1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về sắc dục và tiền tài trong truyện kiều của nguyễn du và đời du nữ năm người đàn bà si tình của IHARA SAIKAKU

104 35 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học, việc so sánh hai tác giả Nguyễn Du và Ihara Saikaku vẫn còn là hướng đi khá mới mẻ. Bởi lẽ, ở Việt Nam, nghiên cứu về Nguyễn Du thì không thiếu công trình, chuyên luận chuyên sâu và công phu và ở Nhật Bản cũng có rất nhiều học giả đã nghiên cứu về Ihara Saikaku

Trang 1

“ ĂM Ờ À BÀ S Ì ”

CỦA IHARA SAIKAKU

U Ă S

Trang 3

Lời cảm ơn

Luận văn thạc sĩ là sản phẩm nghiên cứu khoa học nghiêm túc của mỗi học viên cao học Chính vì thế, việc hoàn thành luận văn đòi hỏi rất nhiều công sức, sự chuyên tâm, nhiệt huyết cũng như thời gian của người viết Tuy nhiên, một trong những yếu tố không nhỏ tạo nên “sản phẩm trí tuệ” này chính là sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô giáo

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS Đào Thị Thu Hằng, người trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình làm luận văn Không chỉ gợi ý và hướng dẫn em trong quá trình tìm hiểu tác phẩm và lựa chọn đề tài, cô còn tận tình chỉ bảo em những kĩ năng cần thiết, khai thác tài liệu để có được những lập luận phù hợp với nội dung của luận văn Hơn nữa,

cô còn rất nhiệt tình trong việc đốc thúc quá trình viết, đọc và đưa ra những nhận xét, góp ý để em có thể hoàn thành luận văn một cách tốt nhất

Bên cạnh đó, em cũng xin gửi đến các thầy cô giáo đã và đang công tác, giảng dạy tại chương trình Khu vực học, trường Đại học Việt Nhật lòng biết ơn sâu sắc về những kiến thức và kĩ năng mà các thầy cô đã truyền đạt cho em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện Chính sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô giáo đã tạo nên động lực giúp em hoàn thành tốt luận văn này

Học viên thực hiện

Đỗ Lê Thanh Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

2.1 Phạm vi nghiên cứu 3

2.2 Đối tượng nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 4

4 Lý thuyết 4

4.1 Lý thuyết về văn học so sánh 4

4.2 Lý thuyết về phương pháp tiếp cận văn hóa học trong nghiên cứu văn học 5

5 Đóng góp của đề tài 6

6 Cấu trúc của luận văn 7

7 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

7.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề sắc dục và tiền tài trong Truyện Kiều của Nguyễn Du 7

7.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề sắc dục và tiền tài trong các sáng tác của Ihara Saikaku 14

hương 1 CÁC VẤ Ề LỊCH SỬ XÃ HỘ Á Ộ ẾN SỰ RA ỜI NHỮNG SÁNG TÁC VỀ SẮC DỤC VÀ TIỀN TÀI CỦ À Ă 20

1.1 Những điểm tương đồng trong bối cảnh lịch sử - xã hội đương thời ở hai quốc gia 20

1.1.1 Chính trị 20

1.1.2 Kinh tế - xã hội 22

1.2 Những điểm tương đồng trong nền văn học hậu kỳ trung đại của hai quốc gia 25

1.2.1 Hệ tư tưởng 26

1.2.2 Đội ngũ sáng tác 29

1.2.3 Đề tài và thể loại 30

1.3 Những điểm tương đồng giữa Nguyễn Du và Ihara Saikaku 34

1.3.1 Cuộc đời của hai tác giả 34

1.3.2 Nội dung và hình thức các tác phẩm 37

Tiểu kết chương 1 40

Trang 5

hương 2 QUAN NIỆM VỀ SẮC DỤC TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN

DU VÀ IHARA SAIKAKU D Ớ Ó Ì Ă Ó 41

2.1 Những điểm tương đồng trong quan niệm về sắc dục của hai nhà văn 41

2.2.1 Sắc dục là số kiếp và bi kịch của phận má hồng 41

2.2.2 Sắc dục là con đường để giải phóng khao khát yêu thương và mưu cầu hạnh phúc của người phụ nữ 44

2.2.3 Sắc dục là con đường giúp con người nhận thức các bài học về cuộc đời 48

2.2 Những điểm khác biệt trong quan niệm về sắc dục của hai nhà văn 53

2.2.1 Trong Truyện Kiều 53

2.2.2 Trong Đời du nữ và Năm người đàn bà si tình 60

Tiểu kết chương 2 69

hương 3 QUAN NIỆM VỀ TIỀN TÀI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DU VÀ IHARA SAIKAKU D Ớ Ó Ì Ă Ó 71

3.1 Những điểm tương đồng trong quan niệm về tiền tài của hai nhà văn 71

3.1.1 Tiền tài là công cụ để thỏa mãn nhu cầu hưởng lạc của con người 71

3.1.2 Tiền tài là phao cứu sinh duy nhất cứu rỗi những cuộc đời bi kịch 75

3.1.3 Tiền tài là phương tiện giải phóng con người ra khỏi vòng vây của xã hội phong kiến 78

3.2 Những điểm khác biệt trong quan niệm về tiền tài của hai nhà văn 80

3.2.1 Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du 80

3.2.2 Trong Đời du nữ và Năm người đàn bà si tình của Ihara Saikaku 87

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LU N 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 6

MỞ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sắc dục và tiền tài đều là những đề tài nổi bật trong văn học Việt Nam giữa thế

kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX và văn học Nhật Bản những năm cuối thế kỷ XVII

“Với đặc trưng cơ bản có tính lịch sử của nó là sự khẳng định dân tộc” (Lộc, 2001,

tr 36), văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến những năm đầu thế kỷ XV xoay quanh các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, chuyển tải những thông điệp mang ý nghĩa quốc gia dân tộc, từ đó nêu bật lên tinh thần hào sảng, quyết tâm bảo vệ đất nước của cha ông Từ nửa cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVIII, trong bối cảnh đất nước không bị ngoại xâm đe dọa, lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thức, văn học từng bước chuyển sang cảm hứng “khẳng định nhà nước phong kiến” (Lộc, 2001, tr 39) với các tác phẩm viết về đề tài vịnh thiên nhiên và vịnh sử nhằm đề cao những triết lý muôn đời của Nho gia Như vậy, nhìn chung, suốt gần chín thế kỷ qua, các sáng tác văn chương đều gặp nhau ở cảm hứng cộng đồng, quốc gia, dân tộc mà chưa có những bước bức phá để tiến đến những đề tài về con người cá nhân Tuy nhiên, bước vào những năm giữa thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, trong bối cảnh đất nước rối ren vì sự khủng hoảng, bế tắc của nhà nước phong kiến, cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng quyết liệt, nhân dân bị áp bức, bóc lột, văn học trung đại đánh dấu bước ngoặt lớn khi đặt vấn đề “khám phá con người và khẳng định những giá trị chân chính của con người” (Lộc, 2001, tr 51) lên hàng đầu Nhờ đó những tác phẩm viết về đời sống tâm tư, tình cảm của con người cá nhân được chú trọng Với

sự manh nha quan niệm “tình yêu tự do là cái đẹp”, những câu chuyện kể về tình yêu đôi lứa của tài tử giai nhân, những trạng thái yêu đương, môtip xác thân, đời sống hưởng lạc của con người thị dân bắt đầu xuất hiện trong các sáng tác văn học Từ đó, các mảng đề tài trước đây vốn e dè như tiền tài và thậm chí bị cấm kỵ như sắc dục dần dần thâm nhập và đánh dấu vị trí nhất định trên văn đàn dân tộc

Ở Nhật Bản, sau thời kỳ vàng son của nền văn học quý tộc Heian, nền văn chương trung cận đại đều tập trung khắc họa đề tài chiến tranh với những cuộc tranh hùng để lại tiếng vang trong lịch sử dân tộc Mãi đến khi bước vào thời kỳ Edo từ đầu thế kỷ XVII, dòng văn hóa thị dân mang tính đại chúng xuất hiện và dần thay thế văn hóa của tầng lớp võ sĩ vốn khắc kỉ, cứng nhắc và đơn điệu Trong dòng chảy văn hóa đó, các tác phẩm phù thế thảo tử đã ra đời, mang trong mình tâm thức, cảm quan của con người phố thị về vấn đề gần gũi trong đời sống vật chất (tiền) và tinh

Trang 7

thần (tình) hằng ngày Do đó, nghiên cứu về vấn đề sắc dục và tiền tài qua các tác phẩm văn chương, người viết có thể nắm bắt được tinh thần của thời đại thị dân qua từng số phận cụ thể, lắng nghe được tâm tư nguyện vọng và tiếng lòng của con người đương thời, từ đó thấu hiểu những góc khuất trong đời sống mà các công

trình về lịch sử, văn hóa chưa hẳn đã phát lộ cho chúng ta biết được

1.2 Bàn về sự kết hợp giữa Nguyễn Du và Ihara Saikaku, không ít người đặt ra

câu hỏi rằng liệu hai tác giả thuộc hai dân tộc khác nhau, sáng tác ở hai thời kỳ khác nhau trong lịch sử thì có thể đặt cạnh nhau để so sánh trong một đề tài nghiên cứu được hay không Quả thật, nếu xét về niên đại, Nguyễn Du là thi sĩ sáng tác trong những năm giữa thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, còn Ihara Saikaku được biết đến như cây bút nổi danh của dòng văn chương phù thế Nhật Bản cuối thế kỷ XVII Tuy nhiên, nếu dựa trên tính toán, ta chỉ thấy hai tác giả này lệch nhau đến hơn một thế

kỷ nhưng khi xét theo bối cảnh lịch sử xã hội văn hóa mà họ xuất hiện thì ta vẫn có được lý lẽ đầy đủ để chứng minh cho sự so sánh trên không phải là điều phi lý Bỏ qua những chi tiết thể hiện sự khác biệt trong xã hội Việt Nam và Nhật Bản, một điều ai cũng dễ dàng nhận ra là những con số kia đều lần lượt đánh dấu cho thời kỳ với những thay đổi căn bản về mọi mặt đời sống sau khi trải qua những cuộc nội chiến hay nổi loạn kéo dài trong lịch sử Đặc biệt, với sự xuất hiện của các đô thị lớn kéo theo đó là sự lên ngôi của tầng lớp thị dân – những người đề cao lối sống phóng khoáng, tự do, hưởng thụ, nền văn hóa thị dân đã hình thành, tác động sâu sắc đến các sáng tác nghệ thuật khiến văn học ngày càng mang tính bình dân, thông tục với những nội dung gắn bó với thực tế đời sống Với tư cách là đứa con của thời đại và dùng văn chương như một phương tiện phản ánh hiện thực, dưới ảnh hưởng của nền kinh tế đô thị, văn hóa và lối sống thị thành ngày càng phổ biến trong xã hội, Nguyễn Du và Ihara Saikaku đã phản ánh một cách sắc nét những đặc trưng của thời đại sắc dục và tiền tài ở Việt Nam và Nhật Bản góp phần tạo nên những màu sắc chung trong tác phẩm của hai nghệ sĩ Hơn nữa, là những con người đã từng nếm trải, tắm táp qua bao nhiêu giông tố của cuộc đời, lại có nhiều năm chinh chiến trên văn đàn, cả hai tác giả đều có thể cảm thấu một cách sâu sắc những vấn

đề nhức nhối của thời đại để chuyển tải trong văn học

1.3 Xuất phát từ việc tri nhận những kiến thức nền tảng về chính trị, kinh tế,

xã hội và tư tưởng trong thời đại của Nguyễn Du và Ihara Saikaku, người viết từ đó

đi sâu lý giải những căn nguyên, cội nguồn văn hóa của những quan niệm về sắc

Trang 8

dục và những phác họa về thế giới tiền tài trong sáng tác của hai nhà văn Dưới góc

nhìn văn hóa, những chi tiết, sự kiện, hình tượng nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du hay Đời du nữ, Năm người đàn bà si tình của Ihara Saikaku không chỉ

là những sáng tạo mang tính cá nhân của nhà văn mà hơn hết nó còn chịu ảnh hưởng của không gian xã hội phong kiến, chịu sự chi phối của các quan niệm tôn giáo, đạo đức, triết học, thẩm mỹ của thời hậu kỳ trung đại Khai thác vấn đề sắc dục và tiền tài dưới góc nhìn văn hóa, người viết muốn khám phá, giải mã những những khía cạnh văn hóa - xã hội của tiền bạc, những trải nghiệm đô thị và mẫu hình thương nhân, những cá tính nổi loạn, những tài tử giai nhân tồn tại trong đời sống đã tác động đến tính cách của nền nghệ thuật, từ đó liên hệ đến những tư tưởng của hai nhà văn thuộc về hai nền văn học vốn có nhiều điểm gần gũi đến kì lạ

2 Phạm vi v đối tượng nghiên cứu

2.1 Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài này, người viết sẽ nghiên cứu tác phẩm sau:

+Tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, khảo sát trên công trình Truyện Kiều chú giải do tác giả Lê Văn Hòe hiệu đính, chú giải và bình luận của nhà xuất bản

Văn học, năm 2019

+Tác phẩm Đời du nữ do Đào Thị Hồ Phương dịch, được ấn hành bởi nhà xuất

bản Hội nhà văn năm 2018

+Tác phẩm Năm người đàn bà si tình do Phạm Thị Nguyệt dịch, được ấn hành

bởi nhà xuất bản Văn học năm 2016

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu các sáng tác của Ihara Saikaku, người viết

sẽ liên hệ với bản gốc tiếng Nhật (tiếng Nhật hiện đại) để khám phá trực tiếp tinh thần tác phẩm mà bản dịch đôi chỗ chưa chuyển tải hết Cụ thể, người viết sẽ khảo sát bản của tác giả 暉峻康隆、現代語訳西鶴全集、第四巻、『好色五人女』、『好色

一代女』、小学館版 (Teruoka Yasutaka, Hợp tuyển Ihara Saikaku dịch theo ngôn

ngữ hiện đại, Tập 4, Năm người đàn bà si tình, Đời du nữ, nhà xuất bản

Shougakukan)

2.2 ối tượng nghiên cứu

Trong ba tác phẩm trên, người viết tiến hành nghiên cứu hai vấn đề cơ bản là sắc dục và tiền tài đặt trong mối liên hệ với đặc trưng và quan niệm văn hóa tương đồng và khác biệt của Việt Nam và Nhật Bản Trong mỗi tác phẩm của hai nhà văn,

Trang 9

sắc dục và tiền tài mang những màu sắc khác nhau nên khái niệm và những biểu

hiện của chúng sẽ được trình bày cụ thể trong phần nội dung của các chương

3 Phương pháp nghiên cứu

Người viết sẽ áp dụng các phương pháp sau:

-Phương pháp lịch sử - xã hội: Trong quá trình nghiên cứu, người viết sẽ áp dụng phương pháp này để tìm hiểu, phân tích bối cảnh lịch sử, xã hội làm nảy sinh, phát triển hai vấn đề sắc dục và tiền tài ứng với hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm -Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng trong từng chương của bài viết Ở chương 1, người viết tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, tư tưởng của hai quốc gia nhằm có thể

lý giải vì sao lại lựa chọn hai tác giả trên để so sánh Trong chương 2 và 3 người viết chỉ ra những điểm giống và khác nhau của hai nhà văn trong quan niệm về sắc dục và tiền tài thể hiện qua các tác phẩm văn học

-Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Mặc dù phạm vi nghiên cứu là các sáng tác của Nguyễn Du và Ihara Saikaku nhưng đề tài này không chỉ gói gọn trong lĩnh vực văn học Với đề tài này, người viết cũng vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa lịch sử, văn học, văn hóa để có thể tiếp cận và lý giải vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống từ những góc nhìn có quan hệ mật thiết với nhau, từ đó nhận diện

và lý giải những biểu hiện của sắc dục và tiền tài trong các sáng tác của hai nhà văn

4 Lý thuyết

4.1 Lý thuyết về văn học so sánh

Xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở châu Âu, văn học

so sánh – một phân nhánh của nghiên cứu văn học giờ đây đã trở thành một trong những ngành chủ đạo trong lý luận, phê bình văn chương Ở Việt Nam, văn học so sánh bắt đầu thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu bắt đầu từ thế kỷ XX và có nhiều dấu hiệu khởi sắc, chuyển biến rõ rệt trước và sau thời kỳ đổi mới Nguyễn Văn

Dân, trong công trình Lí luận văn học so sánh đã đưa ra định nghĩa mang tính khái

quát về ngành nghiên cứu này: “Văn học so sánh có thể được định nghĩa như là một

bộ môn khoa học nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc” (Dân,

2003, tr 19) “Là bộ môn khoa học độc lập tương đối, có mục đích và đối tượng đặc thù, phương pháp luận riêng” (Dân, 2003, tr 54), văn học so sánh có sự khác biệt rõ nét với “so sánh văn học” – một khái niệm được nhìn nhận ở cấp độ phương pháp ụ thể, so sánh văn học ở đây chỉ “là một thao tác của tư duy để xác định, đánh giá các

Trang 10

hiện tượng văn học trong mối quan hệ giữa chúng với nhau, phương pháp so sánh có thể áp dụng cho tất cả các bộ môn nghiên cứu văn học” (Hồng, 2016)

Với vai trò “khám phá mối liên hệ văn học giữa các quốc gia hay liên quốc gia,

bổ sung quan trọng cho hướng nghiên cứu văn học dân tộc biệt lập từ trước đến nay” (Sử và nnk., 2005, tr 8, 9), văn học so sánh tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về tư duy, tình cảm, tâm lí, thẩm mĩ giữa nền văn học tưởng chừng như xa lạ với nhau Hay nói cách khác, văn học so sánh “nghiên cứu mối quan hệ qua lại cũng như những đặc điểm tương đồng và khác biệt giữa các nền văn học nhằm tiếp cận tiến trình văn học lớn nhất: Văn học thế giới” (Dân, 2003)

Lấy các hiện tượng văn học thuộc các nền văn học khác nhau của các dân tộc khác nhau làm đối tượng nghiên cứu, văn học so sánh chỉ ra những đặc thù mang tính dân tộc trong nền văn học của mỗi quốc gia đồng thời làm rõ những nét chung mang tính quốc tế; những tính chất, quy luật phát triển chung của văn chương trên phạm vi dân tộc và phạm vi thế giới Do đó, “thiếu văn học so sánh chúng ta sẽ chỉ khép cửa đề cao một chiều văn học dân tộc, thiếu hẳn ý thức về vị thế, thân phận, tư cách của văn học dân tộc mình trong cộng đồng văn học nhân loại Thiếu văn học

so sánh chúng ta sẽ thiếu con mắt quốc tế để nhìn nhận mỗi thành tựu và yếu kém của chúng ta Thiếu văn học so sánh chúng ta mất khả năng đánh giá những tiềm năng sáng tạo tự chủ của văn học dân tộc trước các ngọn triều Âu Á không ngừng

xô đến các tộc người trên mảnh đất chữ S” (Sử và nnk., 2005, tr.8, 9)

4.2 Lý thuyết về phương pháp tiếp cận văn hóa học trong nghiên cứu văn học

Văn học và văn hóa luôn là hai hình thái ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau Bởi

lẽ, “văn học là sự tự ý thức văn hóa Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc Cùng với hệ thống giá trị văn hóa là những mô thức văn hóa riêng của một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và thể hiện những giá trị và mô thức mà

cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ” (Bảo, 2009) Vì thế, khi tiếp cận một tác phẩm, các nhà nghiên cứu đã dành vận dụng phương pháp tiếp cận tác phẩm từ quan điểm văn hóa học để khám phá ra vỉa tầng văn hóa trong sáng tác văn chương đó Nói một cách cụ thể, “phương pháp tiếp cận tác phẩm từ quan điểm văn hóa học ưu tiên

Trang 11

cho việc phục nguyên không gian văn hóa trong đó tác phẩm văn học đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mỹ, quan niệm về con người, cũng như sự chi phối của các phương diện khác nhau trong đời sống sinh hoạt xã hội sống động hiện thực từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, mô típ, hình tượng, cảm xúc, ngôn ngữ, ” (Thìn, 2007 tr 9-10) Đây được xem như một phương pháp tiếp cận liên ngành vận dụng tri thức tổng hợp của các ngành lịch sử, tôn giáo, để khám phá các hình tượng trong tác phẩm văn học Một điều đáng chú ý rằng phương pháp tiếp cận văn hóa học này có nhiều sự giao thoa, gặp gỡ với các cách tiếp cận khác như xã hội học – lịch sử, thi pháp học, chú giải học, liên văn bản, thi pháp học,

Văn học dù phản ánh bất cứ vấn đề gì của đời sống cũng đều hướng đến con người, lấy con người làm trung tâm Vì thế, phương pháp tiếp cận văn hóa học tiến hành nghiên cứu hình tượng con người như một “sản phẩm xã hội, đã và không ngừng được văn hóa hóa”, nghiên cứu các không gian xã hội thực chất là xét “cách cảm nhận xã hội của con người trong một thời đại lịch sử nào đó” (Thìn, 2008, tr 17-18) Xuất phát từ quan niệm “văn hóa là các giá trị hình thành trong các mối quan hệ ứng xử cơ bản: ứng xử xã hội, ứng xử thiên nhiên và ứng xử với bản thân”, phương pháp này giúp nhà nghiên cứu giải mã được các vấn đề văn hóa như quan niệm về xã hội, các kiểu hình tượng xã hội, quan hệ của con người với thiên nhiên, các hình tượng thiên nhiên trong văn học, mô hình con người lý tưởng của thời đại

5 óng góp của đề tài

Trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học, việc so sánh hai tác giả Nguyễn

Du và Ihara Saikaku vẫn còn là hướng đi khá mới mẻ Bởi lẽ, ở Việt Nam, nghiên cứu về Nguyễn Du thì không thiếu công trình, chuyên luận chuyên sâu và công phu

và ở Nhật Bản cũng có rất nhiều học giả đã nghiên cứu về Ihara Saikaku Tuy nhiên, việc so sánh hai nhà văn này vẫn chưa nhận được sự quan tâm từ giới nghiên cứu văn học ở Việt Nam Do đó, người viết hi vọng rằng đề tài này có thể đóng góp một cách khai thác mới về một tác phẩm đã quá quen thuộc với độc giả trong nước, đó

là Truyện Kiều của Nguyễn Du, đồng thời bổ sung thêm mảnh ghép đang còn bỏ

ngỏ trong bức tranh nghiên cứu văn học Nhật Bản thời kỳ Edo, đặc biệt là với tác giả Ihara Saikaku

Trang 12

Thông qua việc so sánh hai tác giả lớn đại diện cho nền văn học hậu kỳ trung đại Việt Nam và Nhật Bản, người viết cũng mong muốn tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt văn học hai quốc gia, mối liên hệ gần gũi trong đời sống văn hóa, nghệ thuật giữa các dân tộc Á Đông vốn có mối bang giao mật thiết với nhau

Sắc dục và tiền tài luôn là vấn đề cơ bản trong đời sống con người, không riêng gì thời đại của Nguyễn Du hay Ihara Saikaku Bởi lẽ, dù ở bất cứ thời đại nào, con người cũng cần có nhu cầu tình cảm cá nhân và cần có tiền tài để giải quyết mọi vấn đề của đời sống vật chất Do đó, mặc dù nghiên cứu về hai vấn đề trên trong giai đoạn lịch sử nhất định nhưng người viết vẫn cảm nhận được tính thời sự của nó

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc ba chương:

Chương 1: Các vấn đề lịch sử xã hội tác động đến sự ra đời những sáng tác

về sắc dục và tiền tài của hai nhà văn

Chương 2: Quan niệm về sắc dục trong sáng tác của Nguyễn Du và Ihara Saikaku dưới góc nhìn văn hóa

Chương 3: Quan niệm về tiền tài trong sáng tác của Nguyễn Du và Ihara Saikaku dưới góc nhìn văn hóa

7 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

7.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề sắc dục và tiền tài trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Là một tác phẩm chứa đựng nội dung xã hội phong phú, mỗi vấn đề mà

Nguyễn Du đặt ra trong Truyện Kiều đều được nhiều tác giả đề cập hay bàn luận

trong các công trình nghiên cứu, trong đó không thể không kể đến sắc dục và tiền tài - hai vấn đề nổi cộm trong xã hội đương thời và trong sáng tác của đại thi hào Tất nhiên không phải lúc nào trong cùng một công trình, sắc dục và tiền tài đều được bàn đến mà có khi chúng được khám phá một cách riêng lẻ Điểm danh những

tác phẩm có bàn luận về hai vấn đề này, ta không thể bỏ qua công trình Tìm hiểu

phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc Mặc dù phần lớn nội

dung của công trình này bình về phương diện nghệ thuật của Truyện Kiều nhưng tác

giả vẫn dành ra hai trong đó mười chương để trình bày những nhận thức về vấn đề

tư tưởng trong tác phẩm của Nguyễn Du, trong đó có vấn đề đồng tiền và tình yêu

Nhận xét về vai trò của đồng tiền trong Truyện Kiều, Phan Ngọc khẳng định:

Trang 13

“Truyện Kiều đã dành cho đồng tiền một vai trò to lớn Đồng tiền được nhắc đến

trong 17 đoạn, trong mỗi đoạn nó đều chứng tỏ cái thế lực to lớn của mình” (Ngọc,

2001, tr 81) Đặc biệt, tác giả còn chỉ ra ba đặc điểm cơ bản của đồng tiền, đó là

“nó biến tất cả thành hàng hóa” (Ngọc, 2001, tr 81), “đồng tiền đẩy người ta đến những hành động trái đạo lý” (Ngọc, 2001, tr 81), “đồng tiền giúp cho người ta làm

được việc có ích” (Ngọc, 2001, tr 82) Có thể thấy, đồng tiền trong Truyện Kiều

ngoài ý nghĩa tiêu cực như nhiều người vẫn thường đề cập đến mà còn được khám phá theo chiều hướng tích cực Đặc biệt, tác giả còn tiến hành lý giải phương diện

tư tưởng – xã hội để giải thích vì sao trong thời đại của Nguyễn Du, đồng tiền lại có vai trò quan trọng đến thế Tuy nhiên, mặc dù có những luận giải sâu sắc về vấn đề đồng tiền nhưng đối với từng luận điểm kể trên, tác giả vẫn thiếu những chứng minh cần thiết ngay trong tác phẩm để những ý kiến đó thêm phần thuyết phục Không chỉ dừng lại ở vấn đề tiền tài, Phan Ngọc cũng bàn đến tình yêu trong

Truyện Kiều Sau màn dạo đầu giới thuyết về những cách tân trong đối tượng sáng

tác của văn học thời kỳ Lê mạc nói chung và so sánh cách thể hiện vấn đề tình yêu của lớp nhà nho tài tử như Phạm Thái, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ với lớp người

thơ mới, tác giả đã trình bày bốn đặc điểm của tình yêu trong Truyện Kiều: “Tình

yêu luôn luôn gắn với yếu tố thể xác” (Ngọc, 2001, tr 205-206), “tình yêu luôn luôn gắn liền với sự mất mát, lo sợ, với cảm giác rằng hạnh phúc rất mong manh, sớm chiều sẽ tan vỡ” (Ngọc, 2001, tr 209), “tình yêu hết sức đa dạng” (Ngọc, 2001, tr 210), “người ta có thể cùng một lúc có nhiều mối tình khác nhau về tính chất” (Ngọc, 2001, tr 213) Với mỗi đặc điểm, tác giả đã có những phân tích, chứng minh cần thiết, thậm chí so sánh Nguyễn Du với các tác giả truyện Nôm cùng thời để khẳng định sự táo bạo, cách tân trong tư tưởng của đại thi hào Có thể nói, những luận bàn của tác giả Phan Ngọc đã cung cấp cho người viết một hướng tiếp cận vấn

đề sắc dục và tiền tài trong Truyện Kiều, từ đó tạo tiền đề để khám phá thêm vỉa

tầng khác sâu sắc hơn, mới mẻ hơn

Không chỉ trong công trình nghiên cứu của Phan Ngọc, vấn đề tiền tài cũng

được phân tích sâu sắc trong chuyên luận Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII

– hết thế kỷ XIX) của tác giả Nguyễn Lộc Trong phần Nội dung xã hội trong Truyện Kiều, tác giả đã đề cập đến vấn đề đồng tiền với vai trò ghê gớm của nó trong mọi

mặt đời sống: “Đồng tiền len lỏi vào khắp chốn, khắp nơi, vào mọi tầng lớp xã hội, chi phối tâm lý một bộ phận lớn những con người trong xã hội này” (Lộc, 2001, tr

Trang 14

396-397) Tác giả cũng chỉ rõ mức độ chi phối của đồng tiền đến con người, cụ thể

“quan lại có kẻ vì tiền mà hành hạ con người, nho sĩ có kẻ vì tiền mà lưu manh hóa, bọn buôn thịt bán người tất cả vì tiền mà bày biện ra trăm phương nghìn kế để bẫy người phụ nữ, bắt họ phải đem thân ra làm món hàng để buôn bán cho chúng kiếm chác” (Lộc, 2001, tr 396-397) Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là tác giả nhận ra được bản chất thật của đồng tiền không phải tha hóa Bởi lẽ “đối với những người bị

áp bức trong xã hội thù đồng tiền quả có làm cho họ điêu đứng, chứ đồng tiền cũng

không làm tha hóa được họ” (Lộc, 2001, tr 397) Đồng tiền chỉ có thể làm tha hóa

những kẻ xấu xa hay bọn quan lại thối nát hám danh ham của Những đánh giá của

tác giả về vai trò của đồng tiền trong Truyện Kiều có phần gặp gỡ với ý kiến của nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ trong công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực: “Trong

Truyện Kiều, thế lực của đồng tiền tuy ghê gớm nhưng chưa phải là vạn năng Ngôi

hàng Lâm Tri của cha con Thúc Sinh đã phải hoàn toàn khuất phục trước tòa rộng dãy dài của họ Hoạn danh gia Xã hội đồng tiền cuối cùng vẫn không giết chết được phẩm chất cao đẹp của Kiều Còn Kim Trọng thì hình như không hề thở đến không khí của nó Kẻ nổi dậy chống lại thế lực đồng tiền là Từ Hải nhưng ở Từ Hải thì chưa bao giờ phảng phất thấy có ý định đưa xã hội tiến theo con đường tư bản chủ nghĩa” (Kỵ, 1998, tr 613)

Về vấn đề tình yêu trong Truyện Kiều, mặc dù không có những phân tích sâu

nhưng thông qua những đánh giá về các nhân vật, tác giả cũng đưa ra những nhận định xác đáng: “Tình yêu Kim Trọng – Thúy Kiều là đẹp, bởi vì nó hết sức hồn nhiên, trong sáng, tự do và tha thiết Riêng đối với Thúy Kiều, mối tình ấy còn có ý nghĩa sâu sắc hơn, vì Thúy Kiều muốn bằng con đường tình yêu của Kim Trọng để chống lại quy luật nghiệt ngã của định mệnh” (Kỵ, 2015, tr 371) Qua lời nhận xét này, ta thấy được tác giả còn nhấn mạnh ý nghĩa xã hội trong tình yêu của đôi trai tài gái sắc này Không chỉ xem xét mối tình Kim – Kiều, Nguyễn Lộc còn chỉ ra bản chất của những cuộc tình khác trong cuộc đời Kiều như mối nhân duyên với chàng Thúc: “Tình yêu của Thúc là thứ tình yêu của một kẻ hái hoa hưởng lạc Cái chuyển biến có tính chất quyết định trong tình cảm Thúc Sinh bắt đầu không phải bằng những câu chuyện tâm tình, mà bằng chuyện Thúc Sinh chứng kiến tấm thân ngà ngọc của Thúy Kiều lúc đang tắm” (Kỵ, 2015, tr 383) Nếu Thúc Sinh đến với Thúy Kiều bằng cảm giác nhục thể và cảm xúc nhất thời thì ngược lại, Từ Hải lại

“yêu phẩm chất đẹp, cái giá trị của Kiều”, “biết thông cảm với những khổ nhục của

Trang 15

Kiều và phẫn nộ đối với những điều tàn bạo, vô lý, bất công mà Thúy Kiều phải

chịu đựng” (Lộc, 2001, tr 383) Hay nói như cách của nhà nghiên cứu Vũ Hạnh về tình yêu trong Truyện Kiều: “Đúng ra trên một tình yêu lý tưởng, Kim Trọng, Thúc

Sinh, Từ Hải cả ba người ấy chung quy là khuôn mặt tình yêu của một con người,

ba cái trạng thái không thể thiếu được của một người tình hoàn toàn Bởi lẽ tình yêu hoàn toàn không phải được gắn bó bằng tình cảm chân thành của một Kim Trọng, hướng dẫn bằng lý trí vững chắc của một Từ Hải, duy trì bằng bản năng si mê của một Thúc Sinh” (Hạnh, 1998, tr 591) Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhưng hai tác giả đã gặp gỡ nhau trong những nhận định về bản chất của những mối tình xoay quanh cuộc đời Kiều Tuy nhiên, cả hai tác giả chỉ mới chạm đến vấn đề tình yêu chứ chưa có những khám phá mới mẻ về vấn đề sắc dục, tình dục của các nhân vật, hay nếu có nhắc đến thì chỉ gói gọn trong một vài nhận định chung chung chứ chưa

đi sâu phân tích Do đó, những vấn đề về thân xác, nhục cảm yêu đương của các nhân vật vẫn còn điều bỏ ngỏ

Khác với các tác giả Phan Ngọc và Nguyễn Lộc, như đã đề cập ở trên, Lê Đình Kỵ lại phát hiện tác dụng tiến bộ của đồng tiền được thể hiện ở việc góp phần giải phóng tự do cho con người: “Thế lực đồng tiền gắn liền với nền kinh tế hàng hóa ít nhiều phát triển và đi đôi với nền kinh tế hàng hóa ít nhiều phát triển, và đi đôi với quá trình phát triển này, nảy sinh những yêu cầu giải phóng tự do Trong hoàn cảnh xã hội phong kiến với phương thức sản xuất Á Đông, với sự thống trị của Nho giáo thì yêu cầu giải phóng trước hết là về mặt tình cảm Và yêu cầu tự do được thể hiện chủ yếu ở xu hướng thoát khỏi sự ràng buộc của cương thường đạo lý, của tôn ti trật tự phong kiến Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, và một phần Thúc

Sinh, mỗi người một cách, đều thể hiện các yêu cầu đó” (Kỵ, 1998, tr 613-614)

Như vậy, soi xét ở nhiều góc độ khác nhau, nhân vật đồng tiền trong sáng tác của Nguyễn Du không phải lúc nào cũng bị gắn mác như một kẻ tội đồ gây ra bao đau thương mà ngược lại, nó cũng đem lại lợi ích tốt đẹp cho con người Hay nói cách khác, đồng tiền trở nên xấu hay tốt phụ thuộc vào người sử dụng và điều khiển nó

Có thể nói, những phát hiện của các học giả đi trước đã cho ta cái nhìn toàn diện,

chân thực về một vấn đề vốn bị lên án, phê phán trong Truyện Kiều.

Viết về tình yêu trong Truyện Kiều, tác giả Lê Đình Kỵ lại nhấn mạnh đến vấn

đề chung thủy, nhất là trong mối tình giữa Kim Trọng – Thúy Kiều: “Điểm tiến bộ của Nguyễn Du là đã để cho lòng chung thủy ở đây không bị biến thành một thứ

Trang 16

đức hạnh từ ngoài đưa vào, đè nặng lên con người, mà là biểu hiện của một mối tình sâu xa, nó không phải là một chiều, chỉ bắt buộc đối với người phụ nữ, mà có tính

chất song phương, cả Kim Trọng và Thúy Kiều đều xứng đáng với nhau về mặt đó”

(Kỵ, 1998, tr 672) Không chỉ vậy, tác giả còn thanh minh cho cái án “tà dâm” mà Kiều bị người đời xưa phán quyết: “Không phải cái tà dâm đã bắt Kiều đến lầu xanh của Tú Bà, mà chính là cái đạo lý làm người, chính tấm lòng hiếu nghĩa đã biến Kiều thành miếng mồi ngon của bọn bán thịt buôn người” (Kỵ, 1998, tr 672) Như vậy, tác giả đều đứng về phía Kiều, tỏ lời bênh vực nhân vật, trân trọng những mối tình và cuộc đời làm đĩ bất đắc dĩ của nàng Phải nói rằng, mặc dù xem xét vấn đề tình yêu trong mối quan hệ với lễ giáo phong kiến nhưng tác giả không lấy những chuẩn mực của đạo đức Nho gia để phán xét câu chuyện tình yêu của nhân vật, mà ngược lại còn chỉ ra những tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Du Tuy nhiên, cũng như các công trình trên, nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ chưa thực sự xoáy sâu vào vấn đề

sắc dục trong Truyện Kiều

Nhìn chung, vấn đề về sắc dục không hẳn không được các nhà nghiên cứu đề cập đến mà đúng hơn, nó chỉ được nhắc đến một cách rời rạc trong các công trình

viết về Truyện Kiều nói chung hay các bài viết riêng lẻ Trong bài viết Thúy Kiều và

khát vọng giải sex của Đỗ Minh Tuấn, dưới con mắt của độc giả đương đại, tác giả

đã không ngần ngại khám phá những ẩn ức dục tình của mỗi nhân vật trong xã hội lúc bấy giờ: “Kim Trọng là quả bom sex bị lễ giáo phong kiến và trật tự xã hội đương thời tháo đi ngòi nổ Kim luôn luôn bị lỡ nhịp về tình dục Khi tình yêu với Kiều vừa bén, Kim đã vượt trào khỏi giới hạn của một nho sĩ chính hiệu để đòi ái ân với Kiều, nhưng Kiều bị nhân danh đạo đức Nho giáo từ chối Lập trường Nho giáo của Kiều chỉ là cái vỏ, cái lõi của thái độ từ chối ái ân này chính là cái run rẩy sợ hãi hậu quả tâm lý của sinh hoạt tình dục” (Tuấn, 2014) Đặc biệt, tác giả lại dành cho Thúc Sinh cái nhìn đầy thiện cảm khi “trong thế giới đầy hoa, chữ và đĩ điếm của

Truyện Kiều, Thúc Sinh là sứ giả phong lưu của sex Thúc gặp Kiều trong nhà thổ,

trong môi trường tình dục, nhưng chưa có đấng nam nhi nào trong thế giới Truyện

Kiều có cái nhìn văn hóa nâng tấm thân nhục dục của Kiều lên tầm cao thẩm mỹ như

Thúc Sinh” (Tuấn, 2014) Còn với Hoạn Thư, trong cảm hứng “giải sex” bao trùm toàn bài viết, vai trò của nhân vật này được tác giả nhìn nhận vô cùng độc đáo: “Tội của Hoạn Thư là đã chống lại quá trình giải sex của Kiều, biến hình ảnh con điếm thành hình ảnh văn hóa, thành con điếm văn nô, điều mà Kiều luôn nỗ lực chống lại

Trang 17

kể cả bằng cách vô hiệu hóa con người dục tính của chàng Kim” (Tuấn, 2014) Có thể nói, mỗi nhân vật trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Du đều mang trong mình cảm thức mãnh liệt về tình dục và cố sức vẫy vùng để chiếm lĩnh cuộc chơi hoặc giải thoát

ra khỏi thế giới sex vốn mang danh tội lỗi và tà dâm Mặc dù Đỗ Minh Tuấn có

những luận bàn độc đáo về thế giới tình dục trong Truyện Kiều nhưng đặt trong bối cảnh ra đời Truyện Kiều lúc bấy giờ thì đôi chỗ những ý kiến của tác giả chưa thực sự

với thời đại và tư tưởng đương thời

Điểm qua những công trình nghiên cứu về sắc dục và tiền tài trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, người viết nhận thấy nhìn chung, khi luận bàn về Truyện Kiều,

không có công trình nào không nhắc đến hai vấn đề trên, chỉ là chúng khác nhau ở mức độ nông sâu và sự riêng biệt trong cách tiếp cận của mỗi học giả Tuy nhiên, trong các công trình kể trên, người viết chưa thực sự tìm thấy những luận bàn, lý giải sâu sắc, tường tận về sắc dục và tiền tài dưới góc nhìn văn học, nếu có đi chăng nữa thì chỉ được thâu tóm trong một vài nhận định súc tích Có thể nói, để tìm những công

trình nghiên cứu Truyện Kiều dưới góc nhìn văn hóa một cách hệ thống, chuyên sâu,

có lẽ phải kể đến Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa của Lê Nguyên Cẩn và

Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa của Trần Nho Thìn

Trong công trình của Lê Nguyên Cẩn, vấn đề tình yêu, sắc dục cũng được tác giả bàn đến mặc cho tần suất không nhiều lắm Tác giả nhận ra Truyện Kiều không đơn thuần chỉ là câu chuyện xoay quanh các mối tình khác nhau trong cuộc đời Kiều mà hơn hết, nhà nghiên cứu còn khám phá ra những mạch kể ẩn sau lớp ngôn

từ miêu tả tình yêu trong tác phẩm: “Nguyễn Du đã tạo ra các mạch kể khác, đan

vào câu chuyện tình này khiến Truyện Kiều trở thành một chuyện tình phức hợp

Mạch kể thứ hai là cuộc chiến giữa tài sắc và xã hội, giữa thế giới các mỹ nhân và thế giới các tiện nhân Kiều nổi lên trước hết là sắc đành đòi một tài đành họa hai

mà hại thay mang lấy sắc tài làm chi Mạch kể này cũng cho thấy cuộc đụng độ giữa thành kiến xã hội và con người tài hoa trong xã hội đó” ( ẩn, 2011, tr 258) Như vậy, từ câu chuyện tình của nhân vật, tác giả đã gián tiếp nói đến cái án “hồng nhan bạc mệnh” giáng lên những số kiếp tài sắc của Kiều trong vòng vây của xã hội Nho gia hà khắc

Vấn đề này một lần nữa được Trần Nho Thìn lý giải cặn kẽ trong công trình

Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa Áp dụng phương pháp văn hóa

học để đọc tác phẩm văn học, Trần Nho Thìn đã phân tích, phẩm bình nhân vật theo

Trang 18

lối tiếp cận nhân học văn hóa và lý giải triết lý của Truyện Kiều trong bối cảnh văn

hóa xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Trước hết, tác giả đã thấy

được các nhân vật trong Truyện Kiều đã thoát khỏi hình tượng thánh nhân để hiện

lên trong dáng vẻ, tâm thế của con người phàm trần Vì thế khi bàn về mối tình Kim – Kiều, tác giả nhấn mạnh những điểm sáng, những quan niệm mới mẻ của Nguyễn

Du về vấn đề thân xác, bản năng của nhân vật trong tình yêu: “Nhiều người ca ngợi tình yêu có tính chất phản phong, chống Nho giáo của Kiều khi nàng “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” nhưng lại phê phán Kiều là không phản phong triệt

để vì đã từ chối tình yêu đầy dục vọng của Kim Trọng Nhiều người khen Kiều trinh

mà không dâm cũng chỉ thấy một phía nỗi lòng của nhân vật mà không thấy phía đối lập Họ chỉ thấy Kiều từ chối Kim Trọng mà không chịu thấy Kiều đã hối hận vì

đã từ chối Kim Trọng Các học thuyết tư tưởng tôn giáo thường loại trừ cái bản năng, cái thân xác và nhấn mạnh một chiều cái văn hóa, cái lý tưởng Trái lại, Nguyễn Du nhìn vấn đề tấm lòng của nhân vật một cách nhất nguyên, các phạm trù đối lập như thân xác và tâm lý, bản năng và văn hóa không tách rời Đã là người, ai cũng có thân xác và lí tưởng, bản năng và văn hóa, không một ứng xử thân xác nào lại không có sự dẫn dắt của một quan niệm lí tưởng và bất cứ một ứng xử tâm lí nào cũng có vai trò của yếu tố vật chất, thân xác đằng sau Đó là cái mới của Nguyễn

Du, được coi như nguồn gốc gây ra những ý kiến trái ngược nhau khi đánh giá nhân

vật Truyện Kiều” (Thìn, 2007, tr 474) Từ đó, tác giả đưa ra những luận bàn sâu sắc

về vấn đề thân xác trong tình yêu, trong đó phải kể đến những nhận định vô cùng

xác đáng:“Thông thường, trong văn học trung đại, quan hệ nam nữ có hơi hướng

sắc dục được trình bày với cảm hứng phê phán, bị xem như là bài học phản diện về

sự nguy hại của bản năng với lí tưởng đạo đức, với nhân cách con người… Trong

Truyện Kiều, cái nhìn của tác giả đã đổi khác Các mối tình của Kiều và các nhân

vật chính diện, ở mức độ này khác, đều không thiếu màu sắc thân xác, nhục dục Và điều quan trọng là nhà thơ tỏ thái độ tán đồng, thậm chí chăm sóc nâng niu những mối tình đó, tức là hoàn toàn thoát li lập trường truyền thống đối với vấn đề tình yêu

thân xác” (Thìn, 2007, tr 427) Hay “Nói tổng quát, với Truyện Kiều, lần đầu tiên

trong văn học trung đại Việt Nam, các nhân vật chính diện được tả trong những chân dung có màu sắc thân xác với cảm hứng khẳng định rõ rệt Thân xác không phải là nguồn gốc của cái khổ đau, cũng không phải là dấu hiệu của sự thấp hèn Thân xác là một phần quan trọng của nhân cách” (Thìn, 2007, tr 430-431)

Trang 19

Trên đây là những nhận định tiêu biểu của tác giả Trần Nho Thìn liên quan

đến đề tài nghiên cứu của người viết Công trình Văn học trung đại Việt Nam dưới

góc nhìn văn hóa này sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng định hướng cách tiếp cận

vấn đề sắc dục trong Truyện Kiều của người viết, từ đó triển khai, luận bàn sâu hơn

nữa về vấn đề nêu trên dựa trên những nhận định của nhà nghiên cứu

7.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề sắc dục và tiền tài trong các sáng tác của Ihara Saikaku

Ở nước ngoài, Ihara Saikaku không còn là cái tên xa lạ đối với giới phê bình văn học Nhật Bản bởi các tác phẩm của ông đã được dịch và nghiên cứu một cách rộng rãi Thậm chí, trong bất cứ công trình nghiên cứu tổng quan nào về văn học Nhật Bản nói chung và văn học cận thế nói riêng, Saikaku đều được đề cập đến như một đại diện tiêu biểu cho văn học xứ sở Phù Tang thời kỳ Edo, đó là chưa kể đến các công trình phê bình chuyên sâu về tác giả này Là một dịch giả đồng thời là nghiên cứu kì cựu về văn học cổ trung đại Nhật Bản, Ivan Morris đã dành sự quan

tâm đặc biệt đến các sáng tác của Ihara Saikaku Trong bản dịch The life of an

Amorous Woman and Other Writings (Đời du nữ và các tác phẩm khác), trước khi

đi vào tác phẩm của Saikaku, tác giả mở đầu công trình bằng phần giới thiệu khá chi tiết về nhà văn Nhật Bản này Theo Ivan, “các tác phẩm văn xuôi của Saikaku

có thể chia thành 3 thời kì: 1682-1686 là những tác phẩm về thói hiếu sắc (koshokubon), 1685-1689 là những tác phẩm mang tính tổng hợp, 1688-1693 là

những sáng tác về thương nhân (chouninmono)” (Moris, 1963, tr 23) Về các sáng tác về đề tài sắc dục, ông chỉ rõ: “ ác tác phẩm văn xuôi của thời kỳ đầu tiên được

đặt tên “koshoku”, bao gồm toàn bộ phạm vi toàn bộ những câu chuyện tình yêu

lãng mạn, niềm đam mê nhục dục, và ý nghĩa cụ thể của nó trong từng hoàn cảnh” (Moris,1963, tr 23) Còn về những sáng tác về tiền tài của giới thương nhân, tác giả

cho rằng: “ ách tiếp cận lãnh đạm, khách quan ở thời kỳ sáng tác thứ hai mà ở đó, nhà văn như một người quan sát công bằng, đã được thay thế trong các choninmoto bằng một cảm giác thu hút khi Saikaku tập trung vào một chủ đề mà ông quan tâm sâu sắc, đó là cuộc sống của tầng lớp thị dân Tuy nhiên, chất giọng giáo huấn thể hiện trong các sáng tác về thị dân không biến chúng thành những tiểu luận về đạo đức, thay vào đó, những miêu tả sinh động về tính cách cá nhân và sự quan tâm đến

từng câu chuyện mới là điều chiếm ưu thế” (Moris, 1963, tr 25) Đặc biệt, viết về

những hiện tượng nổi bật trong xã hội thị dân theo cảm nhận của một thành viên

Trang 20

tích cực trong xã hội đó, “trong các sáng tác văn xuôi của ông nhìn chung, chúng tôi nhận thấy rằng sự hài hước và niềm say mê mãnh liệt cho cuộc sống là một trong

những phẩm chất nổi bật của chúng” (Moris, 1963, tr 29) Như vậy, qua một vài

nhận định của Ivan Morris, ta có thể xác định được các chủ đề, nội dung cụ thể của từng chủ đề và tinh thần chung của các tác phẩm của Saikaku, từ đó có những định hướng cơ bản trong cách tiếp cận các sáng tác của ông

Trong một công trình khác mang tên Japan before Perry của Conrad Totman,

tác giả đi từ nền văn hóa thị dân Nhật Bản thời kỳ Edo đến các sáng tác nghệ thuật

cụ thể: “Sự tương tác giữa tư duy sáng tạo và chuẩn mực thẩm mỹ của tầng lớp thương nhân đã thúc đẩy sự phát triển của một nền văn hóa bậc cao tinh vi liên quan đến các loại hình văn chương, hội họa và kịch mới Trong đó, người được mệnh danh là bậc thầy của tiểu thuyết phù thế là Ihara Saikaku (1642-1693), với các nhân vật đại diện cho đời sống phố thị Tokugawa Với lối viết giễu nại, mỉa mai nhưng cũng giàu lòng trắc ẩn, ông đã miêu tả hình ảnh cô gái bán hoa, các khu phố mà họ hoạt động hằng ngày và cả những vấn đề nan giải mà họ đang vướng mắc Các tác phẩm của Saikaku và các nhà văn khác đã được minh họa một cách phong phú với

các bản in khắc gỗ được gọi là ukiyo-e hay “hội họa của thế giới phù thế” (Totman,

2008, tr 168-169) Có thể thấy, tác giả onrad Totman đã đánh giá cao vị trí của Ihara trong địa hạt tiểu thuyết với các sáng tác về đề tài đời sống phố thị Trong

nghiên cứu The Princeton Companion to Classical Japanese literature (Đồng hành

cùng văn học cổ điển Nhật Bản), các tác giả công trình đã chỉ ra ý nghĩa của khái

niệm Ukiyo trong sáng tác của Saikaku: “Ukiyo theo nghĩa rộng là từ dùng trong Phật giáo để chỉ một thế giới mỏng manh vô thường, thế giới của nỗi buồn Nhưng với Saikaku, ông chú ý đặc biệt hơn tới những gì thuộc về hiện tại, những bộc lộ thoáng qua của cuộc đời Phù du trong suốt cuộc đời cô đơn của ông Và ông đã thành bất tử với “Koshoku” – niềm đam mê tình dục của loài người” (Keene, 1993,

tr 78) Quan niệm về Ukiyo trong sáng tác của nhà văn Nhật Bản này trong công trình kể trên cũng đồng điệu với Paul Gordon Schalow trong phần giới thiệu về tác

phẩm Tấm gương lớn về tình yêu nam giới: “Tác phẩm của Saikaku xoay quanh thế

giới được ưa chuộng gọi là Ukiyozoshi, tác phẩm của thế giới Phù du, với sự mô tả

về niềm đam mê khoái lạc và cuộc sống thường ngày của thị dân Ukiyo vốn có nghĩa là Phù du – từ của Phật giáo, nhưng với Saikaku, “phù du” có nghĩa là hãy tận hưởng hết mình hay sự thất bại hoặc thành công trong các hoạt động kinh doanh”

Trang 21

(Saikaku, 1990, tr 14) Qua các nhận định nêu trên, người viết nhận thấy, Ukiyo với lớp nghĩa mới thoát khỏi ra quan niệm Phật giáo trở thành cảm hứng chủ đạo chi phối thế giới nghệ thuật của Saikaku

Dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp nghiên cứu Văn học Nhật Bản, tác giả Donald Keene cũng đóng góp cái nhìn sâu sắc về các sáng tác của Ihara trong công

trình The Pleasure of Japanese literature Nhận xét về các tác phẩm của nhà văn cận thế này, Donald cho rằng: “Khi các nhà phê bình nói về mang phong cách của

Saikaku, họ đề cập đến sự dí dóm, trào phúng trong phong cách và sự kết hợp hài hước và gợi cảm điển hình của những câu chuyện tình Những câu chuyện về người thương nhân, hầu hết trong số chúng mô tả về cách làm việc chăm chỉ và thông minh đã giúp những người đàn ông nghèo khổ tuyệt vọng trở nên giàu có như thế nào hoặc sự ngông cuồng của tầng lớp thượng lưu khiến họ mất hết tài sản, nó không chỉ thú vị hơn mà đôi khi còn được trích dẫn làm bằng chứng cho sự bất mãn của Saikaku với tình hình chính trị và kinh tế ở Nhật Bản lúc bấy giờ” (Keene, 1993,

tr 92-93) Mặc dù chỉ trong một nhận định ngắn gọn nhưng tác giả đã không những chỉ ra được phong cách trào phúng đặc trưng mà còn ám chỉ đến tư tưởng sâu xa được gửi gắm trong các sáng tác về giới tiền tài của Saikaku

Khác với tình hình nghiên cứu trên thế giới, ở Việt Nam, Ihara Saikaku chưa phải là cái tên thực sự thu hút sự quan tâm từ giới phê bình so với các nhà văn Nhật Bản khác Quả thật, để tìm một công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác giả này thì vẫn chưa có nhưng các bài viết riêng lẻ về ông thì không thiếu Khi viết về Ihara Saikaku, hầu hết các nhà nghiên cứu đều tập trung bình luận về hai chủ đề lớn trong sáng tác của Ihara, đó là sắc dục và tiền tài, trong đó phải kể đến nhà nghiên cứu Nhật Chiêu với các công trình vô cùng tâm huyết về văn học Nhật Bản nói chung và

tác giả cận thế này nói riêng Trong chuyên luận Nhật Bản trong chiếc gương soi, trong chương thứ tám mang tên Chiếc gương thứ tám: Tiểu thuyết, tác giả Nhật

Chiêu trân trọng giới thiệu nhà văn Ihara Saikaku là một trong ba tiểu thuyết gia tiêu biểu trong nền văn học Nhật Bản bên cạnh những cái tên lừng lẫy như Murasaki Shikibu hay Kawabata Yasunari Nhận xét về mảng đề tài sắc dục của Saikaku, tác giả công trình đã không ngần ngại khẳng định: “Với những tiểu thuyết viết về thế giới kôshôku (hiếu sắc), Ihara Saikaku (1641 – 1693) trở thành “chuyên gia” về đời sống thị tứ, về những thành phố không đêm và là “thư kí của thời đại Ông không phải là người sáng tạo ra văn chương phù thế Nhưng chính ông đã đem

Trang 22

lại cho nó một ý nghĩa đầy đủ nhất Tiểu thuyết về đời sống thị dân từ ông bắt đầu

có giá trị nghệ thuật thật sự” ( hiêu, 2003, tr 89) Đặc biệt, Nhật Chiêu còn so sánh những sắc thái khác nhau trong thế giới tình ái của Ihara với cây bút huyền thoại Murasaki, từ đó nhấn mạnh đến “sự phù phiếm đã lên tới tột đỉnh và thói háo sắc đã trở thành niềm kiêu hãnh” ( hiêu, 2003, tr 90) của con người thị dân Edo

Không chỉ trong công trình nghiên cứu nêu trên, tác giả Nhật Chiêu dành một

số bài viết khác cho nhà văn Saikaku Trong công trình Văn học Nhật Bản từ khởi

thủy đến 1868, tất cả những đặc trưng về đề tài, phong cách của Ihara được tác giả

gói trọn trong bài viết Saikaku và thế gian đa tình Với lối viết đầy phóng khoáng

và đậm chất lãng tử, Nhật hiêu đã giúp ta nắm những đặc điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật của Ihara, tuy nhiên tất cả chỉ mới dừng lại ở các luận điểm trong các bài viết ngắn, chưa có nhiều sự phân tích, chứng minh cụ thể, sâu sắc qua các tác phẩm văn học

Xuất hiện trong một bài viết mang tên Nhật Bản – Từ mỹ học đến văn chương

in trong công trình Nhật Bản – Từ mỹ học đến văn chương của tác giả Nguyễn

Phương Khánh, các sáng tác của Saikaku được khai thác dưới góc nhìn mỹ học, nổi bật lên với cảm hứng phù thế khi cái đẹp dù đã “đượm nhục dục phóng đãng” và con người “vướng lụy đậm sâu hơn nữa trong ái tình dục vọng” (Khánh, 2018, tr 142) Khai thác yếu tố thẩm mỹ trong các sáng tác của Ihara, tác giả Phương Khánh còn nhận ra đằng sau những câu chuyện “phù thế thảo tử” là những khía cạnh văn hóa Nhật Bản ẩn tiềm “qua các chi tiết về trang phục, búi tóc, sự phục vụ, tài nghệ, phân loại các hạng du nữ và quan niệm mỹ học của người Edo thông qua hình ảnh các cô gái làng chơi phong lưu” (Khánh, 2018, tr 145) Tuy nhiên, với nhan đề bài

viết Ihara Saikaku và cái đẹp trầm luân trong bể dục vọng, tác giả mới dừng lại ở

việc khai thác yếu tố sắc dục chứ chưa có cơ hội chạm đến vấn đề tiền tài trong tác phẩm của nhà văn cận thế này Hơn nữa, trong bài viết, tác giả có nhắc đến các yếu

tố văn hóa trong tác phẩm nhưng chưa có những chứng minh, giải thích cụ thể mà chỉ là nhận định ngắn gọn, do đó người viết vẫn chưa cảm nhận được màu sắc văn hóa Edo được thể hiện như thế nào trong sáng tác của Ihara Saikaku

Trong công trình nghiên cứu công phu Tổng quan văn học Nhật Bản của Nguyễn Nam Trân, cái tên Ihara Saikaku được nhắc đến trong Chương 14: Ba trăm

năm tiểu thuyết Edo trong Quyển Thượng: Từ Thượng Cổ đến Cận Đại Mở đầu bài

viết, tác giả nêu ra một nhận định mang tính khái quát: “Khi văn học thị dân khai

Trang 23

hoa kết trái Từ Saikaku qua kinari, Ikku, Sanba đến Bakin” (Trân, 2011) Từ nhận định này, ta thấy được Saikaku dù không phải là nhà văn đầu tiên trong nền văn học Edo nhưng được xem là một trong những nhà văn lớn, giữ vai trò chủ đạo trong văn học giai đoạn này Không những thế, “trong bộ môn tiểu thuyết, Ihara Saikaku khai sáng loại truyện ukiyozoshi “truyện phù thế” phô bày cuộc sống phóng túng, buông thả theo lạc thú của người đương thời” (Trân, 2011)

Trong phần giới thiệu về Ihara Saikaku, cũng như tác giả Nhật Chiêu, Nguyễn Nam Trân quan tâm đến cả hai mảng đề tài sáng tác của nhà văn này, đó là sắc dục

và tiền tài Về những tác phẩm viết về sắc dục, tác giả công trình đã có nhận định vô cùng xác đáng khi phát hiện những điểm khác biệt cũng như giá trị nhân văn trong các sáng tác của Ihara so với các tác giả khác có cùng đề tài: “Ông không mô tả những chuyển biến tâm lý như văn nhân thời Heian Các nhân vật của ông là những con người hành động Triết lý của ông là đề cao chủ nghĩa khoái lạc và sự đeo đuổi lạc thú trong tình dục và không cần biết tới đạo lý Phật giáo hay Khổng Mạnh Ông

đã giải phóng người đương thời ra khỏi mặc cảm tội lỗi trước đam mê khoái lạc và cho người ta thấy trong sắc dục cũng có tính thẩm mỹ Đó là điều rất hiếm vì trong

xã hội thời Tokugawa, luân lý nhà Nho vẫn là nòng cốt và các tiểu thuyết gia khi viết về thế giới lầu xanh bao giờ cũng bắt đầu với một lời tựa đầy tính răn đời” (Trân, 2011) Có thể thấy, trong nhận định này, tác giả đã xem xét mối vấn đề sắc dục trong mối quan hệ với đạo đức – tôn giáo, từ đó khẳng định triết lý và tư tưởng vượt thời đại của Saikaku Không chỉ quan tâm đến mảng đề tài sắc dục, nhà nghiên cứu Nam Trân còn tinh tế nhận ra ý nghĩa của các sáng tác về tiền tài của Saikaku: “Saikaku không chỉ miêu tả thế giới của tình dục và đam mê, Saikaku còn viết về tiền bạc và thương mãi Ông ca tụng sự dành dụm và cách tính toán làm tiền

Có tiền sẽ có thêm bầu bạn, bà con Muốn có tiền phải chăm chỉ và khôn khéo làm việc Đừng trông mong vào thần thánh Đó là những chủ trương của ông nhưng ông cũng phê bình một xã hội đặt đồng tiền lên trên giá trị đích thực của con người” (Trân, 2011) Như vậy, qua các nhận định của Nguyễn Nam Trân, ta có thể cảm nhận thêm những khía cạnh khác về sắc dục và tiền tài trong tác phẩm của Ihara, trên cơ sở đó, người viết sẽ triển khai, mở rộng sâu hơn nữa những biểu hiện của hai vấn đề trong mối quan hệ với tôn giáo – đạo đức đương thời

Một công trình nữa nghiên cứu khá bao quát các sáng tác của nhà văn xứ Phù

Tang này chính là luận văn Ihara Saikaku – cây bút tiêu biểu của văn chương phù

Trang 24

thế Nhật Bản của Khuất Thị Phượng Từ những phân tích khá sâu sắc về cơ sở hình

thành văn chương phù thế Nhật Bản, tác giả luận văn đã tiến hành khai thác phương diện nội dung qua hình tượng thị dân gồm “những đứa con trần thế” đa tình, “những người đàn bà si tình trong cuộc đời ngắn ngủi”, những “thương nhân, thợ thủ công,

võ sĩ, nghệ sĩ, anh hề” và phương diện hình thức qua các bút pháp nghệ thuật đặc sắc trong những tác phẩm của Saikaku Với phạm vi khảo sát bao gồm các sáng tác thuộc cả hai chủ đề: sắc dục và tiền tài, tác giả đã nêu lên được những đặc trưng trong thế giới ái tình và tiền bạc của Saikaku, thậm chí đôi chỗ có những lý giải sắc sảo dưới góc nhìn văn hóa, mỹ học truyền thống Nhật Bản Phải nói rằng, công trình này cũng góp phần đem đến cho người viết từ những vấn đề mang tính khái quát đến những luận giải cặn kẽ về các hình tượng nghệ thuật, thế giới nhân vật trong sáng tác của Ihara, mặc cho màu sắc văn hóa trong công trình còn hạn chế Qua việc nghiên cứu tổng quan các công trình của Việt Nam viết về vấn đề sắc dục và tiền tài trong các sáng tác của Ihara Saikaku, người viết nhận thấy nhìn chung, các học giả đều chạm hai vấn đề đó như những chủ đề chính trong tác phẩm của nhà văn Nhật Bản này nhưng tất cả mới dừng lại ở mức độ giới thiệu một cách khái lược mà chưa thực sự đi sâu nghiên cứu một cách công phu và có hệ thống Đặc biệt, hầu hết các công trình kể trên cũng tập trung vào đề tài sắc dục hơn là tiền tài nên mảng nghiên cứu về đề tài trong sáng tác của Saikaku vẫn còn khá mỏng Vì thế thông qua đề tài này, người viết mong muốn đem lại cái nhìn đánh giá sâu rộng,

cụ thể cả về sắc dục lẫn tiền tài để có thể cảm nhận trọn vẹn chất phù thế trong tác phẩm của Ihara

Không những thế, khi khai thác các sáng tác của Ihara, các nhà nghiên cứu

Việt Nam thường so sánh các tác phẩm đó với thiên tình sử bất hủ Genji

Monogatari (Truyện Genji) của Murasaki hay những sáng tác cùng thời của nền văn

học Nhật Bản Vì thế, với đề tài này, người viết hi vọng đem lại hướng tiếp cận mới cho các sáng tác của Ihara, trước hết đó là hướng tiếp cận văn hóa học, sau đó là hướng so sánh để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt trong các tác phẩm ở thời kỳ trung đại của hai nền văn học vốn có nhiều điểm gặp gỡ như Việt Nam và Nhật Bản

Trang 25

hương 1 CÁC VẤ Ề LỊCH SỬ XÃ HỘ Á Ộ ẾN

SỰ RA ỜI NHỮNG SÁNG TÁC VỀ SẮC DỤC

VÀ TIỀN TÀI CỦ À Ă 1.1 Những điểm tương đồng trong bối cảnh lịch sử - xã hội đương thời ở hai quốc gia

người Nhật” (Huy, 2015) Tuy nhiên, so với Việt Nam cục diện của nước Nhật khả

quan hơn khi những cuộc biến thiên kéo dài đằng đẵng trong lịch sử, Nhật Bản bước vào thời kỳ hòa bình, ổn định và thống nhất

Một đặc điểm dễ dàng nhận thấy trong nền chính trị hai quốc gia giai đoạn này

là sự tồn tại của cơ chế “lưỡng đầu chế” Sau hơn năm thế kỷ duy trì chế độ phong kiến trung ương tập quyền, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam tồn tại hiện tượng hai tập đoàn phong kiến cùng lãnh đạo đất nước, đó là vua Lê và chúa Trịnh Theo những phân tích của GS Nguyễn Văn Kim, “ở một đất nước có truyền thống tập quyền như Việt Nam và thiết chế chính trị bắt đầu chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo thì sự tồn tại của phủ chúa không những không trái với “lẽ trời” mà còn bảo đảm được nguyên tắc trong quan hệ vua - tôi, phù hợp với đạo đức và quan niệm xã hội thời bấy giờ” bởi lẽ “trên nhiều phương diện, phủ chúa được thiết lập là một cơ chế bổ khuyết cho ngôi vị của nhà Lê Phủ chúa vừa kiềm toả ảnh hưởng

Trang 26

của triều đình nhà Lê vừa thay thế địa vị thực tế của vua Lê, một triều đại đã suy

yếu không còn đủ năng lực nắm giữ vị trí trung tâm chính trị đất nước được nữa” (Kim, 2003, tr 81) Trên thực tế, phủ chúa nắm giữ toàn bộ quyền lực, vua Lê và

toàn bộ quan lại hoàng triều dường như bị tách ra khỏi công việc quản lý đất nước

theo nguyên tắc: “Hoàng gia giữ uy phúc, vương phủ nắm quyền bính” Tuy nhiên,

không vì thế mà chúa Trịnh lấn lướt mọi uy quyền của vua Lê mà bao giờ cũng cố gắng ý thức được vị trí của một kẻ trung thần Trong các sự kiện trọng đại của đất nước như thực hiện các nghi lễ ngoại giao, tổ chức buổi thiết triều hay ban hành các chiếu mệnh, vua Lê vẫn giữa vai trò quan trọng như một đại diện hợp pháp và cao nhất của Đại Việt

Mối quan hệ giữa vua Lê – chúa Trịnh ở Việt Nam có nhiều nét tương đồng với triều đình Thiên hoàng và Mạc phủ ở Nhật Bản Mặc dù được xem là những thủ lĩnh phong kiến tối cao với thực quyền trong tay lại có bộ máy chính quyền riêng nhưng các đại tướng quân vẫn phải tuân theo các quy tắc đạo đức truyền thống với Hoàng gia, thể hiện lòng tôn sùng và kính trọng đối với Thiên Hoàng – người được xem là biểu tượng cho sự trường tồn và thống nhất của dân tộc Vì thế, các tướng quân luôn ý thức được vai trò bề tôi của mình trong mối quan hệ với Thiên hoàng Đặc biệt, “ở một đất nước biệt lập như Nhật Bản, luôn bị chia cắt bởi những thế lực cát cứ thì vị trí cao quý và quyền lực của Thiên hoàng luôn là điều kiện cần để dung hoà các xung đột” (Kim, 2003, tr 86) Do đó, với các tướng quân, việc tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với Thiên Hoàng chính là thử thách đầy khó khăn để chứng tỏ bản lĩnh và uy danh của mình trước các lãnh chúa trong quá trình cai trị đất nước Như vậy, nhìn chung, dù là những người giữ vai trò thống lĩnh và thâu tóm hầu hết mọi quyền lực quốc gia nhưng cả giới tướng quân của Nhật Bản cũng như phủ chúa

ở Việt Nam không thể và không có quyền lật đổ vương triều phong kiến

Tuy nhiên, mặc dù cùng vận hành chế độ “song trùng lãnh đạo” với những quy tắc di bất dịch nhưng giữa cơ chế ở hai quốc gia vẫn có những điểm khác biệt nhất định Trước hết, ở Việt Nam, đó “là sản phẩm của một thời kì lịch sử tao loạn”, còn

ở Nhật Bản, đó là “đại diện cho một đẳng cấp mới, một thế lực phong kiến mới đang lên, tiêu biểu cho sự phát triển của xã hội” (Kim, 2003, tr 91) Hơn nữa, mức

độ can thiệp của triều đình vào các vấn đề chính trị của đất nước ở hai quốc gia cũng khác nhau khi chính quyền vua Lê ở Việt Nam tỏ ra thường xuyên và mạnh

mẽ hơn so với Hoàng gia Nhật Bản, dẫn đến những mâu thuẫn sâu sắc trong việc

Trang 27

cai trị, ban hành chính sách giữa hai chính quyền lãnh đạo Và một điểm khác biệt nữa không kém phần quan trọng được GS Nguyễn Văn Kim chỉ ra rằng: “Ở Việt Nam, thể chế đó đã bị phủ nhận bằng một thiết chế phong kiến tập quyền cao hơn, còn đối với Nhật Bản chính là sự thay thế căn bản của một hình thái kinh tế – xã hội

mới” (Kim, 2003, tr 91) Có thể thấy, chính những điểm khác biệt đó đã tạo ra

những điểm không tương đồng cơ bản trong lịch sử Việt Nam và Nhật Bản giai đoạn này Trong khi ở Nhật Bản, sau gần ba trăm năm xung đột chính trị và nội chiến liên miên, các tướng quân đã thành công trong việc tạo nên và duy trì một hệ thống chính trị thống nhất, ổn định, hòa bình kéo dài hơn hai thế kỷ, tạo nên giai đoạn phát triển cao nhất trong chế độ phong kiến, thì ở Việt Nam, chế độ phong kiến rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng với cuộc tranh chấp giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh và Nguyễn, chưa kể vô số các cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ của nông dân đưa đến cuộc nội chiến kéo dài khác (1627-1672) với quy mô chưa từng thấy và tạm kết thúc bằng sự chia cắt đất nước

Thế kỷ XVII – XVIII được coi là thời kỳ đỉnh cao trong việc phát triển đô thị ở

cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài Trong bối cảnh cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn đang được nới lỏng, nhà nước đã thi hành các chính sách thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, tăng cường các mối quan hệ giao thương với bên ngoài Lý giải điều kiện cơ bản cho sự phát triển đô thị trong giai đoạn này, theo GS Phan Huy Lê,

đó là nhờ “sự tách rời mang tính chuyên biệt của thủ công nghiệp và thương nghiệp

ra khỏi nông nghiệp làng xã” Ngoài ra, “quá trình tụ cư (di dân hành nghề, lưu dân, hội tụ thương nghiệp)” (Lê, 2012, tr 394) cũng là điều kiện dẫn đến sự hình thành và hưng thịnh của các đô thị

Không chỉ vậy, chính những giao lưu kinh tế hàng hóa từ bên ngoài cũng là một yếu tố kích thích trực tiếp Để gia tăng tiềm lực quân sự trên vùng đất mình cai trị, các chúa đã thi hành các chính sách cởi mở để phát triển kinh tế Các cuộc nội

Trang 28

chiến kéo dài của các tập đoàn quân sự luôn đòi hỏi một số lượng lớn các loại vũ khí, quân binh Để có thể mua sắm và trang bị vũ khí cho quân đội, những người đứng đầu các tập đoàn ra sức kiếm tiền bằng cách thu thuế của các tàu buôn nước ngoài vào Đại Việt Nhờ đó, các tàu buôn cập cảng nước ta ngày càng đông, kích thích hoạt động thương nghiệp trong nước Các sản phẩm thủ công và nông sản trở thành món hàng hóa trao đổi giữa các tàu buôn, góp phần thúc đẩy thủ công nghiệp thoát khỏi tình trạng trì trệ, số người tham gia vào các hoạt động kinh doanh, buôn bán ngày một đông đảo Nhờ đó các cảng thị, đô thị, thị trấn ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài với những cái tên tiêu biểu như Thăng Long – Kẻ Chợ, Phố Hiến, Hội

n, Thanh Hà, Nước Mặn,… đã ra đời Nhận xét về quá trình hình thành và phát triển đô thị của Đại Việt, GS Trần Ngọc Vương cho rằng: “Vào thế kỷ XVII-XVIII, ngoài Thăng Long là kinh đô, trên phạm vi miền Bắc đã hình thành nên một số tỉnh

lỵ và huyện lỵ lớn, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việc các làng thủ công xuất hiện nhiều với năng suất và kỹ thuật cao hơn dưới triều Mạc chắc chắn kích thích sự ra đời của những trung tâm thương mại Thương nhân người Việt tuy còn ít

ỏi và quy mô thấp, nhưng đội ngũ thương nhân Hoa Kiều vào Việt Nam với một số lượng đáng kể và được hưởng những ưu tiên đặc biệt từ phía chính quyền đã góp phần vào việc xây dựng nên những tụ điểm thương mại Bản thân kinh đô cũng biến đổi không còn giữ quy mô cũ, không chỉ còn là triều đình, các công đường của nhà nước, mà còn phủ đệ của các vương hầu, các chợ lớn, các ngôi chùa, rồi phố xá dành cho thương nhân, cho thợ thủ công, các cao lâu, tửu quán,… làm nơi lui tới cho khách thập phương, trong đó rất đáng chú ý là con em của các bậc thế gia, các công tử - tiểu thư tìm nơi giải trí, thoát ra khỏi sự ràng buộc nghiêm ngặt và buồn tẻ của đời sống gia đình theo gia phong Nho giáo Tuy còn ít ỏi nhưng đủ để hình thành nên một xã hội thị dân, một môi trường kinh tế - văn hóa phi cổ truyền” (Vương, 1995, tr 79-80)

Việc xuất hiện các đô thị cùng với các hoạt động kinh tế ở đây đã kéo theo sự xuất hiện của tầng lớp thị dân đa thành phần bao gồm cả bốn giai cấp: sĩ, nông, công, thương “Sự phát triển của các đô thị như Thăng Long, Phố Hiến, Nghệ An, Hội n, Gia Định, Hà Tiên đã dẫn đến sự hình thành ngày càng đông đảo tầng lớp

thị dân” (Giang, 2015, tr 244) Tầng lớp thị dân này do ảnh hưởng của lối sống đô

thị đã “không cam phận ăn chắc mặc bền, sống nhà chết làng như người nông dân, hoặc an bần lạc đạo để tiến vi quan, đạt vi sư như nhà Nho Sống, với họ, là làm

Trang 29

giàu và làm giàu là để hưởng thụ cuộc sống ở tất cả các khía cạnh của nó” (Thúy,

2018, tr 206) Đặc biệt, trong thành phần thị dân đó, đáng chú ý hơn cả là “những nhà nho chán nản ngoài thú vui gió trăng, nhàn dật còn có thú vui hành lạc” (Hượu,

1999, tr 41) hay còn được gọi là lớp nhà nho tài tử Chính những nhà nho này là sản phẩm của văn hóa đô thị, chịu ảnh hưởng sâu sắc của lối sống thành thị

Ở Nhật Bản, Edo được xem là thời kỳ hòa bình, ổn định và phát triển cao nhất trong chế độ phong kiến Sự hình thành một chính thể ổn định đã cung cấp những điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế thương nghiệp Mặc dù nông nghiệp vẫn còn là cơ sở kinh tế căn bản của đất nước nhưng sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Chỉ một thời gian ngắn sau năm 1600, chính phủ đã thiết lập hệ thống tài chính dựa trên đơn vị vàng – bạc và tiền kim loại nhanh chóng thay thế lúa gạo như một tiêu chuẩn của mọi trao đổi Từ giữa thế kỷ XVII, nền kinh tế hàng hóa từng bước đóng vai trò chi phối đời sống – xã hội Nhật Bản Kinh

tế tiền tệ đã len lỏi vào tận từng tế bào của cơ chế phong kiến và thương mại hóa các quan hệ xã hội Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, nhiều thành thị

ra đời và trở thành trung tâm lưu thông, trao đổi hàng hóa Thành thị đã tạo nên những động lực phát triển nội tại, hết sức căn bản của Nhật Bản không chỉ ở lĩnh vực kinh tế mà còn cả trong tư tưởng và chiều sâu văn hóa Sự phát triển của các thành thị cùng với nền kinh tế tiền tệ đã có những tác động sâu sắc đến xã hội, đặc biệt là sự xáo trộn trong vị trí các đẳng cấp Từ cuối thế kỷ XVI, xã hội Nhật Bản dần hình thành bốn đẳng cấp rõ rệt: sĩ, nông, công, thương Trong bốn đẳng cấp đó, thương nhân có địa vị thấp nhất Tuy nhiên, vào thời Edo, trong vai trò kết nối hoạt động kinh tế giữa thành thị với các vùng thôn quê cùng khả năng tài chính dồi dào, thương nhân dần từng bước trở thành lực lượng có thế lực, được chính quyền Edo

ưu ái trao cho những đặc quyền buôn bán trong nước cũng như quốc tế, thậm chí giữa giới lãnh đạo chính trị với giới thương nhân còn thiết lập mối quan hệ thâm tình “Trong ba giới dân, thành thị, nông thôn và vũ sĩ thì khối dân thành thị nắm được ưu thế xã hội Lịch sử đã chứng minh cho điểm này, bởi vì, những yếu mạch điều hòa sự sinh tồn và phát triển quốc gia như kinh tế thương nghiệp, kinh tế nông nghiệp, kinh tế sản xuất và phối lưu tiền tệ đều do dân thành thị nắm được và điều hành cả Thế nên, cũng từ thế kỷ thứ XVII trở đi, bởi dân thành thị tự giác được cái địa vị của dân thành thị là thứ động cơ chủ động cả hai ngành kinh tế và tài chính

Trang 30

quốc gia để rồi cứ con đường kinh tế và tài chính ấy mà tự tu tự tiến tới thành công làm đảo ngược hệ thống sĩ nông công thương thành ra là thương công nông sĩ, đưa giai cấp thành thị lên hàng đầu uy lực của xã hội Như vậy, giai cấp thành thị đã thắng tất cả Lịch sử cũng đã lại chứng minh điều này Trước ảnh hưởng của trào lưu xã hội cũng như khuynh hướng tư tưởng mới, giới lãnh đạo Nhật Bản từ chỗ coi nông dân và võ sĩ là “dân gốc”, là lực lượng cơ bản… cũng đã phải đi tới thừa nhận

vị thế kinh tế, xã hội của công thương” (Yoshi, 2019, tr 350)

Những hoàn cảnh xã hội – kinh tế nêu trên đã thúc đẩy sự lớn mạnh của tầng lớp thương nhân tập trung đông đảo ở các thành thị liên quan đến việc sản xuất và trao đổi hàng hóa tự do Suốt thế kỷ XVII, tầng lớp thương nhân tăng lên cả về số lượng lẫn tầm ảnh hưởng Đặc biệt, vào cuối thế kỷ, họ đã vươn lên đỉnh cao của quyền lực và những thương nhân bậc nhất trong các thành phố lớn đã vượt xa lãnh chúa phong kiến về độ giàu có, từ đó làm cho hệ thống phân cấp trở nên thiếu thực tế

và không còn giá trị như ban đầu Có thể nói, quá trình lớn mạnh của tầng lớp thị dân tạo cho họ ưu thế về mặt kinh tế đã đành nhưng hơn hết họ còn tạo ra sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong nền văn hóa, nghệ thuật đương thời, tạo nên một nền văn hóa mới thoát khỏi những chuẩn mực truyền thống

Trong giai đoạn này, ở cả Việt Nam và Nhật Bản, sự ra đời của tầng lớp thị dân như một hệ quả tất yếu của sự phát triển xã hội Dĩ nhiên ta không thể so sánh mức độ phát triển kinh tế và cả sự lớn mạnh của tầng lớp thị dân ở hai quốc gia bởi những sự vênh lệch nhất định xuất phát từ trình độ phát triển ở Việt Nam và Nhật Bản tuy nhiên một điều không thể phủ quyết rằng sự ra đời và bành trướng của thị dân đã làm thay đổi những quy phạm vốn có của xã hội phong kiến cổ truyền, tạo nên lối sống thị dân với tư tưởng tự do, phóng khoáng chưa từng có trong lịch sử

1.2 Những điểm tương đồng trong nền văn học hậu kỳ trung đại của hai quốc gia

Nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của văn hóa chữ Hán từ rất lâu đời hay được gọi là những nước “đồng văn”, nền văn học trung đại Việt Nam và Nhật Bản gặp gỡ nhau trên nhiều phương diện ở từng thời kỳ khác nhau, đặc biệt trong giai đoạn cuối

từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX ở Việt Nam và từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX ở Nhật Bản với đặc trưng lịch sử là “giai đoạn phát triển mạnh của

đô thị phong kiến, chuẩn bị bước sang thời cận đại”, nền văn học nổi bật lên với

“tính hiện thực, tính chất bình dân, ý thức về cái tôi (tự ngã) càng ngày càng rõ rệt” [8, tr 220] Với những tính chất đó, chúng ta sẽ cùng chứng kiến được những sự đổi

Trang 31

thay, biến chuyển mạnh mẽ trong hệ tư tưởng, đội ngũ sáng tác cũng như đề tài, thể loại ở nền văn học của hai quốc gia trong giai đoạn hậu kỳ trung đại

1.2.1 Hệ tư tưởng

Là những quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Hoa, Việt Nam

và Nhật Bản trước thời kỳ tiền tư bản chịu sự chi phối của học thuyết Nho giáo, tất nhiên mức độ chi phối của từng quốc gia không giống nhau Là hình thái ý thức xã hội đặc thù, văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp của Nho giáo, hay nói cách khác, “nho giáo ảnh hưởng trực tiếp đến văn học qua thế giới quan của người viết” (Hượu, 1999,

tr 52) với hy vọng các văn nhân, thi sĩ sẽ “dùng thứ văn chương lễ giáo ấy để giáo hóa, động viên, tổ chức, hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội” (Hượu, 1999, tr 50) Tuy nhiên, không phải suốt chiều dài thời kỳ trung đại, các học thuyết Nho gia cũng chi phối sâu sắc lên ngòi bút của giới mà mức độ đậm nhạt tùy thuộc vào từng thời kỳ lịch sử khác nhau

Ở Việt Nam, bước vào thế kỷ XVIII, trong bối cảnh chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, Nho giáo – hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị đã mất

đi địa vị độc tôn: “Trong một xã hội loạn lạc như vậy, Nho giáo, một học thuyết trị bình, không còn được coi trọng Các giá trị Nho giáo bị sụp đổ Ở thời Lê – Trịnh như sử sách đã ghi, đẳng cấp nho sĩ, thư lại bị xuống cấp Bộ máy nhà nước không còn chỉ do những nhà nho học giỏi thi đỗ làm quan nắm giữ nữa Nhà giàu có thể nộp tiền để ra làm quan Thi cử thì đầy rẫy những hiện tượng gian lận” (Thúy, 2018,

tr 510) Trước đây, trong thời buổi cực thịnh của chính quyền phong kiến, lý tưởng của tầng lớp nho sĩ là lý tưởng thờ vua Nhưng giờ đây, trong cục diện đất nước phân tranh, lý tưởng đó chỉ còn là giấc mộng Nho sĩ trở nên hoang mang và bất lực trước xu thế tan rã đó của chế độ phong kiến, nhận thức lại quan niệm trung quân và

tư tưởng “trị quốc, bình thiên hạ” của Nho giáo “Với tư cách là đạo trị nước, Nho giáo không giúp cho người ta chấm dứt được cảnh loạn lạc, thực hiện được sự ổn định xã hội Với tư cách là nhân sinh quan, Nho giáo không giải thích được nguyên nhân của mọi nỗi đau khổ trên trần gian và những số phận bi đát của con người” (Sự, 2006) Hơn nữa, ý thức hệ Nho giáo khi đã lung lay nó cũng tạo điều kiện cho các tôn giáo phi Nho như Phật giáo, Đạo giáo,… có cơ hội được phát triển và suy tôn trở lại Dưới sự chi phối của nhiều tôn giáo khác nhau, trong đó Nho giáo ngày càng nhạt dần, còn các tư tưởng Phật, Đạo, Lão Trang hay văn hóa dân gian ngày càng đậm nét, một hệ quả tất nhiên diễn ra là tầng lớp nho sĩ – những người đi đầu

Trang 32

trong việc tiếp thu và lĩnh hội tư tưởng đã “nhạt dần tính chính thống, biến dần

thành nhà nho tài tử” (Thúy, 2015, tr 511) Tuy nhiên, một thực tế cho thấy dù Nho

giáo đã mất đi địa vị thống trị nhưng các tôn giáo khác vẫn không thể soán ngôi Nho giáo trong vai trò và cương vị của một học thuyết trị nước từ trước đến nay Bước vào các sáng tác văn chương, ngòi bút của các nhà nho dường như không còn sự ràng buộc tuyệt đối với các học thuyết Khổng Trình Nếu trong giai đoạn trước, với chức năng “văn dĩ tải đạo” và “thi ngôn chí”, văn học “không được nói cái vô đạo, cái thiếu trang nhã”, hình thức biểu đạt “phải thấm nhuần tinh thần khoan thứ, nhân nghĩa” (Hượu, 1999, tr 52), “con người theo Nho giáo không được nhìn nhận về phương diện là con người tự nhiên, có giác quan, có dục vọng, có khả năng lao động và trí tuệ, có nhu cầu kiếm sống và tìm hạnh phúc, con người chỉ là của gia đình và của vua” (Hượu, 1984) thì giờ đây “vấn đề quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc trần thế được biểu hiện trong khắp mọi thể loại, mọi tác giả” (Sử,

2005, tr 188) Giờ đây, đối với các nhà nho, văn chương “là chỗ để ký thác sinh mệnh, xem nó đã là nơi để bộc lộ mình, để khẳng định mình theo tinh thần của người nghệ sĩ” (Sơn, 2018, tr 165) Đến giai đoạn này, giới sáng tác đã từng bước đưa văn chương thoát ra khỏi thân phận “cử tử” để tồn tại như một lĩnh vực tinh thần cao quý của đời sống con người Như vậy, ở đây ta không phủ nhận những ảnh hưởng tiêu cực mà Nho giáo gây ra cho nền văn học trung đại Việt Nam như “đưa văn học nghệ thuật bỏ xa cuộc sống thực tế, xa xúc cảm chân thực, hạn chế sự tìm tòi nghệ thuật trong những kỹ xảo vụn vặt ” (Hượu, 1999, tr 47) nhưng trong những giai đoạn nhất định, khi Nho giáo có những điều chỉnh nhất định thì nó đã ít nhiều thay đổi quan niệm văn chương truyền thống và từng bước đẩy văn học phát triển theo hướng hiện thực

Khác với Việt Nam, ở Nhật Bản, “đây là thời kỳ Nho giáo được suy tôn thay

cho Phật giáo Mạc phủ Tokugawa tìm thấy ở Nho giáo, đặc biệt là Tống Nho không phải chỉ là kỹ thuật quản lí hành chính, mà còn ở khả năng tạo ra được một

hệ thống “công chức” hết lòng trung thành với chính quyền của mình” (Giang, 2015,

tr 244) Tuy nhiên Nho giáo chỉ là học thuyết mà các tướng quân áp dụng để thắt chặt hệ thống chính trị, quản lý các lãnh chúa địa phương hay những người hoạt động trong chính quyền Còn với tầng lớp thị dân, “khi chính quyền Edo muốn dùng những luận thuyết, kỷ cương Nho giáo để giữ ổn định xã hội và kiểm soát chặt chẽ hơn nữa đời sống văn hóa thì bằng nhiều cách khác nhau, giới thị dân vẫn ngày

Trang 33

càng muốn thoát ra khỏi cơ chế quản lý của chính quyền” (Kim, 2003, tr 523) Với

uy thế về kinh tế và xã hội, “thương nhân đã ra sức ép buộc Mạc Phủ phải thực hiện cải cách Hưởng Bảo, đòi hỏi phải vứt bỏ những quan niệm cũ về địa vị của họ trong

xã hội Thương nhân đòi hỏi phải được bệnh vực và thừa nhận từ góc độ luân lý, coi việc chạy theo lợi của họ cũng đáng tôn trọng” (Sơn, 2018, tr 43) Được xem là người sáng lập phái Tâm học Thạch Môn, Ishida Baigan đã cải tạo những khái niệm, phạm trù cũ của Nho học để tạo thành một hệ thống các quan điểm đạo đức cho tầng lớp thương nhân Về nội dung, trường phái này “ủng hộ việc chạy theo lợi, và đòi hỏi “công thương giai bản” đồng thời đòi hỏi thương nhân phải có đức mục:

“chính trực”, “kiệm ước”” (Sơn, 2018, tr 43)

Như vậy, “từ chỗ phải lệ thuộc vào các đẳng cấp bên trên cả về chính trị, kinh

tế và tư tưởng, thị dân đặc biệt là giới công – thương có thế lực đã từng bước tạo dựng cho mình một lối sống, một quan niệm triết lý riêng” (Sơn, 2018, tr 428) Trong bối cảnh văn hóa nằm trong tay chủ quản của thị dân Edo, Kyoto, Osaka, giới thị dân với tư tưởng tự do, phóng khoáng đã đưa vào thế giới văn chương nghệ thuật những nội dung vượt ra ngoài khuôn khổ duy lí và luân lí Khổng giáo, đề cao

ý thức cá nhân và quyền sống của con người đồng thời khẳng định tiếng nói, giá trị của người bình dân trong xã hội lấy đẳng cấp võ sĩ làm đầu

Để giải thích cho điều này, có lẽ ta nên bắt đầu từ khái niệm ukiyo (phù thế) vốn tồn tại trong tư tưởng Phật giáo, nay trở thành cảm hứng chủ đạo trong nền văn hóa nghệ thuật thời Edo Ukiyo ban đầu theo quan niệm của Phật giáo là một thế giới phù sinh, vô thường nhưng đến thế kỷ XVII, chữ “uki” nghĩa là “ưu sầu” chuyển thành chữ uki nghĩa là “trôi nổi”, hay nói rộng ra, nó thể hiện lối sống hưởng lạc, tự do, phóng túng trong luyến ái, sắc dục Không những thế, “trong số thị dân, ngay cả những người có tài sản nhưng thị dân vẫn coi cuộc đời chỉ là sống gửi, hết sức ngắn ngủi Do vậy, là một kiếp trong muôn vàn kiếp của vòng quay sinh – diệt, được may mắn là người giàu có vì thế họ có quyền tận hưởng những niềm vui mà số phận dành cho” (Kim, 2003, tr 343).Họ lao mình vào “thế giới của các lạc thú nhất thời, của rạp hát và khách sạn, của lều vật và nhà hẹn hò, với đám người thường trực gồm nào diễn viên, vũ nữ, ca sĩ, thầy tướng thầy số, anh hề, điếm quý phái, gái tắm và nhà thầu lưu động, nhập hội cùng với họ là những cậu con trác táng của các thương nhân giàu có, những samurai phóng đãng và những chàng hư đốn mới vào nghề” (Sansom, 1989, tr 239).Vì thế, trong bối cảnh xã hội Tokugawa,

Trang 34

Ukiyo là một khái niệm không chỉ phù hợp với tâm lý thị dân mà qua đó còn có ý nghĩa gián tiếp phủ nhận những quy chế bó buộc, khắt khe của chính quyền Bakufu

1.2.2 Đội ngũ sáng tác

Trong xã hội, vai trò sáng tạo văn học không chỉ thuộc về tầng lớp võ sĩ, quý tộc triều đình (Nhật Bản) hay tầng lớp quan lại và những nhà nho chính thống (Việt Nam) mà vai trò đó đã được san sẻ cho những tầng lớp mới nổi với những luồng tư tưởng mới mẻ, cách tân trong bối cảnh xã hội phong kiến đương thời

Ở Việt Nam, “khi đô thị phong kiến, nhờ sự phát triển của thương nghiệp mà phát triển đến có đời sống riêng so với nông thôn và cung đình, thì trong văn học có thêm một xu hướng phi chính thống của nhà nho nữa” (Hượu, 1999, tr 41-42) - kiểu nhà nho tài tử đề cao tài tình, ham thích lối sống tự do, phóng túng, đòi hỏi hạnh phúc, chống lại thói an bần lạc đạo Với sự sụp đổ của các giá trị Nho giáo, sự phục hồi và bổ khuyết của Phật giáo, tư tưởng Lão Trang, Đạo giáo, các nhà Nho

ngày càng “mất dần đi cái vẻ chính thống”, biến thành các nhà nho tài tử Nói cách

khác, “con người tài tử, chủ thể của nền văn hóa giai đoạn này là sản phẩm của sự lệch chuẩn Nho giáo, của tư tưởng thị dân, của văn hóa đô thị” (Thúy, 2015, tr 517) Những nhà nho này tuy xuất thân từ môi trường cung đình nhưng với những

am tường về văn hóa, nghệ thuật, lại gặp lúc kỷ cương xã hội lỏng lẻo, nên bức phá

ra khỏi vòng bây kìm hãm của những tư tưởng cũ để được tự do phát biểu quan niệm về hạnh phúc cá nhân Theo nhà nghiên cứu văn học Việt Nam - Phan Ngọc,

vào giai đoạn văn học thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, “tư tưởng thị dân đòi

hưởng lạc, đòi hỏi hạnh phúc, chống lại thói an bần lạc đạo xuất hiện và trở thành

xu thế chính Các tài tử ra đời để thay thế các quân tử, trượng phu, là những người độc chiếm văn đàn trước đây ác tài tử ấy học đạo thánh hiền nhưng suy nghĩ theo

lối thị dân” (Ngọc, 2001, tr 59, 60) Được xem là đội ngũ sáng tác chính cho văn

học giai đoạn này, các nhà nho phi chính thống quen với lối sống đô thị đã mang vào các tác phẩm nhà nho quen cuộc sống đô thị đã đem vào tác phẩm những câu chuyện tình yêu say đắm ngoài lễ giáo, những mối duyên kỳ ngộ “tài tử giai nhân” Nếu ở Việt Nam, vai trò làm chủ văn đàn thuộc về những nhà nho tài tử - sản phẩm của sự phát triển đô thị eo hẹp thì ở Nhật Bản, với quyền lực và địa vị nhất định, tầng lớp thương nhân chính là những người góp phần sáng tạo văn hóa – văn học Nếu như văn học thời kỳ Heian được thống trị bởi tầng lớp quý tộc, văn học

Trang 35

thời Kamakura được khởi xướng bởi tầng lớp võ sĩ và giới tu hành thì đến giai đoạn này thương nhân lại là những người đóng vai trò chủ đạo trong văn học Edo

Với bản tính “năng động, thực tế, quý trọng tiền bạc” (Kim, 2003, tr 526), thương nhân không thể chấp nhận lối sống khắc kỷ, khổ hạnh của võ sĩ, thay vào đó,

họ mặc sức buông thả vào những lạc thú đương thời, thoải mái tận hưởng cuộc sống

để giải tỏa những căng thẳng, mệt nhọc sau những giờ lao động vất vả hay quên đi những trách nhiệm nặng nề đang đè nặng trên vai Từ đời sống thực, tư tưởng và lối sống thị dân bước vào văn chương như một lẽ tất yếu để phục vụ nhu cầu thưởng thức của lớp người kẻ chợ Trong các sáng tác văn học, thế giới ăn chơi, niềm đam

mê nhục thể, thói hiếu sắc chưng diện, xa hoa, phung phí của con người phố thị hiện lên một cách rõ nét dưới ngòi bút của các văn nhân, thi nhân xuất thân từ tầng lớp thị dân hính đội ngũ tác gia xuất thân từ tầng lớp bình dân là những người giữ vai trò chủ đạo trong việc sáng tạo văn hóa – văn học thời kỳ này Tuy nhiên, một điều khá bất ngờ khi trong đội ngũ này rằng không phải ai cũng xuất thân từ tầng lớp thị dân

“Không ít nhà văn, họa sĩ, vốn xuất thân từ tầng lớp samurai nhưng họ đã chọn theo đuổi sự nghiệp khác, thường từ bỏ địa vị samurai của họ để có được sự tự do trong nghề nghiệp Điều này xảy ra vào thế kỷ XVII khi trật tự quan liêu tỏ ra hiệu quả nhất trong việc hạn chế học tập đối với tầng lớp samurai Không nghi ngờ gì khi nguồn gốc gia đình và hậu quả của nền giáo dục thời thơ ấu của những cựu samurai này đã giúp làm phong phú văn hóa chonin mới nổi và truyền nó với các yếu tố của hương vị bushi” (Totman, 2008, tr 172)

Như vậy, đội ngũ sáng tác của văn học Việt Nam và Nhật Bản thời hậu kỳ trung đại không hẳn trùng khớp với nhau hoàn toàn nhưng có một điều ai cũng dễ dàng nhận ra đó là chất thị dân thấm nhuần dù xuất phát điểm của họ không hẳn từ tầng lớp thị dân Hơn nữa, dù ít nhiều bị gò bó trong tư tưởng Nho gia bởi truyền thống tư tưởng của dân tộc nhưng hơn bất kỳ ai, họ luôn là những con người thức thời, biết nắm bắt tinh thần thời đại và thị hiếu thẩm mỹ của quần chúng, từ đó đem đến các sáng tác thỏa mãn đời sống tinh thần, giãi bày được tâm tư, tình cảm của con người trong xã hội còn lắm những luật lệ hà khắc và những giáo điều cứng nhắc, lạc hậu

1.2.3 Đề tài và thể loại

Với đội ngũ sáng tác vốn xuất phát từ tầng lớp thị dân hay chịu ảnh hưởng của đời sống thành thị, những yếu tố thuộc về không gian đô thị, thuộc về sinh hoạt cá nhân và các trải nghiệm đô thị bước vào bức tranh văn hóa nghệ thuật nhằm phục

Trang 36

vụ nhu cầu thưởng ngoạn của lớp người kẻ chợ hay thậm chí, cả tầng lớp tinh hoa đang dần thoát ra khỏi tư tưởng chính thống

Ở Việt Nam, trong tâm thức “khẳng định những giá trị chân chính của con người”, mà “con người với tất cả sự phong phú của nó mới trở thành đối tượng chủ

yếu, hàng đầu của văn học” (Lộc, 2001, tr 51) trong cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa

sâu sắc, tiến bộ, văn học bắt đầu quan tâm đến những vấn đề nhân sinh và số phận con người cá nhân Không còn cảm hứng ngợi ca cộng đồng, sức mạnh quốc gia dân tộc, khẳng định chế độ phong kiến, văn học giai đoạn này viết về những vấn đề thiết yếu trong đời sống con người, cụ thể đó là “chiến tranh phong kiến và những tai họa của nó, sự thối nát của giai cấp phong kiến thống trị, về cuộc sống khổ cực của nhân dân, về thân phận của người phụ nữ, về tình yêu và những ràng buộc khắc nghiệt của đạo đức lễ giáo phong kiến” (Lộc, 2001, tr 53), trong đó mảng đề tài về tình yêu, sắc dục, hôn nhân tự do, hạnh phúc cá nhân được tập trung phản ánh hơn bao giờ hết Giải thích cho sự thay đổi này, nhà nghiên cứu văn hóa – văn học Việt Nam đã đưa ra những nhận định xác đáng: “Như bất kỳ một xã hội Trung cổ nào khác, những quan niệm về tự do và hạnh phúc trong xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII bao hàm những hạn chế đậm nét Trên nền của một đời sống nông thôn, công xã, dĩ nhiên không nảy sinh một khát vọng mãnh liệt hướng tới mục đích giải phóng cá nhân, không cho phép hình dung một thứ hạnh phúc phong phú thỏa mãn các cảm xúc ngày càng đa dạng và phức tạp Tuy vậy, ở giai đoạn xã hội vận động phát triển vượt thoát khỏi những giới hạn Trung cổ, nhu cầu giải phóng tình cảm, giải phóng quan hệ nam nữ thường được

sử dụng như đột phá khẩu của sự giải phóng xã hội: đó là điểm nhạy cảm nhất, dễ kích động và lôi cuốn sự đồng cảm xã hội nhất Người tài tử cậy tài, ý thức cao về tài năng của mình, một cách tự nhiên, có những đòi hỏi thẳng thắn về tình yêu và hạnh phúc” (Vương, 1995, tr 90)

Trong các đề tài sáng tác cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, tình yêu luôn là

đề tài hấp dẫn thu hút sự quan tâm của các nhà nho tài tử Viết về tình yêu trong giai đoạn này, các tác giả đã vượt qua được quan niệm truyền thống rằng tình yêu gắn liền với hôn nhân, lễ giáo phong kiến để khai thác tình yêu dưới mọi góc độ, sắc thái, cung bậc, thậm chí có niềm hứng thú đặc biệt với những mối tình éo le, vụng trộm, bi thương và cả những mối tình nhuốm màu thân xác, nhục dục Phản ánh những đề tài vượt ra khỏi giới hạn của lễ giới bằng ngòi bút ít nhiều chịu sự chi phối của tư tưởng Nho gia nhưng không vì thế mà các tác giả bộc lộ tinh thần phản

Trang 37

phong ngay trong các sáng tác văn học “Trong các sáng tác, nhu cầu hạnh phúc cá nhân đặt ra gay gắt, nhưng các tác giả không dám đi phân tích nguyên nhân dẫn đến bất hạnh từ phía luân lý đạo đức, không động chạm tới các vấn đề lễ giáo, không phê phán chỉ rõ ra những quan điểm luân lý cũ trói buộc con người, là lý do ngăn cản con người đến với hạnh phúc Các tác giả văn học chỉ mô tả những bất hạnh, éo

le, ngược đời của các số phận để tự nó có ý nghĩa tố cáo, mà thiếu một sự phê phán trực diện” (Sơn, 2018, tr 167) Cùng với biến chuyển rõ rệt về đề tài sáng tác, văn đàn dân tộc lúc bấy giờ cũng làm mới này bằng những thể loại mới như ngâm khúc, truyện Nôm, hát nói, thơ Đường luật bên cạnh những thể loại truyền thống của giai đoạn trước

ũng như Việt Nam, bước vào thời kỳ Edo, nền văn học Nhật Bản chứng kiến

sự xuất hiện của xu hướng văn học mới chứa nhiều yếu tố thông tục và bình dân Với

sự suy yếu và mất dần địa vị độc tôn của văn hóa võ sĩ từ giữa thế kỷ XVII, “những người nghệ sĩ và nhà văn nhận thấy rằng họ không thể tiếp tục theo đuổi những tiêu chuẩn thẩm mỹ hạn chế của giới thống trị Chuyển hướng sang địa hạt khác để làm nghệ thuật, nghệ sĩ tìm thấy miền đất háo hức của những người bình dân và những vấn đề ngay trong đời sống, giấc mơ của họ” (Totman, 2008, tr 168-169)

Theo đuổi cảm hứng phù thế Ukiyo, các tác phẩm giai đoạn này đã thoát thai

ra khỏi dáng vẻ trang trọng, cổ kính, ước lệ của văn chương truyền thống để hiện lên trong khuôn hình của các thể loại mới như truyện truyền kì, tiểu thuyết diễm tình, thơ ca phù thế, thơ châm biếm đả kích, kịch vũ,… với các chủ đề và các kiểu nhân vật trung tâm như: ca nhi, kĩ nữ, thương nhân, võ sĩ, Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Trân đã từng chỉ ra những thể loại văn học mới của thời kỳ Edo:

“Những hình thức văn học và văn nghệ mang chủ đề về một thế giới hèn kém, hạ cấp như sách truyện viết bằng văn tự quốc âm kana (kanazoshi = giả danh thảo tử), truyện xã hội đương thời (ukiyozoshi = phù thế thảo tử), thơ tếu (haikai = bài hài), tuồng búp bê (jojuri = tĩnh lưu ly), tuồng kịch (kabuki = ca vũ kỹ) đã phất lên được Các hình thức văn học này thể hiện đầy đủ cá tính của người kẻ chợ tức là tầng lớp thứ dân, tạo cho mình một thế đứng riêng biệt, không thể lầm lẫn được nó với văn học trung cổ cũng như văn học cận kim” (Trân, 2011)

Trong giai đoạn đầu thời kỳ Edo ở thế kỷ XVII, tiểu thuyết phù thế ra đời như một thể loại văn học mới, trở thành minh chứng hùng hồn cho sự hiện diện của tầng lớp thị dân vốn bị xem thường và gần như chưa bao giờ được xuất hiện trong văn

Trang 38

chương trước đây vốn chỉ được viết cho giới quý tộc Bước vào nền văn học cận thế Nhật Bản thế kỷ XVII, Ihara Saikaku đã thổi một làn gió mới với sự trình làng của dòng tiểu thuyết phù thế (ukiyozoshi) viết về cõi sắc dục và tiền tài chốn trần gian dựa trên thể loại văn xuôi có sẵn trước đó: “Sự sáng tạo độc đáo của Saikaku không nằm ở việc tạo nên một thể loại mới Cả về hình thức và nội dung, các tác phẩm ukiyozoshi của ông đều thuộc về thể loại đã hình thành trước đó – đó là kanazoshi Thành tựu của ông chính ở việc nhận ra được tiềm năng văn chương dồi dào của một thể loại đã từng tồn tại, bằng cách truyền cho nó một cách tiếp cận mới, sáng tạo cho thể loại kanazoshi truyền thống, ông đã tạo nên dòng văn chương thị dân có tầm ảnh hưởng về mặt nghệ thuật” (Moris, 1963, tr 14) Có thể nói, về mặt thể loại, vượt lên khỏi thể loại kanazoshi còn mang tính chất nửa vời giữa nền văn học cũ và mới, ukiyozoshi chính là thể loại chứa đựng trọn vẹn tinh thần của thời đại thị dân Tiếp nối những thành công của Ihara Saikaku, Ejima Kiseki phát triển thể loại này theo nhiều chiều hướng khác nhau, từ đó nhào nặn ra thể loại Hachimonjiyabon

Giai đoạn này cũng đánh dấu sự ra đời của hai thể loại sân khấu mới, đó là Kabuki và Joruri Ra đời vào năm 1603, tách ra khỏi những quy tắc nghiêm ngặt của kịch No trong truyền thống, Kabuki phát triển theo hướng hiện thực hơn, gần gũi hơn để thỏa mãn thị hiếu của tầng lớp thị dân Đồng hành cùng với bước trưởng thành của Kabuki chính là sự phát triển của hình thức sử thi có vần điệu gọi là Joruri vốn xuất phát từ thiên tình sử về nữ nhân vật cùng tên và người anh hùng lừng danh Yoshitsune ở thế kỷ XV Với sự thêm thắt các yếu tố âm nhạc như sử dụng đàn samisen và giọng hát đệm, các trò rối đạt tới trình độ kỹ xảo và sự tham gia diễn xuất của các diễn viên điệu nghệ, Joruri ngày càng chiếm được cảm tình của giới bình dân, trở thành một trong những loại hình giải trí được yêu thích nhất lúc bấy giờ

Phải nói rằng, trong giai đoạn đầu thời kỳ Edo, văn học đã thực sự đáp ứng được nhu cầu của đại đa số nhân dân không chỉ bởi nội dung gần gũi, quen thuộc với đời sống mà còn bởi hình thức dễ hiểu, hấp dẫn, phong phú được tạo nên bởi đội ngũ sáng tác được sinh thành và nuôi dưỡng trong lòng xã hội thị dân Hơn bất

kỳ loại hình nghệ thuật nào, văn học chính là nơi gửi gắm và cất tiếng nói của tầng lớp bình dân một cách sâu sắc và tinh tế nhất

Như vậy, trong thời hậu kỳ trung đại, mặc dù tên thể tài cũng như nội dung, đề tài sáng tác cụ thể trong nền văn học Việt Nam và Nhật Bản không hoàn toàn giống

Trang 39

nhau Tuy nhiên, dưới sự tác động của yếu tố thành thị dẫn đến sự ra đời của tầng lớp mới với lối sống, nếp tư duy mới, xu hướng văn học bình dân, thông tục, “thấm đẫm chất “phù thế”, đề cập tập trung tới “thân”, nhấn mạnh mối quan tâm tới yếu tố

cá nhân, cá tính với một không gian mở rộng sang biên độ của tự do và tài tình” (Huy, 2015) đã nảy mầm, phát triển rực rỡ và tạo nên những nét đột biến chưa từng

có trên văn đàn trung đại Là sản phẩm văn hóa của thời đại thị dân, hình tượng tài

tử - giai nhân từ vị trí ngoại vi trong nền văn học những thế kỷ trước đã được cấp tấm giấy “chứng minh thư” để bước vào vũ đài văn học sau thế kỷ XVIII, trở thành hình mẫu văn học của lớp người phong lưu mơ mộng, tài sắc, lụy tình, đam mê lạc thú và đề cao cảm giác Có thể nói, với những biểu hiện từ nội dung, hình tượng đến hình thức sáng tác như vậy, văn học hậu kỳ trung đại của hai quốc gia đang từng bước thoát khỏi tinh thần ước lệ, khuôn sáo và quy phạm để tiến gần hơn đến với hiện thực đời sống, với chân dung con người đời thường

1.3 Những điểm tương đồng giữa Nguyễn Du và Ihara Saikaku

1.3.1 Cuộc đời của hai tác giả

Nguyễn Du xuất thân trong gia đình quyền thế với nhiều đời được giữ vị trí quan trọng trong triều đình Thân phụ của Nguyễn Du là cụ Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng, anh trai cùng cha khác mẹ Nguyễn Khản cũng được bổ chức Nhập thị bồi tụng Không chỉ có truyền thống làm quan, gia đình của cụ Thanh Hiên còn giàu truyền thống văn chương khi “Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du là một nhà triết học chuyên nghiên cứu Kinh Dịch Nguyễn Nghiễm, một sử gia, đồng thời

là một nhà thơ Nguyễn Khản, anh cả Nguyễn Du giỏi thơ Nôm, hay làm thơ đối đáp với Trịnh Sâm” (Lộc, 2001, tr 317) Chỉ với vài nét phác họa như thế cũng đủ cho ta thấy được gia thế cũng như vị trí của Nguyễn Du trong xã hội như thế nào Tuy nhiên, mặc dù là gia đình có truyền thống Nho học bao đời nhưng không phải vì thế mà tất cả các thành viên trong gia đình cụ Tố Như đều xuất thân từ tầng lớp trâm anh thế phiệt hay tuân theo lối sống chuẩn mực của các nhà Nho xưa Thân mẫu của Nguyễn Du là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, xuất thân trong một gia đình bình thường đến từ vùng đất quan họ Bắc Ninh nổi tiếng Vì bà chênh với chồng tận

ba mươi tuổi, lại là người con của vùng quê có truyền thống hát bội nên nhiều người phán đoán rằng ắt hẳn bà phải là “một cô gái đẹp và giỏi nghề ca xướng” (Lộc,

2001, tr 316) Trong một số công trình nghiên cứu, các tác giả vẫn đặt ra giả thiết:

“Mẹ của Nguyễn Du gặp cụ Nguyễn Nghiễm chắc cũng không khác mấy việc

Trang 40

Nguyễn Công Trứ lấy ả đào làm vợ Người mẹ ông là mẫu hình gốc của cô Kiều, và

nó cứ lớn dần lên trong mỗi khi ông gặp những người phụ nữ tương tự Mẹ Nguyễn

Du có nhiều dấu ấn của ả đào” (Định, 2009, tr 69) Như vậy, dù thân mẫu của cụ

Tố Như có phải là ả đào hay không thì một điều dễ dàng nhận ra là hình ảnh người

mẹ này đã ảnh hưởng rất nhiều đến các sáng tác về người phụ nữ của cụ sau này” Không chỉ vậy, trong gia đình Nguyễn Du, người anh Nguyễn Khản tuy khoác áo quan nhưng cũng là “tài tử” phong lưu thứ thiệt “ham thích hát xướng, gặp khi con hát tang trở, cũng cứ cho tiền bắt hát, không lúc nào bỏ tiếng tơ tiếng trúc” (Hổ,

1960, tr 154) Có thể thấy, chính trong khoảng thời gian phong lưu sống cùng và

“nghe hát ở nhà anh trai Nguyễn Khản, địa chỉ nổi tiếng về những thú vui tao nhã một thời”, Nguyễn Du đã thoát khỏi khuôn mẫu của nhà nho chân chính, tinh thông đạo thánh hiền để trở thành “trang công tử hào hoa” am tường mọi thú hưởng lạc trong thiên hạ Từ ám ảnh về thân phận người kỹ nữ trong qua hình ảnh người mẹ, không khí ca trù đầy ắp trong gia đình lại chứng kiến cách ứng xử của người anh Nguyễn Khản với những cô ả đào, bản thân cũng được thưởng ngoạn và trải nghiệm trong thú vui đương thời, Nguyễn Du có cái nhìn chân thực và thấu hiểu sâu sắc về đời sống thành thị và những sinh hoạt tinh thần của giới thị dân lúc bấy giờ

Có thể nói, nếu chỉ nhìn vào hoàn cảnh xuất thân của cụ, chắc chắn ta sẽ nghĩ

cụ Nguyễn Du sẽ tiếp nối truyền thống gia phong của gia đình, trở thành vị quan mẫu mực, một nhà nho dùi mài kinh sử chốn cửa Khổng sân Trình Quả thật, Nguyễn Du đã làm quan, ông cũng rất am tường những học thuyết của Nho gia nhưng ông không phải là nhà nho chính thống mà lại là nhà nho tài tử - những con người thị tài và đa tình Là một công tử phong lưu có tiếng, Nguyễn Du đã gây thương để nhớ với nhiều cô ca kỹ thời niên thiếu, trong đó phải kể đến mối tình với

“người gảy đàn đất Long Thành”, với cô đào nương Trường Lưu và đặc biệt với tài

nữ Hồ Xuân Hương Mối tình của cặp đôi tài tử giai nhân Nguyễn Du – Xuân Hương đã được không ít thi nhân xưa ghi lại và đến nay nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn đã nhất quyết khẳng định: “Rất có thể thân thế của người bạn gái Xuân Hương

đã góp một phần quan trọng vào sự dồn tụ cảm xúc của Nguyễn Du về thân phận đau khổ của những phụ nữ - kĩ nữ để cuối cùng sẽ bật lên tiếng than “hại thay mang

lấy sắc tài mà chi” và “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen” (Thìn, 2007, tr 298) Như

vậy, từ những thành viên gia đình đến chính cuộc đời Nguyễn Du, tất cả đều thấm nhuần trong huyết quản chất tài tử

Ngày đăng: 29/01/2021, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm