1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nét độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ nguyễn bính

79 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là những mẫu chuyện ngắn sinh động về đời sống, về những cá tính, về sự thông minh trong ứng tác, và cả những bí mật đời tư của Nguyễn Bính… Quyển sách này còn tập hợp những bài thơ l

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

-KHÓA LUÂ ̣N TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Làn gió lạ từ phong trào Thơ mới đã làm cho các bậc thi nhân không thể ngồi yên mà phải cựa quậy, chuyển mình trước một cơn bão lớn của thời đại thi ca Như một lẽ tất yếu, Nguyễn Bính đến với phong trào Thơ mới như “một tình nhân không lỗi hẹn”, không đắm say, cuồng nhiệt như Xuân Diệu; không điên cuồng như Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử; không ảo não như Huy Cận… Nguyễn Bính chọn cho mình một phong cách riêng Với chất giọng trong trẻo, đằm thắm, thiết tha, thấm đẫm hồn quê, thơ Nguyễn Bính đã cảm hóa được đại bộ phận công chúng kể cả những độc giả khó tính

Cũng viết về làng quê nhưng không nghiêng về cảnh như Anh Thơ, không chăm chút đến tục quê như Đoàn Văn Cừ, thơ Nguyễn Bính cứ thế chiếm trọn không gian quê và hơn hết đọc thơ ông dường như tình quê cứ bàng bạc trong lòng độc giả Vì thế, một nhà văn khi nói về thơ Nguyễn Bính đã không kiệm lời cho những nhận xét: “Thơ Nguyễn Bính không có cái hào hoa lãng tử của Thế Lữ, cái bay bổng háo hức của Xuân Diệu, cái vẻ kì bí của Chế Lan Viên, cái điên rồ vật vã của Hàn Mặc Tử Thơ Nguyễn Bính chỉ mang nặng mối tình đằm thắm với xứ quê, người quê và chứa chất muôn vàn tâm sự của một đời thi sĩ lang bạt kì hồ đầy khổ đau, đắng cay và thất vọng” Để chuyển tải nội dung mang đậm “hồn quê”, Nguyễn Bính đã xây dựng nên những hệ thống hình tượng và sử dụng những hình thức nghệ thuật vô cùng đặc sắc Chính điều đó đã tạo cho Nguyễn Bính một thế giới nghệ thuật thơ độc đáo

Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể bao gồm tất cả các yếu tố, cấp độ, trong

đó lại có một chỉnh thể nhỏ hơn được đặt trong mối quan hệ biện chứng nhất định, xâu chuỗi với các yếu tố khác Nghiên cứu thế giới nghệ thuật là để tìm hiểu quy luật sáng tạo của chủ thể, quan niệm nghệ thuật, cuộc sống, nhân sinh của người nghệ sĩ Thơ trữ tình là biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của nhà thơ Những cảm xúc tâm trạng, suy nghĩ của thi sĩ thể hiện trong thế giới nghệ thuật chính là những biểu hiện của cái Tôi và các nguyên tắc thể hiện nó

Trang 3

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nét độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính” với hi vọng sẽ tìm ra những nét đặc sắc trong thơ ông; từ đó thấy được những đóng góp của Nguyễn Bính cho thi ca dân tộc, khẳng định vị trí là “một trong ba đỉnh cao của Thơ mới Việt Nam cùng với Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử” [18, tr.60] Bên cạnh đó, Nguyễn Bính là một tác giả được chọn và đưa vào sử dụng trong nhà trường phổ thông và trong chương trình đào tạo cử nhân Ngữ văn ở các trường đại học, cao đẳng, do vậy việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp ích cho công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy về sau

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nguyễn Bính là cái tên không còn xa lạ gì với độc giả trong cả nước Có thể nói, Nguyễn Bính – thi sĩ của “chân quê”, “hồn quê”, “tình quê” đã khiến bao trái tim ngây ngất suốt mấy mươi năm qua… Nhà phê bình Vương Trí Nhàn có nói rằng: “Chỉ trong phạm vi thế kỉ này, giữa không biết bao nhiêu thế kỉ mà nông thôn nước ta cung cấp cho văn học, trước sau, Nguyễn Bính vẫn là một tài năng bậc nhất, hơn nữa, một tài năng tự nhiên, nghĩa là vừa dồi dào, vừa độc đáo” Có thể thấy rằng, Nguyễn Bính không chỉ chiếm được cảm tình của phần đông công chúng với những cánh diều, cây cau, bụi chuối, bến đò…mà những thứ dân dã ấy cũng cảm hóa được các nhà văn, nhà thơ, các nhà phê bình văn học, kể cả rất nhiều học viên, sinh viên chọn Nguyễn Bính để làm đề tài nghiên cứu

Cuốn sách Nguyễn Bính, về tác gia tác phẩm do Hà Minh Đức và Đoàn Đức

Phương giới thiệu là một tuyển tập về các công trình nghiên cứu về Nguyễn Bính ngay từ lúc ông mới xuất hiện trên thi đàn cho đến khi ông qua đời Với các bài viết của Hoài Thanh, Tô Hoài, Bùi Hạnh Cẩn…và các nhà nghiên cứu như Đỗ Lai Thúy, Vương Trí Nhàn, Trần Mạnh Hảo, Vũ Quần Phương, Hà Minh Đức cuốn sách đã đem đến cho bạn đọc một cái nhìn khá toàn diện về Nguyễn Bính Những vấn đề liên quan đến nội dung và hình thức đều được các tác giả trình bày khá đầy

đủ về một khía cạnh nào đó Các công trình đó cũng khẳng định chất dân gian là yếu tố chủ đạo trong thơ ông, nó không chỉ thể hiện đậm nét trong nội dung mà hình thức cũng đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 4

Tác giả Chu Văn Sơn trong cuốn Ba đỉnh cao Thơ mới: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003) là một công trình nghiên cứu khá

công phu Theo Chu Văn Sơn: “Trong các nhà Thơ mới, Xuân Diệu thì “mới nhất”, còn Nguyễn Bính “quen nhất”, trong khi Hàn Mặc Tử lại “lạ nhất” Về sắc điệu trữ tình, một người là “thi sĩ của tình yêu”, một người là “thi sĩ của thương yêu”, còn người kia là “thi sĩ của đau thương” Người này cầm cờ nhóm “Xuân Huy”, người kia lĩnh xướng “dòng thơ quê”, người còn lại cai trị “trường thơ loạn”” [18, tr.2] Trong cuốn sách này, với mỗi tác giả, Chu Văn Sơn chia làm ba phần: tiểu sử, tiểu luận và thẩm bình tác phẩm, nó đã làm cho độc giả một cái nhìn tổng quát nhất về cuộc đời, thế giới thơ của ba tác giả Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử Với Nguyễn Bính, Chu Văn Sơn đã đi vào khai thác về cái Tôi lỡ dở, về sự hoài niệm và giọng điệu chân quê trong thơ Nguyễn Bính, qua đó tác giả khẳng định được vị thế đỉnh cao của Nguyễn Bính trong làng Thơ mới Việt Nam

Nguyễn Bính – thơ và đời (Nxb Văn hóa dân tộc, 2000) do Vũ Nam biên

soạn là tập hợp những mẫu giai thoại về Nguyễn Bính từ khi ông còn nhỏ cho đến khi ông qua đời Đó là những mẫu chuyện ngắn sinh động về đời sống, về những cá tính, về sự thông minh trong ứng tác, và cả những bí mật đời tư của Nguyễn Bính… Quyển sách này còn tập hợp những bài thơ làm nên tên tuổi của Nguyễn Bính, và còn có những bài cảm nhận về Nguyễn Bính của một số nhà văn, nhà phê bình như

Tô Hoài, Chu Văn, Huy Vinh, … và cả những nhà thơ với những tác phẩm thơ viết

về Nguyễn Bính như Vũ Quốc Ái, Vũ Minh Am, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Quần Phương,… Có thể thấy, thông qua những giai thoại và những bài cảm nhận phần nào giúp người đọc hình dung được một bức chân dung về cuộc sống và cá tính sáng tạo của Nguyễn Bính

Nguyễn Đình Thu trong cuốn Nguyễn Bính – Thi sĩ giang hồ lại nghiên cứu,

nhìn nhận những nét hay, độc đáo về tác giả Nguyễn Bính ở một khía cạnh khác Nguyễn Đình Thu đã mang đến cho độc giả một chân dung Nguyễn Bính bằng cách giới thiệu đan xen giữa các chi tiết đời thường và đặc điểm của tác phẩm Cuốn sách gồm có 10 kỳ, mỗi kỳ lại đề cập đến một vấn đề riêng nhưng có liên quan đến nhau

Trang 5

về Nguyễn Bính Kỳ 1, giới thiệu những giai thoại cậu bé Nguyễn Bính “thần đồng” Kỳ 2, những năm tháng Nguyễn Bính bắt đầu khởi bước giang hồ đi khắp đây đó Kỳ 3, những thay đổi của Nguyễn Bính cả về cuộc sống lẫn phong cách thơ khi len lỏi vào cuộc sống ở Hà Nội Kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6, kỳ 7 tác giả dành để bàn về một số tác phẩm đánh dấu tài năng và sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Bính, trong mỗi tác phẩm đó tác giả lại đan xen với những mảnh chuyện có liên quan đến sự ra đời của bài thơ Kỳ 8, là những tháng ngày rong ruổi ở Phương Nam của Nguyễn Bính

Kỳ 9, là cảm nhận của tác giả về bài Hành phương Nam Kỳ cuối, là lúc Nguyễn

Bính từ bỏ dòng thơ lãng mạn cũng được tác giả ghi lại Cuốn sách đã mang đến cho người đọc một bức chân dung sinh động về nhà thơ tài hoa của xứ đồng quê – Nguyễn Bính

Cuốn sách Tác giả trong nhà trường – Nguyễn Bính do Nhà xuất bản Văn

học phát hành là sự tập hợp của khá nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Bính Tiêu biểu có bài viết: “Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính” của Thanh Việt; Hoài Việt với: “Nguyễn Bính – Thi sĩ của thương yêu”; Đoàn Hương với: “Nguyễn Bính – Thi sĩ nhà quê”, Nguyễn Quốc Túy với: “ Thi pháp dân gian trong Thơ mới Nguyễn Bính”… mỗi bài viết có mỗi cách nhìn nhận đánh giá khác nhau về thơ Nguyễn Bính, từ đó giúp người đọc có một cái nhìn đa diện về thế giới nghệ thuật của nhà thơ chân quê này Bên cạnh đó, cuốn sách cũng tập hợp một số bài viết của các tác giả về những bài thơ hay làm nên tên tuổi và phong cách thơ của Nguyễn Bính, ví

như: Hà Minh Đức với: “Bài thơ Chân quê”, Văn Tâm với bài viết: “Về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính”, Hoàng Như Mai với Lỡ bước sang ngang, Vũ Quần Phương với Cô hái mơ Những bài viết này đã đi sâu phân tích những cái hay

trong mỗi bài thơ, từ đó giúp cho người đọc có thể cảm được bài thơ một cách sâu sắc hơn Hầu hết các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đều có chung nhận định: Nguyễn Bính là thi sĩ “chân quê”, “tình quê”, “hồn quê”; là người đã góp phần đánh thức “hồn dân tộc” trong mỗi người dân Việt Nam

Cuốn sách Nguyễn Bính – Thâm Tâm do Hồ Sĩ Hiệp cùng một số giáo viên

giỏi văn sưu tầm và biên soạn là một công trình tập hợp một số bài viết nghiên cứu

Trang 6

về hai nhà thơ Nguyễn Bính và Thâm Tâm Cuốn sách được chia làm hai phần: Phần thứ nhất bàn về Nguyễn Bính, phần thứ hai bàn về Thâm Tâm Nghiên cứu về Nguyễn Bính gồm có cuộc đời, tác phẩm và các bài bình luận về phong cách thơ Nguyễn Bính như: “Đường về chân quê của Nguyễn Bính” của Đỗ Lai Thúy, bài:

“Thông điệp Nguyễn Bính” của Nguyễn Phan Cảnh, Phạm Thị Hòa… và còn một

số bài viết về tác phẩm Tương tư và Lỡ bước sang ngang Hầu hết các tác giả đều

khẳng định Nguyễn Bính là một nhà thơ chân quê với ngôn từ giản dị, mộc mạc xứng đáng được xem là người có công níu giữ hồn quê của dân tộc

Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức trong cuốn Nguyễn Bính, thi sĩ của đồng quê

do Nxb Giáo Dục xuất bản năm 1998 đã nhìn nhận thơ Nguyễn Bính một cách rất sâu sắc và toàn diện Ông đã chỉ ra cho chúng ta thấy được hình ảnh của một vùng quê ngập tràn trong thơ Nguyễn Bính: “Quê mẹ là vùng đất của nhiều trái cây và nhiều loài hoa: hoa lan nhiều loại, hoa huệ, hoa cúc, hoa tử tiêu, hoa hồng quế…Mặt nước và ao ngòi, luôn có hoa sen, hoa súng, hoa ấu và hoa trang…Những vòng bờ ao um tùm những cây dâu quả thẫm, chen những gốc cam yên, sắn, ổi, táo, chay, nhãn, vải… Trước cửa nhà thấp thoáng những giàn đỗ ván, giàn nho, giàn thiên lý hoa vàng riêng biệt.” [4, tr.133] Rồi đến cả những tình cảm của con người nơi ấy, từ tình cảm gia đình, láng giềng đến tình cảm nam nữ cũng mộc mạc, giản dị

và rất chân quê

Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, xuất bản năm 1942 của nhà phê bình văn

học nổi tiếng Hoài Thanh, ông đã nhận định: “Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê ẩn náu trong ta Ta bỗng thấy vườn cau, bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta” [20, tr.371] Chỉ trong vài câu nhận định nhưng tác giả đã khẳng định được chất chân quê trong thơ Nguyễn Bính, đồng thời đã khẳng định được ảnh hưởng của Nguyễn Bính đối với độc giả

Vương Trí Nhàn với công trình nghiên cứu về Nguyễn Bính mang tên Cánh bướm và đóa hướng dương do Nxb Phụ nữ xuất bản năm 2006 đã có một hướng đi

Trang 7

khác trong việc nghiên cứu về Nguyễn Bính Tác giả nhìn nhận thơ Nguyễn Bính qua việc tìm hiểu cuộc đời và con người của nhà thơ

Đoàn Thị Đặng Hương với bài viết “Nguyễn Bính nhà thơ chân quê” in trong

cuốn Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, năm 1993, đã khẳng

định Nguyễn Bính là nhà thơ chân quê qua việc tìm hiểu sâu về thi pháp thơ của Nguyễn Bính Tác giả cho rằng, Nguyễn Bính không những tiếp nhận rất sâu sắc và tinh tế những thi pháp văn học dân gian mà Nguyễn Bính đã sáng tạo và mở rộng hơn một bước so với văn học dân gian để phù hợp với thơ mới hiện đại, đồng thời bản thân nhà thơ đã tiếp nhận và phát triển thi pháp và tư duy của các nhà thơ trên thi đàn Thơ mới

Trong bài viết “Đóng góp của thơ Nguyễn Bính” đăng trên báo Giáo viên nhân dân, số đặc biệt, tháng 7/1969 của Vũ Quần Phương, tác giả đã đưa ra những

nhận định khá sâu sắc và toàn diện về hồn thơ Nguyễn Bính Vũ Quần Phương đã làm rõ hơn một bước về thơ Nguyễn Bính “Đó là hồn của làng mạc quê hương, vườn cau mái rạ.” [16, tr.235] Nguyễn Bính ca ngợi vẻ đẹp chân quê hết mực với cảm xúc yêu thương của một con người xa quê Ông miêu tả quê hương thật sắc sảo

và tinh tế, đẹp và trong sáng cả cảnh quê lẫn tình quê: “Đời sống như ngưng đọng lại sau lũy tre xanh Tâm tình con người được quy định bằng nền kinh tế tiểu nông khép kín Những cô gái chăn tằm dệt vải chỉ đi từ khung cửi đến nương dâu và cô gái lái đò thì cũng chỉ quen với một khúc sông một cái bến Chỉ đêm hội làng là dịp

tụ hội của trai thôn nọ gái thôn kia Những mối tình quê nảy nở bao nhiêu vui buồn

mơ ước, nhớ mong, đau khổ xôn xao lên nhưng vẫn xôn xao trong sự tĩnh lặng cố hữu của quê hương Ngòi bút Nguyễn Bính có biệt tài diễn tả những mối tình quê thơ và mộng ấy.” [16, tr.236] Vũ Quần Phương đã phân tích thơ Nguyễn Bính ở cả góc độ thi pháp Thi pháp thơ Nguyễn Bính mang đậm tính dân gian bởi nhà thơ sáng tác phần lớn những tác phẩm của mình bằng thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc cùng với những ngôn ngữ rất trong sáng, mộc mạc của người nhà quê

Bên cạnh đó có rất nhiều bài viết về Nguyễn Bính trên các trang báo điện tử Lại Nguyên Ân với bài viết “Nguyễn Bính và tuần báo Trăm hoa”(1955-1957) trên

Trang 8

webside http://www.viet-studies.info Ngô Minh với bài viết “Nguyễn Bính –

Người đồng hành cô độc” đăng trên http://www.ctu.edu.vn đã cho người đọc một cái nhìn tổng quát về những trắc trở trong cuộc đời của ông Bên cạnh đó với những bài viết: “Nguyễn Bính – nhà thơ của hương đồng cỏ nội” của Thái Tú Hạp đăng trên http://www.saigongate.com Bài viết “Nhà thơ Nguyễn Bính – Hồn tôi giếng ngọt trong veo” của Phạm Khải đăng trên http://vnca.cand.com.vn Bài viết “Không gian thôn quê trong thơ Nguyễn Bính” đăng trên http://diendankienthuc.net Bài viết

“Chất dân gian trong thơ Nguyễn Bính” đăng trên http://bienlang.blogtiengviet.net Bài viết “Tính truyền thống và hiện đại trong thơ tình lục bát Nguyễn Bính” của Nguyễn Thành Giang đăng trên http://www.saimonthidan.com đã phần nào cho người đọc thấy được một diện mạo về nội dung và nghệ thuật thơ Nguyễn Bính

Tất cả công trình trên, tuy đã đi vào khám phá về nội dung cũng như nghệ thuật thơ Nguyễn Bính, nhưng nhìn chung mỗi công trình lại thiên về nghiên cứu về một mặt, một phương diện nào đó của thơ Nguyễn Bính Hà Minh Đức tập trung vào hình ảnh làng quê và những con người chân quê hơn cả Vũ Quần Phương mặc

dù có nói đến thi pháp thơ Nguyễn Bính nhưng hầu như tập trung sự chú ý nhiều nhất vào cảnh quê, tình quê Hay một số công trình khác thì chú ý vào cuộc đời và

con người của Nguyễn Bính như cuốn Nguyễn Bính – thơ và đời do Vũ Nam biên soạn và cuốn Cánh bướm và đóa hướng dương của Vương Trí Nhàn Một số cuốn

sách cũng có sự tập hợp của nhiều bài viết cả về nội dung và hình thức nhưng mỗi bài viết trong đó lại chỉ đề cập đến một vấn đề nào đó, chưa làm nổi bật được nét độc đáo trong nội dung và nghệ thuật thể hiện thơ Nguyễn Bính Hầu hết các công trình trên chỉ dừng lại ở chỗ chỉ ra những đặc điểm có trong thơ Nguyễn Bính chứ chưa chỉ ra được nét nào là độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ Chính vì vậy, trên

cơ sở tiếp thu những thành tựu mà các công trình trước đã đạt được, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính với hi vọng sẽ làm nổi bật những nét độc đáo về nội dung và hình thức nghệ thuật, từ đó góp thêm cái nhìn mới về những đóng góp của Nguyễn Bính đối với thi ca Việt Nam

Trang 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là những nét độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính; bao gồm: hình tượng làng quê, hình tượng người tình

lí tưởng, hình tượng kẻ giang hồ - thi sĩ… và những nét đặc sắc thể hiện ở giọng điệu, các thủ pháp tu từ, thể thơ

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các tập thơ chính của Nguyễn

Bính: Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi, Hương cố nhân, Người con gái ở lầu hoa…

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

Phương pháp thống kê – phân loại: Được dùng khi khảo sát nguồn tư liệu theo từng vấn đề cụ thể

Phương pháp phân tích – tổng hợp: phân tích, mổ xẻ, đi sâu vào các tác phẩm

để tìm ra những nét đặc sắc trong thế giới nghệ thuật, sau đó tiến hành tổng hợp, khái quát thành các luận điểm cơ bản để có thể đánh giá một cách toàn diện về thơ Nguyễn Bính

Phương pháp so sánh – đối chiếu: được dùng khi so sánh, đối chiếu với các nhà thơ khác để khẳng định được nét riêng của thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được cấu trúc làm ba chương:

Chương một: Nguyễn Bính – thi sĩ “chân quê”

Chương hai: Những hình tượng đặc sắc trong thơ Nguyễn Bính

Chương ba: Nét đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện thơ Nguyễn Bính

CHƯƠNG 1 NGUYỄN BÍNH – THI SĨ “CHÂN QUÊ”

1.1.Cuộc đời

Trang 10

Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính (có tài liệu cho là Nguyễn Bính Thuyết) Ông sinh năm 1918 (khoảng cuối mùa xuân đầu mùa hạ năm Mậu Ngọ) tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Gia đình ông thuộc loại nhà Nho thanh bần, sinh sống tại vùng đất nổi tiếng đồng chua nước mặn Thân phụ là cụ Nguyễn Đạo Bình (thường gọi Ông Cả Biền) làm nghề dạy học, tính tình điềm đạm, hiền lành, trọng chữ nghĩa Thân mẫu là cụ

bà Bùi Thị Miện, đức hạnh và xinh đẹp, thuộc một gia đình khá giả và có lòng yêu nước, ở thôn Vân, xã Đông Đội (nay là xã Minh Tân), cùng huyện Bà sinh được ba người con trai và mất năm 24 tuổi

Sau khi mẹ mất, Nguyễn Bính sống với bà cả Giần, chị ruột của mẹ Ông được học chữ với người anh ruột của mẹ (mà anh em Nguyễn Bính thường gọi là bác), tên là Bùi Trình Khiêm Cụ Khiêm nổi tiếng hay chữ khắp vùng nhưng thi cử không đỗ Thời kỳ này, Nguyễn Bính bắt đầu tấp tểnh làm thơ và dịch thơ, có bài được bác Khiêm khen hay, nên được nuông chiều Cùng với việc học chữ Nho, Nguyễn Bính vào lớp sơ học trường huyện Từ năm 1931, ở làng Thiện Vịnh, Nguyễn Bính nổi tiếng thần đồng; được giải nhất trong một cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng

Tuổi thơ của Nguyễn Bính gắn bó với đồng ruộng, cánh cò, cầu ao, rồi cả những giàn đỗ biển, giàn nho, giàn thiên lý… hoa rực rỡ bốn mùa đã ảnh hưởng rất sâu sắc đền tâm hồn thi nhân

Đến khoảng năm 1932, người anh là Trúc Đường thi đỗ thành chung, vào Hà Đông dạy học, ông mang Nguyễn Bính đi theo Nguyễn Bính có điều kiện hiểu biết thêm về tiếng Pháp và lại được đi khắp các vùng quê để giữ cho mạch thơ được chân chất

Cuộc sống chốn thành thị đã kéo ông vào vòng xoáy của cuộc sống mới lạ, không chịu nổi cảnh sống túng thiếu của hai anh em, Nguyễn Bính nghe lời một người bạn học ở thôn Vân rủ lên mạn ngược, vùng Thái Nguyên, dạy học kiếm sống Nhưng rồi cũng chẳng đủ ăn, không chịu được cảnh sống gò bó ở một nơi,

Trang 11

Nguyễn Bính thích rày đây mai đó, vì thế ông lại về Hà Nội, có khi đi bán báo ở phố Hàng Bồ Tuy nhiên, chính thời điểm này lại là những yếu tố để nuôi dưỡng cho hồn thơ của ông

Vào năm 1936, tên Nguyễn Bính bắt đầu xuất hiện và được người đọc chú ý

với bài thơ Cô hái mơ, trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm ở Hà Nội, và tới bài thơ

Lỡ bước sang ngang cũng đăng trên tờ báo ấy thì ông thực sự nổi tiếng Năm 1937, ông được Tự Lực văn đoàn trao giải khuyến khích với tập thơ Tâm hồn tôi Chỉ

trong một thời gian ngắn ông đã cho ra đời liên tiếp bảy tập thơ có nhiều giá trị

Vốn là người thích giao du bằng hữu nên sau những ngày lang thang ở mạn ngược và những chuyến giang hồ vặt, Nguyễn Bính tìm đường xuôi Nam, đây cũng

là tâm trạng chung của một lớp văn nghệ sĩ thời đó Có lẽ chuyến đi Sài Gòn đầu tiên của ông diễn ra năm “chàng trai còn trẻ mới hai mươi” mà ông đã ghi lại trong

bài thơ Lá thư về bắc, gửi người anh họ là nhà văn Bùi Hạnh Cẩn – con trai cụ Bùi Trình Khiêm — được in lại trong tập Lỡ bước sang ngang (1940)

Tới năm 1941, ông đi Huế tìm đề tài sáng tác Vào Huế, Nguyễn Bính gửi thư ra cho Trúc Đường đọc trước rồi đăng báo sau Cuối năm 1941, đầu năm 1942

Trúc Đường nhận được nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trong đó có Xuân tha hương

và Oan nghiệt Sau khi về lại Hà Nội, ông cùng Vũ Trọng Can lại làm một chuyến

“hành phương Nam” khác, lần này có thêm Tô Hoài

Lần chia tay cuối cùng với Trúc Đường là vào năm 1943, đến năm 1945 tin tức thưa dần Năm 1946 thì mất liên lạc hẳn

Khoảng năm 1943, ông ở trọ tại khách sạn nghèo Tân Hưng, Mỹ Tho Tại

đó, ông được sự giúp đỡ tận tình của Bảo Định Giang và bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, bác sĩ Dương Tấn Tươi Năm 1944, Nguyễn Bính được giải nhất truyện ngắn của

tạp chí Thanh Niên Ðông Pháp, với tựa đề Không đất cắm dùi

Từ Mỹ Tho, ông xuống Cần Thơ, ở lại nhà của Ðoàn Trọng Khang Từ Cần Thơ ông qua Rạch Giá, phải ngủ nhờ ở đình thờ Nguyễn Trung Trực Tại đó, ông quen với nhà thơ Kiên Giang Kiên Giang nhờ gia đình giúp đỡ, thuê một cái lều

Trang 12

của ông chủ sân banh Rạch Giá cho Nguyễn Bính ở và đây cũng là thời gian Nguyễn Bính đổi tên thành Nguyễn Bính Thuyết

Ðầu mùa hạ năm 1944, Nguyễn Bính chia tay với Kiên Giang đi Hà Tiên Ở đây ông đã sống những ngày rất đằm thắm với hai văn thi hữu mà ông xem như anh chị của mình là Ðông Hồ và Mộng Tuyết Ðất Hà Tiên giúp Nguyễn Bính làm được

nhiều thơ Tại đây ông sáng tác được truyện thơ Tỳ Bà Truyện theo thể lục bát, dài

1550 câu, mô phỏng vở tuồng nam hí Tỳ Bà Ký của Cao Minh thời cuối Nguyên đầu

Minh của Trung Hoa (thế kỷ 14)

Từ bỏ cuộc sống vui tươi đó, Nguyễn Bính lại về Sài Gòn, lại lao vào cuộc sống phiêu bạt “bất thường vô định của nhà thơ trác táng đến (có thể) vong khước hình hài” (Mộng Tuyết), Nguyễn Bính khi trọ vùng Chợ Cũ, khi ở Xóm Dừa hay khu Nancy, làm thơ đăng báo và lui tới với các văn nhân thi sĩ thành đô Thơ ông lại càng thấm đẫm chua cay và khinh bạc Có lúc, ông viết tùy bút dưới bút hiệu Kiều Mộc

Từ những ngày chưa kết thúc Thế chiến hai, Nguyễn Bính đã được móc nối

để trở thành một cán bộ kháng chiến Tại Rạch Giá, ông lập hội Văn hóa Cứu quốc,

và làm Phó chủ tịch Tỉnh bộ Việt Minh Sau một nhiệm kỳ Phó chủ tịch, Nguyễn Bính chuyển lên công tác ở Ban văn nghệ khu 8 tại Ðồng Tháp Mười, làm việc chung với Bảo Ðịnh Giang và nhà văn Ðoàn Giỏi

Trong giai đoạn này, ông lấy vợ người miền Nam, tên là Hồng Châu Hai người sống với nhau một thời gian và sinh con gái tên là Nguyễn Bính Hồng Cầu Sau đó ông lại kết hôn với bà Mai Thị Mới, ở ấp Hương Mai, Xã Khánh Lâm, huyện U Minh và lại sinh được một con gái đặt tên là Nguyễn Hương Mai

Năm 1954, Hiệp định Geneve đất nước tạm thời chia đôi thành hai miền Nam – Bắc Trong đoàn quân tập kết ra Bắc có Nguyễn Bính Tuy nhiên, khác với những chuyến ra Bắc vào Nam trước đây, lần này dù ra Bắc nhưng tâm hồn thi sĩ vẫn đau đáu nỗi niềm thương yêu người vợ hiền và con gái ở phương Nam:

“Trời còn có bữa sao quên mọc Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em.”

Trang 13

Khoảng năm 1958, Nguyễn Bính lại quay về cư trú ở Nam Ðịnh, làm việc tại

Ty Văn hóa Thông tin Nam Ðịnh Đây là khoảng thời gian đầy khó khăn của nhà thơ

Vào những ngày cuối năm Ất Tỵ, cảnh nhà Nguyễn Bính trống trơn trong khi xuân về rộn rịp đất trời; nhà thơ lửng thửng rời đất Vị Hoàng, đi tới một thôn xóm ven đô Nguyễn Bính cùng chủ khách lãng đãng nhắm rượi dưới gốc mai, đào Sáng hôm sau (20/1/1966), đúng sáng ba mươi Tết Bính Ngọ — ông thức dậy ra cầu ao rửa mình Một cơn gió bấc thổi đến “Nguyễn Bính, thấy trời đất xoay tròn, anh chỉ kịp kêu một tiếng rồi cả thân mình đổ xấp xuống, mặt úp vào bùn nước, máu mủi rỉ

ra Anh vừa mổ dạ dày tháng trước Có lẽ anh chết vì bục dạ dày” [5, tr.50] Năm ấy Nguyễn Bính 48 tuổi

Sự ra đi đột ngột của Nguyễn Bính đã để lại cho người dân Việt, đặc biệt là những người yêu mến hồn thơ ông nhiều điều tiếc nuối Nhưng những gì ông đã để lại – “hồn dân tộc” trong những tác phẩm của mình sẽ sống mãi trong lòng độc giả của hôm nay và mai sau

1.2 Sự nghiệp sáng tác

Trong suốt 30 năm, Nguyễn Bính đã sáng tác nhiều thể loại như thơ, kịch, truyện thơ Ông sáng tác rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thi ca Ông được đông đảo độc giả công nhận như một trong các nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại Bước vào thi đàn Việt Nam từ rất sớm, mười ba tuổi đã tập tành làm

thơ, mười tám tuổi đã nhận giải thưởng của Tự Lực văn đoàn với tập Tâm hồn tôi,

Nguyễn Bính đã khẳng định được vị trí của mình trên thi đàn và trong lòng bạn đọc

Trang 14

Cái tên Nguyễn Bính xuất hiện lần đầu tiên là vào năm 1936 với tác phẩm

trình làng Mưa xuân đăng trên báo Tự Lực văn đoàn Với một chất giọng mộc mạc,

chân quê thơ Nguyễn Bính như một cây đàn độc huyền cất lên giai điệu riêng không thể nào pha trộn trong làng Thơ mới đang chịu ảnh hưởng của thơ Tàu, thơ Tây Khác lạ nhưng không hề lạc điệu trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam, có lẽ sự xuất hiện của Nguyễn Bính đã góp phần giữ cho Thơ mới không bị lối thơ phương Tây kéo vào vòng xoáy hoàn toàn

Giai đoạn từ năm 1936 đến 1942 được xem là thời kỳ sáng tác sung mãn nhất của Nguyễn Bính Chỉ trong ba năm từ 1940 đến 1942 ông đã cho ra đời liên tiếp

bảy tập thơ: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Mười hai bến nước (1942), Mây tần (1942), Người con gái ở lầu hoa (1942), trong đó Lỡ bước sang ngang là tập thơ đã gắn

trọn đời với tên tuổi của ông Trong giai đoạn này, ở mỗi tập thơ Nguyễn Bính vẫn còn tâm trạng bỡ ngỡ của một người từ quê ra tỉnh với những điều mới mẻ của sự thay đổi văn hóa, xã hội Cuộc sống khác lạ ấy có lẽ nó đã hình thành nên tâm trạng day dứt, hoài niệm, xót xa đối với làng quê nơi có những “cánh cò”, “giàn đỗ ván”

mà cuộc sống thị thành không thể có Cũng trong giai đoạn này, hầu như mỗi tập thơ của Nguyễn Bính đều bắt nguồn từ cảm hứng tình yêu ông dành cho một người

phụ nữ Tập Tâm hồn tôi là những tình cảm e dè, thương thầm nhớ trộm cô Oanh Tập Hương cố nhân là tình yêu thơ mộng ông dành cho Anh Thơ Tập Người con gái ở lầu hoa thì ông lấy cảm xúc từ cô Tuyên, em gái của Nguyễn Đình Lạp và

nhiều bóng giai nhân khác như cô Dung, cô Phùng cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều bài thơ của Nguyễn Bính

Từ năm 1943 đến Cách mạng tháng Tám 1945, Nguyễn Bính đi nhiều nơi, mỗi vùng đất mà tác giả đi qua đều được ghi lại trong thơ Đó là những tâm sự day dứt về cuộc đời chung lẫn thân phận riêng của tác giả Không bằng lòng với cuộc sống gò bó của đất Bắc, chuyến du hành phương Nam đã mang lại những bước ngoặt trong cuộc đời và mang lại nguồn cảm hứng mới cho ông Có thể thấy, đây là những năm ngòi bút Nguyễn Bính chuyển mạnh từ thơ sang truyện thơ và văn xuôi

Trang 15

Năm 1944, Nguyễn Bính được giải nhất truyện ngắn của tạp chí Thanh Niên Đông

Pháp với tựa đề: Không đất cắm dùi Nguyễn Bính còn viết cả kịch thơ với tác phẩm Nguyễn Trãi, truyện thơ Cô gái Ba Tư và truyện Thạch Xương bồ Đặc biệt

vào năm 1944, say sưa trên đất Hà Tiên với sự tiếp đón ân cần của Đông Hồ và

Mộng Tuyết, Nguyễn Bính làm được nhiều thơ và đã cho ra đời cuốn truyện thơ Tỳ

Bà Truyện theo thể lục bát

Từ năm 1945 đến 1954, khi cuộc cách mạng Tháng Tám nổ ra, hòa cùng không khí chung của thời đại, đồng thời để giải tỏa những ngột ngạt, những băn khoăn day dứt về thời cuộc, Nguyễn Bính cũng tìm đến với kháng chiến như nhiều văn nghệ sĩ khác Trong suốt thời gian diễn ra cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc, Nguyễn Bính gắn bó với mảnh đất Nam Bộ, tại đây ông vừa hoạt động cách mạng lại vừa cho ra đời những tác phẩm có giá trị Thơ ông lúc này chuyển hướng, gần như vè, và được ông sử dụng như một thứ vũ khí động viên nhân dân

vùng lên đánh đuổi giặc Pháp Ngay từ những ngày đầu ông đã cho ra mắt Tập thơ yêu nước, tùy bút Sang máu và tập thơ Sóng biển cỏ có giá trị cổ vũ kháng chiến rất

lớn Từ năm 1948 cho đến 1953 Nguyễn Bính liên tục cho ra đời những tác phẩm:

Ông lão mài gươm, Trăng kia đã đứng ngang đầu, Những dòng tâm huyết, Mừng Đảng ra đời…

Sau năm 1954, có thể nói mảng đề tài thành công nhất của ông ở giai đoạn

này mang cảm xúc nỗi nhớ về miền Nam Ba tập thơ: Đồng Tháp Mười, Trả ta về, Gửi người vợ miền Nam hội tụ những cảm xúc, những hoài niệm về một thời tuổi

trẻ Bên cạnh đề tài viết về nỗi nhớ miền Nam, Nguyễn Bính còn viết về nhiều chủ

đề khác, đó là: thơ đấu tranh thống nhất nước nhà và công cuộc xây dựng xã hội

mới với những tác phẩm như: Nước giếng thơi, truyện thơ Tiếng trống đêm xuân, truyện thơ Trông bóng cờ bay, vở kịch Cô son, tập thơ Tình nghĩa đôi ta, Đêm sao sáng

Đặc biệt, năm 1955 Nguyễn Bính đã cho in cuốn Cách làm thơ lục bát Cuốn

sách là sự đúc kết những kinh nghiệm, những suy nghĩ của tác giả về thể thơ lục bát

và cách làm thơ lục bát của dân tộc

Trang 16

Năm 1964, Nguyễn Bính đã cho ra mắt vở chèo Người lái đò sông Vị và

nhiều tác phẩm có giá trị khác Tác phẩm cuối cùng của Nguyễn Bính là một bài thơ

được viết theo lối “tập Kiều” có tên Kính gửi cụ Nguyễn Du

Ra đi khi tuổi đời còn trẻ và sự nghiệp còn đang dở dang, ở tuổi 48, Nguyễn Bính đã để lại một sự nghiệp văn chương đáng nể Nhìn chung trong suốt chặng đường thơ, các tác phẩm của Nguyễn Bính có thể chia làm hai dòng: “lãng mạn” và

“cách mạng”, dòng nào cũng có số lượng đồ sộ nhưng khi nói về Nguyễn Bính là nói về nhà thơ lãng mạn của làng quê Việt Nam Người đọc thấy ở thơ ông những nét dung dị, đằm thắm, thiết tha, đậm sắc hồn dân tộc, gần gũi với ca dao Cái tình trong thơ Nguyễn Bính luôn luôn mặn mà, mộc mạc, sâu sắc và tế nhị hợp với phong cách, tâm hồn của người Á Đông

Trong khi hầu hết các thi sĩ trong phong trào Thơ mới chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây, Nguyễn Bính lại gắn bó và hấp thụ tinh hoa ca dao, dân ca, truyện thơ dân gian Mặc dù trong thơ Nguyễn Bính đôi lúc có chịu chút ảnh hưởng lối thơ phương Tây nhưng nhìn chung thơ ông là thơ “chân quê”, mỗi câu, mỗi ý đều lột tả được cái nét riêng về hương đồng cỏ nội của đồng quê Việt Nam, của con người, cả

về tính cách lẫn tình cảm

Trở về với cội nguồn của dân tộc với những cảnh thôn quê đồng nội, với những con người chân chất, mộc mạc thơ Nguyễn Bính vì thế tạo cho mình một vỏ bọc bề ngoài cũng hài hòa với nội dung Thể thơ lục bát gần gũi với ca dao dân ca, thể thơ năm chữ và thể thơ bảy chữ cũng được ông vận dụng để chuyển tải những tâm tư tình cảm của mình Những hình ảnh trong thơ Nguyễn Bính cũng hết sức gần gũi với người dân thôn quê, những hình ảnh bình dị, thân quen: “hàng cau”,

“giàn trầu”, “dậu mùng tơi”, “cây bưởi”, “thôn Đoài”, “thôn Đông”, … Tuy nhiên không phải vì sử dụng những thi liệu quen thuộc mà thơ Nguyễn Bính rơi vào sáo mòn, cũ rích, ở thơ ông ta thấy được nét hiện đại toát ra từ cách sử dụng hình ảnh, nhịp điệu mới mẻ và đặc biệt là ở cái hồn, cái cảm của người thi sĩ

Ra đi khi hai năm nữa mới tới tuổi “tri thiên mệnh”, với Nguyễn Bính, chừng

ấy chưa thể gọi là đủ cho một cuộc đời và một sự nghiệp văn chương còn lỡ dở

Trang 17

nhưng ông đã để lại một sự nghiệp thơ ca đáng nể với đủ các thể loại Với những gì

đã làm được, Nguyễn Bính sẽ luôn sống mãi trong lòng độc giả với những “cánh diều”, “dậu mùng tơi”… với những tâm tư tình cảm của những đôi lứa yêu nhau nơi thôn quê dân dã

1.3 Vị trí của Nguyễn Bính trong thơ ca Việt Nam

Văn chương có đủ sức tồn tại hay không còn phụ thuộc rất lớn vào lượng độc giả, bạn đọc có hứng thú, có yêu thích thì tác phẩm đó mới tồn tại lâu bền được Nói

về đặc điểm này, có lẽ chưa ai vượt qua được Nguyễn Bính Ngô Thảo đã từng có nhận xét về sự phổ biến rộng rãi của thơ Nguyễn Bính như sau: “ Các bà mẹ mượn thơ ông làm lời ru con; các chàng trai, cô gái nhờ thơ ông mà trao đổi tâm tình, những người trung niên ngâm ngợi thơ ông lúc vui, lúc buồn, đoàn tụ, biệt ly”[5, tr.375] Có được sức hút mạnh mẽ như vậy chắc hẳn thơ Nguyễn Bính có một vị trí rất đặc biệt trong làng thơ ca Việt Nam?

Nguyễn Bính sinh ra trong thời buổi đất nước đang gồng mình chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp Cùng với việc xâm lược nước ta, thực dân Pháp đặt ra chính sách cai trị mới và đó cũng là lúc đất nước có nhiều thay đổi: đô thị mọc lên ngày càng nhiều, những anh nông dân xưa kia chỉ biết cầm cuốc, cầm cày nay cũng

“mò mẫm” tìm đường để hòa nhập với cuộc sống thành thị Và dĩ nhiên những giá trị văn hóa cũng bắt đầu thay đổi, văn hóa phương Tây với những nét mới lạ đã quyến rũ đại đa số quần chúng, đặc biệt là các bậc thi nhân, họ đang phấn khởi đi tìm một cái Tôi cá nhân hoàn toàn khác ở trong phong trào Thơ mới

Tuy nhiên, khi mà Thơ mới đang thịnh hành với những cách tân mang màu sắc phương Tây đậm nét từ nội dung cho đến hình thức thì Nguyễn Bính, như một bông hoa dị sắc lại tỏa ra những hương thơm hoàn toàn khác biệt Thứ hương thơm của nơi đồng nội, của những cánh diều hâu, của dậu mùng tơi, rặng tre, của ao bèo… đã khiến không biết bao nhiêu độc giả say mê với một giọng điệu hoàn toàn khác lạ: mộc mạc, nhẹ nhàng, đơn sơ với hình ảnh “chân quê” nhưng vô cùng thấm thía “hồn quê” Ông theo đuổi con đường Thơ mới nhưng với một thái độ khác: Nguyễn Bính cách tân ngay chính trên những giá trị văn hóa truyền thống của dân

Trang 18

tộc Tự mở cho mình một con đường riêng, một mình nhọc nhằn trên con đường thơ

ấy, vất vả có, cay đắng có và hẳn là cũng khá nhiều đau đớn khi thời buổi bấy giờ đang muốn lãng quên đi những giá trị truyền thống để chuộng thứ văn chương mới

lạ từ phương Tây Thế nhưng, với tất cả những gì Nguyễn Bính đã mang đến cho thi đàn nó không hề làm cho người ta muốn lãng quên những giá trị truyền thống mà càng yêu hơn, trân trọng hơn những nét văn hóa xưa của dân tộc Việt

Người đương thời xem bài thơ Chân quê như là một tuyên ngôn nghệ thuật

“Con đi quạnh cửa quạnh nhà Cha già đập lúa, mẹ già rũ rơm Cha dậm gạo, mẹ dầm cơm

Có con con vắng ai làm thay cho”

(Thư gửi thầy mẹ)

Cũng viết về làng quê nhưng có thể khẳng định rằng: chưa có nhà thơ nào vượt qua được ngòi bút tả cảnh, tả tình đặc sắc như Nguyễn Bính Đoàn Văn Cừ chỉ mạnh về tục quê, Anh Thơ chỉ nghiêng về cảnh quê, riêng Nguyễn Bính ở mặt nào ông cũng mạnh, mặt nào ngòi bút ông cũng thỏa sức tung hoành Viết về cảnh quê, bức tranh nào của Nguyễn Bính cũng đầy màu sắc, cũng giống như một thế giới linh

hoạt Ông chỉ chấm phá vài nét, nhưng những nét chấm phá ấy lại như gắn kết tạo thành một bức tranh hài hòa tình và cảnh:

Trang 19

“Có chiếc thuyền nằm trên cát mịn

Có đàn trâu trắng lội ngang sông

Có cô thợ ruộm về ăn tết Sương gió đường xa rám má hồng”

(Không đề)

Mà hình ảnh đâu có gì đặc sắc, cũng là những hình ảnh nơi làng quê quen thuộc: “cây cau”, “vườn trầu”, “chiếc thuyền”, “dậu mùng tơi” … thế nhưng Nguyễn Bính lại có cách kết hợp độc đáo, ông lại phả vào đó một chất keo gắn kết

mà người ta gọi là: “tình quê” Hoài Thanh đã so sánh Nguyễn Bính và Anh Thơ như sau: “Đồng quê xứ Bắc đã gây cảm hứng cho khá nhiều nhà thơ Nhưng mỗi nhà thơ xúc cảm một cách riêng Nguyễn Bính nhà quê hơn cả nên chỉ ưa sống trong tình quê mà ít để ý đến cảnh quê Anh Thơ không nhà quê một tí nào Anh Thơ là một người thành thị đi du ngoạn nên chỉ thấy cảnh quê… ” Dù viết về cảnh quê hay đến mấy, đẹp đến mấy nhưng cái cuối cùng còn lại trong thơ Nguyễn Bính không chỉ là hình ảnh của làng quê mà chính là tình quê Giữa cảnh sắc làng quê, con người hiện lên với những tâm tư tình cảm, có thể là tâm sự của một cô gái “lỡ bước sang ngang”, hoặc là của một bà mẹ tiễn con đi lấy chồng, hoặc là tình đơn phương của một anh hàng xóm, và cũng là tình cảm của con cái đối với bố mẹ, của những người bạn dành cho nhau, hay của người chồng nhớ vợ thương con… cứ thế những vần thơ Nguyễn Bính dù giản dị, đơn sơ như những người dân quê nhưng lại chất chứa trong đó biết bao tình cảm:

“Thuyền trăng ai chở sang Đoài Đêm khuya mở rộng then cài cửa ra Trăng vào, bóng nữa là ba

Với em ở trái tim ta là nhiều”

Trang 20

định rằng: “Cho dù ông miêu tả cảnh quê hay mượn cảnh để ký thác một nỗi niềm, một tâm trạng thì thơ ông đều có khả năng thức dậy, ngân vang một hồn quê xưa cũ” Những vần thơ Nguyễn Bính dù “quê mùa” nhưng chưa bao giờ là cũ, chưa bao giờ là lạc hậu Len lõi giữa xã hội thực dân nửa phong kiến, thơ Nguyễn Bính

đã mang đến một luồng sinh khí mới được nhào nặn lại từ những chất liệu thi ca của dân tộc Không cầu kỳ, lòe loẹt các hình ảnh thế nhưng nó đã mang đến một màu sắc khác cho thi đàn, đó là trở về với truyền thống dân tộc Có thể khẳng định rằng: chưa có nhà văn nào thể hiện được tính dân tộc đậm đà như Nguyễn Bính Tính dân tộc được thể hiện ở nội dung : Nguyễn Bính thiết tha, trân trọng những vẻ đẹp văn hóa truyền thống, đó là hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam, là những tập tục văn hóa của nhân dân ta từ xa xưa Tính dân tộc còn được thể hiện đậm nét ở hình thức Thể thơ lục bát vốn dĩ đã là thể thơ truyền thống của dân tộc bên cạnh đó Nguyễn Bính lại sử dụng những hình ảnh rất quen thuộc của xứ đồng nội, và lại phả vào đó hơi hưởng của những làn điệu ca dao dân ca của dân gian khiến cho thơ Nguyễn Bính đậm đà màu sắc dân tộc mà không có nhà thơ nào có thể sánh kịp Có

một thời những câu ca trong bài thơ số 4 của chùm thơ Vài nét rừng bị người ta

nhầm tưởng là ca dao dân ca:

“Nhà em cách bốn quả đồi Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng Nhà em xa cách quá chừng

Em van anh đấy, anh đừng yêu em.”

(Xa cách)

Đó cũng có thể xem là một cái tài của Nguyễn Bính trong việc đưa những thi liệu dân gian vào trong thơ, tuy nhiên không bị phụ thuộc hoàn toàn vào thơ ca dân gian, “thơ Nguyễn Bính đã tách khỏi dòng thơ dân gian, mở rộng thi pháp của nó để biểu hiện những vấn đề của một nhà Thơ mới” [5, tr.206] Rõ ràng ở phương diện này Nguyễn Bính là một nhà cách tân, cách tân trên những khuôn mẫu sẵn có, tạo cho nó một tinh thần mới, mang một nội dung hoàn toàn mới, đưa tiếng nói trữ tình

Trang 21

cá nhân của một nhà thơ lãng mạn vào hình thức của ca dao dân ca đó mới là sự cách tân đáng bàn

Khác với nhiều nhà thơ cùng thời, trong khi Xuân Diệu đang khoác bộ y phục của một ông Tây sang trọng thì Nguyễn Bính lại tìm về với bộ y phục thường ngày của người nông dân: áo nâu chân đất lam lũ ngoài đồng ruộng, chiếc yếm lụa sồi, áo tứ thân Tuy nhiên, không hề lạc hậu giữa một xã hội đang chuộng những thứ mới lạ, Nguyễn Bính, bằng tài năng và tâm huyết của mình đã tạo một vị trí độc đáo trên thi đàn: một nhà thơ “quê mùa” gắn kết những câu thơ với đọc giả bằng tình quê và hồn dân tộc Là một trong số ít nhà thơ thể hiện được cái hồn, cái tình quê hay đến thế và là người có công đầu trong việc sử dụng thi pháp của văn hóa dân gian để chuyển tải những nội dung trữ tình mới của thơ ca hiện đại, thơ Nguyễn Bính có lẽ chỉ xếp sau ca dao dân ca về số lượng người đọc Cũng vì thế, Chu Văn Sơn trong “Ba đỉnh cao Thơ mới Việt Nam” đã không kiệm lời cho những nhận xét:

“Sau bấy nhiêu năm, tưởng cũng có thể nói, trong mỗi chúng ta đều có một Nguyễn Bính, kể cả những ai muốn chối bỏ điều đó Sức đeo bám của Nguyễn Bính trong hồn mỗi người Việt lớn hơn chúng ta tưởng rất nhiều Sau ca dao có lẽ chỉ Nguyễn Bính mới có nổi sức đeo bám này Hồn quê trong mỗi chúng ta bây giờ chẳng phải còn có tên là Nguyễn Bính ư?”[18, tr.60]

CHƯƠNG 2 NHỮNG HÌNH TƯỢNG ĐẶC SẮC TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH

2.1 Hình tượng làng quê trong thơ Nguyễn Bính

2.1.1 Cảnh sắc và phong vị quê hương

Trang 22

Từ bao đời nay, làng quê Việt Nam luôn là nguồn cảm hứng cho các thi sĩ Thả hồn vào mây vào gió, quyện lòng vào những biển lúa mênh mông, vào những đường làng ngõ xóm và cả những tập tục lễ hội, những phiên chợ tết cũng làm xao xuyến lòng bao gã thi nhân, từ đó, những cây bút cứ thỏa sức tung hoành và cho ra những áng thơ để đời

Nhìn lại nền văn học Việt Nam, từ ca dao cho đến thơ ca trung đại, quê hương với những ao bèo, ruộng lúa, cánh cò… đã trở thành chất liệu quen thuộc của các nhà thơ, ở mỗi thời, mỗi giai đoạn thơ ca đều có nhiều tác phẩm hay viết về làng quê Tuy nhiên, phải đến Thơ mới thì hình ảnh làng quê Việt Nam mới thực sự phô bày hết những vẻ đẹp vốn có từ bao đời Cũng vẫn những thi liệu quen thuộc: “cây cau”, “vườn trầu”, “cái cò”, “cái vạc”, “cánh bướm”… nhưng không còn sự gò bó, câu nệ về tư tưởng cũng như hình thức thơ văn, các nhà Thơ mới cứ thế vẽ nên những bức tranh giàu màu sắc và đượm hồn quê Tìm đến phong cảnh làng quê, các thi sĩ Thơ mới thường rung động trước những cảnh vật đơn sơ, bình dị Tuy nhiên, không phải nhà thơ nào cũng giống nhau về cách cảm, cách nghĩ đối với cảnh sắc

quê hương Anh Thơ viết hẳn một tập thơ Bức tranh quê miêu tả những cảnh sắc

tươi xinh của làng quê Với Bàng Bá Lân, ông đã vẽ nên những cảnh sắc tươi đẹp

mà ở đâu cũng có trên đất nước Việt Nam Tuy nhiên, một điều mà ta có thể nhận ra: dù viết về cảnh quê tươi sắc, sinh động đến mấy thì Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân… cũng chỉ mới dừng lại ở việc miêu tả cảnh bề ngoài, chưa lột tả được cái tình quê và hồn quê của làng quê đất Việt Đó cũng là điều ta có thể giải thích bởi Anh Thơ là người con thành thị đi du ngoạn, còn Bàng Bá Lân lại ít sống

ở quê nên khó mà hòa quyện được cái hồn quê vào cảnh sắc thiên nhiên Chỉ với riêng Nguyễn Bính, người được xem là “nhà quê” hơn cả mới lột tả được những cái đẹp toát ra từ cảnh sắc của quê hương Khẳng định điều này không phải là không có căn cứ, Nguyễn Bính sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo thuộc châu thổ Sông Hồng, mặc dù cuộc sống cơ cực vất vả nhưng chính chiếc nôi văn hóa ấy đã giúp cho Nguyễn Bính sớm đắm mình trong không gian thôn quê, nhuộm thắm tâm hồn thi sĩ và tạo nên phong cách độc đáo cho một thế giới nghệ thuật thơ

Trang 23

Khác với những nhà văn, nhà thơ hiện thực, đi vào miêu tả những cảnh xơ xác tiêu điều của làng quê Việt Nam trong những năm trước Cách mạng tháng Tám

1945, Nguyễn Bính nghiêng về khuynh hướng lãng mạn Ông ít miêu tả về những cảnh đời cơ cực, những số phận cay đắng, lại càng ít miêu tả về những cảnh sắc ảm đạm của làng quê như chính hiện thực quê hương ông: “Làng Thiện Vịnh thật ở giữa vùng chiêm khê mùa thối đất Nam Định, Thái Bình, đâu đâu cũng xơ xác nước trắng đồng, gió lùa sống đồng cờn lên, quẩn lại, lật thuyền mảng, cả đến người ra cứu lúa cũng chết đuối Mỗi năm mỗi mùa, biết bao người đã bỏ làng đi tha phương.” [1, tr.19] Đọc thơ Nguyễn Bính không ai có thể hình dung ra một hiện thực như thế bởi hình ảnh làng quê trong thơ ông luôn toát lên cái vẻ tươi sáng, thơ mộng:

“Sáng giăng chia nửa vườn chè Một gian nhà nhỏ đi về có nhau”

(Thời trước)

Không phải vô cớ mà Nguyễn Bính lại viết về quê hương với những câu thơ trong sáng và đẹp đến như vậy Điều này xuất phát từ cái Tôi trữ tình của tác giả - cái Tôi của một nhà Thơ mới Sinh ra và lớn lên ở miền quê, phong cảnh và tình người nơi đây đã ngấm sâu vào máu thịt của nhà thơ; bên cạnh đó cùng với tâm trạng bất hòa trước hiện thực đen tối của xã hội, Nguyễn Bính cũng như nhiều nhà thơ khác đã tìm đến những vẻ đẹp thơ mộng của quê hương hơn là tìm đến hiện thực đen tối của xã hội để “làm cho lòng người trong sạch và phong phú hơn” (Thạch Lam)

Tuy nhiên, không phải bất cứ vùng quê nào cũng khoác cái vẻ tiêu điều xơ xác như làng quê Thiện Vịnh, Thôn Vân quê mẹ của ông lại khác hẳn: “mặt nước và

ao ngòi, luôn có hoa sen, hoa súng, hoa ấu và hoa trang… Những bờ ao um tùm những cây dâu quả thẫm, chen những gốc cam yên, sắn, ổi, táo, chay nhãn, vải dừa cũng không thiếu…”[4, tr.133] đã tạo thi liệu cho việc sáng tạo nên những vần thơ trong xanh của tác giả:

“Quả lành trĩu nặng từng cây

Trang 24

Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen Hiu hiu gió quạt trăng đèn Với dăm trẻ nhỏ thả diều ta chơi

Ăn gỏi cá, đánh cờ người Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân”

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh vật thì rõ ràng Nguyễn Bính cũng không khác gì hơn so với các nhà thơ viết về cảnh sắc quê hương cùng thời Điều làm nên sự khác biệt và giúp ông chiếm vị trí độc tôn trên thi đàn khi viết về làng quê chính là chất keo “tình quê” gắn kết cảnh vật và con người lại với nhau Vẫn là giậu mùng tơi, cánh bướm, giàn trầu, hàng cau, cô lái đò, cô hàng xóm… nhưng với mỗi bức tranh Nguyễn Bính đã nói lên được khát vọng sâu xa của người nông dân lam lũ về một cuộc sống tốt đẹp hơn, hòa đồng hơn với cảnh vật thiên nhiên:

“Đường lên chợ tỉnh xa tăm tắp Nắng mới ôi chao, cát bụi mù Các chị nhà bên đi bán lụa Giắt đầu từng nắm lá hương nhu…”

(Cuối tháng ba)

Đường lên chợ tỉnh ngập tràn trong nắng sớm ban mai cùng những bước chân tấp nập của các cô, các bà đi chợ Hình ảnh làng quê tuy mộc mạc đơn sơ nhưng toát lên cái vẻ thanh bình, no đủ, thể hiện ước vọng về một cuộc sống tốt đẹp của nhà thơ

Trang 25

Tình và cảnh trong thơ Nguyễn Bính luôn có sự hòa quyện, tả cảnh nhưng Nguyễn Bính lại gửi gắm vào đó những tình cảm, những mong muốn ước vọng và phải chăng đó cũng chính là ước vọng từ bao đời của những người dân xứ hương đồng cỏ nội? Chính vì vậy, như một ma lực, thơ Nguyễn Bính có sức hút kỳ diệu đối với bao thế hệ của người dân đất Việt dù sinh sống trên nước Việt Nam hay ở một phương trời xa xôi khác

Viết về phong cảnh làng quê, Nguyễn Bính có sự lựa chọn riêng để thể hiện nỗi niềm, tâm sự của bản thân Có lẽ, mùa đông tàn tạ quá, nó không phù hợp với tâm hồn yêu đời, yêu cảnh sắc quê hương của tác giả do đó mà trong toàn bộ sự nghiệp thơ của mình Nguyễn Bính không hề đề cập đến mùa lạnh lẽo gợi sự cô đơn này Nhà thơ có viết về mùa thu nhưng cũng không nhiều, chỉ có một vài bài như

Chiều thu, Thu rơi từng cánh Mùa hè cũng chỉ có hai bài cùng tên là Trưa hè Còn

bao nhiêu bài thơ viết về các mùa trong năm Nguyễn Bính đều dành cho mùa xuân

Có lẽ cảnh sắc xanh tươi, khí trời ấm áp, cây cối đâm chồi nảy lộc cùng lòng người hân hoan đón chào một năm mới đã cảm được tấm lòng yêu đời, yêu người của thi

sĩ Ta bắt gặp hàng loạt những bài thơ xuân: Mưa xuân, Xuân về, Thơ xuân, Mùa xuân xanh, Xuân tha hương, Vườn xuân… và cả những bài thơ không có chữ xuân thì ý thơ vẫn xoay quanh đề tài mùa xuân: Cô lái đò, Hoa với rượu, Sao chẳng về đây, Hành phương Nam… điều này khiến ai cũng phải công nhận Nguyễn Bính là

nhà thơ hiện đại viết về mùa xuân thuộc vào loại bậc nhất Giác quan của Nguyễn Bính rất tinh nhạy với không khí vui tươi của mùa xuân:

“Đã thấy xuân về với gió đông Với trên màu má gái chưa chồng Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong”

(Xuân về)

Phải so sánh đôi chút với các nhà thơ cùng thời lúc đó mới thấy hết cái chân quê nhưng đặc sắc của thơ xuân Nguyễn Bính Với Chế Lan Viên, mùa xuân chỉ đem lại cái sầu buồn cho con người và cảnh vật:

“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu

Trang 26

Đem chi xuân lại chỉ thêm sầu Với tôi tất cả đều vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”

(Xuân – Chế Lan Viên)

Còn riêng với Nguyễn Bính, cảm hứng mùa xuân luôn tươi mới và không hề phai nhạt Nói đến cảnh xuân quê nhà, Nguyễn Bính thường nói đến “đường làng”,

“đồng lúa”, “con đê”, “hoa bưởi”, “hoa cam”, “gió đông”, “mưa bụi”, “bướm trắng”, “bướm vàng”… những thi liệu dù rất thực, rất đời thường nhưng dưới con mắt yêu đời, dưới bàn tay tài năng của mình, Nguyễn Bính đã tạo nên những câu thơ mang màu sắc lạ, vô cùng đẹp và tinh tế:

“Anh trồng cả thảy hai vườn cải Tháng Chạp hoa non nở cánh vàng

Lũ bướm láng giếng đang khát nhụy Mách cùng gió sớm rũ rê sang”

(Hết bướm vàng) Nếu Hàn Mặc Tử có một Mùa xuân chín với màu vàng đặc trưng thì Nguyễn

Bính lại gây ấn tượng với người đọc bởi một “Mùa xuân xanh”:

“Mùa xuân là cả một mùa xanh Giời ở trên cao, lá ở cành Lúa ở đồng tôi và lúa ở Đồng nàng và lúa ở đồng quanh

(Mùa xuân xanh)

Một không gian ngập tràn màu xanh, một màu xanh liên hoàn và không trùng lặp Màu xanh của trời, của lá, nhưng Nguyễn Bính không chú trọng đến màu xanh của lá mà miêu tả màu xanh của cảnh vật nhằm lấy cớ dẫn dắt đến màu xanh của

“đồng tôi – đồng nàng” Cả cỏ và cả con người như đang đợi chờ giây phút hồi sinh,

cỏ được thanh minh sẽ được thay màu mới, tươi non hơn Con người được tình yêu chấp cánh thì hạnh phúc sẽ vô bờ Và kết thúc bài thơ, cái “thắt lưng xanh” không đơn thuần chỉ là một cái thắt lưng mà nó là làng mạc đồng quê, là hồn xưa dân tộc

Trang 27

Có thể thấy rằng, trước cách mạng tháng Tám, thơ Nguyễn Bính viết về cảnh sắc quê hương có cái trong trẻo, tươi xanh đẹp đến mức lý tưởng hóa Sau cách mạng tháng Tám, cảnh vật làng quê vẫn đẹp, vẫn mộc mạc nhưng nó chân thực hơn Miền Bắc bắt tay vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, đời sống của nhân dân

có nhiều đổi khác, không còn kiếm tìm những hình ảnh “vua nước Bướm”, những hội chèo, hội xuân của hoài niệm nữa, Nguyễn Bính chú trọng đến hiện thực hơn,

đó là cảnh miền Bắc tăng gia sản xuất để chi viện cho miền Nam thân yêu Thơ ông lúc này vì thế mà có tiếng hát ngợi ca say mê, vừa hiện thực nhưng cũng chứa chan màu sắc lãng mạn Buổi sáng lên đường, Nguyễn Bính cũng kịp nhìn lại cảnh sắc quê hương Phải chăng sự đổi thay của cách mạng đã dẫn đến sự đổi thay của cảnh vật quê hương hay do con mắt thi nhân vì quá yêu đời nên nhìn đâu đâu thấy cảnh vật cũng tươi non hơn?

“Sáng hôm nay trời cao mây trắng quá Nắng vàng tươi cây gạo đỏ đầy hoa Lúa con gái trải màu xanh óng ả Một màu xanh thắm thiết của quê ta”

(Buổi sáng lên đường)

Cảnh vật quê hương trong thơ Nguyễn Bính thường đặc trưng cho đồng bằng Bắc bộ, tuy nhiên, đó cũng là đặc trưng chung cho cảnh sắc của mọi miền trên đất nước Việt Nam Về với miền Nam trong những ngày kháng chiến, Nguyễn Bính vẫn có những vần thơ đẹp về cảnh vật làng quê và gắn với nó là khí thế quyết tâm, lòng tin tưởng sắt son vào thắng lợi của dân tộc: “Đường mòn rộn bước chân về

chợ/ Vú sữa đầy căng mặt yếm sồi”(Chiều thu)

Cảnh sắc quê hương của làng quê Việt Nam trong con mắt của thi nhân thật tươi xanh và trong trẻo Nguyễn Bính – con người “nhà quê” đã mang đến cho thi đàn Việt Nam những vần thơ viết về quê hương không chỉ có cảnh sắc mà còn có

sự hòa quyện của tình quê Chất keo “hồn quê” ấy đã có sức gắn kết bao thế hệ độc giả, dù ở đâu bất kỳ trên đất nước Việt Nam hay trên một đất nước khác, người ta vẫn ngâm nga những lời thơ quen thuộc của Nguyễn Bính

Trang 28

2.1.2 Những biểu tượng quê cảnh đặc trưng trong thơ Nguyễn Bính

Để thể hiện tư tưởng và cảm xúc của mình, nhiều nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh lặp đi lặp lại nhiều lần trong thơ tạo thành những biểu tượng với những

dụng ý nghệ thuật riêng Nếu như Thế Lữ có rừng và hổ, Hàn Mặc Tử có trăng và máu… thì Nguyễn Bính có mảnh vườn, có cánh bướm, có bến đò, có giếng nước…

Đúng như biệt hiệu “chân quê”, những biểu tượng trong thơ Nguyễn Bính đều mang đậm hương sắc của xứ đồng nội và ý nghĩa biểu trưng của nó do đó mà gắn liền với cuộc sống của con người thôn quê

Không hẹn mà gặp, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính đều có những

ám ảnh về mảnh vườn nhưng đối với mỗi nhà thơ thì mảnh vườn có những ý nghĩa

khác nhau Với Xuân Diệu đó là vườn tình, nơi dành riêng cho luyến ái nơi trần thế Với Hàn Mặc Tử, vườn là chốn “nước non thanh tú”, đó cũng là vườn tình Còn với Nguyễn Bính, không cầu kỳ, lòe loẹt, ý nghĩa biểu tượng thật dân giã gắn liền với

xứ hương đồng cỏ nội của quê nhà: mảnh vườn ở đây với nghĩa là vườn quê Với

Nguyễn Bính, vườn là “biểu tượng và là ám ảnh của nông thôn trong thơ”(Đỗ Lai

Thúy) Mảnh vườn không chỉ là hình ảnh đầu tiên động lại trong lòng người đọc

biểu tượng cho thôn quê, mà “mảnh vườn còn là biểu tượng cho cả dân tộc Việt

Nam.”(Đỗ Lai Thúy) Mảnh vườn trong thơ Nguyễn Bính có phải là biểu tượng cho

cả dân tộc Việt Nam hay không, điều này còn phải suy nghĩ nhưng rõ ràng mảnh vườn ở đây chính là biểu tượng cho tâm hồn của nhà thơ Trong con mắt người nhà quê, hình ảnh đầu tiên động lại trong tâm hồn chính là mảnh vườn do đó vườn trong thơ Nguyễn Bính trước hết có nghĩa là nhà: “Em ơi em ở lại nhà/ Vườn dâu em đốn,

mẹ già em thương”(Lỡ bước sang ngang)

Hay vườn còn có nghĩa là hình ảnh của quê hương yêu dấu với những người

con xa quê: “Đem thân về chốn vườn dâu cũ/ Buồn cũng như khi chị lấy chồng”(Xuân tha hương)

Vườn trù phú – biểu tượng cho một cuộc sống ấm no, đủ đầy: “Thôn Vân có

biếc có hồng/ Biếc trong nắng sớn, hồng trong vườn chiều”(Về cùng anh)

Vườn còn là cái nôi của tình mẫu tử, là cội nguồn, là cõi tâm linh của người con đất Việt xa quê:

Trang 29

“Vườn cũ hoa mai chắc nở rồi

Cành mai ai gửi đến xa xôi

Mẹ ơi! Một sớm thăm hoa rụng Nhặt giữ giùm con dăm cánh thôi”

(Gửi những người ăn tết xa nhà)

Mỗi nhà văn, nhà thơ có thể có nhiều cách để tạo nên sự khác biệt của mình trên thi đàn, riêng đối với Nguyễn Bính không biết vô tình hay cố ý, ông đã cho

hình ảnh mảnh vườn trở đi trở lại nhiều lần và trở thành biểu tượng có nhiều ý nghĩa

khác nhau Đơn giản, mộc mạc nhưng lại vô cùng gần gũi với đời sống người dân Việt Nam, đó cũng là lý do vì sao thơ Nguyễn Bính lại thân thuộc đối với con người nước Việt đến thế

Không chỉ có mảnh vườn, trong thơ Nguyễn Bính còn xuất hiện rất nhiều hình ảnh cánh bướm: Đám cưới bướm, Nuôi bướm, Bướm thưa sang, Bướm đi tu, Bướm nói điêu, Bướm tha hương… Những cánh bướm dập dìu trong thơ ông

không lòe loẹt sắc màu mà chỉ là những con bướm vàng hay bướm trắng, góp phần

tô điểm cho cảnh vật thêm xinh tươi và gợi cảm: “Mặt hồ vừa đúc khối tiền sen/

Bươm bướm đông như đám rước đèn”(Cuối tháng ba)

Nguyễn Mạnh Trinh cho rằng : “Hình ảnh cánh bướm luôn ám ảnh là một biểu tượng của luyến ái, của những mơ mộng, và của lãng mạn” Vì thế, sáng tạo

bằng bút pháp ước lệ tượng trưng, sử dụng điển tích, điển cố, bằng hình ảnh cánh bướm Nguyễn Bính đã nói đến một cách ý nhị về cảnh giao duyên, trùng phùng:

“Bao giờ bến mới gặp đò

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau”

(Tương tư) Hình ảnh cánh bướm trở đi trở lại trong thơ Nguyễn Bính hơn chục lần, thể

hiện những cung bậc tình cảm khác nhau và mang nhiều ý nghĩa khác nhau Thật đúng cho nhận định của Phan An Khoa: “Trong các nhà thơ Việt Nam, không ai viết nhiều và viết hay về bướm như Nguyễn Bính… Bướm trong thơ Nguyễn Bính không đơn thuần là chuyện bướm hoa, cũng không chỉ là hình ảnh ước lệ ông dùng cho cái đẹp Bướm trong thơ ông đã hóa hồn, hóa kiếp mang nặng những thân phận

Trang 30

đầy xác thực Bướm hiển hiện khi mờ ảo, khi rõ ràng, phiêu linh trong thế giới đầy màu sắc đậm chất liêu trai”

Một hình ảnh lặp đi lặp lại và trở thành biểu tượng nữa trong thơ Nguyễn

Bính chính là biểu tượng bến nước – con đò Qua khảo sát có thể thấy hình ảnh bến nước – con đò xuất hiện trong khoảng 20 bài thơ của Nguyễn Bính, ví dụ như: Cô lái đò, Giấc mơ anh lái đò, Áo anh, Mười hai bến nước, Lỡ bước sang ngang… với

những hình ảnh như : “bến nước đầy”, “con đò vắng khách”… trở đi trở lại nhiều

lần trong thơ Nguyễn Bính Bến nước với tính chất tĩnh thường biểu trưng cho người con gái, con đò với tính chất động thường dùng để biểu trưng cho người con

trai, trong ca dao có câu :

“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

Thì trong thơ Nguyễn Bính, bến nước – con đò trước hết cũng được dùng để nói đến người con trai và người con gái: “Bao giờ bến mới gặp đò”(Tương tư) Tuy nhiên, phần nhiều Nguyễn Bính sử dụng hình ảnh bến nước – con đò như là một

biểu tượng cho sự chia lìa, nhớ nhung, xa cách, lúc này có thể là hình ảnh một con

đò vừa sang sông, một con thuyền vừa rời bến: “Giời làm xa cách mấy con sông”(Xuân tha hương) hoặc: “Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm!”(Cánh buồm nâu)

Bến nước – con đò còn là hình ảnh gợi nhớ về quê hương Trong những ngày

tháng xa quê, nhìn bến sông lai láng, nhìn những chiếc thuyền xuôi ngược lòng thi

sĩ lại bồn chồn nhớ về quê hương, lại khát khao được trở về quê cũ:

“Ở đây vô số những trời xanh

Và những con sông chảy rất lành

Và những tâm hồn nghe rất đẹp Từng chung sống dưới mái nhà tranh”

(Sao chẳng về đây) Con đò – bến nước trong một số trường hợp được Nguyễn Bính sử dụng như

một hình ảnh biểu tượng cho thân phận nổi trôi, cho số phận đau đớn của người con

Trang 31

gái: “Năm ấy sang sông lỡ chuyến đò/ Đò đầy gió lớn sóng sông to/ Mười hai bến nước xa lăng lắc/ Lầm tự ngày xưa lỡ đến giờ”(Mười hai bến nước)

Bên cạnh đó, cảnh vật làng quê trong thơ Nguyễn Bính còn hiện lên với hình

ảnh bờ ao, cái giếng Đó là những hình ảnh gắn liền với đời sống sinh hoạt và đời sống tinh thần của người dân quê, giếng được xem như một cái gì đó trong sáng và

thuần khiết như chính tâm hồn của họ: “Đêm cùng đón ánh trăng cao/ Ngồi bên

giếng ngọc đếm sao trên trời”(Tiền và lá) Và: “Hồn tôi giếng ngọt trong veo/ Trăng thu trong vắt biển chiều trong xanh.”(Tình tôi)

Ngoài ra, trong thơ Nguyễn Bính còn rất nhiều những sinh linh có ý nghĩa

khác như ao bèo, dậu mùng tơi,… mỗi hình ảnh chứa đựng những ý nghĩa riêng biệt

nhưng khi hòa hợp lại với nhau nó thể hiện được cái thi vị của cuộc sống nơi thôn

dã, khiến cho thơ Nguyễn Bính tuy chân chất mộc mạc nhưng đậm đà hồn quê

Nguyễn Bính – con người được sinh ra từ xứ hương đồng cỏ nội, tâm hồn được hun đúc bởi tình người mộc mạc chân thành và cảnh vật làng quê tươi thắm nên tâm hồn ông gắn bó sâu sắc với làng quê, tình quê “Có thể nói rằng trong thơ

ca thời kỳ hiện đại Nguyễn Bính là người có công hơn cả trên mảng thơ viết về làng quê Ông đã khơi dậy ở mỗi người đọc tình cảm quê hương Ông yêu mến và trân trọng giới thiệu những hình ảnh đẹp, tiêu biểu của làng quê Việt Nam mà mỗi cảnh vật, con người đều thấm đượm hồn quê”[6, tr.23]

2.2 Hình tượng người tình lí tưởng trong thơ Nguyễn Bính

2.2.1 Những cung bậc tình yêu trong thơ Nguyễn Bính

Cùng với Xuân Diệu, Nguyễn Bính cũng được xem là một nhà thơ của tình yêu Mặc dù ông rất thành công với mảng thơ viết về làng quê nhưng nhìn lại toàn

bộ sự nghiệp thơ Nguyễn Bính thì tình yêu luôn là đề tài đậm nét trong các sáng tác của ông Trước cách mạng tháng Tám, với bảy tập thơ được xuất bản từ năm 1940 đến 1942 đều được Nguyễn Bính lấy cảm xúc từ tình yêu, từ những cuộc tình duyên

lỡ dở Con người đa tài và đa tình Nguyễn Bính luôn mang trong mình một tình yêu cháy bỏng, điều này tạo nên cho thơ ông vẻ đẹp riêng: đằm thắm, nồng nàn và vô cùng đắm đuối

Trang 32

Tuy nhiên, cái đắm đuối nồng nàn của tình yêu trong thơ Nguyễn Bính khác hẳn với cái đắm đuối, mãnh liệt đến táo bạo trong thơ Xuân Diệu:

“Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực Hãy trộn nhau mái tóc ngắn dài”

(Xa cách – Xuân Diệu)

Thơ Nguyễn Bính viết về tình yêu nhẹ nhàng, dung dị và thật trong sáng:

“Hồn anh như hoa cỏ may Một chiều cả gió bám đầy áo em”

“Tương tư thức mấy đêm rồi Biết cho ai hỏi ai người biết cho”

Trang 33

và nổi bật nhất là tình cảm của người đàn ông không được yêu tương tư người thương lý tưởng

Không phải chỉ có ít trường hợp trong thơ Nguyễn Bính là tình yêu đơn phương mà hầu như tình yêu trong thơ ông đều thấm đẫm cái vị lỡ dở, yêu nhưng không được đáp lại Vì thế người đọc thấy được cái đau khổ, dằn vặt vì tình yêu trong rất nhiều bài thơ:

“Tâm hồn tôi là một bình rượu nhỏ Rót lần lần rót mãi xuống nàng Oanh Không xua tay, nhưng nàng vẫn vô tình Hắt ly rượu hồn tôi qua cửa sổ”

(Người con gái ở lầu hoa)

Mặc dù hầu hết tất cả các cuộc tình duyên của Nguyễn Bính đều lỡ dỡ, đều không tìm đến được với nhau nhưng có thể thấy rằng: Nguyễn Bính – một kẻ si tình, suốt đời mắc bệnh tương tư vẫn yêu hết mình, yêu chân thành, đằm thắm:

“Yêu yêu yêu mãi thế này!

Tôi như một kẻ sa lầy trong yêu”

(Lòng yêu đương)

Và tính tất yếu của việc yêu nhưng không được đáp lại hoặc yêu nhưng bị phụ tình mà vẫn cứ tiếp tục yêu chính là việc nhân vật trữ tình phải tìm một nơi để bám víu Bám víu vào đâu khi tình yêu đã vô vọng? Nhân vật trữ tình đã lựa chọn một giải pháp an toàn đó là mơ mộng đến một tình yêu không tưởng:

“Như truyện Tương Như và Trác Thị Đưa nhau về ở đất Lâm Cùng

Vườn xuân trắng xóa hoa cam rụng Tôi với em Nhi kết vợ chồng.”

(Hoa với rượu)

Quả là một cuộc sống êm đềm, đơn giản nhưng chính những điều giản dị đó làm nên hạnh phúc Giản đơn đến mức cuộc sống chỉ tồn tại bằng rượu và hoa, rượu

sẽ làm cho người say người, họ sẽ gắn kết với nhau, hoa sẽ tô điểm cho hạnh phúc Tuy nhiên cuộc sống đó chỉ có trong mộng tưởng, Nguyễn Bính tự mình vẽ ra nó, tự

Trang 34

mình thưởng thức nó, chỉ một mình mình biết, một mình mình hạnh phúc dù điều

đó trái ngược hoàn toàn với thực tại

Thế nhưng chính Nguyễn Bính đã khẳng định một điều rằng: dù biết là đau khổ đấy nhưng chàng vẫn cứ yêu, lý trí không thể thắng nỗi con tim đa cảm, đa tình của chàng Và thế là thi sĩ tiếp tục yêu, tiếp tục mơ mộng Tình yêu đến với con tim

đa cảm của chàng thi sĩ rất dễ dàng: “… bắt gặp ai anh cũng mê, mê người thương mình, mê luôn cả người không thương mình, mê người có thể yêu thương được và

mê luôn cả những người mà mình không có quyền yêu thương”[6, tr.62] Có lẽ vì thế mà thi nhân luôn đem cái cảm xúc yêu mãnh liệt, yêu chân thành của mình vào thơ

Đọc thơ Nguyễn Bính, bao nhiêu cung bậc cảm xúc: từ những phút rạo rực, bối rối phút ban đầu cho đến những dằn vặt, đau khổ, nhưng mơ ước hão huyền khi không được đáp lại tình cảm đều được ông thể hiện đậm nét Tình yêu trong thơ ông

là tình yêu thấm đẫm dư vị của cái tôi lỡ dở như chính con người của nhà thơ vậy

2.2.2 Những mẫu người tình lý tưởng, hình bóng giai nhân trong thơ Nguyễn Bính

Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính chủ yếu là tình yêu dở dang, là sự lỡ làng, tình yêu rất ít khi được đáp lại hay người ta gọi đó là mối tình đơn phương, một phía Song nếu tìm hiểu kĩ thì đó chính là tiếng lòng đồng vọng của một tâm hồn đang khao khát yêu đương Vì niềm khao khát mãnh liệt quá nên tình yêu là điều dường như không thể thiếu được trong cuộc sống của thi sĩ, yêu một người nhưng không cần biết rõ, không cần hiểu rõ về người đó, chỉ thoáng gặp có một lần cũng

đủ để tác giả đem lòng yêu thương Vì thế, một đôi mắt nhung bắt gặp giữa phố phường thành thị cũng làm cho ông choáng ngợp:

Trang 35

Hay một nụ cười duyên của cô hàng xóm cũng khiến cho thi nhân không cầm nỗi lòng mình: “Một hôm thấy cô cười cười/ Tôi yêu yêu quá nhưng hơi mất

lòng”(Qua nhà)

Rõ ràng, con người Nguyễn Bính yêu rất nhiều và không thể sống thiếu tình yêu, yêu đơn phương cũng được miễn là phải có một bóng dáng nào đấy dù chỉ trong tưởng tượng để mà yêu Có lẽ đó cũng là lý do vì sao mà những người tình xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính đều được lý tưởng hóa.Nguyễn Bính nâng người

đó lên thành hình tượng đến mức lý tưởng, vượt lên trên cả sức hút của cái đẹp tạo vật trong thiên nhiên:

“Nhà ấy hình như có mặt trời

Có rừng, có suối, có hoa tươi Bao nhiêu chim lạ, bao nhiêu bướm?

Không có gì đâu, có một người”

(Hà Nội ba mươi sáu phố phường)

Thi sĩ không hiểu vì sao mình lại quyến luyến ngôi nhà ấy đến thế, tự đặt ra cho mình câu hỏi: hay là ngôi nhà ấy có vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên, có ánh sáng của mặt trời, lại thêm rừng xanh, suối chảy róc rách, hoa thơm ngào ngạt, chim hót líu lo, bướm lượn vẽ vòng thì còn gì đẹp hơn nữa? Nhưng nhìn lại, không có một vẻ đẹp nào của thiên nhiên ở đây cả, sức hút bấy lâu nay từ ngôi nhà ấy chỉ do một người con gái Vượt lên trên mọi vẻ đẹp của tạo vật, cô gái trở thành một hình tượng, một người tình lý tưởng trong lòng chàng Và đó cũng là lý do vì sao thơ Nguyễn Bính hay ca ngợi những cô gái quê chung tình nhưng duyên số lại thường dang dở:

“Em là cô gái trong khung cửi Dệt lụa quanh năm với mẹ già Lòng trẻ còn như cây lụa trắng

Mẹ già chưa bán chợ làng xa”

(Mưa xuân)

Trang 36

Đó là một cô gái trong trắng, ngây thơ như một cây lụa trắng tinh khôi chưa

hề vướng bận một điều gì Nguyễn Bính dành rất nhiều tình cảm cho những cô gái quê có cốt cách như vậy Ông trân trọng và ngợi ca những người phụ nữ biết tần tảo, thương chồng, lo cho tương lai của chồng:

“Một quan là sáu trăm đồng Chắt chiu hàng tháng cho chồng đi thi”

Không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi những người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp, cao hơn, Nguyễn Bính đã mơ tưởng đến những tình yêu chỉ có trong tưởng tượng, miễn nó đẹp là được:

“Đêm ấy chăn êm và gối êm

Vợ chồng ăn bánh với bà tiên

Ăn xong thoát chóc liền thay lốt Chồng hóa làm anh, vợ hóa em”

(Chuyện cổ tích)

Một câu chuyện tình yêu ở xứ sở nước Bướm chỉ có trong cổ tích, nhưng chính việc lấy câu chuyện cổ tích đó thi sĩ đã hàm ý mơ đến một tương lai, một khát vọng, một lời tâm tình của thi sĩ đối với cô gái: vợ chồng bướm hạnh phúc, hy vọng

cô gái và chàng cũng sẽ có một tình yêu hạnh phúc như thế

Trang 37

Những mong ước về đôi bướm sẽ hóa thành anh và em hay giấc mơ của anh lái đò muốn đỗ quan trạng để được sánh duyên cùng cô gái tước đay chiều chiều

trong Giấc mơ anh lái đò dù đẹp nhưng hư ảo quá Hiện thực hơn, Nguyễn Bính

dành nhiều bài thơ nói đến những khát khao của mình về một mái ấm gia đình hạnh phúc đơn sơ và giản dị:

“Nhà gianh thì sẵn đấy

Vợ xấu có làm sao Cuốc kêu ngoài bãi sậy Hoa súng nở đầy ao”

(Thanh đạm)

Không quan trọng giàu nghèo, vợ xấu hay đẹp, đối với “thi sĩ của thương yêu” hạnh phúc chính là việc hai vợ chồng yêu thương nhau Chỉ cần có mấy sào đất đủ để trồng dâu và trồng cam, có rượu làng bên đủ để ngồi nhấm nháp, có cây đàn nguyệt đủ để tạo hương vị cho cuộc sống là đủ để có một gia đình hạnh phúc Người tình, người vợ mà Nguyễn Bính ao ước chỉ cần biết thương yêu chồng con là

đủ, một hạnh phúc nhỏ bé, dung dị và hết sức đời thường: “Vợ tôi giăng võng góc

dừa/ Đặt con tôi ngủ giữa trưa mùa hè”(Trưa hè)

Đó cũng là lý do vì sao trong thơ Nguyễn Bính thường xuất hiện những hình ảnh như một mơ ước về một đám cưới đẹp, những “mâm cau phủ lụa điều”, “xe cưới ngời hoa trắng” và “Cửa kính huy hoàng vạt áo thêu” cứ trở đi trở lại

Mặc dù sinh ra trong thời buổi văn hóa phương Tây đã tìm đến gõ cửa từng nhà nhưng trong tâm hồn của Nguyễn Bính vẫn là một con người của truyền thống

Vì thế, người tình lý tưởng trong thơ ông cũng phải mang những nét, những đặc trưng của người phụ nữ truyền thống Á Đông và những mơ ước về hạnh phúc của Nguyễn Bính do đó có những nét dung dị, đời thường, khác hẳn với quan niệm tình yêu hưởng lạc của nhiều nhà thơ lúc bấy giờ:

“Anh sẽ hồi sinh, em tái sinh Hòa đôi thể chất một thân hình Giác quan biển động, mưa đồng thiếp

Trang 38

Trên thịt da đau, núi quặn mình”

(Trái tim hồng ngọc – Đinh Hùng)

2.3 Hình tượng “kẻ giang hồ - thi sĩ” trong thơ Nguyễn Bính

2.3.1 Thi sĩ “chân quê”

Xã hội Việt Nam trong những năm 1930 – 1945 với sự xuất hiện của nền văn minh hiện đại với nhiều điều mới mẻ do tiếp thu từ nền văn hóa phương Tây đang chiếm ưu thế, nó dạy cho người dân cách ăn mặc, giao tiếp mới, nó còn truyền cho người dân những tập tục văn hóa khác lạ Chẳng biết nền văn hóa mới đó có thực sự tốt hơn nền văn hóa cũ hay không nhưng trước cái mới nó luôn tạo tính tò mò cho con người, khiến người ta muốn dấn thân vào tìm hiểu, và thế là không chỉ một bộ phận trí thức chạy theo văn hóa phương Tây mà đại bộ phận quần chúng đều “mò mẫm” tìm đến với nền văn minh đô thị hiện đại: “Gia đình thiên cả lên Hà Nội/

Buôn bán quanh năm bỏ cấy cày”(Giờ mưa ở Huế)

Thời đã đổi thay và Nguyễn Bính đã ghi rõ lại khoảnh khắc này: “Bây giờ

thời thế biến thiên/ Nhà vua không lấy trạng nguyên nữa rồi”(Xóm Ngự Viên)

Những văn hóa cũ dần dần bị khuất lấp, dần dần bị xóa bỏ, hình ảnh ông đồ - biểu tượng cho nền văn hóa Nho gia cũng bị lãng quên: “Ông đồ vẫn ngồi đấy/ Qua

đường không ai hay”(Ông đồ - Vũ Đình Liên)

Sự thay đổi đầu tiên được thể hiện rõ ràng nhất là ở phương diện văn hóa mà văn chương là một biểu hiện cụ thể nhất, vứt bút lông cầm bút sắt, đó là xu thế chung của tầng lớp văn nghệ sĩ lúc bấy giờ Có lẽ cái mới nhất mà nền văn hóa phương Tây đưa vào văn học nước ta lúc này chính là cái Tôi mà Hoài Thanh trong

“Thi nhân Việt Nam” đã có nhận xét: “ Ngày thứ nhất – ai biết đích ngày nào – chữ Tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực sự bỡ ngỡ Nó như lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân” Cái Tôi được giải phóng ra khỏi cái Ta, các thi sĩ tha hồ có điều kiện để giãi bày và để trải lòng mình Như một sức hút thần kỳ, cái Tôi đã cảm hóa hầu hết các thi nhân, họ hăm hở đi trên con đường mới, mà muốn đổi mới mình thì phải đi, đi

xa và đi nhiều

Trang 39

Như một lẽ thường tình, Nguyễn Bính không thể cản nổi sức hút của thời đại, nhà thơ ít nhiều cũng nhiễm phải cái máu giang hồ, chỉ có ra đi mới có thể tìm được cảm hứng mới, mới có thể mở mang được kiến thức Chính vì vậy, Nguyễn Bính quyết định:

“Bỏ lại vườn cam, bỏ mái gianh Tôi đi dan díu với kinh thành”

(Hoa với rượu)

Chút “bụi kinh thành” kia đã âm thầm lớn lên trong lòng của thi sĩ và thôi thúc ông bỏ lại “vườn cam”, “mái gianh” – nơi Nguyễn Bính đã gắn bó mười mấy năm trời, nơi đã cho ông nguồn cảm hứng dạt dào để hình thành nên phong cách

“nhà quê” để tìm đến chốn kinh thành nơi có cái hào nhoáng mới mẻ của một xã hội văn minh hiện đại

Cuộc ra đi hứa hẹn rất nhiều điều hay và thú vị cho một “người nhà quê” chưa từng rời bỏ “ao bèo”, “gốc rạ” Cũng như Nam Cao và Tô Hoài, Nguyễn Bính quyết chí ra đi với một lòng hăm hở và đầy nhiệt huyết:

“Rồi men tráng lệ châu thành ấy

Từ ấy in thêm bóng một người Bóng một nhà thơ đầy nguyện vọng Giàu lòng tin tưởng bước tương lai”

(Lá thư về Bắc)

Tin tưởng vào chốn kinh thành xa lạ kia sẽ cho tác giả những nguồn cảm hứng mới, cũng có thể sẽ giúp nhà thơ có những vần thơ khác đi so với những vần thơ chân quê thường ngày ông vẫn làm Trong tâm thức của nhà thơ, chưa bao giờ ông nghĩ rằng mình đến với chốn kinh thành kia để tìm được sự giàu có, ra đi chỉ là

để thỏa chí tang bồng và kiếm tìm một sự nghiệp mới Vì thế, làn gió mới từ phương Tây được tác giả ví như rạng đông của một ngày, tức là những gì tươi sáng nhất, đẹp nhất nên không thể cứ ngồi yên để ngắm mà phải “nhổ sào”, phải cất bước

ra đi mới khám phá được vẻ đẹp tiềm ẩn của nó:

“Không đi cũng uổng một đời

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w