1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thế giới nghệ thuật trong song tinh bất dạ và hoa tiên truyện

92 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ việc nghiên cứu chi tiết, người viết mở rộng ra cái nhìn khách quan về thế giới nghệ thuật trong truyện thơ Nôm dựa trên những nét chung, nét tổng quát của thể loại này trong hai tác

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT

TRONG SONG TINH BẤT DẠ VÀ HOA TIÊN TRUYỆN

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số : 60220121 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGÔ THỜI ĐÔN

Huế, năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, kết quả nên trong Luận văn là trung thực và chính xác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Thùy Dương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin được gởi lời cảm ơn đến tất cả quý Thầy Cô giáo trong Khoa Ngữ văn, quý Thầy Cô Phòng sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Huế đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về chuyên ngành làm cơ sở cho tôi thực hiện được Luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn TS.Ngô Thời Đôn đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện Luận văn

Tôi xin gởi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện Luận văn

Do thời gian còn nhiều hạn chế và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn chưa sâu sắc nên luận văn còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến góp ý của quý Thầy Cô và các anh chị học viên

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Thùy Dương

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Mục đích, ý nghĩa đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Đối tượng và phạm vi đề tài 10

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp của luận văn 11

6 Cấu trúc của luận văn 11

PHẦN NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1 SONG TINH BẤT DẠ VÀ HOA TIÊN TRUYỆN TRONG DÒNG TỰ SỰ VĂN VẦN DÂN TỘC 12

1.1 Hoàn cảnh ra đời 12

1.1.1 Hoàn cảnh xã hội 12

1.1.2 Hoàn cảnh văn học 13

1.2 Truyện Nôm và dòng tự sự văn vần dân tộc 15

1.3 Vị trí và vai trò của Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện trong truyện thơ Nôm 21

CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA SONG TINH BÁT DẠ VÀ HOA TIÊN TRUYỆN NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 28

2.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật và đề tài của Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện……… 28

2.2 Chủ đề tình yêu đặc trưng của Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện 35

2.3 Giá trị tư tưởng thẩm mĩ của Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện 40

CHƯƠNG 3 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA SONG TINH BẤT DẠ VÀ HOA TIÊN TRUYỆN – NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 49

3.1 Kết cấu quen thuộc của thể loại truyện thơ Nôm Việt Nam 49

3.1.1 Sự kiện gặp gỡ 50

3.1.2 Sự kiện tai biến 51

3.1.3 Sự kiện đoàn tụ 55

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 56

3.2.1 Hệ thống nhân vật 56

Trang 5

3.2.2 Ngôn ngữ nhân vật 61

3.2.3 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 71

3.3 Không gian, thời gian trong hai tác phẩm 74

3.3.1 Không gian, thời gian gặp gỡ 75

3.3.2 Không gian, thời gian tai biến 77

3.3.3 Không gian, thời gian đoàn tụ 82

PHẦN KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Mục đích, ý nghĩa đề tài

1.1 Truyện thơ Nôm ra đời và phát triển trong bối cảnh chung của nền văn học trung đại Việt Nam Thế nhưng truyện thơ Nôm không những không bị hòa lẫn vào bất cứ thể loại nào khác, mà bản thân truyện thơ Nôm còn trở thành một hiện tượng văn học đặc biệt Trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình, truyện thơ Nôm đã tạo nên dấu ấn đặc biệt về số lượng, cũng như giá trị về nghệ thuật, mĩ học của nó Nghiên cứu truyện thơ Nôm trở thành một mảng nghiên cứu quan trọng khi nhắc đến văn học Việt Nam trung đại nói chung

1.2 Bản thân hai tác phẩm Hoa tiên truyện và Song Tinh Bất Dạ là hai truyện

thơ Nôm xuất hiện trong thời kì đầu trong tiến trình phát triển của truyện thơ Nôm Việt Nam Với vị trí như vậy, hai tác phẩm này có những vai trò, tầm ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển sau này của truyện thơ Nôm, mà đỉnh cao chính là tuyệt tác

Truyện Kiều của Nguyễn Du Do đó, việc nghiên cứu hai truyện thơ Nôm này cũng

chính là nghiên cứu các giai đoạn phát triển của truyện thơ Nôm Việt Nam, nghiên cứu đặc điểm của truyện thơ Nôm qua từng thời kì phát triển, nghiên cứu đặc điểm nổi bật về nghệ thuật của từng tác phẩm nói riêng và trong sự tương quan, so sánh đối với hai tác phẩm

Từ việc nghiên cứu chi tiết, người viết mở rộng ra cái nhìn khách quan về thế giới nghệ thuật trong truyện thơ Nôm dựa trên những nét chung, nét tổng quát của thể loại này trong hai tác phẩm được chọn làm đối tượng nghiên cứu Đồng thời qua đó thấy được đặc điểm về nghệ thuật của văn học Việt Nam trung đại nói chung

1.3 Với xu hướng quay về quá khứ, tìm hiểu những gì thuộc về truyền thống dân tộc, truyện thơ Nôm quả là một đối tượng đáng quan tâm Bởi trước hết, đây là một thể loại chỉ riêng Việt Nam có.Việc sử dụng chữ Nôm và thể thơ lục bát đã tạo nên phong vị đặc biệt cho thể loai này.Hơn thế nữa, truyện thơ Nôm đã sử dụng những nguồn ngữ liệu, những motip, hình ảnh từ văn học dân gian đã làm đậm thêm cái hồn văn hóa Việt Do đó, việc lựa chọn truyện thơ Nôm, mà cụ thể ở đây là hai tác phẩm

Trang 7

Hoa tiên truyện và Song Tinh Bất Dạ chính là một trong những con đường tiếp cận

gần hơn với văn hóa Việt Nam

1.4 Có thể nói, phương thức thể hiện, thế giới nghệ thuật trong các tác phẩm văn học nói chung, truyện thơ Nôm nói riêng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với từng tác phẩm Nó là nơi tác giả thể hiện tài năng, gởi gắm tư tưởng, tình cảm bản thân vào từng nhân vật, từng không gian, thời gian cụ thể Do đó, việc tìm hiểu thế

giới nghệ thuật trong truyện thơ Nôm Hoa tiên truyện và Song Tinh Bất Dạ là con

đường ngắn nhất để đi vào địa hạt của từng tác phẩm Mặc khác, thông qua từng đặc điểm nghệ thuật của hai truyện thơ Nôm này, người viết còn hình thành được cái nhìn tổng quát về đặc điểm nghệ thuật trong hai tác phẩm

2 Lịch sử vấn đề

Là một hiện tượng phức tạp và khá độc đáo trong lịch sử văn học dân tộc, truyện thơ Nôm đã thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Trong nhiều thập kỉ qua đã có nhiều công trình lớn nhỏ và hàng chục bài báo viết về những vấn đề của truyện thơ Nôm nói chung Một các tổng quát, trên cơ sở hệ thống tài liệu

đã khảo sát, chúng tôi có thế điểm qua như sau về tình hình nghiên cứu truyện thơ Nôm từ trước đến nay:

2.1 Những công trình nghiên cứu về truyện thơ Nôm nói chung:

Về những công trình nghiên cứu về truyện thơ Nôm nói chung có thể kể ra đây một số chuyên luận, bài báo tiêu biểu:

Truyện nôm khuyết danh-một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam (Bùi Văn Nguyên), Nhân vật phụ nữ qua một số truyện Nôm khuyết danh (Đặng Thanh Lê), Những vấn đề xã hội trong truyện Nôm bình dân (Nguyễn Lộc), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (Đặng Thanh Lê),…

Truyện Nôm nguồn gốc và bản chất thể loại (Kiểu Thu Hoạch) Tác phẩm

nghiên cứu về thể loại truyện thơ Nôm dựa trên kiến thức văn học sử để khái quát nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển của truyện thơ Nôm Qua đó phân tích để đi sâu vào đặc trưng của thể loại văn học này

Ngoài ra, còn có thể kể đến những phần, những chương viết về vấn đề truyện

Nôm của Lê Hoài Nam, Lê Trí Viễn chương Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (tập 3-Hà Nội 1965), của Đinh Gia Khánh trong Giáo trình văn học dân gian Việt

Trang 8

Nam (tập 1-Hà Nội 1971), của Cao Huy Đỉnh trong Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam (Hà Nội 1978), của Nguyễn Lộc trong Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XVIII, nửa cuối thế kỉ XIX (tập 2-Hà Nội 1975), hay của Lê Đình Kỵ trong Nghiên cứu tiến trình lịch sử văn học dân gian Việt Nam (Hà Nội 1978) Trong các

phần, các chương này, tuy không đi sâu phân tích các truyện thơ Nôm cụ thể nhưng các tác giả đã nghiên cứu truyện thơ Nôm trong mối tương quan với các thể loại văn học khác và vai trò, vị trí của truyện thơ Nôm trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam

Về luận văn, có thể thấy, đã có một vài luận văn lựa chọn truyện thơ Nôm làm đối tượng nghiên cứu

Luận văn Triết lí nhân quả trong truyện thơ Nôm Việt Nam của Huỳnh Quán

Chi (2001) nghiên cứu về một vấn đề trong truyện thơ Nôm Việt Nam, đó là triết lí nhân quả Tác giả nghiên cứu triết lí này trên cả phương diện nội dung lẫn các yếu tố nghệ thuật Từ đó khái quát lên vai trò của triết lí nhân quả trong truyện thơ Nôm Việt Nam

Luận văn Yếu tố trữ tình ngoại đề trong truyện thơ Nôm thế kỉ XVIII-XIX của

Nguyễn Thị Mỹ Vân Luận văn đi sâu vào một yếu tố xuất hiện nhiều trong truyện thơ Nôm thế kỉ XVIII – XIX, đó là yếu tố trữ tình ngoại đề Tác giả phân tích yếu tố này trong các tác phẩm truyện thơ Nôm cụ thể, khái quát vai trò của chúng đối với truyện thơ Nôm nói chung

Luận văn Phương thức thể hiện câu chuyện tình yêu trong truyện thơ Nôm của

Thái Thị Lê (2003) Luận văn đề cập đến một nội dung xuất hiện nhiều trong các truyện thơ Nôm: tình yêu Tác giả phân tích tình yêu trong truyện thơ Nôm trên nhiều phương diện, cả hình thức lẫn nghệ thuật.Qua đó, khái quát nên vị trí, vai trò của câu chuyện tình yêu đối với một truyện thơ Nôm

2.2 Những bài viết, nghiên cứu về một truyện thơ Nôm cụ thể

Bên cạnh những bài viết mang tính khái quát, tổng hợp, truyện thơ Nôm cũng được nghiên cứu một cách cụ thể.Các tác phẩm truyện thơ Nôm được phân tích một cách chi tiết, sâu sắc trên nhiều phương diện.qua đó có được cái nhìn chi tiết về các tác phẩm truyện thơ Nôm

Trang 9

Viết về một truyện thơ Nôm cụ thể thì từ năm 1956 đến nay có đến hàng chục

bài nghiên cứu, thảo luận, có thể kể đến các bài viết như: Khảo luận về truyện Thạch

Sanh (Hoa Bằng, Tập san nghiên cứu văn sử địa, số 19/1956), Tìm hiểu truyện Quan

Âm Thị Kính (Nguyễn Đức Đàn, Tập san nghiên cứu văn sử địa, số 17/1956), Xung quanh cuốn Nhị độ mai (Trương Chính, Tập san nghiên cứu văn sử địa, số 20/1956), Nguyễn Cảnh và truyện Phương Hoa (Tập san nghiên cứu văn học, số 4/1962), Một

nghi án văn học chung quanh truyện Phan Trần (Tiên Đàn Nguyễn Tường Phượng,

Tập san nghiên cứu văn học số 4/1962), Truyện Tây Sương phải chăng của Lý Văn Phức (Hoa Bằng-Tập san nghiên cứu văn học số 8/1962), Bàn về truyện Hoàng Trừu (Đặng Thanh Lê-Tạp chí Văn học số 2/1965), Truyện thơ Lục Vân Tiên với văn học dân gian (Nguyễn Quang Vinh, Tạp chí Văn học số 4/1988), Giọng điệu trữ tình

của Phạm Thái qua trích đoạn “Cảnh chùa chiền” trong Sơ kính tân trang (Hoàng

Hữu Bội, Tạp chí Văn học số 3/1994),… Những bài viết này đều lựa chọn một tác

phẩm cụ thể và một phương diện cụ thể để phân tích những nét riêng về truyện thơ Nôm

2.3 Những bài viết, nghiên cứu về hai tác phẩm Song Tinh Bất Dạ và Hoa Tiên truyện

Song Tinh Bất Dạ với tác giả Nguyễn Hữu Hào, Phan Hứu ThụyTạp chí

Sông Hương, số 05/1996.Bài viết đi sâu vào tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp của tác giả

Nguyễn Hữu Hào Đồng thời tóm tắt nội dung chính của tác phẩm Song Tinh Bất Dạ

Ngoài ra, bài viết còn điểm qua một vài vai trò của tác phẩm đối với cuộc đời nhà văn nói riêng, đối với sự phát triển của thể loại truyện Nôm ở Việt Nam nói chung

Trong bài tựa cuốn Truyện Song Tinh Bất Dạ, Hoàng Xuân Hãn đã có những

nhận xét cơ bản về đặc điểm thi pháp của tác phẩm này về ngôn ngữ trong đối sánh

với Truyện Kiều Tác giả nhận xét: “Về sắc thái từ chương, hai truyện Nôm khác nhau nhiều Khi tả cảnh, Nguyễn Du chỉ phác họa để gợi ý tình; và khi tả tình thì lời sâu sắc đằm thắm Còn Nguyễn Hữu Hào thì tả cảnh một cách tỉ mỉ, cốt để xúc động tai mắt người đọc, chứ không khêu gợi được tình sâu xa, và hầu như chỉ chú ý đến phần

kể chuyện, đối thoại, chứ không phân tích tình cảm” Nhận xét của Hoàng Xuân Hãn

đã nêu ra một nhận định khái quát về phong cách ngôn ngữ nói riêng, phương thức

Trang 10

xây dựng nhân vật nói chung của tác giả cuốn Song Tinh Bất Dạ, đó là nhân vật được

thể hiện chủ yếu qua hành động, qua sự việc

Phẩm bình, nhận định về Nguyễn Huy Tự và Hoa Tiên đã đi sâu và nghiên cứu Hoa tiên trên nhiều phương diện Trong đó, các yếu tố về nội dung và nghệ thuật

được khảo sát, đánh giá, nhận định khách quan, chân thực Từ đó, tác phẩm này được nhìn một cách cụ thể, đa chiều và chân thực nhất

Tuy vậy, người viết nhận thấy rằng chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu

vào phân tích cụ thể giá trị nghệ thuật của tác phẩm Song Tinh Bất Dạ cũng như hình thành cái nhìn so sánh giữa hai truyện thơ Nôm Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện

Do đó, người viết thực hiện đề tài này như là một cách để mở rộng hơn biên độ nghiên cứu hai tác phẩm, cũng như truyện thơ Nôm và văn học Việt Nam trung đại nói chung Trong đó chú trọng vào cái nhìn so sánh giữa hai tác phẩm

3 Đối tượng và phạm vi đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Tác phẩm Hoa tiên truyện của Nguyễn Huy Tự, NXB Giáo dục, Hà Nội xuất bản năm 1978 và tác phẩm Song Tinh Bất Dạ của

Nguyễn Hữu Hào, NXB Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 1987

- Phạm vi đề tài: luận văn này tập trung nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề thế giới

nghệ thuật trong hai truyện thơ Nôm Hoa tiên truyện của Nguyễn Huy Tự và Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào Trong đó tập trung nghiên cứu các vấn đề chính

trong hai tác phẩm này như sau: đề tài, chủ đề, cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, giọng điệu và nghệ thuật trần thuật

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại : Người viết tiến hành khảo sát,

thống kê và phân loại các yếu tố liên quan đến nghệ thuật của hai truyện thơ Nôm

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: đây là phương pháp chủ đạo của luận văn

này Người viết dựa trên kết quả phân tích từng yếu tố thuộc thế giới nghệ thuật trong từng truyện thơ Nôm mà phân tích, đối chiếu chúng trong tương quan với nhau Từ đó thấy được điểm chung, điểm riêng của từng tác phẩm trong từng yếu tố

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Đặt Hoa tiên truyện và Song Tinh Bất

Dạ trong mối quan hệ với hệ thống truyện thơ Nôm Việt Nam, từ đó thấy được vị trí,

Trang 11

vai trò của hai tác phẩm này đối với dòng chảy của truyện thơ Nôm nói riêng và văn học Việt Nam nói chung

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: người viết dựa trên những yếu tố nghệ

thuật mà tiến hành phân tích để thấy rõ được đặc điểm của các yếu tố Từ đó, tiến hành tổng hợp, khái quát vai trò, vị trí trong tác phẩm

5 Đóng góp của luận văn

- Về mặt thực tiễn

Với việc tìm hiểu những tác phẩm này về phương diện thế giới nghệ thuật, còn góp phần tạo nên hứng thú cho người đọc về những tác phẩm cổ điển văn học Việt Nam Đồng thời, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của người viết đề tài

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phần nội dung luận văn được triển khai thành ba chương như sau:

Chương 1.SONG TINH BẤT DẠ VÀ HOA TIÊN TRUYỆN TRONG DÒNG

TỰ SỰ VĂN VẦN DÂN TỘC

Chương 2 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA SONG TINH BẤT DẠ BẤT DẠ

VÀ HOA TIÊN TRUYỆN - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

Chương 3.THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA SONG TINH BẤT DẠ BẤT DẠ

VÀ HOA TIÊN TRUYỆN - NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN

Trang 12

Trong bối cảnh đó, đến thế kỉ XVIII, một phong trào nông dân khởi nghĩa liên tục, phổ biến và quyết liệt đã bùng nổ trên khắp dải đất Việt Nam Các cuộc khởi nghĩa với nhiều vị lãnh tụ kiệt xuất hiện như Nguyễn Danh Phương (1740-1750), cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu (1736 – 1769) Khí thế của các cuộc khởi nghĩa đó, sức mạnh của những cuộc khởi nghĩa đó kết tinh lại trong phong trào Tây Sơn (bùng

nổ năm 1771) Cuộc khởi nghĩa đánh dấu sự thành công vẻ vang của người anh hùng

áo vải Nguyễn Huệ, mở đầu cho triều đại tiến bộ Tây Sơn Chiến thắng này còn gắn với cuộc chiến chống lại quân xâm lược nhà Thanh cùng cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc Việt Nam trong năm 1789

Những biến cố lịch sử diễn ra liên miên này đã có những tác động nhất định đến sự thay đổi nề nếp tư tưởng của xã hội phong kiến lâu đời ở Việt Nam Ý thức hệ phong kiến vẫn ở địa vị chính thống nhưng trước những sự suy thoái này, nó dần đi vào con đường khủng hoảng Rường cột tư tưởng tinh thần bị lung lay trầm trọng Các

Trang 13

tư tưởng dần xuất hiện trong phong trào quần chúng đấu tranh là quay về với sự nhân

từ của đạo Phật, sự phiêu diêu thanh thoát trong tâm hồn của Lão Trang Tất cả đã gây

ra những chấn động không nhỏ, làm lung lay địa vị động tôn của Nho giáo đã tồn tại trong nhiều thế kỉ liền

Khi ý thức hệ chính thống đang dần đi vào con đường khủng hoảng, ở Việt Nam dần xuất hiện một trào lưu tư tưởng mới mẻ - trào lưu tư tưởng mang yếu tố nhân đạo chủ nghĩa Có thể nói rằng trong thế giới quan của nho sĩ phong kiến đã có những lay chuyển quan trọng Đã có những người bỏ hàng ngũ phong kiến cũ của mình để đi về với triều đại của Quang Trung bởi tính chất chính nghĩa của triều đại mới – nhất là ở phương diện bảo vệ độc lập dân tộc Những con người tài năng, nhân cách tốt đẹp như La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhiệm,… đều phụng sự cho triều đại mới đó Bên cạnh thái độ chính trị là xu hướng được phát triển cuộc sống cá nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong đó nổi bật lên nhu cầu giải phóng đời sống tình cảm cá nhân của con người, chống lại những thế lực chà đạp lên quyền sống của con người Tình cảm trai gái không phải đến thời đại này mới có, nhưng chỉ đến thời đại này mới có những biểu hiện mới và mới tiến đến một mức độ sâu sắc mới Những cái nhìn táo bạo hơn, thông thoáng hơn về tình yêu nam nữ xuất hiện khá phổ biến, nhất là trong văn học

Vào cuối thế kỉ XVIII, ý thức chống đối, đòi hỏi của nhân dân đã mạnh mẽ hơn trước, ảnh hưởng không nhỏ đến nho sĩ quý tộc Luồng tư tưởng ấy có những yếu tố tốt đẹp vì nó dựa trên tinh thần nhân đạo của quần chúng để đòi hỏi quyền lợi chính đáng của con người và chống lại những thế lực chà đạp lên quyền lợi ấy

1.1.2 Hoàn cảnh văn học

Giai đoạn thế kể XVIII là giai đoạn đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của văn học Việt Nam Văn học giai đoạn này thừa hưởng nhiều giá trị di sản văn học từ các thế kỉ trước để lại Đó là dòng văn học dân gian với nội dung tiến bộ, phong cách biểu hiện phong phú, sinh động Bộ phận văn học viết của các tầng lớp nho sĩ (cả Hán lẫn Nôm) thời kì trước với nhiều yếu tố tiến bộ Những cái tên như Nguyễn Trãi, Nguyễn

Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, những tác phẩm Lâm tuyền kì ngộ, Hương miết hành,… đã

để lại những cái nhìn tiến bộ đậm chất dân tộc cho các nhà văn thời kì sau này

Trang 14

Văn học thời kì này phát triển mạnh, làm nảy nở hàng loạt tác giả, tác phẩm có giá trị Trên cơ sở đó, có thể chia văn học giai đoạn này thành ba khuynh hướng khác nhau, phản ánh sự phát triển đa dạng của văn học

Khuynh hướng đấu tranh và tố cáo hiện thực bao gồm bộ phận văn học dân gian với các truyện như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, các tác phẩm có nội dung đả kích quan lại, cường hào, sư sãi,…; bộ phận truyện Nôm khuyết danh; một số tác phẩm của các phong trào nông dân khởi nghĩa như các tác phẩm của Nguyễn Hữu Cầu, Lê Duy Mật,… chủ yếu là vạch tội lấn át vua của chúa Trịnh; và các tác phẩm của nho sĩ phong kiến Các tác giả này tuy không đứng hẳn về phía của các tầng lớp nhân dân bị

áp bức nhưng đã có những cách nhìn nhận các vấn đề xã hội ít hay nhiều gần gũi với cách nhìn nhận xã hội của quần chúng Đó là các tác phẩm của Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Huy Tự, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Các thể loại văn học phát triển đa dạng, từ ngâm khúc, thơ Nôm, truyện thơ Nôm đến thơ, phú, tạp văn đều xuất hiện các tác phẩm có giá trị Các tác phẩm thuộc khuynh hướng này đề cập đến sự tố cáo, phê phán những thực tại đen tối của xã hội Chế độ phong kiến đang dần bị lung lay ngay từ trong hàng ngũ giai cấp của nó Những tiếng nói lên án,

tố cáo tội ác của giai cấp thống trị ngày càng vang lên mạnh mẽ Ước mơ, những yêu cầu được giải phóng của con người ngày càng có giá trị hiện thực

Khuynh hướng thứ hai là khuynh hướng lạc quan của một số nhà Nho thời Tây Sơn Tuy chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng triều đại Tây Sơn đã tạo nên một bầu không khí cởi mở, vui tươi trong đời sống nhân dân và tinh thần dân tộc

Một số tác phẩm đã phản ánh được không khí vui tươi đó vào trong văn học: Chuyết sơn thi tập của Ninh Tốn (1744 - ?), Dụ am ngâm lục và Dụ am văn tập của Phan Huy Ích (1759-1800), Long thành quang phục kỉ thực của Ngô Ngọc Du,…

Khuynh hướng này xuất hiện bởi sự mâu thuẫn trong tư tưởng, tình cảm của tầng lớp nho sĩ đối với hiện thực xã hội đương thời Nó xuất hiện trong thơ của Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án,…Tiếng nói buồn thương, tâm trạng hoang mang và sự luyến tiếc quá khứ xa xôi làm cho văn học mang giọng điệu bi ai và sự tiêu cực Giọng thơ này còn kéo dài đến thơ Bà Huyện Thanh Quan và sang cả thế kỉ

XX

Trang 15

1.2 Truyện Nôm và dòng tự sự văn vần dân tộc

Ba khuynh hướng văn học trên tuy có những chiều hướng phát triển khác nhau nhưng đều mở rộng biên độ phản ánh hiện thực của văn học Chúng có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn nội dung, hình thức văn học phù hợp của các nhà văn đương thời Mỗi nhà văn với những tư duy thẩm mĩ, quan niệm về nhân sinh khác nhau sẽ có những cách phản ánh thế giới khách quan khác nhau trong tác phẩm của mình, qua đó thể hiện được quan niệm về văn học của bản thân

Nhắc đến những thành tựu nổi bật của văn học trung đại Việt Nam, không thể không kể đến sự ra đời và phát triển của dòng văn học viết bằng chữ Nôm Bộ phận văn học này, cùng với bộ phận văn học viết bằng chữ Hán đã hình thành nên nền văn học Việt Nam thời kì trung đại

Chữ Nôm là thứ chữ do người Việt Nam ngày xưa dựa vào chữ Hán để làm thứ văn tự riêng Thời điểm ra đời của chữ Nôm còn có nhiều tranh cãi khác nhau, nhưng

có một điều chắc chắn là chữ Nôm ra đời sau chữ Hán, ra đời với vai trò quan trọng trong quá trình chống Hán hóa, giữ gìn và phát triển bản sắc riêng của văn hóa dân tộc Việt Nam Theo sử cũ còn ghi lại, tác phẩm văn học đầu tiên sử dụng chữ Nôm là vào thời Trần, khoảng cuối thế kỉ XIII-XIV Nguyễn Thuyên, sau này đổi tên là Hàn Thuyên với bài văn tế cá sấu là tác giả đầu tiên được ghi nhận sáng tác phẩm văn học bằng chữ Nôm Vào các thế kỉ tiếp theo, chữ Nôm và bộ phận văn học viết bằng chữ Nôm ngày càng phát triển về mặt thể loại và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Thơ Nôm đường luật, thơ lục bát, hát nói, phú, … đều sử dụng chữ Nôm một cách thuần thục và thành công Trong số đó, có những thể loại mang đậm bản sắc của riêng người Việt Nam như thơ lục bát, hát nói,…

Văn học dân gian là nền tảng cho sự phát triển của văn học viết, đặc biệt là văn học viết bằng chữ Nôm Nhất là trong thời kì suy thoái của chế độ phong kiến, ảnh hưởng của văn học dân gian đến văn học viết ngày càng nhiều Bởi số đông các tác gia là nhà nho ẩn dật và nho sĩ bình dân, nên họ có nhiều điều kiện gần gũi, thông cảm với đời sống nhân dân Từ đó, họ tiếp thu ảnh hưởng của sáng tác dân gian Ở đây không thể phủ nhận vai trò quan trọng trong sự cố gắng của các tác giả như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Cư Trinh,… trong việc phát triển văn học viết bằng chữ Nôm, nhưng ảnh hưởng của văn học dân gian trong các thể thơ (thơ lục

Trang 16

bát, song thất lục bát), ngôn từ, hình tượng văn học, các tư tưởng nhân văn tiến bộ…

là điều đã được kiểm chứng

Trong số các thể loại văn học sử dụng chữ Nôm để sáng tác, truyện thơ Nôm là thể loại đạt được nhiều thành tựu đáng chú ý Truyện thơ Nôm hay còn gọi là Truyện Nôm là thể loại tự sự bằng thơ dài, cũng là thể loại tiêu biểu cho văn học cổ điện Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, do viết bằng tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm, nên được gọi là “truyện Nôm”

Từ trước đến nay, truyện thơ Nôm luôn là nguồn đề tài nghiên cứu phong phú cho các nhà nghiên cứu văn học Trong quá trình tìm hiểu truyện thơ Nôm, đã có nhiều quan điểm được đặt ra khi phân loại thể loại này Trong đó, truyện thơ Nôm

từng được phân loại thành truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học, hoặc truyện Nôm khuyết danh và truyện Nôm hữu danh Những cách phân loại này ít nhiều đều có

những ưu điểm và hạn chế nhất định Nhưng ngày nay, phần lớn các nhà nghiên cứu

văn học đều nghiêng về cách phân loại truyện Nôm thành truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học

Truyện Nôm bình dân là truyện được sáng tác đa phần bởi tầng lớp quần chúng nhân dân, ra đời trong quá trình lao động, do đó không có tên tác giả Ngôn ngữ truyện Nôm bình dân thường mộc mạc, giản dị, phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của tầng lớp bình dân, với khả năng lưu truyền bằng miệng

Truyện Nôm bác học là truyện Nôm thường có tác giả rõ ràng, họ thường là những người thuộc tầng lớp phong kiến quý tộc, có học vấn uyên bác, trình độ tu dưỡng nghệ thuật cao Văn chương của truyện Nôm bác học trau chuốt và điêu luyện hơn truyện Nôm bình dân

Hiện nay chưa tìm thấy cứ liệu chắc chắn về truyện thơ Nôm sáng tác sớm hơn

thế kỉ XVII Chúng ta mới biết được truyện thơ Nhạc Xương phân kính của Nguyễn Thế Nghi viết vào khoảng thế kỉ XVI [Dẫn theo Vũ Phương Đề, Công dư tiệp kí-trang

372], nhưng văn bản tác phẩm này đến nay đã thất truyền Tác phẩm truyện Nôm sớm

nhất còn được ghi nhận tác giả sáng tác là Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào ra đời vào đầu thế kỉ XVIII Tập Sứ trình tân truyện của Nguyễn Tông Khuê viết vào

khoảng những năm bốn mươi của thế kỉ XVIII, có tính chất như một truyện Nôm lục bát Kể từ khi được ghi nhận trở về sau, lịch sử văn học chứng kiến sự phát triển mạnh

Trang 17

mẽ của thể loại truyện thơ Nôm với hàng loạt tác phẩm có giá trị, cả truyện Nôm bình

dân và truyện Nôm bác học ra đời, mà đỉnh cao chính là Truyện Kiều của Nguyễn Du

Truyện thơ Nôm từng có thời kì phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của hàng loạt tác phẩm có giá trị về mặt nghệ thuật cũng như hiện thực Nhưng bởi có nội dung quá tiến bộ, đề cập đến những vấn đề cá nhân, tố cáo tội ác của tầng lớp thống trị, thể hiện khát khao hạnh phúc, tự do của các tầng lớp nhân lao động nên nó không được lòng giai cấp thống trị Do đó, nhà nước phong kiến đã thẳng tay đàn bằng cách cấm đoán

và phá hoại các tác phẩm Nôm nói chung, truyện thơ Nôm nói riêng nhằm hạn chế những ảnh hưởng không tốt đến sự cai trị của họ Điều này cho thấy việc sáng tác tác phẩm Nôm là một phong trào đáp ứng yêu cầu văn hóa của nhân dân Bởi vậy, truyện thơ Nôm đã bị thất lạc, biến mất khá nhiều nhưng các biện pháp chuyên chế đó vẫn không dập tắt nổi sức sống của các tác phẩm Nôm Tuy vậy, điều này cũng có những ảnh hưởng nhất định đến sự tồn tại của chúng Số lượng những tác phẩm đã mất so với những tác phẩm truyện thơ Nôm còn lại quả thật rất khiêm tốn, và đó cũng là một trong những lí do vì sao hiện nay còn nhiều tác phẩm Nôm không đề tên tác giả

Tuy số lượng còn lại không nhiều, nhưng truyện Nôm hay truyện thơ Nôm luôn được xem là một thể loại văn học khá độc đáo trong văn học trung đại Việt Nam Hiện nay chưa xác định được thời điểm ra đời của các truyện thơ Nôm khuyết danh, chỉ biết

chắc chắn vào thế kỉ XVIII, truyện thơ Nôm đã xuất hiện với tác phẩm Song Tinh Bất

Dạ Như đã đề cập, truyện thơ Nôm là một thể loại tự sự bằng thơ Trước truyện thơ Nôm, lịch sử văn học đã ghi nhận sự tồn tại của văn tự sự (mà tiêu biểu là Truyện kì mạn lục) Truyện thơ Nôm cũng không phải là thể loại văn học đầu tiên sử dụng chữ

Nôm để sáng tác, bởi bên cạnh truyện thơ Nôm, các nhà thơ thời kì này còn sử dụng chữ Nôm với các thể loại khác như thất ngôn bát cú Đường luật, hát nói, phú, Nhưng bởi hoàn cảnh ra đời đặc thù cùng giá trị văn học đặc sắc của mình, truyện thơ Nôm luôn được đánh giá cao Truyện thơ Nôm ra đời, phát triển do yêu cầu phản ánh hiện thực rối ren của xã hội phong kiến đang suy thoái, do ảnh hưởng của văn hóa dân gian và bởi sự du nhập và ảnh hưởng của tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa trong các tầng lớp nhân dân Sự ra đời của truyện thơ Nôm như là một tất yếu của hoàn cảnh xã hội

và văn học đương thời Truyện thơ Nôm có những vẻ đẹp riêng mà các thể loại khác không có được về mặt hình thức cũng như nội dung Nó là sự kết hợp nhuần nhuyễn

Trang 18

các yếu tố của riêng người Việt Nam: chữ Nôm, thơ lục bát cùng với tư duy thẩm mĩ của người Việt Nam Chính vì vậy, truyện thơ Nôm phù hợp với nhiều nhà thơ có khuynh hướng dân tộc, và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong sáng tác ở các thế kỉ sau này

Truyện Nôm sử dụng một thể thơ quen thuộc của nước nhà, đó là thể thơ lục bát để sáng tác Đây là một thể thơ truyền thống của văn học Việt Nam Thơ lục bát xuất hiện từ khi nào điều này còn chưa được làm rõ, nhưng có thể chắc chắn một điều thơ lục bát xuất phát từ văn học dân gian Thể lục bát là một thể yêu vận toàn vần bằng Đây là thể thơ ca dân gian cổ truyền của dân tộc, trên cơ sở thanh điệu của tiếng Việt, phương pháp tư duy của người Việt cũng như nhịp điệu đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta Trải qua quá trình thử nghiệm lâu dài trên nhiều thể loại, các nhà thơ đã lựa chọn thể loại thơ phù hợp nhất để kể câu chuyện của mình Truyện Nôm lúc

đầu sử dụng Đường luật, nhưng qua thể nghiệm với các tác phẩm như Vương Tường,

Tô công phụng sứ, Lâm tuyền kì ngộ,…với việc sử dụng các bài thơ ngắn cùng các

hình thức bát cú, hoặc tuyệt cú được thống nhất theo một cốt truyện thì Đường luật không phù hợp để tự sự Vì thế, các nhà thơ đã tìm đến thể thơ lục bát, một thể thơ linh hoạt về nhịp điệu, trường độ, màu sắc thẩm mĩ, rất phù hợp với tư duy thẩm mĩ của người Việt Và thực tế sáng tác cũng cho thấy lục bát thực sự là sự lựa chọn hàng đầu trong sáng tác truyện Nôm – một thể loại tự sự, kể truyện Chính nhờ thơ lục bát, truyện Nôm mới có được phương thức thể hiện uyển chuyển, linh hoạt Các nhà thơ mới có được những câu thơ giàu sắc thái tình cảm mà cũng vô cùng đặc sắc về mặt ngôn ngữ Khi nhắc đến nỗi nhớ nhung:

Sầu đong càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê

(Truyện Kiều) Hay để miêu tả tâm trạng rối bời của nhân vật:

Tai nghe ruột rối khôn hàn Trước tòa đứng sững bên bàn ngồi quên

(Truyện Hoa tiên)

Thì thơ lục bát luôn thể hiện được yếu tố trữ tình, phản ánh được tâm trạng của nhân vật trữ tình Lời nguyền ước của các nhân vật cũng được miêu tả rất da diết:

Trang 19

Thiếp xin kết nghĩa lương duyên Phượng loan chung gối phỉ nguyền keo sơn

(Thạch Sanh) Nếu là thơ Đường luật, vịnh, phú,… chưa chắc đã có được những câu thơ mềm mại, uyển chuyển đến thế Chính nhờ sự hài hòa của các âm chẵn, cùng cách gieo vần linh hoạt trong từng cặp câu sáu - tám và giữa các cặp câu sáu - tám với nhau, cùng sự đồng điệu giữa các yếu tố thuần việt là thơ lục bát và chữ Nôm mà thơ lục bát trở thành lựa chọn hàng đầu để sáng tác truyện thơ Nôm

Nhờ thơ lục bát mà các tác giả của truyện thơ Nôm đã tìm được phương tiện sáng tác hữu hiệu Và ngược lại, chính truyện thơ Nôm đã nâng thơ lục bát lên một tầng cao mới Vào thế kỉ XVI, khi các nhà văn dùng thơ lục bát để viết tác phẩm thì chắc chắn nó đã hoàn chỉnh đến một mức độ nhất định trong thơ ca dân gian từ trước Những câu ca dao sử dụng thơ lục bát trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam luôn được đánh giá cao về sự mềm mại, đậm chất trữ tình:

Trúc xinh trúc mọc đầu đình

Em xinh em đứng một mình cũng xinh

(Ca dao) Đến khi xuất hiện trong văn học viết, mà nhất là trong truyện thơ Nôm, thơ lục bát Việt Nam còn mang thêm trong mình sự tài hoa, tao nhã của người trí thức Thể thơ lục bát được sử dụng để viết nhiều thể loại với nhiều tác phẩm văn học trong giai

đoạn này Thế kỉ XVI, Lê Đức Mao viết Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào với

sự đan xem giữa lục bát và song thất lục bát Lâm tuyền văn của Phùng Khắc Khoan, Ngọa long cương văn và Tư Dung vãn của Đào Duy Từ, Hoán tỉnh châu dân từ của

Đinh Nho Doãn,… là những tác phẩm viết bằng lục bát trong các thế kỉ XVI, XVII Khi đến với truyện thơ Nôm, thơ lục bát lại có những bước tiến dài trong hình thức nghệ thuật Các hình ảnh, những thủ pháp nghệ thuật thường thấy trong văn học viết được đan cài hài hòa vào một thể thơ vốn thuộc về dòng văn học dân gian Các phép đối, sử dụng các điển tích, điển cố, các thủ pháp tả cảnh ngụ tình, ý tại ngôn ngoại, ước lệ tượng trưng… được sử dụng một cách thành thục trong thơ lục bát ở truyện thơ Nôm, nhất là truyện thơ Nôm bác học Trong Truyện Kiều, không ít lần ta thấy khả

Trang 20

năng sử dụng ngôn ngữ thiên tài của Nguyễn Du Cách tác giả sử dụng các điển cố vào tác phẩm tạo nên được hiệu ứng thẩm mĩ cao:

Khen tài nhả ngọc phun châu, Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này

Hay Nguyễn Du còn kết hợp được ca dao - một thể loại của văn học dân gian vào trong thơ lục bát cũng cho thấy được khả năng linh hoạt trong tự sự của thơ lục bát trong truyện thơ Nôm:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường

Việc xây dựng, hay nói đúng hơn là nâng cao thơ lục bát từ một thể loại thơ ca dân gian thành thể thơ dân tộc có thể coi là đóng góp lớn nhất của việc xây dựng thể loại văn học Nôm thời kì này Và truyện thơ Nôm đã góp công không nhỏ trong thành tựu ấy

Như vậy, truyện thơ Nôm với tư cách là một thể loại tự sự đã nâng tầm không chỉ thơ lục bát, mà cho cả thể loại tự sự ở Việt Nam Không kể chuyện bằng văn xuôi thường thấy, truyện thơ Nôm lựa chọn cho mình con đường sử dụng văn vần với một thể loại dân tộc để làm nên câu chuyện cho mình Và lịch sử văn học đã chứng minh, khi nhắc đến thể loại tự sự ở Việt Nam thời kì trung đại, người ta không chỉ nhớ đến

những câu chuyện trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, những tác phẩm du kí viết

bằng chữ Hán, chữ Nôm,… mà còn nhớ ngay đến những câu chuyện trong các tác phẩm truyện thơ Nôm mà hầu hết chúng đều gần gũi với các tầng lớp nhân dân

Truyện Nôm nói riêng và văn học chữ Nôm nói chung trở thành bộ phận văn học chiếm địa vị quan trọng bên cạnh văn học chữ Hán Văn học viết của Việt Nam chủ yếu gồm hai thành phần tồn tại song và có quan hệ qua lại mật thiết: thành phần viết bằng chữ Hán và thành phần viết bằng chữ Nôm Văn học chữ Hán ra đời ngay từ buổi đầu của nền văn học viết Văn học chữ Nôm ra đời muộn hơn (chữ Nôm ra đời từ sớm nhưng văn học Nôm phải đến khoảng thế kỉ XIII mới xuất hiện) khi ý thức dân tộc và tinh thần nhân dân đã phát triển cao hơn ở tầng lớp trí thức Từ sau thế kỉ XVI, văn học chữ Nôm có bước phát triển toàn diện hơn về lượng và về chất So với văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm tuy số lượng có ít hơn, nhưng so với thế kỉ trước thì

đã tăng lên đáng kể Các thể loại văn học chữ Nôm cũng đa dạng hơn rất nhiều: biền

Trang 21

văn Nôm, thơ Nôm Đường luật, vãn, ngâm, ca trù, diễn ca, truyện thơ lục bát,… Nhiều tác phẩm có giá trị cao về nội dung và tư tưởng được viết bằng chữ Nôm cũng xuất hiện nhiều Thành phần văn học chữ Nôm đã có vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học Việt Nam: trở thành bộ phận văn học ngang hàng với bộ phận văn học chữ Hán Trong sự phát triển đó, truyện thơ Nôm đã góp một phần quan trọng vào việc nâng cao vị thể của thành phần văn học viết bằng chữ Nôm Với những giá trị về mặt nội dung tư tưởng tiến bộ và hình thức nghệ thuật đặc sắc, truyện thơ Nôm xứng đáng trở thành một trong những thể loại văn học tiêu biểu trong nền văn học trung đại Việt Nam

1.3 Vị trí và vai trò của Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện trong truyện thơ

Nôm

Ngày nay, khi nhắc đến truyện thơ Nôm, người ta thường nghĩ ngay đến Truyện Kiều Nhưng không phải vì vậy mà phủ nhận hoàn toàn vai trò của các truyện thơ Nôm khác trong thể loại nói riêng và đối với cả nền văn học Việt Nam trung đại nói chung Mỗi tác phẩm văn học có giá trị ra đời đều có những tầm ảnh hưởng nhất

định đối với sự phát triển của văn học.Kiệt tác Truyện Kiều là thành quả riêng của cá

nhân Nguyễn Du, nhưng cũng là kết tinh của quá trình phát triển lâu dài của thể loại truyện thơ Nôm

Góp trong dòng chảy của thể loại, hai tác phẩm Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện đều có tiếng nói chung trong việc thể hiện quá trình phát triển của truyện thơ

Nôm Mỗi tác phẩm có những hoàn cảnh lịch sử ra đời khác biệt, những giá trị văn học riêng biệt, nhưng chúng đều là những thành quả lao động cùng tài năng và kết tinh các giá trị văn học của dân tộc

Hai tác phẩm Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện đều là những tác phẩm

thuộc bộ phận truyện thơ Nôm bác học Người sáng tác ra các tác phẩm này đều là những nhà Nho thuộc tầng lớp phong kiến quý tộc, có trình độ học vấn và tu dưỡng cao

Nguyễn Hữu Hào (?-1713) sinh trưởng trong một gia đình quan lại có tiếng lâu đời Cha ông là Nguyễn Hữu Dật (1604-1691), vốn xuất thân là một văn chức, là một danh thần bật nhất dưới triều chúa Nguyễn Ông là người văn võ song toàn, đã lập được nhiều công lớn cho chính quyền phong kiến thời bấy giờ Nguyễn Hữu Hào là

Trang 22

con đầu, từ nhỏ đã cùng cha lên yên ngựa, tham gia nhiều trận mạc, dần ông trở thành người giỏi mưu lược và dùng binh Về sau, Hữu Hào giữ chức cai cơ ở Cựu Dinh, rồi chưởng cơ, sau đó giữ chức trấn thủ Quảng Bình (1704) Nguyễn Hữu Hào là một người tài giỏi, có tâm, đem hết tài lực ra xây dựng quê hương đất nước đồng thời càng muốn đem nhân nghĩa và đức độ ra chinh phục lòng người Tư tưởng này được thể

hiện phần nào trong tác phẩm Song Tinh Bất Dạ Tuy là một võ tướng, những vào thời

kì chúa Trịnh, văn học và Phật học rất thịnh hành, cho nên Nguyễn Hữu Hào cũng thấm nhuần trào lưu văn học thời bấy giờ Vì vậy, việc sáng tác ra được một tác phẩm văn học từ một võ tướng là điều không quá khó hiểu

Nguyễn Huy Tự (1743 - 1790) hiệu Uẩn Trai, tự Hữu Chi Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học Ông là con trai của Nguyễn Huy Oánh, gọi Nguyễn Huy Quýnh là chú ruột người làng Trường Lưu, tổng Lam Thạch, huyện La Sơn (nay thuộc huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh Từ nhỏ, ông đã vượt trội hơn hẳn bạn đồng lứa về tài học, về văn chương Ông ra làm quan ở đời Lê mạt cuối thế kỉ XVIII

và từng giữ nhiều chức vụ khác nhau như Hồng lô tự thừa, tri phủ Quốc Oai, Hiến sát phó sứ xứ Sơn Nam, rồi cải bổ sang ban võ, làm Quản binh, trấn thủ xứ Hưng Hóa, Đốc đồng Hưng Hóa, Sơn Tây, nhiều lần đánh đuổi quân Thanh ra khỏi đất nước Về sau, triều đình Lê – Trịnh lục đục, Nguyễn Huy Tự về quê điền viên, nhưng sau này ra giúp nhà Tây Sơn Điều này có ý nghĩa nhất định trong việc thể hiện sự giằng co trong

tư tưởng chính trị của bản thân Nguyễn Huy Tự cũng như sĩ phu Bắc Hà thời kì bấy giờ Nguyễn Huy Tự là người có cá tính, giàu chất nghệ sĩ, là người đa tài đa nghệ Những loại thư, họa, quốc âm, thanh luật, kỹ nghệ, không món gì là không tinh tuyệt

Ngoài là than sinh của hai tác giả văn học Nguyễn Huy Vinh (tác giả Chung sơn di cảo) và Nguyễn Huy Hổ (tác giả Mai Đình mộng kí), Nguyễn Huy Tự còn để lại cho văn học nước nhà truyện thơ Nôm nổi tiếng Hoa tiên truyện

Hai tác giả văn học trên có điểm chung là họ đều xuất thân từ những gia đình

có truyền thống Nho học lâu đời, là thành phần quan lại có chức vụ cao trong triều đình phong kiến Điều này có nghĩa họ đều am hiểu những quy tắc, lễ nghi, những tư tưởng Nho giáo Và một điểm chung nữa, họ đều không phải là những nhà thơ làm

quan, mà là những vị quan sáng tác thơ Những tác phẩm như Song Tinh Bất Dạ hay

Trang 23

Hoa tiên truyện đều là một trong số ít các tác phẩm của họ Nhưng có một điều may

mắn là cả hai tác phẩm đều có những giá trị nghiên cứu văn học

Như đã nhắc đến ở trên, Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện đều là những tác

phẩm được xếp trong bộ phận truyện Nôm bác học Các tác giả của hai tác phẩm này đều có một điểm chung là lấy một tác phẩm tiểu thuyết của Trung Quốc để sáng tác

nên tác phẩm của mình Nếu như Nguyễn Hữu Hào lấy cốt truyện từ cuốn Định tình nhân thì Nguyễn Huy Tự lại lấy ý tưởng từ tác phẩm Đệ bát tài tử Hoa tiên ký Truyện Định tình nhân được khắc vào đầu đời Thanh, là một cuốn tiểu thuyết dân gian của

Trung Quốc, kể về câu chuyện tình yêu của Song Tinh và Nhụy Châu, là một chuyện

tình gắn bó kiên trì, rồi cho kết quả thành một đôi tình nhân Còn Đệ bát tài tử thư Hoa tiên kí là một ca bản của Trung Quốc, được sáng tác vào khoảng thời Minh sơ

Ca bản này viết bằng thể thơ thất ngôn cổ phong liền vận, thỉnh thoảng có phụ thêm mấy chữ ở đầu câu để chuyển ý Truyện kể về chuyện tình của Lương Sinh và Dao Tiên, trải qua bao trắc trở mà nên vợ nên chồng

Việc lấy một cuốn tiểu thuyết của Trung Quốc làm nền tảng sáng tác nên các tác phẩm truyện thơ Nôm là một việc thường thấy trong bộ phận truyện Nôm bác học chứ không riêng gì trường hợp của Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Huy Tự Điều quan trọng làm nên giá trị của một tác phẩm văn học không chỉ là tác phẩm đó có hoàn cảnh sáng tác như thế nào mà là tác phẩm đó mang giá trị ra sao về mặt nội dung và

nghệ thuật Quá trình sáng tác của hai tác giả không phải chỉ là chuyển ngữ Định tình nhân và Đệ bát tài tử thư Hoa tiên ký từ một tác phẩm của Trung Quốc sang một tác

phẩm của Việt Nam mà là dựa trên ý tưởng, nội dung, tình tiết của câu chuyện từ đó tạo nên một tác phẩm của riêng mình, mang đậm dấu ấn cá nhân và tư tưởng của tác giả

Tìm hiểu về thời gian sáng tác, có thể căn cứ vào thời đại của tác giả cũng như

sự xuất hiện của các bản in để xác định Vào thời kì các tác phẩm này xuất hiện, điều kiện in ấn còn nhiều hạn chế, cho nên việc lưu truyền những văn bản gốc còn nhiều khó khăn Do đó, việc xác định năm sáng tác, năm xuất bản của hai tác phẩm này đến nay vẫn chưa có ý kiến thống nhất

Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn, trong lời dẫn của cuốn Truyện Song Tinh

[9, tr35] cho rằng Nguyễn Hữu Hào sáng tác Song Tinh Bất Dạ trong khoảng thời gian

Trang 24

ông ở trấn Quảng Bình, tức là vào khoảng năm 1704 Ý ấy có lẽ dựa vào câu mở đầu truyện:

Cửa xe đài án việc rồi Màn trong giản để, sách ngoài soạn biên Cửa xe trỏ dinh quân, đài án trỏ việc quan cai trị Vậy nghĩa câu trên là Hữu

Hào viết truyện này trong lúc làm tướng, ở dinh quân, rãnh rỗi việc quan để soạn truyện ngoài truyện kinh điển.Theo đó, nghĩ rằng khoảng thời gian ông trấn thủ ở

Quảng Bình là hợp lí nhất Như vậy, Song Tinh Bất Dạ được sáng tác vào đầu thế kỉ

thứ XVIII, là tác phẩm được Nguyễn Hữu Hào diễn ca bằng nôm từ một bộ tiểu thuyết nhỏ của Trung Quốc Tác phẩm có khoảng 2400 câu thơ lục bát (do trang cuối bị mất văn bản gốc, nên Hoàng Xuân Hãn chỉ có thể án chừng số câu), đã được tác giả giản bớt những đối thoại dông dài, những nhân vật không có tác động đến chủ ý của truyện

từ tiểu thuyết gốc mà tạo nên một tác phẩm có dung lượng vừa phải

Hoa tiên truyện là một tác phẩm văn học nổi tiếng của thời kì cuối Lê đầu

Nguyễn Tác giả Nguyễn Huy Tự soạn vào khoảng giữa thế kỉ XVIII, được Nguyễn Thiện nhuận sắc (sửa chữa, hiệu đính) vào đầu nhà Nguyễn, tức đầu thế kỉ XIX Tác phẩm có 1532 câu thơ lục bát ở bản nguyên tác của Nguyễn Huy Tự, và 1766 câu thơ lục bát ở bản nhuận sắc của Nguyễn Thiện

Như vậy, Song Tinh Bất Dạ và Truyện Hoa tiên được sáng tác vào khoảng thế

kỉ XVIII Đây là thời kì phát triển mạnh của bộ phận văn học chữ Nôm nói chung và của truyện thơ Nôm ở Việt Nam nói riêng Trong bối cảnh lịch sử phát triển sôi động của nền văn học, hai tác phẩm có sự tiếp thu và phát triển tinh hoa của truyện thơ Nôm, thúc đẩy sự phát triển của thể loại văn học đậm đà bản sắc dân tộc này

Mỗi tác phẩm văn học có giá trị ra đời đều có vai trò nhất định đối với sự phát

triển của thể loại nói riêng và của nền văn học nói chung Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện cũng không nằm ngoài quy luật đó

Như đã nhắc đến ở trên, truyện Nôm Song Tinh Bất Dạ ra đời vào đầu thế kỉ XVIII, còn Truyện Hoa tiên thì ra đời sau đó vài chục năm, vào khoảng giữa thế kỉ XVIII Truyện Nôm Song Tinh Bất Dạ là một trong những tác phẩm truyện thơ Nôm

ra đời vào thời kì đầu của quá trình phát triển truyện thơ Nôm Chính vì ra đời trong

khoảng thời gian sự phát triển của thể loại còn nhiều khoảng trống nên Song Tinh Bất

Trang 25

Dạ có nhiều đặc điểm mang dấu ấn của thời kì đầu Song Tinh Bất Dạ mang đầy đủ

các tố chất của một truyện Nôm bác học, và nhiều nghiên cứu cũng xếp truyện này vào trong mảng truyện Nôm bác học Nhưng sáng tác của Nguyễn Hữu Hào ra đời vào đầu thế kỉ XVIII là một truyện Nôm sơ kì còn chịu ảnh hưởng nhiều mặt của truyện Nôm bình dân đương thời, từ cách xây dựng nhân vật, đến cách sử dụng ngôn ngữ, lối

kể chuyện và kết cấu của tác phẩm, do đó mà nó gần truyện Nôm bình dân hơn là

truyện Nôm bác học Nói cách khác xét về mặt tiến trình văn học, Song Tinh Bất Dạ là

tác phẩm bước đầu, là tác phẩm đánh dấu bước phát triển đầu tiên của truyện Nôm bác

học nói riêng và truyện Nôm nói chung trong những thế kỉ sau này Song Tinh Bất Dạ

tuy không có ảnh hưởng trực tiếp gì đối với các tác phẩm sau này hay văn chương ở Đàng Ngoài nhưng nó cũng báo trước phần nào sự ra đời của các tác phẩm sau này

như Truyện Kiều hay Hoa tiên truyện, nhất là trong việc sử dụng các thủ pháp nghệ

thuật như dùng phép tiểu đối, dùng biện pháp bắt cầu

Truyện Nôm Hoa tiên lại là một trường hợp khác Trước khi Truyện Kiều của

Nguyễn Du ra đời và được tung hô như một kiệt tác, người ta khi nhắc đến truyện thơ

Nôm sẽ nghĩ ngay đến Hoa tiên truyện của Nguyễn Huy Tự Sau này, khi nhắc đến

những đỉnh cao của truyện thơ Nôm trung đại Việt Nam, bên cạnh Truyện Kiều chính

là Hoa tiên truyện này Y như lời của Cao Bá Quát trong lời đề tựa Hoa tiên truyện, ở nước ta, những tác phẩm “giỏi về truyện thì ta còn thấy được Hoa tiên và Kim Vân Kiều (tức Truyện Kiều)” [44, tr10]

Để có thể được đặt ngang hàng với Truyện Kiều, có một điều chắc chắn bản thân Hoa tiên truyện cũng phải là một kiệt tác về nhiều mặt và có tác động nhất định đối với sự phát triển của truyện Nôm sau này Hoa tiên truyện là một kiệt tác như thế nào, xin được tìm hiểu ở phần sau Ở đây cần thấy được sự tác động của Hoa tiên truyện đối với truyện thơ Nôm sau Hoa tiên Điểm dễ nhận thấy nhất trong những ảnh hưởng của Hoa tiên truyện đối với cách tác phẩm sau này, mà cụ thể là trong Truyện Kiều đó là cách sử dụng hành ảnh Có nhiều câu thơ mang dáng dấp của tác phẩm đã

ra đời trước đó là Hoa tiên truyện Đơn cử như:

Bóng dâu hai lão phỏng đành đấy chăng (Hoa tiên) Bóng dâu đã xế ngang đầu (Truyện Kiều)

Trang 26

Đầu mày cuối mặt rõ ràng chẳng nhe (Hoa tiên) Đầu mày cuối mặt càng nồng tấm yêu (Kiều)

Mặc người tựa cửa hôm mai (Hoa tiên) Xót người tựa cửa hôm mai (Kiều)

Đầy thềm vằng vặc gương nga (Hoa tiên) Gương nga vằng vặc đầy song (Kiều)

Ngọn cờ ngan ngác trống canh trễ tràng (Hoa tiên) Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng (Kiều)

Có thể thấy sự ảnh hưởng qua lại, sự tương đồng của Hoa tiên truyện đối với

Truyện Kiều sau này Nếu nói Truyện Kiều là sự kết tinh của tinh hoa truyện thơ Nôm

trong nhiều thế kỉ, thì ảnh hưởng của Hoa tiên truyện đối với Truyện Kiều là sự ảnh

hưởng trực tiếp trong việc lựa chọn ngôn ngữ (dù không nhiều)

Trong chuyên luận Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm của Đặng Thanh Lê, tác giả đã trình bày quan niệm “Truyện Song Tinh (Đường Trong) và Truyện Hoa tiên

(Đường Ngoài) có thể coi là những truyện Nôm có tên tác giả đầu tiên trong văn học thế kỉ XVIII” Vị trí đầu tiên này không chỉ khẳng định vai trò mở đường của hai tác

phẩm này mà còn thể hiện vị thế quan trọng của truyện Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện đối với sự phát triển của thể loại truyện Nôm nói riêng và văn học Việt Nam trung đại nói chung Sau Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện, lịch sử văn học ghi

nhận sự ra đời của nhiều tác phẩm truyện thơ Nôm có giá trị nghiên cứu

Văn học trong các thế kỉ này chứng kiến sự phát triển của lực lượng sáng tác ở Đàng Trong Chúng ta đều biết trong thời kì trung đại, các văn nhân thường là người ở phía Bắc của đất nước Đến các thế kỉ XVI, XVII, XVIII, lực lượng sáng tác ở Đàng Trong, nhất là khu vực Nam Bộ, đã có bước phát triển mới Tuy ban đầu còn nhiều hạn chế bởi các điều kiện về giáo dục và khoa cử, nhưng sau này, nhất là thế kỉ XVII, sang đầu thế kỉ XVIII thì lực lượng sáng tác cũng lớn mạnh dần Trong phạm vi so sánh giữa hai tác phẩm, nếu như nói Nguyễn Huy Tự một trong những nhà văn nổi bật của văn học ở Đàng Ngoài, thì Nguyễn Hữu Hào lại là một trong những đại diện cho

Trang 27

văn học ở khu vực ở Đàng Trong thời kì đầu Nguyễn Hữu Hào sáng tác Song Tinh Bất Dạ khi ông đang ở Quảng Bình và nhiều năm làm quan dưới triều các chúa Nguyễn Nguyễn Huy Tự làm quan nhiều năm tại triều Lê – Trịnh và sáng tác Hoa tiên truyện trong những giai đoạn này Nói một cách khái quát, cả hai tác giả đều thể hiện phong cách sáng tác riêng của mình qua hai tác phẩm là Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện Đây là sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Huy Tự, cho nên Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện đều có thể đại diện cho khuynh hướng

sáng tác của hai nhà thơ Khi đi sâu tìm hiểu, so sánh hai tác phẩm này, lại một lần nữa thấy được sự ảnh hưởng của xu hướng sáng tác của các nho sĩ ở hai khu vực Đàng Trong và Đàng Ngoài, từ đó thấm thía hơn câu nói của Đặng Thanh Lê

Phong cách sáng tác của hai nhà thơ, tuy không phải là hoàn toàn nhưng về cơ

bản vẫn mang phong thái của từng vùng miền Một Song Tinh Bất Dạ thiên về ngôn ngữ, đối thoại của nhân vật, tả cảnh chỉ mang tính chất bên ngoài, một Hoa tiên truyện

đậm chất nội tâm, thông qua hình ảnh mà thấy tâm trạng của nhân vật Nếu nói về những tác phẩm làm nổi bật rõ ràng phong cách sáng tác của từng vùng miền thì phải

đến sau này, với sự xuất hiện của Truyện Kiều và Lục Vân Tiên ta sẽ càng thấy rõ hơn

vấn đề này Nhưng một lần nữa, với tư cách là những tác phẩm mở đường cho một thể loại văn học mới mẻ thì trong phạm vi nào đó, ta vẫn thấy được hai phong cách sáng

tác của Đàng Trong và Đàng Ngoài ở hai tác phẩm Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện

Tóm lại, tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh văn học là một trong những bước đệm ban đầu quan trọng để thấy được vị trí, vai trò của một tác phẩm văn học

Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện là hai tác phẩm ra đời vào thời kì ban đầu của

thể loại truyện thơ Nôm Với vai trò mở đường đó, hai tác phẩm đã đánh dấu sự ra đời của một thể loại văn học đậm chất Việt Nam – truyện thơ Nôm Hai tác phẩm cũng ghi được dấu ấn văn học quan trọng của mình trong tiến trình lịch sử văn học, cũng như dấu ấn sáng tác từng vùng miền mà chúng đại diện

Trang 28

CHƯƠNG 2

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA SONG TINH BẤT DẠ VÀ HOA TIÊN

TRUYỆN NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật và đề tài của Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên

truyện

2.1.1 Một số vấn đề lí luận về thế giới nghệ thuật

Thế giới nghệ thuật là một khái niệm dùng để chỉ “tính chỉnh thể của một sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình của tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu)” [8, tr201] bao gồm tất cả các yếu tố, các cấp độ của sáng tạo nghệ thuật Nghiên cứu thế giới nghệ thuật là để tìm hiểu quy luật sáng tạo của chủ thể, quan niệm về nghệ thuật, cuộc sống nhân sinh của người nghệ sĩ

Thế giới nghệ thuật là thế giới thứ hai do người nghệ sĩ sáng tạo ra, dựa trên các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù là nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật là một cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu, tiếp cận các hiện tượng tác giả văn học

Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong các sáng tác nghệ thuật Mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới, ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa thế giới khác nhau, không lặp lại Nghiên cứu thế giới nghệ thuật giúp hiểu thêm cái chỉnh thể bên trong của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một trào lưu, một quá trình sáng tác của tác giả)

Khái niệm thế giới nghệ thuật là một khái niệm thuộc về thi pháp học Trong cuốn Tinh hoa lí luận văn học cổ điển Trung Quốc, tác giả Phương Lựu có trích dẫn quan điểm của Lưu Hiệp (nhà lý luận văn học cổ đại Trung Hoa) về sự thống nhất giữa nội dung và hình thức Lưu Hiệp quan niệm một tác phẩm văn học phải đảm bảo sáu yếu tố:

1 Tính cảm sâu mà không đổi

2 Việc chắc mà không ba hoa

3 Phong thái mà không tạp

Trang 29

4 Nghĩa thoáng mà không quanh co

- Thế giới nghệ thuật là sản phẩm tinh thần, kết quả của trí tưởng tượng sáng tạo, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người mặc dù nó phản ánh thế giới ấy

- Thế giới nghệ thuật là một mô hình nghệ thuật có cấu trúc riêng, quy luật riêng, thể hiện ở đặc điểm con người tâm lý, không gian, thời gian, đồ vật, xã hội,…

Nó tương ứng với thế giới quan, nhân sinh quan, vũ trụ quan của chủ thể sáng tạo

- Thế giới nghệ thuật còn là thực tại tinh thần mà người đọc ở vào khi sống với tác phẩm

Chu Văn Sơn quan niệm: “Xét đến cùng thế giới nghệ thuật của một nhà văn chính là một thế giới hình tượng sống động (với tất cả tính phong phú, đa dạng và tính

hệ thống tinh vi của nó) chứa đựng một quan niệm nhân sinh và thẩm mĩ nào đó, được xây cất bằng chất liệu ngôn từ Như vậy, thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ, vừa là hiện thân của tư tưởng và thi pháp Thế giới ấy tất cũng vận động, biến chuyển theo sự vận động, biến chuyển của tư tưởng nghệ sĩ Bởi thế, nó dứt khoát là một kiến trúc vừa tĩnh vừa động Diện mạo của thế giới nghệ thuật chính là bức chân dung tinh thần của người nghệ sĩ” [34, tr24]

Như vậy, thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể, một khối hoàn chỉnh không thể tách rời giữa nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm văn học Nghiên cứu thế giới nghệ thuật của một tác phẩm văn học tức là tìm hiểu những yếu tố thuộc về phương

Trang 30

diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó Khẳng định thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể ngoài việc chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố, còn giúp cho người nghiên cứu tránh được những suy diễn chủ quan, lệch lạc trong việc khám phá, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật

Đối với hai tác phẩm Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện, tìm hiểu thế giới

nghệ thuật là tìm hiểu những yếu tố thuộc về phạm vi nội dung và nghệ thuật của hai

tác phẩm này Với quá trình tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong hai tác phẩm Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện giúp người nghiên cứu hình dung khái quát thế giới nghệ

thuật mà hai nhà thơ đã tạo lập thông qua tác phẩm của mình, sau đó đi sâu tìm hiểu các đặc điểm của thế giới ấy, cố gắng tạo lập một lần nữa thế giới ấy bằng cảm nhận chủ quan của cá nhân Trong suốt quá trình đó, đưa ra cái nhìn so sánh về thế giới

nghệ thuật của hai tác phẩm để có cái nhìn khái quát nhất về Song Tinh Bất Dạ, Hoa tiên truyện Đồng thời, cũng cố gắng tạo ra được cái nhìn tổng quan về diện mạo của

truyện thơ Nôm Việt Nam trong thế kỉ XVIII thông qua hai tác phẩm văn học được nghiên cứu

2.1.2 Đề tài của Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện

Đề tài là khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là phương tiện khách quan của nội dung tác phẩm [8, tr78] Việc xác định đề tài có thể dựa trên phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm, cũng có thể xác định đề tài văn học theo giới hạn bên trong của phạm

vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm văn học như các hiện tượng xã hội – lịch

sử xuất hiện và trở thành phổ biến trong đời sống tinh thần của một thời hay một giới nào đó, hoặc có thể xác định đề tài dựa trên nhân vật Như vậy, đề tài của một tác phẩm văn học thường là cả một hệ thống các hiện tượng đời sống liên quan với nhau,

bổ sung cho nhau

Đến hiện tại, số lượng truyện Nôm còn lại khoảng một trăm tác phẩm Xem xét

số tác phẩm này, Kiều Thu Hoạch trong cuốn Truyện Nôm lịch sử hình thành và bản chất thể loại [14, tr274] phân chia thành ba nguồn đề tài chủ yếu như sau:

- Nguồn đề tài từ hiện thực lịch sử Số lượng tác phẩm thuộc đề tài này không nhiều.Ông Ninh cổ truyện và Chúa Thao cổ truyện là hai tác phẩm thuộc về mảng đề

tài này Hai truyện Nôm đề cập đến hiện thực lịch sử về cuộc chiến tranh Trịnh -

Trang 31

Nguyễn và cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc Tuy số lượng không đáng kể, nội dung đơn giản nhưng những tác phẩm thuộc mảng đề tài này lại có giá trị về nhiều mặt

- Nguồn đề tài từ các truyện cổ dân gian: Các tác phẩm như Thạch Sanh, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Tống Trân - Cúc Hoa,… đều thuộc đề tài này Đây là nguồn đề tài hết

sức phong phú, số lượng tác phẩm thuộc nguồn đề tài này chiếm số lượng khá đông đảo trong truyện thơ Nôm

- Nguồn đề tài từ các truyện cổ của Trung Quốc Đây là nguồn đề tài khá quen thuộc với các tác phẩm như Nhị độ mai, Song Tinh Bất Dạ, Hoa tiên truyện, Phan Trần, Ngọc Kiều Lê,… Có một điều đáng chú ý, đó là những câu truyện cổ được các

tác giả Việt Nam lựa chọn đều thuộc các truyện tiểu thuyết thông tục ở Trung Quốc, tức là các truyện bình dân, mang đậm màu sắc dân gian Những tác phẩm thuộc nguồn

đề tài này khá lớn, chiếm số lượng đáng kể trong tổng số tác phẩm truyện thơ Nôm

Đề tài trong kho tàng truyện thơ Nôm bao gồm ba nguồn đề tài chính Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện nằm trong nguồn đề tài thứ ba, nguồn đề tài từ các

truyện cổ của Trung Quốc Với xuất phát điểm là những nhà nho, những vị quan, Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Huy Tự có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận được những văn bản có nguồn gốc từ nước láng giềng này Bằng sự yêu thích và niềm đam

mê, Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Hữu Hào đã tìm hiểu, nghiên cứu để sáng tạo ra tác phẩm của riêng mình Tuy vậy, cả hai nhà thơ không phải đi diễn Nôm hai cuốn tiểu thuyết của Trung Quốc một cách đơn giản mà đã có sự linh hoạt trong quá trình sáng tác

Song Tinh Bất Dạ lấy tác phẩm Định tình nhân làm gốc Đây là cuốn tiểu thuyết của một người Trung Quốc soạn vào thời chuyển giao Minh - Thanh.Định tình nhân có nghĩa là câu chuyện của những người có tình gắn bó Truyện xoay quanh hai

nhân vật chính là đôi trai gái Song Tinh và Nhụy Châu Họ đều là con nhà quyền quý,

có nề nếp, gia phong, ngoại hình đẹp, học vấn cao Trải qua nhiều trở ngại trong tư tưởng và được sự vun vén của cha mẹ Nhụy Châu, cả hai đính ước nhân duyên với nhau.Sau đó, Song Tinh về quê thăm mẹ cũng như kịp dự kì thi hương, rồi sau đó lên kinh thi hội, thi đình và đậu trạng nguyên.Cả hai phải tạm thời xa nhau Ở nhà, Nhụy Châu vì từ chối lời dạm hỏi của con một nguyên nhung nên y tư thông với một hoạn quan ghi danh nàng vào sổ tuyển phi cho Thái tử Sau khi đậu trạng nguyên, Song

Trang 32

Tinh từ chối không làm rể một viên phò mã nên phải đi sứ sang những vùng không phục tùng Vì muốn giữ một lòng chung thủy với Song Tinh, Nhụy Châu đã tự trầm trong khi bị cưỡng ép đến Kinh đô Nhưng nhờ thần sông phù trợ, Nhụy Châu được hai gia nhân của Song Tinh vớt rồi đem về giấu ở nhà Song Tinh.Trong khi đó, nhờ uy đức của nhà vua, Song Tinh làm xong sứ mệnh của mình Trên đường về, qua nhà họ Giang, Song Tinh hay tin Nhụy Châu đã tự trầm Ông bà Giang làm theo lời con gái lúc trước, cố ép Song Tinh cưới Thể Vân, người thị nữ tâm phúc lúc trước của nàng Tuy không thể từ chối nhưng chàng không chịu động phòng với vợ, rồi bỏ Thể Vân lại cho ông bà Giang về triều phụng mệnh.Giang ông phải đưa nàng về thẳng nhà họ Song.Lúc này, Giang ông biết được Nhụy Châu còn sống.Hai chị em vui vẻ, cùng đợi chồng mình về.Song Tinh trở lại triều đình, được nhà vua khen ngợi, cho phép trở về quê thăm mẹ Câu chuyện kết thúc với cái kết viên mãn khi gia đình sum họp, Song Tinh cưới được hai người vợ, Nhụy Châu kết duyên với người thương và có người bạn quý giúp chồng

Hoa tiên truyện là truyện Nôm có nguồn gốc từ tác phẩm Đệ bát tài tử thư Hoa tiên kí Câu chuyện đề cập đến chuyện tình của Dao Tiên và Lương Sinh.Lương

sinh chính tên là Lương Phương Châu (con Lương tướng công, người Tô Châu) Nhân sang trọ học ở nhà người cậu họ Diêu ở Tràng Châu Gặp nàng Dương Dao Tiên (con gái Dương tướng công), chàng tỏ tình với nàng Lúc đầu Dao Tiên còn e ngại, nhưng nhờ có Vân Hương và Bích Nguyệt giúp đỡ, nên Dao Tiên cũng sinh lòng yêu mến Lương sinh Sau khi hai bên cùng thề nguyền gắn bó (lời thề viết trên hai tờ giấy hoa tiên, nhân thế đặt tên cho truyện), tưởng là duyên phận không còn trắc trở gì nữa.Ngờ đâu, Lương tướng công và Lưu tướng công vốn là người đồng quận và là bạn đồng liêu, lúc cùng về trí sĩ, hẹn gả con cho nhau Đến khi Lương sinh về nhà thăm cha mới biết chuyện người vợ tương lai của mình là Lưu Ngọc Khanh (con gái Lưu tướng công) Mặc dù quá đổi đau khổ, nhưng chàng cũng đành phải theo lệnh của cha mẹ Dương Dao Tiên nghe được tin ấy, cho rằng người mình thương đã bội ước, nên cũng buồn đau không kém Chợt khi ấy, Dương tướng công (cha Dương Dao Tiên) có lệnh làm quan ở kinh đô Ông đem gia đình theo Đến khi ông nhận lệnh cầm quân ra trận,

mẹ con Dương Dao Tiên đành phải đến ở nhà người cậu họ Tiền Lương sinh cùng với Diêu sinh (con người cậu họ Diêu) thi đỗ, được bổ làm quan Làm quan ở kinh đô,

Trang 33

Lương sinh tình cờ gặp lại Dương Dao Tiên, rồi giãi bày tâm sự cùng nàng ở vườn Hàn Biết cha nàng bị vây khốn, Lương sinh bèn xin vua đi giải vây.Nào ngờ đánh thua, chàng bị quân đối phương vây chặt Nhận được tin đồn rằng Lương sinh tử trận, Lưu Ngọc Khanh cải phục cư tang Sau, vì mẹ khuyên lấy chồng khác, nàng nhảy xuống sông tự tử May mà gặp thuyền của quan Đốc học họ Long đang trẩy kinh vớt được Diêu sinh đánh tan được quân đối phương, giải vây cho Dương tướng công và Lương sinh Tất cả đều được nhà vua ban thưởng Tưởng rằng Lưu Ngọc Khanh đã mất, Lương sinh bèn dâng biểu tâu việc nàng tuẫn tiết, được nhà vua ban sắc phong cho nàng Nhà vua lại tự đứng ra làm mối gả Dương Dao Tiên cho Lương sinh Đang khi đó thì Đốc học Long cùng Lưu Ngọc Khanh cũng vừa đến kinh đô Biết Lương sinh đã có vợ, Ngọc Khanh định đi tu Nhờ Đốc học Long dâng sớ tâu việc lên nhà vua.Nhà vua lại cho Ngọc Khanh kết duyên cùng Lương sinh Cuối cùng, chẳng những Lương sinh cưới được Dương Dao Tiên, Lưu Ngọc Khanh; mà còn cưới cả hai người con gái trước kia đã từng giúp mình đó là Vân Hương và Bích Nguyệt

Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện đều lấy một cuốn tiểu thuyết của Trung

Quốc làm gốc, từ đó, phát triển lên thành tác phẩm Nôm của riêng mình Nhưng như

đã nói trong những phần trước, Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Huy Tự không phải là một nhà ngôn ngữ dịch tác phẩm của Trung Quốc sang tiếng Việt, mà cụ thể ở đây là chữ Nôm Họ là nhà thơ, có tư duy, có tưởng tượng độc lập Cho nên, trong quá trình sáng tác, bản thân hai nhà thơ đều có sự điều chỉnh văn bản gốc sao cho phù hợp với

tư duy sáng tác của mình chứ không phải rập khuôn theo tác phẩm tiểu thuyết ban đầu

Tiểu thuyết Định tình nhân có khoảng tám vạn chữ, là một bộ tiểu thuyết văn xuôi Khi sáng tác Song Tinh Bất Dạ, Nguyễn Hữu Hào không kéo dài tác phẩm thơ

của mình cho đúng với dung lượng của tiểu thuyết gốc Nhà thơ đã lược bỏ đi những đoạn đối thoại, những nhân vật phụ không liên quan trực tiếp và cần thiết đến diễn biến câu chuyện nhưng vẫn giữ nguyên nội dung ban đầu, kết cấu câu chuyện và tuyến nhân vật chính của tác phẩm gốc Tiểu thuyết Định tình nhân có 16 hồi, trong đó hồi

7, 8, 9 kể về chuyện Hách Sinh cầu hôn Nhụy Châu không được thì quay sang hãm hại nàng Nguyễn Hữu Hào rút gọn nội dung này chỉ còn vẻn vẹn trong vòng 24 vế (từ câu 1071 đến 1102) Trong đoạn mà Nguyễn Hữu Hào rút gọn, nội dung chúng khá

Trang 34

rườm rà, không có tác dụng cho việc chứng minh định tình Nên tác giả đã giảm đi dung lượng nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần của vản bản gốc

Tuy vậy, bởi vì sự hạn chế của dung lượng và đặc điểm thể loại, tác phẩm của Nguyễn Hữu Hào không mang nhiều chất hiện thực như tiểu thuyết Định tình nhân Cuốn tiểu thuyết cổ của Trung Quốc này đề cập nhiều đến thực tại khi các điểm thời gian được nêu rất cụ thể Song Tinh gặp Giang ông khi mười chín tuổi, lúc này Nhụy Châu mười lăm tuổi Song Tinh ở tại nhà Giang ông trong vòng hai năm Sau đó, chàng lên kinh thi định đậu trạng nguyên năm hai mươi hai tuổi, rồi được tiến cử đi sứ các nước Nhật Bản, Cao Li, Lưu Cầu.Tên người, tên đất, tên địa danh cũng được ghi

chép rất cụ thể Những điều này Song Tinh Bất Dạ chưa làm được Nhưng nếu nhìn

nhận một cách khách quan, những điểm hạn chế này cũng không ảnh hưởng nhiều đến nội dung của tác phẩm truyền tải Những mâu thuẫn, xung đột vì lợi ích vẫn thể hiện sâu sắc, câu chuyện tình yêu vẫn đủ để cảm động lòng người Và những điều mà Nguyễn Hữu Hào đã làm được từ tác phẩm này có giá trị không thể phủ nhận

Tác phẩm Đệ bát tài tử thư Hoa tiên kí là một trong những ca bản của Trung Quốc Tác phẩm được viết theo lối văn vần Khi Nguyễn Huy Tự viết Hoa tiên truyện,

tác giả đã bám sát khá kĩ cốt truyện và kết cấu của tác phẩm gốc, số hồi và trật tự các hồi vẫn giữ nguyên Ngoại trừ phần cuối cùng, nhà thơ có sự thay đổi nhẹ, thay vì để cha mẹ Phương Châu lên Kinh mừng con, để Ngọc Khanh về thăm cha mẹ thì Nguyễn Huy Tự đã để Phương Châu dẫn hai vợ về thăm quê hương và đón tiếp ở đó ông bà Lưu công đến mừng

Tuy vậy, trong quá trình sáng tác Hoa tiên truyện, cũng giống như Nguyễn Hữu

Hào, Nguyễn Huy Tự không phải “diễn Nôm” ca bản của Trung Quốc Nhà thơ đã thu

gọn hẳn câu chuyện lại rất nhiều Khi viết Hoa tiên truyện, Nguyễn Huy Tự đã tự

động bỏ đi những đoạn đối thoại rườm rà, những nội dung lặp lại và không cần thiết Ông chọn lọc những vấn đề có giá trị thực đối với tác phẩm của mình Chẳng hạn,

Nguyễn Huy Tự đã loại bỏ hồi Hàn uyển trùng phùng vì sự rườm rà, không có giá trị

của nó Tuy vậy, ông vẫn tiếp thu những lời hay, ý đẹp của văn bản gốc để bổ sung cho truyện Nôm của mình Nhờ đó, tác phẩm vẫn giữ được phong vị thơ ca của một câu chuyện trữ tình

Trang 35

Như vậy, hai tác phẩm Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện đều có chung một

nguồn đề tài là từ các truyện cổ của Trung Quốc Những câu chuyện này xoay quanh

đề tài tình yêu nam nữ trong thời đại phong kiến Thông qua câu chuyện ấy, tác giả gởi gắm quan niệm về văn học, về nhân sinh quan, thế giới quan của mình Nội dung của các câu chuyện tình yêu mà Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Huy Tự mượn đều phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của các nhà thơ thời bấy giờ Với sự xuất hiện của tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa, việc lựa chọn những tác phẩm đề cao ý thức cá nhân, mang đậm

màu sắc tình yêu như Định tình nhân và Đệ bát tài tử thư Hoa tiên kí để sáng tác cho

thấy sự đồng điệu trong tâm hồn, trong tư tưởng của Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Huy

Tự với tư duy của văn hóa dân tộc Các tác giả tuy mượn nhưng không phải sao chép hoàn toàn các tác phẩm của nhà văn, nhà thơ Trung Quốc Họ có những cái nhìn riêng, có tư duy riêng của mình trong việc lựa chọn tình tiết, ngôn ngữ,… sao cho phù hợp với tư duy thẩm mĩ của riêng mình chứ không bị bó buộc trong khuôn khổ của văn bản gốc Điều này cho thấy sự sáng tạo độc đáo của các tác giả trong quá trình sáng tác văn học

2.2 Chủ đề tình yêu đặc trưng của Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện

Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện được sáng tác bởi những nhà thơ thuộc

tầng lớp Nho học Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Huy Tự đều xuất thân từ những gia đình khoa bảng Bản thân họ là người từng nhiều năm dùi mài kinh sử, từng ứng thí nhiều lần, và cũng là những người từng đỗ đạt cao, từng làm nhiều chức quan lớn trong triều đình phong kiến Tư tưởng Nho giáo cũng vì vậy mà không thể nào không

có ảnh hưởng lớn đối với hai nhà thơ

Nhưng khi đặt hai tác phẩm của hai tác giả văn học này vào trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, ta lại thấy được sự thay đổi trong nhận thức và tư tưởng của hai nhà thơ này Vào thế kỉ XVI, XVII, chế độ phong kiến ở Việt Nam rơi vào khủng hoảng Chiến tranh liên miên Triều đình phong kiến nhiều lần biến động Các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh, Trịnh – Nguyễn thường xuyên diễn ra tranh chấp lẫn nhau Cùng với sự khủng hoảng của toàn bộ cơ cấu xã hội phong kiến, Nho giáo, từng được xem là rường cột tinh thần của chế độ ấy cũng bị suy thoái nghiêm trọng Bao nhiêu tín điều, bao nhiêu nguyên tắc, những “Khổng viết”, “Tử viết”, đều bị vi phạm trắng trợn, từ vua, chúa, quân, thần, đều không còn giữ vững mối quan hệ truyền thống lâu

Trang 36

nay “Tam cương ngũ thường” của Nho giáo đều bị sụp đổ một cách thảm hại Tất cả những thứ vàng son của tư tưởng rường cột một thời điều bị rơi rụng, tất cả chỉ còn lại tôi giết vua, con hại cha, em phản anh,… vì một chiếc ngai vàng, một tước vị hay thậm chí chỉ là một hòm kho báu

Những điều này có sự ảnh hưởng nhất định đến sự ra đời của trào lưu tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa như là một sự phản kháng với sự mục nát của chế độ phong kiến Trong trào lưu ấy, vai trò của cá nhân được đưa lên tầm cao mới Một trong những yêu cầu phát triển của cá nhân chính là khao khát được giải phóng đời sống tình cảm nhất là tình yêu tự do

Tình yêu nam nữ không phải chỉ đến thời đại này mới có Nhưng phải đến những tác phẩm như những tác phẩm thuộc thể loại truyện thơ Nôm, tình yêu đôi lứa mới có những biểu hiện mới và tiến đến một mức độ sâu sắc mới Đan xen trong những câu chuyện tình yêu ấy, là thái độ, nhận thức của tác giả về thời cuộc, là thái

độ, là lý tưởng của người làm văn Sự suy yếu vai trò của Nho giáo trong đời sống tư tưởng của tầng lớp Nho sĩ đã thúc đẩy phần nào sự phát triển của các câu chuyện tình yêu trong truyện thơ Nôm Đó cũng là một trong những lí do vì sao nhiều nhà thơ lựa chọn câu chuyện về tình yêu làm chủ đề sáng tác truyện thơ Nôm của mình chứ không phải là những câu chuyện mang nặng tính giáo huấn, tuyên truyền tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử như văn học trong các thế kỉ trước từng làm Đề cao yêu cầu giải phóng tình yêu, tức là đề cao yêu cầu phát triển cuộc sống cá nhân như là một cách thức phản kháng (dù cố ý hay vô tình) của các tác giả văn học, hiện thân của tầng lớp nho sĩ quý tộc trước sự biến động của xã hội

Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Hữu Hào cũng không nằm ngoài xu hướng đó Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn từng cho rằng sở dĩ Nguyễn Hữu Hào lựa chọn tiểu

thuyết Định tình nhân làm tác phẩm gốc để sáng tác Song Tinh Bất Dạ là bởi“vì tính

thích vui, ham chuyện, yêu đời sống, Nguyễn Hữu Hào đã chọn truyện Định tình nhân

có kết thúc trung hậu, tốt đẹp và thích thú Vì vậy ông đem ra diễn ca để ngâm nga”[9,tr32] Cái gì khiến Nguyễn Hữu Hào yêu đời sống, cái gì có kết thúc trung hậu,

tốt đẹp và thích thú? Đó chính là câu chuyện tình yêu mà tác giả Định tình nhân đã

miêu tả trong tác phẩm của mình đã khơi gợi trong Nguyễn Hữu Hào những tình cảm tốt đẹp xoay quanh chuyện tình của Song Tinh và Nhụy Châu Hay nói cách khác, chủ

Trang 37

đề tình yêu đôi lứa là động lực sáng tác Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào

Nguyễn Huy Tự cũng không nằm ngoài quy luật sáng tác ấy

Và không chỉ Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Hữu Hào, nhiều nhà thơ thời kì này khi sáng tác truyện thơ Nôm cũng đều lựa chọn những câu chuyện viết về tình yêu làm

chủ đề chính Phan Trần, Tây Sương Kí, Tống Trân - Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Truyện Kiều, Sơ kính tân trang, Lục Vân Tiên,…đều là những câu chuyện tình

yêu mang đậm ý vị của cuộc sống Điều này có nghĩa là chủ đề tình yêu không phải là chủ đề chỉ xuất hiện riêng rẻ trong một vài tác phẩm Nó trở thành chủ đề mang tính

hệ thống trong thể loại văn học này Nói cách khác, chủ đề tình yêu là chủ đề đặc trưng trong truyện thơ Nôm

Câu chuyện tình yêu mà Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Huy Tự kể lại đâu đó mang dáng dấp của những câu chuyện gốc khi tên nhân vật, thời gian, không gian, diễn biến cốt truyện được giữ nguyên nhiều phần Nhưng đan xen trong đó vẫn là những tư tưởng sâu kín của tác giả gửi gắm trong câu chuyện truyện Nôm của mình

Những chàng trai, cô gái trong Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện đều là

những người trai tài gái sắc Lương Sinh, Song Tinh, Dao Tiên, Nhụy Châu là những nhân vật chính được tác giả tô vẽ, trau chuốt từ vẻ ngoài đến tư thái, tài năng và nhân cách Ai cũng là những anh tài trong bậc anh tài Họ đến với nhau không phải vì lễ giáo, vì truyền thống “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”.Họ tìm đến nhau bởi vì một chữ tình ái Các chàng trai vừa gặp đã nhất kiến chung tình Các cô gái thì luôn băn khoăn, trăn trở trước tình yêu nồng nhiệt ấy Nhưng một khi đã xác định được lòng mình, họ không hề do dự mà luôn tìm cách để giữ được tình yêu

Tình yêu của các nhân vật ấy đã vượt qua khuôn khổ lễ giáo thông thường của

xã hội phong kiến từ xưa Quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” không còn được

áp dụng Thậm chí Giang ông và Giang bà còn tìm mọi cách vun vén cho Song Tinh

và Nhụy Châu một cách tự nhiên nhất chứ không phải là sự ép buộc, đến lúc động phòng mới nhìn rõ mặt cô dâu

Chính từ chủ đề tình yêu ấy xuất hiện một motip quen thuộc của thể loại truyện thơ Nôm nói chung, đó là motip tài tử giai nhân mà hầu hết các truyện thơ Nôm xuất hiện trong giai đoạn này đều tồn tại Bản thân tài tử giai nhân được quan niệm như một tương quan đồng đẳng trai tài - gái sắc Các tác giả xây dựng lý tưởng thẩm mỹ

Trang 38

về sức cuốn hút đối với người khác giới Dân gian xưa có câu “gái tham tài, trai tham sắc” Áp dụng vào trường hợp các tác phẩm truyện thơ Nôm vẫn có độ chính xác nhất định Trên khuôn mẫu chung ấy, các tác giả khác nhau xây dựng, phác họa phương diện này, nhấn mạnh phẩm chất khác của các nhân vật với một mục đích chung xây dựng được cặp nhân vật nổi bật Mẫu đôi lứa tài tử giai nhân có thể là trai tài, gái sắc; cũng có thể là mẫu nhân vật toàn tài cầm, kì, thi, họa; có thể chỉ lấy tài thơ làm biểu trưng; cái tài có lúc chỉ cái hào hoa lãng tử, hoặc người công danh hiển đạt Sự gặp gỡ của tài tử và giai nhân không đơn thuần là sự gặp gỡ của hai con người, đó là sự gặp

gỡ của tri kỉ, của hai tâm hồn đồng điệu, của những con người yêu thích thơ văn, và cùng có chung vẻ đẹp của “trai anh hùng, gái thuyền quyên”

Từ những điểm chung trong motip tài tử giai nhân, các tác giả có cách xây

dựng riêng biệt trong từng tác phẩm cụ thể Trong Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện, Song Tinh, Lương Sinh và Nhụy Châu, Dao Tiên đều là những con người có

tài, có sắc Vẻ đẹp và tài năng của hai nhân vật chính được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhất là trong phần gặp gỡ Motip tài tử giai nhân gặp gỡ có xuất phát điểm quan trọng chính là từ cái tài, cái sắc của cặp đôi nhân vật chính Các cặp nhân vật chính đều có vẻ ngoài hơn người Tài năng của họ đều thuộc hàng bậc nhất Nhụy

Châu cảm mến tài năng văn chương của Song Tinh: “Từ thanh giá lịch, vẻ ngời phượng bay”, Song Tinh cũng tương tư nàng Nhụy Châu bắt đầu từ tài thơ văn: “Sinh rằng: Em chớ khiêm từ - Xét mình sức mỏng luống cưa mặt dày!”.Còn Lương Sinh

gặp gỡ Dao Tiên bên bàn cờ, từ đó sinh ra tương tư, mộng nhớ dưới trăng Rồi cũng nhờ thơ văn mà tài năng được phô diễn, từ đó tương tư lại càng tương tư, nhớ nhung càng thêm da diết Từ cái thuở ban đầu gặp gỡ, tình yêu chớm nở giữa những con người tài sắc vẹn toàn ấy Sự gặp gỡ và yêu thương nhau của Song Tinh và Nhụy Châu, Phương Châu và Dao Tiên, bởi những điều kiện khách quan và chủ quan như vậy, là điều tất yếu nếu đặt trong trường hợp của họ

Câu chuyện tình yêu giữa các nhân vật được miêu tả tinh tế, có quá trình hình thành, phát triển cũng như đấu tranh để giành lấy hạnh phúc của mình Các tác giả đã khéo léo tạo nên không khí phù hợp cho từng bước chuyển trong câu chuyện Họ cũng

tạo ra được dấu ấn của riêng mình cho từng tác phẩm Đọc Song Tinh Bất Dạ và Hoa

Trang 39

tiên truyện, ta biết đó là câu chuyện của riêng Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Huy Tự chứ

không phải là một tác phẩm được dịch từ tác phẩm nước ngoài

Chủ đề tình yêu xuất hiện trong hai tác phẩm này cũng giống như những tác phẩm khác của thể loại, là cầu nối giữa hiện thực và văn học Bởi văn học là tấm gương phản chiếu thực tại thông qua lăng kính của nhà văn cho nên những gì càng gần gũi với hiện thực càng dễ tạo nên những xung động mãnh liệt cho người đọc Tình yêu luôn là chủ đề quen thuộc trong nhiều tác phẩm văn học, đến khi nào con người còn yêu, còn biết tương tư, biết dằn vặt, đau khổ, lúc đó vẫn có người viết về tình yêu

Từ những bài ca dao thời kì xa xưa, đến những tác phẩm văn học truyện ngắn, tiểu thuyết dài hơi sau này, tình yêu luôn là đối tượng để nhà văn khai thác Tình cảm này lúc nào cũng chiếm những xúc cảm mãnh liệt, dễ rung động người khác, mà văn nhân lại là những người dễ dàng bắt được nhịp cảm xúc của con người cho nên họ là người viết về tình yêu đằm thắm nhất Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Huy Tự cũng bắt được những cung bậc đa dạng của các cặp nhân vật chính trong tác phẩm của mình Say đắm, nhớ nhung, tuyệt vọng, hờn giận, hạnh phúc,…Muôn vàn sắc thái trong tình yêu được các nhà thơ tô vẽ, khắc họa một cách sinh động trong những câu chuyện tình yêu của Song Tinh và Nhụy Châu, Phương Châu và Dao Tiên Đó là những câu chuyện rất đời, rất người mà các nhà thơ đã khắc họa một cách đẹp đẽ

Nhưng hai tác phẩm Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện mang nhiều dấu ấn

của tư tưởng Nho giáo cùng sự hòa hợp với tình yêu cá nhân Sự hòa hợp ấy được thể hiện ở nhiều yếu tố, trong đó ở ngay trong phạm vi chủ đề tình yêu và cái kết viên mãn của câu chuyện Tình yêu nam nữ được dung hòa trong mối quan hệ với lễ giáo, rường cột tư tưởng phong kiến của xã hội Đó là lí do vì sao kết thúc câu chuyện, Song Tinh, Phương Châu đều cưới được Nhụy Châu, Dao Tiên, nhưng đồng thời còn vui vẻ cưới thêm những người con gái khác mà vai trò của những cô gái này trong câu chuyện đều có những tác động nhất định đối với câu chuyện tình yêu của các nhân vật chính: là người hầu, người được hứa hôn từ trước Những người trong cuộc đều hài lòng với cái kết ấy Đây là hệ quả tất yếu của quá trình hòa hợp của hai yếu tố tưởng chừng như đối lập là hệ tư tưởng đề cao tôi cộng đồng và tình yêu cá nhân trong một tác phẩm văn học mà người sáng tạo ra nó đều là những nhà Nho, nhưng đồng thời còn là một nhà văn

Trang 40

2.3 Giá trị tư tưởng thẩm mĩ của Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện

Mỗi tác phẩm văn học đều mang tư tưởng thẩm mĩ nhất định Đó là đóng góp của riêng tác giả, phân biệt đóng góp của tác giả này với đóng góp của tác giả khác cho sự phát triển của nền văn học dân tộc Và đương nhiên, tư tưởng thẩm mĩ của các tác giả khác nhau sẽ là khác nhau, và được biểu hiện ở nhiều phương diện khác nhau Khi nghiên cứu xung đột nghệ thuật, sẽ giúp thẩm thấu tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm văn học đó

Các tác phẩm Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện đều lấy bối cảnh viết trong

xã hội phong kiến Xã hội trong hai tác phẩm là xã hội phong kiến khá bền vững Dù

có giặc dã, có quan lại không có tình người nhưng về cơ bản, xã hội ấy tương đối yên

ổn Bao trùm cả hai câu chuyện là không khí tươi vui, đầm ấm Có đôi khi sóng gió xuất hiện nhưng chỉ có vai trò làm tăng thêm giá trị hạnh phúc lứa đôi Những nhân vật chính đều xuất thân từ những gia đình có truyền thống Nho học, gia đình làm quan lớn Nhà cửa khang trang, cuộc sống đủ đầy Bản thân họ đều là những người tài sắc vẹn toàn, am hiểu thi ca, đối nhân xử thế theo tiêu chuẩn xã hội Khi Song Tinh muốn gặp riêng Nhụy Châu để bàn luận thơ ca, nàng đã từ chối dù trong lòng rất muốn, âu cũng vì lễ giáo không cho phép cô nam quả nữ ở chung Dao Tiên trong lần đầu gặp

gỡ Phương Châu cũng ngại ngùng vì sự xuất hiện của người con trai lạ Trong số các

nhân vật của hai tác phẩm, ngoại trừ Hách sinh và Đồ phò mã ở Song Tinh Bất Dạ, và

bà mẹ họ Lưu vội vàng tìm rể trong Hoa tiên truyện, những nhân vật còn lại đều được

đề cao Xã hội từ trên xuống dưới ai cũng đều là người tốt Vua trọng tài, công minh, biết phân biệt phải trái, còn quan tâm đến hạnh phúc riêng của quần thần Các gia đình

họ Song, họ Giang trong Song Tinh Bất Dạ, nhà họ Lương, họ Dương, họ Diêu và cả

họ Lưu trong Hoa tiên truyện cũng toàn là người tốt theo quy chuẩn đạo đức của xã hội phong kiến Các nhân vật trong Song Tinh Bất Dạ và Hoa tiên truyện đều là những

con người tiêu biểu cho xã hội này

Các tác giả đã tạo nên một xã hội chuẩn mực gần như không có trong thực tại thông qua các nhân vật hầu như hoàn mĩ ấy Bằng cách đó, các tác giả nêu lên một số quan điểm thuộc hệ tư tưởng phong kiến về đạo đức Con cái phải hiếu thuận với cha

mẹ, bề tôi phải trung thành với vua Và trên hết, họ phải nghe theo, phải phục tùng không điều kiện những mệnh lệnh, những yêu cầu của bề trên Đó là nguyên nhân lí

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w