1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ẩn dụ và hoán dụ trong truyện kiều

174 656 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Akhmanova đã định nghĩa ẩn dụ là: “Phép chuyển nghĩa, dùng các từ và ngữ ở ý nghĩa bóng trên cơ sở sự tương tự, sự giống nhau…” Đến thế kỉ XX, Ngôn ngữ học Tri nhận Cognitive Linguisti

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ ÁI VÂN

ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ

TRONG TRUYỆN KIỀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC

Mã số: 60.22.01

TP HỒ CHÍ MINH – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ ÁI VÂN

ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ

TRONG TRUYỆN KIỀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC

Mã số: 60.22.01 Người hướng dẫn: TS NGUYỄN HỮU CHƯƠNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành công trình này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng quý báu từ quý Thầy Cô khoa Văn học và Ngôn ngữ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, từ gia đình, bè bạn Đặc biệt là từ người hướng dẫn tôi: TS Nguyễn Hữu Chương

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất

Chắc chắn công trình này không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được đóng góp quý báu của quý Thầy Cô trong Hội đồng chấm Luận văn thạc sĩ

TÁC GIẢ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .4

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

4 Mục đích nghiên cứu .9

5 Phương pháp nghiên cứu .9

6 Ý nghĩa khoa học của nội dung nghiên cứu .10

6.1 Ý nghĩa lý luận 10

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 10

7 Bố cục của luận văn 11

NỘI DUNG .12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12

1.1 Khái niệm ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ .12

1.1.1 Khái niệm ẩn dụ tu từ 12

1.1.2 Khái niệm hoán dụ tu từ 17

1.2 Phân biệt so sánh tu từ, ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ .18

1.2.1 Phân biệt so sánh tu từ và ẩn dụ tu từ 18

Trang 5

1.2.2 Phân biệt hoán dụ tu từ và ẩn dụ tu từ .21

1.3 Phân loại ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ 25

1.3.1 Phân loại ẩn dụ tu từ 25

1.3.2 Phân loại hoán dụ tu từ 29

1.4 Các cấp độ của ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ 30

1.5 Tác dụng của ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ 31

1.5.1 Tác dụng của ẩn dụ tu từ 31

1.5.2 Tác dụng của hoán dụ tu từ 32

1.6 Lập mã và giải mã ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ 33

1.6.1 Yếu tố ngôn ngữ 34

1.6.2 Yếu tố phi ngôn ngữ 34

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 ẨN DỤ TRONG TRUYỆN KIỀU 38

2.1 Các loại ẩn dụ trong Truyện Kiều 38

2.1.1 Nhân hoá và vật hoá 38

2.1.2 Ẩn dụ tính chất 44

2.1.3 Ẩn dụ hành động 47

2.1.4 Ẩn dụ trạng thái .53

2.1.5 Ẩn dụ cơ cấu 65

2.1.6 Ẩn dụ tượng trưng 67

Trang 6

2.1.7 Ẩn dụ điển cố 70

2.1.8 Ẩn dụ màu sắc 75

2.1.9 Ẩn dụ bổ sung 77

2.2 Tác dụng của ẩn dụ trong Truyện Kiều .81

2.2.1 Ẩn dụ giúp lời thơ giàu hình ảnh, gợi cảm .81

2.2.2 Ẩn dụ giúp tăng ấn tượng cho lời thơ 83

2.2.3 Ẩn dụ góp phần đảm bảo tính thẩm mỹ cho lời thơ 84

2.2.4 Ẩn dụ giúp diễn đạt của nhà thơ phong phú, linh hoạt 85

2.2.5 Ẩn dụ giúp tạo nên ấn tượng về sự hài hoà giữa con người với thiên nhiên 85

2.2.6 Ẩn dụ góp phần khắc hoạ nhân vật 86

2.2.7 Ẩn dụ giúp nhận thức bản chất của đối tượng sâu sắc hơn 88

2.2.8 Ẩn dụ góp phần đảm bảo tính hàm súc, cô đọng, khái quát cho thơ 89

2.2.9 Ẩn dụ góp phần diễn đạt sâu sắc, kín đáo thông điệp của tác phẩm 90

2.2.10 Ẩn dụ góp phần làm nên sức hấp dẫn tuyệt vời của Truyện Kiều 90

Tiểu kết chương 2 92

Trang 7

Chương 3 HOÁN DỤ TRONG TRUYỆN KIỀU .93

3.1 Các loại hoán dụ trong Truyện Kiều .93

3.1.1 Hoán dụ xây dựng theo quan hệ giữa bộ phận và toàn thể .93

3.1.2 Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa – đối tượng được chứa .108

3.1.3 Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa – lượng vật chất bị chứa .111

3.1.4 Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa vật sở thuộc – chủ thể 112

3.1.5 Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa cơ quan chức năng và chức năng 112

3.1.6 Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tư thế và nguyên nhân của tư thế 120

3.1.7 Hoán dụ tượng trưng 122

3.1.8 Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa nguyên liệu với đồ dùng được chế tạo từ nguyên liệu đó; giữa nguyên liệu, sản phẩm với hoạt động có liên quan 122

3.1.9 Hoán dụ màu sắc 124

3.1.10 Hoán dụ dựa trên quan hệ quả – nhân 126

3.1.11 Hoán dụ dựa trên mối quan hệ giữa danh từ đơn vị của đối tượng với chính đối tượng 127

3.2 Tác dụng của hoán dụ trong Truyện Kiều 127

3.2.1 Hoán dụ giúp lời thơ giàu hình ảnh và giàu sức biểu cảm 127

3.2.2 Hoán dụ giúp miêu tả không gian các mùa 128

3.2.3 Hoán dụ góp phần mở rộng không gian thơ 130

3.2.4 Hoán dụ giúp miêu tả không gian vắng người đã lâu 131

Trang 8

3.2.5 Hoán dụ giúp miêu tả không – thời gian động 133

3.2.6 Hoán dụ giúp miêu tả ngoại hình 134

3.2.7 Hoán dụ góp phần khắc hoạ tính cách, bản chất của nhân vật 136

3.2.8 Hoán dụ góp phần miêu tả vẻ đẹp, hoàn cảnh, thân phận của nhân vật 137

3.2.9 Hoán dụ giúp nhà thơ vừa tả cảnh vừa tả tình 138

3.2.10 Hoán dụ góp phần khắc hoạ tâm trạng của nhân vật 139

3.2.11 Hoán dụ giúp nhà thơ thể hiện nội tâm nhân vật một cách sâu sắc 142

3.2.12 Hoán dụ góp phần diễn đạt sự kiện, tình huống 144

3.2.13 Hoán dụ giúp nhà thơ nén thông tin 145

3.2.14 Hoán dụ mở ra khả năng biểu đạt phong phú 146

3.2.15 Hoán dụ góp phần thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm 149

3.2.16 Hoán dụ mang đến nhiều khả năng lý giải 150

3.2.17 Hoán dụ góp phần làm nên sức hấp dẫn tuyệt vời của Truyện Kiều 151

Tiểu kết chương 3 153

KẾT LUẬN 154

TÀI LIỆU THAM KHẢO .156

Trang 9

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất của loài người Đó là một hệ thống hết sức phức tạp Độ phức tạp càng tăng khi ngôn ngữ tự nhiên được chắt lọc, nâng cao thành ngôn ngữ nghệ thuật Trình độ ngôn ngữ văn chương là một trong những nhân tố cơ bản chứng tỏ trình độ phát triển của ngôn ngữ dân tộc Vì vậy, nghiên cứu ngôn ngữ văn chương là phạm vi vô cùng hấp dẫn, cũng là phạm vi gây ra không ít khó khăn

Nói đến văn chương là nói đến sáng tạo của cá nhân, đến các cách diễn đạt tu từ Nghiên cứu một tác phẩm cụ thể, một tác giả cụ thể, hay một trào lưu văn học cụ thể, không thể không thông qua con đường nghiên cứu những yếu tố, quy luật ngôn ngữ, đặc biệt là các phương thức tu từ

Trong hệ thống phương thức tu từ thường được sử dụng trong văn chương, nổi bật lên là hai phương thức tu từ: Ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ

1.2 Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765 – 1820) là một kiệt tác được viết bằng

chữ Nôm, là tác phẩm tiêu biểu của nền văn học dân tộc, chứa đựng tinh hoa ngôn ngữ dân tộc Việt Nam Nó đã được dịch sang hơn 20 thứ tiếng trên thế giới như Pháp, Anh, Đức, Nga, Ba Lan, Tây Ban Nha, Ả Rập, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… và đã

được đưa vào Từ điển những tác phẩm của mọi thời đại, mọi xứ sở (Dictionnaire Des

Oeuvres De Tous Les Temps Et De Tous Les Pays) xuất bản tại Paris năm 1953

Điều đặc biệt ấn tượng là Truyện Kiều, một sáng tác cá nhân, lại có sức ảnh

hưởng hết sức sâu rộng đối với ngôn ngữ, văn chương và cả mọi mặt đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam Bill Clinton – vị Tổng thống thứ 42 của Hoa Kỳ (1993-2001) – cũng đã “dẫn Kiều” trong chuyến thăm Việt Nam năm 2000: “Nhân dân Hoa Kỳ vui

mừng vì đã đến lúc chúng ta có thể trở thành đối tác Như trong Truyện Kiều đã nói:

‘Sen tàn cúc lại nở hoa – Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân’ Nay ký ức băng giá

về quá khứ đã bắt đầu tan Những phác thảo của một tương lai ấm áp chung đã bắt đầu

Trang 10

hình thành Cùng nhau chúng ta hãy tận hưởng ngày xuân ấm áp này” (Báo Nhân Dân

ngày 18 tháng 11 năm 2000)

Với những đóng góp kiệt xuất của mình, năm 1965 Nguyễn Du đã được tổ chức Hoà bình Thế giới long trọng tôn vinh lên hàng danh nhân văn hoá thế giới cùng với Dante (Ý), Lomonosov (Nga) Năm 2013 đại thi hào Nguyễn Du được UNESCO (Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc) vinh danh Trước Nguyễn

Du, hai danh nhân Việt Nam được UNESCO vinh danh là Nguyễn Trãi (năm 1980) và

Hồ Chí Minh (năm 1987) Hoạt động tôn vinh Nguyễn Du ở Việt Nam cũng như ở một

số nước trong cộng đồng UNESCO sẽ được tổ chức nhân kỷ niệm 250 năm sinh của ông vào năm 2015 Cần nói thêm, tuy rằng đến nay, UNESCO không chính thức sử dụng danh hiệu “Danh nhân văn hoá thế giới” cho những danh nhân có đóng góp to lớn, có tầm ảnh hưởng đặc biệt với khu vực và thế giới trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, khoa học tự nhiên, xã hội và thông tin, nhưng việc có danh nhân được UNESCO vinh danh luôn là vinh dự, là niềm tự hào hết sức to lớn đối với mỗi quốc gia thành viên của UNESCO

Tại Việt Nam, để góp phần thoả mãn niềm đam mê Truyện Kiều của đông đảo bạn đọc, người nghiên cứu, Hội Kiều học Việt Nam (Vietnam Kieu Study Association)

chính thức được thành lập ngày 03 tháng 11 năm 2011

Sau đây là một số ý kiến nhận xét về Truyện Kiều:

“Trong lịch sử ngôn ngữ và lịch sử văn học Việt Nam, nếu Nguyễn Trãi với

Quốc âm thi tập là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học dân tộc thì Nguyễn Du

với Truyện Kiều lại là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học hiện đại của nước ta Với Truyện Kiều của Nguyễn Du, có thể nói rằng ngôn ngữ văn học Việt Nam đã trải

qua một cuộc thay đổi về chất và đã tỏ rõ khả năng biểu hiện đầy đủ và sâu sắc của nó” [16]

“Từ khi ra đời đến nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã trở thành một bộ phận

không thể tách rời của đời sống tâm hồn dân tộc Việt Nam nói chung và đời sống văn học nói riêng” [134; 9]

Trang 11

“Cái đặc sắc ở Nguyễn Du là ở chỗ mài dũa đến điêu luyện mà không làm mất

vẻ tự nhiên, chọn lọc tinh vi mà không cầu kỳ, vẫn giữ được phần trong trẻo của ngôn ngữ dân tộc” [19; 173]

“Thành tựu tuyệt vời của ông [Nguyễn Du – NTAV] trong việc làm phong phú, làm trong sáng ngôn ngữ văn học thế kỉ XIX đã có ảnh hưởng sâu xa và lâu dài đến sự phát triển ngôn ngữ văn học dân tộc ta” [114; 57]

“Nhà thơ [Nguyễn Du – NTAV] đã có sự học tập, kế thừa và phát huy trong việc gần gũi với tiếng nói của dân tộc, ngôn ngữ văn chương bác học Đó cũng chính là

cống hiến vĩ đại của Nguyễn Du và Truyện Kiều đối với lịch sử phát triển của ngôn

ngữ văn học dân tộc” [154]

“Bên cạnh tư cách một nhà thơ, Nguyễn Du còn là danh nhân có tinh thần tự hào dân tộc và tình yêu mãnh liệt với tiếng mẹ đẻ Dũng cảm vượt qua rào cản nặng nề hàng ngàn năm của Hán văn để sáng tác bằng Việt văn, Nguyễn Du lần đầu tiên đưa tiếng Việt và ngôn ngữ Việt trở thành ngôn ngữ văn học chính thống của quốc gia Dấu mốc này có thể so sánh với việc các học giả châu Âu đã dũng cảm vượt qua rào cản tiếng Latin, để sáng tác văn học bằng ngôn ngữ của chính dân tộc họ” [160]

Các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đánh giá rất cao Truyện Kiều

Catđua Mamsatxki cho rằng: Truyện Kiều “có giá trị của một kiệt tác văn học

thế giới”, “nó đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong lịch sử của tiếng Việt” [dẫn theo 76; 208]

René Crayssac khẳng định: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ nước nào, trong bất kỳ thời đại nào Trong tất cả nền văn chương của Pháp không có một tác phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sùng kính và yêu chuộng bằng quyển truyện này ở Việt Nam Và sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca vang tất cả tâm hồn của một dân tộc” [dẫn theo 119; 27]

Còn Giáo sư Swensson phát biểu: “Tôi tin nếu muốn hiểu người Việt Nam thì

nên tìm hiểu Truyện Kiều, những câu chuyện về sự chịu đựng đằng đẵng của Kiều, trải

qua đủ nỗi đau Nếu nhìn vào lịch sử của người Việt Nam, nhìn vào các cuộc chiến mà các bạn đã trải qua, tôi hiểu được sự kiên trì cùng sức chịu đựng ghê gớm của Việt

Trang 12

Nam thông qua Truyện Kiều” Năm 1998, ông Swensson chính thức đưa Truyện Kiều

vào giảng dạy tại Trường De Anza Với đam mê của mình, giáo sư Swensson đã lập

riêng một trang web về Truyện Kiều ngay trong trang chủ của Trường De Anza:

http://www.deanza.edu/faculty/swensson/kieu.html

Giáo sư đã thấy ở Kiều một giá trị để hoàn thiện con người: “Tác phẩm này vẫn

như vậy, nhưng tôi tin mỗi chúng ta hãy cứ thử mỗi 10 năm đọc lại Truyện Kiều một

lần Mỗi lần như vậy bạn sẽ thấy sự khác biệt mới” [162]

1.3 Vận dụng phương thức tu từ để tạo lập văn bản và phân tích văn bản là đòi hỏi thường xuyên đối với giáo viên và học sinh trung học Nghiên cứu ẩn dụ tu từ và

hoán dụ tu từ trong một tác phẩm văn chương vừa mẫu mực vừa biến hoá là Truyện

Kiều sẽ giúp ích thiết thực cho công tác giảng dạy văn học và ngôn ngữ trong nhà

trường

Tìm hiểu ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ trong một tác phẩm văn chương, đặc biệt là trong một tác phẩm chứa đựng tinh hoa đồng thời chứa đựng những đánh giá hoàn toàn khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về nội dung tư tưởng là vấn đề không hề đơn giản Bằng nỗ lực của bản thân, và đặc biệt là từ sự giúp đỡ từ nhiều nguồn, chúng tôi đã hoàn thành luận văn này Hi vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ mang đến những minh chứng khoa học góp phần làm sáng tỏ tài năng ngôn ngữ lỗi lạc của một nghệ sĩ lớn của dân tộc, cũng là góp phần vào công việc đầy ý nghĩa là bồi dưỡng lòng tự hào, yêu

mến tiếng Việt – “thứ của cải vô cùng lâu đời và quý giá của dân tộc” (Hồ Chí Minh),

góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi giới hạn đối tượng của luận văn là ẩn

dụ tu từ và hoán dụ tu từ, phạm vi của luận văn là tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn

Du Nguồn ngữ liệu chúng tôi sử dụng là bản Truyện Kiều do Thạch Giang – Trương

Chính biên khảo và chú giải, do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm

Trang 13

2000 [98] Đồng thời có so sánh, đối chiếu với một số bản Truyện Kiều khác, đặc biệt

là bản Truyện Kiều in trong cuốn Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh [16]

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ thế kỉ thứ IV trước công nguyên, các cách thức tổ chức, nâng cao hiệu lực lời nói trong hùng biện, diễn thuyết đã được các nhà triết học Hi Lạp quan tâm nghiên

cứu, và gọi đó là các phép mỹ từ (figura), góp phần tạo nên lời văn hoa mỹ Trong đó,

ẩn dụ (metaphor) và hoán dụ (metonymy) được coi là hai phép mỹ từ quan trọng, đồng

thời cũng là hai phương thức cơ bản để phát triển thêm từ mới

Khởi đầu là phát biểu của Aristotle, ông cho rằng: “Ẩn dụ là lấy tên của sự vật

này để gọi cho sự vật khác”, dựa trên việc “phát hiện những nét tương đồng giữa chúng” và “phải có một đôi mắt nhạy bén mới có thể từ những điểm khác nhau rất xa của sự vật phát hiện ra những điểm tương đồng giữa chúng” [dẫn theo 146; 64] Ông

còn cho rằng: “Mọi từ đều có thể dùng chung, hoặc dùng làm ẩn dụ, hoặc dùng làm cái

tu sức, cái biến đổi” [dẫn theo 10; 13]

Cicéron (106 – 43) nói: “Ẩn dụ là phép so sánh bớt đi một từ trong đó nếu như

từ này theo quy tắc được đặt ở vị trí nào đấy khiến cho ta nhận ra sự tương đồng, thì từ

ẩn dụ trở nên hấp dẫn, duyên dáng” [dẫn theo 10; 13]

Quan điểm này cũng là quan điểm được chấp nhận rộng rãi trong giới nghiên

cứu ngôn ngữ học từ trước đến nay, được gọi là Thuyết So sánh (Comparison Theory),

là quan điểm truyền thống về ẩn dụ

Sau đây là một số định nghĩa về ẩn dụ của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới [dẫn theo 82]:

A A Reformatxky giải thích: “Ẩn dụ theo nghĩa chiết tự là ‘sự chuyển đổi’, là

trường hợp chuyển nghĩa điển hình nhất Sự chuyển nghĩa theo ẩn dụ dựa trên sự giống nhau của các sự vật về màu sắc, hình thức, đặc điểm vận động…”

B N Golovin định nghĩa: “Sự chuyển đổi của các từ từ một đối tượng này sang

một đối tượng khác trên cơ sở sự giống nhau của chúng được gọi là ẩn dụ”

Trang 14

Theo Ju X Xtepanov: “Bản thân từ Metaphora từ tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa

là sự chuyển nghĩa” và “Khi một từ vẫn còn liên hệ với biểu vật cũ nhưng lại có thêm một sự liên hệ mới, với cái biểu vật mới, thì hiện tượng ngôn ngữ đó là ẩn dụ”

Trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, O X Akhmanova đã định nghĩa ẩn dụ là: “Phép chuyển nghĩa, dùng các từ và ngữ ở ý nghĩa bóng trên cơ sở sự tương tự, sự

giống nhau…”

Đến thế kỉ XX, Ngôn ngữ học Tri nhận (Cognitive Linguistics), một trường phái

mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách là phương thức tri nhận thế giới, chú ý đến quá trình tri giác, trải nghiệm của chính người bản ngữ

và nhìn nhận các vấn đề ngôn ngữ – trong đó có ẩn dụ, hoán dụ – trong sự nối kết liên ngành với triết học, tâm lý học, y học, văn hoá học… nhằm tìm ra quy luật ý niệm hoá các sự vật và sự tình của thế giới khách quan, phản ánh vào trong ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ Theo đó, ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ẩn dụ thẩm thấu vào trong cuộc sống của chúng ta, không chỉ có mặt trong ngôn ngữ, ẩn dụ còn có mặt trong tư duy và

ẩn dụ luôn được xây dựng từ hai miền là miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain) Dựa trên sự tương thích bản chất giữa hai miền này, tư duy ẩn dụ đồ

chiếu (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại miền nguồn lên miền đích, để tạo ra những cách diễn đạt ẩn dụ Và cũng dựa trên cơ sở từ kiến thức nền (background

knowledge) về miền nguồn (thường là cụ thể, dễ nắm bắt, dễ hình dung), người nghe /

người tiếp nhận, có thể dễ dàng tiếp nhận, dễ dàng giải mã những cách diễn đạt ẩn dụ ở miền đích, nhận ra ý nghĩa đích thực mà người nói / người phát muốn diễn đạt Chẳng

hạn, ẩn dụ tri nhận (cognitive metaphor) hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm (conceptual

metaphor) “Tình yêu là cuộc hành trình” (LOVE IS JOURNEY) được hình thành trên

cơ sở sự tương thích bản chất của hai miền là “tình yêu” (miền đích) và “cuộc hành trình” (miền nguồn) Trong đó, các cách diễn đạt có tính ẩn dụ của miền đích bị chi phối bởi những ý nghĩa tương thích của miền nguồn: Người yêu = bạn đường, trở ngại

= rào cản, hôn nhân = đích đến… Nghĩa là từ cơ sở cấu trúc và quan hệ nội tại của miền nguồn, cụ thể là “cuộc hành trình” (người đi, thuận lợi, khó khăn, đích đến…) có

sự tương thích với cấu trúc và quan hệ nội tại của miền đích, cụ thể là “tình yêu” (người yêu, thuận lợi, trở ngại, hôn nhân…), tư duy ẩn dụ thiết lập đồ chiếu: “Tình yêu

Trang 15

là một cuộc hành trình” Đồng thời, từ kiến thức nền về “cuộc hành trình”, người tiếp nhận sẽ dễ dàng giải mã những diễn đạt ẩn dụ về tình yêu Ví dụ: “Quan hệ của chúng

ta không dẫn tới đâu” (Our relationship isn’t going anywhere), “Quan hệ của chúng ta

đã đi vào ngõ cụt” (Our relationship has hit a dead-end street), “Coi chừng, chúng ta đã

đi quá xa” (Look how far we’ve come), “Chúng ta đã trải qua một chặng đường dài và khó khăn” (It’s been a long and bumpy road)… [ví dụ của Lakoff và Johnson, dẫn theo 140; 91] Công trình nghiên cứu về ẩn dụ có ý nghĩa cột mốc quan trọng của các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái này là công trình của G Lakoff và M Johnson (1980):

Metaphor We live by

Trong nước, vấn đề ẩn dụ và cùng với nó là vấn đề hoán dụ, đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà Việt ngữ học như: Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Đào Thản, Phan Thế Hưng, Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Thái Hoà, Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Mai Thị Kiều Phượng, Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, Hoàng Kim Ngọc, Phan Thị Hồng Xuân, Đỗ Thị Hằng, Đoàn Mạnh Tiến

Nhìn chung các nhà Việt ngữ học đều thống nhất trong cách hiểu ẩn dụ là “sự

thay thế tên gọi”, là “phép chuyển nghĩa” dựa trên “sự tương đồng”, “sự giống nhau”

giữa các sự vật được nói đến và ẩn dụ luôn luôn đi với phép so sánh, nó là sự “so sánh

ngầm”, bởi vì ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh và không cần dùng đến những tiếng để

so sánh như: Tựa, như, tường, bằng…

Trong đó, đáng chú ý là vấn đề bản chất của ẩn dụ đã được Nguyễn Đức Tồn đề

cập đến trong loạt bài viết: “Để giúp thêm cho việc dạy khái niệm ẩn dụ”, “Bản chất

của ẩn dụ” đăng tải trên tạp chí Ngôn ngữ, lần lượt ở các số 9, 10, 11 năm 2007

Tuy nhiên, không phải không tồn tại ý kiến trái chiều Phan Thế Hưng cho rằng:

“Chúng ta không hiểu ẩn dụ bằng chuyển ẩn dụ thành phép so sánh Thay vì vậy, câu

ẩn dụ là câu bao hàm xếp loại và do vậy hiểu ẩn dụ qua câu bao hàm xếp loại” [127]

Tiếp thu lý thuyết của ngôn ngữ học hiện đại, trong những năm gần đây, Việt ngữ học cũng đã bắt đầu xuất hiện một vài công trình, bài viết nghiên cứu ẩn dụ từ góc

nhìn tri nhận Đó là công trình “Ngôn ngữ học tri nhận từ lý thuyết đại cương đến thực

tiễn tiếng Việt” của Lý Toàn Thắng, công trình “Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và

Trang 16

suy nghĩ)” của Trần Văn Cơ…, cùng một số bài viết của Phan Thế Hưng, Trần Bá

Tiến… đăng rải rác trên các tạp chí chuyên ngành

Ngoài ra còn phải kể đến các công trình luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ của các tác giả đã nghiên cứu về những vấn đề thuộc phạm vi ẩn dụ, hoán dụ trong văn chương như:

Nguyễn Thị Duyên (2000) với Luận văn “Ẩn dụ tu từ trong một số tác phẩm

văn học được giảng dạy ở bậc phổ thông cơ sở dưới ánh sáng của kí hiệu học”

Nguyễn Thị Bích Thủy (2002) với Luận văn “Hiện tượng chuyển nghĩa trong

ngôn ngữ thơ Tố Hữu”

Nguyễn Văn Đức (2007) với Luận án “Phong cách ngôn ngữ thơ ca Việt Nam

giai đoạn 1930 – 1945: So sánh phương thức ẩn dụ trong thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên”

Nguyễn Thị Xuân Rớt (2007) với Luận văn “Tìm hiểu phương thức ẩn dụ trong

tiếng Việt (thể hiện qua ca dao trữ tình, thơ tình Xuân Diệu và thơ tình Xuân Quỳnh)”

Nguyễn Văn Nở (2007) với Luận án “Biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam”

Trên đây chúng tôi đã điểm qua lịch sử nghiên cứu vấn đề Lịch sử nghiên cứu

ẩn dụ và hoán dụ cho thấy rằng, về vấn đề hoán dụ, hầu như ý kiến của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước, xưa và nay, đều cơ bản thống nhất với nhau Nên trong phần này, chúng tôi không tập trung đi sâu trình bày mà sẽ thể hiện sâu hơn trong phần nội dung của luận văn

Bên cạnh đó, liên quan đến đề tài, còn có thể kể đến các công trình sau: “Từ

điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh, “Tìm hiểu đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)” của Nguyễn

Đức Tồn, “Tìm hiểu từ ngữ Truyện Kiều” của Lê Xuân Lít, “Tìm hiểu phong cách ngôn

ngữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều” của Phan Ngọc…

Tất cả các công trình nghiên cứu trên, dù tiếp cận vấn đề ẩn dụ và hoán dụ dưới những góc nhìn khác nhau, trong những phạm vi khác nhau, nhưng tựu trung, đều có những đóng góp hết sức quý báu trong việc tìm hiểu ẩn dụ, hoán dụ nói chung và ẩn

dụ, hoán dụ trong văn chương nói riêng Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào đi sâu

khảo sát ẩn dụ, hoán dụ trong Truyện Kiều một cách có hệ thống Vì vậy, trên tinh thần

Trang 17

kế thừa thành tựu của những người đi trước, chúng tôi mạnh dạn triển khai đề tài

nghiên cứu “Ẩn dụ và hoán dụ trong Truyện Kiều”

4 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài “Ẩn dụ và hoán dụ trong Truyện Kiều” chúng tôi muốn đạt đến

các mục đích sau:

- Khảo sát, nhận diện, phân tích hệ thống ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ trong

Truyện Kiều, xoáy sâu, làm rõ tác dụng của hai phương thức tu từ này trong Truyện Kiều, góp phần chỉ ra nét độc đáo trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du,

góp phần làm rõ những đóng góp của ông đối với sự phát triển của tiếng Việt

- Từ đó góp phần quay trở lại làm sáng tỏ cho lý thuyết về ẩn dụ và hoán dụ nói chung, lý thuyết về ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ nói riêng

- Với công trình này, chúng tôi hi vọng rằng sẽ đóng góp được phần nhỏ bé vào

việc dạy và học tác phẩm Truyện Kiều trong nhà trường

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các thủ pháp và phương pháp nghiên cứu sau:

- Miêu tả, phân tích: Chúng tôi vận dụng phương pháp này để miêu tả và phân

tích ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ trong Truyện Kiều, chỉ ra giá trị, hiệu quả tu từ của

chúng

- Tổng hợp, khái quát: Trên cơ sở kết quả thống kê, phân loại, phân tích mô tả, chúng tôi đi vào tìm hiểu những nét đặc sắc trong việc sử dụng có hiệu quả ẩn dụ tu từ

và hoán dụ tu từ trong Truyện Kiều

Lấy Truyện Kiều làm phạm vi nghiên cứu, chúng tôi ý thức rõ rằng, là một

chỉnh thể nghệ thuật, tác phẩm văn chương yêu cầu người nghiên cứu, dù là nghiên cứu

về phương diện nào, văn học hay ngôn ngữ, cũng phải đặt mọi yếu tố của tác phẩm trong mối quan hệ biện chứng giữa hình thức với nội dung Theo chúng tôi, góc độ tiếp cận đúng đắn nhất của ngôn ngữ học đối với một tác phẩm văn chương là phải tìm ra

Trang 18

giá trị, tác dụng của hình thức ngôn ngữ đối với nội dung, tránh tình trạng phân tích ngôn ngữ theo lối hình thức, tuyệt đối hoá những giá trị hình thức và tách rời nội dung

Bên cạnh đó, nhận thức rõ ba chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chức năng tư duy, chức năng giao tiếp và chức năng thẩm mỹ; nhưng vai trò, mức độ đậm nhạt của từng loại chức năng là khác nhau trong mỗi phạm vi khác nhau của ngôn ngữ; đối với ngôn ngữ tự nhiên, chức năng giao tiếp là chức năng hàng đầu; còn trong ngôn ngữ nghệ thuật, chức năng thẩm mỹ lại là chức năng nổi bật; chúng tôi xem xét các yếu tố

thuộc về ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ trong chức năng thẩm mỹ của nó Mà “Chức năng

thẩm mỹ của một yếu tố ngôn ngữ được xác định bởi vị trí và vai trò của nó trong hệ thống các hình tượng của tác phẩm cũng như trong hệ thống của phong cách cá nhân của tác giả” [24; 138], nên mỗi đơn vị ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ trong Truyện Kiều sẽ

được chúng tôi nhìn nhận, phân tích trong mối quan hệ với toàn văn bản, với phong cách tác giả, và cả với phong cách thời đại

6 Ý nghĩa khoa học của nội dung nghiên cứu

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn nghiên cứu vấn đề ẩn dụ, hoán dụ nói chung và ẩn dụ, hoán dụ trong

một tác phẩm văn học cụ thể là Truyện Kiều Qua đó, góp phần làm sáng rõ lý thuyết

về ẩn dụ, hoán dụ nói chung, ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ nói riêng

Đồng thời, kết quả nghiên cứu đề tài cũng là một minh chứng góp phần khẳng định rõ vai trò quan trọng của hai phương thức tu từ này trong ngôn ngữ thơ cũng như trong phong cách ngôn ngữ của mỗi nhà thơ

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Ẩn dụ và hoán dụ đã và đang được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông, được nghiên cứu, học tập ở các trường đại học do tầm quan trọng của chúng trong ngôn ngữ cũng như tư duy, đặc biệt là trong việc tạo lập và tiếp nhận văn bản nghệ

thuật Việc tìm hiểu ẩn dụ và hoán dụ trong Truyện Kiều có ý nghĩa:

Trang 19

- Tìm hiểu các phương thức tu từ nói chung và ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ nói

riêng trong Truyện Kiều là góp phần tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong tiếng Việt, cũng là

góp phần tìm hiểu cách cảm, cách nghĩ của người Việt

- Đối với các giáo viên, sinh viên chuyên ngành, việc tìm hiểu về ẩn dụ và hoán

dụ trong Truyện Kiều giúp hiểu thêm chiều sâu vẻ đẹp ngôn ngữ trong Truyện Kiều và

tài năng của Nguyễn Du

- Nghiên cứu, phân tích ẩn dụ và hoán dụ trong Truyện Kiều có thể nâng cao,

bồi dưỡng khả năng thưởng thức tác phẩm văn chương từ góc độ ngôn ngữ học

Từ đó, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, phát huy sự giàu đẹp và trong sáng của tiếng Việt

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và phần kết luận, nội dung chính của luận văn tập trung vào ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận

Trong chương này, chúng tôi đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản, làm tiền

đề cho đề tài nghiên cứu

Chương 2: Ẩn dụ trong Truyện Kiều

Đi sâu nghiên cứu ẩn dụ tu từ trong Truyện Kiều là nội dung chính của chương

2 Dựa trên cơ sở lý thuyết đã đề cập đến ở chương 1, chúng tôi tiến hành khảo sát,

nhận diện, phân tích ẩn dụ tu từ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Chương 3: Hoán dụ trong Truyện Kiều

Các thao tác nghiên cứu tương tự như chương 2 nhưng đối tượng và phạm vi

nghiên cứu của chúng tôi ở chương này là hoán dụ tu từ trong Truyện Kiều

Trang 20

Ẩn dụ là một cách nghĩ mới về đối tượng, nó có thể phát hiện bản chất ẩn giấu của đối tượng, nó đem lại sự sắc bén và sáng rõ cho ý tưởng, làm mới lại đối tượng, tạo

ra hình tượng cảm tính cụ thể sắc nét, biểu hiện được những cảm xúc sống động nhưng tiềm ẩn, làm tăng ấn tượng Ẩn dụ thể hiện bản chất đa nghĩa của hình tượng nghệ thuật Nhiều nhà nghiên cứu gắn sự nảy sinh hình tượng ẩn dụ với giai đoạn tự phát của sự tri giác thế giới – thời kì nguyên thuỷ của mọi nền văn hoá và ngôn ngữ Sự nảy sinh ẩn dụ trở thành điểm khởi đầu cho quá trình trừu tượng hoá các ý niệm cụ thể, điểm khởi đầu cho sự hình thành hình tượng nghệ thuật [63; 12 – 14]

“Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng” “Người ta còn gọi ẩn dụ tu từ là so sánh ngầm vì cơ sở cấu tạo của

nó giống với so sánh tu từ” Ví dụ: Đất nước Việt Nam chìm trong bóng đêm kéo dài

hàng thế kỉ bỗng bừng lên buổi bình minh của thời đại (Lê Duẩn) Các ẩn dụ: “Bóng đêm”, “buổi bình minh” [10; 279 – 281]

“Khi sự so sánh nghệ thuật chỉ còn vế B, mà ta vẫn nhận ra vế bị so sánh (ngầm) thì hình thức này gọi là ẩn dụ Ẩn dụ là sự gọi tên một sự vật, một hiện tượng này bằng một tên của một sự vật hay hiện tượng khác, dựa trên sự liên tưởng tương đồng Sự chuyển đổi tên gọi này chỉ có thể mang ý nghĩa trong một ngữ cảnh nhất định, nghĩa là

có một giá trị lâm thời, ra ngoài ngữ cảnh đó thì từ lại mang cái ý nghĩa xác định của

nó trước kia” [152; 79]

Trang 21

“Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra), giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A” Ví dụ:

Giá đành trong nguyệt trên mây,

Hoa sao hoa khéo đoạ đày bấy hoa

(Truyện Kiều)

Hoa (B) mang ý nghĩa ẩn dụ chỉ người phụ nữ có nhan sắc (A) [23; 52]

“Phép ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa của một đối tượng này thay cho một đối tượng khác khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương đồng nào đó” [24; 194]

“Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận

với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Như vậy thực chất của phép ẩn dụ chính là việc dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ dân tộc” [55; 302]

“Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng Nhưng khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần

để so sánh” Ví dụ: Thế địch như nước, thế ta như lửa (Hồ Chủ tịch) là so sánh Nước

nhất định thắng lửa (Hồ Chủ tịch) là ẩn dụ [20; 105]

“Ẩn dụ tu từ là phương thức chuyển nghĩa tạo nên ý nghĩa hàm ẩn tu từ bằng cách sử dụng phép so sánh hàm ẩn hay so sánh ngầm hay sự thay thế tên gọi của các sự vật, hiện tượng khác loại (khác phạm trù) dựa trên cơ sở sự liên tưởng mang tính hình tượng nghệ thuật và đồng nhất hoá chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng… để gợi tả những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong văn bản nghệ thuật” [74; 674 – 675]

Điểm qua một số định nghĩa về ẩn dụ của các nhà Việt ngữ học, chúng tôi nhận thấy đa số ý kiến đều cho rằng ẩn dụ tu từ là loại so sánh ngầm Trong số các định nghĩa ẩn dụ của các nhà Việt ngữ học, chúng tôi tập trung sự chú ý đến định nghĩa của

Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Tồn

Trang 22

Xuất phát từ việc một vỏ hình thức ngữ âm, ngoài khả năng biểu thị ý nghĩa biểu vật của chính mình, lại có thể thay thế cho tên gọi của nhiều ý nghĩa biểu vật khác nữa, Đỗ Hữu Châu giải thích rằng: “Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x (tức x là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y), nếu như x và

y có nét nào đó giống nhau (…) Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ

tương đồng giữa x và y” [28; 104]

Chúng tôi xin phép được biểu diễn quan niệm trên bằng lược đồ sau:

x (là ý nghĩa biểu vật chính của A)

Người (người con gái đẹp)

Thuộc tính chung: Đẹp, mềm mại, mong manh

Xuất phát từ thao tác đồng nhất hoá các biểu vật, dẫn tới hệ quả là tên gọi của chúng cũng sẽ được đồng nhất, và do đó, các tên gọi có thể thay thế cho nhau, Nguyễn

Đức Tồn cho rằng bản chất của ẩn dụ là: “Sự thay thế tên gọi dựa trên sự đồng nhất

hoá các sự vật, hiện tượng, tính chất… khi tư duy liên tưởng của con người phát hiện

ra ở chúng ít nhất cùng có một nét hay một đặc điểm nào đó” [82]; và “Chỉ có tiểu

loại so sánh đồng nhất trong kiểu loại so sánh ngang bằng mới có thể làm cơ sở cho

ẩn dụ” [83]

Trang 23

Ông đã biểu diễn quan niệm của mình bằng sơ đồ sau [83]:

y x → B A hoặc x y → A B

Cho x và y là hai biểu vật A là tên gọi của biểu vật x, B là tên gọi của biểu vật

y Khi x và y “cùng có nét nào đó như nhau”, thì tư duy sẽ “đồng nhất hoá chúng với nhau” (x = y)

Ông trình bày hai khả năng:

Khả năng thứ nhất: Chỉ có một biểu vật đã có tên gọi riêng, và như vậy, hệ quả

là tên gọi vốn dùng cho biểu vật này sẽ được dùng chính thức cho biểu vật kia Chẳng

hạn: Cây cối xay, tay ghế Đó là “ẩn dụ được sử dụng với tư cách là phương thức định

danh” và là “ẩn dụ chết, tính chất bóng bẩy hay hình tượng của ẩn dụ đã không còn

nữa”, ẩn dụ loại này còn được gọi là ẩn dụ từ vựng, “nghĩa chuyển của ẩn dụ này đã

được cố định hoá trong hệ thống ngôn ngữ, được đưa vào nghĩa của từ trong từ điển và được toàn dân sử dụng” [83; 3]

Khả năng thứ hai: Cả hai biểu vật đều đã có tên gọi riêng, và như vậy, sự thay

thế tên gọi giữa các biểu vật đó chỉ là sự “thay thế lâm thời”, ẩn dụ loại này “được sử dụng như một biện pháp tu từ nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm và giá trị thẩm

mỹ cho sự diễn đạt”, “các ý nghĩa được tạo ra theo phép ẩn dụ tu từ không được cố

định hoá trong hệ thống ngôn ngữ thành ý nghĩa của từ trong từ điển”, nên có thể gọi

nó là “ẩn dụ lâm thời”, “ẩn dụ tu từ” Đó là loại ẩn dụ “mang tính sáng tạo riêng”,

“cùng chỉ một đối tượng nhưng với mỗi người lại có thể có cách diễn đạt bằng hình

ảnh ẩn dụ khác nhau trong các ngữ cảnh khác nhau” [83; 4] Ông nhấn mạnh: “Khi hai

biểu vật x và y được tư duy đồng nhất hoá thì những đặc điểm, thuộc tính vốn có ở y có thể cũng được quy gán cho x và được dùng để nói về x, hoặc ngược lại, những đặc điểm, thuộc tính vốn có ở x có thể cũng được quy gán cho y và được dùng để nói về y miễn là phù hợp với lô gích tự nhiên” [83; 4 – 5]

Trên cơ sở kế thừa quan niệm của các nhà khoa học đi trước, xuất phát từ việc không tách rời ý nghĩa biểu vật và tên gọi của cái biểu đạt (ý nghĩa biểu vật y và tên

Trang 24

h bởi những

à giải mã ẩn

và tên gọi c

ng một thể tđược nhắc

A, B là nh

ợp những thđối tượng

Đó chính luốn nhấn m

ôn ngữ và cngoài nhữn

ợc biểu đạt

ý nghĩa biểcần thiết C

là cơ sở đểmạnh là thu

ắc để tạo lậpnào đó giữ

ễn mối qua

hiều) thuộchung đó có

loại, trong ịnh những đ

a A và B cócách diễn uộc tính chu

ếu tố ngoài ngôn ngữ, ta

ểu vật x và

ếu tố chìm, mạnh dạn tr

p và lĩnh hộ

ữa hai đối tư

an hệ giữa A

c tính chungthể là về tín

bản thân mđặc trưng ri

ó thể có mộđạt ẩn dụ lung T giữa ngôn ngữ

a không thể

à tên gọi luôn có rình bày

Trang 25

quan tâm đến những yếu tố ngoài ngôn ngữ như kiến thức nền, lẽ thường, văn hoá của

cá nhân, dân tộc, thời đại

1.1.2 Khái niệm hoán dụ tu từ

Song song với ẩn dụ, hoán dụ cũng đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Sau đây là một số định nghĩa về hoán dụ

“Hoán dụ là phương thức tu từ thực hiện bằng việc chuyển nghĩa của từ, dựa vào sự gần nhau của các đối tượng, sự vật Các đặc điểm nghệ thuật của hoán dụ gắn với bút pháp của tác giả, tính chất của phong cách văn học, đặc thù của văn hoá dân tộc” [63; 153]

“Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đó” [24]

“Hoán dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng lô gích khách quan giữa hai đối tượng Về mặt hình thức, hoán dụ tu từ chỉ có vế biểu hiện, còn vế được biểu hiện cũng không phô ra như ẩn dụ tu từ Người tiếp nhận phải dựa vào quan hệ liên tưởng lô gích khách quan để tìm ra đối tượng được biểu hiện” [10]

“Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x (tức x là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y), nếu như x và y có nét nào đó giống nhau Còn hoán dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế khách quan Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan

hệ tương đồng giữa x và y Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tiếp cận (gần gũi nhau) giữa x và y” [28; 104]

“Hoán dụ tu từ là phương thức chuyển nghĩa tạo nên ý nghĩa hàm ẩn tu từ bằng cách sử dụng phép lựa chọn cái tiêu biểu nhất của đối tượng để thay thế tên gọi cho chính đối tượng đó Tức là giữa các sự vật, hiện tượng được thay thế gọi tên sẽ cùng loại, cùng phạm trù Quá trình thực hiện phải dựa trên cơ sở sự liên tưởng để tạo nên các tầng nghĩa mang tính hàm ẩn, tính lấp lửng, tính hình tượng nghệ thuật để gợi tả những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong văn bản nghệ thuật theo quan hệ

Trang 26

tương cận hay quan hệ bao hàm Cái tiêu biểu nhất của sự vật, hiện tượng được con người lựa chọn để gọi tên trong hoán dụ tu từ thường là những đặc điểm ngoại hình, đặc điểm hình thức, vật dụng sở hữu, đặc điểm tính chất, đặc điểm hoạt động, trạng thái nổi bật của bản thân đối tượng” [74; 699 – 700]

Quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của hoán dụ là “quan hệ tiếp cận, các hoán dụ mang tính chất thay thế (ẩn dụ mang tính chất so sánh), hoặc lấy bộ phận thay cho toàn thể, hoặc lấy địa điểm thay cho người sống ở địa điểm đó, hoặc lấy cái chứa đựng thay cho vật bị chứa đựng, hoặc lấy vật liệu thay cho sản phẩm, là những hình ảnh cụ thể, trực tiếp và là những cái có giá trị thay thế cho một đối tượng nhất định, nhằm chỉ định một tính chất, một đặc điểm nhất định của đối tượng Có thể cho rằng nói bằng hoán dụ là nói bằng sự lựa chọn, lựa chọn cái có khả năng thay thế tốt nhất, nói rõ nhất cho một đối tượng, hoán dụ nói bằng đặc điểm của đối tượng và khắc hoạ đặc điểm đó” [152; 83 – 84]

Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về hoán dụ, nhưng cơ bản các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng hoán dụ được xây dựng trên cơ sở cái biểu đạt (B) và cái được biểu đạt (A) đi đôi với nhau trong thực tế khách quan Có hai trường hợp xảy

ra: Một là, mối quan hệ giữa B và A là tương cận; hai là giữa B và A có mối quan hệ

bao hàm, cụ thể hơn là mối quan hệ về nguồn gốc, sự cấu thành, bản chất, số lượng

(chẳng hạn: Lấy trường hợp chung để nói về trường hợp riêng: “No xôi chán chè”, “dãi

nắng dầm sương” )

Và, tương tự ẩn dụ, hoán dụ có mặt trong cách tạo từ được gọi là hoán dụ từ vựng, hoán dụ được sử dụng như một biện pháp tu từ, để tăng tính biểu cảm trong văn chương, gọi là hoán dụ tu từ

1.2 Phân biệt so sánh tu từ, ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ

1.2.1 Phân biệt ẩn dụ tu từ và so sánh tu từ

So sánh tu từ là cách thức làm rõ đặc điểm của đối tượng A qua đối tượng B (A,

B dị loại), cả A và B đều xuất hiện trên bề mặt hiển ngôn

Năm 2009, Nguyễn Thế Lịch đã xây dựng mô hình cấu trúc so sánh (CTSS) hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố như sau [104]:

Trang 27

Yếu tố quan hệ (YTQH)

Yếu tố chuẩn (YTC)

Sự vật A Thuộc tính chung Từ ngữ so sánh Sự vật B – thuộc

tính của B

Lá phong Đỏ Như Mối tình đượm lửa

Từ mô hình cấu trúc này, có thể xây dựng 03 dạng so sánh tu từ

- So sánh tu từ có mặt cả bốn yếu tố

Ví dụ:

Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân (Ca dao)

Cấu trúc:

YTB/ĐSS: Lòng ta YTCSSS: Vững YTQH: Như YTC: Kiềng ba chân

Thuộc tính chung của YTB/ĐSS và YTC được thể hiện hiển ngôn trên bề mặt câu chữ, khả năng liên tưởng về thuộc tính giữa hai đối tượng được nói đến là hầu như rất thấp Chính vì vậy loại so sánh tu từ này được gọi tên là so sánh tu từ nổi

- So sánh tu từ vắng yếu tố cơ sở so sánh

Ví dụ:

Trẻ em như búp trên cành (Hồ Chủ tịch)

Cấu trúc:

YTB/ĐSS: Trẻ em YTQH: Như YTC: Búp trên cành

Thuộc tính chung của “trẻ em” và “búp trên cành” rõ ràng không được hiển

ngôn trên bề mặt câu chữ Người đọc sẽ phải suy nghĩ, liên tưởng để xác định nét giống nhau giữa hai đối tượng ở hai vế, từ đó nhận ra đặc điểm của đối tượng được

miêu tả là “trẻ em” Có thể có những liên tưởng như sau:

Trẻ em tươi non như búp trên cành

Trẻ em đầy sức sống như búp trên cành

Trẻ em chứa chan hy vọng như búp trên cành [dẫn theo 10; 268]

Trang 28

Theo chúng tôi, nên gọi đây là so sánh tu từ chìm thuộc tính chung, hay so

sánh tu từ vắng yếu tố cơ sở so sánh, hoặc một tên gọi khác thích hợp hơn, chứ

không nên gọi là so sánh tu từ chìm, để phân biệt rõ với ẩn dụ tu từ, còn được gọi là so

sánh ngầm, so sánh tu từ ngầm ẩn, so sánh tu từ chìm (cả tên gọi và thuộc tính của

đối tượng được biểu đạt đều nằm ở phía sau bề mặt câu chữ)

- So sánh tu từ vắng yếu tố quan hệ (như, như là, như thể, tựa…)

Ví dụ:

Ngọn triều non bạc trùng trùng (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Cấu trúc:

YTB/ĐSS: Ngọn triều YTC: Non bạc trùng trùng

Trong cấu trúc của loại so sánh tu từ này, chỉ còn lại A, B là hai yếu tố bắt buộc phải hiển ngôn trên bề mặt câu chữ của một so sánh tu từ Đối với loại so sánh này, ta

có thể khôi phục lại yếu tố quan hệ mà không làm thay đổi ý nghĩa, vị trí các yếu tố khác trong câu

- Giống như so sánh tu từ, mô hình cấu trúc của ẩn dụ tu từ có hai bộ phận: A

và B (cái được biểu đạt và cái biểu đạt) nhưng khác với so sánh, ở ẩn dụ chỉ có cái biểu đạt (đối tượng biểu hiện) B hiện diện, còn cái được biểu đạt (đối tượng được biểu hiện)

A bị giấu đi

Ví dụ:

Tằm ơi say đắm nơi đâu,

Mà tằm bỏ nghĩa cành dâu không nhìn

(Ca dao) Cấu trúc của hai ẩn dụ trong câu ca dao trên lần lượt là:

Trang 29

Tóm lại, theo quan niệm truyền thống, nhìn chung các nhà Việt ngữ học đều

thống nhất trong cách hiểu ẩn dụ tu từ là sự thay thế tên gọi, là phép chuyển nghĩa tu từ dựa trên sự tương đồng, sự giống nhau giữa các đối tượng được nói đến và ẩn dụ tu từ

là so sánh ngầm, một kiểu loại đặc biệt của so sánh tu từ

1.2.2 Phân biệt hoán dụ tu từ và ẩn dụ tu từ

Về mặt hình thức cấu trúc, biện pháp hoán dụ tu từ cũng như ẩn dụ tu từ chỉ phô bày một vế: Chỉ có vế biểu hiện là xuất hiện trên văn bản, còn vế kia – vế được biểu hiện – bị che lấp đi

Về mặt nội dung, hoán dụ tu từ được hình thành dựa trên cơ sở liên tưởng về mối quan hệ lô gích khách quan (quan hệ tương cận; quan hệ bao hàm, cụ thể là quan

hệ về nguồn gốc, sự cấu thành, bản chất, số lượng) giữa đối tượng biểu hiện và đối tượng được biểu hiện Nói cách khác, nếu ẩn dụ tu từ đem đến hình ảnh mới, nhận thức mới về đối tượng này bằng một đối tượng khác khác xa với nó trong thực tế khách quan thì hoán dụ tu từ đem đến nhận thức mới, cách diễn đạt mới về đối tượng này bằng một đối tượng khác có mối liên hệ lô gích khách quan với chính nó

Như vậy, do cơ chế chuyển nghĩa khác nhau nên các hình ảnh được dùng làm biểu trưng trong hoán dụ khác với ẩn dụ Mọi sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan đều có thể trở thành chất liệu biểu trưng của ẩn dụ nếu người ta phát hiện ra nét tương đồng giữa nó với cái được biểu đạt Trong khi đó, với hoán dụ, sự lựa chọn chất liệu biểu trưng bị giới hạn trong mối quan hệ lô gích khách quan với cái được biểu đạt

Trang 30

Bảng 1.1 Phân biệt hoán dụ tu từ và ẩn dụ tu từ

Phân biệt hoán dụ tu từ

và ẩn dụ tu từ Hoán dụ tu từ Ẩn dụ tu từ

Vai trò - Hai phương thức tu từ quan trọng bậc nhất của ngôn

ngữ thơ

Bản chất - Cùng là sự chuyển đổi tên gọi (lấy B để gọi A)

- Cùng dựa trên cơ sở liên tưởng

Hình thức - Chỉ phô bày B Còn đối tượng đích thực được ẩn giấu,

người đọc phải tự tìm ra

Tính chất - Lâm thời (ý nghĩa được xác định trong ngữ cảnh)

Cơ sở liên tưởng

- Quan hệ tương cận giữa B

và A

- Quan hệ bao hàm giữa B

và A; cụ thể là B và A có mối quan hệ với nhau về nguồn gốc, bản chất, sự cấu thành, số lượng

Quan hệ tương đồng giữa

Trên thực tế, không phải bao giờ ẩn dụ và hoán dụ cũng tách bạch một cách rạch ròi Vì mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng khách quan vốn vô cùng phức tạp, những mối quan hệ ấy được cảm nhận trong mối tương quan với thế giới tâm lý của con người, và phản ánh trong tác phẩm văn chương lại càng trở nên đa chiều Jakobson

đã khẳng định: “Mọi ẩn dụ đều phảng phất tính hoán dụ và mọi hoán dụ đều có ít nhiều tính cách ẩn dụ”

Trang 31

Có một thực tế là vấn đề gây nên tranh cãi gay gắt nhất hầu như không bao giờ rơi vào việc giải mã một cách diễn đạt tu từ nào đó khi nó được xác định là được diễn đạt theo cơ chế liên tưởng của ẩn dụ hoặc hoán dụ; mà trung tâm nhức nhối của việc tranh cãi luôn rơi vào việc phân định cách diễn đạt đó thuộc về phương thức tu từ nào trong hai phương thức tu từ trên

Chẳng hạn trường hợp “hoa” chỉ “tình yêu” Nếu xuất phát từ quá trình giải

nghĩa, đem các thuộc tính của hoa để làm rõ các thuộc tính của tình yêu (đẹp như

hoa, thơ mộng như hoa, đáng yêu như hoa) thì nó sẽ được xếp vào ẩn dụ Nếu xuất

phát từ góc nhìn khác, xem hoa là cái thuộc về tình yêu trong thực tế khách quan, một

nhành hoa, một bó hoa (hiểu với nghĩa đen) là lễ vật của tình yêu mỗi khi gặp người ấy vào cuối tuần, thì đơn vị ta đang xét thuộc về hoán dụ Tuy nhiên, trên thực tế, đối với

đơn vị tu từ “hoa”, cơ sở khách quan đã trình bày không đủ mạnh để nó được xếp vào

hoán dụ Và hầu như tất cả mọi người đều không băn khoăn xếp nó vào ẩn dụ, khi phát hiện nó là đơn vị tu từ

Vấn đề trung tâm của việc phân biệt ẩn dụ, hoán dụ tu từ nằm ở những trường

hợp như: “Được chim quên ná, được cá quên nơm”; “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”… Để

góp phần làm sáng tỏ vấn đề rắc rối này, sau đây, chúng tôi sẽ đi vào phân tích một

trường hợp cụ thể là “Được chim quên ná, được cá quên nơm”

Tầng nghĩa biểu trưng của đơn vị “Được chim quên ná, được cá quên nơm” cơ bản được hiểu thống nhất là chỉ “hạng người vô ơn bạc nghĩa” Nhưng xếp nó vào cơ

chế tu từ nào lại là vấn đề vẫn đang gây tranh cãi Có thể thấy, xuất phát từ việc nhấn

mạnh thuộc tính “tương tự” nằm trong quá trình giải nghĩa: Kẻ nào đó có thái độ, có cách hành xử giống như là được chim quên ná, được cá quên nơm; đạt mục đích rồi

(được chim, được cá) quên mất nhờ ai (ná, nơm) mình đạt được mục đích của mình; thì

nó được xếp vào ẩn dụ (dựa trên mối liên tưởng tương đồng, dựa trên sự tương tự)

Còn xuất phát từ việc xem quá trình giải nghĩa đó dựa vào mối liên hệ khách quan, có

thực (ná và nơm vốn là những phương tiện để con người có thể bắt được chim, được

cá), có cùng bản chất, nguồn gốc, sự cấu thành, số lượng, thì nó được xếp vào hoán dụ

Điều này cho thấy, nguyên nhân của sự bất đồng quan điểm chính là nằm ở thao

tác đưa những đơn vị như vậy về phạm trù nào, nếu xuất phát từ “sự tương tự” trong

Trang 32

quá trình giải mã thì chúng sẽ thuộc ẩn dụ, còn nếu dựa vào cơ sở “±lô gích thực tế

khách quan” để xếp loại thì chúng sẽ thuộc về hoán dụ Nhưng rõ ràng ở đây vừa có

“sự tương tự”, vừa có cơ sở lô gích thực tế khách quan

Đối với trường hợp “Thuyền ơi có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng

đợi thuyền” ta cũng không ngần ngại xếp vào ẩn dụ (thường gọi là nhân hoá, nhưng

xuất phát từ góc nhìn của người tạo lập, chúng tôi xếp nó vào vật hoá) Nhưng nếu có

ai đó căn cứ vào thực tế khách quan là cây đa, bến nước, con đò vốn gắn bó mật thiết với đời sống của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ xưa, nơi câu ca dao ra đời, để quy

nó về hoán dụ (với lý lẽ là trên thực tế khách quan, có thể là chàng trai ở trên chiếc thuyền đã đi xa, cô gái ngồi ở bến nước đợi chờ, ngóng trông), thì cũng không phải là điều dễ dàng hoàn toàn bác bỏ được

Có rất nhiều trường hợp khác nữa, tương tự như những trường hợp trên Chẳng

hạn: Dãi nắng dầm sương, dãi nắng dầm mưa, trăng gió, trăng hoa…

Vậy, phải giải quyết như thế nào cho thoả đáng? Chúng tôi cho rằng hai cặp tiêu chí để phân biệt ẩn dụ và hoán dụ “tương tự, tương đồng” / “tương cận, bao hàm”;

“chủ quan / lô gích thực tế khách quan” là chỉ có giá trị tương đối, không phải là thước

đo bất biến, duy nhất trong mọi trường hợp Nguyên nhân nằm trong bản chất của những mối liên hệ phức tạp, đa chiều; vừa độc lập, vừa giao thoa, xuyên thấm giữa các yếu tố vật chất và tinh thần của thế giới Bên cạnh đó, các yếu tố tinh thần, thực chất, đều có cơ sở từ thực tế khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan, nảy sinh từ thực tế khách quan, xây dựng trên thực tế khách quan Nói cách khác, khách quan mà con người trình bày, ghi nhận, phản ánh trong ngôn ngữ, bằng ngôn ngữ bao giờ cũng là

khách quan trong sự nhận thức của con người, có được từ sự tương tác giữa con

người với thế giới Thừa nhận thực tế này, có nghĩa là thừa nhận rằng ranh giới giữa ẩn

dụ và hoán dụ không phải bao giờ cũng là một ranh giới hoàn toàn rõ ràng, tách bạch Vậy, khi gặp phải những trường hợp lằn ranh biên giới giữa ẩn dụ và hoán dụ không rõ ràng, thì ngoài hai tiêu chí cơ bản trên, phải xuất phát từ tiêu chí khác để phân định chúng, chẳng hạn, từ ý nghĩa thiết thực của việc phân định đó đối với thực tiễn nghiên cứu

Trang 33

Quan điểm trên là cơ sở, nền tảng để chúng tôi phân định những trường hợp vừa

có thể thuộc về ẩn dụ tu từ, vừa có thể thuộc về hoán dụ tu từ trong Truyện Kiều, chẳng hạn như các đơn vị màu quan san, màu quan tái

1.3 Phân loại ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ

Xuất phát từ các tiêu chí khác nhau, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra các cách phân loại ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ khác nhau

1.3.1 Phân loại ẩn dụ tu từ

Dựa trên cơ sở của ẩn dụ là sự liên tưởng tương đồng, Cù Đình Tú phân loại ẩn

dụ dựa trên những nét giống nhau giữa vế A và vế B của ẩn dụ Theo ông, những nét

tương đồng thường được dùng để cấu tạo nên ẩn dụ là: Tương đồng về màu sắc, tương

đồng về tính chất, tương đồng về trạng thái, tương đồng về hành động, tương đồng về

cơ cấu [10]

Nguyễn Thái Hoà (2002) đã chia các phương tiện và biện pháp tu từ ngữ nghĩa

thành 3 tiểu nhóm: Nhóm so sánh tu từ, nhóm ẩn dụ tu từ và nhóm hoán dụ tu từ, mỗi nhóm lại có một phương thức tiêu biểu Trong đó, ẩn dụ là phương thức tiêu biểu của nhóm ẩn dụ tu từ Ngoài ra, trong nhóm ẩn dụ tu từ còn có ẩn dụ bổ sung và ẩn dụ

tượng trưng, nhân hoá và vật hoá, phúng dụ [24; 193 – 203]

Cù Đình Tú – Lê Anh Hiền – Nguyễn Thái Hoà – Võ Bình (1982) chia ẩn dụ ra

thành: Ẩn dụ, ẩn dụ tượng trưng, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác [11]

Đinh Trọng Lạc, trong quyển “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” [23; 52 – 60] đề cập đến ẩn dụ, ẩn dụ bổ sung và ẩn dụ tượng trưng ở ba mục riêng

biệt Trong đó, ẩn dụ có hai cách phân loại

Thứ nhất là căn cứ vào từ loại và chức năng của từ ẩn dụ, ẩn dụ được chia thành

ẩn dụ định danh, ẩn dụ nhận thức và ẩn dụ hình tượng Ẩn dụ định danh và ẩn dụ nhận

thức thuộc ẩn dụ từ vựng; còn ẩn dụ hình tượng chính là ẩn dụ tu từ

Thứ hai là căn cứ vào những đặc điểm về ngữ nghĩa, ẩn dụ được chia thành 2

loại: Một là loại ẩn dụ mang “thông báo hoặc kinh nghiệm thực tế hàng ngày của một

Trang 34

tập thể ngôn ngữ” (ví dụ: biển lúa, biển lửa, biển sương mù dày đặc…) hoặc “về kiến thức văn hoá – lịch sử của nó” (ví dụ: sở dĩ cặp hình ảnh “thuyền – bến” trong câu ca

dao: “Thuyền về có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” được lựa

chọn để thể hiện tâm tình của kẻ ở đối với người đi vì hình ảnh cây đa, bến nước, con

đò gắn bó, ăn sâu vào tâm thức của người Việt Hai là loại ẩn dụ gắn với cách nhìn của

cá nhân về thế giới, chỉ sau khi đọc toàn bộ nội dung của cả một câu, một đoạn, ta mới

có căn cứ chắc chắn để xác định nội dung ý nghĩa mà ẩn dụ đó biểu thị Chẳng hạn, để

xác định được ý nghĩa của ẩn dụ tu từ “bừng nắng hạ” là sự sáng suốt, minh mẫn của tinh thần, trí tuệ; ẩn dụ tu từ “Mặt trời chân lý chói qua tim” biểu thị lý tưởng cách

mạng chiếu rọi làm tâm hồn trở nên sảng khoái, ta phải đọc cả đoạn thơ:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,

Mặt trời chân lý chói qua tim,

Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Đào Thản chia ẩn dụ tu từ thành 4 loại: Ẩn dụ thay cho đối tượng, ẩn dụ thay

cho hoạt động, động tác; ẩn dụ thay cho tính chất; ẩn dụ thay cho cả ý [20; 107]

Nguyễn Đức Tồn [83] chia ẩn dụ thành: Ẩn dụ sự vật, ẩn dụ hoạt động, ẩn dụ

tính chất, ẩn dụ sự tình Cách phân loại của Nguyễn Đức Tồn cơ bản giống với cách

phân loại của Đào Thản

Trong công trình “So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình của người Việt (Dưới

góc nhìn ngôn ngữ – văn hoá học)”, Hoàng Kim Ngọc phân loại ẩn dụ tu từ dựa vào

hai hệ tiêu chí: Đặc điểm hình thái – cấu trúc của ẩn dụ tu từ và đặc điểm ngữ nghĩa của ẩn dụ tu từ [46]

Thứ nhất, dựa vào đặc điểm hình thái – cấu trúc của ẩn dụ tu từ, tác giả chia ẩn

dụ thành hai loại lớn: Ẩn dụ tu từ có hình thái – cấu trúc là từ ngữ, ẩn dụ tu từ có hình

thái – cấu trúc là phát ngôn – câu Trong ẩn dụ tu từ có hình thái – cấu trúc là từ ngữ,

có: Ẩn dụ tu từ có hình thái cấu trúc là từ (danh từ, động từ, tính từ), ẩn dụ tu từ có hình thái cấu trúc là ngữ (ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ) Trong ẩn dụ tu từ có hình thái – cấu trúc là câu, có: Ẩn dụ tu từ có hình thái – cấu trúc là câu đơn, ẩn dụ tu

từ có hình thái – cấu trúc là câu phức

Trang 35

Thứ hai, dựa vào đặc điểm ngữ nghĩa của ẩn dụ tu từ, tác giả tiến hành phân loại

ẩn dụ tu từ theo nghĩa gốc và phân loại ẩn dụ tu từ theo nghĩa biểu trưng Theo nghĩa

gốc, có ẩn dụ tu từ là từ ngữ thuộc trường từ vựng – ngữ nghĩa biểu thị thế giới tự nhiên (với 03 tiểu trường: Hiện tượng tự nhiên, động vật, thực vật), ẩn dụ tu từ là từ ngữ thuộc trường từ vựng – ngữ nghĩa biểu thị thế giới con người (với 02 tiểu trường: Người và nhân vật huyền thoại, nhân vật được điển hình hoá trong thơ văn; vật thể nhân tạo) Theo nghĩa biểu trưng (nghĩa ẩn dụ hoá), có 02 loại: Ẩn dụ tu từ biểu thị các nhân vật trữ tình (ẩn dụ tu từ biểu thị các nhân vật trữ tình đơn lẻ, ẩn dụ tu từ biểu thị các nhân vật trữ tình sóng đôi) và ẩn dụ tu từ biểu thị thế giới nội tâm của các nhân vật trữ tình

Bên cạnh đó, dựa vào tiêu chí nguồn gốc của ẩn dụ tu từ trong tác phẩm văn

chương, ta có thể phân chia ẩn dụ tu từ thành: Ẩn dụ tu từ có nguồn gốc từ điển cố, ẩn

dụ tu từ có nguồn gốc từ ca dao, ẩn dụ tu từ là sáng tạo của riêng tác giả…

Tóm lại, dựa trên những tiêu chí khác nhau, có thể có rất nhiều cách phân loại

ẩn dụ tu từ khác nhau

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi phân chia ẩn dụ tu từ thành bốn nhánh: Nhánh nhân hoá và vật hoá, nhánh ẩn dụ điển cố, nhánh ẩn dụ màu sắc, nhánh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (ẩn dụ bổ sung) Trong nhánh nhân hoá và vật hoá, thì nhân hoá

và vật hoá là loại ẩn dụ tu từ cơ sở, chi phối các loại ẩn dụ còn lại: Ẩn dụ tính chất, ẩn

dụ hành động, ẩn dụ trạng thái, ẩn dụ cơ cấu, ẩn dụ tượng trưng và phúng dụ

Trang 36

Lược đồ 1.1 Lược đồ phân loại ẩn dụ tu từ

Cơ sở để chúng tôi đưa ra cách phân loại trên chính là xem nhân hoá và vật hoá

là cơ sở, nền tảng, điểm xuất phát, khởi đầu của các loại ẩn dụ tính chất, ẩn dụ hành động, ẩn dụ trạng thái, ẩn dụ cơ cấu, ẩn dụ tượng trưng, phúng dụ Quan điểm này sẽ được chúng tôi tiếp tục trình bày, chứng minh, làm rõ trong phần nội dung của luận văn Còn ẩn dụ điển cố, ẩn dụ màu sắc, ẩn dụ bổ sung (B, A đều thuộc cảm giác của con người), do đặc trưng riêng, chúng tôi xếp vào ba nhánh riêng biệt

Truyện Kiều là một truyện thơ trữ tình, nên nó không phải là một phúng dụ Truyện Kiều là một tác phẩm thuộc văn học trung đại, hệ thống ẩn dụ của Truyện Kiều

có một số lượng lớn là điển cố Vì vậy, nghiên cứu hệ thống ẩn dụ trong Truyện Kiều,

chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát các loại ẩn dụ sau: Nhân hoá và vật hoá, ẩn dụ tính chất,

ẩn dụ hành động, ẩn dụ trạng thái, ẩn dụ cơ cấu, ẩn dụ tượng trưng, ẩn dụ điển cố, ẩn

dụ màu sắc, ẩn dụ bổ sung

ẨN DỤ (AD) TU TỪ

AD chuyển đổi cảm giác (AD bổ sung)

AD

cơ cấu

AD tượng trưng

Nhân hoá và

vật hoá

AD màu sắc

Phúng

dụ

AD điển cố

Trang 37

1.3.2 Phân loại hoán dụ tu từ

Về mặt lý thuyết, nếu có bao nhiêu mối quan hệ lô gích khách quan là có bấy nhiêu khả năng cấu tạo nên biện pháp hoán dụ Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ có một số mối quan hệ lô gích khách quan thường được sử dụng làm cơ sở để xây dựng hoán dụ [10]

Trong các công trình khác nhau, số lượng các mối quan hệ lô gích khách quan thường được sử dụng làm cơ sở để xây dựng hoán dụ mà các nhà Việt ngữ học xác định là không giống nhau

Chẳng hạn, trong “Giáo trình từ vựng học tiếng Việt” Đỗ Hữu Châu nêu ra 15 loại hoán dụ: Hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận – toàn thể; hoán dụ dựa trên quan hệ

vật chứa – vật bị chứa, hoán dụ dựa trên quan hệ nguyên liệu và sản phẩm được chế tạo

từ nguyên liệu; hoán dụ dựa trên quan hệ đồ dùng, dụng cụ với người sử dụng; hoán dụ dựa trên quan hệ dụng cụ – ngành nghề, hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa và lượng chất được chứa đựng, hoán dụ dựa trên quan hệ cơ quan chức năng và chức năng, hoán

dụ dựa vào quan hệ giữa tư thế cụ thể và nguyên nhân của tư thế, hoán dụ dựa vào âm thanh để gọi tên động tác, hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và sản phẩm được tạo ra do hoạt động đó, hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và công cụ, hoán dụ dựa trên quan hệ giữa động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình sản xuất, hoán dụ dựa vào quan hệ nguyên liệu và hoạt động dùng nguyên liệu đó, hoán dụ dựa trên quan hệ sự vật và màu sắc, hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tính chất của sự vật và bản thân sự vật [28]

Còn trên kết quả khảo sát 1232 từ và thành ngữ có nghĩa hoán dụ, Nguyễn Hữu

Chương đã chia hoán dụ thành 66 loại: Hành động – sản phẩm (gói), hành động – đơn

vị khối lượng (gánh – gánh lúa), động tác – đồ dùng (bào, cưa), gọi theo quan hệ tôn ti trong gia đình (anh, chị), chủng – loại (xe – xe máy, xe đạp), loại – chủng (xe Honda –

xe máy), địa điểm – sự kiện (một (Điện Biên)); cơ quan, chợ búa – chức năng (chạy chợ); địa danh, địa điểm – phẩm chất ((người) nhà quê)), vị trí – dòng họ (nội, ngoại),

hướng – tên vùng đất ((miền) Bắc)); thời gian sống chỉ thế hệ ((ba) đời)); thời gian sống chỉ người ngoại đạo (bên đạo bên đời); thời gian sống chỉ thời gian giữ ngôi vua (đời (Trần)), thời gian sống chỉ tuổi nghề (đời (viết văn))… [87]

Trang 38

Nguồn ngữ liệu các tác giả trên đây khảo sát là hoán dụ từ vựng, nhưng chúng tôi đã điểm qua những cách phân loại trên, vì xuất phát từ một thực tế là khả năng nhận diện tốt hoán dụ từ vựng cũng sẽ giúp ích không nhỏ trong việc nhận diện, phân loại hoán dụ tu từ

Trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt hiện đại”, Hữu Đạt nêu 04 loại hoán dụ

tu từ có cơ sở từ 04 loại quan hệ lô gích khách quan: Quan hệ giữa bộ phận và toàn thể, quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận, quan hệ giữa cái chứa đựng và cái được chứa đựng, quan hệ giữa sự vật và đặc điểm sự vật [55]

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi không đi vào tìm hiểu tất cả các loại hoán dụ mà các nhà Việt ngữ học đã nêu ra trong các công trình của mình, mà chỉ tập

trung tìm hiểu những hoán dụ tu từ xuất hiện trong Truyện Kiều Các loại hoán dụ tu từ

này sẽ được chúng tôi làm rõ ở chương 3

1.4 Các cấp độ của ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ

Văn học nói bằng hình tượng và thông qua hình tượng Hình tượng có ở các cấp

độ: Từ, câu, đoạn, văn bản, liên văn bản Ẩn dụ và hoán dụ tu từ là hai phương thức

xây dựng hình tượng, thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm Vậy, có thể nói rằng các cấp

độ của ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ là tương ứng với các cấp độ của hình tượng Chính vì vậy, yêu cầu quan trọng đặt ra cho một người nghiên cứu ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ

là tuy khởi đầu tìm hiểu, phân tích những đơn vị ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ cụ thể, rời rạc trong tác phẩm, nhưng cuối cùng phải tìm ra mối liên hệ, sức mạnh tổng hợp của hệ thống ẩn dụ, hoán dụ tu từ trong việc xây dựng hình tượng, thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm Đó chính là con đường biện chứng khám phá mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của phương thức tu từ trong tác phẩm văn chương

Trang 39

Lược đồ 1.2 Các cấp độ ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ trong tác phẩm văn chương

Lược đồ trên cho thấy, ẩn dụ, hoán dụ xuyên thấm qua nhiều cấp độ ngôn ngữ khác nhau Từ các thành tố thuộc bậc dưới câu, câu, đến các thành tố thuộc bậc trên câu Các ẩn dụ, hoán dụ ở cấp độ cao hơn, phải được lý giải bằng hệ thống các ẩn dụ, hoán dụ ở cấp độ thấp hơn

1.5 Tác dụng của ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ

1.5.1 Tác dụng của ẩn dụ tu từ

Về tác dụng, vai trò của ẩn dụ trong văn phong, Aristotle phát biểu: “Từ ẩn dụ

trong thơ và văn xuôi đều chiếm vị trí vô cùng đặc biệt”, “sử dụng ẩn dụ, dùng những

từ ngữ bình dị, không kiểu cách, thể hiện một cách viết cô đọng, thanh lịch, tao nhã nhưng không rơi vào vô vị, nhàm chán” [dẫn theo 146; 64 – 74] Nói cách khác, ẩn dụ

đem lại khả năng diễn đạt tinh tế, sâu sắc hơn

Cù Đình Tú cho rằng: Ẩn dụ tu từ “vừa là công cụ diễn đạt để bày tỏ tình cảm,

đồng thời vừa là công cụ thể hiện sự nhận thức sâu sắc về đối tượng” [10; 287]

Đào Thản (2006) trong “Một sợi rơm vàng 2” nhận xét: Ẩn dụ tu từ có tác dụng làm cho sự diễn đạt “vừa rõ ý vừa kín đáo, làm tăng cường ý nghĩa thẩm mỹ, tăng

cường sức mạnh biểu hiện của câu văn”, nhờ ẩn dụ mà “ngôn ngữ trở nên bóng bẩy, giàu hình tượng và hàm súc”, ẩn dụ “có tác dụng làm cho ngôn ngữ trở nên sinh động, hấp dẫn” [20; 110 – 113]

Trong “Phong cách học tiếng Việt hiện đại”, Hữu Đạt nhấn mạnh: “Nói tới ẩn

dụ là nói tới năng lực nhận thức” [55; 370]

Hình tượng (ẩn dụ, hoán dụ…)

Trang 40

1.5.2 Tác dụng của hoán dụ tu từ

Theo tác giả Lê Anh Hiền: “Chức năng chủ yếu của hoán dụ tu từ là nhận thức

Nó khắc sâu đặc điểm là tiêu biểu cho đối tượng được miêu tả” [152]

Trong giáo trình “Phong cách học tiếng Việt”, Nguyễn Thái Hoà nêu hai chức năng của hoán dụ là “dẫn xuất” và “miêu tả” [24]

Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ” cho rằng: Hai chức năng của hoán dụ là “nhận thức” và “biểu cảm – cảm xúc” [23]

Các tác giả của công trình “Phong cách học – thực hành tiếng Việt” giải thích

cụ thể: “Vì có tính chất hình ảnh nên hoán dụ còn làm tăng những giá trị biểu cảm Nó

có thể thay thế cho những khái niệm trừu tượng và nói những điều phức tạp, sâu xa bằng cái giản đơn dễ nhận ra” Ví dụ: Trái tim lầm chỗ để lên đầu (Tố Hữu) [152; 84]

Mai Thị Kiều Phượng nhấn mạnh: “Hoán dụ tu từ luôn luôn có giá trị hình

tượng Nó là phương tiện ngôn ngữ mà chúng ta dùng để xây dựng hình tượng, làm cho hình tượng có tính cụ thể và mang sức mạnh biểu cảm Vì vậy, hoán dụ tu từ có giá trị miêu tả, gợi cảm cao Hoán dụ tu từ còn thể hiện tính sáng tạo và phong cách của người tạo lập” [74; 700]

Như vậy, đã có nhiều nhà ngôn ngữ học cố gắng tìm hiểu, xác định tác dụng, vai trò của ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ đối với ngôn ngữ văn chương Tuy nhiên, vì cách tiếp cận có phần tách biệt, nên đã chưa cho phép thấy rõ tác dụng của ẩn dụ tu từ và hoán

dụ tu từ trong mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau trong cùng một hệ thống chỉnh thể là tác phẩm văn chương, phong cách văn chương (tác giả, trào lưu, thời đại, dân tộc)

Thực hiện đề tài này là cơ hội để chúng tôi có thể nhận rõ tác dụng của mỗi phương thức tu từ và tác dụng tổng hợp của hai phương thức tu từ này đối với việc thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm, từ đó đánh giá vai trò của chúng trong việc tạo nên thành công của tác phẩm

Tiếp thu thành tựu của những người đi trước, chúng tôi hệ thống lại các tác dụng chung của ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ như sau:

- Cô đọng, ngắn gọn, súc tích

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bằng Giang (1997), Tiếng Việt phong phú, Nxb Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt phong phú
Tác giả: Bằng Giang
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1997
2. Bùi Khánh Thế (2009), “Chiều sâu tư tưởng và văn hoá qua các ẩn dụ trong ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Ngôn ngữ, số 09, tr. 10 – 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiều sâu tư tưởng và văn hoá qua các ẩn dụ trong ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Bùi Khánh Thế
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 2009
3. Bùi Minh Toán (1999), Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
4. Bùi Minh Toán (2011), “Kiểm định những đặc tính của chất liệu ngôn ngữ chi phối nghệ thuật văn chương”, Ngôn ngữ, số 04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định những đặc tính của chất liệu ngôn ngữ chi phối nghệ thuật văn chương
Tác giả: Bùi Minh Toán
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 2011
5. Bửu Kế (1993), Tầm nguyên từ điển: Cổ văn học từ ngữ tầm nguyên, Nxb Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm nguyên từ điển: Cổ văn học từ ngữ tầm nguyên
Tác giả: Bửu Kế
Nhà XB: Nxb Tp HCM
Năm: 1993
6. Cao Xuân Hạo (2003), Tiếng Việt – văn Việt – người Việt, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – văn Việt – người Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
7. Cao Xuân Hạo (2003), Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm – ngữ pháp – ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm – ngữ pháp – ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
8. Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng (2005), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu Anh – Việt, Việt – Anh, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu Anh – Việt, Việt – Anh
Tác giả: Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2005
9. Chu Bích Thu (1994), “Cơ sở lôgic – ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh và lối ẩn dụ trong thơ và ca dao”, Văn hoá dân gian, số 46, tr. 70 – 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lôgic – ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh và lối ẩn dụ trong thơ và ca dao
Tác giả: Chu Bích Thu
Năm: 1994
10. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ học tiếng Việt, Nxb ĐH và THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ học tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1983
11. Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hoà, Võ Bình (1982), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hoà, Võ Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1982
12. Đặng Diệu Trang (2006), “Thiên nhiên với thế giới nghệ thuật ẩn dụ và biểu tượng trong ca dao dân ca”, Văn hoá dân gian, số 01, tr. 15 – 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên nhiên với thế giới nghệ thuật ẩn dụ và biểu tượng trong ca dao dân ca
Tác giả: Đặng Diệu Trang
Nhà XB: Văn hoá dân gian
Năm: 2006
13. Đặng Thanh Lê (2002), Giảng văn Truyện Kiều, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn Truyện Kiều
Tác giả: Đặng Thanh Lê
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
14. Đặng Thị Thu Hiền (2011), “Ý nghĩa biểu trưng của gió (phong) và các biểu thức chứa gió trong Truyện Kiều”, Ngôn ngữ, số 10, tr. 75 – 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa biểu trưng của gió (phong) và các biểu thức chứa gió trong Truyện Kiều
Tác giả: Đặng Thị Thu Hiền
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 2011
15. Đào Duy Anh (1958), Khảo luận Truyện Kiều, Nxb Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận Truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1958
16. Đào Duy Anh (1987), Từ điển Truyện Kiều, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1987
17. Đào Duy Hiệp (2008), “Ngôn ngữ và nhà thơ”, Ngôn ngữ và Đời sống, số 01 + 02, tr. 70 – 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và nhà thơ
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Năm: 2008
18. Đào Thản (1966), “Đi tìm một vài đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều”, Văn học, số 01, tr. 67 – 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm một vài đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật "Truyện Kiều
Tác giả: Đào Thản
Năm: 1966
19. Đào Thản (1998), Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật
Tác giả: Đào Thản
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1998
20. Đào Thản (2006) Một sợi rơm vàng 2, Nxb. Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sợi rơm vàng 2
Nhà XB: Nxb. Trẻ

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w