tư của mình về cái chết và sự tạm bợ của kiếp người.

Có nghĩa gì đâu quán trọ đời Đến rồi đi đấy, thiệt mà chơi

Không còn viễn ảnh gì lưu niệm

Ngoài sắc thời gian tím tuyệt vời

Thôi được rồi đây tôi sẽ đi

Hãy xem như đó một chu kỳ

Bởi tôi là đất, tôi về đất

Không dám đòi xin một thứ gì

Ông thể hiện sự sâu lắng trong suy nghĩ qua những câu thơ mạnh mẽ và triết lý, phản ánh một tâm hồn đã đạt được sự bình thản Sự bình thản này cho phép ông đối diện với cuộc sống và cái chết một cách nhẹ nhàng, thanh thản.

Cuộc đời đầy trải nghiệm của Xuân Hoàng đã tạo ra những vần thơ sâu sắc, chứa đựng triết lý và ánh sáng của cuộc sống Ông nhấn mạnh rằng "Đâu phải ở đây là tất cả cuộc đời, Nhưng cốt lõi cuộc đời, nơi đây, từng đọng lại", cho thấy sự tập trung vào những giá trị cốt lõi và ý nghĩa của cuộc sống.

Cũng trong dòng cảm xúc ấy nhà thơ cũng suy nghĩ về Nguyễn Quang Bích:

Hoa gạo chiều nay hồng phố núi

(Ngày xưa hoa gạo rụng chiều vơi)

Sông Đà đỏ nước triền miên chảy

Hát mãi trong tôi điệu tuyệt vời

Bên sông Đà, tác giả Nguyễn Quang Bích suy tư về cuộc đời và những con người đã đi vào lịch sử, thể hiện một tâm hồn thơ đầy triết lý và trải nghiệm Ông, cũng như nhiều nhà thơ khác, đã để lại những tác phẩm sâu sắc như "Đọc Puskin" và "Bên tượng Goor-ki", mở rộng cảm xúc và cái tôi nghệ thuật Xuân Hoàng, với những khúc ca sử thi, không chỉ là một người hát ca mà còn là một triết gia, khám phá sâu sắc về cuộc sống và con người Đặc biệt, hình tượng "biển" trong thơ Xuân Hoàng lặp lại nhiều lần, trở thành biểu trưng cho khát vọng và cái nhìn của người từng trải nghiệm.

Tôi đã đi đã gặp Đã vui cười Đã giận dữ Đã đau buồn Đã khóc

Giờ gặp biển Bỗng nhiên bao mệt nhọc

Tự cuộc đời, yên lắng lại trong tôi

Mái tóc xanh tôi dâng biển lâu rồi

Giờ còn lại những sợi mềm tỏa sáng

Cũng như sóng dưới chân tôi bạc trắng

Bên nền xanh cửa biển tiếp chân trời

NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TRONG THƠ XUÂN HOÀNG

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Bình An (2011), “Phát huy truyền thống quê hương, văn học nghệ thuật Quảng Bình vững vàng hội nhập với nền VHNT nước nhà”Tạp chí Nhật Lệ, (200), tr.31-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy truyền thống quê hương, văn học nghệ thuật Quảng Bình vững vàng hội nhập với nền VHNT nước nhà” Tạp chí "Nhật Lệ
Tác giả: Nguyễn Bình An
Năm: 2011
[2] Hội văn học Nghệ thuật Quảng Bình (2004), “Một đời tận tụy vì sự nghiệp Văn học - Nghệ thuật”, Tạp chí Nhật Lệ, (108), tr.30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một đời tận tụy vì sự nghiệp Văn học - Nghệ thuật"”, "Tạp chí "Nhật Lệ
Tác giả: Hội văn học Nghệ thuật Quảng Bình
Năm: 2004
[3] Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2001
[4] Chân dung văn học Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên sau 1975 (1989), Trường Đại học Tổng hợp, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung văn học Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên sau 1975
Tác giả: Chân dung văn học Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên sau 1975
Năm: 1989
[5] Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
[6] Hồ Thế Hà (2005), Thơ và thơ Việt Nam hiện đại, Trường Đại học Khoa học Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hồ Thế Hà
Năm: 2005
[7] Nguyễn Thị Bích Hải (1995), Thi pháp thơ Đường NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đường
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1995
[8] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1999
[9] Nguyễn Văn Hanh (2007), Rabin dranath Tagore với thời kì phục hưng Ấn Độ, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rabin dranath Tagore với thời kì phục hưng Ấn Độ
Tác giả: Nguyễn Văn Hanh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2007
[10] Bùi Hiển (1999), Hồi ký bạn bè một thuở NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký bạn bè một thuở
Tác giả: Bùi Hiển
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 1999
[11] Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên, 2003) Từ điển thuật ngữ văn học (bộ mới), NXB Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Thế Giới
[12] Mai Văn Hoan (2012), “Đọc lại trường ca Từ tiếng võng làng sen của nhà thơ Xuân Hoàng”, Tạp chí Nhật Lệ, (206), tr.40-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc lại trường ca Từ tiếng võng làng sen của nhà thơ Xuân Hoàng”, Tạp chí "Nhật Lệ
Tác giả: Mai Văn Hoan
Năm: 2012
[13] Mai Văn Hoan (2008), Cảm nhận thi ca, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nhận thi ca
Tác giả: Mai Văn Hoan
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2008
[14] Xuân Hoàng (1959), Tiếng hát quê hương, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng hát quê hương
Tác giả: Xuân Hoàng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1959
[15] Xuân Hoàng (1970), Hương đất biển, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hương đất biển
Tác giả: Xuân Hoàng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1970
[16] Xuân Hoàng (1961), Miền trung, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền trung
Tác giả: Xuân Hoàng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1961
[17] Xuân Hoàng (1976), Dải đất Vùng trời, NXB Hội Văn nghệ Quảng Bình, Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dải đất Vùng trời
Tác giả: Xuân Hoàng
Nhà XB: NXB Hội Văn nghệ Quảng Bình
Năm: 1976
[18] Xuân Hoàng (1976), Biển và bờ , NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển và bờ
Tác giả: Xuân Hoàng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1976
[19] Xuân Hoàng (1983), Về một mùa gió thổi , NXB Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một mùa gió thổi
Tác giả: Xuân Hoàng
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn Việt Nam
Năm: 1983
[20] Xuân Hoàng (1984), Quãng cách và lặng im, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quãng cách và lặng im
Tác giả: Xuân Hoàng
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1984

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w