Quan điểm chủ đạo trong chương trình lịch sử phổ thông nói chung, ởtrường trung học cơ sở nói riêng là xuất phát từ nội dung, chức năng, nhiệm vụ và đặc trưng bộ môn, từ đặc điểm của quá
Trang 1VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
Trang 2I TÊN ĐỀ TÀI
“ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO GIẢNG DẠY THEO CHUẨN KIẾN THỨC KỸ NĂNG MÔN LỊCH SỬ CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ”
II ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong dạy học ngày nay, việc áp dụng phương pháp dạy học tích cựcvào giảng dạy theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng là một trong những biện phápgóp phần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo Khắc phục cơ bảnlối truyền thụ một chiều, phát huy tính tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thờigian lí thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, gắn bó chặt chẽgiữa học lí thuyết và thực hành, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệmhọc tập cho học sinh
Quan điểm chủ đạo trong chương trình lịch sử phổ thông nói chung, ởtrường trung học cơ sở nói riêng là xuất phát từ nội dung, chức năng, nhiệm
vụ và đặc trưng bộ môn, từ đặc điểm của quá trình nhận thức quá khứ của họcsinh mà sử dụng những phương pháp, phương tiện, hình thức dạy học phùhợp, nhằm phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh
Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh đã được đặt ra từ nhữngnăm đầu của thập kỉ 60 của thế kỉ XX Trong những năm gần đây, ngành giáodục đã có nhiều đổi mới về chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạyhọc Tuy nhiên, việc dạy lịch sử trong nhiều trường trung học cơ sở ở vùngdân tộc thiểu số còn chịu tác động nặng nề bởi mục tiêu thi cử, "chạy theothành tích" học để thi, dạy để thi, đa số giáo viên ngại áp dụng phương phápmới do nhiều rào cản tác động như lượng kiến thức và thời gian truyền đạt, cơ
sở vật chất của nhà trường còn hạn chế, năng lực nhận thức của học sinh cònchậm, bất đồng ngôn ngữ, hoàn cảnh của địa phương (kinh tế khó khăn, giaolưu văn hóa, thiếu thông tin )
Vì vậy, làm thế nào để áp dụng phương pháp dạy học tích cực theoChuẩn kiến thức, kĩ năng môn lịch sử cấp trung học cơ sở ở vùng dân tộcthiểu số là vấn đề cần thiết Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề nêu trêntôi xin đưa ra một số phương pháp dạy học tích cực môn lịch sử, một số ví dụ
về việc lập kế hoạch bài học, cách kiểm tra đánh giá môn lịch sử ở trườngtrung học cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số để đồng nghiệp tham khảo, áp dụngnhằm góp từng bước nâng cao chất lượng giáo dục
III CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa Xtại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI có đoạn viết "Thực hiện đồng bộ cácgiải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mớichương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tratheo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coitrọng giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức lối
Trang 3sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thứctrách nhiệm xã hội".
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới giáo dục nóichung và vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong trường trung học nóiriêng Vấn đề này đã được đề cập nhiều lần trong các văn kiện đại hội Đảng,luật giáo dục Đặc biệt, văn bản số 242- KL/TW ngày 15/4/2009 thông báokết luận của Bộ chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết Trung ương 2 (KhóaVIII) chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lốitruyền thụ một chiều, phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợptác; giảm thời gian lí thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh,giáo viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lí thuyết và thực hành, đào tạo gắn vớinghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống"
Văn bản số 5358/BGDĐT- GDTrH về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm
vụ giáo dục trung học 2011- 2012 nêu rõ "Tổ chức dạy học phân hóa theonăng lực của học sinh dựa theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trìnhgiáo dục phổ thông cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông giáo viên căn
cứ vào hướng dẫn thực hiện chương trình và điều chỉnh nội dung dạy học của
Bộ giáo dục đào tạo để sử dụng hợp lí sách giáo khoa khi giảng bài trên lớp,chủ động thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lí hoạt động của giáo viên
và học sinh; khắc phục lối dạy học thuần túy đọc- chép; chú trọng tổ chức chohọc sinh làm việc cá nhân và theo nhóm hợp lí; rèn luyện kĩ năng tự học, tạođiều kiện cho học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu tham khảo,phát huy tính tích cực hứng thú trong học tập của học sinh và vai trò chủ đạocủa giáo viên trong tổ chức quá trình dạy học; xây dựng hệ thống câu hỏi hợp
lí, phù hợp với các đối tượng, tập trung vào trọng tâm, tránh nặng nề quá tải;bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học,tránh ghi nhớ máy móc, không nắm vững bản chất", " Đối với các môn ngữvăn, lịch sử, địa lí cần tiếp tục đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng đặt câuhỏi mở, đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp kiến thức đã được học, hạnchế học sinh chỉ ghi nhớ máy móc, không nắm vững kiến thức, kĩ năng mônhọc"
IV CƠ SỞ THỰC TIỄN
Vấn đề áp dụng dạy học tích cực vào giảng dạy theo chuẩn kiến thức, kĩnăng môn lịch sử cấp trung học cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số đã được đặt ratrong những năm gần đây Nhưng nhìn chung việc áp dụng phương pháp mớicủa giáo viên vẫn còn hời hợt, đa số giáo viên chưa biết kế thừa, phát huynhững ưu điểm, khắc phục nhược điểm của các phương pháp dạy học truyềnthống và cập nhật các phương pháp dạy học tích cực sao cho phù hợp vớihoàn cảnh, điều kiện dạy học của nhà trường, địa phương Giáo viên ngại ápdụng phương pháp mới vì phải chuẩn bị kế hoạch bài học, đồ dùng dạy học,tốn nhiều thời gian Do ở vùng khó khăn cơ sở vật chất còn thiếu thốn, phầnlớn giáo viên phải tự làm đồ dùng dạy học, trình độ nhận thức của học sinhquá yếu, thụ động, kĩ năng tự học, tự tìm hiểu của học sinh trước khi đến lớp
Trang 4như đọc trước bài mới, học bài cũ chưa được chuẩn bị kĩ, đa số là con emdân tộc thiểu số, bất đồng ngôn ngữ, năng lực tư duy kém là một trong nhữngrào cản để đổi mới phương dạy học theo hướng dạy học tích cực.
Việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy theo Chuẩnkiến thức, kĩ năng môn lịch sử cấp trung học cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số tuy
đã được áp dụng nhưng chỉ mang tính hình thức là chủ yếu Do đó, việc dạyhọc chủ yếu vẫn là truyền thụ một chiều, thông báo kiến thức mang tính đồngloạt, thiên về lí thuyết, xa rời thực tiễn, tập trung ôn luyện kiến thức đáp ứngkiểm tra thi cử, chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành thói quen tự học,
tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấnđề cho người học vì thế chất lượng giáo dục chưa cao Qua thống kê chấtlượng môn lịch sử ở trường trung học cơ sở bán trú cụm xã Lý Tự Trọng nămhọc 2009- 2010 và 2010- 2011 là trường thuộc vùng dân tộc thiểu số cho thấymặt dù chất lượng dạy học môn lịch sử có tăng lên nhưng vẫn còn thấp:
Hiện nay, điều kiện cơ sở vật chất( trường, lớp, đồ dùng dạy học, cácphương tiện thông tin ) ở vùng dân tộc thiểu số đang dần dần được khắcphục Lượng kiến thức và thời gian dạy học trong một tiết dạy cũng đã đượcđiều chỉnh cho phù hợp, đa số giáo viên đều đạt chuẩn hoặc trên chuẩn đây
là những thuận lợi lớn để giáo viên áp dụng mạnh mẽ, có hiệu quả hơn nữaphương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy theo Chuẩn kiến thức, kĩ năngmôn lịch sử cấp trung học cơ sở
V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
A ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN DẠY MÔN LỊCH SỬ:
Thứ nhất: Giáo viên bộ môn phải thực hiện đúng, nắm rõ hướng dẫnthực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn lịch sử cấp trung học cơ sở của Bộgiáo dục và đào tạo và hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học mônlịch sử cấp trung học cơ sở của Bộ giáo dục và đào tạo
Thứ hai: Phải hiểu định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn lịch
sử là không phải loại bỏ các phương pháp dạy học lịch sử truyền thống mà là
kế thừa những tinh hoa, giá trị của phương pháp dạy học lịch sử truyền thống
Trang 5và vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học mới trong một giờ học lịch sử saocho phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học, phù hợp với đối tượng học sinh.Thứ ba: Phải nắm vững quy trình thực hiện việc vận dụng các phươngpháp dạy học môn lịch sử theo định hướng đổi mới như phương pháp trựcquan, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp tình huống,phương pháp vấn đáp, phương pháp thảo luận nhóm, sơ đồ tư duy,
Thứ tư: Phải nắm vững định hướng đổi mới đánh giá kết quả học tập củahọc sinh trong chương trình lịch sử ở trường trung học cơ sở, cách đánh giákhông gây áp lực nặng nề, tránh kiểm tra theo học thuộc lòng, ghi nhớ máymóc, phải nắm được các mức độ nhận thức của học sinh như nhận biết, thônghiểu, vận dụng để ra đề kiểm tra trong đánh giá
Thứ năm: Giáo viên bộ môn cần tìm hiểu đối tượng học sinh lớp mìnhdạy để lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp hay nói cách khác là để "Dạyhọc vừa sức, đúng đối tượng học sinh, tiết học nhẹ nhàng, hiệu quả"
Thứ sáu: Giáo viên bộ môn cần phải có tâm huyết, có sự đầu tư trongviệc lập kế hoạch bài học, tự làm đồ dùng dạy học
Thứ bảy: Giáo viên bộ môn cần hình thành thói quen tự học, phươngpháp tự học cho học sinh ở trên lớp cũng như ở nhà bằng cách nêu câu hỏi, rabài tập, hướng dẫn sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham khảo Giúp học sinhghi nhớ theo ghi nhớ lôgíc, ghi nhớ tích cực trong quá trình học tập bằng cách
sử dụng sơ đồ tư duy
B ĐỐI VỚI HỌC SINH.
- Hình thành thói quen tự học lịch sử (tự học ở trên lớp, tự học ở nhà)
- Thay đổi thói quen học tủ ( học để thi), học lệch, học vẹt Nghĩa là hạn chếviệc học tái hiện lại tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trongviệc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp
- Cần có đủ sách giáo khoa, vở ghi, bút
- Học sinh cần tự học sách giáo khoa theo các bước:
+ Đọc và tự ghi tóm tắt, ngắn gọn những vấn đề cơ bản của bài viết
+ Ghi lại những nội dung khó hiểu, đặc biệt là những thuật ngữ, khái niệmlịch sử
+ Hoàn thành bài tập câu hỏi trong sách giáo khoa
+ Tự làm việc với bản đồ, tranh ảnh
+ Tìm đọc các tài liệu tham khảo
+ Chổ nào chưa hiểu thì yêu cầu giáo viên giúp đỡ
- Học sinh ghi bài giảng trên lớp:
+ Ghi dàn bài bài học của giáo viên và đối chiếu khi theo dõi sách giáo khoa
để ghi những sự kiện chính
+ Vẽ lại những hình vẽ giáo viên trình bày trên bảng đen
+ Ghi lại các số liệu, niên đại quan trọng, lập niên biểu, đồ thị
+ Ghi các tài liệu lịch sử gốc, câu nói nổi tiếng
+ Ghi từ mới, các thuật ngữ
+ Ghi lời hướng dẫn, dặn dò của giáo viên
Trang 6C MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC MÔN LỊCH SỬ.
1 Phương pháp trực quan.
a) Bản chất.
Phương pháp dạy học trực quan (hay còn gọi là phương pháp trình bàytrực quan) là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện
kĩ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, củng cố,
hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Phương pháp dạy học trực quan thể hiện dưới hai hình thức minh họa và trìnhbày :
- Minh họa thường là trình bày những đồ dùng trực quan như bản mẫu, bản
đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng…nhằm bổ sung cho nộidung bài học
- Trình bày là cơ sở, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức học tập củahọc sinh, là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn Thông qua sự trình bày củagiáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họcsinh học tập được những thao tác mẫu của giáo viên, từ đó hình thành kĩ năng,
kĩ xảo
b) Quy trình thực hiện
- Giáo viên treo đồ dùng trực quan có tính chất minh họa hoặc giới thiệu vềcác đồ dùng trực quan đó, nêu yêu cầu để định hướng sự quan sát của họcsinh
- Giáo viên trình bày các nội dung trong sơ đồ, lược đồ, bản đồ
- Giáo viên yêu cầu một hoặc một số học sinh trình bày lại, giải thích nộidung sơ đồ, biểu đồ, trình bày những gì thu nhận được qua quan sát
- Từ những chi tiết, thông tin thu được từ phương tiện trực quan, giáo viênnêu câu hỏi, yêu cầu học sinh rút ra kết luận khái quát về vấn đề mà phươngtiện trực quan cần chuyển tải
c Ưu điểm.
Trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học,nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình ảnh các khái niệm trên cơ sởtrực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật.Trong dạy học lịch sử, phương pháp trực quan góp phần tạo biểu tượng lịch
sử cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện và khắc phục tình trạng hiện đại hóalịch sử của học sinh
Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để học sinh hiểu sâu sắc bản chất của sựkiện lịch sử, là phương tiện có hiệu lực để hình thành các khái niệm lịch sử,giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội
Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ,hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử Hình ảnh được giữ lại vữngchắc trong trí nhớ là hình ảnh học sinh thu nhận được bằng trực quan Vì vậy,cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch sử, đồdùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy vàngôn ngữ của học sinh Khi quan sát bất cứ đồ dùng trực quan nào, học sinh
Trang 7cũng có thể nêu nhận xét, phán đoán, hình dung quá khứ lịch sử được phảnánh, minh họa như thế nào Các em suy nghĩ và tìm cách diễn đạt bằng lời nóichính xác, có hình ảnh rõ ràng, cụ thể về bức tranh xã hội đã qua.
Ý nghĩa giáo dục tư tưởng, cảm xúc thẩm mĩ của đồ dùng trực quancũng rất lớn Quan sát một bức tranh diễn tả cuộc đấu tranh cách mạng họcsinh sẽ có tình cảm mạnh mẽ về lòng yêu mến những anh hùng, chiến sĩ cáchmạng, lòng quý trọng lao động và nhân dân, căm thù xâm lược và chiến tranh
d) Nhược điểm.
Phương pháp trực quan đòi hỏi nhiều thời gian, giáo viên cần tính toán
kĩ cho phù hợp với thời lượng đã quy định
Nếu sử dụng đồ dùng đồ dùng trực quan không khéo sẽ làm phân tán sựchú ý của học sinh, học sinh không lĩnh hội những nội dung chính của bàihọc
Khi sử dụng đồ dùng trực quan, đặt biệt là khi quan sát tranh ảnh…nếukhông định hướng cho học sinh quan sát sẽ dễ dẫn đến tình trạng học sinh sa
đà vào những chi tiết nhỏ lẻ, không quan trọng
- Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan
- Phải đảm bảo được sự quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan của học sinh
- Phát huy tính tích cực của học sinh khi sử dụng đồ dùng trực quan
- Đảm bảo kết hợp việc trình bày kênh chữ với việc giới thiệu các đồ dùngtrực quan, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành của học sinh khi xây dựng
và sử dụng đồ dùng trực quan (vẽ bản đồ, tường thuật trên bản đồ, miêu tảhiện vật…)
- Tùy theo yêu cầu của bài học và loại đồ dùng trực quan mà có nhiều cách sửdụng khác nhau Loại đồ dùng trực quan treo tường được sử dụng nhiều nhấttrong dạy học lịch sử hiện nay là bản đồ, lược đồ, sơ đồ, đồ thị,…Trước khi
sử dụng chúng cần chuẩn bị thật kĩ (nắm nội dung, ý nghĩa của từng loại phục
vụ cho nội dung nào của giờ học…) Trong khi giảng, cần xác định đúng thờiđiểm để treo bản đồ Không nên trêu bảng vì còn dùng để viết, mà nên treocao ở góc bên phải bảng, nơi có ánh sáng cho tất cả học sinh nhìn thấy rõ.Giáo viên cần đứng bên phải bản đồ, dùng que chỉ các địa điểm cho thật chínhxác
- Loại đồ dùng trực quan cỡ nhỏ được sử dụng riêng cho từng học sinh tronggiờ học, trong việc tự học ở nhà, giáo viên nên hướng dẫn học sinh sử dụngtốt loại đồ dùng trực quan này: quan sát kĩ, tìm hiểu sâu sắc nội dung, hoànthành các bài tập, tập vẽ bản đồ Khi sử dụng tranh, ảnh chân dung các nhânvật lịch sử, giáo viên không nên chú ý nhiều đến miêu tả hình dáng bên ngoài
Trang 8của nhân vật mà nên hướng dẫn học sinh phân tích nội tâm, tài đức, quanđiểm thể hiện ở hành động của nhân vật.
Tóm lại, trong dạy học học lịch sử ở trường phổ thông, việc kết hợpchặt chẽ giữa lời nói sinh động với sử dụng đồ dùng trực quan là một trongnhững điều quan trọng nhất để thực hiện nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục vàphát triển
g) Ví dụ.
- Ví dụ 1:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
-GV: Treo lược đồ chiến thắng
Bạch Đằng năm 1288 và nêu câu
hỏi: Dựa trên cơ sở nào mà Trần
Hưng Đạo xác định kế hoạch phản
công ?
- GV trình bày:
Giặc sẽ rút theo hai đường thủy, bộ:
quân bộ theo đường Lạng Sơn;
quân thủy theo đường sông Bạch
Đằng
Vậy Trần Hưng Đạo có kế hoạch
gì?
- GV cho học sinh xem lược đồ
Hỏi: Vì sao Trần Hưng Đạo đã chọn
và chuẩn bị trận địa mai phục ở
sông Bạch Đằng?
- Yêu cầu học sinh dựa vào lược đồ
để trả lời câu hỏi
- Trần Hưng Đạo đã chọn và chuẩn
bị trận địa ở sông Bạch Đằng vì: + Tại đây, Ngô Quyền đã chiếnthắng quân Nam Hán năm 938.+ Địa thế hiểm trở
+ Mực nước lên xuống rõ rệt
- Ví dụ 2:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
GV: Yêu cầu học sinh đọc đoạn chữ
nhỏ trong SGK nói về vùng đất Hoa
Lư
GV: Cho HS quan sát ảnh H 19
Toàn cảnh cố đô Hoa Lư (Ninh
Bình)
GV: Tại sao Đinh Tiên Hoàng đóng
đô ở Hoa Lư?
2 Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
a) Bản chất.
Trang 9Dạy học nêu vấn đề là một phương pháp dạy học dựa trên những quyluật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo, nhờvậy nó đảm bảo cho học sinh lĩnh hội vững chắc những cơ sở khoa học, pháttriển tính tích cực, tính tự lực và năng lực sáng tạo, hình thành cơ sở và thếgiới quan khoa học cho học sinh.
Bản chất của dạy học nêu vấn đề là tạo nên một chuỗi những tìnhhuống có vấn đề và điều khiển hoạt động của học sinh để học sinh tự lực giảiquyết vấn đề đó
- Với phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề, học sinh có thể thể hiệntính tích cực cao
- Dạy học nêu vấn đề đảm bảo mối tương quan giữa lĩnh hội tri thức một cáchsáng tạo và lĩnh hội có tính chất tái hiện khi tăng cường hoạt động nhận thứcsáng tạo của học sinh
Chính những đặc điểm này, làm cho dạy học nêu vấn đề khác với dạyhọc truyền thống ở chổ: nó được xây dựng lại trên cơ sở phát triển tư tưởng,năng lực nhận thức sáng tạo của học sinh, nhờ đó mà giáo viên thực hiện đầy
đủ hơn nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh
g) Ví dụ.
Trang 10Ví dụ 1:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- Vì sao quân Nguyên đã bị thất bại
nặng nề trong cuộc chiến tranh xâm
lược Đại Việt lần thứ hai, chúng lại
quyết tâm xâm lược Đại Việt lần thứ
ba ?
-Nhận nhiệm vụ, tìm hiểu sách giáokhoa, đề xuất các giả thuyết, nguyênnhân
- Lập nhóm, lên kế hoạch
-Thảo luận nhóm, thực hiện kếhoạch
- Các nhóm trình bày, các nhómkhác bổ sung
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- GV: Tại sao nói cuộc tập kích tháng
10 – 1075 của Lý Thường Kiệt vào
đất Tống là cuộc tấn công để tự vệ
mà không phải là cuộc tấn công xâm
lược?
- HS: Suy nghĩ và trả lời
+ Vì ta chỉ tấn công các căn cứ quân
sự, kho lương thảo đó là những nơiquân Tống tập trung lực lượng, lươngthực, vũ khí để xâm lược Đại Việt.+ Khi hoàn thành mục đích, quân tarút về nước
3 Phương pháp trường hợp (phương pháp tình huống)
a) Bản chất.
Đây là một phương pháp dạy học, trong đó trọng tâm của quá trình dạyhọc là việc phân tích và giải quyết các vấn đề của một trường hợp (tìnhhuống) được lựa chọn trong thực tiễn, tức là học sinh tự nghiên cứu một tìnhhuống thực tiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đó đặt ra
b) Quy trình thực hiện.
Các trường hợp được lựa chọn từ những tình huống thực hiện hoặcnhững tình huống có thể xảy ra Khi xây dựng một trường hợp cần tuân theocác bước sau:
- Phần mô tả trường hợp:
+ Các trường hợp cần được mô tả rõ ràng
+ Trường hợp cần chứa đựng vấn đề và xung đột
+ Trường hợp có thể có nhiều cách giải quyết
+ Cần tạo điều kiện cho người học có thể trình bày theo cách hiểu của mình
- Phần nhiệm vụ : xác định những nhiệm vụ học sinh cần giải quyết khinghiên cứu trường hợp Các nhiệm vụ cần xác định rõ ràng, vừa sức với trình
độ của học sinh và nhằm đạt được mục tiêu của bài học
Trang 11- Phần yêu cầu về kết quả : cần đưa ra những yêu cầu sẽ phải thực hiện trongkhi nghiên cứu Việc đưa ra những yêu cầu này nhằm định hướng cho việcnghiên cứu tiếp theo.
c) Ưu điểm.
- Phương pháp trường hợp tạo điều kiện gắn lý thuyết với thực tiễn
- Phương pháp trường hợp tạo điều kiện để phát triển các năng lực thăng chốtnhư năng lực quyết định, năng lực giải quyết vấn đề, tư duy hệ thống, tínhsáng tạo, khả năng giao tiếp và tinh thần phối hợp cộng tác
d) Nhược điểm.
- Phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian, giáo viên cần tính toán kĩ cho phùhợp với thời lượng đã quy định về những trường hợp định giải quyết trong bàihọc
- Nếu không xác định được những trường hợp cần giải quyết, vừa sức, phùhợp với điều kiện, thời gian của học sinh và có thể giải quyết được trên cơ sởkiến thức, kĩ năng của họ thì sẽ không kích thích được tính tích cực và sángtạo của người học
e) Một số lưu ý.
- Các trường hợp cần được mô tả rõ ràng, có chứa đựng vấn đề và xung đột
- Trường hợp cần vừa sức, phù hợp với điều kiện thời gian và khả năng ngườihọc nhằm đạt mục tiêu bài học
và chuẩn bị phối hợp với nghĩa quân vây hãm thành Cổ Lộng Sau khi bà mất,dân làng lập đền thờ bà
Cô gái người làng Đào Đặng (Phù Tiên, Hưng Yên) đã dùng nhan sắc, lời
ca tiếng hát của mình để giết giặc trong những buổi tiệc Thông thường saunhững buổi tiệc, ca hát, quân giặc trong thành nhiều kẻ chui vào bao vải ngủ
Cô cùng trai làng bí mật khiêng chúng quẳng xuống sông
Ví dụ 2:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
-GV: Thời Lý có câu: “Thời vua - HS: Nghiên cứu SGK suy nghĩ và
Trang 12Thái tổ, Thái Tông lúa gạo đầy đồng
trâu chẳng buồn ăn” câu nói đó
chứng tỏ nông nghiệp thời Lý phát
triển hay không phát triển? Em hãy
chứng minh về điều đó?
trả lời:
+ Phát triển vì: Nhà lý rất quan tâmtới sản xuất nông nghiệp và đề ranhiều biện pháp phát triển nôngnghiệp như các vua nhà Lý thường vềcác địa phương cày tịch điền, khuyếnkhích khai khẩn đất hoang nhiềunăm mùa màng bội thu
4 Phương pháp vấn đáp.
a) Bản chất.
Vấn đáp là phương pháp mà giáo viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi đểhọc sinh trả lời nhằm gợi mở cho học sinh những vấn đề mới, tự khám phánhững tri thức mới bằng sự tái hiện những điều đã học hoặc những kinhnghiệm đã tích lũy được trong cuộc sống, giúp học sinh củng cố, mở rộng đàosâu, tổng kết, hệ thống hóa những tri thức đã tiếp thu được, từ đó có thể đánhgiá việc lĩnh hội tri thức của mình
b) Quy trình thực hiện.
- Giáo viên nêu câu hỏi
- Học sinh suy nghĩ
- Giáo viên gọi học sinh trả lời
- Giáo viên đặt câu hỏi phụ ( câu hỏi gợi mở ) nếu học sinh chưa trả lời đúng,
- Khi học sinh trả lời, giáo viên cần lắng nghe và khi cần có thể hỏi thêm câuhỏi phụ để dẫn dắt, gợi mở cho học sinh trả lời câu hỏi chính
- Có thái độ bình tĩnh khi học sinh trả lời sai hoặc thiếu chính xác
Trang 13- Chú ý rèn luyện cho học sinh cách diễn đạt.
- Cần tạo cho học sinh một hành lang an toàn khi nêu thắc mắc
g) Ví dụ.
Ví dụ 1:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- GV treo bảng đồ các quốc gia cổ
đại phương Đông
- Hướng dẫn cho học sinh quan
sát, thảo luận về nội dung bức
tranh khắc trên tường đá một lăng
mộ ở Ai cập
- Làm bài tập: Điền vào chỗ chấm
( ) trong sơ đồ sau:
- Nghiên cứu sách giáo khoa
- Thảo luận nhóm
- Quan sát tranh và thảo luận câu hỏi Hoàn thành sơ đồ theo mẫu sau:
Tên các quốc gia cổ đại phương Đông
Thời gian hình thành
Đặc điểm và địa bàn
Nghề chính
Ví dụ 2: Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh GV: Yêu cầu học sinh đọc SGK GV: Đời sống vật chất của cư dân Văn Lang ra sao? GV: Gợi ý những câu hỏi nhỏ - Nhà ở? - Thức ăn? - Trang phục? - Đi lại bằng gì? GV: Nhận xét, bổ sung HS: Đọc SGK HS: Dựa vào SGK, suy nghĩ và lần lược trả lời những câu hỏi nhỏ mà giáo viên đã gợi ý - Họ ở nhà sàn mái cong hình thuyền hay mái tròn hình mui thuyền làm bằng gỗ, tre,
- Thức ăn chính là cơm nếp, cơm tẻ
- Nam đóng khố, mình trần, Nữ mặc váy, áo xẻ giữa,
- Đi lại chủ yếu bằng thuyền
5 Dạy học bằng bản đồ tư duy.
a Bản chất và lợi ích của bản đồ tư duy.
Bản đồ tư duy hay còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy là phương pháp chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Học sinh tự ghi chép kiến thức trên bảng đồ tư duy bằng từ khóa và ý chính, cụm từ viết tắt và các đường liên kết, ghi chú, bằng các hình ảnh màu sắc và chữ viết Khi tự ghi theo cách hiểu của mình, học sinh sẽ chủ động hơn, tích cực học tập và ghi nhớ bền vững hơn, dễ mở rộng, đào sâu ý tưởng
Trang 14Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học mang lại hiệu quả cao, pháttriển tư duy lôgic, khả năng phân tích tổng hợp, học sinh hiểu bài nhớ lâu thaycho ghi nhớ dưới dạng thuộc lòng, học vẹt.
c Một số lưu ý.
- Học sinh cần được giới thiệu nhiều cách tổ chức thông tin dưới dạng sơ đồ
tư duy: Sơ đồ thứ bậc, sơ đồ mạng, sơ đồ chuỗi, sơ đồ quan hệ toàn bộ hoặcmột phần
- Giáo viên đưa ra câu hỏi để gợi ý học sinh lập sơ đồ (thấy được quan hệgiữa từ khóa với các từ thứ cấp hay chủ đề chính với các chủ đề nhỏ)
- Khuyến khích học sinh phát triển, sắp xếp ý tưởng để hoàn thành sơ đồ
Lập kế hoạch bài học là một công việc quan trọng của người giáo viên,
vì nó thể hiện sự thiết kế các hoạt động dạy học của thầy và các hoạt động họccủa trò nhằm thực hiện mục tiêu bài học.Việc lập kế hoạch bài học giúp giáoviên tự tin hơn, chủ động giải quyết các tình huống sư phạm nảy sinh trongquá trình dạy học, vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào bộ môn, pháthuy khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh
Nhà ở
Trang phục
Đời sống vật chất của cư dân Văn Lang
Trang 151.Quy trình xây dựng kế hoạch bài học:
- Thứ nhất: Xác định mục tiêu bài học, đây là vấn đề thăng chốt khi lập kếhoạch bài học vì nó quyết định tiến trình, nội dung, các phương pháp dạy họccùng các hoạt động của giáo viên và học sinh, nội dung và phương pháp đánhgiá kết quả học tập Mục tiêu bài học cần dựa theo chuẩn kiến thức, kĩ năng
và nội dung giảm tải do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành Trong mục tiêu bàihọc cần xác định thêm những kiến thức học sinh đã biết có liên quan đến bàihọc và những kiến thức mới trong bài học cần được hình thành cho học sinh
- Thứ hai: Chuẩn bị đồ dùng dạy học (bản đồ, sơ đồ, mẫu vật, tranh ảnh, phiếuhọc tập, bảng phụ…) cho giáo viên và học sinh
- Thứ ba: Lựa chọn phương pháp thích hợp với nội dung, đối tượng và hìnhthức tổ chức dạy học linh hoạt
- Thứ tư: Xem xét nội dung bài học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng, giảm tải đểtrình bày những nội dung chủ yếu và xác định nội dung cho từng phần
- Thứ năm: Xác định nội dung củng cố bằng cách đặt câu hỏi hoặc cho họcsinh làm bài tập
- Thứ sáu: Phần dặn dò gồm: Yêu cầu học sinh về nhà học bài cũ, ra bài tập
về nhà và nghiên cứu tiếp bài tiếp theo
2.Cấu trúc kế hoạch bài học.
- Tuần, ngày soạn:
- Tiết,ngày dạy:
- Phần,chương,bài,tên bài
- Những kiến thức học sinh đã biết có liên quan đến bài học và những kiếnthức mới trong bài học cần được hình thành cho học sinh
- Phần mục tiêu gồm: kiến thức, kĩ năng, thái độ
- Phần chuẩn bị gồm: đồ dùng dạy học của giáo viên, học sinh và phươngpháp dạy học
- Phần tiến trình lên lớp gồm: ổn định, kiểm tra bài cũ, bài mới, giới thiệu bàimới
- Phần các hoạt động gồm: thời gian, nội dung, hoạt động của giáo viên, hoạtđộng của học sinh, phương tiện
Bài 11 NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ XÃ HỘI
Những kiến thức học sinh đã biết có
liên quan đến bài học
Những kiến thức mới trong bài họccần được hình thành cho học sinh
- Thuật luyện kim được phát minh
- Nghề nông trồng lúa nước ra đời
Trang 16- Sự hình thành làng bản ( chiềng,chạ).
- Lược đồ một số di chỉ khảo cổ ở Việt Nam
- Lược đồ các nền văn hóa trên đất nước ta từ thế kỉ VIII TCN đến thế kỉ ITCN
- Bảng phụ ghi câu hỏi, bài tập
2 Kiểm tra bài cũ.(4`).
- Câu hỏi: Em hãy nêu những phát minh thời Phùng Nguyên, Hoa Lộc?Những phát minh đó có ý nghĩa như thế nào?