1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cách thành lập danh từ trong tiếng indonesia

42 171 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 623,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay, vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ vẫn đang được các nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt quốc ngữ của các nước đa tộc ngừơi hoặc các ngôn ngữ phổ biến đượ

Trang 1

KHOA : ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP

TRƯỜNG NĂM 2013

Tên công trình

CÁCH THÀNH LẬP DANH TỪ TRONG TIẾNG INDONESIA

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Võ Ngọc Huyền Trân, Lớp Indonesia, khóa 2010-2014

Thành viên: Trần Thùy Dung, Lớp Indonesia, khóa 2010-2014

Nguyễn Thị Bích Vân, Lớp Indonesia, khóa 2010-2014

Nguyễn Nữ Ngọc Diệp, Lớp Indonesia, khóa 2010-2014

Người hướng dẫn: ThS.Nguyễn Thanh Tuấn

TP.HCM, Năm 2013

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU……… 1

CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……… 9

1.1 Cơ sở lý luận……… 9

1.2 Cơ sở thực tiễn……… 12

CHƯƠNG HAI: CÁCH THÀNH LẬP DANH TỪ GHÉP……… 17

2.1 Cách thành lập danh từ ghép đẳng lập……… 17

2.2 Cách thành lập danh từ ghép chính phụ……… 20

CHƯƠNG BA: CÁCH THÀNH LẬP DANH TỪ PHÁI SINH………… 24

3.1 Các tiền tố thành lập danh từ phái sinh……… 24

3.2 Các trung tố thành lập danh từ phái sinh……… 28

3.3 Các hậu tố thành lập danh từ phái sinh……… 28

3.4 Các phụ tố kết hợp thành lập danh từ phái sinh……… 30

KẾT LUẬN……… 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 38

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đông Nam Á là một khu vực có bức tranh ngôn ngữ rất đa dạng thể hiện sự đa dạng về mặt văn hoá của khu vực Khu vực Đông Nam Á là nơi hội tụ của các nhóm ngôn ngữ lớn của châu Á như nhóm ngôn ngữ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Nam Đảo, … nhưng mỗi nhóm ngôn ngữ ấy lại có nhiều ngôn ngữ khác nhau và ở mỗi quốc gia nó

có một vị trí nhất định nào đó Chẳng tiếng Melayu, ở khu vực Đông Nam Á ngôn ngữ này có mặt ở hầu hết các nước tuy nhiên ở các nước Đông Nam Á hải đảo như Indonesia, Malaysia, Brunei Darussalam, … nó là quốc ngữ nhưng ngược lại ở các nước Đông Nam Á lục địa như Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, … nó là ngôn ngữ thiểu số Do vậy, bức tranh ngôn ngữ Đông Nam Á rất thú vị

Ngay từ đầu công nguyên, các nước trong khu vực Đông Nam Á đã tiếp xúc với các nền văn hoá lớn bên ngoài như Ấn Độ, Trung Quốc, Ả Rập, … và ngôn ngữ của các nước này cũng đã tiếp nhận các yếu tố ngôn ngữ Ấn, Hán, Ả Rập, … Tuy nhiên cho đến ngày nay chúng ta thấy các nước trong khu vực vẫn giữ được ngôn ngữ riêng của mình mặc dù có nhiều yếu tố ngoại lai bên trong nó Tiếng Melayu ở Indonesia là một trong số đó Trước đây, tiếng Melayu là ngôn ngữ của tộc người thiểu số ở bán đảo Melayu nhưng thời kỳ tiếp xúc với bên ngoài, đặc biệt với Ả Rập, ngôn ngữ này dần dần được sử dụng rộng rãi và đã tập hợp được một số lượng lớn người sử dụng nó

Do có nhiều ưu thế nên cuối cùng tiếng Melayu được nhân dân Indonesia chọn làm quốc ngữ cho quốc gia đa tộc người của họ Cho đến nay, ngôn ngữ này đã dần hình thành nên bản sắc riêng và đang ngày càng phát triển và dần chứng tỏ được vị thế của mình trên bản đồ ngôn ngữ khu vực và thế giới Ở trong nước, ngôn ngữ này được xem là ngôn ngữ chính trị, giáo dục, văn hóa, kinh tế, …

Như chúng ta biết, ngôn ngữ chính là công cụ giao tiếp hữu hiệu do con người sáng tạo ra nhằm mục đích trao đổi, truyền tải thông tin mà mình cần diễn đạt cho người khác Trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay, vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ vẫn đang được các nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt quốc ngữ của các nước đa tộc ngừơi hoặc các ngôn ngữ phổ biến được sử dụng ở nhiều quốc gia Ở khu vực Đông Nam Á, tiếng Melayu là một trong số các ngôn ngữ nằm trong danh sách này vì hiện

Trang 4

nay tiếng Melayu là ngôn ngữ phổ biến ở Đông Nam Á, được nhiều người sử dụng và cũng là quốc ngữ của các nước đa tộc người, chẳng hạn như Indonesia, Malaysia, … Chính vì những lý do đó mà chúng tôi thấy rằng việc nghiên cứu tiếng Indonesia là một việc làm cần thiết và mang lại ý nghĩa thiết thực Tiếng Indonesia thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính, sử dụng nhiều phụ tố kết hợp một cách cơ giới với gốc từ, mỗi phụ tố thường diễn đạt một ý nghĩa ngữ pháp nhất định Chính vì sự phong phú, mới lạ và đặc biệt cộng với yếu tố chuyên sâu của ngành học, nhóm chúng tôi

quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “Cách thành lập danh từ trong

tiếng Indonesia” Công trình bước đầu hệ thống lại các loại danh từ cơ bản và liệt kê

một cách tương đối các cách thành lập danh từ trong tiếng Indonesia cũng như góp phần bổ sung vào danh mục tài liệu còn tương đối ít về tiếng Indonesia

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Từ loại nói chung, luôn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ trên thế giới Nắm vững được quy tắc thành lập danh từ sẽ giúp ích rất nhiều cho việc phân loại từ và cách sử dụng nó trong câu, các văn bản tổng hợp trên mọi lĩnh vực Trong tiếng Indonesia, phụ tố là những yếu tố cần thiết để cấu tạo danh từ, thế nhưng

để hiểu và sử dụng thành thạo nó lại không phải là một việc dễ dàng Công trình nghiên cứu này nhằm mục đích hệ thống lại và giải thích cách thành lập danh từ cũng như cách dùng phụ tố thành thạo cả trong văn nói và văn viết để việc giao tiếp trở nên

dễ dàng hơn

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể như trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước để làm nổi bật tính cấp thiết của đề tài mà nhóm nghiên cứu muốn tìm hiểu Mở đầu kết quả nghiên cứu, chúng tôi tóm tắt cơ sở, bối cảnh ngôn ngữ cũng như quá trình phát triển của tiếng Melayu - tiếng Indonesia nhằm

có cái nhìn toàn diện về ngôn ngữ quốc gia Indonesia Tiếp theo, ở chương hai và chương ba, chúng tôi tiến hành liệt kê, miêu tả cụ thể các dạng danh từ đồng thời giải thích rõ hơn về cách thành lập danh từ trong tiếng Indonesia Kết thúc công trình, chúng tôi đưa ra tóm tắt chung về vấn đề nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu sâu rộng hơn về những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trang 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiếng Indonesia là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trên khắp quần đảo Indonesia Tiếng Indonesia có rất nhiều phương ngữ khác nhau, chẳng hạn như phương ngữ Riau, phương ngữ Tây Java, phương ngữ Trung Java, … Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là tiếng Indonesia với tư cách là quốc ngữ của nước Cộng hoà Indonesia

3.2 Giới hạn về thời gian nghiên cứu

Tiếng Indonesia có nguồn gốc từ tiếng Melayu Tiếng này có mặt ở khu vực Đông Nam Á từ rất lâu đời và cũng được sử dụng rộng rãi ở Indonesia từ thời kỳ thuộc địa Tuy nhiên, ở đây chỉ nghiên cứu tiếng Indonesia từ năm 1945 cho đến nay, thời điểm được Hiến pháp Indonesia công nhận là quốc ngữ

Hiện nay, trong nước vẫn chưa có quá nhiều tài liệu nghiên cứu về từ loại nói chung, danh từ trong tiếng Indonesia nói riêng, do vậy chúng tôi tương đối gặp khó khăn trong việc đảm bảo độ chính xác tuyệt đối của đề tài Bài nghiên cứu chỉ thông qua một số sách tham khảo cùng tài liệu nghiên cứu của các chuyên gia, các nhà khoa học đi trước nên việc thống kê, phân tích và trích dẫn có thể còn nhiều thiếu sót Bên cạnh đó, do hạn chế về thời gian nghiên cứu (10/2012 – 2/2013) nên đề tài vẫn chưa hoàn thiện về nội dung cũng như hình thức trình bày, nhưng tập thể nhóm nghiên cứu

hy vọng rằng đề tài này sẽ góp phần làm cho người đọc hiểu rõ hơn về tiếng Indonesia, đồng thời trở thành nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm, muốn tìm hiểu về ngôn ngữ của quốc gia vạn đảo

3.3 Không gian nghiên cứu của đề tài

Đề tài chủ yếu nghiên cứu ở khía cạnh từ loại tiếng Indonesia, cụ thể là danh từ của nó Đề tài sẽ xem xét cách thành lập danh từ dựa trên phạm trù hình thái học và ngữ nghĩa học

4 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nếu trước đây, Indonesia chỉ được biết đến về mặt địa lí hành chính là một quốc gia “vạn đảo”, văn hóa và ngôn ngữ chưa được nhiều người trên thế giới biết đến thì

Trang 6

hiện nay, Indonesia đang dần có vị thế trên trường Đông Nam Á cũng như quốc tế mang theo ngôn ngữ của họ cũng dần được biết đến và sử dụng nhiều hơn Các hoạt động nhằm mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, giao lưu văn hóa được họ chú trọng hơn, giúp cho văn hóa và ngôn ngữ được vượt khỏi biên giới nước nhà Xét riêng về mặt ngôn ngữ thì nếu như lúc trước tiếng Indonesia là một ngôn ngữ hiếm thì hiện nay nó được biết đến và được tìm hiểu nhiều hơn Đối với các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới thì ngôn ngữ hiếm và đặc biệt, cụ thể ở đây là tiếng Indonesia thu hút họ rất nhiều, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Indonesia cũng như ngữ hệ Melayu nói chung Dưới đây chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu có liên quan đến tiếng Melayu và tiếng Indonesia có liên quan đến đề tài được thực hiện trong thời gian gần đây

4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Việc nghiên cứu về tiếng Melayu và tiếng Indonesia ở nước ta chỉ mới bắt đầu trong thời gian gần đây Phần lớn những công trình nghiên cứu đều bắt nguồn từ Viện ngôn ngữ hoặc Viện Đông Nam Á ở Hà Nội Những nhà nghiên cứu đi đầu trong việc nghiên cứu tiếng Melayu hoặc Indonesia có thể nhắc đến như Đoàn Văn Phúc, Mai Ngọc Chừ, Phú Văn Hẳn, và trong thời gian gần đây có Phạm Thị Thuý Hồng, Nguyễn Thanh Tuấn,

Đoàn văn Phúc là nhà nghiên cứu có nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Indonesia Nhà nghiên cứu này tập trung vào những vấn đề ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ của Indonesia cũng như những vấn đề về ngữ pháp và ngữ âm tiếng Indonesia và sau đó tiến hành so sánh với một số ngôn ngữ cùng ngữ hệ ở Việt Nam như tiếng Ê Đê, tiếng Chăm hay thậm chí tiếng Việt Nhà nghiên cứu này có một số công trình như "Loại từ trong tiếng Inđônêxia" [2000], "Đại hội tiếng Indonesia với chính sách ngôn ngữ quốc gia" [2001], "Vấn đề ngôn ngữ dân tộc ở Indonesia" [2001],

"Loại từ trong tiếng Indonesia trong sự so sánh với loại từ tiếng Ê-đê và tiếng Việt" [2002], "Loại từ trong tiếng Indonesia trong sự so sánh với loại từ tiếng Ê-đê và tiếng Việt" [2002], "Chính sách ngôn ngữ ở Inđônêxia trong hai thập kỷ qua" [2003], Mai Ngọc Chừ là nhà nghiên cứu có nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Melayu Ông nghiên cứu về lịch sử tiếng Melayu, các vấn đề ngữ pháp, ngữ âm cũng như chính sách ngôn ngữ của các quốc gia sử dụng tiếng Melayu, Các công trình

Trang 7

của ông có thể kể đến như "Các phụ tố cấu tạo danh từ trong tiếng Melayu và quy luật biến đổi ngữ âm của chúng" [2000], "Các phụ tố cấu tạo danh từ trong tiếng Melayu và quy luật biến đổi ngữ âm của chúng" [2000], "Tiếng Melayu – Bahasa Melayu" [2000], "Cộng đồng Melayu – những vấn đề ngôn ngữ" [2002], "Những nhân tố khiến tiếng Melayu được chọn làm ngôn ngữ quốc gia của Melayu, Brunei, Indonesia, Singapore" [2002], "Tiếng Melayu trong hệ thống giáo dục Malaysia, Indonesia, Brunei và Singapore" [2002], "Cộng đồng Melayu – những vấn đề ngôn ngữ" [2002] Phạm Thị Thúy Hồng cũng là người có một số công trình nghiên cứu về tiếng Indonesia như "So sánh danh từ và danh ngữ trong tiếng Inđônêxia và tiếng Việt" [2000], "Phụ tố trong tiếng Inđônêxia" [2001], "Danh ngữ trong tiếng Indonesia" [2006], Nhà nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu một số vấn đề ngữ pháp

và từ vựng tiếng Indonesia và có so sánh với tiếng Việt

Nguyễn Thanh Tuấn là nhà nghiên cứu về tiếng Indonesia mới xuất hiện trong thời gian gần đây Nhà nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về những vấn đề ngữ pháp

và soạn giáo trình giảng dạy tiếng Indonesia theo kỹ năng cho sinh viên đại học Nhà nghiên cứu này cũng đã có một số công trình tiếng Indonesia như "Giáo trình Ngữ pháp tiếng Indonesia - Trình độ sơ cấp" [2005, 2010], "Giáo trình Ngữ pháp tiếng Indonesia - Trình độ trung cấp" [2005], "Giáo trình Đọc hiểu tiếng Indonesia - Trình

độ sơ cấp" [2005], "Giáo trình Đọc hiểu tiếng Indonesia - Trình độ trung cấp" [2006],

4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Hệ thống từ loại từ lâu đã có vị trí quan trọng đối với ngôn ngữ mà đã sớm được

đề cập trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Châu Âu như

“PeriHermeneias” (Thế kỉ IV TCN) Và chủ đề này tiếp tục gây được sự thu hút và xuất hiện trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ của các nhà khoa học Châu Á: Roman(1853), Ophuysen (1915) Mặc dù vậy vẫn còn có nhiều phần chưa thực sự được giải thích một cách rõ ràng, chưa thỏa mãn được hết những vấn đề, thắc mắc mà ngôn ngữ học hiện đại đặt ra Đến đây, từ những tài liệu đã nghiên cứu cũng như để đi sâu nghiên cứu riêng về tiếng Indonesi thì tác giả HarimurtiKridalaksana với cuốn

“Kelas kata dalam bahasa Indonesia” - ( Từ loại trong ngữ pháp Indonesia), xuất bản

Trang 8

năm 1986 do NXB.Gramedia Jakarta phát hành cũng đã tập trung nghiên cứu về các

từ loại trong tiếng Indonesia Trong sách này tác giả không chỉ để cập đến tất cả từ loại và cách sử dụng chúng Ngoài ra ông còn đi tìm hiều các nguyên tắc xác định từ loại trong ngữ pháp Indonesia cũng như phân loại các mức độ cao hơn của từ loại thông thường: cụm từ, mệnh đề và câu

Quyển sách “Morfologi – suatu tinjauan deskriptif” được viết bởi giáo sư M.Ramlan, khoa văn học, đại học Gadjah Mada, Yogyakarta, Indonesia và được xuất bản năm 1967 bởi C.V.Karyono – Yogyakarta là một bản in lại, đã có chỉnh sửa từ những cuốn sách Khoa học ngôn ngữ Indonesia Từ những quan niệm về tính phổ thông của ngôn ngữ cũng như phân loại các loại hình nghiên cứu ngôn ngữ (phát âm học, hình thái học, cú pháp, ngữ nghĩa) và các loại khoa học ngôn ngữ (khoa học ngôn ngữ lịch sử, khoa học ngôn ngữ so sánh và khoa học ngôn ngữ mô tả) đi đến khẳng định nội dung được nghiên cứu và trình bày ở đây là sự mô tả chi tiết về cấu trúc ngôn ngữ của tiếng Indonesia mà được sử dụng trong một giai đoạn nhất định - cụ thể ở đây

là ngôn ngữ Indonesia đang được sử dụng hiện nay Và có một đặc điểm mới hơn là sách này trình bày theo cách không sử dụng các phiên âm (vì tiếng Indonesia được nói hiện nay có nhiều sự thay đổi về phiên âm) và có rất nhiều ví dụ cụ thể, rõ rang giúp cho người đọc dễ hiểu trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu

“Indonesian refrencegrammar” là một tài liệu tham khảo đặc biệt của một tác giả châu âu tên là James N Sneddon, dường như ông là một trong số ít những tácgiả Châu

Âu nghiên cứu về tiếng Indonesia Tài liệu của ông nói rằng giữa tiếng Anh và tiếng Indonesia có sự tương phản khá lớn, tiếng Indonesia là một trong những điều khó cho những người sử dụng tiếng Anh Tuy nhiên không vì thế mà sách của ông trở nên sơ sài hay thua kém những sách viết về ngữ pháp cơ bản của tiếng Indonesia mà do người

bản địa viết bởi vì ông đã nghiên cứu qua rất nhiều sách do người bản địa viết như:

Ejaan yang disempurnakan, xuất bản năm 1972 hay Tatabahasa baku bahasa Indonesia (1988, 1993) Chính vì thế tài liệu này rất hoàn chỉnh về các từ cơ bản

cũng như quy tắc, cấu trúc, cách dùng tiếng Indonesia cơ bản Thực sự hữu ích cho những người học tiếng Anh nếu muốn học, giảng dạy hay có yêu thích về tiếng Indonesia có thể tìm hiều rõ hơn

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số phương pháp trong nghioên cứu ngôn ngữ học Phương pháp này được sử dụng để mô tả đặc điểm ngôn ngữ tiếng Indonesia, phân tích các thành tố tiếng Indonesia cũng như tiến hành so sánh với một số ngôn ngữ khác như tiếng Việt

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác khi thực hiện đề tài như phương pháp thống kê, nghiên cứu tư liệu, … Phương pháp thống

kê dùng để thống kê danh từ trong tiếng Indonesia và nghĩa của chúng sau đó mô tả cơ chế thành lập Việc thống kê đòi hỏi phải mang tính khoa học và chính xác hết mức có thể, đồng thời phải tìm hiểu từ nhiều nguồn thông tin để đảm bảo tính xác thực của vấn

đề Phương pháp nghiên cứu tài liệu dùng để tìm hiểu thông tin về đề tài qua sách báo hoặc qua mạng Sau khi đã có dữ liệu, chúng tôi tiến hành hệ thống dữ liệu có được, tiến hành phân tích và chọn lọc những thông tin phù hợp với mục đích nghiên cứu của

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Hệ thống hóa các loại danh từ trong tiếng Indonesia và cách thành lập và cung cấp tài liệu tham khảo tiếng Indonesia hiện vẫn còn khan hiếm trong kho tài liệu về ngôn ngữ học để cho việc phổ biến tiếng Indonesia được thuận tiện hơn Ngoài ra bài nghiên cứu cũng giúp ích một phần cho những sinh viên đang theo học ngành Indonesia tại Việt Nam trong việc học tập và nghiên cứu ngôn ngữ này

Ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Indonesia, những vấn đề như loại từ, dạng láy, câu bị động, chính sách ngôn ngữ quốc gia Indonesia… đã lần lượt được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu Tuy nhiên, vấn đề từ loại nói chung hay cụ thể hơn là danh từ tiếng Indonesia vẫn chưa

Trang 10

được quan tâm và nghiên cứu đúng mức, vì thế đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ có thể được coi như bước đầu của quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về danh từ trong tiếng Indonesia

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài nghiên cứu bao gồm ba chương:

Chương một: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương này trình bày một số khái

niệm có liên quan đến tài như ngôn ngữ, danh từ hay phụ tố Bên cạnh đó chương này cũng trình bày nguồn gốc và lịch sử hình thành tiếng Indonesia, với tư cách là quốc ngữ của nước Cộng hoà Indonesia

Chương hai: Cách thành lập danh từ ghép Chương này trình bày các phương

thức thành lập danh từ ghép trong tiếng Indonesia, đó là phương thức ghép đẳng lập và phương thức ghép chính phụ Từng phương thức ghép được mô tả và phân tích rõ

Chương ba: Cách thành lập danh từ phái sinh Chương ba trình bày các loại

phụ tố được dùng để thành lập danh từ phái sinh Mỗi loại phụ tố sẽ được nghiên cứu ở gốc độ hình thái học và ngữ nghĩa học để khái quát cách thành lập danh từ phái sinh trong tiếng Indonesia, cụ thể như việc sử dụng các phụ tố đơn lập và phụ tố kết hợp –

là thành phần chủ yếu trong việc cấu tạo từ loại nói chung, danh từ trong tiếng Indonesia

Trang 11

CHƯƠNG MỘT

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về “ngôn ngữ”

Trong đời sống hiện nay, khi nhắc đến ngôn ngữ chúng ta thường nghĩ ngay đến lời nói giao tiếp hàng ngày, hiển nhiên đó không phải là một nhận định sai tuy nhiên sẽ

là thiểm cận nếu chúng ta quy chiếu khái niệm như thế cho ngôn ngữ Chúng ta hiện đang sống trong thế giới của từ ngữ Mỗi giây phút trôi qua, chúng ta đều trao đổi bằng lời nói, viết hoặc đọc một cái gì đó Trong thực tế, chúng ta luôn phụ thuộc vào việc sử dụng ngôn ngữ sao cho hiệu quả nhất tuy nhiên chúng ta vẫn chưa hiểu được ngôn ngữ

ra đời từ bao giờ và như thế nào cũng như mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, ngôn ngữ và logic, ngôn ngữ và văn hóa… Ngôn ngữ là do con người tạo ra, nó tồn tại trong cuộc sống của con người tự nhiên đến mức ít ai tự hỏi ngôn ngữ thực chất là gì và cũng ít ai nhận thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu ngôn ngữ Tuy nhiên, trên thực tế, ngôn ngữ phức tạp hơn chúng ta tưởng rất nhiều và sự cần thiết phải nghiên cứu nó cũng vượt xa mức độ mà con người có thể nghĩ đến

Dựa vào những đặc trưng quan trọng của ngôn ngữ loài người, có thể nói ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người; ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa – lịch sử từ thế

hệ này sang thế hệ khác [Nguyễn Thiện Giáp, 2008: 28]

Trong một ngôn ngữ, ở mỗi bậc phân tích có cấu trúc của nó Các âm vị kết hợp với nhau để tạo nên các hình vị, các hình vị kết hợp với nhau để tạo nên các từ, các từ kết hợp với nhau để tạo nên các ngữ đoạn, các ngữ đoạn kết hợp với nhau để tạo nên các tiểu cú và câu, các câu kết hợp với nhau để tạo nên các văn bản Ở mỗi bậc, đơn vị nhỏ nhất có thể kết hợp thành đơn vị lớn hơn theo trật tự do quy luật ngôn ngữ quy định [Nguyễn Thiện Giáp, 2010: 16]

Trang 12

1.1.2 Khái niệm về “từ loại danh từ”

Theo Nguyễn Thiện Giáp [2010], phạm trù từ vựng – ngữ pháp, tức là những lớp

từ được phân chia ra trong một ngôn ngữ dựa trên ý nghĩa khái quát và đặc điểm hoạt động ngữ pháp của nó Mỗi ngôn ngữ bao gồm một số lượng từ rất lớn và các từ của ngôn ngữ được nhóm lại thành một số nhỏ các loại Các từ loại được gọi là những phạm trù từ vựng – ngữ pháp bởi vì khi phân chia các từ thành các từ loại, người ta thường dựa vào ý nghĩa khái quát lẫn đặc điểm hoạt động ngữ pháp của từ

Không phải tất cả các ngôn ngữ cùng có những từ loại như nhau Một số từ loại như vị từ và danh từ dường như ngôn ngữ nào cũng có Những từ loại khác như tính

từ, trạng từ có trong một số ngô ngữ này, mà không có trong một số ngôn ngữ khác Trên cơ sở truyền thống Latin, người ta xác định những từ loại như: danh từ, đại

từ, tính từ, vị từ, phó từ, giới từ, liên từ, than từ và quán từ Ngoài ra có một số phạm trù mới xuất hiện như tiểu từ, trợ vị từ, đại ngữ và hệ từ [Nguyễn Thiện Giáp, 2010: 116]

Danh từ là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài nghiên cứu này nên ở đây chúng tôi sẽ tiến hành xác định từ loại “danh từ”, còn những từ loại khác chúng tôi sẽ không đề cập đến Các nhà ngôn ngữ phương Tây thì cho rằng danh từ là “những từ dùng để gọi tên một người, một nơi chốn, một đồ vật, một số lượng hay một hành vi.” [Houghton Mifflin, 1983] Các nhà ngôn ngữ Indonesia thì cho rằng “những từ chỉ thế giới loài người, chỉ các loài động vật, thực vật, đồ vật hay chỉ các khái niệm, sự hiểu biết” được gọi là danh từ [Hasan Alwi và các tác giả, 2003: 213] Còn các nhà ngôn ngữ Việt Nam thì cho rằng danh từ là “những từ có ý nghĩa từ vựng khái quát chỉ sự vật và các khái niệm từ vựng khác” [Nguyễn Hữu Quỳnh, 2001: 129]

Danh từ trong tiếng Indonesia là những từ được sử dụng để chỉ tên người, động vật, nơi chốn, sự vật hoặc một hiện tượng cụ thể Các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt, danh từ có thể tự mình làm thành một danh ngữ hoặc làm trung tâm của một danh ngữ, trong khi đó trong ngôn ngữ chắp dính như tiếng Indonesia, danh từ được nhận diện nhờ những phụ tố và khả năng kết hợp của các hình vị với nhau

Phân loại danh từ gồm nhiều nhóm khác nhau:

 Danh từ chung và danh từ riêng

Trang 13

 Danh từ đếm được, danh từ không đếm được

 Danh từ cụ thể và danh từ trừu tượng

 Cụm danh từ là một nhóm từ gồm danh từ, đại từ, hoặc danh từ riêng và thường

đi kèm với những từ bổ nghĩa như tính từ

Danh từ thường là phần quan trọng nhất trong mục từ vựng cho nên việc tìm hiểu

về cách thành lập danh từ trong tiếng Indonesia là rất quan trọng bởi lẽ nó được sử dụng hàng ngày trong giao tiếp và vốn từ vựng phong phú sẽ tạo thuận lợi hơn khi bước vào những lĩnh vực hoạt động cụ thể như biên – phiên dịch

Trong tiếng Indonesia, người ta sử dụng phương thức ghép từ gốc với từ loại khác để tạo thành danh từ ghép Bên cạnh đó, phương thức sử dụng hệ thống phụ tố kết hợp với từ gốc để tạo nên danh từ phái sinh Các phương thức này sẽ lần lượt được trình bày ở chương 2 và chương 3

1.1.3 Khái niệm liên quan đến “phụ tố”

Phụ tố là yếu tố quan trọng nhất trong việc cấu tạo từ vựng tiếng Indonesia Do vậy, để có cơ sở nghiên cứu về cách thành lập danh từ trong tiếng Indonesia thì chúng

ta phải làm rõ các khái niệm liên quan đế phụ tố như sau:

Trong tiếng Anh, phụ tố được biết là “affix” và được hiểu là “một yếu tố từng

vựng, như là tiền tố hoặc hậu tố, được gắn vào từ gốc, từ cơ bản1” Trong tiếng

Indonesia, phụ tố được biết là “imbuhan” và được hiểu là “những hình vị không độc

lập được dùng để tạo ra từ mới”2 Trong tiếng Việt, phụ tố được hiểu là “những yếu tố được thêm vào một từ cơ bản để thành lập một từ mới Ý nghĩa của phụ tố thường không độc lập, nó chỉ được rõ ràng khi nằm trong kết cấu của từ”3

Căn cứ vào vị trí kết hợp của các phụ tố với từ gốc, các nhà ngôn ngữ đã chia phụ

tố ra thành bốn loại, đó là tiền tố, trung tố, hậu tố và phụ tố kết hợp (song tố)

- Tiền tố: Trong tiếng Anh, tiền tố được biết là “prefix” và được hiểu là “phụ tố

đặt trước một từ, làm thay đổi hoặc làm rõ nghĩa của từ đó” [ Houghton Mifflin, 1983] Trong tiếng Indonesia, tiền tố được biết là “awalan” và được hiểu là “phụ tố được đặt

1 Houghton Mifflin, 1983

2 Hasan Alwi và các tác giả, 2003: 31

3 Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, 1996: 56

Trang 14

ở phần trước của một từ cơ bản” [Hasan Alwi và các tác giả, 2003: 31] Trong tiếng Việt, tiền tố được hiểu là “phụ tố đặt trước chính tố” [Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, 1996: 56]

- Trung tố: Tiền tố có trong hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới, trong khi đó

trung tố, thành phần được xen vào giữa từ để tạo ra từ mới có nghĩa khác so với từ cơ bản, rất ít hiện diện trong các ngôn ngữ khác và thậm chí không còn vai trò nữa Trước đây, tiếng Indonesia có nhiều trung tố nhưng sau khi tiếng Indonesia được chuẩn hoá thì các trung tố bắt đầu mất dần đi

- Hậu tố: Trong tiếng Anh, hậu tố được biết là “suffix” và được hiểu là “một phụ

tố được thêm vào cuối từ hoặc từ gốc để thành lập từ mới hoặc một biến tố ở cuối từ.” [ Houghton Mifflin, 1983] Trong tiếng Indonesia, hậu tố được biết là “akhiran” và được hiểu là “một hình vị được thêm vào phần sau của từ cơ bản” [Hasan Alwi và các tác giả, 2003: 31] Trong tiếng Việt, hậu tố là “phụ tố đặt sau chính tố” [Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, 1996: 56]

- Phụ tố kết hợp (Song tố): Trong ngữ pháp tiếng Việt và tiếng Anh, khi đề cập

đến vấn đề phụ tố, các nhà ngôn ngữ chỉ trình bày các khái niệm về tiền tố, hậu tố hay trung tố nhưng không thấy đề cập đến song tố Hiện tượng song tố ít gặp trong các ngôn ngữ trên thế giới Theo nghiên cứu của chúng tôi, song tố chỉ có trong tiếng Indonesia Song tố này được biết là “konfiks” và được hiểu là “những cặp tiền tố - hậu

tố kết hợp cùng một lúc với một từ cơ bản để tạo thành một từ mới” [Hasan Alwi và các tác giả, 2003: 32]

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nguồn gốc tiếng Melayu

Tiếng Melayu có nguồn gốc từ đâu vẫn còn là câu hỏi lớn của các nhà ngôn ngữ Các nhà ngôn ngữ đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu để làm sáng tỏ nguồn gốc của nó nhưng vẫn chưa được thống nhất cao Tuy nhiên, có hai giả thuyết lớn được nhiều người đề cập đến bàn về xứ sở của tiếng Melayu, đó là (1) tiếng Melayu có nguồn gốc từ Trung Á và (2) tiếng Melayu có nguồn gốc tại chỗ, chính là khu vực quần đảo Indonesia và Malaysia hiện nay [Darwis Harahap, 1992] Trong thời gian gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu dựa trên lĩnh vực khảo cổ học, văn hoá học,

Trang 15

ngôn ngữ học, … về Đông Nam Á được tiến hành và các nhà nghiên cứu cũng đã thu thập được nhiều chứng cứ mới ủng hộ cho giả thuyết thứ hai Từ đó, các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng tiếng Melayu có lịch sử phát triển rất lâu đời và chính thức xuất hiện từ thế kỷ XV, gắn với sự ra đời của và phát triển thịnh vượng của vương quốc Malaka – một trung tâm buôn bán sầm uất nhất ở vùng Đông Nam Á hải đảo thời bấy giờ Nơi đây tập trung các thương nhân từ nhiều nơi trên thế giới đến để buôn bán, trao đổi hàng hóa và họ đã dùng tiếng Melayu làm ngôn ngữ giao tiếp chủ yếu Đến thế kỷ XVII, tiếng Melayu đã trở nên rất phổ biến trong giới thương mại cũng như trên khắp các đảo ở khu vực Đông Nam Á

Hiện nay, tiếng Melayu được sử dụng làm ngôn ngữ quốc gia của một số nước Đông Nam Á như Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore và Philippines Tiếng Melayu thuộc ngữ hệ Malayo-Polynesia; là ngôn ngữ đa tiết, chắp dính và hiện đang được gần 300 triệu người sử dụng Theo các nhà ngôn ngữ, quá trình phát triển của tiếng Melayu gồm ba giai đoạn quan trọng, đó là (1) tiếng Melayu cổ, (2) tiếng Melayu

cổ điển, (3) tiếng Melayu hiện đại

1.2.2 Quá trình xác lập tiếng Melayu thành ngôn ngữ quốc gia Indonesia

Trích đoạn trong Hiến pháp 1945 của nước Cộng hoà Indonesia đã củng cố tuyên thệ về ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ chính thức của Indonesia – bahasa Indonesia trong Lời thề Thanh niên được đưa ra năm 1928 Điều này có nghĩa như tuyên ngôn độc lập

về tiếng Indonesia ra đời trước tuyên ngôn độc lập về chính trị Indonesia Từ yếu tố lịch sử đó, tiếng Indonesia đã có được chỗ đứng độc lập nhất định và ngày càng khẳng định vị thế của mình với các ngôn ngữ khác trên thế giới

Indonesia được mệnh danh là quốc gia “vạn đảo”, với tổng số hơn 17.000 hòn đảo lớn nhỏ trải dài trên một khu vực rộng lớn, cùng với đó là sự đa dạng về chủng tộc cũng như ngôn ngữ Theo thống kê gần đây cho thấy hiện nay Indonesia có hơn 900 ngôn ngữ và phương ngữ khác nhau, trong đó có 410 ngôn ngữ đã và đang được khảo sát, nghiên cứu Trong số các ngôn ngữ dân tộc ở Indonesia, các ngôn ngữ được giới khoa học nghiên cứu nhiều nhất đó là những ngôn ngữ như Java, Sunda, Bali, Minangkabau … [Đoàn Văn Phúc, 2003: 40] Điều này đã dẫn đến nhu cầu có một ngôn ngữ thống nhất trên toàn quốc gia để thuận lợi cho việc tuyên truyền, phổ biến

Trang 16

chủ trương, chính sách của Nhà Nước, đồng thời tăng cường tình đoàn kết các dân tộc trong cả nước

Ngôn ngữ quốc gia Indonesia – bahasa Indonesia có nguồn gốc từ tiếng Melayu Hiện nay, về cơ bản tiếng Indonesia và tiếng Melayu giống nhau về hình thái học, cú pháp học, … , tuy nhiên, giữa hai thứ tiếng vẫn có điểm khác biệt mà chủ yếu về mặt

từ vựng Nhưng tựu chung lại, có thể nói tiếng Indonesia ngày nay và tiếng Melayu có mối quan hệ nhất định Vì thế nên việc thống nhất chọn tiếng Indonesia – có nguồn gốc từ tiếng Melayu – làm ngôn ngữ quốc gia của một đất nước đa dân tộc, đa ngôn ngữ như Indonesia cũng có những nguyên nhân riêng

Khi thực dân Hà Lan đến xâm chiếm và cai trị Indonesia, hầu hết các dân tộc trên lãnh thổ quốc gia đều sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình là chủ yếu, chưa có sự thống nhất chung về mặt ngôn ngữ lúc bấy giờ Xuất phát từ yếu tố đó, Chính quyền lâm thời nhận thấy nhu cầu cần thiết xây dựng một tiếng nói chung cho tất cả các dân tộc trong cả nước, tạo sức mạnh cho khối đại đoàn kết dân tộc, chống lại bọn thực dân

Hà Lan Mặt khác, vào thời điểm ấy, ở Indonesia, số lượng người nói tiếng Melayu rất

ít so với số lượng người nói tiếng Java Nguyên nhân là do Java từ xưa đã là một khu vực chính trị nhạy cảm, chiếm ưu thế hơn về nhiêu mặt so với nhiều khu vực khác trong cả nước nên tiếng Java chiếm ưu thế hơn nhiều so với các ngôn ngữ khác Thế nhưng, tiếng Melayu, vốn được gọi là thứ tiếng “chợ búa” [chữ dùng của Mai Ngọc Chừ, 2002 : 52] cùng với đặc trưng của riêng mình, tuy bình dân nhưng lại rất dễ sử dụng do đó rất dễ phổ biến trong dân chúng Ngược lại, tiếng Java được ví như phương tiện giao tiếp của tầng lớp quý tộc, có tính chất trau chuốt, cầu kỳ, quy định về cách thức sử dụng nghiêm ngặc gây khó khăn trong việc tiếp thu Điều này bước đầu đã tạo thuận lợi cho việc phổ biến tiếng Melayu đến với cư dân

Một lý do khác để tiếng Melayu được chọn để làm ngôn ngữ quốc gia đó là phạm

vi sử dụng của nó ở các vùng đảo Đông Nam Á Trước đây, những người nói tiếng Melayu chủ yếu là những người của vương quốc Melayu, cuộc sống của họ vốn gắn liền với biển Theo thời gian, những thương nhân Melayu theo đường biển đến buôn bán, trao đổi hàng hóa với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là các quốc gia hải đảo

và truyền bá tiếng của họ đến những nơi mà họ tiếp xúc Theo chân những thương nhân Melayu, tiếng của họ đã mở rộng hơn phạm vi sử dụng của mình

Trang 17

Ngoài hai lý do trên, còn có một lý do mang tính tương đối để tiếng Melayu được chọn làm ngôn ngữ quốc gia Indonesia Do tính chất bình dân, dễ sử dụng nên tiếng Melayu được cho là thứ tiếng của tầng lớp thường dân trong xã hội Trong khi đó, thứ tiếng có số lượng người nói nhiều hơn hẳn, điển hình là tiếng Java lại là thứ tiếng dành cho những người thuộc tầng lớp quý tộc, có vị thế cao trong xã hội Điều này đã khiến cho cộng đồng thường dân, những người có vị trí thấp khác trong xã hội không mặc cảm khi sử dụng tiếng Melayu, thứ tiếng mà họ cho là phù hợp với đặc điểm giai cấp của họ Chính lý do ấy đã khiến cho họ cảm thấy gần gũi, dễ dàng sử dụng và chấp nhận tiếng Melayu [Mai Ngọc Chừ, 2002: 50 – 54]

Từ hiến pháp năm 1945, chính thức công nhận tiếng Indonesia là ngôn ngữ quốc gia, cho đến nay, Chính phủ - những người đứng đầu Indonesia đã cố gắng và không ngừng phổ biến, phát triển tiếng Indonesia trở thành ngôn ngữ phổ biến, thống nhất và lớn mạnh trên toàn lãnh thổ quốc gia

Để thực hiện điều đó, Indonesia đã thực hiện nhiều chính sách đối với ngôn ngữ quốc gia, cụ thể là tiếp tục truyền bá và phổ biến tiếng Indonesia đồng thời đẩy mạnh phong trào sử dụng tiếng Indonesia trên phạm vi cả nước Nhằm đưa tiếng Indonesia phổ biến vào thực tế đời sống của người dân, những người đứng đầu quốc gia vạn đảo

đã tổ chức Đại hội tiếng Indonesia (Kongres Bahasa Indonesia – KBI), nhằm thảo luận, trao đổi các vấn đề có liên quan đến tiếng Indonesia Đây là phong trào có tác động, ảnh hưởng lớn đến chủ trương, chính sách của Nhà Nước đối với ngôn ngữ quốc gia Kể từ KBI lần III (1978), sau này KBI được tổ chức định kì năm năm một lần để thảo luận và giải quyết các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ quốc gia Trải qua các kì KBI lần IV (1983) đến KBI lần VII (1998), những người đứng đầu KBI đã quyết định xây dựng Nghị quyết Đại hội tiếng Indonesia (Keputusan Kongres Bahasa Indonesia – KBBI), đưa ra các ý kiến, tham luận cụ thể về xây dựng và phát triển ngôn ngữ quốc

gia Dẫn theo KBBI lần IV, đề nghị để tiếng Indonesia được đưa vào trong chương

trình kế hoạch của quốc gia vì tiếng Indonesia là yếu tố thứ nhất của văn hóa dân tộc

[Đoàn Văn Phúc, 2003: 40] Trải qua nhiều lần tổ chức, KBI đã đưa ra nhiều kế hoạch hợp lý nhằm đẩy mạnh, tăng cường tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc

Song song đó, Indonesia còn đẩy mạnh việc truyền bá và phổ biến tiếng

Indonesia ra nước ngoài Dẫn theo KBBI lần V, việc giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa

Trang 18

Indonesia ở nước ngoài cần phải được lưu ý đúng mức và đề nghị Chính phủ Indonesia cần giúp đỡ phát triển Ủy ban giáo dục ở nước ngoài dạy tiếng Indonesia… giúp cung cấp thông tin mới nhất kết quả nghiên cứu tiếng Indonesia cho những học sinh muốn tìm hiểu sâu về ngôn ngữ, văn học và văn hóa Indonesia [Đoàn Văn Phúc,

2003: 35] Điều này minh chứng cho việc không chỉ chú trọng xây dựng tiếng Indonesia trong quốc gia, mà còn đẩy mạnh sức lan rộng và tính phổ biến của nó trên thế giới

Ngoài việc truyền bá và phổ biến tiếng Indonesia, Chính phủ Indonesia còn đẩy mạnh phong trào sử dụng tiếng Indonesia trên toàn lãnh thổ quốc gia Các kì KBI lần

V đến lần VII luôn nhấn mạnh đến việc sử dụng tiếng Indonesia trong các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của đời sống như hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động kinh tế, giáo dục, thông tin đại chúng, văn hóa, nghệ thuật – khoa học v.v… Chính nhờ những chính sách hợp lý như trên mà tính hiệu quả của việc phổ biến và củng cố tính thống nhất của tiếng Indonesia ngày càng được cải thiện và nâng cao rõ rệt

Một chính sách hợp lý, nhằm củng cố ngôn ngữ quốc gia cũng không kém phần quan trọng đó là việc tổ chức tháng ngôn ngữ Ngoài KBI, từ năm 1983, tháng ngôn ngữ dân tộc được tổ chức định kì vào tháng mười hằng năm đã tạo ra nhiều hiệu ứng rất tích cực, làm cho toàn thể nhân dân Indonesia nâng cao lòng tự hào dân tộc; từ đó khuyến khích nhân dân sử dụng tiếng Indonesia ngày càng tốt hơn, giúp cho nó ngày càng phát triển và xứng đáng với vị thế của một ngôn ngữ quốc gia

Trang 19

CHƯƠNG HAI CÁCH THÀNH LẬP DANH TỪ GHÉP

Việc ghép hay kết hợp hai hay nhiều từ hay hình vị cấu tạo từ để thành lập một từ mới, đặc biệt là danh từ, đều diễn ra trong bất kỳ ngôn ngữ nào Tiếng Indonesia, tiếng Việt hay một số ngôn ngữ ở châu Á có lượng danh từ ghép rất nhiều Theo các nhà nghiên cứu, danh từ ghép là những danh từ được cấu tạo bằng hai hay nhiều hình vị cấu tạo từ Các hình vị cấu tạo nên danh từ ghép được kết hợp với nhau theo một số loại quan hệ, do đó có thể căn cứ vào tính chất của quan hệ giữa các hình vị để phân

biệt các loại danh từ ghép Ví dụ, danh từ ghép đẳng lập: trâu bò, nhà cửa, ruộng

vườn, đường sá, danh từ ghép chính phụ: xe lửa, dưa chuột, máy bay, tàu thủy; danh từ

ghép láy: (con) loăng quăng, (cái) bình bịch, bong bóng, thung lũng, đom đóm 4

Theo các nhà nghiên cứu, danh từ ghép trong tiếng Indonesia cũng là sự kết hợp của hai hay nhiều hình vị cơ bản để tạo ra một danh từ mới, có đặc điểm là không làm nổi bật nghĩa riêng của mỗi từ mà là sự kết hợp của các từ để tạo ra một nghĩa mới Căn cứ vào tính chất của quan hệ giữa các hình vị, các nhà nghiên cứu cho rằng có hai hình thức thành lập danh từ ghép trong tiếng Indonesia, đó là danh từ ghép đẳng lập và danh từ ghép chính - phụ

2.1 Cách thành lập danh từ ghép đẳng lập

Danh từ ghép đẳng lập được thành lập bằng cách ghép hai danh từ lại với nhau dựa trên mối quan hệ bình đẳng, độc lập ngang nhau Thành phần thứ nhất và thành phần thứ hai có tầm quan trọng như nhau, cả về mặt hình thái học lẫn ngữ nghĩa học

- Xét về phương diện hình thái học, danh từ ghép đẳng lập trong tiếng Indonesia

có hai dạng cụ thể, đó là (1) danh từ ghép đẳng lập gộp và (2) danh từ ghép đẳng lập tách

(1) Danh từ ghép đẳng lập gộp là loại danh từ ghép được viết theo cách kết hợp 2 hay nhiều thành tố với nhau bằng cách phá vỡ khoảng cách viết giữa hai từ để tạo

4 http://ngnnghc.wordpress.com/tag/t%E1%BB%AB-ghep-d%E1%BA%B3ng-

l%E1%BA%ADp/

Trang 20

thành một danh từ mới Nghĩa của từ ghép bị biến đổi so với từ gốc sau khi ghép, hình thành nghĩa mới

Ví dụ: từ “matahari” có nghĩa là “mặt trời”, từ này được kết hợp từ hai từ

“mata” (mắt) và từ “hari” (ngày) Danh từ này được thành lập bằng cách ghép hai danh

từ “mata” và “hari” và khi ghép với nhau theo cách viết kết hợp này thì cũng giống như các từ được ghép lại gần nhau thì nghĩa của mỗi thành phần cấu tạo cũng không tồn tại nữa mà thay vào đó là một nghĩa mới Tuy nhiên nghĩa mới này vẫn có liên quan đến nghĩa cơ bản của 2 thành tố cấu tạo là 2 danh từ “mata” (mắt) và “hari” (ngày), “mắt của ngày” được có nghĩa mới là “mặt trời” Tương tự vậy, chúng ta có thể xem thêm một số ví dụ sau:

+ Bumiputra (bản địa) = bumi (đất) + putra (hoàng tử)

+ Hulubalang (chỉ huy) = hulu (phần đầu) + balang (cổ lọ cao)

Loại danh từ ghép đẳng lập này không có trong tiếng Việt vì khi ghép gần như vậy thì chắc chắn tiếng Việt sẽ không có nghĩa mà còn là một cách viết sai Ví dụ như đối với từ “matahari” trong tiếng Indonesia thì tiếng Việt không thể viết thành

“mattroi” được

(2) Danh từ ghép đẳng lập tách là loại danh từ ghép mà các thành tố cấu thành được viết tách ra Nghĩa của từ ghép không có sự biến đổi sau khi ghép, nghĩa của từ

ghép là nghĩa của các thành tố kết hợp Ví dụ từ “sabun tangan” có nghĩa là “xà phòng

rửa tay” được kết hợp từ hai từ “sabun” (xà phòng) và từ “tangan” (tay) Danh từ ghép này cũng được ghép từ hai danh từ “sabun” và “tangan”, nhưng ở đây hai thành phần cấu tạo này được viết tách ra và không cho phép viết ghép gần lại với nhau và nếu có viết thì nó cũng không có nghĩa và là một cách viết sai Tuy nhiên ở đây nghĩa của các thành phần cấu tạo không có sự thay đổi sau khi được ghép Nghĩa của từ ghép là nghĩa của các thành tố cấu tạo Tương tự vậy, chúng ta có thể xem thêm một số ví dụ sau:

+ Jantung hati (tấm lòng) = jantung (trái tim) + hati (tim, tấm lòng)

+ Cerdik pandai (thông minh) = cerdik (lanh lợi, khôn ngoan) + pandai (thông minh)

Trang 21

Qua đây có thể nhận thấy rằng loại danh từ ghép đẳng lập này tương tự như cách thành lập danh từ ghép đẳng lập trong tiếng việt, ví dụ như các từ “núi sông”, “quần áo”, “trâu bò”, “ruộng vườn”, … đều được ghép từ danh từ và có cách viết rời nhau, nghĩa không có sự thay đổi sau khi ghép, có nghĩa là nghĩa từ các thành tố kết hợp nên

- Xét về phương diện ngữ nghĩa học, căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành hai loại nhỏ, đó là (1) từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và (2) từ ghép đẳng lập hợp nghĩa

(1) Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: Theo mô hình AB = A hoặc B Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành

tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho

ý nghĩa của cả từ ghép Ví dụ, từ “lempar lembing” có nghĩa là “cây lao”, từ ghép này

được kết hợp từ “lempar” (ném) và “lembing” (cây lao) nhưng nghĩa chung lại nghiêng về nghĩa của “lembing”, tuy nhiên “lempar” vẫn đi chung như là một từ ghép

đẳng lập Hoặc từ “daya tahan” có nghĩa là “độ bền”, từ ghép này lấy nghĩa từ “daya”

(sức, sức lực) và “tahan” (chịu, chịu đựng) Tuy nhiên nghĩa của từ này nghiêng về nghĩa của từ “tahan”

Tương đương trong tiếng Việt cũng tồn tại mô hình này, cụ thể ta thấy ở các từ: núi non, binh lính, tìm kiếm, thay đổi, … Từ “núi non” được ghép từ hai từ “núi” và

“non” nhưng nghĩa của từ ghép nghiêng về nghĩa của từ “núi”, khi nói đến từ “núi non” người ta muốn đề cập đến từ “núi” mà không đề cập đến từ “non” mặc dù từ này vẫn đi đôi với từ “núi” nhưng nghĩa của nó đã bị lu mờ Tương tự đối với từ “binh lính” nghĩa nghiêng về từ “lính”, nghĩa của từ “binh” đã bị lu mờ hay nghĩa của cả từ ghép tương đương với cả hai thành tố cấu tạo như ở từ “tìm kiếm” hay “thay đổi” nhưng trong tiếng Việt không sử dụng nó đơn lẻ mà phải là một từ đẳng lập, luôn đi đôi

(2) Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa: Theo mô hình ngữ nghĩa AB = A+B, tức là nghĩa của từ ghép lớn hơn nghĩa của 2 thành tố hợp lại Ví dụ, “tanah air” có nghĩa là

“đất nước” nhưng đất nước ở đây không phải chỉ đất (tanah) và nước (air) nói chung hay chỉ đất hoặc nước, mà hai yếu tố được hợp lại để chỉ lãnh thổ của một quốc gia trong đó có những nét tiêu biểu là đất và nước Từ này nghĩa của nó dường như tương

Ngày đăng: 07/05/2021, 22:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, 1996, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo Dục
2. Đoàn văn Phúc, 2000, Loại từ trong tiếng Inđônêxia, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (5),tr.35 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại từ trong tiếng Inđônêxia
3. Đoàn Văn Phúc, 2001, Đại hội tiếng Indonesia với chính sách ngôn ngữ quốc gia, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (6), tr.25 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội tiếng Indonesia với chính sách ngôn ngữ quốc gia
Tác giả: Đoàn Văn Phúc
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Năm: 2001
4. Đoàn Văn Phúc, 2001, Vấn đề ngôn ngữ dân tộc ở Indonesia, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (2), tr.35 – 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề ngôn ngữ dân tộc ở Indonesia
Tác giả: Đoàn Văn Phúc
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Năm: 2001
5. Đoàn Văn Phúc, 2002, Loại từ trong tiếng Indonesia trong sự so sánh với loại từ tiếng Ê-đê và tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ (7), tr.12 – 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại từ trong tiếng Indonesia trong sự so sánh với loại từ tiếng Ê-đê và tiếng Việt
6. Đoàn Văn Phúc, 2003, Chính sách ngôn ngữ ở Inđônêxia trong hai thập kỷ qua, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (1), tr.34 – 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngôn ngữ ở Inđônêxia trong hai thập kỷ qua
Tác giả: Đoàn Văn Phúc
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Năm: 2003
7. Đoàn Văn Phúc, 2003, Chính sách ngôn ngữ của In-đô-nê-xi-a trong hơn bảy thập kỉ qua, Báo cáo khoa học, "Những vấn đề Ngôn ngữ học" (Kỷ yếu Hội nghị khoa học Viện Ngôn ngữ học, tr.575 - 589 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngôn ngữ của In-đô-nê-xi-a trong hơn bảy thập kỉ qua
Tác giả: Đoàn Văn Phúc
Nhà XB: Báo cáo khoa học
Năm: 2003
8. Mai Ngọc Chừ, 2000, Các phụ tố cấu tạo danh từ trong tiếng Melayu và quy luật biến đổi ngữ âm của chúng, Tạp chí nghiên cứu ĐNA, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phụ tố cấu tạo danh từ trong tiếng Melayu và quy luật biến đổi ngữ âm của chúng
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu ĐNA
Năm: 2000
9. Mai Ngọc Chừ, 2000, Tiếng Melayu – Bahasa Melayu, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Melayu – Bahasa Melayu
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
10. Mai Ngọc Chừ, 2002, Những nhân tố khiến tiếng Melayu được chọn làm ngôn ngữ quốc gia của Melayu, Brunei, Indonesia, Singapore, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á (1), tr.49 – 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân tố khiến tiếng Melayu được chọn làm ngôn ngữ quốc gia của Melayu, Brunei, Indonesia, Singapore
11. Mai Ngọc Chừ, 2002, Tiếng Melayu trong hệ thống giáo dục Malaysia, Indonesia, Brunei và Singapore, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (54), tr.40 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Melayu trong hệ thống giáo dục Malaysia, Indonesia, Brunei và Singapore
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Năm: 2002
12. Mai Ngọc Chừ, 2002, Cộng đồng Melayu – những vấn đề ngôn ngữ, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng Melayu – những vấn đề ngôn ngữ
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
13. Nguyễn Hữu Quỳnh, 2001, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
14. Nguy ễn Thanh Tuấn, 2005, Giáo trình ngữ pháp tiếng Indonesia – trình độ trung cấp, Khoa Đông phương học, Trường ĐH KHXH& NV, ĐHQG-HCM (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ pháp tiếng Indonesia – trình độ trung cấp
Tác giả: Nguyễn Thanh Tuấn
Nhà XB: Khoa Đông phương học, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM
Năm: 2005
15. Nguy ễn Thanh Tuấn, 2010, Giáo trình Ngữ pháp tiếng Indonesia- Trình độ sơ cấp, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngữ pháp tiếng Indonesia- Trình độ sơ cấp
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
17. Nguy ễn Thiện Giáp, 2008, Giáo trình Ngôn Ngữ Học, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngôn Ngữ Học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2008
18. Nguy ễn Thiện Giáp, 2010, 777 Khái Niệm Ngôn Ngữ Học, Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 777 Khái Niệm Ngôn Ngữ Học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội
19. Phạm Thị Thúy Hồng, 2000, So sánh danh từ và danh ngữ trong tiếng Inđônêxia và tiếng Việt, Ngữ học trẻ, tr.180-184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh danh từ và danh ngữ trong tiếng Inđônêxia và tiếng Việt
Tác giả: Phạm Thị Thúy Hồng
Nhà XB: Ngữ học trẻ
Năm: 2000
20. Phạm Thị Thúy Hồng, 2001, Các loại hình vị trong tiếng Inđônêxia, Ngữ học trẻ, tr.232-240 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại hình vị trong tiếng Inđônêxia
Tác giả: Phạm Thị Thúy Hồng
Nhà XB: Ngữ học trẻ
Năm: 2001
21. Phạm Thị Thúy Hồng, 2001, Phụ tố trong tiếng Inđônêxia, Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống (5), tr.24-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ tố trong tiếng Inđônêxia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w