1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Lịch sử

109 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuẩn kiến thức, kỹ năng môn lịch sử
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại tài liệu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Năm 1928, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã tiến hành “vô sản hóa”, góp phần thực hiện việc kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, thúc đẩy [r]

Trang 1

CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG MÔN LỊCH SỬ BẬC THCS

LỚP 6

Mở đầu: SƠ LƯỢC VỀ MÔN LỊCH SỬ

1 Lịch sử là gì?

Xã hội loài người có lịch sử hình thành và phát triển Vậy Lịch sử là gì?

- Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ

- Lịch sử còn là một khoa học, có nhiệm vụ tìm hiểu và khôi phục lại quá khứ của con người

và xã hội loài người

- Để hiểu được những gì chúng ta đang thừa hưởng của ông cha trong quá khứ và biết mình phảilàm gì cho tương lai

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ THẾ GIỚI NGUYÊN THỦY VÀ CỔ ĐẠI

Chủ đề 1 XÃ HỘI NGUYÊN THỦY

1 Con người đã xuất hiện trên Trái đất như thế nào?

- Cách ngày nay khoảng 5 - 6 triệu năm, trên trái đất đã xuất hiện loài Vượn cổ có dáng hình

người

- Khoảng 3 - 4 triệu năm về trước, loài Vượn cổ đã tiến hóa và xuất hiện Người tối cổ.

Người tối cổ đã thoát khỏi thế giới động vật, con người hoàn toàn đi bằng hai chân, đôi tay đã

trở nên khéo léo, có thể cầm nắm và biết sử dụng những hòn đá, cành cây làm công cụ Đặc

biệt, Người tối cổ đã biết chế tạo ra những công cụ thô sơ (bằng đá) và phát minh ra lửa.

- Khoảng 4 vạn năm về trước, Người tối cổ tiến hóa dần trong quá trình lao động trở thành

Người tinh khôn Người tinh khôn có cấu tạo cơ thể như con người ngày nay với thể tích sọ não lớn,

tư duy phát triển

Như vậy là lao động có vai trò sáng tạo ra con người và xã hội loài người Thông qua các

di cốt được tìm thấy ở khắp các châu lục: Đông Phi, Đông Nam Á, Trung Quốc, châu Âu, Cácnhà khảo cổ học đã tái hiện được lịch sử sự xuất hiện và tiến hóa của con người và xã hội loàingười trên trái đất

2 Giữa Người tối cổ và Người tinh khôn có sự khác nhau như thế nào?

- Ở Người tối cổ: trán thấp và bợt ra phía sau, u mày nổi cao; cả cơ thể còn phủ một lớp

lông ngắn; dáng đi còn hơi còng, lao về phía trước; thể tích sọ não từ 850 cm3 đến 1.100 cm3

- Ở Người tinh khôn: mặt phẳng, trán cao, không còn lớp lông trên người; dáng đi thẳng,

bàn tay nhỏ, khéo léo; thể tích sọ não lớn hơn: 1.450 cm3

3 Vì sao xã hội nguyên thủy tan rã?

- Khoảng 4.000 năm TCN, con người phát hiện ra kim loại (đồng và quặng sắt) cùng vớithuật luyện kim đã giúp chế tạo ra các công cụ lao động

- Nhờ công cụ bằng kim loại, con người có thể khai phá đất hoang, tăng diện tích và năngsuất trồng trọt sản phẩm làm ra nhiều, xuất hiện của cải dư thừa

- Một số người chiếm hữu của cải dư thừa, trở nên giàu có xã hội phân hóa thành kẻgiàu, người nghèo Xã hội nguyên thủy dần dần tan rã

Trang 2

Chủ đề 2 XÃ HỘI CỔ ĐẠI

1 Các quốc gia cổ đại đã xuất hiện và phát triển như thế nào?

Thời gian Cuối thiên niên kỉ IV đầu thiên niên kỉ

III TCN

Đầu thiên niên kỉ I TCN

Địa điểm

Ở Ai Cập, khu vực lưỡng Hà, Ấn Độ, vàTrung Quốc ngày nay, trên lưu vực cácdòng sông lớn như sông Nin ở Ai Cập,Ơ-phơ-rát và Ti-gơ-rơ ở Lưỡng Hà,sông Ấn và sông Hằng ở Ấn Độ, Hoàng

Hà và Trường Giang ở Trung Quốc

Trên các bán đảo Ban Căng ở I-ta-li-a,

ở đó có rất ít đồng bằng, chủ yếu là đấtđồi, khô và cứng, nhưng lại có nhiềuhải cảng tốt, thuận lợi cho buôn bánđường biển

Đời sống

kinh tế

+ Ngành KT chính là nông nghiệp Biếtlàm thủy lợi, đắp đê ngăn lũ, đào kênhmáng dẫn nước vào ruộng Thu hoạchlúa ổn định hằng năm theo mùa vụ

Ngoài ra còn phát triển chăn nuôi giasúc

+ Ngành KT chính là thủ công nghiệp(luyện kim, đồ mĩ nghệ, đồ gốm, làmrượu nho, dầu ô liu) và thương nghiệp(xuất khẩu các mặt hàng thủ công, rượunho, dầu ô liu, nhập lúa mì và súc vật).Ngoài ra còn trồng trọt cây lưu niên nhưnho, ô liu, cam,

- Quý tộc là tầng lớp có nhiều của cải vàquyền thế, bao gồm vua, quan lại vàtăng lữ

- Nô lệ là những người hầu hạ, phục dịchcho quý tộc; thân phận không khác gì convật

+ 2 giai cấp chính

- Giai cấp chủ nô: gồm các chủ xưởngthủ công, thuyền buôn, trang trại , rấtgiàu và có thế lực về chính trị, sở hữunhiều nô lệ

- Giai cấp nô lệ: với số lượng rất đông,

là lực lượng lao động chính trong xãhội, bị chủ nô bóc lột và đối xử rất tànbạo

Tổ chức

xã hội

+ Tổ chức bộ máy nhà nước do vuađứng đầu (vua có quyền đặt ra luật pháp,chỉ huy quân đội, xét xử những người cótội, được coi là đại diện của thần thánh ởdưới trần gian)

+ Bộ máy hành chính từ TW đến địaphương: giúp việc cho vua, lo thu thuế,xây dựng cung điện, đền tháp và chỉ huyquân đội (vẽ sơ đồ)

+ Tổ chức bộ máy nhà nước do giai cấpchủ nô bầu ra, làm việc theo thời hạn.Giai cấp thống trị là chủ nô, nắm giữ mọiquyền hành (tuy có dân chủ hơn so với

xã hội cổ đại phương Đông)

+ Bộ máy hành chính phân ra theo cácthành bang, có sự phân quyền hơn so với

xã hội cổ đại phương Đông

+ Sáng tạo chữ viết, gọi là chữ tượnghình (vẽ mô phỏng vật thật để nói lênsuy nghĩ của con người); viết trên giấyPa-pi-rút, trên mai rùa, thẻ tre và các tấmđất sét

+ Biết làm lịch và dùng lịch dương,chính xác hơn: 1 năm có 365 ngày và 6giờ, chia thành 12 tháng

+ Sáng tạo ra hệ chữ cái a, b, c gồm 26chữ, gọi là hệ chữ cái La-tinh, đang đượcdùng phổ biến hiện nay

+ Khoa học phát triển cao, đặt nền móngcho các ngành khoa học sau này Một sốnhà khoa học nổi tiếng như: Ta-lét, Pi-ta-

Trang 3

10, các chữ số từ 1 đến 9 và số 0, tínhđược số Pi bằng 3,16.

+ Kiến trúc: xây dựng các công trìnhkiến trúc đồ sộ như Kim tự tháp ở AiCập, thành Ba-bi-lon ở Lưỡng Hà

Pla-tôn, A-ri-xtốt (Triết học); Hê-rô-đốt,Tu-xi-đít (Sử học); Stơ-ra-bôn (Địa lí) + Kiến trúc và điêu khắc với nhiều côngtrình nổi tiếng như: đền Pác-tê-nông ở A-ten; đấu trường Cô-li-đê ở Rô-ma, tượngLực sĩ ném đĩa, thần Vệ nữ ở Mi-lô

2 Một số thuật ngữ, khái niệm lịch sử.

a Thế nào là “tư liệu lịch sử”, “tư liệu truyền miệng”, “tư liệu hiện vật” và “tư liệu chữ viết”?

Tư liệu lịch sử là tất cả những dấu tích của con người trong quá khứ được lưu giữ, truyền

lại dưới nhiều dạng khác nhau giúp chúng ta hiểu biết và dựng lại được lịch sử

Tư liệu truyền miệng là những câu chuyện, những lời mô tả được truyền từ đời này sang

đời khác ở rất nhiều dạng khác nhau

Tư liệu hiện vật là những di tích, đồ vật của người xưa còn lưu giữ được trong lòng đất hay trên

mặt đất

Tư liệu chữ viết là những bản ghi, sách vở chép tay hay được in, khắc bằng chữ viết.

b Xã hội nguyên thủy là gì?

Lịch sử xã hội loài người bắt đầu từ xã hội nguyên thủy Thời kỳ này chiếm phần lớn thời

gian của lịch sử nhân loại, nó bắt buộc tất cả các dân tộc phải đi qua vì đó là thời thơ ấu của họ

Xã hội nguyên thủy là chế độ xã hội đầu tiên của lịch sử loài người Trong xã hội đó, do

việc kiếm sống chủ yếu là săn bắt, hái lượm, phụ thuộc vào thiên nhiên; mọi sản phẩm của cộngđồng được chia đều cho mọi người, không có sự phân biệt kẻ giàu, người nghèo và không cóphân biệt giai cấp, áp bức bóc lột Tổ chức xã hội còn hết sức sơ khai theo chế độ thị tộc, bộ lạc

c Em hiểu như thế nào về các khái niệm: “chế độ thị tộc”, “thị tộc mẫu hệ” , “thị tộc phụ hệ”và

“bộ lạc”?

Trải qua hàng triệu năm phát triển, bầy người nguyên thủy tiến lên một cộng đồng mới

cao hơn: Công xã thị tộc hay còn gọi là Chế độ thị tộc

Chế độ thị tộc: là tổ chức của những người có cùng quan hệ lâu dài, cùng huyết thống đã

họp thành một nhóm riêng cùng sống trong một hang động hay mái đá, hoặc trong một vùng nhấtđịnh nào đó

Thị tộc mẫu hệ hay còn gọi là Thị tộc mẫu quyền: là chế độ của những người cùng huyết

thống, hôn nhân đã tuân theo chế độ ngoại tộc hôn, qui định nam nữ trong thị tộc là ruột thịt,nên không được kết hôn với nhau Nhưng là vì hôn nhân tập thể (quần hôn) làm cho con cái chỉbiết mặt mẹ nên theo họ mẹ Tất cả tôn người mẹ lớn tuổi nhất lên làm chủ

Trong thị tộc mẫu hệ, kinh tế hái lượm vẫn là chủ yếu Người nguyên thủy thời kỳ nàycho rằng vạn vật đều có linh hồn

Chế độ mẫu hệ là thời kỳ hưng thịnh nhất của xã hội nguyên thủy Nó kéo dài khoảng18.000 năm trong lịch sử, đến nay chế độ mẫu hệ vẫn còn nhiều tàn dư ở một số dân tộc trênthế giới

Thị tộc phụ hệ hay còn gọi là Thị tộc phụ quyền: Ham muốn của người nguyên thủy

cũng như con người về sau là làm thế nào để nâng cao năng suất lao động Khoảng 4.000 nămtrước công nguyên con người đã tìm ra đồng Người nguyên thủy đã phát minh ra cung tên màtầm quan trọng của nó được F Ăng-ghen đánh giá như phát minh ra súng của thời cận đại Cácngành nghề thủ công, chăn nuôi … cũng phát triển một cách mạnh mẽ Một cuộc phân công laođộng và sự chuyển biến vị trí giữa đàn ông và đàn bà bắt đầu Thị tộc mẫu quyền nhường chỗcho thị tộc phụ quyền (trong đó, quyền lực của người cha - đàn ông trong bộ lạc được đề cao)

Từ khi có sự phân công lao động, sản xuất ngày càng phát triển, cuộc sống của con ngườingày càng ổn định Ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn hình thành các làng bản (chiềng,

Trang 4

chạ), các làng bản vùng cao cũng nhiều hơn trước Dần dần hình thành các cụm chiềng, chạ hay

làng bản, có quan hệ chặt chẽ với nhau được gọi là bộ lạc.

d Xã hội “chiếm hữu nô lệ” là gì?

Là xã hội có hai giai cấp chính là chủ nô và nô lệ, trong đó giai cấp chủ nô thống trị và bóc lột giai cấp

nô lệ

LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN THẾ KỈ X

Chủ đề 1 BUỔI ĐẦU LỊCH SỬ NƯỚC TA

1 Những dấu tích của Người tối cổ và Người tinh khôn được tìm thấy ở Việt Nam đã nói lên điều gì?

Dấu tích là cái còn lại của thời xa xưa, của quá khứ tương đối xa được con người hiện tại

phát hiện, khai quật để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu về lịch sử xã hội loài người

Các nhà khảo cổ qua nhiều đợt thăm dò, khảo sát và khai quật đã tìm thấy các dấu tích của

Người tối cổ và Người tinh khôn trên khắp đất nước Việt Nam Điều đó đã khẳng định Việt

Nam cũng là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại có con người xuất hiện từ rấtsớm và rất phát triển

Ở các hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn); Núi Đọ (Thanh Hóa); Xuân Lộc (Đồng

Nai) đã tìm thấy những chiếc răng của Người tối cổ, những mảnh đá được ghè đẽo ở nhiều cỗ,

có hình thù rõ ràng, dùng để chặt, đập; có niên đại cách đây 40 - 30 vạn năm

Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã khẳng định: Người tối cổ vẫn còn những dấu tích

của loài vượn (trán thấp và bợt ra phía sau, mày nổi cao, xương hàm nhô ra phía trước, trênngười còn một lớp lông bao phủ ); đã hoàn toàn đi bằng hai chân, hai chi trước đã biết cầmnắm, hộp sọ đã phát triển, thể tích sọ não lớn, biết sử dụng và chế tạo công cụ

Dấu tích Người tinh khôn giai đoạn đầu được tìm thấy ở mái đá Ngườm (Thái Nguyên),

Sơn Vi (Phú Thọ) Đó là những chiếc rìu bằng hòn cuội, được ghè đẽo thô sơ, có hình thù rõ

ràng; có niên đại khoảng 3 - 2 vạn năm cách ngày nay Sang giai đoạn phát triển, đó là những

công cụ được mài ở lưỡi như rìu ngắn, rìu có vai, một số công cụ bằng xương, bằng sừng, đồgốm, được tìm thấy ở Hòa Bình, Bắc Sơn (Lạng Sơn), Quỳnh Văn (Nghệ An), Hạ Long(Quảng Ninh) , có niên đại từ 12.000 đến 4.000 năm cách ngày nay

Qua các dấu tích đã khẳng định Người tinh khôn đã có sự phát triển, tiến bộ hơn hẳn Người tối cổ về đặc điểm cấu tạo cơ thể và trình độ chế tạo công cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt Người tinh khôn có cấu tạo cơ thể giống như con người ngày nay, xương cổ nhỏ hơn Người tối cổ, bàn tay

nhỏ, khéo léo, các ngón tay linh hoạt, hộp sọ và thể tích não phát triển (1.450 cm3), trán cao, mặtphẳng, cơ thể gọn và linh hoạt

Cũng thông qua các dấu tích, ta còn nhận biết được sự phát triển của Người tinh khôn so với Ngườitối cổ

Về đời sống vật chất:

Người tinh khôn thường xuyên cải tiến và đạt được những bước tiến bộ về chế tác công cụ

sản xuất cũng như đồ dùng sinh hoạt Từ thời Sơn Vi, con người đã biết ghè đẽo các hòn cuộithành rìu; đến thời Hòa Bình - Bắc Sơn họ đã biết dùng các loại đá khác nhau để mài thành cácloại công cụ như rìu, bôn, chày Họ còn biết dùng tre, gỗ, xương, sừng làm công cụ và biết làm

đồ gốm; biết trồng trọt (rau, đậu, bí, bầu ) và chăn nuôi Nhờ nghề nông và chăn nuôi pháttriển, họ đã chủ động được lương thực, thực phẩm, dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào thiên nhiên.Hơn nữa, cùng với công cụ sản xuất tiến bộ kéo theo năng suất lao động tăng, đời sống ngàycàng ổn định và nâng cao

Về tổ chức xã hội:

Trang 5

Người tinh khôn đã biết sống thành từng nhóm trong các hang động, ở những vùng thuận

tiện, thường định cư lâu dài ở một số nơi (Hòa Bình - Bắc Sơn) Cũng do sự tiến bộ của công cụsản xuất, kinh tế phát triển nên đời sống không ngừng được nâng cao, dân số ngày càng tăng,dần dần đã hình thành các mối quan hệ xã hội và đời sống tinh thần

Chủ đề 2 THỜI KÌ VĂN LANG - ÂU LẠC

I Thời kì Văn Lang - Âu Lạc đã có những chuyển biến như thế nào trong đời sống kinh tế,

xã hội? 1 Trình độ sản xuất, chế tác công cụ của người Việt cổ đã có sự phát triển, tiến bộ như thế nào?

Người nguyên thủy trên đất nước ta lúc đầu sinh sống ở các hang động, sau đó tiếp tục mởrộng vùng cư trú đến các vùng chân núi, thung lũng ven khe suối, vùng đất bãi ven sông

Qua các di chỉ Phùng Nguyên (Phú Thọ), Hoa Lộc (Thanh Hóa), Lung Leng (Kon Tum),

có niên đại cách đây 4.000 - 3.500 năm, các nhà khảo cổ đã phát hiện hàng loạt công cụ: rìu đá,bôn đá được mài nhẵn toàn bộ, có hình dáng cân xứng; những đồ trang sức, những loại đồ gốmkhác nhau như bình, vò, vại, bát, đĩa Những mảnh gốm thường in hoa văn hình chữ S nốinhau, đối xứng, hoặc in những con dấu nổi liền nhau Điều đó chứng tỏ người Việt cổ đã đạtđược trình độ cao về mặt chế tác công cụ sản xuất và đồ trang sức, đồ dùng sinh hoạt

Đặc biệt, người Việt cổ ở Phùng Nguyên (Phú Thọ) và Hoa Lộc (Thanh Hóa) còn phátminh ra thuật luyện kim (kim loại được dùng đầu tiên là đồng)

Kỹ thuật luyện kim phát triển mạnh, cư dân Lạc Việt đã biết làm ra những công cụ sảnxuất bằng kim loại như rìu đồng và quan trọng nhất là lưỡi cày đồng và lưỡi hái bằng đồng ảnhhưởng mạnh đến sinh hoạt nông nghiệp Lưỡi cày thời ấy có hình cánh bướm hoặc hình tamgiác Và xuất sắc đặc biệt là dân Lạc Việt đã đúc nên những chiếc đồng phức tạp đòi hỏi mộttrình độ kỹ thuật văn hóa cao

Những dụng cụ sinh hoạt như mâm đồng, đục, kim khâu, dao, lưỡi câu, chuông và đồtrang sức cũng được sản xuất với số lượng đáng kể Ngoài ra, đã có nghề luyện sắt và nghềgốm

Thuật luyện kim ra đời đánh dấu bước tiến bộ vượt bậc trong chế tác công cụ sản xuất, đồtrang sức, dụng cụ sinh hoạt và cả vũ khí của người Việt cổ, làm cho sản xuất và đời sống sinh hoạt

xã hội có bước phát triển cao hơn hẳn

2 Sự ra đời nghề nông trồng lúa nước của người Việt cổ có ý nghĩa, tầm quan trọng như thế nào?

Người nguyên thủy trên đất nước ta lúc đầu sinh sống ở các hang động, sau đó tiếp tục mởrộng vùng cư trú đến các vùng chân núi, thung lũng ven khe suối, vùng đất bãi ven sông

Trên các vùng cư trú rộng lớn ở đồng bằng ven sông, ven biển và vùng thung lũng vensuối, người Việt cổ đã phát hiện ra cây lúa và nghề trồng lúa nước ra đời Thoạt tiên đó lànhững giống lúa hoang Về sau được thuần dưỡng để trở thành hạt gạo dẻo thơm Qua các dichỉ Phùng Nguyên - Hoa Lộc, các nhà khoa học phát hiện hàng loạt lưỡi cuốc đá được màinhẵn toàn bộ ; tìm thấy gạo cháy, dấu vết thóc lúa bên cạnh các bình, vò đất nung lớn… Chứng

tỏ cây lúa nước đã dần dần trở thành cây lương thực chính của con người

Trang 6

Sự ra đời nghề nông trồng lúa nước có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt trong quá trìnhtiến hóa của con người : từ đây, con người có thể định cư lâu dài ở vùng đồng bằng ven cáccon sông lớn ; cuộc sống trở nên ổn định hơn, phát triển hơn cả về vật chất và tinh thần.

3 Trình bày những biểu hiện về sự chuyển biến xã hội thời Văn Lang - Âu Lạc ?

Từ khi thuật luyện kim được phát minh và nghề nông trồng lúa nước ra đời, con ngườiphải chuyên tâm làm một công việc nhất định Sự phân công lao động đã được hình thành cụthể :

Phụ nữ làm việc nhà, thường tham gia sản xuất nông nghiệp và làm đồ gốm, dệt vải vìngười Việt cổ không chỉ độc canh cây lúa mà còn trồng các loại rau củ, cây trái như khoai,đậu, trồng dâu, nuôi tằm Nam giới, một phần làm nông nghiệp, đi săn, đánh cá ; một phầnchuyên hơn làm công việc chế tác công cụ, đúc đồng, làm đồ trang sức…, về sau, được gọichung là nghề thủ công

Từ khi có sự phân công lao động, sản xuất ngày càng phát triển, cuộc sống con ngườingày càng ổn định ; ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn hình thành các làng bản(chiềng, chạ), các làng bản ở vùng cao cũng nhiều hơn trước Dần dần hình thành các cụm

chiềng, chạ hay làng bản có quan hệ chặt chẽ với nhau được gọi là bộ lạc Vị trí của người đàn

ông trong sản xuất và gia đình, làng bản ngày càng cao hơn Chế độ phụ hệ dần dần thay thếcho chế độ mẫu hệ

II Nước Văn Lang đã ra đời và phát triển như thế nào?

1 Trình bày những điều kiện dẫn tới sự ra đời của nhà nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam?

Vào khoảng các thế kỉ VIII - VII TCN, ở vùng đồng bằng ven các con sông lớn thuộcBắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, đã hình thành những bộ lạc lớn Sản xuất phát triển, mâuthuẫn giữa người giàu và người nghèo đã nảy sinh và ngày càng tăng thêm

Việc mở rộng nghề nông trồng lúa nước ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớnthường xuyên phải đối mặt với hạn hán, lũ lụt Vì vậy, cần phải có người chỉ huy đứng ra tậphợp nhân dân các làng để giải quyết vấn đề thủy lợi bảo vệ sản xuất, mùa màng và đời sống

Ngoài mâu thuẫn, xung đột giữa kẻ giàu và người nghèo như đã nói ở trên thì các làngbản khi giao lưu với nhau cũng có xung đột Đó là xung đột giữa người Lạc Việt với các bộtộc người khác và cả giữa các bộ lạc Lạc Việt với nhau Để có cuộc sống yên ổn, cần phải cómột thế lực đủ sức giải quyết, chấm dứt các xung đột đó

Như vậy là để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển sản xuất, làm thủy lợi và giải quyết các vấn

đề xung đột chính là những điều kiện dẫn tới sự ra đời của nhà nước Văn Lang - nhà nước đầutiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam

2 Trình bày những hiểu biết của em về nước Văn Lang ?

Thời gian và địa bàn thành lập :

Bộ lạc Văn Lang cư trú trên vùng đất ven sông Hồng là vùng có nghề đúc đồng phát triểnsớm, dân cư đông đúc Bộ lạc Văn Lang là một trong những bộ lạc hùng mạnh nhất thời đó

Vào khoảng thế kỉ VII TCN ở vùng Gia Ninh (Phú Thọ), thủ lĩnh của bộ lạc Văn Lang đãdùng tài trí khuất phục được các bộ lạc khác và tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Bạch Hạc(thuộc Phú Thọ ngày nay), đặt tên nước là Văn Lang

Tổ chức nhà nước Văn Lang :

Sơ đồ tổ chức bộ máy Nhà nước Văn lang

Trang 7

Chính quyền TW gồm (vua, lạc hầu, lạc tướng) ; ở địa phương (chiềng, chạ) ; đơn vị hànhchính : nước - bộ (chia nước làm 15 bộ, dưới bộ là chiềng, chạ) ; Vua nắm mọi quyền hànhtrong nước, đời đời cha truyền con nối và đều gọi là Hùng Vương.

Nhà nước Văn Lang tuy chưa có luật pháp, quân đội, nhưng đã là một tổ chức chínhquyền cai quản cả nước

Đời sống vật chất :

Nước Văn Lang là một nước nông nghiệp, thóc lúa đã trở thành lương thực chính, ngoài

ra, cư dân còn trồng khoai, đậu, cà, bầu, bí, chuối, cam…

Nghề trồng dâu, đánh cá, chăn nuôi gia súc và các nghề thủ công như làm đồ gốm, dệt vải,xây nhà, đóng thuyền…đều được chuyên môn hóa

Nghề luyện kim đạt trình độ kĩ thuật cao Cư dân cũng bắt đầu biết rèn sắt

Thức ăn chính của người Văn Lang là cơm nếp, cơm tẻ, rau, cà, thịt, cá, biết làm mắm

và dùng gừng làm gia vị Họ ở nhà sàn mái cong hình thuyền hay mái tròn hình mui thuyền làmbằng gỗ, tre, nứa, lá Làng, chạ thường gồm vài chục gia đình, sống ven đồi, ven sông, ven biển

Họ đi lại bằng thuyền Về trang phục, nam đóng khố mình trần, nữ mặc váy, áo xẻ giữa, có yếmche ngực, tóc cắt ngắn hoặc bỏ xõa, búi tó hoặc tết đuôi sam Ngày lễ họ thích đeo các đồ trangsức như vòng tay, khuyên tai, đội mũ cắm lông chim hoặc bông lau

III Nước Âu Lạc đã ra đời và phát triển như thế nào?

1 Hoàn cảnh ra đời và tổ chức nhà nước Âu Lạc?

Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần (hoàn cảnh ra đời nhà nước Âu Lạc)

Năm 218 TCN, nhà Tần đánh xuống phương Nam để mở rộng bờ cõi Sau 4 năm chinhchiến, quân Tần kéo đến vùng Bắc Văn Lang, nơi người Lạc Việt cùng sống với người Âu Việt,vốn có quan hệ gần gũi với nhau từ lâu đời

Cuộc kháng chiến bùng nổ Thủ lĩnh Âu Việt bị giết, nhưng nhân dân Âu Việt và Lạc Việtkhông chịu đầu hàng Họ tôn người kiệt tuấn tên là Thục Phán lên làm tướng, ngày ở trong rừng, đêm

ra đánh quân Tần

Năm 214 TCN, người Việt đã đại phá quân Tần, giết được Hiệu úy Đồ Thư Kháng chiếnthắng lợi

Sự ra đời của Nhà nước Âu Lạc:

Sau cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi, năm 207 TCN, Thục Phán buộc vua Hùng

HÙNG VƯƠNG LẠC HẦU - LẠC TƯỚNG

Trang 8

nhường ngôi cho mình và sáp nhập hai vùng đất cũ của người Âu Việt và Lạc Việt thành mộtnước mới, đặt tên nước là Âu Lạc Thục Phán tự xưng An Dương Vương, đóng đô ở PhongKhê (nay là vùng Cổ Loa, huyện Đông Anh - Hà Nội)

Bộ máy nhà nước thời An Dương Vương không có gì thay đổi so với thời Hùng Vương.Tuy nhiên, quyền hành của Nhà nước đã cao và chặt chẽ hơn trước Vua có quyền thế hơn trongviệc trị nước

2 Tình hình sản xuất và đời sống xã hội thời Âu Lạc đã có sự thay đổi và tiến bộ như thế nào ?

Trong nông nghiệp, lưỡi cày đồng đã được cải tiến và dùng phổ biến hơn Lúa gạo, khoai,đậu, củ, rau… làm ra ngày một nhiều Chăn nuôi, đánh cá, săn bắn đều phát triển

Các nghề thủ công như làm đồ gốm, dệt, làm đồ trang sức đều tiến bộ Các ngành luyệnkim và xây dựng đặc biệt phát triển Việc chế tác công cụ sản xuất bằng đồng và sắt đã đạt đếntrình độ kĩ thuật cao Giáo, mác, mũi tên đồng, rìu đồng, cuốc sắt, rìu sắt được sản xuất ngàycàng nhiều

Đặc biệt về xây dựng có thể kể đến công trình thành Cổ Loa Sau cuộc kháng chiến chốngquân Tần thắng lợi, An Dương Vương cho xây dựng ở Phong Khê một khu thành đất rộng hơnnghìn trượng, có ba vòng khép kín với chu vi khoảng 16.000 m như hình trôn ốc, sau này gọi làLoa thành hay thành Cổ Loa Các vòng thành đều có hào bao quanh và thông nhau Bên trongthành Nội là nơi ở, làm việc của An Dương Vương và các Lạc hầu, Lạc tướng

Ở vào thời điểm cách đây hơn 2.000 năm, khi mà trình độ kĩ thuật chung còn rất thấp kémthì công trình thành Cổ Loa là một biểu tượng rất đáng tự hào của nền văn minh Việt cổ

3 Cuộc kháng chiến chống Triệu Đà năm 179 TCN, Nhà nước Âu Lạc thất bại ? Diễn biến chính cuộc kháng chiến :

Vào năm 207 TCN, nhân lúc nhà Tần suy yếu, Triệu Đà cắt đất ba quận lập thành nướcNam Việt, rồi đem quân đánh xuống Âu Lạc

Quân dân Âu Lạc với thành cao, hào sâu, vũ khí tốt và tinh thần chiến đấu dũng cảm đãgiữ vững được nền độc lập

Triệu Đà biết không thể đánh bại được, bèn vờ xin hàng và dùng mưu kế li gián, chia rẽ nội bộ

Âu Lạc

Năm 179 TCN, Triệu Đà lại sai quân sang đánh chiếm nước ta, An Dương Vương do chủ quankhông đề phòng, lại mất hết tướng giỏi nên bị thất bại nhanh chóng Nước ta rơi vào ách thống trị củanhà Triệu

Nguyên nhân thất bại của Âu Lạc :

Do An Dương Vương chủ quan, thiếu cảnh giác, nội bộ bị chia rẽ, li gián, mất đoàn kết

Nhớ lại Truyện nỏ thần (đơn giản hóa sự thực về âm mưu cướp nước Âu Lạc của Triệu Đà).

Chủ đề 3 THỜI KÌ BẮC THUỘC VÀ CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP

I Khái niệm ‘‘thời Bắc thuộc’’ :

Thời Bắc thuộc là một khái niệm lịch sử chỉ khoảng thời gian từ sau thất bại của AnDương Vương năm 179 TCN, nước ta bị Triệu Đà thôn tính và sáp nhập vào nước Nam Việt

Từ đó nhân dân ta liên tục bị các triều đại phong kiến phương Bắc thống trị cho đến khi NgôQuyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 mới kết thúc, tất cả tổng cộnghơn 1.000 năm

II Chính sách thống trị tàn bạo của phong kiến phương Bắc đối với nước ta :

Sáp nhập nước ta vào lãnh thổ của các triều đại PK phương Bắc, xóa tên nước ta và chiathành các quận huyện của chúng

Trang 9

Tổ chức bộ máy cai trị tàn bạo, hà khắc do người phương Bắc đứng đầu Ra sức bóc lộtdân ta bằng các thứ thuế, nhất là thuế muối, thuế sắt…và bắt cống nạp những sản vật quý nhưngà voi, sừng tê giác, ngọc trai…

Cho người phương Bắc (người Hán) sang ở lẫn với dân ta, bắt dân ta phải từ bỏ những phongtục của cha ông mà tuân theo phong tục tập quán của họ, âm mưu đồng hóa dân tộc ta Đây là chínhsách hết sức thâm độc nhằm làm thay đổi lối sống, văn hóa của một dân tộc khác theo lối sống, vănhóa của dân tộc mình

III Các triều đại PK phương Bắc đã đô hộ nước ta và các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu thời Bắc thuộc :

1 Nhà Triệu (207 - 111 tr.CN)

Sau thất bại của An Dương Vương năm 179 TCN, Triệu Đà sáp nhập đất đai Âu Lạc vàoNam Việt, chia Âu Lạc thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân

2 Nhà Tây Hán (còn gọi là Tiền Hán, 206 tr.CN - 25 s.CN)

Nhà Tây Hán lấy được Nam Việt vào năm 111 tr.CN, đổi tên Nam Việt thành Giao Chỉ

Bộ rồi chia ra quận và huyện để cai trị

Đứng đầu mỗi quận là chức Thái Thú và một Đô úy coi việc quân sự, ngoài ra còn cóquan Thứ sử để giám sát các quận

Tại các huyện, nhà Tây Hán vẫn cho các Lạc tướng trị dân và có quyền thế tập như cũ.Dân Việt phải nộp cho chính quyền đô hộ những của quý, vật lạ như đồi mồi, ngọc trai, sừng

tê, ngà voi, lông chim trả, các thứ thuế muối, thuế sắt

3 Nhà Đông Hán (còn gọi là Hậu Hán, 25-220)- Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43)

Trước nhà Đông Hán còn có nhà Tần, nhưng triều đại này rất ngắn ngủi, không để lại dấu

ấn gì rõ rệt trên đất Việt Nhà Đông Hán lên thay thế nhà Tần vào năm 25 sau Công Nguyên.Chính dưới triều đại này đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 - 43)

Hai Bà là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh (vùng Ba Vì - Tam Đảo) Tương truyền rằng bàMan Thiện, mẹ của Trưng Trắc và Trưng Nhị vốn dòng dõi Hùng Vương Hai bà mồ côi chasớm, được mẹ nuôi nấng và dạy cho nghề trồng dâu nuôi tằm cùng rèn luyện võ nghệ Chồng bàTrưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên

Lúc bấy giờ nhà Đông Hán đang cai trị hà khắc nước Việt, viên Thái thú Tô Định làngười bạo ngược, tham lam "thấy tiền giương mắt lên" Hai bà cùng Thi Sách chiêu mộ nghĩaquân, chuẩn bị khởi nghĩa, nhưng Thi Sách bị Tô Định giết chết

Tháng Ba năm 40 sau Công Nguyên, Trưng Trắc và Trưng Nhị tiếp tục sự nghiệp, dựng

cờ khởi nghĩa ở Hát Môn, trên vùng đất Mê Linh với lời thề:

"Một xin rửa sạch quốc thù, Hai xin khôi phục nghiệp xưa họ Hùng

Ba kẻo oan ức lòng chồng Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này" (Thiên Nam ngữ lục)

Cuộc khởi nghĩa Mê Linh lập tức được sự hưởng ứng ở khắp các quận Giao Chỉ, Cửu Chân,Nhật Nam, Hợp Phố Các cuộc khởi nghĩa địa phương được quy tụ về đây thống nhất lại thànhmột phong trào rộng lớn từ miền xuôi đến miền núi Đặc biệt trong hàng ngũ nghĩa quân có rấtnhiều phụ nữ như Lê Chân, Thánh Thiên, Bát Nàn, Nàng Tía, Ả Tắc, Ả Di Từ Mê Linh, nghĩaquân đánh chiếm lại thành Cổ Loa rồi ồ ạt tiến đánh thành Luy Lâu Hoảng sợ trước khí thế củanghĩa quân, quan lại của nhà Đông Hán bỏ chạy Tô Định bỏ cả ấn kiếm, cắt tóc, cạo râu trốn chạy

về nước Chỉ trong một thời gian ngắn, hai Bà Trưng đã thu phục 65 huyện thành, nghĩa là toàn bộlãnh thổ nước Việt hồi đó Cuộc khởi nghĩa thành công, đất nước được hoàn toàn độc lập Hai bàlên làm vua, đóng đô ở Mê Linh

"Đô kỳ đóng cõi Mê Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta" (Đại Nam quốc sử diễn ca)

Trang 10

Năm 42, nhà Hán cử Phục Ba tướng quân Mã Viện đem hai vạn quân cùng hai ngànthuyền, xe sang xâm lược nước Việt Hai bà đem quân đến đánh quân Hán ở Lãng Bạcnhưng vì lực lượng yếu hơn nên bị thua Hai bà phải lui về Cẩm Khê (Vĩnh Yên, VĩnhPhú) và cầm cự gần một năm Bị bại trận, hai bà chạy về Hát Môn gieo mình xuống sôngHát tự vẫn (43) Hằng năm dân gian lấy ngày 6 - 2 Âm lịch làm ngày kỷ niệm hai BàTrưng.

Sau khi đàn áp thành công cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng, Mã Viện đem đất Giao Chỉ

về lệ thuộc lại nhà Đông Hán như cũ đóng phủ trị tại Long Biên Để đàn áp tinh thần quật khởicủa dân Việt, Mã Viện cho thu hết đồ đồng xứ Việt dựng một cột đồng ở chỗ phân địa giới

Trên cột đồng có khắc sáu chữ: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt", có nghĩa là nếu cây trụ đồng

này đổ thì dân Giao Chỉ bị diệt vong Có thuyết cho rằng, do dân Việt cứ mỗi lần đi ngangqua, đều bỏ vào chân cột một hòn đá, vì thế trụ đồng bị lấp dần đi Về sau không còn biết vị trícủa chiếc trụ đồng nữa là vì vậy

Các chức Thái thú, Thứ sử vẫn được duy trì nhưng chế độ Lạc tướng cha truyền con nối

bị bãi bỏ Chính sách cai trị của người Hán ngày càng hà khắc, quan cai trị tham nhũng tàn ác.Dân Việt cực khổ điêu đứng, lên rừng kiếm châu báu, xuống bể mò ngọc trai để cung phụngcho chính quyền đô hộ Dân quận Hợp Phố chịu nặng nề cảnh mò ngọc nên bỏ xứ đi phiêu tánrất nhiều

Nhà Hán chủ trương đồng hóa dân Việt Họ cho di dân Hán sang ở lẫn với dân Việt, lấy vợViệt Tuy thế người Việt vẫn giữ được bản sắc dân tộc mình Đến đầu thế kỷ thứ ba, Giao Chỉ

có Thái thú Sĩ Nhiếp, là người tôn trọng Nho học, giúp dân giữ lễ nghĩa và giữ gìn được an ninh

xã hội Vào năm 203, Sĩ Nhiếp dâng sớ lên vua nhà Đông Hán, xin đổi Giao Chỉ thành GiaoChâu Từ đấy có tên Giao Châu

4 Nhà Đông Ngô (thời Tam Quốc, 229-280)- Cuộc khởi nghĩa của Triệu Trinh Nương (248)

Nhà Đông Hán mất ngôi thì nước Trung Hoa lâm vào tình trạng phân liệt của thời TamQuốc, gồm có ba nước là Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô Đất Giao Châu thuộc về ĐôngNgô Chính dưới chế độ này đã xảy ra cuộc khởi nghĩa của Triệu Trinh Nương (248)

Hai thế kỷ sau cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của Triệu Trinh Nương(còn gọi là Triệu Thị Trinh) cùng người anh là Triệu Quốc Đạt, một Hào trưởng lớn ở miền núithuộc quận Cửu Chân

Triệu Thị Trinh là người có sức khỏe, gan dạ và có chí khí, Bà vẫn thường nói: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh đạp đường sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng làm tì thiếp người ta" Bà theo anh khởi nghĩa lúc mới 19 tuổi, lập căn cứ tại vùng Thanh Hóa ngày

nay

Năm 248, nghĩa quân tấn công quân Ngô, Bà Triệu đem quân ra trận cưỡi voi, mặc áogiáp vàng tự xưng là Nhụy Kiều tướng quân Nghĩa quân đánh phá nhiều thành quách làm đốiphương phải khiếp sợ Thứ sử Giao Châu là Lục Dận đem quân đàn áp Đánh nhau trong sáutháng, nghĩa quân mai một dần Bà Triệu đem tàn quân đến núi Tùng (Thanh Hóa) và tự sát ởđấy

Vào năm 264, nhà Ngô chia đất Giao Châu ra, lấy Nam Hải, Thương Ngô và Uất Lâmlàm Quảng Châu, lấy đất Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam làm Giao Châu, đặt trị

sở ở Long Biên Đất Giao Châu này là lãnh thổ của Việt Nam về sau

5 Nhà Tấn (265-460) và Nam Triều (Tống, Tề, Lương, 420-588) cuộc khởi nghĩa Lý Bí (542 - 602).

Nhà Tấn là một triều đại không được ổn định vì nhiều thân vương cát cứ tại các địaphương đánh nhau liên tục Quan lại sang cai trị Giao Châu phần nhiều là người tham lam,cộng vào đó là sự kiểm soát lỏng lẻo của chính quyền trung ương, tạo nên cảnh tranh giành

Trang 11

quyền lực không ngớt Phía Nam lại có nước Lâm Ấp thường sang quấy nhiễu Đất Giao Châuloạn lạc không dứt.

Sau thời nhà Tấn, Trung Hoa lại phân liệt ra thành Bắc triều và Nam triều Giao Châu phụthuộc vào Nam triều trải qua các nhà Tống, Tề, Lương

Vào nửa đầu thế kỷ thứ 6, đất Giao Châu nằm dưới sự thống trị của nhà Lương Thứ sửGiao Châu là Tiêu Tư, nổi tiếng tham lam, tàn ác Có được một cây dâu cao một thước, ngườidân cũng phải đóng thuế Thậm chí có người nghèo khổ, phải bán vợ, đợ con, nhưng cũngphải đóng thuế

Lý Bí, một người quê ở huyện Thái Bình (không phải thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay mà làvùng Bắc Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội) đứng lên chiêu tập dân chúng Ông đã từng giữ một chứcquan nhỏ với nhà Lương, cố gắng giúp đỡ những ai bị hà hiếp, nhưng không làm được việc gìđáng kể, bèn bỏ quan trở về quê nhà và cùng người anh là Lý Thiên Bảo mưu khởi nghĩa Ôngđược nhiều người theo Trong đó có Thủ lĩnh đất Chu Diên (vùng Đan Phượng-Từ Liêm, thuộc

Hà Tây và ngoại thành Hà Nội) là Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục (?-571) đem lực lượngcủa mình theo về Ngoài ra còn có những nhân vật nổi tiếng khác cũng kéo đến giúp sức như TinhThiều, Phạm Tu, Lý Phục Man

Mùa xuân năm 542, Lý Bí tiến quân vây thành Long Biên Quân Lương đầu hàng cònTiêu Tư thì trốn thoát về được Trung Hoa Cuộc khởi nghĩa thành công Vua nhà Lương vộiđưa quân sang nhưng bị đánh bại

Năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế, xưng là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, lấy niênhiệu là Thiên Đức, Lý Nam Đế đặt kinh đô ở miền cửa sông Tô Lịch, dựng điện Vạn Xuân để vuaquan có nơi hội họp Nhà vua còn cho dựng chùa Khai Quốc (sau này là chùa Trấn Quốc ở HồTây, Hà Nội)

Năm 545, nhà Lương sai một tướng tài là Trần Bá Tiên đem quân sang xâm lược Vạn Xuân

Lý Nam Đế cùng các tướng sĩ chống không được, phải về vùng rừng núi Vĩnh Phú cố thủ; lấy hồĐiền Triệt (xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú) làm nơi thao luyện quân lính Chẳngbao lâu, lực lượng trở nên mạnh mẽ Trần Bá Tiên nhiều lần đem quân đánh phá nhưng khôngđược Về sau, nhân một cơn lũ dữ dội tràn vào vùng căn cứ, Trần Bá Tiên theo dòng lũ, thúc quântiến đánh, Lý Nam Đế phải rút về động Khuất Lão (còn gọi là động Khuất Liêu, là tên một khuđồi hiện nằm bên hữu ngạn sông Hồng, ở giữa hai xã Văn Lang và Cổ Tiết thuộc huyện TamNông, tỉnh Vĩnh Phúc) Sau nhiều năm lao lực, Lý Nam Đế bị bệnh mù mắt, giao binh quyền lạicho Triệu Quang Phục và mất vào năm 548

Triệu Quang Phục đánh nhau mấy lần với Trần Bá Tiên nhưng đều thất bại, bèn lấy đầm

Dạ Trạch (Hải Hưng) làm căn cứ Đầm Dạ Trạch nằm ven sông Hồng, chu vi không biết làbao nhiêu dặm Giữa đầm có một bãi đất cứng Ngoài ra, bốn bề là bùn lầy, người ngựa khôngthể nào đi được, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc, lấy sào đẩy trên cỏ, nước mà di chuyển.Triệu Quang Phục đóng quân ở bãi đất nổi và áp dụng kế "trì cửu", tức là đánh lâu dài làm tiêuhao lực lượng của địch quân Căn cứ địa được giữ hoàn toàn bí mật, ban ngày im hơi, khôngnấu nướng, ban đêm đột kích ra đánh phá trại địch Vì thế dân chúng tôn xưng ông là DạTrạch Vương

Sau khi Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục xưng là Triệu Việt Vương Năm 550, nhânlúc nhà Lương suy yếu, Triệu Quang Phục kéo quân về chiếm thành Long Biên, làm chủ đượcđất nước

Đến năm 557, Lý Phật Tử, một người cùng họ với Lý Nam Đế, đem quân đánh và đòi chiahai đất nước cùng Triệu Việt Vương Để tránh cảnh chiến tranh, Triệu Việt Vương đành chấpthuận, nhưng bất ngờ bị Lý Phật Tử đánh úp, chạy đến cửa biển Đại Nha (Hà Nam Ninh) gieomình xuống biển tự tử Năm 571; Lý Phật Tử chiếm cả nước

Sau khi lấy được thành Long Biên, Lý Phật Tử xưng đế hiệu là Lý Nam Đế Để phân biệt

Lý Phật Tử với Lý Bí, sử sách gọi Lý Phật Tử là Hậu Lý Nam Đế (571-602) Trong khi ấy nhà

Trang 12

Tùy (589-618) đã thống nhất và ổn định được nước Trung Hoa Vua nhà Tùy sai Lưu Phươngđem quân sang đánh Vạn Xuân Lưu Phương không cần dụng binh, cho người đi chiêu hàngđược Lý Phật Tử Từ đấy Vạn Xuân trở thành Giao Châu của nhà Tùy.

6 Nhà Đường (618-907)-Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (722) và của Phùng Hưng (trong khoảng 766-779)

Nhà Tùy làm chủ nước Trung Hoa chỉ được 28 năm thì bị nhà Đường lật đổ vào năm

618 Nhà Đường cai trị Giao Châu cay nghiệt nhất trong các chính quyền đô hộ Những sảnvật quý giá của Giao Châu bị vơ vét đưa về phương Bắc Trong số đó, có quả vải là lại trái cây

mà giới quyền quý nhà Đường rất ưa chuộng Về mặt chính trị, nhà Đường sửa lại toàn bộ chế

độ hành chính, phân chia lại châu quận, đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ, chia ra làm

12 châu, 59 huyện

Dưới đời nhà Đường, dân Việt liên tiếp nổi dậy, hai cuộc khởi nghĩa có tính chất rộng lớnnhất là của Mai Thúc Loan và của Phùng Hưng

Mai Thúc Loan quê ở làng muối Mai Phụ, thuộc huyện Thiên Lộc, Châu Hoan (Hà Tĩnh

ngày nay) Thuở nhỏ, nhà nghèo, Mai Thúc Loan theo mẹ sống ở làng Ngọc Trừng, huyệnNam Đàn Ông là người mạnh khỏe, có nước da đen bóng

Năm 722, nhân dịp dân phu gánh vải sang cống cho nhà Đường, bị hành hạ, nhiều người bỏxác dọc đường, lòng oán thán dâng cao, Mai Thúc Loan kêu gọi những người dân phu gánh quảvải nổi lên giết quan quân áp tải và cùng ông phất cờ khởi nghĩa Mai Thúc Loan chọn vùng SaNam (Nghệ An), một vùng hiểm trở có sông Lam rộng và núi Đụn cheo leo làm căn cứ Tại đâyông cho xây thành Vạn An, gồm nhiều đồn lũy, dài cả ngàn mét Ông xưng đế, lấy thành Vạn Anlàm Kinh đô Ông thường được gọi là Mai Hắc Đế (vua Đen họ Mai) vì nước da đen của ông

Để lập thành một mặt trận liên hoàn chống quân Đường, Mai Hắc Đế liên kết với cácnước Cham-pa, Chân Lạp và cả Ma-lai-xi-a Sau khi quy tụ được nhiều lực lượng, Mai Hắc

Đế cho quân tiến ra đồng bằng Bắc bộ, vây đánh thành Tống Bình (Hà Nội) Quan đô hộ làQuang Sở Khách chống không lại, bỏ thành chạy trốn Mai Hắc Đế giành lại độc lập cho đấtnước Nhưng được ít lâu, nhà Đường sai Dương Tu Húc đem 10 vạn quân, theo lộ trình xưacủa Mã Viện, chớp nhoáng tiến vào đất Việt, thình lình tấn công bản doanh của Mai Hắc Đế.Mai Hắc Đế chống không lại, phải vào rừng cố thủ Ông bị bệnh và chết ở đấy Quân Đường,sau khi thắng trận, đem dân Việt ra giết vô số Thây người không kịp chôn, chất cao thành gò.Tuy thắng được Mai Hắc Đế và vẫn còn ham thích quả vải của đất Việt, nhưng nhà Đườngkhông còn dám bắt dân Việt cống quả vải nữa Để nhớ ơn của Mai Hắc Đế, dân gian có câutruyền tụng:

"Cống vải từ nay Đường phải dứt Dân nước đời đời hưởng phước chung".

Hơn 40 năm sau cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế là cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng

Phùng Hưng vốn gia đình giàu có ở xã Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây), thuộc

dòng dõi Quan Lang Theo truyền thuyết, Phùng Hưng có hai người em cùng sinh ba là PhùngHải và Phùng Dĩnh Cả ba anh em đều có sức khỏe hơn người, tay không bắt được hổ

Vào khoảng năm 767, anh em họ Phùng phất cờ khởi nghĩa Phùng Hưng xưng là ĐôQuân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo còn Phùng Dĩnh xưng là Đô Tổng Họ đặt đại bản doanh tạiĐường Lâm Hào kiệt theo về rất đông Họ làm chủ cả miền trung du và miền núi Bắc Bộ Vàinăm sau, thấy lực lượng đã mạnh, Phùng Hưng cho quân tiến vây thành Tống Bình Theo kếcủa Đỗ Anh Hàn, cũng người xã Đường Lâm, Phùng Hưng cho người đi khắp nơi, phao lên làsắp lấy được thành Tống Bình, đồng thời tiến hành vây thành rất ngặt Cứ đến đêm, quân khởinghĩa nổi lửa, đánh chiêng, đánh trống, reo hò ầm ĩ để uy hiếp tinh thần đối phương Quan Đô

hộ là Cao Chính Bình lo sợ đổ bệnh rồi chết Phùng Hưng chiếm được thành, đem lại độc lậpcho đất nước

Trang 13

Phùng Hưng cai trị đất nước trong bảy năm thì mất Dân chúng vô cùng thương tiếc, tôn ông

là danh hiệu là “Bố Cái Đại Vương” "Bố" có nghĩa là cha, "Cái" có nghĩa là mẹ, ví công ơn củaPhùng Hưng đối với Tổ quốc như công ơn của cha mẹ đối với con cái Dân chúng lập đền thờ ông

ở ngay xã Đường Lâm Không những được thờ ở quê nhà, Bố Cái Đại Vương còn được thờ tạilàng Triều Khúc Ở đây ông được thờ làm Thành hoàng tại ngôi đình Lớn Hằng năm đều có lễhội tưởng nhớ đến chiến công của ông

Sau khi Phùng Hưng mất, nội bộ thân thuộc của ông không giữ được sự đoàn kết Dânchúng muốn tôn Phùng Hải lên nối nghiệp, nhưng có một tướng là Bồ Phá Lạc, là người vũdũng và có nhiều thuộc hạ, không đồng ý, muốn lập con của Phùng Hưng là Phùng An lên BồPhá Lạc đem quân chống lại Phùng Hải Phùng Hải tránh giao tranh, lui về vùng rừng núi, rồisau đó đi đâu, chẳng ai rõ, Phùng An lên nối nghiệp Chẳng bao lâu, nhà Đường sai TriệuXương đem quân sang, vừa đánh vừa chiêu dụ Thấy thế không chống được, Phùng An phảiđầu hàng Xứ Giao Châu lại lệ thuộc nhà Đường lần nữa

IV Quá trình phát triển kinh tế, sự phân hóa xã hội, sự truyền bá văn hóa phương Bắc và cuộc đấu tranh gìn giữ văn hóa dân tộc thời Bắc thuộc đã diễn ra như thế nào?

Về kinh tế :

Mặc dù bị phong kiến phương Bắc đô hộ và cai trị, bóc lột tàn bạo, tình hình kinh tế nước

ta vẫn có những bước phát triển đáng kể từ công nghiệp đến nông nghiệp, thủ công nghiệp vàthương nghiệp

Về công nghiệp, tuy còn hạn chế về kĩ thuật, nhưng nghề sắt vẫn phát triển : các công cụnhư rìu, mai, cuốc, dao… ; vũ khí như kiếm, giáo, mác…làm bằng sắt vẫn được chế tác và sửdụng phổ biến

Về nông nghiệp, nhân dân ta đã biết đắp đê phòng lụt, dùng sức kéo trâu, bò, trồng lúa hai

vụ một năm và tiếp tục nghề trồng dâu, nuôi tằm, chăn nuôi các loại gia súc lấy thịt và sức kéo,phân bón

Các nghề thủ công truyền thống như nghề gốm, nghề dệt…vẫn được phát triển

Về thương nghệp, các sản phẩm nông nghiệp và thủ công không bị sung làm đồ cống nạp

mà được mua bán, trao đổi ở các chợ làng Chính quyền đô hộ giữ độc quyền về ngoại thương

Sự phân hóa xã hội :

Xã hội có sự thay đổi và phân hóa sâu sắc theo sơ đồ sau:

Thời Văn Lang - Âu Lạc Thời kì bị PK phương Bắc đô hộ

Nông dân công xã Nông dân công xã, nông dân lệ thuộc

Các triều đại PK phương Bắc tổ chức bộ máy cai trị do người Hán nắm giữ mọi quyền hành(từ Thứ Sử, Thái Thú đến Đô Úy, Huyện lệnh) Tại các huyện, nhà Tây Hán vẫn cho các Lạctướng trị dân và có quyền thế tập như cũ

Đưa người phương Bắc (Hán) sang ở lẫn với dân ta, bắt dân ta phải theo phong tục tậpquán của họ Trong tầng lớp quý tộc ngoài hào trưởng người Việt nay xuất hiện thêm các địachủ người Hán

Ngoài nông dân công xã, nay có thêm tầng lớp nông dân lệ thuộc (là những nông dân bịđịa chủ cướp hết ruộng đất phải lệ thuộc và làm thuê cho chúng)

Tầng lớp nô tì ngày càng đông thêm do chính sách cai trị, bóc lột và cướp đoạt ruộng đấtcủa bọn quan lại, địa chủ người Hán

Sự truyền bá văn hóa phương Bắc (Hán) và cuộc đấu tranh gìn giữ văn hóa dân tộc :

Trang 14

Chính quyền đô hộ mở một số trường học dạy chữ Hán tại các quận, huyện và tiến hành

du nhập Nho giáo, Đạo giáo…và những luật lệ, phong tục của người Hán vào nước ta

Nhân dân ta đã kiên trì đấu tranh bảo vệ tiếng nói, chữ viết, phong tục và nếp sống củadân tộc ; đồng thời cũng tiếp thu những tinh hoa của nền văn hóa Trung Quốc và các nướckhác nhằm gìn giữ bản sắc và làm phong phú thêm nền văn hóa của mình

Chủ đề 4 BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ Ở ĐẦU THẾ KỈ X

Họ Khúc đặt nền móng tự trị (906-923) Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng (938)

Đến cuối đời nhà Đường, tình hình xáo trộn của Trung Hoa tạo thời cơ cho Khúc Thừa

Dụ xây nền tự chủ (906), đưa đất nước thoát khỏi vòng nô lệ kéo dài cả ngàn năm

(Khúc Thừa Dụ 906-907 ; Khúc Hạo 907-917 ; Khúc Thừa Mỹ 917-930 ; Dương Đình Nghệ931-937)

Vào đầu thế kỉ thứ 10, nhà Đường trở nên suy yếu Lợi dụng thời cơ này, Khúc Thừa Dụ(?-907), một hào trưởng cư trú lâu đời ở Hồng Châu (Hải Hưng) nổi lên, tự xưng là Tiết độ sứ(906) Nhà Đường bắt buộc phải công nhận sự việc ấy và còn phong thêm tước "Đồng binhChương sự" cho ông nữa Sử cũ chép rằng Khúc Thừa Dụ tính tình khoan hòa, nhân ái nênđược nhiều người theo về

Nhà Đường, dù trên danh nghĩa, phong tước và công nhận Khúc Thừa Dụ, nhưng thựcchất là không thể kiểm soát được đất Giao Châu nữa Khúc Thừa Dụ làm chủ đất nước, xâydựng chính quyền tự chủ, khởi đầu cho nền độc lập của nước nhà

Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ một năm thì mất, con là Khúc Hạo lên nối nghiệp cha đượcmười năm (907-917) Trong mười năm này, Khúc Thừa Hạo cho sửa đổi các khu vực hành chính,cắt đặt người trông coi mọi việc cho đến tận đơn vị xã, định lại mức thuế ruộng đất và miễn bỏ cáclao dịch nặng nề

Trong khi ấy, tại Trung Hoa, một Tiết độ sứ họ Lưu chiếm lấy vùng Quảng Châu, lập nên nướcNam Hán

Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên nối chức Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹgiao hảo cùng nhà Lương (đã thay nhà Đường làm chủ Trung Hoa) Vua Nam Hán lấy cớ ấycho quân sang đánh họ Khúc Khúc Thừa Mỹ không chống cự được, bị bắt đưa về QuảngChâu (930) Quân Nam Hán chiếm đóng thành Đại La

Kế tục sự nghiệp của họ Khúc là Dương Đình Nghệ (?-937), một người làm quan dưới đờiKhúc Thừa Mỹ Sau khi Khúc Thừa Mỹ bị bắt, Dương Đình Nghệ dấy binh ở làng Ràng (Dương

xá, Thanh Hóa), vốn là quê của ông Các hào trưởng như Ngô Quyền, Đinh Công Trứ đem lựclượng của mình gia nhập hàng ngũ của Dương Đình Nghệ

Năm 931, Dương Đình Nghệ tiến quân đánh thành Đại La, Thứ sử Giao Châu là Lý Tiếnchống không lại, chạy về Quảng Châu (Trung Hoa) thì bị vua Nam Hán giết chết Một toánquân Nam Hán được cử sang để đàn áp quân của Dương Đình Nghệ, nhưng bị đánh tan, phải bỏchạy về Trung Hoa Thắng lợi, Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ Cai quản đất nướcđược sáu năm thì Dương Đình Nghệ bị một thuộc tướng là Kiều Công Tiễn sát hại

Ngô Quyền (897-944), tướng tài và đồng thời là con rể của Dương Đình Nghệ, đang cai

quản Châu Ái, đem quân đi trừng phạt Kiều Công Tiễn

Ngô Quyền là người cùng quê với Phùng Hưng, xã Đường Lâm (nay thuộc thị xã SơnTây, tỉnh Hà Tây), đã từng theo Dương Đình Nghệ từ buổi ban đầu và có uy tín lớn với dânchúng

Trước sự tiến công của Ngô Quyền, Kiều Công Tiễn lo sợ, vội vàng đi cầu cứu nhà NamHán Vua Nam Hán nắm cơ hội thực hiện mộng xâm lăng, bèn phong cho con là Hoằng Tháolàm Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ, sai đem thủy quân đi trước còn bản thân mình sẽ theo đường

bộ tiếp ứng

Trang 15

Năm 938, Ngô Quyền chiếm được thành Đại La, bắt được Kiều Công Tiễn và đem bêuđầu trên thành Dù biết tin Kiều Công Tiễn đã bị giết chết và Ngô Quyền đã làm chủ thành Đại

La, quân Nam Hán vẫn tiến công Ngô Quyền bèn bày thế trận thủy chiến, cho cắm cọc trênsông Bạch Đằng, chờ địch Tháng 12 năm ấy, Hoằng Tháo đem thủy binh tiến ồ ạt vào sôngBạch Đằng Nhân lúc triều cường, Ngô Quyền cho thuyền nhẹ ra đánh, nhử quân Hoằng Tháolọt qua trận địa cọc ngầm đã đóng sẵn xuống lòng sông Khi thủy triều xuống mạnh, trận địacọc ngầm nổi lên, Ngô Quyền thúc đại quân ra đánh Chiến thuyền của Nam Hán nặng nề,không thoát được, bị cọc đâm vỡ rất nhiều Hoằng Tháo bị giết tại trận, toàn bộ đội thủy quân

bị tiêu diệt Vua Nam Hán nghe tin bại trận và tin Hoằng Tháo bị giết chết, thương khóc thảmthiết rồi rút về nước

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt hoàn toàn ách thống trị hơn một nghìnnăm của phong kiến phương Bắc, khẳng định nền độc lập lâu dài của tổ quốc

Đánh đuổi quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng vương (939), đóng đô ở Cổ Loa NgôVương đặt ra các chức quan văn võ, qui định triều nghi, lập bộ máy chính quyền mang tínhchất tập quyền

LỚP 7 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ THẾ GIỚI TRUNG ĐẠI

Chủ đề 1 XÃ HỘI PHONG KIẾN CHÂU ÂU (PHƯƠNG TÂY)

1 Trình bày sự hình thành xã hội PK châu Âu ?

Cuối thế kỉ V, người Giéc-man xâm chiếm, tiêu diệt các quốc gia cổ đại phương Tây,thành lập nhiều vương quốc mới : Ăng-glô Xắc-xông, Phơ-răng, Tây Gốt, Đông Gốt

Trên lãnh thổ Rô-ma, người Giéc-man đã chiếm ruộng đất của chủ nô, đem chia chonhau; phong cho các tướng lĩnh, quý tộc các tước vị như: công tước, hầu tước Nhữngviệc làm của người Giéc-man đã tác động đến xã hội, dẫn tới sự hình thành các tầng lớpmới:

- Lãnh chúa phong kiến: là các tướng lĩnh và quý tộc có nhiều ruộng đất và tước vị, có quyềnthế và rất giàu có

- Nông nô: là những nô lệ được giải phóng và nông dân, không có ruộng đất, làm thuê, phụthuộc vào lãnh chúa

Từ những biến đổi trên đã dẫn tới sự ra đời của xã hội PK châu Âu

2 Em biết gì về các lãnh địa của các lãnh chúa phong kiến?

Lãnh địa PK là khu đất rộng, trở thành vùng đất riêng của lãnh chúa PK - như một vương quốcthu nhỏ

Lãnh địa gồm có đất đai, dinh thự với tường cao, hào sâu, kho tàng, đồng cỏ, đầm lầy của lãnh chúa Nông nô nhận đất canh tác của lãnh chúa và nộp tô thuế, ngoài ra còn phải nộpnhiều thứ thuế khác Lãnh chúa bóc lột nông nô, họ không phải lao động, sống sung sướng, xahoa

Đặc trưng cơ bản của lãnh địa: là đơn vị kinh tế, chính trị độc lập mang tính tự cung, tựcấp, đóng kín của một lãnh chúa

3 Em biết gì về các thành thị trung đại trong xã hội PK châu Âu ?

Nguyên nhân ra đời của các thành thị trung đại là do :

- Vào thời kì PK phân quyền: các lãnh địa đều đóng kín, không có trao đổi, buôn bán, giaothương với bên ngoài

- Từ cuối thế kỉ XI, do sản xuất thủ công phát triển, thợ thủ công đã đem hàng hóa ranhững nơi đông người để trao đổi, buôn bán, lập xưởng sản xuất

- Từ đấy hình thành các thị trấn rồi phát triển thành thành phố, gọi là thành thị trung đại

Hoạt động và vai trò của các thành thị trung đại :

Trang 16

Cư dân chủ yếu của thành thị là thợ thủ công và thương nhân, họ lập ra các phường hội,thương hội để cùng nhau sản xuất và buôn bán.

Hoạt động trên của các thành thị trung đại đã có vai trò thúc đẩy sản xuất, làm cho xã hội PKphát triển

4 Chủ nghĩa tư bản ở châu Âu được hình thành như thế nào ?

Từ cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, do nhu cầu phát triển sản xuất cùng những tiến bộ về

kĩ thuật hàng hải như: la bàn, hải đồ, kĩ thuật đóng tàu đã thúc đẩy những cuộc phát kiến lớn

về địa lí như: B Đi-a-xơ đến cực Nam châu Phi (1487) ; Va-xcô đơ Ga-ma đến Tây Nam Ấn

Độ (1498) ; C Cô-lôm-bô tìm ra châu Mĩ (1492) ; Ph Ma-gien-lăng đi vòng quanh trái đất(1519 - 1522)

Các cuộc phát kiến địa lí đã thúc đẩy thương nghiệp phát triển, đem lại nguồn lợi nhuậnkhổng lồ cho những quý tộc, thương nhân Đó là quá trình tích lũy tư bản nguyên thủy (tạo ra

số vốn đầu tiên và những người lao động làm thuê) Tầng lớp này trở nên giàu có nhờ cướpbóc của cải, tài nguyên và buôn bán, trao đổi ở các nước thuộc địa Họ mở rộng sản xuất, kinhdoanh, lập đồn điền, bóc lột sức lao động người làm thuê, giai cấp tư sản ra đời Cùng đó làgiai cấp vô sản được hình thành từ những người nông nô bị tước đoạt ruộng đất, buộc phải vàolàm thuê trong các xí nghiệp của tư sản

Từ những tiền đề và điều kiện vừa nêu trên, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đượchình thành, ra đời ngay trong lòng xã hội phong kiến châu Âu

5 Em hiểu gì về phong trào Văn hóa Phục hưng ?

Vào cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, do sự kìm hãm, vùi dập của chế độ phong kiến đốivới các giá trị văn hóa Sự lớn mạnh của giai cấp tư sản có thế lực về kinh tế nhưng không cóđịa vị chính trị, xã hội nên đấu tranh giành địa vị chính trị, xã hội, mở đầu bằng cuộc đấu tranhtrên lĩnh vực văn hóa

Cuộc đấu tranh đó phát triển thành “phong trào Văn hóa Phục hưng” : Đó là sự

phục hưng những tinh hoa giá trị tinh thần của nền văn hóa cổ Hi Lạp và Rô-ma, đồngthời phát triển nó ở tầm cao hơn (sáng tạo nền văn hóa mới của giai cấp tư sản)

Phong trào diễn ra với các nội dung: lên án nghiêm khắc Giáo hội Ki-tô, đả phá trật tự xã hộiphong kiến ; đề cao những giá trị con người, đề cao khoa học tự nhiên, xây dựng thế giới quanduy vật Có thể kể tên những nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa tiêu biểu như : nhà thiên vănhọc Cô-péc-ních, nhà toán học và triết học xuất sắc R Đê-các-tơ, họa sĩ Lê-ô-na đơ Vanh-xi, nhàsoạn kịch U Sếch-xpia

Phong trào Văn hóa Phục hưng đã có ý nghĩa thức tỉnh và phát động quần chúng đấu tranhchống lại xã hội phong kiến bảo thủ, lạc hậu ; đồng thời mở đường cho sự phát triển văn hóa ở mộttầm cao mới của châu Âu và nhân loại

Chủ đề 2 XÃ HỘI PHONG KIẾN PHƯƠNG ĐÔNG

1 So sánh quá trình hình thành và phát triển của xã hội PK ở các nước phương Đông và phương Tây để rút ra những điểm khác biệt ?

Xã hội PK phương Đông :

- Hình thành sớm, vào thời kì trước CN (như Trung Quốc), phát triển chậm, mức độ tậpquyền cao hơn so với xã hội PK phương Tây

- Quá trình khủng hoảng, suy vong kéo dài và sau này rơi vào tình trạng lệ thuộc hoặc trởthành thuộc địa của CNTB phương Tây

Xã hội PK phương Tây :

- Ra đời muộn (thế kỉ V), nhưng phát triển nhanh

- Xuất hiện CNTB trong lòng chế độ PK

- Lúc đầu quyền lực của nhà vua bị hạn chế trong lãnh địa, mãi đến thế kỉ XV khi cácquốc gia PK thống nhất, quyền lực mới tập trung trong tay nhà vua

Trang 17

2 Trình bày những nét chính về cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ PK ?

Cơ sở kinh tế chủ yếu của chế độ PK là sản xuất nông nghiệp, kết hợp với chăn nuôi vàmột số nghề thủ công Sản xuất nông nghiệp đóng kín ở các công xã nông thôn (phươngĐông) hay các lãnh địa (phương Tây)

Tư liệu sản xuất, ruộng đất nằm trong tay lãnh chúa hay địa chủ, giao cho nông dân haynông nô sản xuất

Xã hội gồm hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân lĩnh canh (phương Đông), lãnhchúa phong kiến và nông nô (phương Tây) Địa chủ, lãnh chúa bóc lột nông dân và nông nôbằng địa tô

Riêng ở xã hội PK phương Tây, từ thế kỉ XI, công thương nghiệp phát triển mạnh

LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX Chủ đề 3 BUỔI ĐẦU ĐỘC LẬP THỜI NGÔ - ĐINH - TIỀN LÊ (Thế kỉ X)

I Những nét chính về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của buổi đầu độc lập thời Ngô - Đinh - Tiền Lê ?

A Về chính trị :

1 Nhà Ngô (939-965)

Ngô Vương 938-944 ; Dương Bình Vương 945-950 ; Hậu Ngô Vương 951-965

Đánh đuổi quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng vương (939), đóng đô ở Cổ Loa NgôVương đặt ra các chức quan văn võ, qui định triều nghi, lập bộ máy chính quyền mang tínhchất tập quyền

Ngô Quyền chỉ ở ngôi được sáu năm Lúc sắp mất, Ngô Quyền đem con là Ngô XươngNgập ủy thác cho người em vợ là Dương Tam Kha Dương Tam Kha là con của Dương ĐìnhNghệ, em của bà Dương Hậu Nhưng khi Ngô Quyền mất rồi Dương Tam Kha phản bội lòngtin của Ngô Quyền, cướp lấy ngôi, tự xưng là Bình Vương (945-950) Ngô Xương Ngập phảichạy trốn vào núi Dương Tam Kha bèn bắt người con thứ của Ngô Quyền là Ngô Xương Vănlàm con nuôi Ngô Xương Văn, trong một dịp đi hành quân dẹp loạn, đem quân trở ngược lạibắt được Dương Tam Kha, giáng Kha xuống bậc công

Ngô Xương Văn xưng vương và cho người đi rước anh về cùng làm vua Không bao lâuNgô Xương Ngập bệnh chết (954) Thế lực nhà Ngô ngày một suy yếu, khắp nơi loạn lạc.Trong một chuyến đi dẹp loạn (965), Xương Văn bị trúng tên chết Kể từ đấy, nhà Ngô khôngcòn là một thế lực trung tâm của đất nước nữa Con của Xương Văn là Ngô Xương Xí trởthành một trong 12 sứ quân

Từ đó đất nước trải qua một thời kỳ nội chiến tranh quyền khốc liệt mà sử sách gọi là loạn 12

sứ quân Sau nhờ Đinh Bộ Lĩnh (924-979) đánh thắng tất cả các sứ quân, đất nước mới thoát cảnhnội chiến

2 Nhà Đinh (968-980) - Đại Cồ Việt

Đinh Tiên Hoàng 968-979 ; Đinh Tuệ (Đinh Toàn) 980

Sau khi dẹp tan loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế tức là Đinh TiênHoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình)

Đồng thời với gian đoạn này, ở Trung Hoa, nhà Tống làm chủ đất nước và tiêu diệt nướcNam Hán (970) Đinh Tiên Hoàng sai sứ sang thông hiếu Đến năm 972 nhà vua sai Đinh Liễnđem quà sang cống Vua Tống bèn phong cho Đinh Tiên Hoàng làm An Nam Quận vương vàĐinh Liễn làm Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ

Đinh Tiên Hoàng đặt ra những luật lệ hình phạt nặng nề như bỏ phạm nhân vào dầu haycho hổ báo xé xác

Trang 18

Quân đội dưới thời Đinh Tiên Hoàng đã được tổ chức chặt chẽ, phân ra làm các đơn vịnhư sau:

Đạo = 10 quân; Quân = 10 lữ ; Lữ = 10 tốt; Tốt = 10 ngũ ; Ngũ = 10 người

Năm 979, nhân lúc Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn say rượu, nằm ở sân điện, một tênquan hầu là Đỗ Thích giết chết cả hai Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm, thọ 56 tuổi.Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết chết, đình thần tìm bắt được Đỗ Thích và đemgiết chết đi rồi tôn người con nhỏ là Đinh Tuệ (Đinh Toàn), mới sáu tuổi lên làm vua Quyềnbính ở cả trong tay Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn Lê Hoàn lại có quan hệ chặt chẽ vớingười vợ góa của Đinh Tiên Hoàng là Dương Thái Hậu nên uy thế rất lừng lẫy Các công thần

cũ của Đinh Bộ Lĩnh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền đem quân vây đánh Lê Hoàn nhưng bị LêHoàn tiêu diệt và giết cả

3 Nhà Tiền Lê (980-1009)

Lê Đại Hành 980-1005 ; Lê Long Việt 1005 ; Lê Long Đĩnh 1005-1009

Nhà Tống lợi dụng sự rối ren trong triều nhà Đinh, chuẩn bị cho quân sang xâm lược Đại

Cồ Việt Thái hậu Dương Vân Nga trao long cổn (áo bào của vua Đinh Tiên Hoàng - tượngtrưng cho uy quyền của nhà vua) cho Lê Hoàn và cùng quan lại, quân lính tôn Lê Hoàn lênlàm vua

Lê Hoàn lên ngôi, lấy hiệu là Lê Đại Hành, lập nên nhà Tiền Lê Để có thời gian chuẩn

bị, nhà vua phái sứ giả qua xin hòa hoãn cùng nhà Tống Đồng thời nhà vua gấp rút bày binh

bố trận Đầu năm 981, quân Tống theo hai đường thủy bộ, vào đánh Đại Cồ Việt Lê Đại Hànhmột mặt cho quân chặn đánh toán quân bộ ở Chi Lăng (Lạng Sơn) Tướng Hầu Nhân Bảo,cầm đầu toán quân bộ, mắc mưu trá hàng của Lê Hoàn, bị chém chết; quân sĩ bị diệt quá nửa,tan rã Toán quân thủy bị chặn ở Bạch Đằng, nghe tin thất bại, bèn tháo chạy về nước

Dù chiến thắng, Lê Đại Hành vẫn giữ đường lối hòa hoãn, cho thả các tù binh về nước,đồng thời cho người sang nhà Tống xin triều cống Thấy thế không thắng được Lê Đại Hành,vua Tống đành chấp thuận, phong cho ông làm Tiết độ sứ

Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất thắng lợi đã biểu thị ý chí quyết tâmchống giặc ngoại xâm của quân dân ta; chứng tỏ bước phát triển mới của đất nước và khả năngbảo vệ độc lập dân tộc của Đại Cồ Việt

Không còn lo lắng việc chống Tống nữa, Lê Đại Hành sửa sang mọi việc trong nước Ông

mở mang kinh đô Hoa Lư, củng cố bộ máy chính quyền trung ương, sắp xếp các đơn vị hànhchính Để khuyến khích hoạt động nông nghiệp, Lê Đại Hành làm lễ cày ruộng Tịch điền, mở đầucho tục lệ này ở đất nước Về đối ngoại, nhà vua tuy thần phục nhà Tống và chịu lệ cống, nhưnghoàn toàn không lệ thuộc gì cả

Lê Hoàn làm vua được 24 năm, mất năm 1005, thọ 65 tuổi

Sau khi Lê Đại Hành mất, Thái tử Long Việt lên ngôi được ba ngày thì bị Long Đĩnh saingười giết chết Các hoàng tử đánh nhau trong 8 tháng để tranh ngôi Cuối cùng Lê Long Đĩnhdiệt được các hoàng tử khác và lên ngôi vua cai trị đất nước

Lê Long Đĩnh là người hoang dâm, không thiết gì việc xây dựng đất nước, chỉ lo đếnviệc ăn chơi Do bị bệnh hoạn, mỗi khi thiết triều, Lê Long Đĩnh không thể ngồi được mà

phải nằm, nên sử sách gọi ông ta là Lê Ngọa Triều Lê Long Đĩnh lại rất tàn ác, đặt ra

nhiều hình phạt dã man để mua vui Lê Long Đĩnh ở ngôi 4 năm (1005-1009) thì chết.Triều đình đưa người dòng họ khác là Lý Công Uẩn lên ngôi vua

B Về kinh tế:

Thời kì này, quyền sở hữu ruộng đất nói chung thuộc về làng xã, theo tập tục chianhau cày cấy, nộp thuế, đi lính và làm lao dịch cho nhà vua Việc đào vét kênh mương,khai khẩn đất hoang được chú trọng, nên nông nghiệp ổn định và bước đầu phát triển;nghề trồng dâu tằm cũng được khuyến khích; nhiều năm được mùa

Trang 19

Đã xây dựng một số công trường thủ công: từ thời Đinh đã có những xưởng đúc tiền, chếtạo vũ khí, may mũ áo xây cung điện, chùa chiền Các nghề thủ công truyền thống cũng pháttriển như dệt lụa, làm gốm.

Nhiều trung tâm buôn bán và chợ làng quê được hình thành Nhân dân hai nước Việt Tống thường qua lại trao đổi hàng hóa ở vùng biên giới

-Tóm lại, thời Ngô - Đinh - Tiền Lê, nước ta đã bước đầu xây dựng nền kinh tế tự chủ trongđiều kiện đất nước đã độc lập, các triều vua đã có một số biện pháp khuyến nông như đào vétkênh, vua tổ chức lễ cày Tịch điền; về thủ công nghiệp, các thợ lành nghề không còn bị bắt đưasang Trung Quốc nên kinh tế đã có sự phát triển

C Về văn hóa xã hội:

Xã hội chia thành 3 tầng lớp: tầng lớp thống trị gồm vua, quan văn võ (cùng một số nhàsư); tầng lớp bị trị mà đa số là nông dân tự do, cày ruộng công làng xã; tầng lớp cuối cùng là

nô tì (số lượng không nhiều)

Nho học chưa tạo được ảnh hưởng, giáo dục chưa phát triển Đạo Phật được truyền bárộng rãi, chùa chiền được xây dựng khắp nơi, nhà sư được nhân dân quý trọng Nhiều loạihình văn hóa dân gian như ca hát, nhảy múa, đua thuyền tồn tại và phát triển trong thời giannày

II Trình bày ngắn gọn công lao của các vị anh hùng dân tộc: Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn?

Ngô Quyền: Người tổ chức và lãnh đạo quân dân ta làm nên chiến thắng trên sông Bạch

Đằng năm 938 Đó là một chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta, kết thúc ách thống trị hơn mộtnghìn năm của phong kiến phương Bắc đối với nước ta, mở ra kỉ nguyên độc lập, tự chủ củađất nước

Ngô Quyền xưng vương, đặt nền móng cho một quốc gia độc lập, đã khẳng định nước ta

có giang sơn, bờ cõi riêng, do người Việt làm chủ và tự quyết định vận mệnh của mình

Đinh Bộ Lĩnh: Là người có công lớn trong việc dẹp “Loạn 12 sứ quân” Vì trước nguy cơ

ngoại xâm mới (mưu đồ xâm lược nước ta của nhà Tống) đòi hỏi phải nhanh chóng thống nhất lựclượng để đối phó Đó cũng là nguyện vọng của nhân dân ta thời bấy giờ Đinh Bộ Lĩnh đã hoànthành sứ mệnh lịch sử đó

Việc Đặt tên nước (là Đại Cồ Việt), chọn kinh đô và không dùng niên hiệu của hoàng đếTrung Quốc đã khẳng định đất nước ta là “nước Việt lớn”, nhà Đinh có ý thức xây dựng nềnđộc lập, tự chủ

Lê Hoàn: Là người tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất

năm 981 giành thắng lợi, có ý nghĩa to lớn

Thắng lợi ấy đã biểu thị ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm của quân dân ta; chứng tỏbước phát triển mới của đất nước và khả năng bảo vệ độc lập dân tộc của Đại Cồ Việt

Trong giai đoạn lịch sử củng cố bảo vệ nền độc lập và buổi đầu xây dựng đất nước, NgôQuyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn là những vị anh hùng dân tộc, được nhân ta kính trọng, biết ơn,nhiều nơi lập đền thờ

Chủ đề 4 NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI LÝ (thế kỉ XI - đầu thế kỉ XIII)

I Nhà Lý đã đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước như thế nào?

1 Trình bày sơ lược bối cảnh ra đời của nhà Lý, việc dời đô ra Thăng Long và tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý?

Bối cảnh ra đời nhà Lý:

Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp (Tiên Sơn, Hà Bắc) không có cha, mẹ họ Phạm Thờiniên thiếu của Lý Công Uẩn trải qua trong môi trường Phật giáo Năm lên ba, Lý Công Uẩn

Trang 20

làm con nuôi cho nhà sư Lý Khánh Vân (vì thế ông mang họ Lý) Sau đó ông lại là đệ tử của

Sư Vạn Hạnh và ở hẳn trong chùa Lục Tổ (còn gọi là chùa Cổ Pháp)

Lớn lên, Lý Công Uẩn được giữ một chức nhỏ trong đội cấm quân của vua Lê Đại Hành.Ông nổi tiếng là người liêm khiết và được giới Phật giáo ủng hộ Năm 1005, sau khi Lê ĐạiHành mất, các hoàng tử tranh ngôi, Thái tử Long Việt lên ngôi chỉ mới ba ngày thì bị Lê LongĐĩnh giết Lý Công Uẩn không ngại ngần, ôm xác người vua mới mà khóc Lê Long Đĩnh lênngôi, phong Lý Công Uẩn làm Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ, thống lĩnh toàn thể quân túcvệ

Lê Long Đĩnh chết vào năm 1009 sau một thời gian trị vì tàn bạo Lúc bấy giờ giới Phậtgiáo với các vị cao tăng danh tiếng như sư Vạn Hạnh đang có uy tín trong xã hội và trong triềuđình đang chán ghét nhà Lê, họ cùng quan đại thần là Đào Cam Mộc đưa Lý Công Uẩn lênlàm vua

Lý Công Uẩn lên ngôi, lấy hiệu là Lý Thái Tổ, lập nên nhà Lý Nhà Lý truyền được támđời nên sử sách thường gọi là Lý Bát Đế (không kể đời Lý Chiêu Hoàng)

Lý Thái Tổ với việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La (đổi tên là thành Thăng Long):

Sau khi lên làm vua, Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư chật hẹp nên cho dời đô về Đại La(1010) và đổi tên Đại La thành Thăng Long (Hà Nội) Thăng Long bấy giờ nằm vào vị trítrung tâm của đất nước, là nơi hội tụ của đường bộ, đường sông Theo quan niệm của người

xưa, Thăng Long có "được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc; tiện hình thế núi sông sau trước Xem khắp nước Việt ta chỗ ấy là nơi hơn cả, thật

là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời" (Chiếu dời

đô)

Tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý:

Năm 1054, nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt và tiến hành xây dựng chính quyền quân chủbằng cách tổ chức bộ máy nhà nước gồm :

Chính quyền TW: đứng đầu là vua, dưới có quan đại thần và các quan ở hai ban văn, võ.Chính quyền địa phương: cả nước được chia thành 24 lộ, dưới lộ là phủ, dưới phủ làhuyện, dưới huyện là hương, xã

Đó là chính quyền quân chủ, nhưng khoảng cách giữa chính quyền với nhân dân, giữavua với dân chưa phải là đã xa lắm Nhà Lý luôn coi dân là gốc rễ sâu bền

2 Trình bày những nét chính về luật pháp, quân đội và chính sách đối nội, đối ngoại thời Lý:

Luật pháp:

Năm 1042, nhà Lý ban hành bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta có tên là bộ Luật Hình thư.

Bao gồm những quy định chặt chẽ việc bảo vệ nhà vua và cung điện, xem trọng việc bảo

vệ của công và tài sản của nhân dân; nghiêm cấm việc giết mổ trâu bò, bảo vệ sản xuất nôngnghiệp Người phạm tội bị xử phạt nghiêm khắc

Chính sách đối nội, đối ngoại:

Về đối nội, nhà Lý coi trọng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trang 21

Về đối ngoại, đặt quan hệ ngoại giao bình thường với nhà Tống và Cham-pa Kiên quyếtbảo toàn chủ quyền, lãnh thổ.

3 Trình bày những chuyển biến về kinh tế, xã hội, văn hóa thời Lý:

Về kinh tế:

Do đất nước đã độc lập, hòa bình và ý thức dân tộc cùng những chính sách quản lí, điềuhành phù hợp của nhà Lý nên kinh tế đã có bước phát triển

Nông nghiệp: Nhà nước có nhiều biện pháp quan tâm sản xuất nông nghiệp (lễ cày tịch

điền, khuyến khích khai hoang, đào kênh mương, đắp đê phòng lụt, cấm giết hại trâu bò ),nhiều năm mùa màng bội thu

Thủ công nghiệp và xây dựng: nghề dệt, làm đồ gốm, xây dựng chùa chiền, cung điện, nhà

cửa rất phát triển Các nghề làm đồ trang sức bằng vàng, bạc; làm giấy, đúc đồng, rèn sắt đềuđược mở rộng Nhiều công trình nổi tiếng đã được các thợ thủ công dựng nên như chuông QuyĐiền, tháp Báo Thiên (Hà Nội), vạc Phổ Minh (Nam Định)

Thương nghiệp: việc mua bán trong nước và với nước ngoài được mở mang hơn trước.

Cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) là nơi giao thương buôn bán với nước ngoài rất sầm uất

Về xã hội:

Vua quan là bộ phận chính trong giai cấp thống trị, một số quan lại, một số ít dân thường

có nhiều ruộng cũng trở thành địa chủ

Thành phần chủ yếu trong xã hội là nông dân gắn bó với làng, xã; họ phải làm các nghĩa

vụ với nhà nước và nộp tô cho địa chủ; một số đi khai hoang lập nghiệp ở nơi khác Nhữngngười làm nghề thủ công sống rải rác ở các làng, xã phải nộp thuế và làm nghĩa vụ đối với nhàvua Nô tì phục vụ trong cung điện, các nhà quan

Về văn hóa, giáo dục:

Năm 1070, Văn Miếu được xây dựng ở Thăng Long, năm 1076, mở Quốc tử giám Nhànước rất quan tâm giáo dục, khoa cử Văn học chữ Hán bước đầu phát triển

Các vua Lý rất sùng đạo Phật, khắp nơi đều dựng chùa, tô tượng, đúc chuông

Ca hát, nhảy múa, trò chơi dân gian; kiến trúc, điêu khắc đều phát triển với phong cáchnghệ thuật đa dạng, độc đáo và linh hoạt; tiêu biểu là chùa Một Cột, tượng Phật A-di-đà, hìnhrồng thời Lý,

Việc xây dựng Văn Miếu, Quốc tử giám đánh dấu sự ra đời của nền giáo dục Đại Việt.Những thành tựu về văn hóa - nghệ thuật đã đánh dấu sự ra đời của một nền văn hóa riêng củadân tộc - văn hóa Thăng Long

II Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 - 1077) dưới thời Lý đã diễn ra như thế nào?

1 Âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Tống được thể hiện như thế nào?

Từ giữa thế kỉ XI, tình hình nhà Tống gặp phải những khó khăn: nội bộ mâu thuẫn, nôngdân nổi lên khởi nghĩa, vùng biên ải phía Bắc Tống bị hai nước Liêu - Hạ quấy nhiễu Đốivới Đại Việt, nhà Tống quyết định dùng chiến tranh để giải quyết tình trạng khủng hoảngtrong nước và đưa nước ta trở lại chế độ đô hộ như trước

Nhà Tống xúi giục Cham-pa đánh lên từ phía Nam, còn ở biên giới phía Bắc của Đại Việtchúng ngăn cản việc buôn bán, dụ dỗ, mua chuộc các tù trưởng dân tộc làm phản

2 Trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, nhà Lý đã chủ động chuẩn bị kháng chiến

ra sao?

Nhà Lý đã cử Lý Thường Kiệt làm người chỉ huy, tổ chức cuộc kháng chiến Quân độiđược mộ thêm người và tăng cường canh phòng, luyện tập, làm thất bại âm mưu dụ dỗ củanhà Tống Lý Thánh Tông cùng Lý Thường Kiệt đem quân đánh Cham-pa

Thực hiện chủ trương “tiến công trước để tự vệ”, tháng 10 - 1075, Lý Thường Kiệt đem 10

vạn quân bất ngờ tấn công vào châu Khâm, châu Liêm (Quảng Đông), sau khi tiêu diệt các căn

Trang 22

cứ, kho tàng của giặc, quân ta tiếp tục tấn công châu Ung (Quảng tây) Sau 42 ngày chiến đấu,quân ta hạ thành Ung Châu và nhanh chóng rút về nước

Đây là một chủ trương hết sức độc đáo, táo bạo và sáng tạo, trong binh pháp gọi là “tiên phát chế nhân” (đánh trước để khống chế kẻ thù) Tiến công để tự vệ chứ không phải là xâm

lược Cuộc tiến công diễn ra rất nhanh chỉ nhằm vào các căn cứ quân sự, kho tàng, quân lương

mà quân Tống chuẩn bị để tiến hành cuộc xâm lược Sau khi thực hiện mục đích của mình,quân ta nhanh chóng rút về nước

3 Trình bày diễn biến cuộc kháng chiến chống Tống ở giai đoạn 2 (1076 - 1077) của quân dân Đại Việt?

Sau khi rút quân về nước, Lý Thường Kiệt cho xây dựng các tuyến phòng thủ ở các vị tríhiểm yếu, chiến lược gần biên giới phía Bắc (nơi ta dự đoán quân giặc nhất định sẽ phải điqua) Đặc biệt là tuyến phòng thủ chủ yếu trên bờ Nam sông Như Nguyệt

Sông Như Nguyệt là đoạn sông Cầu chảy qua huyện Yên Phong (bờ Bắc là Bắc Giang,

bờ Nam là Bắc Ninh ngày nay) Đây là đoạn sông có vị trí rất quan trọng, vì nó án ngữ mọicon đường từ phía Bắc chạy về Thăng Long Phòng tuyến dài gần 100 km, được đắp bằng đất,cao, vững chắc; bên ngoài còn có mấy lớp giậu tre dày đặc Quân chủ lực của ta do LýThường Kiệt chỉ huy trực tiếp đóng giữ phòng tuyến quan trọng này

Cuối năm 1076, nhà Tống cử một đạo quân lớn theo hai đường thủy, bộ tiến hành xâm lượcĐại Việt

Tháng 1 - 1077, 10 vạn quân bộ do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy vượt biên giới qua LạngSơn tiến xuống Quân ta chặn đánh, đến trước bờ Bắc sông Như Nguyệt quân Tống bị quân tachặn lại Quân thủy của chúng cũng bị chặn đánh ở vùng ven biển nên không thể tiến sâu vào để

hỗ trợ cho cánh quân bộ

Quân Tống nhiều lần tấn công vào phòng tuyến sông Như Nguyệt để tiến xuống phía Nam,nhưng bị quân ta đẩy lùi Quân Tống chán nản, tuyệt vọng, chết dần chết mòn Cuối năm 1077,quân ta phản công, quân Tống thua to

Quân ta chủ động kết thúc chiến tranh bằng đề nghị “giảng hòa”, quân Tống chấp nhận

ngay và rút về nước Cách kết thúc cuộc kháng chiến của Lý Thường Kiệt rất độc đáo: để đảmbảo mối quan hệ bang giao hòa hiếu giữa hai nước sau chiến tranh, không làm tổn thươngdanh dự của nước lớn, bảo đảm hòa bình lâu dài Đó là truyền thống nhân đạo của dân tộc ta

III Nhân vật tiêu biểu

Ngoài những ông vua lỗi lạc của nhà Lý như Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông,

Lý Nhân Tông, nước Việt thời Lý còn có những nhân vật nổi tiếng như Lê Phụng Hiểu, LýĐạo Thành, Lê Văn Thịnh đặc biệt có Lý Thường Kiệt, một nhà quân sự tài ba và Ỷ LanNguyên phi, một người phụ nữ đã phát huy được khả năng trong việc cai trị đất nước

Ỷ Lan nguyên phi

Ỷ Lan quê ở làng Thổ Lỗi (Thuận Thành, Hà Bắc) Năm 1062, vua Lý Thánh Tông đã 40tuổi mà không có con nên thường đi các nơi để cầu tự Một hôm vua qua làng Thổ Lỗi, trongkhi mọi người đổ ra đường xem xa giá thì bà đang hái dâu, chỉ đứng dựa cây lan mà nhìn Vuathấy thế làm lạ, cho gọi đến để hỏi Thấy bà xinh đẹp, đối đáp dịu dàng lại thông minh sắc sảo,vua đưa về cung và phong làm Ỷ Lan phu nhân Năm 1066 bà sinh Thái tử Càn Đức và đượcphong là Nguyên phi

Lúc bấy giờ giữa Đại Việt và Cham-pa đang xảy ra chiến tranh biên giới Vua Lý ThánhTông phải thân chinh đi đánh (1069) Vua giao cho bà quyền giám quốc Sau nhiều trận khôngthành công, Lý Thánh Tông rút quân về nước Trên đường về kinh đô, nghe báo là bà Ỷ Lan

thay vua trị nước được yên vui, Thánh Tông nghĩ: "Người đàn bà trị nước còn được như thế,

ta đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm à!” Vua đem quân trở lại

và lần này chiến thắng

Trang 23

Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức mới bảy tuổi lên nối ngôi Bà đượcphong làm Thái phi Có tài liệu ghi rằng lúc bấy giờ Thái hậu họ Dương buông rèm lo việctriều chính Ỷ Lan lên làm Hoàng Thái Hậu (tức Linh Nhân Thái Hậu) giúp vua trị nước.Trước họa nhà Tống lăm le xâm lăng Đại Việt, bà đã nghe theo lời Lý Thường Kiệt cho gọi

Lý Đạo Thành trở lại giữ chức Thái phó Bình Chương quân quốc trọng sự để lo việc triềuchính Đây là lúc triều đình nhà Lý tổ chức thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Tống LýThường Kiệt đã đem quân đánh sang tận Ung Châu, Liêm Châu, năm sau chặn đứng quânxâm lăng ở sông Như Nguyệt buộc chúng phải rút về nước Trong việc trị nước, Thái hậu coitrọng việc phát triển nông nghiệp, bảo vệ trâu bò dùng làm sức kéo Thương những phụ nữnghèo khổ phải đem thân thế nợ, không thể lập gia đình, bà cho xuất tiền chuộc họ và tìmngười gả chồng cho Thái hậu cũng chú ý mở mang đạo Phật Tương truyền bà đã cho xâydựng đến 100 ngôi chùa để mong chuộc lại lỗi đã bức tử Dương Thái Hậu cùng các cung nữtrước kia

Lý Thường Kiệt

Lý Thường Kiệt vốn tên là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, quê ở làng An Xá, huyệnQuảng Đức (Cơ Xá, Gia Lâm, Hà Nội) Từ nhỏ ông đã ham chuộng cả văn lẫn võ, thích đọcsách và tập luyện võ nghệ Năm 20 tuổi, ông được bổ làm một chức quan nhỏ trong đội kịbinh Sau theo lời khuyên của vua Lý Thái Tông, ông tự hoạn để vào làm quan trong cung.Ông được thăng dần lên đến chức Đô tri nội thị sảnh, trông coi mọi việc trong cung vua Đếnnăm 1069, ông được cử làm Đại tướng theo vua Lý Thánh Tông tiến công Cham-pa LýThường Kiệt bắt được Chế Củ trong dịp này khi tiến quân đến tận biên giới Chân Lạp (vùngPhan Rang, Phan Thiết ngày nay) Chiến thắng trở về, ông được phong làm Phụ quốc Tháiphó, tước Khai quốc công và được vua Lý nhận làm con nuôi, vì thế ông đổi sang họ Lý và cótên là Lý Thường Kiệt

Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức (7 tuổi, con của Ỷ Lan Nguyên phi) lênnối ngôi, tức là Lý Nhân Tông, Thái hậu Thượng Dương cùng Thái sư Lý Đạo Thành là phụchính nhưng Lý Thường Kiệt giúp Ỷ Lan (đã trở thành Linh Nhân Thái hậu) truất quyền phụchính của Thái hậu Thượng Dương, giáng Lý Đạo Thành xuống làm Tả gián nghị Đại phu vàđổi đi trấn nhậm ở Nghệ An Ỷ Lan lên làm Phụ chính còn Lý Thường Kiệt làm Tể tướng.Lúc bấy giờ ở Trung Quốc, nhà Tống đang gặp khó khăn về mọi mặt Tể tướng của nhàTống là Vương An Thạch đưa ra Tân pháp để giải quyết những bế tắc của Trung Quốc Mộttrong những biện pháp của Tân pháp Vương An Thạch là phải tạo nên uy danh cho nhà Tốngbằng cách bành trướng xuống phía Nam, xâm lăng Đại Việt Do vậy nhà Tống cho tích trữlương thảo, quân dụng tại các thành Ung Châu (Quảng Tây), Khâm Châu và Liêm Châu(Quảng Đông) để chuẩn bị cho cuộc xâm lăng Trước tình thế đó Lý Thường Kiệt chủ trương

như sau: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra đánh trước để chặn mũi nhọn của giặc".

Trước hết để củng cố nội bộ, ông đề nghị cùng Ỷ Lan mời Lý Đạo Thành về lại triều đình giữchức Thái phó trông coi việc triều chính Trước họa nước, Lý Đạo Thành hợp lực cùng LýThường Kiệt tích cực chuẩn bị việc đối phó

Cuối năm 1075, Lý Thường Kiệt đem 10 vạn quân tiến sang đất Tống đánh vào Khâm Châu,Liêm Châu và Ung Châu Sau 42 ngày vây hãm, quân Việt chiếm được thành Ung Châu Sau khiphá hủy phần lớn căn cứ hậu cần của quân Tống, tháng 4.1076, Lý Thường Kiệt cho rút quân về.Cuối năm ấy, nhà Tống cử tướng Quách Quỳ đem 30 vạn quân theo hai đường thủy bộ sang xâmlược Đại Việt Lý Thường Kiệt cho lập phòng tuyến kiên cố dọc theo sông Như Nguyệt để chặnđịch Đồng thời ông cũng cho quân đón đánh thủy binh địch và đã ngăn được hai cánh quân thủy

bộ của địch phối hợp với nhau Trên phòng tuyến Như Nguyệt, chiến trận diễn ra ác liệt Để cổ vũquân sĩ, ông làm nên bài thơ và cho người đêm khuya vào đền thờ Trương Hát ở bờ Nam sôngNhư Nguyệt giả thần nhân đọc vang lên:

Trang 24

Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

(Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)

Nhờ thế tinh thần quân sĩ thêm hăng hái Sau hơn ba tháng đánh không thắng, lực lượng

bộ binh không thể sang sông vì thiếu thủy binh hỗ trợ, quân Tống bị chết mất quá nửa lại thêmbệnh tật đe dọa, Quách Quỳ lâm vào thế quẫn bách Lý Thường Kiệt chủ động đề nghị hòa để

mở lối thoát cho quân địch nhằm sớm chấm dứt chiến tranh Đến tháng ba năm 1077 QuáchQuỳ rút quân về nước Từ đấy quân Tống từ bỏ ý định xâm lược Đại Việt

Chủ đề 5 NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN (THẾ KỈ XIII - XV) VÀ NHÀ HỒ (ĐẦU THẾ KỈ

XV)

I Nước Đại Việt dưới thời Trần:

1 Trình bày những nguyên nhân làm cho nhà Lý sụp đổ và nhà Trần được thành lập?

Từ cuối thế kỉ XII đầu thế kỉ XIII, nhà Lý suy yếu: vua quan ăn chơi xa hoa, bất lực, khôngchăm lo đến đời sống nhân dân; kinh tế khủng hoảng, mất mùa làm nhân dân li tán, đói khổ, bấtmãn và nổi dậy khởi nghĩa Các thế lực phong kiến ở các địa phương đánh giết lẫn nhau càng làmcho nhà Lý thêm suy yếu

Lý Huệ Tông không có con trai, chỉ có hai người con gái Công chúa cả Thuận Thiên, gả choTrần Liễu, con trưởng của Trần Thừa Người con gái thứ hai là Chiêu Thánh, rất được Lý Huệ Tôngyêu mến và lập làm Thái tử Năm 1224, Lý Huệ Tông nhường ngôi cho Chiêu Thánh và vào ởtrong chùa Chân Giáo

Dưới sự sắp đặt của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng lấy con trai thứ của Trần Thừa làTrần Cảnh làm chồng và sau đó nhường ngôi cho Trần Cảnh, triều Lý chấm dứt, triều Trầnthay thế Một cuộc đảo chính không đổ máu đã thành công

Trong hoàn cảnh đó, nhà Trần thành lập, thay nhà Lý quản lí đất nước là việc làm cầnthiết để ổn định tình hình chính trị, xã hội, cải thiện đời sống cho nhân dân, xây dựng và bảo

Tuy nhiên, nhà nước quân chủ trung ương tập quyền được tổ chức hoàn chính và chặt chẽhơn thời Lý Đó là:

- Ở triều đình có thêm chức danh Thái thượng hoàng (vua cha) cùng với con cai quản đấtnước (trong thời gian đầu khi con mới lên ngôi)

- Bộ máy hành chính ở triều đình và các địa phương được tổ chức quy củ và đầy đủ hơn như:

có thêm nhiều cơ quan quản lí nhà nước về các mặt như: Quốc sử viện, Thái y viện, Hà sứ, Khuyếnnông sứ, Đồn điền sứ ; cả nước được chia lại thành 12 lộ; các quý tộc họ Trần được phong vươnghầu và ban thái ấp

Trang 25

Điều đó chứng tỏ nhà Trần đã quan tâm hơn đến nhiều mặt hoạt động của đất nước vànăng lực quản lí được nâng cao.

Bên cạnh đó là việc nhà Trần rất quan tâm đến pháp luật như ban hành bộ luật mới mang

tên “Quốc triều hình luật” (nội dung giống như bộ luật Hình thư thời Lý nhưng được bổ sung

thêm) Luật xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản Đồng thời có những biện pháp để tăng

cường và hoàn thiện cơ quan pháp luật như thành lập Thẩm hình viện, là cơ quan chuyên việc

xét xử kiện cáo

Những việc làm trên đã làm cho pháp luật nhà nước được thực hiện nghiêm minh; gópphần tích cực, có hiệu quả vào việc củng cố vương triều nhà Trần, ổn định xã hội và phát triểnkinh tế

3 Nêu những chủ trương và biện pháp tích cực, tiến bộ của nhà Trần trong việc xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng?

Nhà Trần đã có những chủ trương và biện pháp tích cực, tiến bộ trong việc xây dựngquân đội, củng cố quốc phòng:

Quân đội thời Trần, gồm có cấm quân (đạo quân bảo vệ kinh thành, triều đình và nhàvua) và quân ở các lộ; ở làng xã có hương binh; ngoài ra còn có quân của các vương hầu Bốtrí tướng giỏi, quân đông ở những vùng hiểm yếu, nhất là biên giới phía Bắc Đó là cách tổchức rất chặt chẽ và chuyên nghiệp với tinh thần chủ động và cảnh giác cao, tạo ra sức mạnhtổng hợp giữa quân chủ lực và quân địa phương trong luyện tập và phòng thủ

Quân đội được tuyển và huấn luyện theo chính sách “ngụ binh ư nông” (gửi binh trong dân), “quý hồ tinh bất quý hồ đa” (quân lính cốt tinh nhuệ, không cốt đông); coi trọng học tập

binh pháp và huấn luyện võ nghệ Việc binh lính luân phiên tại ngũ và về làm ruộng, vừa bảođảm việc huấn luyện đội quân thường trực lại vừa bảo đảm phát triển kinh tế

Với chủ trương: lấy đoản binh thắng trường trận, lấy ngắn đánh dài, xây dựng tình đoàn

kết “tướng sỹ một lòng phụ tử”, đoàn kết quân dân, khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc

cùng cách tổ chức, huấn luyện nói trên, nhà Trần đã xây dựng được một đội quân tinh nhuệ,củng cố vững chắc sức mạnh quốc phòng, phát huy được sức mạnh tổng hợp trong phát triểnkinh tế và bảo vệ đất nước

4 Trình bày những nét chính sự phát triển kinh tế, văn hóa thời Trần?

Kinh tế:

+ Nông nghiệp: công cuộc khai khẩn đất hoang, thành lập làng xã được mở rộng, đê điều

được củng cố Các vương hầu, quý tộc chiêu tập dân nghèo đi khai hoang lập điền trang Nhà

Trần ban thái ấp cho quý tộc, đặt chức Hà đê sứ để trông coi việc đắp đê Nhờ vậy nông

nghiệp nhanh chóng phục hồi và phát triển

+ Thủ công nghiệp: do nhà nước trực tiếp quản lí, rất phát triển và mở rộng nhiều ngành

nghề: làm đồ gốm, dệt vải, đúc đồng, rèn sắt, chế tạo vũ khí, đóng thuyền đi biển

+ Thương nghiệp: chợ mọc lên ngày càng nhiều ở các làng xã Ở kinh thành Thăng

Long, bên cạnh Hoàng thành, đã có 61 phường Buôn bán với nước ngoài cũng phát triển, nhất

là ở cảng Vân Đồn (Quảng Ninh)

Văn hóa:

+ Tín ngưỡng cổ truyền được duy trì và có phần phát triển hơn như tục thờ cúng tổ tiên vàcác anh hùng dân tộc

+ Đạo Phật tuy vẫn phát triển nhưng không bằng thời Lý Nho giáo ngày càng phát triển,

có địa vị cao và được trọng dụng

+ Các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian: ca hát, nhảy múa, hát chèo, các trò chơi vẫnđược duy trì, phát triển

+ Nền văn học (bao gồm cả chữ Hán, chữ Nôm) phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc,chứa đựng sâu sắc lòng yêu nước, tự hào dân tộc phát triển rất mạnh ở thời Trần, làm rạng rỡ

Trang 26

cho nền văn hóa Đại Việt như: Hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn, Phú sông Bạch Đằng của

Trương Hán Siêu

Giáo dục và khoa học - kĩ thuật:

+ Quốc tử giám được mở rộng, các lộ, phủ đều có trường học, các kì thi được tổ chức ngàycàng nhiều

+ Năm 1272, tác phẩm Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu ra đời Y học có Tuệ Tĩnh là thầy thuốc

nổi tiếng

+ Về khoa học, Hồ Nguyên Trừng và các thợ thủ công chế tạo được súng thần công và đóngcác loại thuyền lớn

Nghệ thuật:

+ Kiến trúc điêu khắc thời Trần không huy hoàng như thời Lý nhưng cũng có những

công trình quan trọng như tháp mộ của vua Trần Nhân Tông trước chùa Phổ Minh ở Tức Mặc(Nam Định) xây năm 1310, thành Tây Đô ở Thanh Hóa (1397)

+ Âm nhạc thời Trần có chịu ảnh hưởng của Cham-pa Chiếc trống cơm rất thịnh hành

thời ấy nguyên là nhạc khí của Cham-pa Đó là loại da dán hai đầu bằng cơm nghiền, đượcdùng để hòa cùng với dàn nhạc trong các dịp lễ Tết

+ Hát chèo đã manh nha từ thời này và tiếp tục phát triển.

II Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên (thế kỉ XIII).

1 Em biết gì về sức mạnh của quân Mông - Nguyên và âm mưu, quyết tâm xâm lược Đại Việt của chúng?

Đầu thế kỉ XIII, nhà nước phong kiến Mông Cổ được thành lập Với một lực lượng quân

sự hùng mạnh và hiếu chiến, quân Mông Cổ đã liên tiếp xâm lược và thống trị nhiều nước,gieo rắc nỗi kinh hoàng, sợ hãi khắp châu Á, châu Âu

Năm 1257, Mông Cổ tiến đánh Nam Tống nhằm xâm chiếm toàn bộ Trung Quốc Đểđạt được mục đích, chúng quyết định xâm lược Đại Việt rồi đánh thẳng lên phía Nam TrungQuốc

Năm 1279, Nam Tống bị tiêu diệt, Trung Quốc hoàn toàn bị Mông Cổ thống trị (năm

2 Trước âm mưu và hành động của giặc Mông - Nguyên, nhà Trần đã chuẩn bị kháng chiến như thế nào?

Cuối năm 1257, khi được tin quân Mông Cổ chuẩn bị xâm lược, nhà Trần đã ban lệnhcho cả nước sắm sửa vũ khí, các đội dân binh được thành lập, ngày đêm luyện tập

Hốt Tất Liệt cho sứ sang bảo vua Trần phải thần phục Vua Trần Thái Tông cho giamđoàn sứ giả lại rồi sai Trần Hưng Đạo đem quân lên giữ phía Bắc

Nhà Trần đã có chủ trương và đường lối chuẩn bị kháng chiến toàn dân hết sức đúng đắn,cương quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

3 Trình bày nét chính diễn biến ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên?

a Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ (1258).

Không thấy đoàn sứ giả trở về, tháng 1 năm 1258, 3 vạn quân Mông Cổ do Ngột Lương HợpThai chỉ huy tiến vào xâm lược Đại Việt Quân giặc theo đường sông Thao tiến xuống Bạch Hạc(Phú Thọ) rồi tiến đến vùng Bình Lệ Nguyên (Vĩnh Phúc) thì bị chặn lại ở phòng tuyến do vua TrầnThái Tông chỉ huy

Để bảo toàn lực lượng, nhà Trần chủ trương cho quân rút khỏi kinh thành Thăng Long,

thực hiện “vườn không nhà trống” Giặc vào kinh thành không một bóng người và lương thực.

Trang 27

Chúng đã điên cuồng tàn phá kinh thành Thiếu lương thực, lại bị quân ta chống trả, chưa đầymột tháng, lực lượng chúng bị tiêu hao dần.

Nhà Trần mở cuộc phản công lớn ở Đông Bộ Đầu (bến sông Hồng, ở phố Hàng Than

-Hà Nội ngày nay) Ngày 29 - 01 - 1258, quân Mông Cổ thua trận phải rút chạy về nước Cuộckháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ kết thúc thắng lợi

b Cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân xâm lược Nguyên (1285).

Sau khi biết tin quân Nguyên đánh Cham-pa, vua Trần triệu tập các vương hầu, quan lạihọp ở Bình Than (Chí Linh - Hải Dương) để bàn kế đánh giặc Trần Quốc Tuấn được vua giao

cho chỉ huy cuộc kháng chiến Ông soạn Hịch tướng sỹ để động viên tinh thần chiến đấu.

Đầu năm 1285, vua Trần mời các vị bô lão họp Hội nghị Diên Hồng ở Thăng Long đểbàn kế đánh giặc Cả nước được lệnh sẵn sàng, quân đội tập trận lớn ở Đông Bộ Đầu.Tướng sĩ

được khích lệ, ai nấy một lòng diệt giặc Họ lấy mực xăm lên tay hai chữ "sát Thát" để tỏ lòng

quyết tâm của mình

Cuối tháng 1 - 1285, Thoát Hoan chỉ huy 50 vạn quân tiến công Đại Việt Quân ta do TrầnHưng Đạo chỉ huy, sau một số trận chiến đấu ở biên giới đã chủ động rút về Vạn Kiếp (Chí Linh -

Hải Dương) Giặc đến, ta rút về Thăng Long thực hiện “vườn không nhà trống”, rồi rút về Thiên

Trường (Nam Định) Quân Nguyên tuy chiếm được Thăng Long, nhưng chỉ dám đóng quân ở phíaBắc sông Nhị (sông Hồng)

Toa Đô từ Cham-pa đánh ra Nghệ An, Thanh Hóa Thoát Hoan mở cuộc tiến công xuống phía

Nam tạo thế “gọng kìm” hi vọng tiêu diệt chủ lực ta và bắt sống vua Trần Quân ta chiến đấu dũng

cảm, Thoát Hoan phải rút quân về Thăng Long Quân Nguyên lâm vào tình thế bị động, thiếu lươngthực trầm trọng

Từ tháng 5 - 1285, quân ta bắt đầu phản công, nhiều trận đánh lớn như: Tây Kết, Hàm Tử(Khoái Châu - Hưng Yên), Chương Dương (Thường Tín - Hà Tây) Quân ta tiến vào Thănglong, quân Nguyên tháo chạy Sau hơn 2 tháng phản công, quân ta đã đánh tan hơn 50 vạnquân Nguyên, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân Nguyên

c Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân xâm lược Nguyên (1287 - 1288).

Đứng trước nguy cơ bị xâm lược, nhà Trần khẩn trương chuẩn bị, tăng cường quân ởnhững nơi hiểm yếu, nhất là vùng biên giới và vùng biển

Cuối tháng 12 - 1287, quân Nguyên tiến vào nước ta Cánh quân bộ do Thoát Hoan chỉhuy vượt biên giới đánh vào Lạng Sơn, Bắc Giang rồi kéo về Vạn Kiếp Cánh quân thủy do Ô

Mã Nhi chỉ huy theo đường biển tiến vào sông Bạch Đằng rồi về Vạn Kiếp

Tại Vân Đồn, Trần Khánh dư chỉ huy quân mai phục, khi đoàn thuyền lương của TrươngVăn Hổ đến, quân ta đánh dữ dội Phần lớn thuyền lương của giặc bị đắm, số còn lại bị tachiếm

Cuối tháng 1 - 1288, Thoát Hoan vào thành Thăng Long trống vắng Sau trận Vân Đồn,tình thế quân Nguyên ngày càng khó khăn, nhiều nơi xung yếu bị quân ta tấn công chiếm lại,lương thực ngày càng cạn kiệt, Thăng Long có nguy cơ bị cô lập Thoát Hoan quyết định rútquân về Vạn Kiếp và từ đây rút về nước theo hai đường thủy, bộ

Nhà Trần mở cuộc phản công ở cả hai mặt trận thủy, bộ Tháng 4 - 1288, đoàn thuyềncủa Ô Mã Nhi đã lọt vào trận địa bãi cọc trên sông Bạch Đằng do ta bố trí từ trước, cuộc chiếnđấu ác liệt diễn ra, Ô Mã Nhi bị bắt sống Trên bộ, Thoát Hoan dẫn quân từ Vạn Kiếp theohướng Lạng Sơn rút về Trung Quốc, bị quân ta liên tục chặn đánh, Thoát Hoan phải chui vàoống đồng thoát thân

Tuy thắng trận, nhưng trước sức mạnh của quân Nguyên, vua Trần Nhân Tông cho ngườisang xin giảng hòa Vua Nguyên cũng đành bằng lòng Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quânNguyên đã kết thúc thắng lợi vẻ vang

4 Trình bày nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên dưới thời Trần?

Trang 28

Nguyên nhân thắng lợi:

Tất cả các tầng lớp nhân dân, các thành phần dân tộc đều tham gia đánh giặc, bảo vệ quêhương đất nước tạo thành khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó các quý tộc, vương hầu nhà Trần làhạt nhân lãnh đạo

Sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cho mỗi cuộc kháng chiến Đặc biệt, nhà Trần rất quantâm chăm lo sức dân, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân bằng nhiều biện pháp

để tạo nên sự gắn bó giữa triều đình và nhân dân

Tinh thần hi sinh, quyết chiến quyết thắng của toàn dân mà nòng cốt là quân đội

Chiến lược, chiến thuật đúng đắn, sáng tạo của vương triều Trần, đặc biệt là của vua TrầnNhân Tông, các danh tướng Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư đã buộc giặc

từ thế mạnh chuyển dần sang thế yếu, từ chủ động chuyển sang bị động để tiêu diệt chúng,giành thắng lợi

Ý nghĩa lịch sử:

Đập tan tham vọng và ý chí xâm lược Đại Việt của đế chế Mông - Nguyên, bảo vệ đượcđộc lập, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của dân tộc

Thể hiện sức mạnh của dân tộc, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược (góp phần nâng cao lòng

tự hào dân tộc, củng cố niềm tin cho nhân dân )

Góp phần xây dựng truyền thống dân tộc, xây dựng học thuyết quân sự, để lại nhiều bàihọc cho đời sau trong cuộc đấu tranh chống xâm lược

III Nhân vật, di tích tiêu biểu thời Trần: (tham khảo)

Nhà Trần đã để lại một dấu ấn lớn trong lịch sử Việt Nam với sự nở rộ đáng kể về sốlượng danh nhân Ta có thể phân biệt các danh nhân dưới triều Trần ra làm hai: Danh nhânthuộc họ Trần và danh nhân ngoài dòng họ Trần Trong họ Trần, đó là Trần Thái Tông (TrầnCảnh, 1218-1277), Trần Thánh Tông (Trần Hoảng, 1240-1290), Trần Nhân Tông (TrầnKhâm, 1258-1308), Trần Hưng Đạo (12??-1300), Trần Quang Khải (1241-1294), Trần Khánh

Dư (?-1285), Trần Thủ Độ (1194-1264), Trần Huyền Trân, Trần Khát Chân (?-1399), TrầnQuốc Toản Những danh nhân ngoài dòng họ Trần có thể kể như sau: Lê Văn Hưu (1230-1322), Nguyễn Thuyên, Chu Văn An (1292-1370), Mạc Đĩnh Chi (1272-1346), Phạm NgũLão (1255-1320), Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Hiền, Trương Hán Siêu (?-1354), Phạm SưMạnh, Hồ Tông Thốc Trong số các danh nhân ấy, xin giới thiệu một người trong dòng họTrần là thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản và một nhân vật ngoài dòng họ Trần là Lê VănHưu, sử gia đầu tiên của đất nước

Trần Quốc Toản (1266-?)

Hội nghị Bình Than là một hội nghị giữa nhà vua cùng các vương hầu, quan lại, tướng soáicao cấp của nhà Trần để bàn sách lược chống lại sự xâm lăng của Nguyên Mông Trong khôngkhí bừng bừng ấy, một thiếu niên tôn thất nhà Trần là Trần Quốc Toản có theo đến nhưng vì cònnhỏ (16 tuổi) nên không được dự bàn Quốc Toản uất ức, tay đương cầm quả cam bóp nát ra lúcnào không biết Khi tan hội, các vương hầu ai nấy ra về, lo việc sắm sửa binh thuyền để cự địch

Trần Quốc Toản cũng thế, về nhà cho may một lá cờ to với sáu chữ "Phá cường địch, báo hoàng ân" (phá giặc mạnh, báo ơn vua) Ông tụ họp được hơn nghìn người thân thuộc, cùng nhau chuẩn

bị vũ khí để chống giặc Đến khi xuất trận, Quốc Toản luôn đi trước, khí thế dũng mãnh, đánh chỗnào quân địch cũng phải lùi

Trong hai cuộc chiến thắng chống quân Nguyên (1284 - 1288), Trần Quốc Toản đều lậpđược công lớn Trong trận Hàm Tử (1284), Quốc Toản được cử làm phó tướng cho Trần NhậtDuật, thắng trận, Quốc Toản được hân hạnh là người đưa tin về cho Trần Hưng Đạo Đến trậnChương Dương, Quốc Toản đã cùng Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão đốc quân từ Thanh Hóa

đi vòng đường bể đến tấn công bất ngờ vào quân Nguyên ở Chương Dương Trong trận đuổiquân Thoát Hoan ra khỏi thành Thăng Long, Quốc Toản cũng góp phần đáng kể

Trang 29

Không rõ vị dũng tướng thiếu niên này hy sinh trong trận nào và vào năm nào Chỉ biếtmột chi tiết là khi Quốc Toản chết trận, vua Trần Nhân Tông thương khóc làm bài văn tế cónội dung như sau:

Cờ đề sáu chữ giải hờn này Lăn lóc muôn quân vẫn đánh say Công thắng quân Nguyên đà chắc trước,

Từ khi cam nát ở trong tay (bản dịch)

Lê Văn Hưu (1230-1322)

Lê Văn Hưu là một học giả xuất sắc của đời Trần, và được hậu thế xem là sử gia đầu tiêncủa Việt Nam Ông quê làng Phủ Lý (thôn Phủ Lý Nam, xã Thiệu Trung), huyện Đông Sơn,tỉnh Thanh Hóa Ông nổi tiếng là người thông minh và học giỏi từ nhỏ Năm 1247 nhà Trần mởkhoa thi đầu tiên lấy tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), Lê Văn Hưu đậu Bảngnhãn, lúc đó ông mới 17 tuổi, Ông được bổ làm Kiểm pháp quan (một chức quan về hình luật),sau lại được sung chức Hàn lâm viện Học sĩ kiêm Quốc sử viện Tu giám Thời gian này Lê Văn

Hưu được vua Trần Thái Tông sai soạn bộ "Đại Việt sử ký" viết về lịch sử Việt Nam từ đời

Triệu Đà (207 trước Công nguyên) đến đời Lý Chiêu Hoàng Không rõ Lê Văn Hưu soạn bộnày từ lúc nào, chỉ biết đến năm 1272 thì hoàn tất Bộ sử gồm tất cả ba mươi quyển, được đưalên cho vua Trần Thánh Tông xem và được nhà vua khen ngợi

Lê Văn Hưu có thời gian làm đến Thượng Thư bộ binh và là phó của Thượng tướng TrầnQuang Khải, được phong tước Nhân Uyên hầu Ông mất ngày 23.3 năm Nhâm Tuất (1332) thọ

92 tuổi, an táng tại xứ Mả Giòm, nay thuộc thôn Phủ Lý Nam, xã Thiệu Trung, huyện ĐôngSơn, tỉnh Thanh Hóa

Tác phẩm của Lê Văn Hưu được biết duy nhất chỉ có bộ "Đại Việt sử ký" nhưng nay đã

thất truyền Tuy thế, chính từ cơ sở chủ yếu của bộ sử này mà Ngô Sĩ Liên, một sử gia đời Lê

đã soạn được bộ "Đại Việt sử ký toàn thư" có giá trị để người đời sau hiểu về cội nguồn của

dân tộc

IV Sự suy sụp của nhà Trần cuối thế kỉ XIV và những cải cách của Hồ Quý Ly.

1 Sự suy yếu của nhà Trần cuối thế kỉ XIV được biểu hiện như thế nào?

Tình hình kinh tế:

Từ nửa sau thế kỉ XIV, nhà nước không còn quan tâm đến sản xuất nông nghiệp, đê điều,các công trình thủy lợi không được chăm lo, tu sửa, nhiều năm xảy ra mất mùa Nông dân phảibán ruộng, thậm chí cả vợ con cho quý tộc và địa chủ

Quý tộc, địa chủ ra sức cướp đoạt ruộng đất công của làng xã Triều đình bắt dân nghèomỗi năm phải nộp ba quan tiền thuế đinh

Tình hình xã hội:

Vua, quan, quý tộc, địa chủ thả sức ăn chơi xa hoa, xây dựng nhiều dinh thự, chùa chiền tốn kém tiền của

Trong triều nhiều kẻ gian tham, nịnh thần làm rối loạn kỉ cương, phép nước Chu Văn

An đã dâng sớ đòi chém 7 tên nịnh thần nhưng nhà vua không nghe

Khi vua Trần Dụ Tông mất (1369), Dương Nhật Lễ lên thay, tình hình càng trở nên rối loạn, nông dân nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi Đầu năm 1334, Ngô Bệ hô hào nông dân ở Yên Phụ (Hải Dương) đứng lên khởi nghĩa, bị triều đình đàn áp nên thất bại Đầu năm 1344, nhà

sư Phạm Sư Ôn hô hào nông dân ở Quốc Oai (Sơn Tây) nổi dậy Nghĩa quân đã chiếm thành Thăng Long trong ba ngày Cuộc khởi nghĩa thất bại vì bị triều đình tập trung lực lượng đàn áp.

Như vậy, đến cuối thế kỉ XIII, triều Trần đã bộc lộ sự suy sụp, yếu kém trong quản lí, điều hànhđất nước

2 Trình bày sự thành lập nhà Hồ và những cải cách của Hồ Quý Ly?

Nhà Hồ được thành lập:

Trang 30

Những cuộc khởi nghĩa của nông dân đã làm cho nhà Trần không còn giữ được vai tròcủa mình.

Lê Quý Ly vốn có tổ tiên họ Hồ, người Chiết Giang (Trung Quốc) sang sinh sống ở Quỳnh Lưu Đến ông tổ bốn đời của Quý Ly lại dời ra Thanh Hóa làm con nuôi cho một gia đình họ Lê nên đổi ra họ Lê Quý Ly có hai người cô đều lấy vua Trần Minh Tông, một người

là mẹ của vua Trần Nghệ Tông, người kia là mẹ của Trần Duệ Tông Dưới triều vua Trần Nghệ Tông (1370-1372), Lê Quý Ly làm đến chức Khu Mật đại sứ và rất được Nghệ Tông tin dùng Vào đời Trần Duệ Tông (1372-1377), ngoài việc bản thân vua là con người cô của Quý

Ly, thì hoàng hậu cũng là em họ của Quý Ly Uy quyền của Quý Ly vì thế nghiêng trời lệch đất.

Năm 1400, Quý Ly phế truất vua Trần và lên làm vua, lấy lại họ Hồ của Tổ tiên, lập ranhà Hồ Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu (vì họ Hồ vốn dòng dõi nhà Ngu bênTrung Hoa)

Những cải cách của Hồ Quý Ly:

Về chính trị: Thay thế dần các võ quan cao cấp do quý tộc, tôn thất nhà Trần nắm giữ

bằng những người không phải họ Trần thân cận với mình

Đổi tên một số đơn vị hành chính cấp trấn và quy định cách làm việc của bộ máy chínhquyền các cấp Các quan ở triều đình phải về các lộ để nắm tình hình

Về kinh tế, tài chính, xã hội: Phát hành tiền giấy thay cho tiền đồng; ban hành chính

sách “hạn điền”, quy định số ruộng đất mà các vương hầu, quan lại cùng địa chủ được phép

có Không ai có quyền sở hữu trên 10 mẫu ruộng Nếu quá con số ấy thì biến thành tài sản của

nhà nước Chế độ “hạn nô” cũng được ban hành, quy định mỗi hạng người chỉ có được một số

nô tỳ nhất định; quy định lại biểu thuế đinh, thuế ruộng; năm đói kém bắt nhà giàu phải bánlương thực cho dân

Về văn hóa, giáo dục: Bắt nhà sư dưới 50 tuổi phải hoàn tục; cho dịch chữ Hán ra chữ

Nôm, yêu cầu mọi người phải học Ngay sau khi lên ngôi được 5 tháng, Hồ Quý Ly đã cho tổchức kỳ thi Thái học sinh, chọn được 20 người đỗ, trong đó có Nguyễn Trãi Ba năm sau, nhà

Hồ ấn định cách thức thi cử và có những chính sách quan tâm đến việc học hành, thi cử

Chính sách khuyến học của nhà Hồ đã đưa đến kết quả đáng kể Năm 1405, có đến 170người thi đỗ và được bổ dụng vào bộ máy quan chức của nhà Hồ

Về quân sự: Thực hiện một số biện pháp nhằm tăng cường củng cố quân sự và quốc

phòng như chế tạo súng thần công, đóng chiến thuyền, bắt tất cả mọi người từ hai tuổi trở lênđều phải ghi vào sổ hộ tịch Nhờ thế quân số và sức mạnh quốc phòng được tăng thêm

Những cải cách của Hồ Quý Ly đụng chạm đến hầu hết các giai tầng xã hội, nhất là tầng

lớp quý tộc với các phép “hạn điền”, “hạn nô” Vì thế phản ứng của tầng lớp này rất quyết liệt.

Những biện pháp kinh tế của Hồ Quý Ly lại chưa có thời gian để trở thành hiện thực nên chưalôi kéo được quần chúng nhân dân Bên cạnh đó, việc cướp ngôi nhà Trần đã làm bất bình giớinho sĩ từng thấm nhuần tư tưởng trung quân ái quốc Do đó nhà Hồ đã không động viên được

sự đoàn kết toàn dân, cuộc chiến chống Minh vì thế thất bại

Chủ đề 6 NƯỚC ĐẠI VIỆT ĐẦU THẾ KỈ XV, THỜI LÊ SƠ

I Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược đầu thế kỉ XV.

1 Trình bày cuộc xâm lược của nhà Minh và sự thất bại của nhà Hồ?

Tháng 11 - 1946, nhà Minh huy động 20 vạn quân cùng hàng chục vạn dân phu, do tướngTrương Phụ cầm đầu, chia làm hai cánh tràn vào biên giới nước ta ở Lạng Sơn, nhà Hồ chống

cự không được phải lui về bờ Nam sông Nhị (sông Hồng), cố thủ ở thành Đa Bang (Ba Vì, naythuộc Hà Nội)

Trang 31

Cuối tháng 1 - 1407, quân Minh đánh chiếm Đa Bang rồi tràn xuống chiếm Đông Đô(Thăng Long), nhà Hồ lui về Tây Đô (Thanh Hóa).

Tháng 4 - 1407, quân Minh đánh chiếm Tây Đô, nhà Hồ chạy về Hà Tĩnh, Hồ Quý Ly bịbắt vào tháng 6 - 1407 Cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại

Nhà Hồ bị thất bại nhanh chóng là do đường lối đánh giặc sai lầm và do không đoàn kếtđược toàn dân kháng chiến

2 Đường lối của nhà Trần trong kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên

và của nhà Hồ trong kháng chiến chống quân Minh có gì khác nhau?

Hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhà Trần và nhà Hồ có sự khác nhau căn bản,

đó là:

Cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên của nhà Trần được tiến hành theo đườnglối kháng chiến toàn dân, dựa vào nhân dân để đánh giặc; với chiến lược và chiến thuật sáng

tạo, lấy “đoản binh thắng trường trận”, vừa đánh cản giặc vừa rút lui để bảo toàn lực lượng;

đoàn kết toàn dân, phối hợp, huy động toàn dân cùng các lực lượng để đánh giặc; chủ động,phát huy chỗ mạnh của quân dân ta, khai thác chỗ yếu của kẻ thù, buộc chúng phải đánh theocách đánh của ta

Còn kháng chiến chống quân Minh của nhà Hồ lại không dựa vào dân, không đoàn kếtđược toàn dân mà chiến đấu đơn độc

3 Nhà Minh đã thi hành chính sách cai trị tàn bạo đối với nước ta như thế nào?

Sau khi thắng được nhà Hồ, nhà Minh biến nước ta thành quận, huyện của Trung Quốc nhưthời Bắc thuộc; thiết lập chính quyền thống trị, đổi tên nước ta thành quận Giao Chỉ và sáp nhậpvào Trung Quốc

Chúng thi hành chính sách đồng hóa triệt để ở tất cả các mặt như: bắt rất nhiều phụ nữ,trẻ em, thầy thuốc, thợ giỏi về Trung Quốc; bóc lột dân ta thông qua hàng trăm thứ thuế rất tànbạo; tàn phá các công trình văn hóa, lịch sử, đốt sách hoặc mang về Trung Quốc

Trong vòng 20 năm đô hộ, nhà Minh đã làm cho xã hội nước ta thêm khủng hoảng sâusắc, đất nước bị tàn phá, lạc hậu, nhân dân lâm vào cảnh lầm than điêu đứng

4 Trình bày những nét chính diễn biến và nhận xét về các cuộc khởi nghĩa của quý tộc nhà Trần chống quân Minh xâm lược?

+ Cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi (1407 - 1409):

Trần Ngỗi là con của vua Trần, tháng 10 - 1407, tự xưng là Giản Định Hoàng đế

Đầu năm 1408, Trần Ngỗi kéo quân vào Nghệ An, được Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chânhưởng ứng

Tháng 12 - 1408, nghĩa quân tiến đánh thành Bô Cô (Nam Định) Sau đó, Trần Ngỗinghe lời gièm pha giết hại hai tướng Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân Cuộc khởi nghĩa tan rãdần

+ Cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng (1409 - 1414):

Sau khi Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân bị giết , con của hai ông là Đặng Dung và NguyễnCảnh Dị cùng nhiều nghĩa quân bỏ vào Nghệ An, đưa Trần Quý Khoáng lên ngôi vua, hiệu làTrùng Quang đế

Cuộc khởi nghĩa phát triển từ Thanh Hóa đến Hóa Châu

Tháng 8 - 1413, quân Minh tăng cường đàn áp, cuộc khởi nghĩa thất bại

+ Nhận xét:

Chế độ thống trị tàn bạo của nhà Minh không tiêu diệt được tinh thần đấu tranh giảiphóng dân tộc của nhân dân ta bấy giờ, ngược lại càng làm cho cuộc đấu tranh thêm mạnh mẽ.Đặc điểm của các cuộc khởi nghĩa này là nổ ra sớm, khá liên tục, mạnh mẽ nhưng thiếu sựphối hợp

Nguyên nhân thất bại là do thiếu sự liên kết, chưa tạo nên một phong trào chung, nội bộnhững người lãnh đạo có mâu thuẫn (khởi nghĩa Trần Ngỗi)

Trang 32

II Trình bày những nét chính diễn biến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn?

1 Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa:

Lê Lợi (1385 - 1433), là một Hào trưởng có uy tín ở Lam Sơn (Thanh Hóa) Căm giậnquân cướp nước, ông đã dốc hết tài sản, chiêu tập nghĩa sĩ ở khắp nơi để chuẩn bị cho cuộckhởi nghĩa

Nghe tin Lê Lợi đang chuẩn bị dựng cờ khởi nghĩa, nhiều người yêu nước từ khắp nơi tìm

về Lam Sơn, trong đó có Nguyễn Trãi

Đầu năm 1418, Lê Lợi cùng 18 người trong bộ chỉ huy cuộc khởi nghĩa đã tiến hành mởHội thề ở Lũng Nhai (Thanh Hóa) Ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (7 - 2 - 1418), Lê Lợidựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn và tự xưng là Bình Định Vương

2 Những năm đầu hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn:

Do lực lượng còn mỏng và yếu, quân Minh nhiều lần tấn công bao vây căn cứ Lam Sơn,nghĩa quân phải ba lần rút lên núi Chí Linh, chịu đựng rất nhiều khó khăn, gian khổ, nhiều tấmgương chiến đấu hi sinh dũng cảm xuất hiện, tiêu biểu là Lê Lai

Mùa hè năm 1423, Lê Lợi đề nghị tạm hòa, được quân Minh chấp nhận, nghĩa quân trở

về Lam Sơn và tiếp tục hoạt động

Cuối năm 1424, quân Minh trở mặt tấn công Lam Sơn Cuộc khởi nghĩa chuyển sang giaiđoạn mới

3 Giải phóng Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa và tiến quân ra Bắc (1424 - 1426):

Giải phóng Nghệ An (năm 1424): Theo kế hoạch của Nguyễn Chích, được Lê Lợi chấp

thuận, ngày 12 - 10 -1424, nghĩa quân bất ngờ tấn công Đa Căng (Thọ Xuân - Thanh Hóa),sau đó hạ thành Trà Lân Trên đà thắng lợi, tiến đánh Khả Lưu, phần lớn Nghệ An được giảiphóng

Giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa (năm 1425): Tháng 8 - 1425, Trần Nguyên Hãn, Lê

Ngân chỉ huy nghĩa quân tiến vào giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa, vùng giải phóng của nghĩaquân đã kéo dài từ Thanh Hóa đến đèo Hải Vân Quân Minh chỉ còn mấy thành lũy bị cô lập và

bị nghĩa quân vây hãm

Tiến quân ra Bắc, mở rộng phạm vi hoạt động (cuối năm 1426): tháng 9 - 1426, nghĩa

quân chia làm ba đạo tiến quân ra Bắc:

- Đạo thứ nhất, tiến ra giải phóng miền Tây Bắc, ngăn chặn viện binh từ Vân Nam sang

- Đạo thứ hai, giải phóng vùng hạ lưu sông Nhị (sông Hồng) và chặn đường rút lui củagiặc từ Nghệ An về Đông Quan

- Đạo thứ ba, tiến thẳng về Đông Quan

Nghĩa quân đi đến đâu cũng được nhân dân ủng hộ về mọi mặt và đã chiến thắng nhiều trậnlớn, quân Minh phải rút vào thành Đông Quan cố thủ Cuộc khởi nghĩa chuyển sang giai đoạntổng phản công

4 Khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng (cuối năm 1427 - cuối năm 1428):

Trận Tốt Động - Chúc Động (cuối năm 1426):

Tháng 10 - 1426, 5 vạn viện binh giặc do Vương Thông chỉ huy kéo vào thành ĐôngQuan, nâng số quân Minh ở đây lên 10 vạn Để giành thế chủ động, Vương Thông tiến đánhquân chủ lực của nghĩa quân ở Cao Bộ (Chương Mĩ - Hà Tây) Biết trước được âm mưu củagiặc, quân ta phục binh ở Tốt Động - Chúc Động Kết quả, 5 vạn tên giặc bị thương tháo chạy

về Đông Quan Nghĩa quân thừa thắng kéo về vây hãm thành Đông Quan và giải phóng thêmnhiều châu, huyện

Trận Chi Lăng - Xương Giang (tháng 10 - 1427):

Đầu tháng 10 - 1427, 15 vạn viện binh được chia thành hai đạo từ Trung Quốc kéo sang.Một đạo do Liễu Thăng chỉ huy từ Quảng Tây kéo vào Lạng Sơn Đạo thứ hai do Mộc Thạnhchỉ huy từ Vân Nam kéo vào theo hướng Hà Giang

Trang 33

Ngày 8 - 10, Liễu Thăng bị nghĩa quân phục kích và giết ở ải Chi Lăng, Phó tướng làLương Minh lên thay tiếp tục tiến xuống Xương Giang, bị nghĩa quân phục kích ở Cần Trạm,Phố Cát, bị tiêu diệt 3 vạn tên Mấy vạn tên còn lại cố tiến xuống Xương Giang co cụm giữacánh đồng nhưng bị nghĩa quân tấn công từ nhiều hướng, gần 5 vạn tên bị tiêu diệt, số còn lại

5 Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

Nhờ đường lối chiến lược, chiến thuật đúng đắn, sáng tạo của bộ tham mưu nghĩa quân,đứng đầu là Lê Lợi, Nguyễn Trãi

Ý nghĩa lịch sử:

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi đã kết thúc 20 năm đô hộ tàn bạo của phong kiến nhàMinh

Mở ra một thời kì mới trong lịch sử dân tộc - thời Lê sơ

III Chế độ PK tập quyền thời Lê sơ:

1 Trình bày tổ chức bộ máy chính quyền thời Lê sơ?

Sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi đất nước, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, khôi phục lạiquốc hiệu Đại Việt

Tổ chức bộ máy chính quyền: đứng đầu triều đình là vua Vua trực tiếp nắm mọi quyềnhành, kể cả chức Tổng Chỉ huy quân đội

Giúp việc cho vua có các quan đại thần Ở triều đình có 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình,Công Ngoài ra, còn có một số cơ quan chuyên môn như Hàn lâm viện (soạn thảo công văn),Quốc sử viện (viết sử), Ngự sử đài (can gián vua và các triều thần)

Thời Lê Thái Tổ, Thái Tông, cả nước chia làm 5 đạo; từ thời Thánh Tông, được chia lạithành 13 đạo thừa tuyên Đứng đầu mỗi đạo thừa tuyên là ba ti phụ trách ba mặt hoạt độngkhác nhau của mỗi đạo Dưới đạo có phủ, châu, huyện và xã

2 Trình bày những nét chính về tổ chức quân đội và luật pháp thời Lê sơ?

Tổ chức quân đội:

Quân đội dưới thời Lê sơ tiếp tục được tổ chức theo chế độ “ngụ binh ư nông”.

Quân đội có hai bộ phận chính: quân triều đình và quân địa phương; bao gồm bộ binh,thủy binh, tượng binh và kị binh

Vũ khí có đao, kiếm, cung tên, hỏa đồng, hỏa pháo

Quân đội được luyện tập thường xuyên và bố trí canh phòng khắp nơi, nhất là những nơihiểm yếu

Trang 34

chủ quyền quốc gia, khuyến khích phát triển kinh tế, gìn giữ những truyền thống tốt đẹp củadân tộc, bảo vệ một số quyền của phụ nữ.

3 Tình hình kinh tế thời Lê sơ:

Đặt một số quan chuyên lo sản xuất nông nghiệp: Khuyến nông sứ, Hà đê sứ, Đồn điềnsứ thi hành chính sách quân điền, cấm giết trâu, bò và bắt dân đi phu trong mùa gặt, cấy.Nhờ các biện pháp tích cực, sản xuất nông nghiệp nhanh chóng phục hồi và phát triển

+ Thủ công nghiệp, thương nghiệp:

Nhiều làng thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời Thăng Long là nơi tập trung nhiềungành nghề thủ công nhất; hình thành các công xưởng do nhà nước quản lí gọi là Cục báchtác, chuyên sản xuất đồ dùng cho vua, vũ khí, đúc tiền ; khuyến khích lập chợ mới và họpchợ

Buôn bán với nước ngoài được phát triển, các sản phẩm sành, sứ, vải lụa, lâm sản quý lànhững mặt hàng được thương nhân nước ngoài ưa chuộng

4 Trình bày những nét chính về tình hình các giai cấp, tầng lớp trong xã hội thời Lê sơ?

Giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại đa số dân cư trong xã hội và sống chủ yếu ở nôngthôn, họ có rất ít hoặc không có ruộng đất, phải cày cấy thuê cho địa chủ, quan lại và phải nộptô

Thương nhân, thợ thủ công ngày càng đông, họ nộp thuế cho nhà nước

Nô tì là tầng lớp xã hội thấp kém nhất, số lượng giảm dần Nhà nước cấm bán mình hoặcbức dân tự do làm nô tì

Nhờ sự nỗ lực của nhân dân và chính sách khuyến nông của nhà nước nên đời sống nhân dânđược ổn định, dân số ngày càng tăng, nhiều làng mới được thành lập Đại Việt là quốc gia cườngthịnh nhất Đông Nam Á thời bấy giờ

5 Trình bày những chính sách của nhà nước và sự phát triển của văn hóa, giáo dục, văn học khoa học và nghệ thuật thời Lê sơ?

+ Giáo dục và khoa cử:

- Vua Lê Thái Tổ cho dựng lại Quốc tử giám ở kinh thành Thăng Long; ở các đạo, phủđều có trường công, hằng năm mở khoa thi để tuyển chọn quan lại Đa số dân đều có thể đihọc, trừ kẻ phạm tội và làm nghề ca hát

- Nội dung học tập, thi cử là các sách của đạo Nho Đạo Nho chiếm địa vị độc tôn, Phật giáo,Đạo giáo bị hạn chế

- Thời Lê sơ (1428 - 1527), tổ chức được 26 khoa thi, lấy đỗ 989 Tiến sỹ và 20 Trạngnguyên

+ Văn học, khoa học, nghệ thuật:

- Văn học chữ Hán tiếp tục chiếm ưu thế; văn học chữ Nôm giữ vị trí quan trọng Văn thơthời Lê sơ có nội dung yêu nước sâu sắc, thể hiện niềm tự hào dân tộc, khí phách anh hùng vàtinh thần bất khuất của dân tộc

- Sử học có tác phẩm Đại Việt sử kí, Đại Việt sử kí toàn thư

- Địa lí có tác phẩm Hồng Đức bản đồ, Dư địa chí

- Y học có tác phẩm Bản thảo thực vật toát yếu

- Toán học có tác phẩm Đại thành toán pháp

- Nghệ thuật sân khấu, ca, múa, nhạc, chèo, tuồng đều phát triển

Trang 35

- Điêu khắc có phong cách khối đồ sộ, kĩ thuật điêu luyện.

6 Trình bày những hiểu biết của em về một số danh nhân văn hóa xuất sắc của dân tộc thời Lê sơ?

+ Nguyễn Trãi (1380 - 1442): (tham khảo thêm: Lịch sử Việt Nam)

- Là nhà chính trị, quân sự tài ba, anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới

- Có nhiều tác phẩm giá trị: Bình Ngô sách, Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Quốc âm thi tập, Ức Trai thi tập

- Tư tưởng của ông tiêu biểu cho tư tưởng của thời đại Cả cuộc đời ông luôn nêu caolòng nhân nghĩa, yêu nước thương dân

- Thơ văn của ông chứa đựng tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sâu sắc

+ Ngô Sĩ Liên (thế kỉ XV): là nhà Sử học nổi tiếng ở thế kỉ XV, là một trong những tác

giả bộ Đại Việt sử kí toàn thư (15 quyển).

+ Lương Thế Vinh (1442 -?): Là nhà Toán học nổi tiếng thời Lê sơ, với nhiều tác phẩm

có giá trị: Đại thành toán pháp, Thiền môn giáo khoa

Chủ đề 7 NƯỚC ĐẠI VIỆT Ở CÁC THẾ KỈ XVI - XVII

I Trình bày tổng quát bức tranh chính trị, xã hội Đại Việt ở các thế kỉ XVI - XVII?

1 Sự sa đọa của triều đình PK nhà Lê từ thế kỉ XVI:

- Từ đầu thế kỉ XVI, vua, quan ăn chơi xa xỉ, xây dựng cung điện, lâu đài tốn kém.

- Nội bộ triều Lê “chia bè kéo cánh’, tranh giành quyền lực Dưới triều Lê Uy Mục, quýtộc ngoại thích nắm hết quyền lực, giết hại công thần nhà Lê

- Dưới triều Lê Tương Dực, tướng Trịnh Duy Sản gây bè phái, đánh nhau liên miên suốt hơn

10 năm

2 Khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài:

- Nguyên nhân: Lợi dụng triều đình rối loạn, quan lại ở địa phương “cậy quyền thế ức

hiếp dân, vật dụng trong dân gian cướp lấy đến hết”, “dùng của như bùn đất , coi dân như

cỏ rác” Đời sống nhân dân, nhất là nông dân lâm vào cảnh khốn cùng.

- Diễn biến: Từ năm 1511, các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở nhiều nơi trong nước Tiêu biểu

nhất là cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo ở Đông Triều (Quảng Ninh, 1516), nghĩa quân cạo trọcđầu chỉ để ba chỏm tóc, gọi là quân ba chỏm Họ đã ba lần tấn công Thăng Long, có lần chiếmđược, vua Lê phải chạy vào Thanh Hóa

- Kết quả: Các cuộc khởi nghĩa lần lượt bị đàn áp và thất bại, nhưng đã góp phần làm cho

triều đình nhà Lê mau chóng sụp đổ

3 Sự hình thành Nam - Bắc triều:

- Nguyên nhân: Mạc Đăng Dung vốn là võ quan, đã tiêu diệt các thế lực đối lập, thâu

tóm mọi quyền hành, cương vị như tể tướng Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lêlập ra triều Mạc (sử cũ gọi là Bắc triều)

- Diễn biến:

Năm 1533, Nguyễn Kim, một võ quan triều Lê đã chạy vào Thanh Hóa, lập một người

thuộc dòng dõi nhà Lê lên làm vua, lấy danh nghĩa “phù Lê diệt Mạc” (sử cũ gọi là Nam

triều)

Hai tập đoàn phong kiến này đánh nhau liên miên hơn 50 năm, chiến trường kéo dài suốtmột vùng từ Thanh - Nghệ ra Bắc, gây nhiều đau khổ cho nhân dân Đến năm 1592, Nam triều

Trang 36

chiếm được Thăng Long, nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, chiến tranh Nam - Bắc triều mới chấmdứt.

- Hậu quả: Nhân dân lầm than, đói khổ, đất nước bị chia cắt.

4 Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn:

- Diễn biến:

Đầu thế kỉ XVII, cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn bùng nổ

Trong thời gian từ năm 1627 đến năm 1672, họ Trịnh và họ Nguyễn đánh nhau bảy lần,vùng đất Quảng Bình - Hà Tĩnh trở thành chiến trường đẫm máu

Không tiêu diệt được nhau, hai bên lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm ranh giới chia cắtđất nước, kéo dài đến cuối thế kỉ XVIII

- Hậu quả:

Đất nước bị chia cắt, nhân dân đói khổ, li tán

Ở Đàng Ngoài, đến đời Trịnh Tùng thì xưng vương, xây phủ chúa bên cạnh triều Lê; tuy

nắm mọi quyền hành nhưng vẫn phải dựa vào vua Lê, nhân dân gọi là “vua Lê - chúa Trịnh”.

Ở Đàng Trong, con cháu họ Nguyễn cũng truyền nối nhau cầm quyền, nhân dân gọi là “chúa Nguyễn”

II Trình bày tổng quát bức tranh kinh tế, văn hóa cả nước ở các thế kỉ XVI XVIII?

-1 Tình hình kinh tế:

+ Nông nghiệp ở Đàng Ngoài:

Cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều đã phá hoại nghiêm trọng nền sản xuất nôngnghiệp Chính quyền Lê - Trịnh ít quan tâm đến công tác thủy lợi và tổ chức khai hoang.Ruộng đất công ở làng xã bị cường hào đem cầm bán Ruộng đất bỏ hoang, mất mùa, đóikém xảy ra dồn dập, nhất là vùng Sơn Nam và Thanh - Nghệ, nông dân phải bỏ làng đi phiêután

+ Nông nghiệp ở Đàng Trong:

Các chúa Nguyễn tổ chức di dân khai hoang, cấp lương ăn, công cụ, thành lập làng ấpmới ở khắp vùng Thuận - Quảng Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh khi kinh lí phía Nam đã đặtphủ Gia Định

Nhờ khai hoang và điều kiện tự nhiên nên nông nghiệp phát triển nhanh, nhất là vùng đồngbằng sông Cửu Long

Nhận xét: Nông nghiệp Đàng Ngoài không phát triền là do: (chiến tranh giữa các thế lực

PK; do nhà nước không quan tâm đến thủy lợi, đê điều do cường hào, ác bá chiếm đoạt ruộng đất công làm nông dân mất ruộng phải phiêu tán khắp nơi ); nông nghiệp Đàng Trong phát triển vì: (diện tích không ngừng được mở rộng - khai hoang, lập ấp điều kiện tự nhiên thuận lợi )

+ Thủ công nghiệp:

Từ thế kỉ XVII, xuất hiện thêm nhiều làng nghề thủ công nổi tiếng: gốm Thổ Hà (BắcGiang), Bát Tràng (Hà Nội), dệt La Khê (Hà Tây), rèn sắt ở Nho Lâm (Nghệ An)

+ Thương nghiệp:

Buôn bán phát triển, nhất là ở các vùng đồng bằng và ven biển, các thương nhân châu Á

và châu Âu thường đến phố Hiến và Hội An buôn bán tấp nập

Trang 37

Xuất hiện thêm một số đô thị, ngoài Thăng Long còn có Phố Hiến (Hưng Yên), Thanh

Hà (Thừa Thiên - Huế), Hội An (Quảng Nam), Gia Định (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).Các chúa Trịnh và chúa Nguyễn cho thương nhân nước ngoài vào buôn bán để nhờ họmua vũ khí Về sau, các chúa thi hành chính sách hạn chế ngoại thương, do vậy từ nửa sau thế

+ Sự ra đời của chữ Quốc ngữ:

Cho đến thế kỉ XVII, tiếng Việt đã phong phú và trong sáng Một số giáo sĩ phương Tây,trong đó có giáo sĩ A-lếc-xăng đơ Rốt là người có đóng góp quan trọng, đã dùng chữ cái La-tinh để ghi âm tiếng Việt và sử dụng trong việc truyền đạo

Đây là thứ chữ viết thuận lợi, khoa học, dễ phổ biến, lúc đầu chỉ dùng trong việc truyềnđạo, sau lan rộng ra trong nhân dân và trở thành chữ Quốc ngữ của nước ta cho đến ngày nay

+ Văn học và nghệ thuật dân gian:

Các thế kỉ XVI - XVII, tuy văn học chữ Hán chiếm ưu thế, nhưng văn học chữ Nôm cũng

phát triển mạnh Có truyện Nôm dài hơn 8.000 câu như bộ Thiên Nam ngữ lục Nội dung

truyện Nôm thường viết về hạnh phúc con người, tố cáo những bất công xã hội Các nhà thơNôm nổi tiếng như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ

Sang thế kỉ XVIII, văn học dân gian phát triển mạnh mẽ, bên cạnh truyện Nôm dài như

Phan Trần, Nhị Độ Mai còn có truyện Trạng Quỳnh, truyện Trạng Lợn

Nghệ thuật dân gian như múa trên dây, múa đèn, ảo thuật, điêu khắc nghệ thuật sânkhấu chèo, tuồng, hát ả đào được phục hồi và phát triển

III Trình bày về những cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài thế kỉ XVIII?

1 Nguyên nhân bùng nổ các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài:

Từ giữa thế kỉ XVIII, chính quyền vua Lê - chúa Trịnh quanh năm hội hè, yến tiệc vungphí tiền của Quan lại, binh lính ra sức đục khoét nhân dân

Quan lại địa chủ ra sức cướp đoạt ruộng đất của nông dân, sản xuất nông nghiệp đìnhđốn, thiên tai, hạn hán xảy ra liên tiếp; công thương nghiệp sa sút, chợ phố điêu tàn Vàonhững năm 40 của thế kỉ XVIII, hàng chục vạn nông dân chết đói, nhiều người phải bỏ làng điphiêu tán

2 Diễn biến của các cuộc khởi nghĩa:

Trong khoảng 30 năm của thế kỉ XVIII, khắp đồng bằng Bắc Bộ và vùng Thanh - Nghệ đã

nổ ra hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân như: khởi nghĩa Nguyễn Dương Hưng (1737) ở SơnTây; Nguyễn Danh Phương (1740 - 1751) ở Sơn Tây, sau lan rộng ra Thái Nguyên và TuyênQuang Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751) và Hoàng CôngChất (1739 - 1769)

Nguyễn Hữu Cầu còn gọi là quận He Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ Đồ Sơn (Hải Phòng),sau lan ra Kinh Bắc, uy hiếp Thăng Long rồi lan xuống Sơn Nam và Thanh Hóa - Nghệ An.Khởi nghĩa Hoàng Công Chất bắt đầu ở Sơn Nam, sau chuyển lên Tây Bắc Các dân tộcTây Bắc hết lòng ủng hộ nghĩa quân Hoàng Công Chất có công lớn trong việc bảo vệ vùng biêngiới và giúp dân ổn định cuộc sống

Trang 38

Các cuộc khởi nghĩa trước sau đều bị thất bại, nhiều thủ lĩnh bị bắt, bị xử tử, nhưng cũng

đã góp phần làm cho cơ đồ họ Trịnh lung lay

IV Phong trào nông dân Tây Sơn.

1 Nguyên nhân bùng nổ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn?

Từ giữa thế kỉ XVIII, chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong suy yếu dần Ở triều đình,

Trương Phúc Loan nắm hết mọi quyền hành, tự xưng “Quốc phó”, khét tiếng tham nhũng.

Ở các địa phương, quan lại, cường hào kết thành bè cánh, đàn áp, bóc lột nhân dân thậm tệ

và đua nhau ăn chơi xa xỉ

Nông dân bị chiếm ruộng đất và phải chịu nhiều thứ thuế, nỗi oán giận của các tầng lớpnhân dân ngày càng dâng cao

Ba anh em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ căm thù sâu sắc chínhquyền nhà Nguyễn, hiểu được nguyện vọng của nhân dân muốn lật đổ họ Nguyễn, đã huy độngđược đông đảo lực lượng nhân dân và một bộ phận trong tầng lớp thống trị tham gia nên cuộc khởinghĩa nhanh chóng phát triển

Mùa xuân năm 1771, ba anh em nhà Tây Sơn lên vùng Tây Sơn thượng đạo (An Khê - GiaLai) lập căn cứ, dựng cờ khởi nghĩa Được nhân dân ủng hộ, đặc biệt là đồng bào thiểu số, lựclượng ngày càng lớn mạnh, nghĩa quân đánh xuống Tây Sơn hạ đạo (Tây Sơn - Bình Định) rồi mởrộng xuống đồng bằng

2 Trình bày những chiến công to lớn của phong trào Tây Sơn?

+ Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Nguyễn:

Tháng 7 - 1772, quân Tây Sơn chiếm được phủ Quy Nhơn, địa bàn hoạt động của nghĩaquân mở rộng suốt từ Quảng Nam đến Bình Thuận

Chúa Trịnh cử tướng Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy 3 vạn quân tiến công chiếm Phú Xuân,chúa Nguyễn phải vượt biển vào Gia Định

Quân Tây Sơn ở thế bất lợi: mạn Bắc có quân Trịnh, mạn Nam có quân Nguyễn Trướctình hình đó, Nguyễn Nhạc tạm hòa hoãn với quân Trịnh để dồn sức đánh chúa Nguyễn

Trong lần tiến quân năm 1777, Tây Sơn bắt giết được chúa Nguyễn, chỉ còn Nguyễn Ánhchạy thoát Chính quyền họ Nguyễn đến đây bị lật đổ

+ Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút (1785) tiêu diệt quân Xiêm:

Nguyễn Ánh cầu cứu vua Xiêm, năm 1784, hơn 5 vạn quân thủy bộ Xiêm đã kéo vàođánh chiếm miền Tây Gia Định (các tỉnh miền Tây Nam Bộ) và gây nhiều tội ác đối với nhândân

Tháng 1 - 1785, Nguyễn Huệ kéo quân vào Gia Định và bố trí trận địa ở khúc sông Tiền,đoạn từ Rạch Gầm đến Xoài Mút (Châu Thành - Tiền Giang) để nhử quân địch Quân Xiêm bịtấn công bất ngờ nên bị tiêu diệt gần hết, chỉ còn vài nghìn tên sống sót theo đường bộ chạy vềnước Nguyễn Ánh thoát chết, sang Xiêm lưu vong

Đây là một trong những trận thủy chiến lớn nhất và lừng lẫy nhất trong lịch sử chốngngoại xâm của dân tộc ta Chiến thắng quân xâm lược Xiêm đã đưa phong trào Tây Sơn pháttriển lên một trình độ mới Từ đây, phong trào Tây Sơn trở thành phong trào quật khởi của cảdân tộc

+ Hạ thành Phú Xuân - tiến quân ra Bắc tiêu diệt họ Trịnh:

Tháng 6 - 1786, được sự giúp sức của Nguyễn Hữu Chỉnh, nghĩa quân Tây Sơn nhanhchóng hạ thành Phú Xuân rồi tiến ra Nam sông Gianh, giải phóng toàn bộ đất Đàng Trong

Với khẩu hiệu “phù Lê diệt Trịnh”, Tây Sơn tiến quân ra Bắc Giữa năm 1786, Nguyễn

Huệ đánh Thăng Long, chúa Trịnh bị dân bắt đem nộp cho Tây Sơn Chính quyền họ Trịnh sụp

đổ Nguyễn Huệ vào thành, giao chính quyền cho vua Lê rồi trở về Nam

Việc Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong và chính quyền họ Trịnh ở ĐàngNgoài đã tạo ra những điều kiện cơ bản cho sự thống nhất đất nước Đáp ứng nguyện vọng của nhândân cả nước

Trang 39

+ Dẹp quân mưu phản, thu phục nhân sĩ Bắc Hà:

Sau khi quân Tây Sơn rút về Nam, tình hình Bắc Hà lại rối loạn, Lê Chiêu Thống không dẹp nổinên mời Nguyễn Hữu Chỉnh ra giúp và đánh tan tàn dư họ Trịnh Từ đó, Chỉnh lại lộng quyền và ramặt chống Tây Sơn

Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc trị tội Chỉnh Vũ Văn Nhậm lại kiêu căng, có mưu

đồ riêng Giữa năm 1788, Nguyễn Huệ lại ra Bắc diệt Nhậm

Các sĩ phu nổi tiếng Bắc Hà như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp đã hếtlòng giúp Nguyễn Huệ xây dựng chính quyền ở Bắc Hà

+ Quang Trung đại phá quân Thanh:

Vì hèn nhát, lo sợ thế lực nhà Tây Sơn, Lê Chiêu Thống sai người sang cầu cứu nhà Thanh.Vua Càn Long nhà Thanh nhân cơ hội này thực hiện âm mưu xâm lược nước ta để mở rộng lãnh thổxuống phía Nam

Cuối năm 1788, Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân, chia thành 4 đạo tiến vào nước ta.Trước thế mạnh lúc đầu của giặc, Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm một mặt cho quân rútkhỏi Thăng Long về xây dựng phòng tuyến ở Tam Điệp - Biện Sơn; một mặt cho người về PhúXuân cấp báo với Nguyễn Huệ

Tại Thăng Long, quân Thanh cùng bè lũ Lê Chiêu Thống ra sức cướp bóc, đốt nhà, giếtngười trả thù rất tàn bạo khiến cho lòng căm thù của nhân dân ta đối với quân cướp nước và

bè lũ bán nước đã lên đến cao độ

Trước tình thế đó, Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng đế (1788), lấy niên hiệu là QuangTrung và lập tức tiến quân ra Bắc Trên đường đi, đến Nghệ An và Thanh Hóa, Quang Trungđều tuyển thêm quân

Từ Tam Điệp, Quang Trung chia quân làm năm đạo: đạo chủ lực do Quang Trung chỉ huytiến thẳng về Thăng Long; đạo thứ hai và thứ ba đánh vào Tây Nam Thăng Long; đạo thứ tưtiến ra Hải Dương; đạo thứ năm tiến lên Lạng Giang chặn đường rút lui của giặc

Đêm 30 Tết, quân ta vượt sông Gián Khẩu (sông Đáy), tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đồn tiềntiêu Mờ sáng ngày mồng 5 Tết, quân ta đánh đồn Ngọc Hồi, quân Thanh chống cự không nổi, bỏchạy tán loạn Cùng lúc đó đạo quân của Đô đốc Long đánh đồn Đống Đa, tướng giặc là Sầm NghiĐống khiếp sợ, thắt cổ tự tử Tôn Sĩ Nghị bàng hoàng cùng một số võ quan bỏ lại quân lính, vượtsông Nhị (sông Hồng) chạy trốn Trưa mồng 5 Tết, Quang Trung cùng đoàn quân Tây Sơn chiếnthắng kéo vào thành Thăng Long

3 Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của phong trào Tây Sơn?

+ Nguyên nhân thắng lợi:

Nhờ ý chí đấu tranh chống áp bức bóc lột, tinh thần yêu nước, đoàn kết và hi sinh cao cả của nhândân ta

Nhờ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Quang Trung và bộ chỉ huy nghĩa quân

+ Ý nghĩa lịch sử:

Thắng lợi của phong trào Tây Sơn trong việc lật đổ chính quyền phong kiến thối nát Nguyễn Trịnh - Lê đã xóa bỏ ranh giới chia cắt đất nước hàng trăm năm Đặt nền tảng cho việc thống nhấtquốc gia

-Thắng lợi của phong trào Tây Sơn trong việc chống quân xâm lược Xiêm và Thanh có ýnghĩa lịch sử to lớn: giải phóng đất nước, giữ vững nền độc lập của dân tộc, một lần nữa đập tantham vọng xâm lược nước ta của các đế chế quân chủ phương Bắc

V Quang Trung và công cuộc kiến thiết đất nước.

1 Nêu những việc làm chính của Quang Trung trong việc phục hồi kinh tế, xây dựng văn hóa dân tộc?

Ngay sau khi giành được thắng lợi, vua Quang Trung đã bắt tay xây dựng chính quyền mới,đóng đô ở Phú Xuân

Trang 40

Ra “Chiếu khuyến nông” để giải quyết tình trạng ruộng đất bị bỏ hoang và nạn lưu vong,

nhờ đó sản xuất nông nghiệp được phục hồi và phát triển

Bãi bỏ hoặc giảm nhẹ nhiều thứ thuế, nhờ đó nghề thủ công và buôn bán được phục hồidần

Ban bố “Chiếu lập học”, các huyện, xã được nhà nước khuyến khích mở trường học;

dùng chữ Nôm làm chữ viết chính thức của nhà nước

Tham khảo: Vua chú trọng đến việc dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm Ngài cho dựng Sùng

Chính viện tại Nghệ An và cử Nguyễn Thiếp làm viện trưởng lo việc chuyển ngữ

Việc cải cách quan trọng nhất là đề cao chữ Nôm Các sắc dụ của vua phần nhiều được viếtbằng chữ Nôm Khi đi thi, sĩ tử phải làm thơ phú bằng chữ Nôm Nhờ thế văn thơ Nôm thời Tây

Sơn rất được phát triển Một số tác phẩm còn lưu truyền đến ngày nay như bài "Ai tư vãn" của Ngọc Hân công chúa, "Tụng Tây Hồ phú" của Nguyễn Huy Lượng, "Chiến tụng Tây Hồ phú",

"Sơ kính tân trang", của Phạm Thái.

2 Trình bày chính sách quốc phòng và ngoại giao của Quang Trung?

Sau chiến thắng Đống Đa, nền an ninh và toàn vẹn lãnh thổ vẫn bị đe dọa: phía Bắc, LêDuy Chỉ vẫn lén lút hoạt động ở biên giới; phía Nam, Nguyễn Ánh cầu viện Pháp và chiếm lạiGia Định

Tiếp tục thi hành chính sách quân dịch Tổ chức quân đội bao gồm bộ binh, thủy binh,tượng binh và kị binh; có chiến thuyền lớn chở được voi chiến hoặc 500 - 600 lính

Thi hành chính sách ngoại giao với nhà Thanh: mềm dẻo nhưng kiên quyết bảo vệ từng tấcđất của Tổ quốc Đối với Nguyễn Ánh, quyết định mở cuộc tiến công lớn để tiêu diệt Kế hoạchđang tiến hành thì Quang Trung đột ngột từ trần (16 - 9 - 1792) Quang Toản lên kế nghiệp,nhưng kể từ đó nội bộ triều đình Phú Xuân suy yếu dần

Chủ đề 8 VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

I Chế độ phong kiến nhà Nguyễn:

1 Nhà Nguyễn đã tiến hành lập lại chế độ PK tập quyền như thế nào?

Khoảng giữa năm 1802, Nguyễn Ánh kéo quân ra Bắc rồi tiến thẳng về Thăng Long,Nguyễn Quang Toản chạy lên Bắc Giang thì bị bắt Triều đại Tây Sơn chấm dứt

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long, chọn Phú Xuân làmkinh đô, lập ra triều Nguyễn; năm 1806, lên ngôi Hoàng đế

Nhà Nguyễn lập lại chế độ PK tập quyền: vua trực tiếp điều hành mọi việc từ trung ươngđến địa phương; ban hành bộ Hoàng triều luật lệ (Luật Gia Long) năm 1815

Các năm 1831 - 1832, nhà Nguyễn chia cả nước thành 30 tỉnh và 1 phủ trực thuộc (ThừaThiên); quân đội bao gồm nhiều binh chủng, xây thành trì và thiết lập hệ thống trạm ngựa dọc theochiều dài đất nước

2 Kinh tế dưới triều Nguyễn:

+ Về công thương nghiệp:

Nhà nước lập nhiều xưởng đúc tiền, đúc súng, đóng tàu Ngành khai thác mỏ được mởrộng, nhưng cách khai thác còn lạc hậu và hoạt động thất thường

Ngày đăng: 10/05/2021, 20:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w