Tài liệu Tiếng Việt và nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh: Phần 2 gồm hai nội dung lớn:Chiều sâu tư tưởng cách mạng và cấu trúc định danh mở rộng trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh, một vài kết luận tổng quan. Mời bạn đọc cùng tham khảo.
Trang 2Chương một
GHI NHẬN CHUNG VẾ CẤU TRÚC ĐỊNH DANH MỞ RỘNG
Khi nói đến chức năng của ngôn ngữ thì chức nâng đấu tiên
dễ thấy nhất mà ai cũng nhắc tới, đó là chức năng định danh
Hay nói khác, là chức năng đặt tên cho những sự vật: nhCmg sư
vật mà con người đã nhận biết được về chúng, trước hết bằng quá trình nhân thức mang tính cá thể của chính nêng minh trong su’ gắn bó với mõi trường thực tiễn
Như vậy, rõ ràng là việc đặt tên (định danh) có liên quan đến quá trình nhận thức, và việc mở rộng cách đặt tèn (mở rộng định danh) có liên quan đến vấn để mở rộng nhận thức thèm về
phẩm chất của đối tượng trong mòi tarờng hoạt động thực tiễn của
con người, cả về mặt thién nhiên cũng như xã hôi
Từ đó, để hiểu rõ vấn đề từ chiều sâu của nó, ta không thể không để cập đến mối quan hệ giữa tư duy và ngôn tigữ
Như chúng ta biết, ngôn ngữ là một phương tiện làm định hình
tư duy, đồng thời cũng là một phương tiện truyền đạt nhận thức đựơc định hình trong quá trình tư duy vốn gắn với cuộc sống hàng
124
Trang 3ngày nơi con người Cách tư duy tuy có nhưng quy luật phổ quát của nó nhuHg, trong tinh hiên thực, khõng nhất thiết bao giờ nó cũng diễn ra hoàn toàn đổng nhất giữa những cá thể của cộng đổng đang cùng sinh sống và tổn tại trong xă hội
Nét khác bièt này chúng ta thây phần lớn nó thường được bốc lộ rõ nhất qua những nhà tư tưởng lớn, những nghệ sĩ lớn, nhũTig danh nhản văn hóa lớn Khi suy nghĩ về những tarờng hợp trẽn, chung ta không coi đó là vấn đề bẩm sinh, mà thực chất đó là vấn đề n h ậ n t h ú c m ó i được tạo ra từ quá trinh nhận thức về đời sống tíiực tièn đang biến động
Từ đó, vân đề quan trong nên đặt ra ở đây là cần tim xem nguyên nhân sâu xa nào đã tao ra nhận thức ấy Và trong đó đặc biệt hơn là phải tìm xem chính chủ thể nói năng tạo ra nhận thức
ấy đã điều hành ngôn ngữ như thế nào để thể hiên mạch nhận thức mới vốn dĩ bắt đầu từ cá nhân nhung giàu ý nghĩa xã hội và
luôn luôn mang tính chất tích CLfc phuc vu đối với quá trình đấu
Iranh xây dưng và phát triển xã hòi,
Theo chúng tỏi vièc nghiên cứu những cấu tiiJC định danh
mở ròng trong ngôn ngữ Hổ Chí Minh chắc chắn không thể nào thóat ly khỏi quy luât chung đã được xác định trên
Hay cụ thể hơn, có thể xác định như thế này: tìm hiểu sự mở rộng câu trúc định danh trong ngòn ngữ của Nhà Văn Hóa Lớn Hồ Chí Minh, chúng tỏi khòng có mục đích nào khác hơn là cố gắng
Nét đặc trưng của tư duy ở con ngươi là mối tác động qua lại giữa người đang tư duy vừa với thực tại cá thể tri giác cảm tinh và trưc tiếp, vừa VỚI hệ thông tri thức do xã h ộ i tạo ra được khách quan hóa vào trong từ ngữ, vừa với sự giao IƯLI giữa con người với loài người (X.L.Rubinstein, Tâm lí học Liên Xô,.M 76, trang 273)
125
Trang 4khảo sát xem chiều sâu và tinh năng động cách mạng trong tư tưởng của Người được thể hiện như thế nào qua cách điều hanh và
sử dụng ngòn ngữ, gắn với các cấu trúc định danh mỏ ròr.g vổn thường được Người sử dụng trong quá trinh giao tiếp
Với cách đặt vấn đề trên, rõ ràng, ngôn ngữ và tư duy là hai mặt hoat đông không thể tách rời Và đồng thời, trorg tím hiên
thực của nó, sự phát triển của nhận thức gắn với quá Tình ‘ư duy
luôn kéo theo trong bản thân nó sự phát triển của ngôn ngữ chính cũng là sự phát triển của nôi dung luôn kéo theo sự phat triển của hình thức vốn nằm trong cơ chế mở gắn với trạng thá đan^ hoat động của bản thân đối tượng ngòn ngữ
Nhưng thực ra không phải chỉ có thế Song song VỚI \ấn đề
về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức này, trorg tínn hiện thực của nó, ở đây chúng ta còn thấy có cả vấn đề về mối quan hệ giũs phạm trù cá nhân và xã hội
Khòng phải hoàn toàn ngẫu nhiên mà nhiểu nhà nghièn cứu
lí luận ngôn ngữ học thường lưu ý rằng, trong ngôn ngũ học í liiản khi xem xét ngôn ngữ ở mặt chức năng, chúng ta nhất thiết <hòng được xem nhẹ cái phẩm chất tự nhiên đầu tiên vốn có củc ngòn ngữ là làm vật truyền đạt ý thức Và, theo họ, thì điều này <hông
được hiểu là: mỗi một sự định hinh của một lời nói cụ thể là chỉ thể
hiện một nội dung ý nghĩa thuộc một cá nhân cụ thể, mà còn phải hiểu một cách tổng quan hơn rằng;
Ngôn ngữ trong tính tổng thể của nó phải đưỢc thừa nhận như là vật vừa truyền đạt ý thức cá nhân và ý thức xã hội cùng một lúc (1).
126
Trang 5Luận diểm này cĩ liên quan trực tiếp đến tinh vừa cá nhân /ừa xã hội trong quá trinh hành chức và phát triển của chính bản :hán ngơn ngữ*'*.
Va mặt khác, theo một gĩc nhin nào đĩ, thì chính luận điểm
•lược xây dimg từ một quan điểm động để khảo sát ngơn ngữ theo nướng mỏ nĩi trẽn đã gợi ra cho chúng ta đồng thời cùng lúc nhiều nối liẻn hê hoat động tương tác lẫn nhau của chính bản thân cơ :hế ngĩn ngữ trong quá trình hành chức của nĩ,
Như vây, cơ chê làm định hình nét mới trong ngơn ngữ mà chúng ta đang muốn tìm hiểu ở đây, theo tịi, về mặt nguyên tắc,
<hỗng thế hiểu tách rời, Khơng tách rời, mơí mặt, mối liên hê giữa ninh thưc và nịi dung, mặt khác, khơng tách rời giữ’a cá nhân và
xã hui Những pham trù hinh thức và nội dung cũng như cá nhân /à xã hỏi tiĩi trèn vịn ÌLiịn tương tác iẫn nhau trong thế đối lâp một cách cĩ quy luật
Từ đĩ bèn cạnh nhũrig tiền đề trẽn, chúng ta cũng cần chú ý đến một tiềii đề khác mang tính xuất phát điểm khơng kém phần qu.an trong Đĩ ià sư tương tác giữa tu' duy và ngơn ngữ để cả hai đổng thời phát triển, và sự phát triển này đĩ nhiên khơng phải hồn tồn vi muc đích tư thản của tư duy và ngơn ngữ Trái lại, theo quy iuật chunc] thi sự tương tác trèn bao giờ cũng hướng tới muc đích
xã hịi sâu xa hơn: Nĩ kích thich hoạt động của con người trong việc nhận thức về thê giới đẻ hướng con người cùng nhau đứng lẻn cải tạo thê giới
Đề câp đến ÌLiân để về hành vi trao đối giữa cá nhãn và xã hội, Mác đã từng noi: 'Với tất cả những người trao đổi ( ) thi áng mơt hành vi áy nhưng khơng thể hiểu đơn giản đĩ chỉ đơn thuần là một hatih ví ca nhân và trái lại cũng khơng thế hiểu đĩ chỉ đơn thuán ià hành vi xã hĩi" (Tư bản luân, T1, H.60, trang124)
127
Trang 6Tầm quan trọng đặc biệt của nguyên lí trên được giới nghiên cứu ngôn ngữ học thế giới đặc biệt quan tâm, và nó được nhàc nhở cụ thể thông qua những lời khuyên vừa có ý nghĩa thực tiền vừa mang tính quy luật như sau:
Ngòn ngữ là một hình thức xã hội của hoạt động nơi con người, nhờ nó mà các khách thể trong thế giới hiện thực của chúng ta được đồng hóa và chuyển hóa vào những mục đích thực tiễn rất xác định” ''*
Như vậy, từ cách xác định trên, ta có thể nói rằng, xu thế mở
rộng cấu trúc định danh thực chất là sự mở rộng đơn vị định
danh Mở rộng để đổng hóa vào đó sắc thái nhân thức mới về sự vật mà cá thể con người nhận thức được Và, dì' nhiên, trong quá trình nhận thức của mình, khi một cá nhân nào đó đã đạt đến nhàn thức mới cùng với sự xác lập cấu trúc định danh mở rộng thì, dù muốn dù khòng, chính cá nhân ấy, thông qua phương tiện ngôn ngữ, đã trực tiếp đưa lại một hiệu lực giao tiếp mới cho cộng đồng
xã hội mà anh ta đang sống, dù cho anh ta có ý thức được về điều
đó hay không
Do vậy, xu thế mở rộng cấu trúc định danh mà chúng ta muốn nói đến, trước hết, rõ ràng đây không phải là vấn đề hoàn toàn hình thức Trái lại, nó thuộc về nội dung nhận thức gắn với
quá trình phát hiện phẩm chất mới của sự vật Quá trình này
được thực hiện thòng qua môi tarờng hoạt động thực tiễn của con người Nói một cách khác, nếu không nhiệt tình hòa minh trong hoạt động thực tiễn của xã hội thì không thể có nhân thức mới; và nếu tự mình không hướng được tới nhận thức mới thi không thể nào có được tiền đề mở rộng cấu trúc định danh
Những cơ sỏ triết học của ngôn ngữ học, s.đ.d.,trang 58
128
Trang 7Tóm lại, có thể hiểu rằng, mở rộng cấu trúc định danh trực tiếp có liên quan đến vấn đề nhân thức của con người trong hoạt đỏng thưc tiễn Vì chỉ có hoạt động thực tiễn, qua tiếp cận và cọ xác với sựvâttrên nhiều quan hê, từ đó con người mới có điều kiện pỉiát hiên và xác định thêm nhữìig phẩm chất mới có thể có của sư vât - những phẩm chất mà vốn dĩ trước đó con người chưa thể nhân ra một cách dễ dàng.
Và, cuối cùng, điều cẩn nhấn mạnh thêm ở đây là: quá trình nhận thức phẩm chất mới của sự vật này thực chất phải là một quá trinh nhận thức năng động gắn với hoạt động của tư duy cá thể Không có phẩm chất năng động trên thì quá trình phát hiện và mở rông phạm trù nghĩa của sư vàt từ khả năng nhận thức chủ
quan của con người không thể có được.
Khòng phải ngẫu nhiên mà về phương diện này, nhiều nhà
nghiên CLAJ vốn có nhiều kinh nghiệm khi nghiên cứu về nghĩa các
đơn vị định danh, thường lưu ý với chúng ta rằng;
“ Nhiệm vụ hàng đầu đặt ra cho việc nghiên cứu nghĩa
là chúng ta phải xem xét các phương tiện tĩnh tại có tính hệ thống của ngôn ngữ đã tham gia như thế nào vào việc tổng hợp lời nói, và đồng thời xem xét ý nghĩa của các đơn vị định danh mới được hình thành ấy của ngôn ngữ bị quy định đến mức độ nào bởi các chức năng, bởi hình thức bên ngoài, bởi cách sử đụng một khách thể, bởi chủ thể hoặc đối tượng của hành động” *’’,
Như vậy, mới nhìn qua, vấn đề cấu trúc định danh mỏ rộng tưởng chừng như đơn giản, nhung thực ra đây là vấn đề khá phức tạp Phức tạp vì thực chất đây là vấn đề trực tiếp có liên quan đến phạm vi nghĩa học Và đặc biệt khi là nghĩa học của đối tượng
Những cơ sở triết học của ngôn ngữ học, s.đ.d.,trang 43.
129
Trang 8ngôn ngữ học, muốn phân tích nó, chúng ta không chỉ dừng lại ở phạm vi nghĩa Trọng tính hiện thực của nó, chúng phải chú ý đến
cả vấn đề hình thái Hình thái trong cơ chế quan hệ nội dung và
hình thức vốn gắn bó với nhau của hoạt động ngôn ngữ Đặc biệt, điều phức tạp hơn thuộc về hình thái cần nói thêm ở đây chính lại
là hình thái của thứ tiếng Việt không biến hình - môt vấn đề vốn có
liên quan đến ranh giới từ của chính loại hình tiếng Việt mà giới
Việt ngữ học luôn luôn bàn cãi
Nhìn chung, để mở rộng cấu trúc định danh, khòng đơn giản chỉ là việc thêm nghĩa và thèm lời như đỏi lúc ta hiểu Trái lại, đây
là vấn đề quá trình nhận thức có liên quan đến hoạt động thực tiễn của con người, nó gắn với quá trình phát triển có định hướng và có quy luật của bản thâri ngôn ngữ
Nhất là khi xét nó, dù muốn hay khòng, chúng ta thường phải đụng đến nhiều khía cạnh thao tác có liên quan đến nhũng vấn đề của ngôn ngữ học hiện đại, trong đó, đặc biệt là vấn đề tạo nghĩa
từ quan điểm nghĩa học hiện đại
Mặt khác, khi đi vào quỹ đạo của sự khảo sát này, chắc chắn
ta không thể bắt đầu tìm hiểu phần nào một số mô hình đơn giản, chúng xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau rất sinh động trong ngôn ngữ hàng ngày mà ta dễ thường gặp Quá trinh tìm hiểu này thực ra cũng là một bước tiếp xúc cần thiết với đối tượng để sau này chúng ta có điều kiện đi vào những cấu trúc định danh mở rộng trong ngôn ngữ của chính Nhà Văn Hóa Lớn Hổ Chí Minh
130
Trang 9đó hai tiếng kháng chiến như là yếu tố được bao thêm Trong
giao tiếp hàng ngày, chúng vốn có chức năng làm sáng tỏ nhũrig phẩm chất mới được nảy sinh từ thực tiễn chiến đấu của thời kì xã hội lịch sử cụ thể nhiều biến động trên đất nước ta Ví dụ:
Trang 10Cây cam kháng chiến
v.v v.v
Lần đầu tiên, khi mới tiếp cận với những kết hợp định danh
mở rộng bằng hai tiếng kháng chiến này, quả ít nhiều ta cảm thấy
có sự “ lạ tai”, do chức năng của yếu tố kháng chiến gần nh ư bị
lạm dụng trong vai trò định ngữ của những kết hợp vừa nêu trên Nhưng rồi cùng với thời gian và thực tiễn khách quan lớn lao của cuộc kháng chiến, cách gọi tên sự vật theo hướng mở rộng này trỏ thành một nhu cầu iàm chúng ta quen dần Và qua thời gian tuy không nói ra và không ai bảo ai, nhưng rồi dần dần mỗi người trong cộng đồng chúng ta, khi nhìn lại, ai ai cũng cảm nhận đươc rằng: chẳng nhũng đó là điều có thể hiểu được, mà hơn thế, đó còn lại là những tiếng nói cần thiết cho giai đoạn lịch sử một giai đoạn iịch sử mà trong đó đồng bào cả nước chúng ta, trăm người như một, bằng mọi cách có thể có của mình, cùng nhau hăng hái tham gia vào cuộc chiến đấu chống thực dân xâm lược, giành độc lập tự do cho Tổ quốc
Như vậy, thời đại xuất hiện định ngữ kháng chiến (trcng thế
gần như bị lạm dụng vùa nêu) là thời đại cả dân tộc Việt nan hiến dâng tinh thần, vật chất, mọi sức người sức của cho cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, và không ai quảng ngại hy sinh quyền lợi riêng của mình để đưa cuộc kháng chiến ấy đếr thắng lợi Tình cảm, ý nghĩ, nguyện vọng đó của tùng người đã đjợc cụ
thể hóa muôn màLi muôn vẻ bằng hành động thực tế hàng ngày
dưới nhiều hình thức rất sinh động và dễ thấy của quần chủng: tị'ết kiệm gạo cho vào hũ để nuói cán bộ kháng chiến (hũ gạo kháng chiến), nuôi thêm một con gà danh nêng để khi bán, nỘD thềm
tiền bán được vào quỹ kháng chiến (con gà kháng chiến), v.v.
Đó là một hiện thực mới, và cũng có thể nói rộng ra là diện mạo mới thuộc về đời sống tinh thần của xã hội và của lịch sử
132
Trang 11Tất cả nhũìig điều trên có thể hiểu đó chính là sức ép tạo ra
SJchấp nhận từ nội dung đến hình thức cấu trúc định danh tnở
ròng, trong đó có yếu tố kháng chiến Và yếu tố kháng chiến
mư là một phẩm chất mới, một thuộc tính mới của sự vật và hiện tượng được phát hiện, nó trở thành hết sức quen thuộc đối với người sử dụng ngôn ngữ trong đời sống chiến đấu hàng ngày lúc bày giờ - điều mà giai đoạn trước đó chưa tìm thấy
Hoặc nếu nhin từ một góc độ khác về hiện tượng trên, chúng
tf, cũng có thể nói thêm được rằng; những sự vật quen thuộc vốn
C3 trong đời sống hàng ngày, giờ đây thông qua tác động của con người, chúng lại phát huy thêm được nhũng tác dụng mới trong thực tiễn; và khi đã như vậy thi chính những con người đang tác dộng một cách có ý thức kia, dù như thế nào, không thể không có
ý thức về phẩm chất mới của sự vật trong mối quan hệ với hành dộng đang diễn ra của chính mình
Hoặc cũng tương tự như vậy, nhưng dưới một dạng khác, ta
ó nhữrig cấu trúc mở rộng định danh với hai tiếng Bác Hố hoặc
Cụ Hồ Hiện tượng này tổn tại từ khá lâu, có thể xem như là hiện
tượng khá điển hình Nó có thể trực tiếp giúp ta hiểu rõ và hiểu sâu sắc về con đường hình thành định danh mở rộng trong tiếng Việt hiện đại với đầy đủ tính chất tâm lí xã hội của nó,.*'’’
Bộ đội C ụ H ố
Cháu ngoan B á c H ồ
Chúng tôi cũng lưu ý nhận xét sau đây của Tiến sĩ T.p Fillin:
“Chúng ta nghiên cứu mặt hoạt động của ngôn ngữ còn ít Khi nghiên
cứu những mối liên hệ có tác dụng hợp nhất ngôn ngữ, hiện thực
khách quan và tư duy, chúng ta thường chưa chú ý đầy đủ đến quá trình nhân thức thưc tiễn của người sử dụng ngôn ngữ và đặc biệt chưa chú ý đẩy đủ đến việc cố định các kết quả của nó trong chinh nội dung của các đơn vị ngôn ngữ hơp nhất được hình thành” (Những
cơ sở triết học., s.đ.d trang 40)
133
Trang 12Hiện tượng mở rộng định danh gắn với yếu tố Bác Hổ và Cụ
Hồ nêu trên, theo chúng tôi, ít ra nó cũng phản ánh phần nao mối quan hệ tình cảm, tư tưởng và sự gắn bó giữa nhân dân ợuần chúng với lãnh tụ Hồ Chí Minh
Chữ nghĩa và cách kết hợp ở đây không đơn thuần chỉ là chữ nghĩa và mẹo luật thuòc về hình thức gắn với chữ nghĩa, ở đây, nếu có gì thực chất hơn nằm sâu trong chữ nghĩa thì đó là sự tin yêu và ngưỡng mộ Và ta có thể hiểu rằng, đó là sự tin yêu và ngưỡng mộ đạo đức, tài năng và đó cũng chính vừa là tình thương
và lòng kính trọng của quần chúng đối với lãnh tụ Sự ngưỡng mộ trong tâm thức của quần chúng này làm cho Bác Hồ trở thành cái hướng, cái đích, trở thành hình mẫu cho mọi người dân Viét Nam tin yêu và tự nguyện noi theo Như chúng ta biết, ngòn ngữ bao giờ cũng mang tính tâm lí xã hội, Và tính tâm lí xã hội sâu sắc của nó thể hiện trước hết ở chỗ, nó là một Nện tượng không thể bị áp đặt
và bị cưỡng bức Trái lại nó được tự nguyện tự giác chọn lựa trong
sử dụng gắn với thói quen tâm lí và tình cảm của đời sống cộng đồng, Hiểu và giải thích cách mở rộng và cách chấp nhận sự mở rộng định danh theo hướng này, theo chúng tòi, là cách hiểu cụ thể nhất, thỏa đáng nhất và tích cực nhất về bản chất xã hội của đời sống ngôn ngữ, điều mà CÍ1ÍÍ1Í1 nhừig người tìghiên cứu ngòn ngữ học gắn với đời sống đang cần phải hướng tới
Nếu mở rộng phương thức xác lập kiểu cấu trúc định danh theo hướng trên, chúng ta còn có thể tìm thấy một loại dẫn chứng
134
Trang 13nữa khá sinn đỏng, gắn liền với thực tiễn chiến dấu của dân tộc Viêt Nam, Chẳng hạn, gắn với sự nghiệp chiến đấu giải phóng Miền Nam, thống nhất Tổ quốc, nhân dân ta có nhiều cách mở rộng định danh Có những định danh mở rộng gần như là nhũrig khẩu hiệu rất thông dụng trong ngôn ngữ đời sống hàng ngày Chúng xuất hiện nhiều nhất và dễ thấy nhất là vào nhũTig năm tháng hCmg hực khí thế chống Mỹ, cúu nước của đồng bào Miền Bắc:
đò và địa phương (theo thống kè của Lẻ Khánh Soa, ĐHTH, 1985).Tuy chưa đi sâu lí giải, nhưng qua sự phản tích bước đầu, ta thấy sức sống mới của những cấu trúc định danh mở rộng đã nêu chinh là sức sống trực tiếp bắt nguồn từ những tiền đề thực tiễn xã hội Ó đêìy, rõ ràng dấu ấn cụ thể của xã hội lịch sử đã khúc xạ vào ngôn ngữ, và chính nó cũng đươc ỉưu giữ và lưu truyền thông qua ngôn ngữ với tư cách như là mòt sản phẩm vừa của cá nhân vừa của xã hội đang nằm trong tài sản tinh thần chung của cộng đổng
135
Trang 14Chính do vậy, nên dù cho những cá nhân sáng tạo các cấu trúc đnh danh mở rộng kia tuy có khi không được biết đến, nhưng không phải vì thế mà sự sáng tạo đã có ấy không thể nhận biết và không còn mang ý nghĩa xã hội tích cưc đích thực của nó trong quá trình phát triển ngôn ngữ gắn với đời sống đang biến động của cộng đồng.
Điều đó có nghĩa là sự sáng tạo ở đây, tuy bắt đầu từ cá nhân, nhưhg đó không phải là một sự sáng tạo tự phát và tuỳ hứng, hoàn toàn mang tính chất ngẫu nhiên Trái lại, nó luôn luôn gắn liền với đòi hỏi bức xúc của chính thực tiễn cuộc sống khách quan mà con người trong cuộc đấu tranh xã hội, dù sớm hay muộn, cũng phải có ý thức về sự cần thiết của nó trong giao tiếp cộng đồng
Và, như chúng ta biết, ngay cả trong những sáng tạo của văn nghệ sĩ Dù ở đó thường cho phép có sự tuỳ hứng cao độ gắn với
cá thể sáng tạo, nhưng sựtuỳ húng này không thể nào thóat li khỏi cảm hứig được gợi lẽn và nuôi dưỡng từ những bức xúc mà thực tiễn cuộc sống xã hộí đang nung nấu trong tâm trạng công dân của anh ta (cho dù anh ta tài năng đến đâu, và cho dù anh ta ở vị trí nào trong xã hội) Theo tôi, nếu không có được nhân tố tiền đề (thực tiễn xã hội) nói trên thì không thể có được sự sáng tạo nét mới cả trong cấu trúc định danh mở rộng thường ngày nói chung, lẫn cấu trúc định danh mở rộng trong sáng tác văn chương nói riêng (mặc dù ỏ đây, trong chùíig mực nào đó, sự xuất hiện nét sáng tạo mới trong văn chương không phải không có lúc bị ngô nhận, coi đó đơn giản chỉ là sắc thái tu từ hoàn toàn mang tính kỹ xảo thuộc phạm trù hình thức)
Về phương diện này, dễ thấy nhất là trong sáng tạo thơ, một thể loại mà ở đó sư phát hiện ra nhũng sắc thái và phẩm chất mới của sự vật vốn thường gắn liền với cảm hứng chủ quan theo chiều hướng nội của tác giả Dĩ nhiên, điều đầu tiên ở đây là chúng ta
136
Trang 15cần tránh suy nghĩ đơn giản để từ đó khỏi tự đưa mình đến chỗ ngộ nhận Nói khác, chúng ta không nèn đánh đồng sự thức nhận chủ quan về cái mới với sắc thái tu từ để từ đó làm mất đi ý nghĩa
xã hội và đích thực thông qua sự nhạy cảm và sáng tạo chân chính của những người nghệ sĩ chân chính
Chẳng hạn, trong những năm tháng chiến đấu chống ngoại xâm của chúng ta Vào thời điểm lịch sử này, ai cũng biết, sự sống còn của đất nước thường được coi như là một đối tượng rất dễ nhạy cảm và dễ gây bức xúc Hay cũng có thể hiểu đó là thước đo chính xác nhất về độ nhạy cảm mang tính xã hội đối với công dân của đất nước nói chung, cõng dân văn nghệ sĩ nói riêng, trong đó
có nhà thơ Đấy là một thực tế khách quan Đồng thời đấy cũng là một tiền đề xã hội có tiềm năng kích thích tối đa sự phát huy tư chất sáng tạo đối với văn nghệ sĩ Nếu thấy được tiền đề xã hội này, chắc chắn chúng ta càng hiểu rõ thèm rằng: không phải hoàn toàn do một sự tuỳ hứng ngẫu nhiên nào đó mà nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã phát hiện ra một nét thuộc về phẩm chất mới của đất nuớc bằng cấu trúc định danh mở rộng Đất Nuớc Nhân Dân,
Có k ẻ t h ù t h i v ù n g l ê n đ á n h b ạ i
Đ ể đ ấ t n ư ớ c n à y l à Đất Nuớc Nhân Dân
Sự giải thích ở đây không nên chỉ dừng lại một cách đơn giản
ở cái gọi là thao tác tu từ Mà trước hết phải thấy rằng, tại đây, qua cảm nhận được sức mạnh thưc tiễn của quần chúng nhản dân đang ngày đèm hi sinh chiến đấu bảo vệ T ổ q u ố c , nhà thơ đã tự
phát hiện ra từ trong cảm húng và ý thức của chính minh về
nét phẩm chất mới của đất nước: một đất nước khòng còn bị nỏ
lệ, cũng không phải thuộc vổ vua chúa phong kiến như thời nào; trái lại, đất nước ấy giờ đây đã Độc lâp Tự do, nó là của nhân dân
và thưc sự vĩnh viễn thuộc về nhản dân; nhũtig người đã hy sinh chiến đấu vì nó Và, có lẽ bằng sức mạnh từ cảm hứng và sự thức nhận đó của chính-minh, tác giả đã làm hình thành một cấu trúc
137
Trang 16định danh mở rộng bằng thủ pháp đ ồ n g n h ấ t v i ế t h o a n h ữ n g c c n
c h ữ đ ầ u c ủ a c ả t ổ h ợ p để qua đó làm cho người đọc, vừa bằrg tâm hồn cả vừa bằng trực giác, dễ cảm nhân ra cái đang có và đang ám ảnh trong tâm thức rièng của chinh nhà thơ:
Đất Niaớc Nhân Dân
Cũng theo phương thức dùng cấu trúc định danh mở ròrg như vậy trong sáng tạo thơ của mình, nhưng sau đày ta lại thấy Ca
Lê Hiến dùng một cơ chế dấu hiệu hinh thái khác Cách thể hiên của nhà thơ Ca Lẽ Hiến không đồng nhất với cái cách thức tỉ-ẻ’ hiện của Nguyễn Khoa Điềm
Dáng - đúng - Việt - Nam
Những n g a n g n ố i thòng thường ở đây đã iàm tăng độ súc tích
và độ trùu tượng của ý thơ về mặt ngữ nghĩa, cấu trúc định darh
mở rộng này là một kết hợp chặt, mang tính hoàn chỉnh về ni)i dung, nhằm xác lập một biểu tượng hoàn toàn mới mẻ: vâng, míit biểu tượng về tư thế hiên ngang bất khuất của dân tộc Việt Nan giữa những ngày quyết liệt nhất của cuộc chiến đấu chổng c'ế quốc Mỹ
Từ đó, với hướng nhìn theo cách lí giải trên thi rất rõ ràng, net mới có thêm được ngôn ngữ ở đây không chỉ là vấn đề tu từ ^à ta/ớc hết phải hiểu đó là vấn đề thức nhận mới của nhà thơ: nhản thức về phẩm chất con người, về phẩm chất đất nước, và cu)i
cùng là về cả phẩm chất mối của một dân tộc anh hùng Ha/,
theo tôi, cũng có thể nói được rằng, nhà thơ ấy đang gắn bó míu thịt với đất nước, sống hết mình vì đất nước, nhờ đó nhà thơ đã (ò thể trở thành vừa là một chủ thể sáng tạo bài thơ, đồng thời cũrg vừa là một chú thể sáng tạo những cấu trúc định danh mở rộrg
138
Trang 17mới cho ngôn ngữ thơ ca ; qua đó, nhà thơ truyền hơi thở mới và tình cảm mới đến vối đồng bào, đổng chí và quần chúng bạn đọc*’’.
Đến đày, nếu nhìn lại tất cả nhũng gì được bước đầu miêu tả thông qua một số cấu trúc định danh mở rộng vốn thường rất dễgặp:
con đò kháng chiến
con chữ c ụ H ố
con đường chông Mỹ
đất nước nhân dân
dáng đứng Việt n a m V V
bước đầu ta có thể tìm thấy ở chúng một số những đặc điểm chung phổ quát cấn được ghi nhận và xác định: Ta/ớc hết, về mặt nhận thức, phải nói rằng các thành phần tham gia mở rộng đứng sau (Kháng chiến, cụ Hồ, chống Mỹ, Nhân dân, Việt Nam) chính là những nhàn tố được dùng để phát hiện và làm định hình những phẩm chất mới (hay còn gọi là nét thuộc tính mới) của
nhũtig con đò, con đường, đất nước, dáng đứng
Và từ góc độ thực tiễn khách quan, ta cũng có thể hiểu được
rằng, qua nhũng kết hợp trên, con đò, con đường, đất nước,
dáng đứng., ở đây được đăt vào những quan hệ mới, và từ đó
Khái mém sáng tao ở đây đươc hiểu với nghĩa tương đối theo tinh thấn của E.Sapir: 'Kháị niệm chỉ có một đời sống tách biệt khi nó tim dược cái vỏ (igõn ngữ liény chü IIÓ Trong đa số trưởng hỢp, môt phù hiẻu mới chẳng qua chỉ là một hinh thức chắp vá lai theo kiểu mẫu những hình thức đâ có trước Mỗi khi ta làm hinh thức ấy xuất hiện mà chúng ta cảm thấy bản năng minh nhe nhàng khoan khoái, thi dó đúng là khái niêm chúng ta đang muốn có" (Ngôn ngữ hoc dẫn luận vao viéc nghiên cứu tiếng nói, tp HCM, 2000.,trang 32)
139
Trang 18chúng đã được thực tiễn hóa một bước mới vào đời sống thực tế sinh động của đất nước đang chién đấu, Nhũrig phẩm chất mới của sự vật đang được nhận thức của chúng ta phát hiện chính là hiện tượng mà trước đó hầu như nó chưa xuất hiện rõ trong thực tiễn cuộc sống Và chính do vậy, chưa ai có thể có điều kiện cảm nhận và có ý thức rõ được về sắc thái mới ấy để phát hiện và tiỊíc tiếp làm định hình nó một cách tường minh lên bình diện ngôn ngữ.
Từ đó, ta thấy rằng điều kiện để nhận thức và phát hièn sắc thái mới ấy không phải là sự tình cờ ngẫu nhiên hoặc ngẫu hứng
Mà đây rõ ràng là một quá trình hoạt động thực tiễn Một quá trình
mà trong đó chủ thể nhận thức không phải là người hoàn toàn vò tưtniớc cuộc sống, trái lại bao giờ họ cũng là người hướng về măt đấu tranh tích cực của xã hội Nếu khòng có sự tham gia và không
có sự hoà nhập một cách có ý thức vào cuộc đấu tranh vì cuộc sống, vì sự tiến bộ của cộng đồng xã hội như vậy thì họ không thể nào có được sự nhạy cảm và tinh tế (Nhạy cảm và tinh tế trước hết trong việc cảm thụ, phát hiện, chấp nhận và sử dụng nhũng nét mới đang hình thành của ngôn ngữ trong sự gắn bó mật thiết với môi trường xã hội luôn biến động đang diễn ra nơi cộng đồng
mà họ đang sống)
Và, trong môi trường như vậy, khi cảm thụ nét mới của ngôn ngữ, dù không nói ra, nhưng họ luôn luôn coi đó như là một yêu cầu thiết thân cần tiếp cận, một sự bức xúc cần giải tỏa, và cũng nói được đó là một gợi mở về một tniờng giao tiếp mới gắn liền với
sự kích thích hành động, hoàn toàn phù hợp với thực tiễn đấu tranh
xã hội theo hướng tích cực mà họ chính là người đang trong cuộc*'’
ở đây, chúng tôi hết sức lưu ý luận điểm quan trọng sau của V.B Kasevich: "Con người không phải không có khả năng nhận thức những
gì không có trong ngôn ngữ của họ, Toàn bộ kinh nghiệm phát triển của các dân tộc khác nhau và các ngôn ngữ của họ chỉ ra rằng khi nào quá trình tiến hóa của sản xuất và nhận thức của xã hội đòi hỏi phải140
Trang 19Tóm lại, sự xuất hiện hiện tượng mở rộng cấu trúc định danh theo hướng trên, nhìn từ quy luật chung, bao giờ nó cũng xuất hiện trong tư thế luôn là cái cần thiết cho định hướng giao tiếp mới đang đòi hỏi cần có của cộng đồng xã hội; và do vậy, bao giờ nó cũng được cộng đồng chấp nhân và hoan nghênh, tuy trên thực tế không ai giải thích cụ thể cho ai về điều mà mọi người đang chấp nhân này.
Đứng về mặt chiết tự để giải thính mối liên hê giữa hai thành phần (nòng cốt và mở rộng), chúng ta thấy mạch liên kết ngữ pháp giữa hai yếu tố ít nhiều khồng bình thường Nói khác, ở đây, thực tiễn cuộc sống cùng với bao nhiêu quan hệ mới đang được nhận thức con người phát hiện thường được thể hiện theo thiên hướng rút gon bằng phương cách (có thể tạm nêu) như sau trên bình diện ngôn ngữ:
dưa vào một khái niệm mới thi ngôn ngữ không bao giờ cản trở việc đó
oể biểu thị môt khái niệm mới, người ta sử dụng một từ đã có sẵn hoăc
là tạo nèn mòt từ mới theo những quy luật của ngôn ngữ Nếu không như vậy thi không thể nào hinh dung được sự phát triển của khoa học”
{Những yếu tố cơ sỏ ngôn ngữ đại cưang. H 1998, trang 44)
141
Trang 20Trước hết, những nhận thức thể hiện qua những cấu trúc trèn thường được nhừig con người đang hành động trong xã hội rất dễ dàng chấp nhận Măc dù trong trường hợp này rõ ràng là mạch liên hệ ngữ pháp của nó ít nhiều không bình thường (do sắc thái phi cú pháp gắn liền với tính đặc ngữ (idiomatic) đang hình thành ngay trong bản thân nó Hay nói theo cách hiểu của Sapir: ‘Sự xuất hiện một khái niệm mới thường bao giờ cũng kèm theo cách
sử dụng mở rộng hay thu hẹp hơn các tài liệu ngòn ngữ học"
Có thể nói, việc giải thích và xác định đặc tính của cấu tmc định danh mở rộng nói chung mà ta muốn hướng tới chắc chắn không chỉ dùng lại ở nhừig tiền đề xã hội và cá nhân vốn dĩ đã tạo ra nó như bước đầu chúng ta đã đề cập Nhưng, theo chúng tòi, dù muốn dù không, đó chính là những điều rất cơ bản cần phải được nói trước vấ hiểu trước (tiếc rằng cho đến nay, vì lẽ gì đó những nhà ngôn ngừ xã hội học chúng ta làm chưa đủ về điều này) Không hiểu được những điều ấy một cách nghiêm chỉnh, chúng ta sẽ không có tiền đề để nhận biết một cách thấu đáo cái phẩm chất quan trọng hàng đầu của đối tượng cấu trúc định danh
mỏ rộng nói chung, trong đó đặc biệt là cấu trúc định danh mỏ rộng của Nhà Văn Hóa Lớn Hồ Chí Minh mà những người nghiên cứu chúng ta đang muốn hướng tới
Tóm lại, từ một số phân tích bước đầu đã nêu trên, phải chăng chúng ta có thể nói được rằng: Mở rộng các cấu trúc định
Ngôn ngữ học dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nói, Thành phố
Trang 21danh thưc chất là m ỏ r ộ n g c á c h g ọ i t ê n đối với sự vật và hiện tượng mà con người n h ậ n thúc t h é m đ u ợ c p h ẩ m c h ấ t m ớ i v ề
nó nhờ tiếp cận và quan sát trực tiếp sự biến động xã hội thông
qua hoạt động thực tiễn của mình theo một quan điểm động và tích cực
Mặt khác, khi mở rộng cách gọi tên, như đã nói, dù muốn dù không, là chúng ta bổ sung, làm cho trường nghĩa của yếu tố được định danh mở rộng có thêm mót sắc thái mới, tạo thêm nhận thức mới cho quá trình giao tiếp của cộng đống cùng với định hướng thực tiễn của nó
Nếu nhìn chung về mặt cấu trúc, chúng ta có thể xác định môt cách bao quát hơn rằng: cấu trúc định danh mở rộng là một loại cấu trúc vốn có yếu tố hạt nhân đảm nhận chức năng định danh, và nó được mở rộng thêm bằng yếu tố khác nhằm làm sáng
tỏ thêm phẩm chất nghĩa vốn có của chính hạt nhân ấy
Về mặt kết hợp ngữ pháp, ta thấy phần lớn các yếu tố mới đươc bổ sung nằm cạnh hạt nhân của cấu trúc luôn luôn thống
Khi tiếp cận và li giải loại cấu trúc định danh mở rộng mang có tính đăc ngữ cao, cẩn tránh mấy khuynh hướng thường dễ gặp: a) Chia vụn quy mỏ chỉnh thể rối cô tìm cách ghép lại theo lô gic bên trong giữa các yếu tô' bị tách với ấn tượng nghĩa gốc đầu tiên của nó (với cách làm này, có người cho đặc ngữ "nhường cơm sẻ á o ” ià không lô gíc b) Tách rời tính chỉnh thể (vốn đang tổn tại trong mối liên hệ với nét nghĩa mới - cái đưđc biểu hiện - ở trục đổng đại) dẫn đến sư không nhất quán (không tự giác) trong thao tác nghiên cứu, đặc biệt
dễ nhấm lẫn giữa tính chỉnh thể ■ đổng đai với CLIC bộ - lịch đai đối với cấu trúc đươc khảo sát c) Đó là chưa nói đến tinh trạng khi sự ngộ nhận trên đã gắn với những thao tác cải biên hinh thức đôi khi còn dân tới những kết luân khái quát về sự đổng nhất giữa từ, tiếng, hình
vị (đặc biệt đối với tiếng Việt đang biến động) một cách không thỏa' đáng
143
Trang 22nhất cùng với hạt nhân trong việc tạo ra một chính thể ngữ nghĩa Chính cũng do vậy một phần mà chúng ta luôn luôn thống nhất với yếu tố hạt nhân trong việc cùng đảm nhận chung một chức năng
cú pháp của câu (Bản thân tính thống nhất này, về mặt nguyên lí đại cương, càng chứng minh cho chúng ta thấy rõ thêm mối quan
hệ biện chứng giữa hai phạm trù ngữ nghĩa và ngữ pháp vốn là mối quan hệ chịu áp lực từ chính thể ngữ nghĩa: điều mà mỗi khi lí giải các cấu trúc ngôn ngữ chúng ta không thể không lưu ý; đặc biêt nhất là khi lí giải nhữrig đơn vị ngôn ngữ mới hình thành trong quá trình giao tiếp!) Bên cạnh đó, chúng ta không nên quên lull ý đến tiền đề ngoài ngôn ngữ trong khi lí giải chiều sâu của cấu trúc định danh mở rộng Đó là việc mở rộng trường nghĩa đi đôi với quá trình phát hiện đặc tính mới của sự vật bao giờ cũng có mục đích thực tiễn rất xác định Và mục đích thực tiễn của người phát hiện
và xác định bao giờ cũng nằm trong bối cảnh chung của cộng đổng - một bối cảnh có cơ sở xã hội và hoàn toàn có thể giải thích được
Do vậy, mở rộng cách gọi tên cũng chính là quá trình phát
hiện thêm sắc thái cộng đống xã hội mang tính lịch sử cụ thể
của ngôn ngữ vốn được cộng đồng chấp nhân và sử dụng Tuy nhiên, không phải trường hợp nào chúng ta cũng có thể dễ dàng giải thích được cơ chế hình thành của nó gắn vối tính cộng đồng một cách hoàn toàn hiển ngôn, nếu chúng ta không am tường đến mức độ nào đó những vấn đề tâm lí, xã hội, lịch sử của cộng đổng vốn liên quan đến đối tượng cụ thể mà ta đang muốn khảo sát.Cuối cùng, khi xét các mặt cấu trúc của một định danh mở rông từ một góc nhìn tổng quan nói chung, bao giờ chúng ta cũng nên chú ý đến tính chỉnh thể của nó theo nguyên tắc; nội dung
Hiện tượng này, xét về thực chất, theo chúng tỏi, rõ ràng là có liên quan đến hiện tượng chấp dính vốn được S ausure giải thích như sau; Khi một khái niệm phức hỢp được biểu hiện bằng một chuỗi đơn vị có144
Trang 23không tách rời hinh thức; chỉnh thể nội dung quy định chỉnh thể của hình thức; chỉnh thể mới của nội dung bao giờ cũng gắn liền với dụng ý của người nói (người sáng tạo); chỉnh thể của hình thức đôi khi có hình thái riêng dễ nhận dạng (đặc biệt khi chúng được xác lâp theo phương thức tu từ trong văn chương) nhưng phần lốn không có hình thái riêng; ý tưởng mang tính phát hiện của người nói không thể trực tiếp giải thích đủ rõ bằng phương pháp chiết tự, (Trường hợp này, để giải thích được nó, chúng ta nhất thiết phải thông qua cách hiểu theo nhũng nguyên tắc cảm nhận nghĩa vốn được dùng để hiểu và lí giải các đơn vị mang tính chất đặc ngữ E)ó
là quá trình cảm nhận gắn với chiẹu sâu của sự nhận thức tinh tế cùng với một độ nhạy cảm cần có về mặt kiến thức xã hội học thông qua đời sống thực tiễn mà người nghiên cứu quan tâm)
nghĩa rất thông dụng thì trí tuệ dường như dùng một con đường tắt, nó
đã từ bỏ việc phàn tích, mà gắn liền cả khái niệm gộp lại thành một khối vào cả nhóm tin hiêu; lúc đó cả khối tín hiệu trở thành một đơn vị thuần nhất {Giáo trình ngôn n qữ học dại cương. H 73, trang 300)^
145
Trang 24Chương ba
LẦN THEO CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO
MỘT SỐ CẤU TRÚC ĐỊNH DANH MỞ RỘNG TRONG NGÒN NGỮ Hổ CHÍ MINH
Trở lên trên, chúng ta đã nói về chiều sâu nhận thức có liên quan đến tiền đề xã hội và cá nhân, coi đó như là những điều kiện không thể thiếu để tạo ra sự hình thành các cấu trúc định danh mở rộng Từ cơ sở ấy, bây giờ ta thử lần theo con đường sáng tạo các cấu trúc định danh mở rộng với nét riêng có thể có của nó trong ngôn ngữ của Nhà Văn Hóa Lớn Hồ Chí Minh
Nhưng để thực hiện được điều này, theo chúng tỏi, ta/ớc hết
có lẽ chúng ta cấn tiếp tuc làm sáng tỏ một số vấn đề có trưc tiếp lièn quan đến tiền để cá nhân, trong tư cách là một chủ ttiể sử dụng ngôn ngữ, nơi Nhà Văn Hóa Lớn Hồ Chí Minh
Như mọi người đều biết, ngôn ngữ không mang tính giai cấp, nhung trong tính hiên thực của nó, ngôn ngữ bao giờ cũng là một
còng cụ để thể hiện trực tiếp dụng ý của người nói đang sử dụng
nó Chính vì vậy mà không phải ngẫu nhiẻn trong cơ chẻ ngíiiêii cứu ngòn ngũ' học theo hướng triệt để nhất hiện naỵ - tức là nghiên cứu theo cơ chế tín hiệu học - người ta phải chú ý đúng mức đến
cơ chế nghĩa của nó, trong đó, đặc biệt chú ý đến dụng ý của nguời nói Nhưng người nói ỏ đây không phải với tư cách cá nhân
146
Trang 25trong môi trường đơn độc, mà là người nói trong quá trình giao tiếp
Tại đây có một câu,hỏi cần được đặt ra là: làm thế nào để lần
ra được dụng ý của người nói, hay nói khác hơn là: làm thế nào để chúng ta chỉ rõ được một cách cụ thể và xác đáng cái gọi là mục
đích thực tiễn rất xác định của nguời nói?
Nhìn vào cách đặt vấn đề theo hướng như trên, thường khi mới nghe qua, chúng ta cứ tưởng là rất dễ trả lời Nhưng thực ra thì vấn đề không hoàn toàn đơn giản Đặc biệt, khi chủ thể nói năng
ấy là một nhà cách mạng vừa có chí hướng lớn nhuTig đồng thời vừa rất thực tiễn trong hành động cách mạng như Nhà Văn Hóa Lớn Hồ Chí Minh Đồng thời, mặt khác, trong lúc đó, đối tượng ngòn ngữ cụ thể được đưa ra khảo sát ở đây lại là những cấu trúc định danh mở rộng (tức là một đối tượng mà ở đấy phẩm chất ngữ nghĩa mới được người nói phát hiện và làm định hình phần lớn không theo mạch ngữ pháp thòng thường; do vậy chúng ta khòng thể nhận biết để ỉí giải nó một cách dễ dàng theo mach phản tích lò gic như trong mòt số cấu trúc thông thường khác)
Có thể đơn cử ngay một ví dụ cho dễ hiểu Chẳng hạn, định
danh mở ròng quân đội nhân dàn - môt định danh mở rộng hết
N fu'n-'g n *' SỞ trìó l h o c tr o n g n y ỏ n n g ừ s d d Ir 5 8
147
Trang 26sức quen thuộc mà chính Hồ Chí Minh đã dùng để đặt tên cho quân đội Việt Nam, như chúng ta đểu biết.
có thể chấp nhận được Tuy nhiên, theo chúng tôi, với cách giải thích theo hưống miêu tả trên, trong trường hợp này, phần nào có thể nói là chúng ta chưa phát hiện được, và đặc biệt chưa tường minh đích thực được bằng ngôn ngữ cái dụng ý sâu xa vốn có nhi/ng không trực tiếp bộc lộ của người sáng tạo cấu trúc định danh mở rộng Nói khác, ở đây, nếu chỉ bằng lòng dừng lại ở cách miêu tả như vậy thòi, là ta đã chưa chú ý đúng mức đến dụng ý sâu xa vốn có của người nói Theo tôi, dụng ý đó ở đây là: từ tầm nhìn chiến lược của mình, Nhà Văn Hóa Lớn Hổ Chí Minh của chúng ta vìra phát hiện phẩm chất mới của quân đội lại vừa định hướng cho sự tiếp tục cố gắng phấn đấu rèn luyện để tự hoàn thiện mình theo phẩm chất mới ấy của chính đối tượng quân đội, trong quá trình phát triển cách mạng
Như vậy, rõ ràng, khi tìm hiểu cái gọi là mục đích xác dịnh của người sử dụng ngòn ngữ trong các cấu trúc định danh mở
rông nói chung, điều đặc biệt quan trọng là phải nhận ra và miêu
tả cho được dụng ý sâu xa của người nói - một dụng ý không hiển ngòn, thường khi rất khó nhân biết, nhưtig nó lai có tác đòng sâu
xa đến quá trinh kích thích tính chủ động của con người trong đời sống thực tiễn
Theo tỏi, đấy có lẽ chính là chỗ khó khăn nhất Vi như chung
ta biết, dụng ý sâu xa của người nói không phải là một phạm tru
148
Trang 27nhất thiết bao giờ cũng được thể hiện theo con đường hoàn toàn hiển ngòn và hoàn toàn đươc tường minh hóa lên bề mặt ngôn ngữ Mặt khác, đăc biệt đáng chú ý hơn là dụng ý của người nói
mà ta muốn xác định ở đây iai luôn luôn phụ thuỏc vào chiều sâu
tư tưởng, cách nhin thế giới, sự nhay bén về quan điểm xã hội và tầm hoạt đông thực tiễn của cá nhản sử dụng ngôn ngữ nói chung:
và đồ!ig thời trong luc đó nó còn phụ thuộc cả vào cách điều hành ngón ngữ cụ thể của chính cá nhản ấy khi xác lập các kết hơp định danh mở rộng
Chính từ xuất phát điểm ỉrên nên khỉ nghiên cứu các cấu trúc định danh mở rộng trong ngón ngữ Hồ Chí Minh, thông qua cách điều hành ngôn ngữ của Người, chúng ta không thể không bám sát nhữna tiền đề bản chất nhất thuộc về cá nhân vốn có nơi Người
Tien đề đó là tầm nhìn biện chứng gắn với tính hành
động thực tiễn trong chiểu sâu tư tưởng cách mạng củaNgười Nói khác, nếu khòng bám' sát tư tưởng cách mang với tầm nhin biện chíửig và tính hành đỏng thực tiễn nơi Người thì ta khòng
co cơ sở để hiểu đúng dụng ý của Người Và, trong tính hiện thực cua sự vân dụng nhũlig tiền đề trên nơi Bác, ta có thể hiểu cụ thể hơn rằng, ở Bác, tưtư ỏng cách mạng với tầm nhìn biện chúng
của Người iuòn luòn hướng vào thực tiển, và tính thực tiễn này được thể hiện một cách nhất quán thông qua yêu cầu kích thích hành động íich cực của con người trong thực tiễn đấu tranh cách mạng mà Người iuôn luôn huớng tới.
Đổng thời với sự lưu ý trẽn, ta không thể không quan tâm đến khả năng ịam đinh hình nhán thức mới thông qua cái thường được
chúng ta goi ià chức năng hiện thực trực tiếp của cơ chế ngôn
ngữ Đẻ’ làm sáng tỏ tiền đề này, đầu tiên có lẽ là phải làm sáng tỏ cach hiểu về chức năng hiện thực trực tiếp nói trên của ngôn ngữ (mòt khái niêm vốn có trực tiếp liên quan đến phạm trù triết hoc
149
Trang 28mà lâu nay ở ta hình như chưa có được một sự thống nhất c;ac trong cách hiểu - hay cụ thể hơn là; chưa có cách hiểu thật thiấu triệt và toàn diện - vâng, chính ngay trong các nhà nghiên c.ứu ngôn ngữ h ọ c !),
Trước hết phải thấy ngay rằng, cho đến nay, khi nói đến tiinh hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ, phần lớn người ta thườrig hiiểu quá đơn giản Chỉ chú ý đến vỏ vật chất của nó mà ta có thể trực tiếp cảm nhận được, thay vì những vấn đề quan trọng khác đáing nói hơn Tiền đề này nếu chưa được làm rõ đến mức cần thiiết, chúng ta sẽ khó chỉ ra được cách hiểu về chức năng định hướ:ng
hành động cách mạng - một chức năng vốn được coi là sức
mạnh thực tiễn trong cách điều hành ngòn ngữ của chính Nhà Vần Hóa Lớn Hồ Chí Minh
Như trên đã nêu, lâu nay ý nghĩa ‘hiện thực trực tiếp'thường được hiểu là cái vỏ vật chất của ngôn ngữ mà tư duy và nhân thức phải lấy nó làm chỗ dựa Theo tôi, cách hiểu này khòng sai, nhLjng đây mới chỉ là khía cạnh đầu tiên của vấn đề, Nói đến ngôn ngữ
là hiện thực trực tiếp của tư duy, trong chiều sâu của nó, có lẽ là
Mác muốn nói đến khả năng thiết kế, khả năng xác lập những
dự tính trước của con người thông qua ngòn ngữ bằng năng lực trừu tượng tuyệt vời ở con người mà chỉ ở nơi con người mới có.Nói khác, cái gọi là hiện thực trực tiếp của tư duy ở đây thực
chất là sự hình dung trước, phác họa trước, thiết kế trước
những ý định và dự kiến của minh bằng ngòn ngữ, và lấy đó làm định hướng cho hoạt động chủ động của mình trong việc chinh phục thiên nhiên và xã hội theo những tình huống khác nhau được đặt ra từ môi trường thực tiễn
Hay nói theo Lênin: ‘Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan, nghĩa là thế giới không thỏa mãn con người, và con người quyết định biến đổi thế giới150
Trang 29iHiểu ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy theo hướng trèn, thực chất là hiểu tính năng động của con người trong
hoạt động thực tiễn, là hiểu ý chí chủ động của con người
trong cải tạo thực tế Phẩm chất năng đòng này, theo sự chú ý của Mác, chinh là phẩm chất bản chất của những nhà cách mạng, nhà tư tưởng lớn, nhà văn hóa lớn Sự lớn lao của những nhân cách này thể hiên trong tư tưởng, trong cách tư duy, và trực tiêp nhất là trong cách điều hành ngôn ngữ để thể hiện cái mới
dang được nảy sinh từ trong quá trình nhận thức thực tiễn
cuộc sống đang biến động
Như vậy, hiểu cấu trúc định danh mở rộng của Nhà Văn Hóa Lớn Hồ Chí Minh, trong tính hiện thực của nó, là điều kiện để chúng ta trở lại nhận rõ cụ thể thèm quy luật bao quát về sự tương tác giữa tư duy và ngòn ngữ; chính cái mới trong tư duy và nhận thức thưc tiễn từ quan điểm cách mạng nơi Nhà Văn Hóa Lân Hổ
bằng hành động của mình”.Từ đó, ta có thể hiểu, nếu nhân thức là mỏt hê quả gắn liền với khả năng hoạt độngthưc tiễn của con người thi ngôn ngữ chính là sản phẩm đươc trực tiếp sản sinh ra từ hoat động nhận thức ây của chính con người {Tuyển tập Lẽn/n,tập 29, trang 228), Mác luôn gắn sự phát triển tư duy nhận thức trong định hướng hoạt đỏng thực tiễn của con người Theo Mác, chỉ có đúng trên quan điểm phát triển này, ta mới có thể nhận rõ sự mâu thuẫn giữa nội dung và hinh thức của cơ chế ngôn ngữ bắt đầu từ sự phát triển nhận thức, tạo ra
sư phá võ điều chỉnh, cải biên và cả sự sáng tao ra những nhân tố thuôc về cái biểu hiên để làm định hinh cái được biểu hiên gắn liền với nhận thức mới về hiên thực Và cũng từ cách nhìn trên của Mác, ta thấy Lẽnin còn nhấn manh cụ thể như sau: 'Khái niệm của con người không đímg im mà luôn luôn vân động, chuyển từ cái no sang cái kia, tràn lừ cái nọ sang cái kia, khỏng như vậy thi chúng không còn là cái dùng để phản ánh đời sống sinh động" {Tuyển tập Lênin. tập 29 tr.219)
151
Trang 30Chí Minh đã khúc xạ thành cái mới trong các cấu trúc định dann
mở rộng của Hồ Chí Minh
Trong khi cố gắng đi vào những tiền đề chiều sâu về mối liên
hệ giữa phạm vi xã hội và cá nhân vốn có liên quan đến quá trinh lí giải sự hình thành các cấu trúc định danh mở rộng nói chung và cấu trúc định danh mở rộng của Hồ Chí Minh nói riêng, không phải chúng ta không gặp nhũng khó khăn Dĩ nhiên, khi nhìn vấn đề nòi dung từ góc độ đơn thuần xã hội học, ta chưa nhận dang hết tính phức tạp của nó Nhưng, nếu xét vấn đề từ góc nhìn nội dung gắn với cấu trúc của cơ chế ngôn ngữ học, đặt biêt nhất là khi ta vân dụng tiêu chí chung để khảo sát hệ thống cấu trúc định danh mỏ rộng cụ thể, thì sự phức tạp của những khó khăn trên càng lộ rõ
\/ề phương diện này, như trèn đã có dịp nêu, thông thường,
đã là cấu trúc thì tniớc hết nó phải có các bộ phận cấu thành, C ấ u
t r ú c đ ị n h d a n h m ở r ộ n g , như tèn gọi của nó, bao gồm hai bò phận đ ị n h d a n h và m ở r ộ n g : cả hai hỢp thành một chỉnh thể cả
về phương diện n ộ i d u n g lẫn phương dién h ì n h t h ứ c
Chúng ta cần trở lại ví dụ đả cho;
q u à n đ ộ i (định danh)
q u à n đ ộ i n h â n d â n (định danh mở rộng; trong đó quân đội
là thành phần nòng cốt, và nhàn dân là thành phần tham gia mở rộng)
Mới nhìn qua thì việc phản xuất giữa phần nòng cốt định danh và phần mở rộng định danh tưởng chùng hoàn toàn đơn giản Nhưng trèn thực tế, do đinh danh mở rông có nhiều dạng khác nhau, do ranh giới tương đối giữa hai thành phần của chúng
có thể cơ động, và mặt khác, do cảm nhận ngữ nghĩa trừu tượng của cấu trúc không phải lúc nào cũng dễ thống nhất, cho nên đòi
152
Trang 31kni cũng có những cách lí giải khác nhau về những cấu trúc định danh mở rộng của Bác, Có thể đưa ra ví dụ cụ thể như sau:
được người nói đánh giá như thế nào?
- T h a m n h ù n g đươc người nói đánh giá như mộì loạị tệ nạn đáng ghê tởm đối với xã hội
Với cách !í giải như đã nêu trên thi trong trường hơp sau phải chăng có thể xem tham nhũng là yếu tố giữ vai trò nòng cốt
Do vậy, có vấn đề cần nêu ra ở đây là: nếu chỉ đặt cáu hỏi với
gi không thỏi, để phán tích và nhận dạng cấu trúc định danh mở rỏng thì phải chăng tư mình chúng ta đã ioại trừ mất khả năng phát hiên dụng ý của ngưỜ! nói Và như vậy, về mặt nghiên cứu, cũng có nghĩa là vỏ tinh chúng ta đa loại bỏ một phương thức chủ động sáng tạo cấu tájc định danh mở rộng của người sử dụng ngôn ngữ.Xin nèu mỏí ví du tiếp theo;
153
Trang 32hạn, ta có thể hiểu, người nói khi dùng yếu tố anh em ở đây là có dụng ý muốn dặt đối tượng cóng nhân và văn nghệ sĩ trong quan hệ thân thiết, gần gũi Và, như vậy, nếu lí giải theo hướng vừa nêu thì phải chăng anh em ở (c) và (d) vẫn là thành phần mở rộng (đặt nó trong mối tương quan vối toàn bộ cấu trúc).
Như vậy, rõ ràng, vấn đề phân tích hình thái của cấu trúc định danh mỏ rộng ở đây không thể tách rời với việc cảm nhận ngữ nghĩa từ bình diện nghĩa học Cụ thể, tức là cảm nhận ngữ nghĩa gắn với dụng ý của người nói trên thế hoạt đông của ngôn ngữ Đồng thời, mặt khác, cũng phải chú ý đến đặc điểm của tiếng Việt, trong đó, đặc biệt chú ý trước hết ià điều sau đây: tiềm năng phát huy chức năng định ngữ chẳng những chỉ dành riêng cho yếu
tố có vị trí sau mà cả cho yếu tố có vị trí trưốc danh từ (điều này vốn có lièn quan đến thói quen và cảm thức ngôn ngữ của người Việt vốn định hình từ trong quá trinh sử dụng khá lâu đời hệ thống
từ Hán Việt đã được Việt hóa như chúng ta đều biết)
Bên cạnh đó, còn một số trường hơp khác, mà ở đó viêc nhận dạng cũng không hoàn toàn đơn giản; nhất là đối với những cấu trúc định danh cùng lúc có nhiều thành phần mở rộng xuất hiện, chẳng hạn như các dạng sau;
Các dân tộc anh em Đông Á
Lũ việt gian bù nhìn chó săn
Đống bào công giáo kính chúa và yêu nuớc
ở đây, mỗi cấu trúc đều có hai thành phần mở rộng Và tuy hai thành phần mở rộng đểu mang sắc thái định ngữ, nhưng tuỳ theo dạng từ loại của từng yếu tố trong mỗi cấu trúc mà quan hệ
giữa yếu tố mở rộng đứhg truớe và yếu tố mở rộng đứng sau
trong tùng cấu trúc có thể có chỗ khác nhau
Ví dụ, ở cấu trúc đầu, ta thấy:
Anh em không cùng sắc thái từ loại với Đông Á
154
Trang 33ở cấu trúc thứ hai:
Bù nhìn cùng sắc thái từ loại với chó săn
ở cấu trúc thứ ba:
Kính chúa và yêu nước có cùng mỏt dạng p + o
Một điều cẩn chú ý tniớc tiên là; những nhân tố mở rộng của cấu trúc định danh đang thực thi chức năng gần như định ngữ đối với thành phần nòng cốt này được tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau khá tự do Chúng có thể chuyển đổi vị trí cho nhau trong cấu truc, tuỳ theo sắc thái muôn nhấn manh theo hướng nào của chính người nói trong quá trinh giao tiếp, chẳng hạn:
không thể hiểu là đổng nhất với
Các dân tỏc Đông Á anh em
Vì ở cấu trúc 'Cac dân tộc anh em Dõng Á 'ta có thể hiểu theo thiên hướng = Các dán tộc anh em (ở) Đỏng Á (cũng tức là thời điểm phát ngòn ấy đối với người nói còn một phân số cộng đổng dân tộc nào đó còn chưa được liệt vào hàng ngũ các dân tộc anh em theo quan điểm của mình), Trong khi đó, với:
155
Trang 34Các d â n t ộ c Đ ô n g Á a n h e m
thì ta có thể hiểu theo thiên hướng rằng: Tất cả các dân tộc Đông
Á đều là dân tộc anh em
Như vây, ỏ cấu trúc thứ hai, anh em có chức năng mở rộng cho cả phần hạt nhân (các dân tộc) và phần mở rộng cho hạt nhân đứng íriức (Đóng Á) Trong lúc ấy thì ở cấu trúc thứ nhất, nhân tố anh em có thể được chúng ta hiểu đó chỉ là phần mở rộng dành riêng cho thành phẩn hạt nhán các dân tộc
Từ đó, ta thấy rằng khi găp các cấu trúc định danh mở rông
có nhiểu thành phần mở rộng thì thành phần tham gia mở ròng nào chiếm vị trí sau cùng bao giờ phẩm chất định ngữ của nó cũng lan toả rộng hơn đối với toàn cấu trúc
Bên cạnh vấn đề đặt ra trên, ta cũng thường gặp một lúng túng khác khi có nhiều thành phần mở rộng trong môt cấu trúc định danh mở rộng Ví dụ:
Đổng bào còng giáo kinh chúa và yêu nước
Thòng thường thì trong các cáu trúc định danh mở rộng phần lớn các từ phụ bị lược Nhurig cũng có trường hợp để làm rõ hai sắc thái khác nhau cùng cấp độ, người sử dụng ngõn ngữ có thể xen '/áo giCte chúng nhũtig từ mang chức năng liên kết, chẳng han nhưyẽu tố
v à Trong trường hợp này, đặc biêt khi hai thành phẩn mở rộng tồin tại dưới dang kết hợp p + o, thi c â u t r ú c đ ị n h d a n h m ở r ộ n g thườnig đôi khi dễ bị nhầm với môt câu m i ê u t ả
Đ ổ n g b à o c ô n g g i á o kính chúa và yêu nuớc
p + o p + o
Khi gặp truởtig liỢp vừd tiẻu, diúng tá phải Jặl CdU trúc Ịmh danh mở rộng vào văn cảnh nói cu thể, qua đó, mới xác c3ịnh đuỌc đặic tính của nó:
'Đồng bảo còng giáo kính chúa và yêu nuỏc h ã y l à m - r ò ì n
n g h ĩ a v ụ t h i ê n g l i ê n g c ủ a m ì n h t r o n g g i ờ p h ú t s ổ n g c ò n c ủ a T ổ q u ô f
156
Trang 35Trong câu vìtì cho, rõ ràng đồng bào còng giáo kính chúa và
yêu nuớc, về mặt cú pháp, có thể CX)Ì như là một cấu trúc định danh
mỏ rông (tổn tại trong dạng tuưng úTig với danh ngữ mở rộng) đảm nhân chức năng chủ ngữ trong câu
Như vậy, ở đây, trong cách xử lí để nhận dạng cấu trúc định danh
mở róng, nếu tách câ'u trúc định danh ra khỏi văn cảnh, thi sự phân định sẽ gây nhiều ừanh cãi, khó ữiống nhất, thậm chí không thể ữiống nhất đuỌc Đặc biệt khi chúng ta gặp định danh mở rộng mang theo trong bản thân nó nhiều thành phần, và giũa chúng có liên từ, giới từ hoặc các dạng phụ từ khác Loại cấu trúc đnh danh mở rộng theo huớng này thuộc dạng như
Qua hê tíiống nhũng cấu trúc định danh đươc Hổ Chí Minh sử dung, điều ữiuủng xuyên đáp manh vào chúng ta là: từ tầm cao của quá tnnh sớm nhân thức vể quy luật vận động cách mạng theo nguyên tác biên chúng gán với quá trinh phát tnển của xã hội, Người đã chủ đông định hiíớng và định hướng trước cho nhộn thức của chúng ta
nhiểu sắc thái quan hệ mới của cuộc sống thưc tiễn đang biến động
vá phat tnển cảm nhân và lí giải về chúng, do vậy, dù ở trường hơp nào, chúng ta không thể không bắt đầu từ tiền đề nội dung
157
Trang 36vể phương diện nay, trước hết có lẽ dễ tíiấy (líiất là tihũĩi§ danh từ vốn thường được dùng trong chức năng đại từ nhân >urtg rất thòng dụng trong tiếng Việt mà chúng ta ai cũng thường gặp phải khi giao tiếp hàng ngày n h ư a n h e m , b ạ n b è , b ầ u b ạ n
158
Trang 37Các dân tộc anh em
Các nước a n h e m
Các nước bầu bạn
Các Đảng bạn
Những yếu tố anh em, bầu bạn, bạn trên được sử dụng
trong đời sống hàng ngày ở xã hội cũ của chúng ta vốn thường
được hiểu theo sắc thái hẹp về tính quần thể Nhưng với cách
sử dụng của Bác, qua những cấu trúc định danh mở rộng như vừa nêu trên, ta thấy rõ ràng Bác đã dùng chúng để chuyển tải những tinh cảm mới và rộng lớn của chính mình vốn đang được nảy nở và hình thành một cách tự nhiên từ trong thực tiễn cách mang ’’ Tình cảm này chính ià một bộ phận hợp thành chủ nghĩa nhân văn mới nơi Người, nó gắn với ý thức và gắn với sự suy nghĩ đơn giản nhưng rất tâm huyết sau đây của Người:
Nghĩ cho cùng, cái rốt cuộc của mọi vấn để mà chúng ta thường quan tâm là: làm người là phải thương nước thương dân, thương nhân !oại đau khổ bị áp bức’^^’.
Từ lời tâm sự trẽn của Người, để suy nghĩ về Người, phải
chătig trước hết chúng ta có thể hiểu rằng, nếu không thực su'
có cái mới được nảy sinh trong tình cảm của Bác thì chắc chắn không thể có cái rnới hiện lẽn trong chữ nghĩa để chúng ta nhân biết
(■' ý nghia cua tư la mot biến dạng cua các hién tường tám li, song
đó khóng thể nói rằng từ không thể biểu thì mọi sự đa dang của hoạt động t.ỉrn lí của con người cùng moi biến dang của nó như cảm giác, cảrr xúc, thu cảm ' (Ju Stepanov Cơ sở ngôn ngữ học đại cưang.
H,7V ỉrang 40),
Hổ Chi Minh Tác giả, tác phẩm, s.đ.d trang 56
159
Trang 38Khi Nhà Văn Hóa Lớn Hồ Chí Minh dùng các dân tộc am
em và các nuớc bầu bạn, nhiều người thường chỉ nghĩ đến chiêi lược đoàn kết nằm trong đường lối cách mạng mà Nhà Văn Hca Lỏn Hố Chí Minh hướng tới Điều đó đúng nhưng chuầ đủ TheD
c h ^ g tôi, phải chăng khi nói đến vấn đề chiến lược đoàn kết trà Người luôn luôn hướng tới kia, với Bác, không dơn thuần chỉ là vâi
đề lí trí Trái lại, bên cạnh phạm vi ý chí, chúng ta cũng cần nhận õ thêm rằng, với Bác, đây thưc sự cũng là một nhu cầu tình cảm, à
sự chan hòa giữa ý chí và tình cảm, một sự chan hòa không thể thiếu được đang rộng mở trong nhân cách lớn của Bác Hay n)i khác hơn, đối với một Anh hùng giải phóng dân tộc đổng thời à Nhà văn hóa lớn như Bác, chiến lược đoàn kết ở đây khòng thể không bắt đầu từ tiền đề tình cảm, đặc biệt là khòng thể không bỉt đầu từ yếu tố nhản văn vốn nằm sâu kín trong tình cảm cácn mạng của Bác (Về mặt lí luận, có lẽ cũng cần chú ý thêm điéu này: Như chúng ta thường biết, theo một cách nhìn nào đó, ngứ)i
ta thường dễ hay đối lập một cách siêu hình giữa phạm trù tìrh cảm và phạm trù ý chí Lènin đã từng phê phán quan điểm nàyở Kant, và Người đã xác định mối tương quan trên theo cách nhn biện chứng cùng với quan niệm thỏa -đáng hơn và cũng khách
quan hơn như sau: “Cái cảm tình là cái lí tính cảm thấy trưá,
và lí tính là cái cảm tính đã đuỌc hiểu biết’<^’ Như vậy, về mM
phương diện nào đó, ta có thể nhấn mạnh thêm được rằng, ntu không có nhu cầu nội tại thực sự nằm trong tình cảm cách mạig của mình, thì khó có những tiền đề để Nhà Văn Hóa Lớn Hổ Cií Minh tạo ra nhũng cấu trúc định danh mở rộng theo hướng nlư chúng ta đã có dịp chỉ ra
Các dân tộc anh em
Lénin toàn tập, s.đ.d., t.29, trang 352.
160
Trang 39Các nước b ấ u b ạ n
Các Đảng b ạ n
Và mặt khác, qua cách mở rộng định danh trên, bằng tình Ccm cách mạng của minh, chính Nhà Văn Hóa Lớn Hồ Chí Minh
â ' c phát hiên ra và làm định hinh thêm trong ngòn ngữ tiếng Việt
cia chủng ta một phẩm chất mới về mối quan hệ giữa các quốc
gia, các dân tỏc và các Đảng vốn đang cùng đúrig chung trên một cHến tuyến đấu tranh, có chung một nguyện vọng, một lí tưởng
Về khuynh hướng tình cảm này của Người, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có những ghi nhận thấm thìa sau đây:
Hố Chí Minh gắn bó với dân tộc mình, đống thời cũng dính nhũng tinh cảm thắm thiết với mọi dân tộc trèn th ế giới, luãn luôn ủng hộ mọi cuộc đấu tranh yêu nuớc và cách mạng bảt cứ ở đâu, quan tâm chi tình đến mọi bạn bè quốc tế, săn scc ân cần đối với mọi số phận của con người Hố Chí Minh cHnh là hiện thân của tinh thẩn "Quan san muôn dặm một n^à, bôn phương vò sản đểu là anh e m ” và “Người vói nguởi làbạn” ” >'
Với cach thể hiên titih cảm trên, Nhà Văn Hóa Lớn Hổ Chí Mnh còn tân dụng mót sò' yếu tố khác để qua đó fàm hình thành
iTi)t kiểu đinh danh mở ròng khác, chẳng han như g ia đình.
Đ ạ i g i a đ ì n h kháng chiên
Đ ạ i g i a đ i n h quân đõi nhân dàn
Đ ạ i g i a d i n h các dân tòc Viẽt Nam
Trang 40Để làm sáng tỏ phẩm chất các định danh mở rộng theo hươr,.^ ;rên của Nhà Vărí Hóa Lớn Hổ Chí Minh, đứng về phươig diện nghĩa học, trước hết chúng ta cần làm sáng tỏ đỏi điều 'ề dụng ý và sự chủ động tạo nghĩa của người nói.
Tại đây, chúng ta không thể không chú ý đến cách đặt cau hỏi (như ỏ phần giới thuyết đã có dịp đề xuất) Ví dụ, chẳng han
với: đại gia đình kháng chiến, đại gia đinh quản đội, đại cía
đỉnh các dân tộc
Trước hết nếu câu hỏi chúng ta đặt ra; đây là đại gia đìih gì?, và câu trả lời của chúng ta dĩ nhiên là đại gia đình kháitg
chiến, đại gia đinh quân đội, đại gia đình các dân tộc Với cá;h
đặt câu hỏi như rên, theo chúng tòi, chúng ta chưa phát hiện chhh xác được nét mới trong cách tạo nghĩa của người nói Mà mu)n phát hiện được chính xác nét mới và dụng ý tạo nghĩa của ngLỞi nói, trong trường hợp này, câu hỏi đặt ra của chúng ta phải là:
Người nói muốn đánh giá như th ế nào về quan hệ gijfa
nhũng người kháng chiến?
Người nói đánh giá như th ế nào về quan hệ giữa các chiến
sĩ quân đội của chúng ta?
Người nói đánh giá như th ế nào về quan hệ giữa các dỉn
tộc?
Trả lời cho những câu hỏi được đặt ra theo hướng trên, chúig
ta mới thấy rõ đích thực được thế nào là phát hiện các quan lệ
mói đang đuọc hình thành thông qua tầm nhìn của người RÓi ''à
trong trường hợp này, thành phần tham gia mở rộng cấu trúc gin với sự biểu hiện sắc thái mới mang tính xã hội tích cực mà dụnc ý của người nói muốn phát hiện, gủ1 vào đó, và người nghiên cru chúng ta bằng cách nào đó cần phải chỉ rõ; đó chính là đại çia đình chứ không phải một nhân tố nào khác
IP-?