Những nghiên cứu gần đây về ẩn dụ, nhất là tại Âu châu và Bắc Mỹ, dẫn đến một sự thay đổi cơ bản về nghĩa học khi ẩn dụ không chỉ là hình thái ngôn ngữ như quan điểm của ngôn ngữ học tr
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ẨN DỤ DƯỚI GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHAN TH Ế HƯNG
ẨN DỤ DƯỚI GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
(TRÊN C Ứ LIỆU TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT)
LU ẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LU ẬN NGÔN NGỮ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS HOÀNG DŨNG PGS TS BÙI M ẠNH HÙNG
Ồ CHÍ MINH – 2009
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả trình bày trong luận án là kết quả tự nghiên cứu của bản thân, không sao chép từ bất kỳ công trình nào có trước cùa người khác
Người viết luận án
Phan Thế Hưng
Trang 4
M ỘT SỐ QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
1 Các bảng biểu và hình vẽ sơ đồ minh họa được đánh số thứ tự không theo đề mục mà theo thứ tự từ nhỏ đến lớn trong toàn bộ luận án
2 Các ví dụ ngữ liệu minh họa in bằng kiểu chữ in nghiêng với kích thước phông chữ nhỏ hơn so với kích thước phông chữ chung của luận án
3 Để tiện trình bày và theo dõi, các ví dụ được đánh số thứ tự không theo đề mục mà theo
thứ tự từ nhỏ đến lớn trong tòan bộ luận án
4 Trong khi đối chiếu ngữ liệu Anh và Việt, dấu ngoặc vuông [ ] để chỉ dịch sát nghĩa để đối chiếu, không phải là dịch Anh- Việt hay Việt-Anh
5 Từ viết tắt: NNHTN= ngôn ngữ học tri nhận, CMA = critical metaphor analysis
6 Đối với một số thuật ngữ tiếng Việt có chua thêm tiếng Anh trong ngoặc đơn để người đọc tham khảo
Trang 5
M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 3
M ỘT SỐ QUY ƯỚC TRÌNH BÀY 4
M ỤC LỤC 5
D ẪN NHẬP 9
0.1 Gi ới thiệu chung về đề tài 9
0.1.1 Ng ữ nghĩa học tri nhận 9
0.1.2 Ẩn dụ trong ngữ nghĩa học tri nhận 11
0.2 M ục tiêu của đề tài 14
0.3 Nhi ệm vụ của đề tài 15
0.4 Ý nghĩa của đề tài 16
0.5 Phương pháp nghiên cứu 16
0.5.1 Phân tích ẩn dụ phê phán (Critical Metaphor Analysis-CMA) 16
0.5.2 Phân tích đối chiếu (contrastive analysis) 19
0.5.3 M ột sổ thủ pháp cơ bản trong phương pháp nghiên cứu 20
0.7 C ấu trúc của luận án 21
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ẨN DỤ VÀ ẨN DỤ Ý NIỆM 23
1.1 M ột số quan điểm cỗ điển cơ bản về ẩn dụ 23
1.1.1 Quan điểm thay thế (substitution view) 23
1.1.2 Quan điểm tương tác (Interaction view) 24
1.2 Các khái ni ệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm 25
1.2.1 Tính nghi ệm thân (embodiment) 25
1.2.2 Thuy ết điển dạng (prototype theory) 28
1.2.4 Thuy ết ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) 37
Trang 61.3 Các mi ền nguồn và miền đích thông dụng 43
1.3.1 Các mi ền nguồn thông dụng 43
1.3.2 Các mi ền đích thông dụng 49
1.4 Mô hình hai mi ền và mô hình bốn không gian tâm trí 54
1.5 Khái quát v ề các loại cơ bản của ẩn dụ ý niệm 57
1.5.1 Ẩn dụ cấu trúc (struuctural metaphors) 58
1.5.3 Ẩn dụ định hướng (orientational metaphor) 60
1.6 Ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ học Việt Nam 61
1.6.1 Ẩn dụ 61
1.6.2 Ẩn dụ ý niệm 63
CHƯƠNG 2: ẨN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC 65
2.1 Ngôn ng ữ của cảm xúc 65
2.2 Ẩn dụ giận dữ 66
2.2.1 Ẩn dụ giận dữ trong tiếng Anh 66
2.2.2 Ẩn dụ giận dữ trong tiếng Việt 70
2.3 Ẩn dụ vui sướng 76
2.3.1 Ẩn dụ vui sướng trong tiếng Anh 76
2.3.2 Ẩn dụ vui sướng trong tiếng Việt 81
2.4 Mô hình tri nh ận của các ẩn dụ cảm xúc 83
2.5 Ti ểu kết 89
CHƯƠNG 3: ẤN DỤ Ý NIỆM CẤU TRÚC SỰ KIỆN 92
3.1 Ngôn ng ữ của cấu trúc sự kiện 92
3.2 Ẩn dụ cấu trúc sự kiện trong tiếng Anh 92
3.2.1 D ạng địa đỉểm 93
3.2.2 D ạng sự vật 104
Trang 73.3 Ẩn dụ cấu trúc sự kiện trong tiếng Việt 108
3.3.1 D ạng địa điểm 108
3.3.2 D ạng sự vật 122
3.4 Ti ểu kết 124
CHƯƠNG 4: ẨN DỤ Ý NIỆM THỜI GIAN 126
4.1 Ẩn dụ bản thể ý miệm thời gian 126
4.1.1 TH ỜI GIAN LÀ VẬT CHỨA 126
4.1.2 TH ỜI GIAN LÀ THỨ CÓ GIÁ TRỊ 128
4.1.3 TH ỜI GIAN LÀ NGƯỜI 131
4.2 Ẩn dụ cấu trúc ý niệm thời gian 132
4.2.1 Ẩn dụ hóa thời gian qua không gian 133
4.2.2 M ột vài nhận xét qua hai ẩn dụ thời gian chuyển động và chủ thể chuyển động 142
4.3 Ti ểu kết 150
K ẾT LUẬN 152
1 Ẩn dụ ý niệm bao hàm các đặc điểm sau: 153
2 Ý nghĩa thuyết nghiệm thân trong ẩn dụ ý niệm 153
3 M ối quan hệ giữa ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ngôn từ 154
4 M ột số vấn đề cần nghiên cứu thêm trong ẩn dụ ý niệm 154
4.1 Tính ph ổ quát và biến thể trong ẩn dụ ý niệm 154
4.2 Quan h ệ giữa ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm 155
DANH M ỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 157
TÀI LI ỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 158
TI ẾNG NƯỚC NGOÀI 159
PH Ụ LỤC A 175
Trang 8PH Ụ LỤC B 196
PH Ụ LỤC C 234
C PH ẦN CÂU HỎI 243
Trang 9D ẪN NHẬP
Ẩn dụ thường được cho là vấn đề ngôn ngữ, bao gồm một số biểu trưng ngôn ngữ hiểu theo nghĩa bóng hay nghĩa khác thường dựa trên các ngôn từ chứa đựng nghĩa đen Quan điểm này có từ thời Aristotle với định nghĩa về ẩn dụ chứa đựng ba yếu tố cơ bản: một là, sự chuyển đổi ẩn dụ dựa trên cơ sở từ hơn là câu; hai là, ẩn dụ xuất phát từ nghĩa đen để thay đổi nghĩa;
và ba là, ẩn dụ dựa trên sự giống nhau của hai thực thể Do vậy, ẩn dụ thường được các nhà tu
từ học và phê bình văn học chú ý Tuy nhiên trong ba thập niên gần đây, định nghĩa về ẩn dụ có bước chuyển mang tính đột phá khi các nhà ngôn ngữ học tri nhận (NNHTN) cho rằng ẩn dụ còn là một công cụ tri nhận hữu hiệu để con người ý niệm hóa các loại trừu tượng Ẩn dụ do
vậy không chỉ là một phương thức diễn đạt ý nghĩ bằng ngôn từ mà còn là một phương thức để
tư duy về sự vật
Những nghiên cứu gần đây về ẩn dụ, nhất là tại Âu châu và Bắc Mỹ, dẫn đến một sự thay
đổi cơ bản về nghĩa học khi ẩn dụ không chỉ là hình thái ngôn ngữ như quan điểm của ngôn
ngữ học truyền thống mà còn là hình thái tư duy như quan điểm của NNHTN Trên cơ sở này,
luận án tập trung phân tích ẩn dụ ý niệm trong NNHTN ngày nay qua các cứ liệu tiếng Anh và
tiếng Việt nhằm chứng minh một số quan điểm mới về ẩn dụ
0.1 Gi ới thiệu chung về đề tài
Theo ngữ nghĩa học hình thức truyền thống, ngôn ngữ thuộc phạm trù tâm trí và khả năng ngôn ngữ được các hình thái hay dạng tri thức đặc biệt hỗ trợ Khác với các nhà triết học và ngôn ngữ học như Jerry Fodor hay Noam Chomsky, những nhà NNHTN cho rằng tri thức ngôn
ngữ không thể tách rời tư duy, mà tương tác lẫn nhau Những nhà ngôn ngữ học theo trường phái này thừa nhận hình thái ngôn ngữ là một phần khác của khả năng tri nhận chung cho phép con người học hỏi, tư duy, V.V Nói cách khác, theo quan điểm tri nhận, tri thức ngôn ngữ là
một phần của tri nhận chung của con người
Các nhà ngôn ngữ học thường phân biệt hình thức luận và chức năng luận Hình thức luận như ngữ pháp tạo sinh của Chomsky cho rằng tri thức về các cấu trúc và qui luật ngôn ngữ là
Trang 10một mô-đun hay phạm trù độc lập với các quá trình tâm trí khác như sự chú ý, trí nhớ, hay tư duy Quan điểm ngoại tại về mô-đun ngôn ngữ độc lập thường kết hợp với quan điểm mô-đun
nội tại: mức độ khác nhau trong khi phân tích ngôn ngữ, như ngữ âm học, cú pháp học, và ngữ nghĩa học, tạo ra những mô-đun độc lập Theo quan điểm này, sự khác biệt giữa các mô-đun
dẫn đến hệ quả là, xét theo mặt ngoại tại, dễ dàng tìm hiểu các nguyên tắc ngôn ngữ, không cần
để ý đến những phạm trù tâm trí khác; về mặt nội tại, chẳng hạn khi nghiên cứu các nguyên tắc
cú pháp thì không cần liên hệ với nội dung ngữ nghĩa Hình thức luận cũng mong muốn chỉ ra
khả năng hình thành những nguyên tắc độc lập và đúng như khuôn mẫu toán học (Pauconnier, 1994)
Chức năng luận có một quan điểm hoàn toàn khác về ngôn ngữ về mặt ngoại tại, những nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ bao hàm nhiều nguyên tắc tri nhận chung; về mặt nội tại, việc
giải thích (về ngôn ngữ) phải vượt qua các ranh giới của mức độ phân tích Theo quan điểm này, giữa ngôn ngữ và các quá trình tâm trí khác có sự khác biệt về mức độ (degree), chứ không phải sự khác biệt về loại (kind) Như vậy, việc tìm hiểu những nguyên tắc chung giữa các phạm trù tri nhận khác nhau hết sức có ý nghĩa Chẳng hạn, có thể cho rằng các nguyên tắc
cú pháp sẽ không đầy đủ nếu không xem xét đến ý nghĩa của các thành tố trong câu cũng như tính chất ngữ nghĩa và ngữ dụng của câu
Sự khác biệt về phương pháp tiếp cận ngôn ngữ giữa hình thức luận và chức năng luận có
thể giúp chúng ta thấy được những quan điểm kế thừa và khá cập nhật của tri nhận luận về ngữ nghĩa học Ngữ nghĩa học tri nhận bác bỏ quan điểm của ngữ nghĩa học khách quan khi ngữ nghĩa học khách quan cho rằng các phạm trù cùng những đặc điểm và mối quan hệ của chúng
tồn tại trong thực tế khách quan, độc lập với ý thức Ngoài ra, các ký hiệu của ngôn ngữ có ý nghĩa vì chúng được gắn kết với các loại khách quan đó Ngữ nghĩa học tri nhận lại cho rằng con người không thể tiếp cận một thực tế độc lập với việc xếp loại của con người và vì vậy cấu trúc thực tế được phản ánh trong ngôn ngữ la sản phẩm của trí não con người Hệ quả là các nhà ngữ nghĩa học tri nhận không chấp nhận thuyết chân ngụy tương ứng (correspondence theory of truth) về ngữ nghĩa Họ cho rằng chân-ngụy của ngôn ngữ liên quan với cách mà người quan sát diễn dịch tình huống, dựa vào khung ý niệm của người đó Do vậy, trọng tâm
Trang 11thực sự của việc tìm hiểu ngôn ngữ là các khung hay miền (domain) ý niệm và phương thức sử
dụng ngôn ngữ phản ánh các khung hay miền đó
Theo ngữ nghĩa học tri nhận, nghĩa dựa trên cơ sở các cấu trúc ý niệm đã được qui ước hóa Do vậy, cấu trúc ngữ nghĩa, cùng với các miền tri nhận, phản ánh các loại tâm trí mà con người đã hình thành từ những trải nghiệm khi tương tác với thế giới chung quanh Một số cấu trúc và qui trình ý niệm đã được trình bày trong nhiều nghiên cứu, nhưng đường như ẩn dụ không nhận được nhiều sự quan tâm Các nhà NNHTN đồng ý với đề xuất của Lakoff và Johnson (1980), Lakoff (1987a), và Johnson (1987) rằng ẩn dụ là yếu tố chính trong việc con người xếp loại thế giới và trong quá trình tư duy của con người Như sẽ thấy trong luận án này,
ẩn dụ được cho là có liên quan với các cấu trúc cơ bản khác như lược đồ hình ảnh (image
schemas)-cung cấp một loại khung ý niệm cơ bản có được từ cảm quan và trải nghiệm cơ thể -
và khái niệm không gian tâm trí (mental spaces) của Paucormier (1985, 1994) là cấu trúc tâm
trí mà người nói thiết lập nên nhằm sắp xếp sở chỉ với các thực thể NNHTN cũng tìm hiểu các qui trình ý niệm bộc lộ tầm quan trọng của việc diễn giải tình huống của người nói như chuyển đổi quan điểm (viewpoint shifting), chuyển đổi hình-nền (figure-ground shifting), và tạo hình-
nền (profiling)
Thuyết ẩn dụ hiện đại gắn bó mật thiết với NNHTN bao gồm ngữ pháp tri nhận (Langacker 1987, 1988a, 1991) và ngữ nghĩa học tri nhận (Johnson 1987, 1987a, 1988; Sweetser 1990; Turner 1991) Một số nhà NNHTN cho rằng trong chừng mức nào đó, ngũ nghĩa học tri nhận bắt nguồn từ ngôn ngữ học tạo sinh (Lakoff 1989a, 1990, 1991) Các nhà ngôn ngữ học tạo sinh đã chỉ ra sự khu biệt giữa thẩm năng ngôn ngữ (competence) và dụng ngôn (performance) và tập trung nghiên cứu về thẩm năng ngôn ngữ, cụ thể là qui luật nội tại chi phối việc phái sinh những câu đúng ngữ pháp phù hợp giữa người nói và người nghe
Những nhà ngôn ngữ học tạo sinh xem ẩn dụ là một hiện tượng khác thường và "ký sinh" trong ngôn ngữ bình thường, và không thể nào nghiên cứu ẩn dụ một cách có hệ thống và đáng tin
cậy được
Trang 12Parmegiani (1988) nhận xét rằng đối với những nhà NNH tạo sinh, ẩn dụ chỉ là "một loại
hiện tượng bán-ngữ-pháp", vi phạm các qui luật về ngữ nghĩa, do vậy chỉ đáng xếp vào phạm trù tu từ học, phong cách học, hay dụng học
NNHTN lại cho rằng ngôn ngữ là biểu hiện của cấu trúc ý niệm và cơ chế tri nhận (Putz 1992b, Gibbs 1996a, Radden 1992, Ruclzka-Ostyn 1993)
Ngôn ngữ tự nhiên là sản phẩm của tâm trí con người, dựa trên các nguyên lý tổ chức để
vận hành các miền tri nhận khác nhau Là một trong những miền tri nhận của con người, ngôn
ngữ có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với các miền tri nhận khác như tâm lý, văn hóa, xã hội, kinh tế cấu trúc ngôn ngữ tùy thuộc vào ý niệm hóa, và ý niệm hóa lại chịu sự tác động của kinh nghiệm tự thân, của thế giới bên ngoài và mối quan hệ của con người với thế
giới đó Nói cách khác, ngôn ngữ không chỉ là một hệ thống bao gồm những ký hiệu qui ước;
những cấu trúc của ngôn ngữ chịu sự tác động của tri thức ý niệm của con người, của kinh nghiệm tự thân và của các chức năng giao tiếp diễn ngôn Những đơn vị ngôn ngữ đều phải
chịu sự xếp loại thông thường qua hệ thống điển dạng (prototype) bao gồm cả ẩn dụ và hoán
dụ Nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ đều do kinh nghiệm tự thân trong quá trình tương tác với
thế giới thật, và hình thành những cấu trúc tri thức như mô hình dân gian, mô hình văn hóa, hay
mô hình tri nhận
Theo nghĩa rộng, NNHTN xem ngôn ngữ là một hình thái chuyên biệt , bậc cao thuộc khả năng tri nhận nói chung, được sử dụng trong giao tiếp mang tính biểu tượng của con người So
với các lý thuyết ngôn ngữ học truyền thống, cần phải điều chỉnh phạm vi nghiên cứu của ngôn
ngữ học ngày nay: trong khi ngôn ngữ học truyền thống, gồm cả cấu trúc luận hậu-Saussure, tìm kiếm ngữ liệu ở "thế giới ngoài kia", NNHTN hiện đại chỉ tập trung nghiên cứu các hiện tượng liên quan đến ngôn ngữ diễn ra trong tâm trí của người bản ngữ Lúc đầu cái nhìn mới về ngôn ngữ của NNHTN khiến nhiều nhà ngôn ngữ học truyền thống cảm thấy dường như xa lạ, nhưng hiện nay quan điểm này đã trở nên quen thuộc trong giới ngôn ngữ học Theo quan điểm này, nghiên cứu ngôn ngữ học là nghiên cứu ngôn ngữ trong tâm trí của con người; thậm chí hơn thế nữa, cùng với các phạm trù khác trong khoa học tri nhận, "nghiên cứu của ngôn ngữ
học là nghiên cứu về tâm trí" (Antovic, 2003)
Trang 13Ngữ nghĩa học ngày nay thường đi theo ba hướng nghiên cứu chính: tri nhận (cognitive), điều kiện chân ngụy (truth-conditional), và ý niệm (conceptual) Ngữ nghĩa học tri nhận là một
bộ phận của NNHTN, phát triển từ các công trình nghiên cứu của George Lakoff và Ronald Langacker, chú trọng đến các cơ chế tri nhận và các mô hình nội tại kích hoạt các hoạt động ngôn ngữ Ngữ nghĩa học tri nhận cho rằng những hoạt động từ hệ thống cảm quan của con người đã tạo nên tư duy, ý niệm, và tri thức có được là do sự trải nghiệm giữa con người đối
với sự vật Do vậy, nhiệm vụ trung tâm của NNHTN là nghiên cứu những chứng cứ khoa học
về loại tri thức nghiệm thân này Để thực hiện nhiệm vụ này, ngữ nghĩa học tri nhận đã và đang
thực hiện những phương pháp phân tích nhằm tìm hiểu hệ thống ý niệm của con người, mà cụ
thể là những miền ý niệm trừu tượng (Johnson, 1989) NNHTN nghiên cứu ý nghĩa của các khái niệm riêng lẻ được tạo thành những khối ý niệm nhỏ gọi là điển dạng (sẽ trình bày chi tiết
ở phần sau) Sự kết hợp của các điển dạng tạo thành tri thức của con người về thế giới và tri
thức này được biểu trưng bằng cấu trúc ngữ nghĩa trong tâm trí của chúng ta Tri thức của con người về thế giới đôi lúc phức tạp đến nỗi dường như chúng ta thiếu điển dạng và ý niệm để định nghĩa tất cả các sự vật và sự tình chúng ta gặp phải trong thế giới ngoài ngôn ngữ (extralinguistic) Xét cho cùng, nếu chúng ta cần một vị trí nào đó trong não bộ, như một nơ-rôn thần kinh, cho mỗi một ý niệm riêng lẻ, chúng ta sẽ không có đủ khoảng trống cho tất cả các ý niệm diễn ra trong thế giới "ngoài kia" Do vậy, các ý niệm phức tạp được tạo thành từ
một số điển dạng nào đó Nếu qui trình này diễn ra và nếu các ý niệm hình thành dựa trên các ý
niệm khác, thì sẽ diễn ra hiện tượng gọi là "ẩn dụ"
Rõ ràng nghiên cứu thuyết ẩn dụ ý niệm cũng nằm trong việc nghiên cứu NNHTN nói chung và ngữ nghĩa học tri nhận nói riêng
Các quan điểm tóm lược trên đây chỉ ra rằng việc nghiên cứu ngữ nghĩa học nói riêng và ngôn ngữ học nói chung là một hoạt động có tính chất liên ngành Phương pháp tiếp cận ẩn dụ không chỉ là việc nghiên cứu ở bình diện đồng đại, mà còn liên quan tới bình diện lịch đại (Sweeter, 1990), đến phạm trù tư duy (Lakoff, 1987), ngôn ngữ thi ca (Lakoff & Turner, 1989),
tu từ (Turner, 1987) hay đạo đức học (Johnson, 1993)
Gần đây một quan điểm mới về ẩn dụ do Lakoff và Johnson phát triển lần đầu tiên vào
năm 1980 với tác phẩm Metaphors We Live By (Chúng ta sống nhờ ẩn dụ) dường như đã thách
Trang 14thức tất cả các thuyết cổ điển truyền thống về những đặc điểm của ẩn dụ Được nhiều nhà ngôn
ngữ học tiếp tục nghiên cứu hơn hai mươi năm qua, quan điểm này sau đó trở thành phổ biến
với tên gọi "quan điểm tri nhận về ẩn dụ" hay "thuyết ẩn dụ hiện đại" vói các đặc điểm như sau: (1) ẩn dụ là hiện tượng ý niệm, không chỉ là hiện tượng ngôn từ;
(2) chức năng của ẩn dụ là nhằm giúp con người hiểu rõ hơn các ý niệm, không chỉ là
biện pháp tu từ;
(3) ẩn dụ không chỉ căn cứ vào sự giống nhau;
(4) ẩn dụ được sử dụng tự nhiên trong đời sống hàng ngày từ những con người bình thường, chứ không chỉ từ những người có khả năng đặc biệt;
(5) ẩn dụ không chỉ là phương thức tu từ của ngôn ngữ, mà hơn thể nữa là qui trình tự nhiên của nhận thức về tư duy
Cho đến nay ẩn dụ được nhiều nhà triết học, tu từ học, phê bình văn học, tâm lý học, và ngôn ngữ học nghiên cứu, có thể nêu một số tên tuổi như Aristotle, Hume, Locke, Vico, Herder, Cassier, Buhler, Richards, Whorf, Goodman, Black Ẩn dụ được nghiên cứu trở lại đồng thời với sự phát triển của các ngành khoa học tri nhận, bao gồm cả NNHTN Lý do của sự bùng nổ này là ẩn dụ đóng vai trò quan trọng trong tư duy của con người, khẳng định vai trò
của tâm lý, văn hóa và xã hội trong đời sống của con người Hiểu được ẩn dụ có nghĩa là hiểu được một phần quan trọng của con người và thế giới con người đang sống
Nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau cũng đóng góp những nghiên cứu, không nhiều thì ít, liên quan đến ẩn dụ như Brugman (1990), Gibbs (1993, 1994), Goossens (1995), Johnson (1983,1987, 1989, 1991, 1992, 1993), Kovecses (1990), Lakoff (1986, 1987, 1989, 1993, 1994), Lakoff & Turner (1989), Sweetser (1990, 1992), Turner (1987,1991) Có thể nói rằng việc nghiên cứu ẩn dụ không chỉ còn trong khuôn khổ ngôn ngữ
học mà đã mang tính chất liên ngành
0.2 M ục tiêu của đề tài
Mục tiêu cơ bản của nghiên cứu này nhằm đóng góp vào việc tìm hiểu, thuyết ẩn dụ hiện đại - ẩn dụ ý niệm - qua đó có thể nhìn nhận ẩn dụ dưới góc độ tu từ và tri nhận; trong đó nhấn
mạnh đến vai trò của tư duy trong ngôn ngữ ẩn dụ Ngoài ra, việc phân tích đối chiếu qua ngôn
liệu tiếng Anh và tiếng Việt nhằm tìm chứng cứ củng cố cho quan điểm tri nhận về ẩn dụ, đồng
Trang 15thời tìm hiểu nguồn gốc của mối quan hệ ngôn ngữ và văn hóa qua việc hình thành và sử dụng
ẩn dụ Để thực hiện mục tiêu cơ bản này, luận án tập trung vào bốn vấn đề chính:
(1) tìm hiểu bản chất của ẩn dụ ý niệm
(2) phương thức thể hiện những khái niệm trừu tượng qua ẩn dụ ý niệm
(3) tính phổ quát và các biến thể liên ngôn ngữ của ẩn dụ ý niệm
(4) tính thực tiễn của ẩn dụ ý niệm
0.3 Nhi ệm vụ của đề tài
Để trả lời các vấn đề trên, chúng tôi sẽ bàn về (i) ẩn dụ ý niệm mang tính cảm xúc, cụ thể
là sự giận dữ và niềm vui sướng; (ii) ẩn dụ ý hiệm cấu trúc sự kiện, một trong những loại ẩn dụ
có thể làm rõ khía cạnh tri nhận của ẩn dụ; (iii) mối quan hệ tương tác giữa ẩn dụ ý niệm, tính
hiện thân và sự tác động của thế giới bên ngoài mà cụ thể là văn hóa của cộng đồng ngôn ngữ
và (iv) vai trò của ẩn dụ qua các họat động trong đời sống của con người từ ẩn dụ mang tính
chất hàn lâm (như trong các ngành khoa học), đến tính chất bình dân (như trong giao tiếp hàng ngày)
Để hỗ trợ cho những quan điểm, những đề xuất, và những luận bàn trong khi tìm các câu
trả lời cho các vấn đề cốt lõi của luận án, chúng tôi dựa vào những giả thiết và luận đề cơ bản
về ẩn dụ mà nhiều nhà ngôn ngữ học tri nhận đã nghiên cứu như sau:
(1) Ý nghĩa xuất phát từ tri thức
(2) Nghĩa đen là nghĩa trực tiếp; nghĩa ẩn dụ là nghĩa gián tiếp
(3) Ẩn dụ cơ bản là vấn đề của cấu trúc ý niệm, và biểu hiện qua ngôn từ
(4) Ẩn dụ là một tập hợp những tương ứng giữa hai ý niệm thuộc hai miền ý niệm khác nhau
(5) Ẩn dụ có thể mang tính qui ước, tính hệ thống, và quen thuộc hoặc không hoàn toàn như vậy
(6) Ẩn dụ có thể do sự dụng ngữ cố ý hoặc tức thời, dù có qui ước hay không
(7) Ẩn dụ có thể có dấu hiệu nhận biết, hoặc có thể không
Trang 16(8) Ẩn dụ có thể biểu hiện ở nhiều mức độ tổ chức ngôn ngữ khác nhau và nhiều dạng tu
từ khác nhau
0.4 Ý nghĩa của đề tài
NNHTN đề ra những phương thức và luận điểm nhằm tiếp cận quan điểm cho rằng ngôn
ngữ là một phần không thể tách rời của nhận thức con người, phản ánh mối tương tác về văn hoá, tâm lý, giao tiếp và chức năng của con người trong quá trình hình thành và sử dụng ngôn
ngữ Ẩn dụ là một hình thái ngôn ngữ bao hàm tính ngữ nghĩa cao của người sử dụng ngôn
ngữ Dưới góc độ NNHTN, ẩn dụ có thể đưa đến sự hiểu biết về nhận thức của con người với không gian, thời gian, trải nghiệm về thế giới quanh mình
về mặt ngữ nghĩa học, ẩn dụ thường được cho là một hình thái mang ý nghĩa thi ca Tuy nhiên theo một số nhà ngôn ngữ học, ẩn dụ mang tính phổ biến trong đời thường; ẩn dụ không
chỉ là hình thái ngôn ngữ mà còn là hình thái tư duy Cho đến nay trong Việt ngữ học, ẩn dụ được nghiên cứu nhiều dưới góc độ ngữ nghĩa học truyền thống hơn là tri nhận học của người
Việt và người nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ Chúng tôi hy vọng rằng đề tài có thể đóng góp vào việc phát triển ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam, đồng thời tăng phần hiểu biết về mặt
ngữ nghĩa trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy, và sử dụng ẩn dụ trong hai ngôn ngữ nói trên Ngoài ra, việc tìm hiểu này có thể đóng góp phần nào trong việc làm sáng tỏ thêm mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và văn hoá
0.5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp phân tích diễn ngôn và phân tích đối chiếu, phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu của luận án này là phương pháp phân tích ẩn dụ phê phán thường được các nhà ngôn ngữ học hiện đại sử dụng khi nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận và ngôn ngữ học ứng
dụng
CMA sử dụng phân tích dựa trên ngôn liệu bao gồm một tập hợp rộng lớn các văn bản từ
việc sử dụng ngôn ngữ tự nhiên vì một ngữ cảnh không chỉ tạo ra cho một mục đích cụ thể để minh họa cho một ý niệm nào đó trong ngôn ngữ Khái niệm chứng cứ ngôn ngữ rất quan trọng
trong việc phân tích ngôn liệu và hàm chỉ rằng dữ kiện không được sáng tạo ra để phục vụ cho
Trang 17một mô hình, mà mô hình xuất hiện từ những mẫu ngôn ngữ rộng lớn và có tính đại diện Stubbs (2001) cho rằng:
"[Ngôn li ệu] có thể là tập hợp thu thập từ một loại văn bản nào đó hay có thể lập mẫu từ
nh ững loại văn bản khác nhau, gồm cả ngôn ngữ nói, viết, trang trọng hay bình dân, hư cấu hay th ực tế, ngôn ngữ của người lớn hay trẻ em hay được viết, nói dành riêng cho họ, kể cả
nh ững văn bản từ những giai đoạn lịch sử khác nhau " [ 170:25]
Thuận lợi của một lượng lớn ngôn liệu khác nhau là có thể rút ra những nhận định về ngôn ngữ đáng tin cậy Trong tiếng Anh có thể lấy được khối lượng ngôn liệu to lớn như vậy
từ Bank of English, với khoảng 418 triệu lượt từ, và British National Corpus, với khoảng 500
triệu lượt từ Đây cũng là điều trở ngại rất lớn khi tập hợp các ngôn liệu trong tiếng Việt, vì chúng ta chưa có những ngân hàng ngôn liệu tương tự; do vậy có nhiều hạn chế về thời gian và
khối lượng khi phải thu thập theo phương pháp thủ công như sử dụng ngôn liệu qua một số từ điển tiếng Việt Tuy nhiên, vì phạm vi những vấn đề nghiên cứu trong luận án này có giới hạn
cụ thể, việc thu thập ngôn liệu theo CMA không phải là một trở ngại lớn
Về qui trình CMA, Cameron và Low (1999) phác thảo:
"Phương pháp phân tích ẩn dụ tiến hành bằng cách thu thập ví dụ về ẩn dụ ngôn từ theo
m ột chủ đề, khái quát hóa các ẩn dụ ngôn từ thành ẩn dụ ý niệm, và sử dụng kết quả để đề xuất cách hi ểu hay mẫu tư duy tạo nên niềm tin hay hành động của chủ thể "[36, 88]
Có thể chia thành ba giai đoạn trong phương pháp phân tích ẩn dụ CMA: nhận dạng, hiểu nghĩa, và giải thích
0 5.1.1 Nh ận dạng ẩn dụ
Có hai bước để nhận dạng ẩn dụ:
Thứ nhất, đọc kỹ văn bản mẫu để tìm ra từ hay cụm từ có thể là ẩn dụ dựa theo định nghĩa
về ẩn dụ ngôn từ và ẩn dụ ý niệm
Thứ hai, đây là bước để phân tích định lượng về sau Trong bước này, xem xét ngữ cảnh
của ngôn từ để biết từ hay cụm từ chọn lọc có nghĩa bình thường hay nghĩa ẩn dụ Ví dụ:
1 Anh ấy tốt bụng với mọi người cho dù hoàn cảnh của anh rất khó khăn
Trang 182 Đồ ăn này không hợp với bụng tôi Xin cứ để tôi tự nhiên
Rõ ràng "bụng"trong câu (1) và câu (2) có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau xét theo ngữ cảnh trong phạm vi nghĩa đen và nghĩa bóng
0.5.1.2 Hiểu nghĩa ẩn dụ
Hiểu nghĩa ẩn dụ ở đây bao gồm việc thiết lập mối quan hệ giữa ẩn dụ và các yếu tố tri
nhận và dụng ngữ trong ẩn dụ Công việc này cũng cần việc nhận biết ẩn dụ ý niệm và cả yếu
tố ý niệm đằng sau nó
Câu (1) ở trên mang nghĩa ẩn dụ trong ẩn dụ ý niệm CẢM XÚC LÀ MỘT THỰC THỂ, hay cụ thể hơn QUAN HỆ CON NGƯỜI LÀ CƠ QUAN QUAN TRỌNG CỦA CƠ THỂ, trong đó "làm điều tốt" có thể hiểu là "bụng tốt", "làm điều xấu" có thể hiểu là "bụng xấu"
"Bụng" được ẩn dụ hóa cho nơi xuất phát suy nghĩ và hành động của con người
niệm
Có thể tóm tắt rằng CMA là một phương pháp nghiên cứu tổng hợp kết hợp ngôn ngữ
học ngôn liệu với ngôn ngữ học tri nhận Nguồn ngôn liệu giúp người nghiên cứu nhận ra cách
sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ tiêu biểu và cung cấp nền tảng cho việc hiểu nghĩa và giải thích cách
sử dụng như vậy Việc thu thập dữ liệu từ những chủ thể tham gia nghiên cứu đóng góp phần nào kết quả nghiên cứu ẩn dụ, nhưng nguồn ngôn liệu trên diện rộng giúp các chứng cứ ngôn
ngữ càng đáng tin cậy hơn Ngoài ra, CMA là một phương pháp giúp bộc lộ những ý nghĩ hay
tư duy, cảm xúc và niềm tin của người sử dụng ngôn ngữ và đây cũng là phương thức để hiểu
biết nhiều hơn về các mối quan hệ phức tạp giữa ngôn ngữ, tư duy và xã hội Cũng cần nói thêm rằng, vì gặp trở ngại khi thu thập ngôn liệu trong tiếng Việt so với tiếng Anh như nêu ở
Trang 19trên và mục đích của nghiên cứu này chủ yếu phân tích ngữ nghĩa qua các chứng cứ ngôn liệu, chúng tôi tập trung phân tích định tính nhiều hơn là phân tích định lượng trong phương pháp CMA
0.5.2 Phân tích đối chiếu (contrastive analysis)
Phân tích đối chiếu là một phương pháp quan trọng trong ngôn ngữ, là sự so sánh hai hay nhiều ngôn ngữ một cách có hệ thống nhằm mô tả những điểm giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ này So sánh ngôn ngữ được các nhà ngôn ngữ học chú ý cả về mặt lý thuyết và ứng dụng Sự so sánh này sẽ giúp bộc lộ cái chung và cái riêng của ngôn ngữ, vì vậy giúp ích
rất nhiều trong việc hiểu được ngôn ngữ nói chung và từng ngôn ngữ được so sánh nói riêng
Thật ra, đầu tiên ngôn ngữ học đối chiếu hay phân tích đối chiếu được đề xuất như một phương tiện tiên đoán và giải thích các khó khăn của người học ngôn ngữ thứ hai như so sánh
những mức độ khác nhau về ngữ âm, hình thái, cú pháp, từ vựng, văn hóa Với việc mở rộng
phạm vi nghiên cứu ngôn ngữ trong thập niên 1970 và 1980, nghiên cứu đối chiếu ngày càng liên quan đến phân tích đối chiếu ngôn ngữ vĩ mô: ngôn ngữ học văn bản và phân tích diễn ngôn Những câu hỏi như:
- Tính liên k ết được biểu hiện như thế nào trong ngôn ngữ X và Y?
- Hành động lời nói xin lỗi và yêu cầu biểu hiện như thế nào qua ngôn ngữ Xvà Y?
- Đàm thoại bắt đầu và chẩm dứt như thế nào trong ngôn ngữ X và Y?
đều căn cứ vào việc phân tích đối chiếu văn bản và phân tích diễn ngôn
Kết hợp với phân tích dựa trên ngôn liệu trong ngôn ngữ học ngôn liệu, và phân tích đối chiếu như trình bày trên đây, nhà nghiên cứu có thể có được, nguồn tư liệu nhằm:
- có một cái nhìn mới qua so sánh ngôn liệu của hai ngôn ngữ;
- áp dụng cho những mục đích khác nhau khi so sánh và làm tăng sự hiểu biết về sự khác biệt về mặt ngôn từ và văn hóa cũng như những đặc điểm phổ quát, đặc biệt là trong nghiên cứu ẩn dụ ý niệm
Khi ứng dụng ẩn dụ ý niệm QUAN HỆ CON NGƯỜI LÀ CƠ QUAN QUAN TRỌNG
CỦA CƠ THÊ nêu trên vào tiếng Anh, rõ ràng có sự khác biệt về văn hóa và tư duy giữa người
Việt và người Anh hay người Mỹ Hãy xem ví dụ sau đây:
Trang 203 He is very good-hearted
Ở đây cái bụng không còn dùng để biểu trưng cho cách cư xử, mối quan hệ nữa
mà là con tim vì đối với người Anh hay Mỹ, con tim là cơ quan quan trọng nhất
của con người, và vì vậy là nơi xuất phát tình cảm
Do vậy trong khi phân tích và diễn giải các ẩn dụ ý niệm trong luận án này, phân tích đối chiếu là một trong những phương pháp quan trọng khi sử dụng cứ liệu từ tiếng Anh và tiếng
Việt để phân tích và chứng minh những đặc trưng của ẩn dụ ý niệm
0.5.3 Một sổ thủ pháp cơ bản trong phương pháp nghiên cứu
Như trình bày ở trên, chúng tôi chú trọng sử dụng các thủ pháp hay kỹ thuật chính trong phân tích định lượng theo phương pháp CMA như sau:
- Điển cứu (case study): Mục đích của nghiên cứu là tập trung vào những ngôn liệu có
thực trong ngôn ngữ hàng ngày để củng cố chứng cứ cho các quan điểm trình bày Điển cứu có
thể giúp tổ chức một số lượng lớn thông tin qua các ngôn liệu (ví dụ: ẩn dụ ngôn từ) và phân tích nội dung và ý nghĩa để có thể dẫn đến một mẫu hình hay mô hình ẩn dụ (ví dụ: ẩn dụ ý
niệm, các biến thể của ẩn dụ có tính chất liên ngôn hay liên văn hóa)
- Nhóm ch ủ đề (focus groups): Những nhóm chủ đề được thành lập nhằm, tham gia vào
việc đánh giá và nhận định của các thành viên về một chủ đề ẩn dụ (ví dụ: ẩn dụ ý niệm qua ngôn từ chỉ sự tức giận hay sung sướng) Nhóm chủ đề cũng phục vụ cho thủ pháp phóng chiếu
(procjective techniques) thường được sử dụng trong xã hội học, tâm lý học, và nhân học, nhằm cho phép đối tượng trong nhóm bày tỏ những ý kiến thực hay chủ quan của mình về chủ đề nghiên cứu (ví dụ: nhận xét về ẩn dụ ngôn từ hay ẩn dụ ý niệm qua các ẩn dụ ngôn từ) Nhóm
chủ đề cũng được kết hợp với một số thủ pháp khác trong phân tích định tính như bảng thăm
dò, b ảng câu hỏi, và cả phỏng vẩn cá nhân trong một số trường hợp
- Điều tra thử: Đây là thủ pháp tương tự như nghiêu cứu thử (pilot study) Những ngôn
liệu thu thập được bằng tiếng Anh hay tiếng Việt qua một số phương thức khác nhau như bằng
hệ thống phần mềm máy tính, mạng Intemet, thủ công bằng cách trích dẫn từ các loại văn bản khác nhau, đều được thử nghiệm trở lại theo nhóm chủ đề nhằm kiểm tra độ tin cậy và tính giá
trị của ngữ liệu sử dụng làm chứng cứ hay minh họa trong luận án Điều tra thử cũng đóng góp
Trang 21rất nhiều khi phải sử dụng phân tích đổi chiếu Anh-Việt, nhất là tìm câu trả lời cho tính phổ
biến và các biến thể của ẩn dụ ý niệm
dụ ngôn từ và ẩn dụ ý niệm trong Metaphors We Live By của Lakoff và Johnson (1980) Ngoài
ra, chúng tôi cũng cố gắng thu thập ngữ liệu qua một số tạp chí tiếng Anh thông dụng hay các website tiếng Anh để bổ sung và cập nhật các ngữ liệu về ẩn dụ đời sống Ngữ liệu "sống" từ các điều tra theo bảng câu hỏi cũng được tập trung vào các nhóm đổi tượng người bản ngữ (tiếng Anh) theo chủ đề cũng đóng góp rất nhiều minh chứng cho các quan điểm trong luận án Đối với tiếng Việt, chúng tôi thu thập ngữ liệu qua các sách, báo, tạp chí bằng phương pháp thủ công do một nhóm cộng tác viên thực hiện Chúng tôi cũng sử dụng một số ẩn dụ trong thi ca, nhất là trong ca dao và tục ngữ Việt Nam nhằm đối chiếu với tiếng Anh để chứng minh một số luận điểm về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa Ngoài ra, để chứng minh ẩn dụ ý niệm có thể tìm thấy trong ngôn ngữ đời sống hàng ngày, nhiều cứ liệu được thu
thập qua các điều tra trực tiếp từ các đối tượng tham gia nghiên cứu mà không trích dẫn từ
những nguồn sách, báo, hay tạp chí Điều đáng lưu ý là việc thu thập nguồn ngữ liệu có tính
chất khách quan qua các phần mềm hay hệ thống ngân hàng ngữ liệu như tiếng Anh vẫn là hạn
chế nhất định đối với nguồn tư liệu Tuy nhiên, mục đích của luận án không phải là đi sâu vào các ẩn dụ cụ thể, mà dùng ngữ liệu để làm chứng cứ cho ẩn dụ ý niệm; do vậy, sự không đồng
bộ ở một mức độ nào đó giữa hai nguồn tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt không ảnh hưởng nhiều đến những kết quả của nghiên cứu
0.7 C ấu trúc của luận án
Luận án được tổ chức như sau:
Trang 22- D ẫn nhập Như các tiểu mục đã nêu trong phần này, đây là phần có tính chất giới thiệu
Trọng tâm trong phần này tập trung trình bày các vấn đề đặt ra trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài, phương pháp nghiên cứu và các thủ pháp sử dụng nguồn cứ liệu trong khi nghiên cứu
- Chương 1: Cơ sở lý luận của ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm Chương này điểm lại một số quan
điểm cơ bản về ẩn dụ từ trước đến nay nhằm có một cái nhìn toàn diện về các nghiên cứu ẩn
dụ, với những thay đổi quan trọng song hành với những thay đổi trong ngôn ngữ học nói chung
và ngữ nghĩa học nói riêng Tuy nhiên, trong phạm vi luận án này, các phân tích và trình bày sẽ
tập trung nhiều vào ẩn dụ ý niệm
- Chương 2 Ẩn dụ ý niệm cảm xúc Ẩn dụ ý niệm xuất phát từ tính nghiệm thân, từ sự trải
nghiệm của con người với thế giới bên ngoài, do vậy cảm xúc là trải nghiệm đầu tiên của con người Trong chương này, phần phân tích và đối chiếu tập trung vào hai điển cứu ẩn dụ về hai loai cảm xúc đối nghịch nhau mà con người thường cảm nhận trong cuộc sống: GIẬN DỮ và VUI SƯỚNG
- Chương 3: Ẩn dụ ý niệm cẩu trúc sự kiện Hầu hết sự hiểu biết cơ bản của con người về
các sự kiện và nguyên nhân đều xuất phát từ hai ẩn dụ cơ bản: CẤU TRÚC SỰ KIỆN ĐỊNH
VỊ VỀ SỰ VẬT, dựa trên ẩn dụ mang tính tiền đề NGUYÊN NHÂN LÀ SỨC MẠNH và
BIẾN ĐÔI LÀ CHUYÊN ĐỘNG, liên quan đến khái niệm thời gian và không gian trong cuộc
sống con người Phân tích ẩn dụ cấu trúc sự kiện nhằm tìm hiểu sự tri nhận của con người đằng sau ngôn ngữ ẩn dụ
- Chương 4: Ẩn dụ ý niệm thời gian Chương này phân tích sự ý niệm hóa thời gian qua
ẩn dụ bản thể, ẩn dụ cấu trúc, và ẩn dụ định hướng Con người thường ý niệm hóa thời gian qua
sự vật và không gian Thời gian có thể được ẩn dụ hóa như là tiền bạc, con người, hay tài nguyên, qua các sơ đồ hình ảnh như vật chứa hay đường đi Thời gian cũng được ẩn dụ hóa qua không gian, trong đó con người-chủ thể là trung tâm của sự chuyển động Những ngữ liệu dùng để phân tích đều tìm hiểu cấu trúc của các ánh xạ trong việc ý niệm hóa thời gian qua sự
vật hoặc không gian
- K ết luận Phần này trình bày một số kết luận các vấn đề nêu ra trong luận án, đồng
thời nêu ra một số nội dung cần tiếp tục nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm dưới góc độ tri
nhận
Trang 23CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ẨN DỤ VÀ ẨN DỤ Ý NIỆM
1.1 M ột số quan điểm cỗ điển cơ bản về ẩn dụ
1.1.1 Quan điểm thay thế (substitution view)
Trong Poetics, Aristotle đưa ra bốn loại ẩn dụ: loài thay cho loài, loài thay cho nhóm, nhóm thay cho loài và tương tự Ba loại đầu tiên có cùng một đặc tính: thay thế từ này bằng từ khác Ẩn dụ loài- thay-cho-loài được các nhà ẩn dụ học ngày nay chú ý nhiều nhất với tên gọi
là ẩn dụ định danh (nominal metaphors) và ẩn dụ định tính (predicative metaphors) Trong ẩn
dụ - định danh một danh từ được thay bằng một danh từ khác; ví dụ sau đây của Black(1955):
(4) Lu ật sư là cá mập
Ẩn dụ chuyển tải (metaphor vehicle) cá mập được sử dụng thay cho một từ cùng loài, có nghĩa là cùng phạm trù nghĩa, với ẩn dụ chủ đề (metaphor topic) luật sư Trong ẩn dụ định tính,
động từ có thể thay thế cho nhau như trong câu:
(6) Anh ta nh ảy tót lên xe, bay về nhà
Theo nghĩa đen, con người không thể bay, nhưng động từ này thay cho một động từ khác mang ý nghĩa hành động con người này thể hiện lúc đó Nói theo Black (1955), biểu đạt ẩn dụ thay thế cho biểu đạt thật (nghĩa đen) có cùng ý nghĩa theo quan điểm thay thế Do vậy điều quan trọng đổi với ẩn dụ là (ẩn dụ) được dùng để chuyển tải ý nghĩa đã được biểu đạt theo nghĩa đen Nếu gọi biểu đạt ẩn dụ là M và biểu đạt nghĩa đen là L, thì nghĩa của M chính là nghĩa đen của L; cho nên hiểu một ẩn dụ là giải mã hay như giải một câu đố vậy Xét về mặt
ngữ nghĩa học, trong hai ví dụ trên, chúng ta đều hiểu theo nghĩa đen cả (luật sư = cá mập/anh
ta->bay) Để hiểu được hai ví dụ trên một cách đầy đủ như ẩn dụ muốn chuyển tải, theo nguyên
tắc họp tác (cooperative principle) của Grice (1975), chúng ta cần phải có một ngữ cảnh cụ thể
của câu nói để có thể giải mã ẩn dụ trên, nếu không câu nói trên sẽ không đúng sự thật Mặc dù
ẩn dụ theo quan điểm thay thế vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ như cơ chế thay thế hay nguyên tắc chọn lựa ẩn dụ, quan điểm này cũng có một số đóng góp trong việc tìm hiểu ẩn dụ:
Trang 24a Nghĩa đen có trước và là cơ bản Do vậy, nghĩa đen không cần đến ngữ cảnh (nghĩa đen không thay đổi khi thay đổi ngữ cảnh) và gần như là hiển nhiên,
b Nghĩa bóng xuất phát từ nghĩa đen và có thể hiểu được khi khám phá ra bản chất thay
thế trong ẩn dụ Nói cách khác, việc diễn giải ẩn dụ bao hàm việc hiểu được nghĩa đen mà ẩn
dụ thay thế
c Từ nhận định (a) và (b), việc hiểu ẩn dụ là một qui trình phức tạp, đòi hỏi công việc của
nhận thức nhiều hơn là sự hiểu biết nghĩa đen, và cả thông tin ngữ cảnh trong đó nghĩa đen được áp dụng
[Black, 28, 276]
Từ những nhận định nêu trên, nhiều nhà ngôn ngữ học và triết học cho rằng ẩn dụ không
chỉ thuộc về phạm trù ngữ nghĩa học, mà còn thuộc về ngữ dụng học nữa
Richards (1936) đã cho rằng khi chúng ta sử dụng ẩn dụ, chúng ta có hai ý nghĩ về sự vật khác nhau, tác động với nhau và được bổ trợ bởi một từ hay một cụm từ mà ý nghĩa (của từ hay
cụm từ) là kết quả của việc hai sự vật tương tác với nhau Chẳng hạn trong câu:
(6) Người nghèo là người da đen ở Âu châu [159, 40]
Theo quan điểm thay thế, có cái gì đó gián tiếp đề cập đến người nghèo ở Âu châu (phải chăng họ là tầng lóp bị áp bức, một lời khiển trách đối với quan chức ở đó, rằng nghèo nàn mang tính kế thừa, di truyền, không thể thay đổi được như người da đen ở Mỹ?) Theo quan điểm so sánh, phải có sự giống nhau giữa người nghèo và người da đen Khác với hai quan điểm trên, Richards lại cho rằng "ý tưởng" của chúng ta về người nghèo châu Âu và người Mỹ
da đen là kích hoạt cùng nhau và "tương tác" để tạo ra một nghĩa do sự tương tác đó Thật vậy, trong một ngữ cảnh nào đó từ tiêu điểm (hình) "da đen" mang một nghĩa mới khác với nghĩa đen, hay một từ thay thế mang nghĩa đen tương tự Ngữ cảnh mới, cũng có thể hiểu là "khung" (nền) của ẩn dụ, đã dẫn đến nghĩa mở rộng dựa trên từ tiêu điểm đó Như vậy để hiểu được nghĩa mờ rộng của ẩn dụ, chúng ta cần chú ý đến cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Richards (1936) cũng nhấn mạnh đến những "đặc điểm chung" của hai sự vật (người nghèo và người da đen) như "lớp cùng đinh", "sổng trong khu ổ chuột" hay "kém giáo dục" là cơ sở cho ẩn dụ
Trang 25Black (1955) cũng phát triển quan điểm tương tác về ẩn dụ của Richards khi cho rằng trong ẩn dụ "A là B", hệ thống đặc điểm liên kết của A tương tác với hệ thống đặc điểm của B
để tạo ra ý nghĩa ẩn dụ mới Đặc điểm liên kết là đặc điểm và các mối quan hệ của sự vật thường được cho là có thật Chẳng hạn, chúng ta thường gán một số đặc điểm cho sói: "động
vật có vú", "dã thú", "đi theo bầy", "dữ tợn", và chúng ta hiểu ẩn dụ theo các đặc điểm đó trong câu:
(7) Người là chó sói [29,25]
Vấn đề đáng lưu ý ở đây là chúng ta không hiểu ẩn dụ qua so sánh các đặc điểm của sự
vật mà dựa vào điều mà ẩn dụ gợi ý cho chúng ta
Đóng góp có ý nghĩa của Black là khái niệm "tương tác" Quan điểm so sánh cho rằng
hiểu một ẩn dụ chỉ là việc so sánh sự vật để tìm những đặc điểm hoặc mối quan hệ nào đó có
thể áp dụng từ sự vật này sang sự vật khác để có được nghĩa giống nhau Quan điểm tương tác
lại cho rằng chúng ta sử dụng toàn bộ hệ thống đặc điểm (ví dụ của sói) để "lọc" hay tổ chức ý
niệm của chúng ta về hệ thống khác (như người) để chúng ta có được một ý niệm mới hay ý nghĩa mới về một sự vật nào đó Như vậy, trong Người là chó sói, những hàm ý như dữ tợn,
khôn ngoan, tham lam, v.v của chó sói có thể áp dụng cho người mặc dù hai sự vật không hoàn toàn giống nhau theo nghĩa đen Hệ quả của việc gọi một người là chó sói là tạo ra một hệ
thống các đặc điểm liên quan của sói Nếu một người là chó sói, người đó hẳn là săn bắt các động vật khác, dữ tợn, đói khát, thường xuyên đấu tranh, tìm xác chết để ăn, v.v Mỗi một đặc tính này đến lượt đem gắn với chủ thể (con người) theo nghĩa đen hoặc nghĩa khác thường nào
đó Tất nhiên không thể gắn tất cả đặc điểm của chó sói cho con người được, nhưng trong quá trình tương tác, ẩn-dụ-chó-sói đã bỏ qua một số chi tiết và làm nổi bật một số chi tiết khác để
có thể tạo ra cái nhìn mới của chúng ta về con người
1.2 Các khái ni ệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm
Như Johnson (1987) và Lakoff (1987a) bàn luận, trước đây truyền thống triết học chủ đạo
ở phương Tây là khách quan luận (objectivism), một trường phái triết học thấm đậm vào đời
sống văn hóa và ngôn ngữ, chi phối nhiều ngành khoa học khác nhau (Langacker, 1988) Theo
Trang 26học thuyết khách quan (lohnson, 1987, 1989a; Lakoff, 1987a, ) thế giới bao gồm những sự vật độc lập với tâm trí, tuy có mối quan hệ với nhau một cách rõ ràng Bản chất của sự vật mang tính độc lập theo một phương thức mà con người có thể trải nghiệm và hiểu được Do vậy, thế
giới có thể được mô tả một cách khách quan, không bị lệ thuộc vào bất cứ màu sắc văn hóa cụ
thể nào hay dựa theo quan điểm của người quan sát Theo quan điểm này, nghĩa là mối quan hệ
trừu tượng giữa biểu trưng và thực thể Ký hiệu tự nó mang tính qui ước và vô nghĩa, nhưng lại
có nghĩa khi ký hiệu được biểu trưng cho một sự vật, mang những sắc thái và đặc điểm khác
với các sự vật khác trong thế giới có thực bên ngoài Do vậy, cơ bản của nghĩa là nghĩa đen, là quan hệ một-đổi-một hay quan hệ gương—hình trong thế giới thực tại Hệ lụy của quan điểm
trên là không có khái niệm nghĩa bóng hay nghĩa ẩn dụ vì sự phóng chiếu của ẩn dụ được thực
hiện qua các miền trải nghiệm cơ bản, mà trong thế giới thực tại không thể nào có sự phóng chiếu qua lại giữa các phạm trù (category) khác nhau do các ranh giới rất rõ ràng của các phạm trù Theo khách quan luận, nhiệm vụ của ngữ nghĩa học là mô tả phương thức từ và phát ngôn tương ứng với nhau ương thế giới thực Mặt khác, sự hiểu biết của con người có được do sự phân biệt nghĩa từ bản thân sự vật mà không phải phụ thuộc vào sự hiểu biết của một cá nhân hay một cộng đồng
Nói tóm lại, triết học truyền thống phương Tây nêu cao phạm trù lý trí có tính độc lập, tách biệt khỏi những hoạt động của con người có liên quan đến thân thể; nhất là lý trí được cho
là độc lập với tri giác và hoạt động của cơ thể Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học tri
nhận, những chứng cứ khoa học đồng tình với quan điểm của thuyết tiến hóa, cho rằng lý trí
hoạt động và phát triển nhờ những khả năng của thân thể và rằng lý trí cơ bản mang tính hiện
thân Lakoff và Turner (1999) trong Philosophy in the Flesh nêu hai hệ quả quan trọng từ
những thành tựu của khoa học tri nhận:
"[ ]Th ứ nhất, các kết quả của khoa học tri nhận cho ta thấy lý trí của con người là một
d ạng lý trí của động vật, bị ràng buộc với thân thể của con người và cẩu trúc phức tạp đến kỳ
l ạ của não bộ của con người Thử hai, những kết quả này cho chủng ta biết rằng thán thể, não
b ộ và sự tương tác của con người với môi ừ'ường chung quanh cung cấp nền tảng hầu như là
vô th ức về cảm nhận của chủng ta hàng ngày Cảm nhận của chủng ta về cái có thật khởi ngu ồn và cơ bản lệ thuộc vào thân thể của chủng ta, nhất là bộ phận cảm xúc và cấu trúc
Trang 27c ụ thể của não bộ, khiến chủng ta có khả năng nhận biết, chuyển động, và thao tác
"[131,17]
Nghiên cứu của khoa học tri nhận cho rằng các khái niệm của con người không chỉ là các
phản ánh của thực tại bên ngoài, mà cơ bản hình thành từ thân thể và não bộ của chúng ta, nhất
là hệ thống cảm quan Từ một số thành tựu trong ngành tâm lý học và nhất là khoa học tri nhận, Lakoff (1987) đã hình thành trải nghiệm luận (experientialism) hay hiện thực trải nghiệm luận
(experiential realism) và năm 1999 trong cuốn Philosophy in the Flesh, Lakoff gọi là hiện thực
nghiệm thân luận (embodied realism) Theo Lakoff, trải nghiệm luận và khách quan luận là hai phiên bản của hiện thực cơ bản luận (basic realism) khi luận đề này thừa nhận sự tồn tại của thế
giới thực tại và trì thức ổn định về thế giới này, nhưng bác bỏ quan điểm cho rằng khái niệm chân-ngụy chỉ căn cứ vào mối quan hệ nội tại hay chủ quan Điều khác biệt giữa khách quan
luận và trải nghiệm luận chính là định nghĩa về nghĩa
" Trong khi khách quan lu ận cho rằng nghĩa độc lập với bản chất và trải nghiệm của con người tư duy, hiện thực trải nghiệm luận quan niệm nghĩa theo hướng nghiệm thân; có nghĩa
là theo các kh ả năng sinh học và các trải nghiệm mang tính vật lý và xã hội của con người trong môi trường " [Lakoff 1987, 266-267]
Vậy thì nghĩa dựa trên cơ sở của trải nghiệm, nhất là trải nghiệm từ thân thể của con người; đã là người thì phải mang tính nghiệm thân, trải nghiệm của con người với thế giới chung quanh tạo nên ý nghĩa và quyết định phương thức con người hiểu biết thế giới Nói cách khác, tri nhận của con người phải được hiểu qua tính nghiệm thân; cho nên chính "những hiểu
biết và giải thích về thế giới là đối tượng của ngữ nghĩa học" [Taylor 1995, 4]
Cùng với trải nghiệm luận, thuyết ẩn dụ hiện đại cho rằng hệ thống ý niệm của con người
phần lớn mang tính ẩn dụ khi các hệ thống này bao hàm các ánh xạ (mappings) từ miền cụ thể sang miền trừu tượng và ánh xạ ẩn dụ không mang tính chất qui ước mà do bản chất của tính nghiệm thân qui định Nói cách khác, trải nghiệm của thân thể vừa kích hoạt, vừa đặt cơ sở tạo thành ẩn dụ: chức năng của thân thể con người trong thế giới này và phương thức tương tác với
thế giới đó (Lakoff 1994)
Chứng cứ hỗ trợ cho nhận định cho rằng trải nghiệm thân thể của con người trong thế giới
thực tạo sinh ẩn dụ đã được nghiên cứu nhiều qua các miền đích (target domains), nhưng nổi
Trang 28bật nhất là miền cảm xúc như các nghiên cứu của Emanatian (1995), Pesmire (1994), King (1989), Kovecses (1986, 1988, 1990a, 1991, 1995a, 1995c), Lakoff & Kõvecses (1987), Matsuki (1995), Shyu (1989), Yu (1995)
Dường như NNHTN đã nhấn mạnh nhiều hơn đến mặt tương tác trong quá trình hình thành nghĩa vì trước đó nhiều nhà nghiên cứu đã phê phán các nhà NNHTN khi cho rằng họ đã không nhắc tới khía cạnh văn hóa và xã hội trong nhận thức của con người mà chỉ chú trọng đến mặt tâm sinh lý Vì vậy theo Johnson (1992), sư tương tác này bao hàm cả mặt sinh học, xã
hội, văn hóa, kinh tế, đạo đức, chính trị, Rõ ràng những nỗ lực nghiên cứu về sau càng làm rõ
ý nghĩa của sự tương tác giữa con người và thế giới ngoài kia Chẳng hạn, Pesmire (1994) định nghĩa rõ thuật ngữ "nghiệm thân" bao hàm cả tác động của văn hóa chứ không chỉ là một cơ thể sinh lý học
Khi cố gắng làm rõ tầm quan trọng của sự tương tác giữa thân thể (con người) và môi trường vãn hóa và xã hội trong việc hình thành ánh xạ ẩn dụ, các nhà NNHTN đã mở rộng
phạm vi nghiên cứu nhận thức của con người qua nhiều ngôn ngữ và văn hóa khác nhau
Trong phạm vi ngữ nghĩa học tri nhận, thuyết điển dạng khởi đầu từ giữa thập niên 1970 cùng với nghiên cứu ngôn ngữ học tâm lý của Eleanor Rosch về cấu trúc nội tại của các phạm trù Tính chất mới mẻ của công trình nghiên cứu đã đánh dấu một thời kỳ mới về việc nghiên
cứu nghĩa của từ và dẫn đến việc xem xét quan điểm cổ điển về xếp loại từ thời Aristotle
Con người xếp loại các sự vật khi tương tác với thế giới và đặt tên cho các nhóm sự vật
dựa trên sự tương tự, chứ không phải giống y hệt nhau Chẳng hạn, trong tiếng Anh, chim hay
v ịt đều xếp chung một phạm trù, mặc dù có loại vịt không bay được hoặc có loại chim không bơi trên nước được Có những thuộc tính loại chim chia sẻ như động vật, lông vũ, cánh, đẻ
tr ứng, nhưng những thuộc tính này lại không có sự phân biệt rạch ròi giữa các phạm trù; ví dụ
rắn đẻ trứng nhưng không thể thuộc phạm trù chim được hay chim cánh cụt lại không có nhiều thuộc tính chung của phạm trù chim Nói cách khác, việc xếp loại không hoàn toàn có một ranh
giới rõ ràng như quan niệm cổ điển, mà đi từ thực thể đáp ứng đầy đủ các tính chất của loại - điển dạng— đến các thực thể ngoại biên - ở xa hơn vị trí của điển dạng Do đó Rosch (1978)
nhận định rằng việc xếp loại của con người không nên xem như một sản phẩm mang tính chất
Trang 29qui ước mà nên xem xét như kết quả của các nguyên tắc xếp loại mang tính chất tâm lý Điều này có nghĩa là tri nhận của con người là yếu tố chính yếu cho bất kỳ qui trình xếp loại nào của con người, kể cả xếp loại ngôn ngữ Rosch cho rằng một thực thể được xếp vào một phạm trù nào đó khi được so sánh với thực thể điển dạng hơn là so sánh với các tiêu chí của phạm trù
Thực thể điển dạng hàm chứa cả thực thể tâm trí trong não bộ của con người Những thí nghiệm của Rosch về phạm trù chim và Labov (1973) trước đó về phạm trù cốc chứng tỏ rằng
thuyết điển dạng bao hàm ý nghĩa tâm lý trong qui trình xếp loại của con người Theo Taylor (1989), thuyết điển dạng có những đặc điểm cơ bản như sau:
- Cấu trúc điển dạng tiềm ẩn trong tất cả các phạm trù
- Các loại điển dạng không thể căn cứ vào một hệ thống tiêu chí vì các thành viên khác cùng phạm trù có thể không có một số tiêu chí nào đó phù hợp
- Cùng loại có thể không hoàn toàn giống với điển dạng khi ở vị trí ngoại biên (xa trung tâm/điển dạng)
- Thành viên của phạm trù được xếp theo nhiều mức độ khác nhau
- Cấu trúc ngữ nghĩa của phạm trù thường có tính tập trung và trùng lặp về mặt nghĩa
- Năm đặc điểm trên được biểu hiện thành hai chiều: chiều đứng mô tả cấu trúc nội tại
của một loại; chiều ngang mô tả cấu trúc giữa các loại Hình (1), (2), và (3) dưới đây minh họa hệ thống tôn ti của xép loại điển dạng trong nhận thức của con người
Hình 1 h ệ thống ti tôn của khái niệm
Chiều ngang mô tả lý do tại sao x là mèo không phải là chó, nhưng không cho biết tại sao
x được xếp loại động vật hay động vật có vú Trái lại chiều đứng mô tả ba bậc: bậc cơ bản (basic levels), b ậc trên (superordinate levels) và bậc dưới (subordinate levels)
Trang 30Một ý niệm là một lược đồ trong nhận thức của con người thông qua điển dạng với những đặc điểm tiêu biểu tùy theo mỗi phạm trù và khi gặp một sự vật mới lạ, con người có khuynh
hưởng so sánh vật đó với điển dạng có sẵn trong ký ức Chẳng hạn như điển dạng của ghế cho
phép những sự vật mới có đặc tính tương tự được gọi là ghế Trong các lược đồ ý niệm của mỗi
người, sự vật tương tự là một biến số của cùng một ý niệm Điển dạng đóng vai trò của một tập tin trong máy tính, cung ứng tối đa thông tin trong một miền tri nhận tối thiểu Ngoài ra, điển
dạng nên được xem như một biểu trưng của tri nhận (ý niệm), thường liên hệ đến một từ cụ thể
và được dùng để xếp loại Do vậy, nghĩa của một từ cụ thể không xuất phát từ một điển dạng cụ
thể, mà từ biểu trưng của điển dạng đó trong tâm trí của chúng ta Khi chúng ta xem thuyết điển
dạng là cấu trúc chìm của các cấu trúc điển dạng, chúng ta có thể cho rằng thuyết điển dạng chủ
yếu là thuyết xếp loại, chứ không phải là thuyết về ngữ nghĩa Tuy nhiên, thuyết điển dạng thực
sự đóng góp chủ yếu cho việc xếp loại ngôn ngữ Nghĩa của từ chim khác với nghĩa của từ chu ột dựa trên cơ sở xếp loại trong tâm trí của con người Mặt khác, nghĩa cùa từ xe ô tô
không thay đổi cho dù xe ô-tô của thế kỷ thứ 19 và xe ô-tô của thế kỷ 21 hay xe ô-tô do nhiều
Trang 31hãng hay nhiều nước khác nhau sản xuất có khác nhau về hình dạng, tốc độ hay chất
lượng 1.2.3 Phạm trù và lược đồ hình ảnh
1.2.3.1 Mi ền (domain), và ma trận miền (domain matrix)
Dựa trên quan điểm của ngữ pháp tri nhận, Langacker (1987) cho rằng mỗi ý niệm là một
miền ngữ nghĩa; nói cách khác, nghĩa của một từ liên quan đến một miền nhất định Langacker dùng thuật ngữ profile (hình) và base (nền) để nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa một ý niệm và
miền bao hàm ý niệm Hình là một phần của toàn bộ tri thức ý niệm, được nền bổ trợ, do vậy
hình sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có nền Điều đáng lưu ý là ý nghĩa miền của Langacker có
phần khác với thuật ngữ phạm trù của các nhà tâm lý học, cũng như các nhà nghĩa học đương
thời Miền là một cấu trúc ngữ nghĩa đóng vai trò làm nền cho ít nhất một ý niệm (hình) Mối quan hệ ý niệm-miền rất rõ ràng trên cơ sở mối quan hệ ngữ nghĩa bậc trên-bậc dưới trong xếp
loại tôn ti (hierarchical) Chẳng hạn, các ý niệm ghế, bàn, giường thuộc bậc dưới của ý niệm
bậc trên đồ đạc khái quát hơn Quan hệ ý niệm-miền không chỉ biểu hiện tầng lớp của các
phạm trù mà còn biểu hiện mối quan hệ giữa phạm trù và các thành viên của phạm trù (ý niệm)
Nhận xét trên có thể đưa đến hai hệ quả quan trọng Một là, có mối quan hệ bộ phận-toàn thể trong miền; hai là, một miền trở thành một phức hợp của nhiều miền khác Theo quan điểm của Langacker, tri thức bách khoa của con người được tổ chức thành những miền ý niệm dựa trên
nền tảng trải nghiệm về thế giới của con người Chẳng hạn, sự hiểu biết của chúng ta về chim
bao gồm hình dạng, và các hoạt động như bay, ăn uống, chu kỳ sinh nở, hay chu kỳ sống
Những hiểu biết này về loại chim được cụ thể hóa thành các miền khác nhau như KHÔNG GIAN, VẬT THỂ, ĐỜI SỐNG, THỜI GIAN, Tập hợp các miền về ý niệm-hình loại chim được gọi là ma trận miền
Có thể nói rằng một nguyên tắc trung tâm của ngữ nghĩa học tri nhận là các ý niệm, không phải là các đơn vị mang tính độc lập trong tâm trí, mà thật sự có thể hiểu được (do người nói hay nhà phân tích) qua nội dung của cấu trúc nền tiền giả định (presupposed) là miền Langacker (1987) và Lakoff (1987) đã dùng thuật ngữ này dựa trên cơ sở thuật ngữ khung
(frames) của Fillmore (1975, 1977, 1982, 1985, 1992), nhấn mạnh đến chức năng hỗ trợ về mặt
ngữ nghĩa của các miền ý niệm và đồng thời giả định rằng miền chứa một cấu trúc mang tính
tổng thể, chứ không chỉ là một bảng liệt kê các ý niệm liên quan đến trải nghiệm (Clauser &
Trang 32Croft, 1999) Lakoff (1987) còn phát ừiển khái niệm mô hình tri nhận lý tưởng (idealized cognitive model) hay còn gọi là ICMâể mô tả tri thức nền của một số ý niệm như bachelor hay mother lại bao hàm một mô hình trải nghiệm lý tưởng và một số vấn đề trong xếp loại phát sinh khi không thể đối chiếu ICM với thực tiễn phức tạp Mặt khác một ICM đóng vai trò giống như
một miền trong khi nhấn mạnh đến mối quan hệ phức tạp giữa phạm trù ngữ nghĩa và trải nghiệm ngoại tại do tâm trí tiếp nhận
Việc phân tích miền và ma trận miền có vai trò quan trọng đổi với việc nắm vững lược đồ hình ảnh, hiểu được tính hệ thống và giải thích được hiện tượng ẩn dụ và hoán dụ trong ngôn
ngữ hàng ngày của con người
1.2.3.2 lược đồ hình ảnh
Hình ảnh là biểu trưng của trải nghiệm cụ thể, mang tính nghiệm thân, là cái nhìn của con
người về thế giới bên ngoài qua mối quan hệ không gian, thời gian và cả cơ chế cảm nhận của con người Theo Lakoff & Turner (1989), nhiều miền thiếu hình ảnh như tư tưởng, cái chết,
thời gian, sự giác ngộ, thức tỉnh, và sự sống Miền thiếu hình ảnh đôi khi được gọi là miền
"tr ừu tượng" hay vô ảnh vì con người chỉ cảm nhận được mà thôi
Miền tạo nên hình ảnh là miền mang tính nghiệm thân, hay cụ thể hơn là xuất phát từ trải nghiệm mang tính vật thể, các hoạt động tự thân của con người qua không gian, tác động đến các vật thể, và tương tác qua cảm nhận Lược đồ hình ảnh không phải là những hình ảnh cụ thể
mà có tính tr ừu tượng hay lược đồ trong nhận thức hay tâm trí của con người Lược đồ hình ảnh biểu trưng cho các mẫu lược đồ từ các miền hữu ảnh (có hình ảnh) như vật chứa, đường đi,
kh ớp nối, lực đẩy, hay cân bằng diễn ra trong phạm trù nghiệm thân và tạo thành trải nghiệm tự
thân của con người (Talmy 1977, 1983), hoặc tạo thành trải nghiệm không mang tính tự thân thông qua ẩn dụ (Lakoff 1987 và Johnson 1987) Một mặt, lược đồ hình ảnh mang tính trừu
tượng vì chỉ hiện ra trong tâm trí, mặt khác, lược đồ hình ảnh lại không trừu tượng vì đó là hình
ảnh do trải nghiệm của con người mà có
Ví dụ của Johnson (1987) sau đây về lược đồ hình ảnh MỨC ĐỘ (SCALE) có thể minh
họa cho nhận định trên Như tất cả các lược đồ hình ảnh khác, MỨC ĐỘ xuất phát từ trải nghiệm hiện thực cụ thể của con người, cho nên được dùng để biểu trưng cho những miền trừu tượng Lược đồ hình ảnh này bao gồm các con số, tính chất, mối quan hệ, cấu trúc hình học,
Trang 33những thực thể trong mô hình kinh tế,v.v ; cho nên có thể nói rằng hệ số mức độ thật sự xuyên
suốt toàn bộ trải nghiệm của con người, thậm chí ở những tình huống dường như không cần
đến sự đo lường nào cả Ví dụ các khái niệm nhiều, ít, bằng nhau là các giá trị mức độ có thể
áp dụng cho nhiều trải nghiệm khác nhau bao gồm (i) con số, như khi chúng ta nói về việc có
nhiều, ít, hay bằng nhau về lượng vật thể nào đó, (ii) lượng của chất như chất lỏng, (iii) mức độ
của một lực, (iv) cường độ của cảm giác Sự tương ứng giữa khái niệm nhiều (more) và lên
(up) là một ví dụ cụ thể của lược đồ hình ảnh MỨC ĐỘ vì khi chúng ta thêm nước vào thùng
chẳng hạn, thì mực nước trong thùng phải dâng lên Ẩn dụ không dựa vào sự giống nhau giữa
phạm trù lên và phạm trù nhiều, mà dựa vào mối quan hệ hỗ tương trong trải nghiệm của con
người Ngoài việc lược đồ hình ảnh rất phổ quát trong trải nghiệm, chúng còn được trải nghiệm
cùng nhau, không độc lập hoàn toàn Johnson (1987) nhận xét:
"Lược đồ TÂM-BIÊN hầu như không bao giờ trải nghiệm theo một cách thức biệt lập
ho ặc tự thân[ ] Nếu đã có [lược đồ] trung tâm và ngoại biên, chúng ta cũng sẽ trải nghiệm
lược đồ GẦN-XA về mặt nhận thức hoặc cảm nhận " [98,125]
Có thể nêu một số lược đồ hình ảnh thông dụng trong các nghiên cứu về ẩn dụ và hoán dụ
ý niệm sau đây:
KHÔNG GIAN TRÊN-DƯỚI, TRƯỚC-SAU, TRÁI-PHẢI, GẦN-
XA, TÂM-BIÊN, TIẾP XÚC
ĐƯỜNG ĐI XUẤT PHÁT, ĐIỂM ĐẾN, ĐƯỜNG DẪN, HƯỚNG
BÌNH CHỨA CHỨA ĐỰNG, TRONG-NGOÀI, BỀ MẶT, ĐẦY–VƠI, VẬT
LIỆU/NỘI DUNG
SỨC MẠNH CÂN BẰNG, PHẢN LỰC, PHÓNG LỰC, SỨC Ỳ, NGĂN TRỞ,
THU HÚT, ĐA CHIỀU
THỐNG NHẤT/ KẾT HỢP,THU GOM, PHÂN RÃ, LIÊN TỤC,
ĐA PHẦN BỘ PHẬN- TOÀN THỂ, ĐẾM ĐƯỢC- KHÔNG ĐẾM ĐƯỢC, NỐI
KẾT
Trang 34NHẬN DIỆN ĐỐI CHIẾU, ÁP ĐẶT
HIỆN HỮU LUÂN CHUYỂN, KHÔNG GIAN HẠN CHẾ, CHU KỲ, SỰ VẬT, QUI TRÌNH
Chúng ta hãy xem xét tính chất của một số lược đồ thông dụng sau đây
Lược đồ BÌNH CHỨA
- Tr ải nghiệm thân thể: Chúng ta thường có trải nghiệm về thân thể chúng ta vừa như
một bình chứa vừa như là vật trong bình chứa (như một căn phòng)
- Thành ph ần cẩu trúc: TRONG, RANH GIỚI, NGOÀI
- Lô-gí c cơ bản: Như hầu hết các lược đồ hình ảnh khác, cấu trúc nội tại của lược đồ này
được sắp xếp theo một lô-gíc thông thường Mọi vật hoặc ở bên trong hoặc ở bên ngoài
của bình chứa-P hoặc không phải là P Nếu bình chứa A nằm trong bình chứa B và X nằm trong A, thì X nằm trong B; từ đó suy ra nếu A là B và X là A, thì X cũng là B
- Ẩn dụ mẫu: Tầm nhìn của chúng ta được hiểu như là một vật chứa, ví dụ trong tầm nhìn và ngoài t ầm nhìn Trong tiếng Việt, danh lợi cũng được hiểu là vật chứa: Cái vòng danh l ợi cong cong Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào
X trong A
A trong B
X trong B
Hình 4: lô- gíc lược đồ bình chứa
Lược đồ Bộ PHẬN-TOÀN THỂ
- Tr ải nghiệm thân thể: Chúng ta là những sinh vật mang tính tổng thể với các bộ phận
và trải nghiệm cả về tổng thể và các bộ phận khi chúng ta chuyển động trong đời sống
- Thành ph ần cấu trúc: TOÀN THÊ, CÁC BỘ PHẬN, và MỐI QUAN HỆ RÀNG
BUỘC
Trang 35- Lô-gí c cơ bản: Tính chất của lược đồ này là bất cân đối: Nếu A là bộ phận của B, thì B
không thể là bộ phận của A được Lược đồ này cũng không tự thân được: A không thể nào là bộ phận của chính A được Hơn nữa, không thể có TOÀN THÊ tồn tại mà các
BỘ PHẬN không tồn tại Tuy nhiên, các BỘ PHẬN có thể tồn tại, nhưng không nhất thiết phải hợp thành TOÀN THỂ Nếu các Bộ PHẬN tồn tại trong MỐI QUAN HỆ RÀNG BUỘC, lúc ấy và chỉ có điều kiện ấy TOÀN THỂ mới tồn tại Hệ quả là nếu các BỘ PHẬN bị phá hủy, thì TOÀN THỂ cũng bị phá hủy Nếu TOÀN THÊ nằm ở
vị trí P, thì các BỘ PHẬN cũng nằm ở vị trí P Một đặc tính tiêu biểu tuy không cần thiết là các BỘ PHẬN gần gũi với nhau
- Ẩn dụ mẫu: Gia đình (và các tổ chức xã hội khác) được xem như là các tổng thể gồm
có các bộ phận Ví dụ, hôn nhân được hiểu là sự kết hợp tạo thành gia đình trong đó
vợ chồng là các bộ phận Vì vậy ly dị là sự chia tách Khái niệm chung trong lược đồ này tự nó là một sự phóng chiếu mang tính ẩn dụ của các MỐI QUAN HỆ RÀNG
BUỘC trong một cấu trúc BỘ PHẬN-TOÀN THỂ
Lược đồ TÂM-BIÊN:
- Trải nghiệm thân thể: Từ cơ thể của mình, chúng ta trải nghiệm trung tâm (thân mình
và nội tạng) và ngoại biên (ngón tay, ngón chân, tóc) Tương tự như vậy, cây cối và các loại thực vật khác đều có thân chính và cành lá phụ thuộc Trung tâm được cho là quan trọng hơn ngoại biên theo hai cách: sự tổn thương ở phần trung tâm có tính chất quan trọng hơn (nghĩa là không chữa trị được hoặc thường đe dọa đến sự sống) sự tổn thương ở ngoại biên Tương tự như vậy, trung tâm xác định được chức năng của các
Trang 36phần tử trong khi đó ngoại biên không làm được điều này Một cây trụi lá vẫn là cây đó; một người không còn tóc hay mất một ngón tay thì vẫn là người đó Như vậy ngoại biên phải phụ thuộc vào trung tâm, nhưng không có điều ngược lại: tuần hoàn kém có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của tóc, nhưng không còn tóc thì lại không ảnh hưởng gì đến hệ tuần hoàn cả
- Thành ph ần cẩu trúc: THỰC THỂ, TRUNG TÂM, và NGOẠI BIÊN
- Lô-gíc cơ bản: Ngoại biên phụ thuộc trung tâm và không có điều ngược lại
- Ẩn dụ mẫu: Các lý thuyết đều có nguyên tắc chính và nguyên tắc phụ Điều quan
trọng là điều chính yếu
Hình 6 : lược đồ TÂM - BIÊN
Lược đồ ĐƯỜNG ĐI:
-Tr ải nghiệm thân thể: Mỗi khi chúng ta di chuyển đến một địa điểm nào đó, có một lộ
trình từ điểm xuất phát dẫn đến đích theo một hướng nhất định
- Thành ph ần cấu trúc: XUẤT PHÁT, ĐÍCH ĐẾN, LỘ TRÌNH (hay ĐƯỜNG DẪN,
những điểm liên tục nối điểm xuất phát và nơi đến), và HƯỚNG ĐI (hướng đến đích)
- Lô- gíc cơ bản: Nếu chúng ta đi từ một điểm xuất phát đến đích theo một lộ trình nào đó,
chúng ta phải đi qua những điểm trung gian trên lộ trình; tuy nhiên, đường đi càng xa thì thời gian đến đích càng lâu
- Ần dụ mẫu: Mục đích (trong cuộc đời, công việc.) được hiểu dưới dạng đích đến và đạt
được mục đích nghĩa là đã hoàn thành lộ trình từ điểm xuất phát đến đích Cho nên người ta có
thể đi một chặng đường dài để đạt được mục đích của mình hoặc người ta có thể bị chệch
Trang 37đường hay thấy đường đi bị ngăn trở Nói chung, những sự tình phức tạp cũng thường được
hiểu dưới dạng lược đồ ĐƯỜNG ĐI
Hiện nay các loại lược đồ hình ảnh vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu Lược đồ hình ảnh đặc
biệt cung cấp chứng cứ quan trọng cho nhặn xét cho rằng tư duy trừu tượng bao gồm hai vấn đề: (i) tư duy xuất phát tò trải nghiệm, và (ii) sự phóng chiểu ẩn dụ diễn ra từ miền trừu tượng đến miền cụ thể lohnson (1987) đã minh chứng bốn vấn đề cho lập luận của mình:
- Lược đồ hình ảnh cấu trúc trở thành tiên nghiệm qua trải nghiệm thân thể của chúng ta
- Các khái niệm lược đồ hình ảnh tương ứng thật sự tồn tại
- Ẩn dụ là ánh xạ các lược đồ hình ảnh vào các miền trừu tượng, dựa trên lô-gíc cơ bản
- Ẩn dụ không mang tính qui ước mà được kích hoạt bởi các cấu trúc có sẵn trong trải nghiệm thân thể hàng ngày
Ẩn dụ thường được đề cập như một trong những biên pháp tu từ trong văn học và thi ca; tuy nhiên hơn hai thập kỷ nghiên cứu, các nhà NNHTN đã đưa ẩn dụ vào một phạm trừ khái quát có thể vận dụng hoặc diễn giải được nhiều hiện tượng
1 2.4.1 Quan điểm mới về ẩn dụ
Ẩn dụ là một cơ chế tri nhận bao gồm một miền mà một phần được "ánh xạ", có nghĩa là được phóng chiếu, vào một miền khác được hiểu theo miền đầu tiên Miền được ánh xạ gọi là
miền nguồn hay miền cho (source/donor domain), và miền để sơ đồ ánh xạ tác động đến là
mi ền đích hay miền nhận (target/recipient domain) Cả hai phạm trù đều phải thuộc về những
miền trên khác nhau Đây chính là khái niệm tri nhận cơ bản về ẩn dụ do George Lakoff, Mark Johnson, và Mark Turner và các nhà NNHTN khác đề xướng và nghiên cứu hơn hai mươi năm qua
Trang 38Sơ đồ ánh xạ (mapping) là một hệ thống cố định của các tương ứng giữa các yếu tố hợp
thành miền nguồn và miền đích Nhiều yếu tố trong các khái niệm của miền đích xuất phát từ
miền nguồn và trước đây có thể chưa từng có Khi những tương ứng này được kích hoạt, các sơ
đồ ánh xạ có thể phóng chiếu từ miền nguồn sang miền đích Do vậy, hiểu được một ẩn dụ ý
niệm (conceptual metaphor) có nghĩa là hiểu được hệ thống sơ đồ ánh xạ của một cặp miền nguồn - đích Theo quan điểm tri nhận, ẩn dụ không chỉ là một phương thức chuyển nghĩa dựa trên sự tương tự hay giống nhau giữa hai sự vật A và B trong mô hình ẩn dụ "A là B", mà là
ánh xạ (theo nghĩa toán học) dựa trên những điểm tương ứng; ví dụ, trong miền nguồn có đĩểm
A thì sẽ có ánh xạ A' trong miền đích, B có Bv.v
Sơ đồ ánh xạ trong ẩn dụ phải tuân theo Nguyên tắc Bất biến (the Invariance Principle,
Lakoff 1990): cấu trúc lược đồ hình ảnh của miền nguồn được phóng chiếu vào miền gốc theo
một phương thức nhất quán với cấu trúc có sẵn và cố định của miền nguồn Ví dụ, trong lược
đồ BÌNH CHỨA, yếu tố bên trong của bình chứa phải phóng chiếu (ánh xạ) với yếu tố bên trong, yếu tố bên ngoài phải phóng chiếu với yếu tố bên ngoài, yếu tố biên độ phải phóng chiếu
với yếu tố biên độ của hai miền Các sơ đồ ánh xạ không mang tính chất qui ước, mà bắt nguồn
từ sự vận động của thân thể trong không gian và từ các trải nghiệm và sự hiểu biết trong đời
sống hàng ngày Một hệ thống ý niệm chứa hàng ngàn sơ đồ ánh xạ, tạo thành những tiểu hệ
thống trong cùng một hệ thống ý niệm, tương tự như miền ma trận nêu ở phần trên Do vậy,
NNHTN chia sơ đồ ánh xạ thành hai loại dựa trên sự tri nhận của con người: sơ đồ ánh xạ ý
ni ệm và sơ đồ ánh xạ hình ảnh, cả hai loại đều phải tuân theo Nguyên tắc Bất Biến
Trong một ẩn dụ được nhắc đến nhiều trong, các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm: TÌNH YÊU
LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH (Lakoff và Johnson 1980 và Lakoff 1987), chúng ta có thể nhận biết các miền như sau:
Miền, trên : sự CHUYỂN ĐỘNG CẢM xúc
Miền dưới : cuộc HÀNH TRÌNH TÌNH YÊU
(miền nguồn) (miền đích)
Hãy xem xét một số ví dụ tiếng Anh (Lakoff và Johnson, 1980) và tiếng Việt (dịch nghĩa) sau đây dùng từ ngữ đường đi để chỉ tình yêu:
Trang 39(8) a Look how far we've come
(Xem r a chúng ta đã cùng đi được một chặng đường.)
b Our relationship is off the track
(M ối quan hệ cùa chúng ta đã chệch đường.)
c We’re spinning our wheels
(Chú ng ta đang dẫm chân tại chỗ.)
Sơ đồ ánh xạ đã chuyển nhiều tính chất (thuộc tính, thực thể, và phát ngôn) từ phạm trù
"cuộc hành trình" sang phạm trù "cảm xúc" mà cụ thể là "tình yêu" Từ ví dụ trên, chúng ta có
thể phân tích được những điểm tương ứng sau đây:
- Nh ững người yêu nhau tương ứng với những lữ khách
- M ối tình tương ứng với phương tiện di chuyển trong cuộc hành trình
- M ục tiêu chung của hai người yêu nhau tương ứng với điểm đến của cuộc hành trình
- Nh ững khó khăn, trở ngại trong mối tình tương ứng với những chướng ngại trong cuộc hành trình
Những tương ứng mang tính bản thể (ontological) gồm các thực thể (người, vật, ), hành động hay trạng thái trong miền nguồn được ánh xạ với phần tương ứng trong miền đích; đồng
thời cũng có những tương ứng mang tính nhận thức (epistemic) Ví dụ, trong cuộc hành trình
xe bị hỏng và lữ khách cố gắng khởi động trở lại bằng cách sửa xe hoặc vượt qua chướng ngại
để đi tiếp Tình huống này cũng tương ứng với tình yêu khi mối tình đến chỗ bế tắc và những người yêu nhau cố gắng điều chỉnh hoặc khắc phục khó khăn để tiếp tục cuộc tình Một khía
cạnh quan trọng trong ẩn dụ là việc phân tích chiều sâu nhận thức của ẩn dụ thường bỏ ngỏ (Lakoff & Turner 1989) và có thể sử dụng sáng tạo tùy theo nội dung giao tiếp thật sự diễn ra hàng ngày
1.2.4.2 Ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ngôn từ
Điều làm cho thuyết ẩn dụ hiện đại thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học
là sự phân biệt rõ ràng giữa ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphors) hay ý niệm ẩn dụ (metaphorical concepts) và ẩn dụ ngôn từ (linguistic metaphors) hay biểu trưng ẩn dụ
Trang 40(metaphorical expressions) Ẩn dụ ý niệm là những ý niệm trừu tượng như BÀN CÃI LÀ
CUỘC CHIẾN (ARGUMENT IS WAR) hay TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH (LOVE
IS A JOURNEY), trong khi đó ẩn dụ ngôn từ là từ ngữ thể hiện các ý niệm trên Theo thuyết này, ẩn dụ cơ bản là ý niệm chứ không phải là ngôn ngữ thể hiện Ẩn dụ ý niệm là các ánh xạ
có tính chất hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh
xạ hay phóng chiếu vào miền đích, một phạm trù trải nghiệm khác như Lakoff (1994) định
nghĩa:
"[Tóm l ại] trọng tâm của ẩn dụ không phải là ngôn ngữ mà phương thức chúng ta ý niệm hóa m ột miền tâm trí qua một miền tâm trí khác:'[126,43]
Điều tạo nên ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH không phải là từ ngữ cụ thể,
mà chính là sơ đồ ánh xạ giữa miền nguồn (cuộc hành trình) và miền đích (tình yêu) Ẩn dụ không chỉ là vấn đề ngôn ngữ, mà cơ bản là vấn đề tư tưởng và nhận thức Sơ đồ ánh xạ là chủ
yếu, ngôn ngữ chỉ là thứ yếu (Lakoff 1993) Sơ đồ ánh xạ là thông lệ, là một phần cố định của
hệ thống khái niệm của chúng ta, một trong những phương thức thông thường khi chúng ta ý
niệm hóa (conceptualize) mối quan hệ trong tình yêu Cách nhìn nhận ẩn dụ theo quan điểm này hoàn toàn khác với quan điểm cho rằng ẩn dụ chỉ là biểu hiện với thuộc tính ngôn ngữ, nghĩa là ngôn từ (linguistic expressions) Nếu vậy, mỗi từ ngữ riêng biệt phải có một ẩn dụ riêng biệt Hệ quả là "We’ve hit a dead-end street (Chúng ta đã vào ngõ cụt) sẽ là một ẩn dụ;
"we can’t turn back now" (Chúng ta không quay lại được nữa rồi) lại là một ẩn dụ khác; và
"Their marriage is on the rocks" (Cuộc hôn nhân của chúng ta đang ghập ghềnh khúc khuỷu)
lại chứa đựng một ẩn dụ khác nữa Nhưng thực tế chúng ta không có nhiều ẩn dụ như vậy; chúng ta chỉ có một ẩn dụ trong đó "tình yêu" được ý niệm hóa từ "cuộc hành trình" và từ sơ đồ ánh xạ của hai miền, chúng ta có thể có hàng trăm cách để biểu hiện bằng ngôn từ khác nhau Chúng ta cũng cần lưu ý rằng các nhà nghiên cứu về ẩn dụ hiện nay thường dùng ẩn dụ
(metaphor ) để chỉ sơ đồ ánh xạ ý niệm, và biểu trưng ẩn dụ (metaphorical expression) để chỉ
các từ ngữ cụ thể dùng để diễn đạt ẩn dụ (như dead-end street— ngõ cụt) Điều trình bày trên
về cách dùng thuật ngữ một lần nữa chứng tỏ rằng ẩn dụ bao gồm sơ đồ ánh xạ ý niệm và các
từ ngữ cụ thể Do vậy, khi các nhà nghiên cứu ngày nay (về ngôn ngữ học, nhân học, tâm lý
học, khoa học máy tính ) viết chữ in hoa như LOVE IS A JOURNEY, họ muốn ám chỉ ẩn dụ