Chọn ẩn dụ trong CDDCTT làm đề tài nghiên cứu của tuận văn là cách thể hiện thiết thực những tình cảm, sự trân trọng đối với vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc, đặc biệt là đối với cách t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠT HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
PHAN THỊ BÍCH THỦY
ẨN DỤ NGHỆ THUẬT TRONG CA DAO DÂN CA TRỮ TÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
TP HỒ CHÍ MINH – 2002
Trang 33
Lời cảm tạ
Tôi xin chân thành cảm tạ và tri ân sự nhiệt tình giúp đỡ của Ban giám hiệu Trương Đạt học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học Công nghệ- Sau đạt học, sự đóng góp quý báu chân tình của Giáo sư Nguyễn Tấn Đắc, Phó Giáo sư Tiến sĩ Trịnh Sâm, Tiến sĩ Lê Văn Chưởng, Tiến sĩ Hồ Quốc Hùng và tập thể Thầy, Cô Khoa Ngữ văn, cùng tất
cả các Thầy, Cô, các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình iu1p đỡn tôi hoàn thành tuận văn
Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng biết ơn Phó Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Bùi Mạnh Nhị Thầy đã tận tụy chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành tuận văn tốt nghiệp
Tp Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2002
Phan Thị Bích Thủy
Trang 4
4
MỤC LỤC
Lời cảm tạ 3
MỤC LỤC 4
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY 6
DẪN TUẬN 7
1 Lý do chọn đề tài – mục đích nghiên cứu 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Đối tượng, nhiệm vụ, và phạm vi nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Đóng góp mới của tuận văn 14
6 Kết cấu tuận văn 14
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM ẨN DỤ 15
1.1 KHÁI NIỆM ẨN DỤ 15
1.2 PHẢN BIỆT GIỮA ẨN DỤ VỚI SO SÁNH, TƯỢNG TRƯNG, HOÁN DỤ 20
1.2.1 Phân biệt ẩn dụ với so sánh 20
1.2.2 Phân biệt ẩn dụ với tượng trưng 23
1.2.3 Phân biệt ẩn dụ với hoán dụ 28
CHƯƠNG II: CÁC LOẠI ẨN DỤ TRONG CA DAO 33
2.1 PHÂN LOẠI CĂN CỨ VÀO TỪ LOẠI TẠO NÊN ẨN DỤ 33
2.1.1 Ẩn dụ là những danh từ 33
2.1.2 Ẩn dụ là tính từ 34
2.1.3 Ẩn dụ là động từ 41
2.2 PHÂN LOẠI DỰA VÀO CHẤT LIỆU TẠO NÊN ẨN DỤ 46
2.2.1 Hình ảnh ẩn dụ là các hiện tượng tự nhiên, môi trường địa lý 46
2.2.2 Hình ảnh ẩn dụ là thế giới thực vật 48
2.2.3 Hình ảnh ẩn dụ là thế giới động vật 54
2.2.4 Hình ảnh ẩn dụ là thế giới đồ vật 57
Trang 55
2.2.5 Hình ảnh ẩn dụ có nguồn gốc từ văn học viết (Việt Nam và Trung Quốc) 60
CHƯƠNG III: CHỨC NĂNG CỦA ẨN DỤ 68
3.1 THỂ HIỆN NỘI DUNG 68
3.1.1 Ẩn dụ thể hiện sự hạnh phúc 68
3.1.2 Ẩn dụ thể hiện sự khổ đau, bất hạnh 72
3.1.3 Ẩn dụ mang tính hài hước và có nội dung châm biếm 77
3.2 ẨN DỤ THAM GIA DIỄN Ý LẤP Ý 79
3.3 ẨN DỤ VẢ CẤU TRÚC TRONG CA DAO DÂN CA TRỮ TÌNH 86
3.4 ẨN DỤ GÓP PHẦN TẠO NÊN MÀU SẮC ĐỊA PHƯƠNG 90
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 66
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
1 Cách trình bày chú thích tài liệu tham khảo
Khi đưa ra ví dụ, chúng tôi sẽ chú thích xuất xứ gồm : tên tài liệu, số tập và số trang theo cách trình bày sau:
[15 (1), 22]
Có nghĩa là dẫn chứng được trích từ tài liệu tham khảo và phần mục lục số 15 tập 1, trang
22
3 Quy ước viết tắt một số từ được dùng nhiều lần trong tuận văn:
- Ca dao dân ca trữ tình viết tắt là: CDDCTT
- Văn học dân gian viết tắt là: VHDG
- Nhà xuất bản: NXB
Trang 7
7
DẪN TUẬN
1 Lý do chọn đề tài – mục đích nghiên cứu
Sự bộn bề, hối hả mang nhịp điệu của cuộc sống hiện đạt đã khiến cho người ta trở nên bận rộn, hiếm khi có những phút giây thư giãn để tâm hồn được đắm chìm trong thế giới của văn chương
Bất ngờ đâu đó cất lên một câu ca, điệu hò, tâm hồn ta như được quay trở về với một thế giới hồn nhiên, chất phác của người bình dân Càng sống, càng đọc, chúng ta lại càng có cơ hội
để hiểu thêm vẻ đẹp những câu ca dao dân ca của cha ông ta ngày xưa Đến với ca dao dân ca có nghĩa là bước vào thế giới tâm hồn người bình dân với tất cả những ước mơ, khát vọng, những tâm tình, suy nghĩ về thiên nhiên, cuộc sống, con người Thế giới tâm hồn ấy thật tung tinh, huyền diệu nhưng cũng thật chất phác, hồn nhiên
Nghiên cứu ca dao-dân ca trữ tình là một hành trình đi sâu tìm hiểu đời sống tình cảm của nhân dân, đi sâu vào tâm hồn dân tộc Ca dao-dân ca là tấm gương phản chiếu đời sống vật chất
và tinh thần của dân tộc ta
Cùng với sự phát triển của văn học viết, văn học dân gian qua những bài ca dao dân ca trữ tình vẫn có một vị trí không thể thay thế được trong lòng người Việt Nam qua nhiều thế hệ Những hình tượng ngôn ngữ trong ca dao là những viên ngọc trong sáng, long tanh đã được mài giũa từ lâu đời Những câu ca, điệu lý của người bình dân thời xưa đã là những viên gạch đầu tiên làm nền tảng cho văn học viết, đặc biệt là thơ trữ tình giai đoạn sau phát triển mạnh mẽ Trong bước tiến triển chung của nền văn học dân tộc, ca dao dân ca trữ tình đã ảnh hưởng nhiều đến các tác giả thơ trữ tình hiện đạt sau này Không ít tác giả ở từng thời kỳ văn học khác nhau
đã ít nhiều thừa hưởng thành tựu của ca dao- dân ca trong sáng tác thơ như Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tố Hữu
Ca dao- dân ca mang một vẻ đẹp rất riêng và có một sức hấp dẫn lạ lùng đối với người đọc phải chăng là nhờ cách thể hiện ý nhị, tinh tế mà sâu sắc Cách biểu hiện duyên dáng nhưng kín đáo, tế nhị là một trong những đặc trưng tiêu biểu nổi bật về thi pháp của ca dao-dân ca
Trong ca dao dân ca trữ tình xuất hiện khá nhiều hình thức nghệ thuật biểu hiện nhưng ẩn
dụ là đặc trưng thi pháp nổi bật và được các tác giả bình dân sử dụng rất phổ biến trong các sáng
Trang 8Chọn ẩn dụ trong CDDCTT làm đề tài nghiên cứu của tuận văn là cách thể hiện thiết thực những tình cảm, sự trân trọng đối với vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc, đặc biệt là đối với cách
tư duy và biểu hiện tình cảm của người lao động bằng lối ví von ý nhị, sâu sắc và biểu cảm
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ẩn dụ trong thơ ca dân gian đã được nhiều nhà nghiên cứu VHDG quan tâm Có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đi sâu vào tìm hiểu ẩn dụ ở nhiều phương diện
Công trình thu thập và giới thiệu về “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc
Phan xuất hiện sớm nhất Trong mục giới thiệu nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao, tác giả cho rằng theo kết cấu của một bài ca dao có 3 thể chính: thể phú, thể tỉ, thể hứng Thể tỉ gồm
2 cách biểu hiện và một trong 2 cách ấy là nghệ thuật ẩn dụ (so sánh ngầm) Với nhiều dẫn chứng minh họa tiêu biểu, tác giả khẳng định ẩn dụ là một cách biểu đạt tình cảm rất quen thuộc của
người Việt Nam và nhấn mạnh về tác dụng của ẩn dụ trong ca dao dân ca "lối so sánh gián tiếp
trên đây cho ta thấy tâm tình của nhân dân lao động biểu lộ trong ca dao hết sức tế nhị, sâu sắc, nên ca dao Việt Nam thật đáng làm mẫu mực cho thơ trữ tình của ta" [46,85]
Ở góc độ ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm hiểu ẩn dụ như là một phương tiện thể hiện ngôn ngữ mang tính nghệ thuật
Tác giả Cù Đình Tú đã xác định khái niệm và cấu tạo của ẩn dụ: “Ẩn dụ là cách lấy tên gọi
của một đối tượng này để tâm thời hiểu thị một đối tượng khác trên cơ sở thừa nhận ngầm một nét giống nhau nào đấy giữa hai đối tượng” [74,103] Về mặt cấu tạo, ẩn dụ có hai mặt: cấu tạo
bên trong (nội dung) và cấu tạo bên ngoài (hình thức) Tác giả cũng quy ẩn dụ về 4 dạng chính
là khẳng định: ẩn dụ là một phương tiện biểu đạt rất quen thuộc trong thơ và giàu sức biểu cảm
Vì vậy, ẩn dụ là một trong số những biện pháp tu từ được các nhà thơ sử dụng rất nhiều
Trang 99
Nối tiếp là Đinh Trọng Lạc cũng đưa ra định nghĩa về ẩn dụ Tác giả xem ẩn dụ như “là sự
định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng dựa trên sự tương đồng” [33,52] giữa hai sự vật,
hiện tượng
Đào Thản khi nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật đã coi ẩn dụ "có khả năng nâng cao hiệu
quả biểu đạt đến mức tối đa" [59,14] Tác giả đã đưa ra khái niệm về ẩn dụ và đi sâu vào việc
phân biệt ranh giới giữa ẩn dụ với so sánh Trong bài viết này, tác giả còn tập trung nêu ra những
ý nghĩa của ẩn dụ trong văn chương gồm 3 ý:
+ Ẩn dụ có tính phiếm chỉ hoặc ám chỉ vì thế ý nghĩa bóng gió xa xôi
+ Ẩn dụ thường tăng cường ý nghĩa thẩm mỹ, tăng cường sức mạnh biểu hiện của câu thơ + Ẩn dụ thường bao hàm nội dung ý nghĩa phong phú
Đặc biệt Đào Thản còn đưa ra quan niệm mới: “Ấn dụ bao gồm cả lối nhân cách hóa (và
vật hóa); đó là cách diễn đạt thông qua so sánh ngầm sự vật đối tượng với người (hoặc vật), có tác dụng làm cho ngôn ngữ trở nên sinh động, hấp dẫn” [59,148]
Khi đề cập đến ngôn ngữ ca dao, Mai Ngọc Chừ lại nhấn mạnh đặc điểm "thơ" trong ngôn
ngữ ca dao Ngôn ngữ ca dao không chỉ có chức năng thông báo thuần túy mà còn là thông báo
- thẩm mĩ Điều này được thể hiện qua việc sử dụng các biện pháp tu từ mà ẩn dụ là một trong những biện pháp được sử dụng phổ biến, đặc sắc và điển hình Bằng việc phân tích một số câu
ca dao, tác giả đã đi đến kết tuận: "Những biện pháp tu từ được xây dựng theo quan hệ tin tưởng
như trên đã tạo cho ca dao cái ý nghĩa bề sâu, nghĩa bóng hay bình diện ngữ nghĩa thứ hai " [6
25]
Tác giả Nguyễn Thế Lịch có nhiều bài viết nghiên cứu về các yếu tố và cấu trúc của so
sánh, ẩn dụ Bài viết "Từ so sánh đến ẩn dụ" là chuyên tuận nghiên cứu về con đường hình
thành ẩn dụ từ việc lược bỏ các yếu tố trong cấu trúc so sánh hoàn chỉnh Từ những mô hình cụ thể về cấu trúc của so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố, tác giả dùng nhiều thao tác để lược bỏ các
yếu tố để chuyển so sánh thành ẩn dụ Với quan niệm "ẩn dụ thường được hiểu là phép "so sánh
ngầm" Biện pháp này tinh tế hơn", tác giả đã cố công tìm hiểu con đường từ so sánh dẫn đến ẩn
dụ vì theo tác giả: "Tìm hiểu con đường dẫn đến ẩn dụ sẽ giúp cho việc thưởng thức, phân tích
hay sáng tạo những ẩn dụ đồng thời soi sáng cho bao nhiêu điều thú vị trên con đường đó"
[35,19]- Với cách làm này, tác giả đã phân loại và tìm hiểu mối liên hệ giữa các biện pháp tu từ
Trang 1010
và thao tác một cách thuận lợi hơn khi tiếp nhận, phân tích cũng như vận dụng các kiểu loại so sánh, ẩn dụ
Hà Công Tài chú trọng đến quá trình sáng tạo ra ẩn dụ Tác giả cho rằng ẩn dụ là một hình
thức sáng tạo tinh thần độc đáo: "Ẩn dụ thể hiện rất rõ phẩm chất tâm hồn và cá tính sáng tạo, Nó
được sáng tạo phù hợp với nhiệm vụ nghệ thuật mà nghê sĩ đặt ra cho mình, nhằm khám phá thế giới tinh thần, đặc biệt trước những sự kiện khó nói lên lời Nó đào sâu thêm thế giới tinh thần con người tới mức tưởng như không có giới hạn" [56, 42]
Tác giả còn nhấn mạnh tầm quan trọng của cấu trúc ẩn dụ trong quá trình lĩnh hội văn bản
thơ ca: "Cấu trúc ẩn dụ là cấu trúc trong đó ẩn dụ đứng làm thành tố trung tâm, chi phối toàn
bộ cấu trúc bằng quan hệ do nó tạo ra Đó là hình thức "lý tưởng" thể hiện sự liên quan mật thiết giữa các thành tố với nhau để tạo ra nghĩa của cấu trúc, khác với nghĩa của các yếu tố riêng rẽ Nếu không tính tới cấu trúc, chúng ta sẽ không lĩnh hội được Ý nghĩa sâu xa, tiềm ẩn của lời văn,
sẽ chỉ hiểu được từ ngữ - "những hình thức ngôn ngữ phản ánh các yếu tô của thế giới trong dạng tách rời"" [57,44) Tác giả cho rằng cấu trúc ẩn dụ thơ ca phản ánh phương thức nhận thức
nghệ thuật Tiếp xúc với cấu trúc ẩn dụ thơ ca là tiếp xúc với những phương tiện thể hiện trạng thái tinh thần, tình cảm, kiih nghiệm đời sống, quan hệ con người với thiên nhiên tạo vật Bài viết khẳng định nếu tiếp xúc với văn bản mà bỏ cấu trúc ẩn dụ, các trạng thái tinh thần đó sẽ lập
tức biến mất Các hình ảnh sẽ trở nên tẻ nhạt, tầm thường Chỉ trong cấu trúc, trong cái "văn cảnh
thứ hai" này ta mới lĩnh hội được các ý nghĩa của thơ ca, cái thần của chữ: ''Chính trong cấu trúc
ẩn dụ làm cho tình cảm trỗi dậy, mới là phương tiện để lĩnh hội ý nghĩa ẩn kín, đi sâu vào bản chất, mới tạo ra nhiều chiều liên tưởng để gây ra bão táp trong tâm hồn" [57, 46]
Trong lĩnh vực lý tuận văn học, tác giả Trần Đình Sử lại chú ý đến tính mơ hồ, đa nghĩa của ngôn ngữ văn chương Tác giả cho rằng ngôn ngữ văn chương chỉ thu hút được người đọc là nhờ tính mơ hồ, đa nghĩa Đặc điểm này thể liên qua các ẩn dụ, ví von Từ chổ xác định ẩn dụ
dựa vào sự liên tưởng “nói vật này mà như nói tới vật khác, vì giữa các sự vật ấy có nhiều điểm
giống nhau” [50, 32], Trần Đình Sử đã cho rằng ẩn dụ cũng mang tính mơ hồ, đa nghĩa và nhờ
có ẩn dụ mà tác phẩm văn chương trở nên hấp dẫn: "Tính mơ hồ, đa nghĩa là sự mê hoặc hấp
dẫn của nghệ thuật Tính mơ hồ, đa nghĩa đảm bảo thu hút người đọc đi vào cuộc tìm tòi bất tận
về ý nghĩa " [50, 35]
Trang 1111
Nhiều nhà nghiên cứu VHDG tập trung tìm hiểu về những đặc điểm thi pháp của ca dao Tác giả Đặng Văn Tung đã đề cập đến yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình Tác giả tập trung
giải quyết một vấn đề là “Thế nào là chất ca dao ?” Tác giả cho rằng: "Những yếu tố trùng lặp
trong ca dao (hình ảnh, chủ đề, đề tài, kết cấu, ngôn ngữ, ) tạo nên một đặc điểm quan trọng của ca dao, mật ắc thái thầm mỹ của ca dao" [37, 77] Trong nhiều mặt trùng lặp thì ẩn dụ là yếu
tố trùng lặp quen thuộc và phổ biến Lối so sánh ngầm được dùng nhiều nên đã trở thành truyền thống vận dụng hình ảnh của ca dao So sánh, ví von chính là nếp nghĩ, lối nói quen thuộc của người lao động
Tác giá Bùi Mạnh Nhị khi nghiên cứu về ngôn ngữ ca dao đã đề cập đến thói quen trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh của các vùng, miền Tác giả dùng phương pháp thống kê và miêu tả để tô đậm những đặc điểm về ngôn từ hình ảnh, đặc biệt chú ý nhiều đến hệ thống hình
ảnh ẩn dụ mang màu sắc địa phương: “Nếu ca dao Bắc Bộ có nhiều hình ảnh hương xoan, hương
bưởi, hương chanh, hoa lý, lũy tre thì ca dao Nam Bộ lại có nhiều hình ảnh cây bần, cây mù u, sầu riêng, sấu đâu, trái khổ qua Những cây trái này thực ra chưa tiêu hiểu cho “văn minh miệt vườn” như cây vú sữa, xoài, măng cụt Nhưng tên gọi của chúng dễ gợi cảm xúc thơ ca về số phận, tâm trạng con người” [41, 28]
Phạm Thu Yến bước đầu nghiên cứu đặc điểm sử dụng tính ngữ trong ca dao, tìm hiểu nét đặc sắc có tính truyền thống trong hình thức nghệ thuật đã góp phần biểu hiện thế giới tâm hồn phong phú của nhân dân lao động Việt Nam Tác giả chia tính ngữ thành 4 nhóm, trong đó có nhóm tính ngữ ẩn dụ; giới thiệu những biểu hiện tiêu biểu của tính ngữ ẩn dụ và hiệu qủa của chúng trong thơ ca dân gian trữ tình Đặc biệt tác giả nhấn mạnh giá trị biểu cảm rõ rệt của tính
ngữ trong "diễn đạt ý tưởng, bộc lộ tâm trạng trữ tình của thể loại mang đậm bản chất trữ tình"
[83, 31]
Trong thi pháp ca dao, công thức truyền thống chính là một đặc trưng cơ bản của ca dao dân ca trữ tình Tác giả Bùi Mạnh Nhị đã khẳng định: “Công thức truyền thống - chìa khóa mở
bí mật đặc trưng cấu trúc của bài ca trữ tình dân gian” [44, 22] Công thức là những kiểu mẫu
ổn định, điển hình khác nhau của truyền thống Công thức theo thống rất đa dạng về hình thái, dung lượng, nội dung, ý nghĩa và ẩn dụ cùng là một trong những công thức mang tính truyền
thống Tác giả còn nhấn mạnh: “Các công thức folklore là hình thức - ý tưởng, vừa là hình thức,
vừa là nội dung Nó phản ánh quy tắc, quy tuật của các sáng tác dân gian và đặc trưng mĩ học
Trang 1212
folklore” [44, 23] Bài viết đã giúp cho việc nghiên cứu ẩn dụ dễ dàng hơn khi đặt các ẩn dụ vào
công thức mang tính truyền thống cũng như sự biến hóa của các công thức trong ngữ cảnh cụ thể
để thấy được nét đặc trưng trong CDDCTT
Phạm Thu Yến là người rất quan tâm đến ẩn dụ nghệ thuật trong thơ ca Tác gỉa cho rằng
ẩn dụ là một phương tiện nghệ thuật để diễn tả và biểu hiện tình cảm con người trong thơ ca dân gian Tác giả thu thập nhiều tư liệu từ nước ngoài (chủ yếu là VHDG Nga) để hoàn thiện thêm
về khái niệm ẩn dụ và tạm chia ẩn dụ thành 6 dạng cơ bản Ở phần viết về biểu tượng, Phạm Thu Yến dùng thao tác so sánh giữa biểu tượng với ẩn dụ và có nhiều căn cứ, dẫn chứng để xác định
ẩn dụ có những đặc điểm khác với một số biện pháp nghệ thuật khác Tác giả đi sâu tìm hiểu ý
nghĩa nhận thức, thẩm mỹ và biểu cảm của ẩn dụ và đi đến kết tuận “Ẩn dụ là một trong những
biện pháp tu từ quan trọng chứa đựng đặc điểm nhân thức, biểu cảm và thẩm mỹ của thơ ca trữ tình dân gian, được sử dụng khá phổ biến ” [81, 78]
Qua quá trình tham khảo các công trình nghiên cứu của các tác giả về đề tài ẩn dụ, chúng tôi nhận thấy các bài viết chủ yếu đi vào tìm hiểu một vài khía cạnh có liên quan đến ẩn dụ như : ngôn ngữ ca dao, thi pháp ca dao, lý huận văn học Ở các bài viết mới chỉ dừng lại ở phần giới thiệu ẩn dụ như một biện pháp tu từ, một cách thức biểu hiện nghệ thuật của ca dao; hoặc chỉ nhắc tới ẩn dụ như một ví dụ cho bài viết chung về thi pháp VHDG Nhìn chung chưa có một chuyên tuận nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về ẩn dụ để thấy được nét đặc trưng của
ẩn dụ nghệ thuật trong CDDCTT
Ẩn dụ nghệ thuật là một biện pháp tu từ đặc sắc và rất tiêu biểu trong CDD:TT Vì vậy, việc nghiên cứu ẩn dụ nghệ thuật trong CDDCTT một cách quy nô, bài bản là điều quan trọng
và cần thiết
3 Đối tượng, nhiệm vụ, và phạm vi nghiên cứu
Tuận văn chọn đối tượng chính để nghiên cứu là "Ẩn dụ nghệ thuật trong ca dao dân ca
trữ tình" để thấy được những đặc trưng nổi bật của ẩn dụ trong thơ ca dân gian Căn cứ vào
những công trình nghiên cứu về ẩn dụ đã có, tuận văn xác lập khái niệm ẩn dụ; bước đầu phân loại và miêu tả các ẩn dụ; tìm hiểu các chức năng của ẩn dụ
Tư liệu về ca dao dân ca hiện nay rất phong phú Tuy nhiên phạm vi tư liệu chúng tôi dùng
để khảo sát trong tuận văn này là những ẩn dụ trong ca dao nữ tình truyền thống (Trước 1945) Chúng tôi sử dụng 7 tài liệu dưới đây để khảo sát, nghiên cứu về ẩn dụ trong ca dao:
Trang 1313
l Tuyển tập Văn học dân gian Việt nam tập IV quyển I (Trung tâm khoa học xã hội và
nhân văn quốc gia - Viện văn học NXB Giáo dục) Ký hiệu là TL I
2 Ca dao Nam Trung Bộ (Thạch Phương - Ngô Quang Hiển NXB Khoa học xã hội -
1994) Ký hiệu là TL II
3 Ca dao dân ca Nam Bộ (Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh
Nhị NXB TP Hồ Chí Minh 1984) Ký hiệu là TL III
4 Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Vũ Ngọc Phan NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1997)
Ký hiệu là TL IV
5 Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long (Khoa ngữ văn Đạt học Cần Thơ NXB
Giáo dục) Ký hiệu là TL V
6 Kho tàng ca dao người Việt 4 tập (Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Phan Đăng
Tài, Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang NXB Văn hóa thông tin Hà Nội 1995) Ký hiệu là
4 Phương pháp nghiên cứu
Ẩn dụ nghệ thuật là một biện pháp tu từ nhưng ẩn dụ lại có mối liên hệ với nhiều yếu tố về văn hóa xã hội, ngôn ngữ, tâm lý, địa lý, lịch sử Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để có thể tìm hiểu ẩn dụ một cách toàn diện sâu sắc
Phương pháp thống kê để miêu tả rất cần thiết trong quá trình thực hiện tuận văn vì
phương pháp này giúp chúng tôi thống kê được sự xuất hiện của ẩn dụ để miêu tả và xác định được tần số, mức độ sử dụng, sự phổ biến của ẩn dụ trong ca dao
Trang 1414
Phương pháp phân loại để so sánh nhằm xác định được các loại ẩn dụ thường gặp và
thông qua sự so sánh sẽ nêu bật được nét đặc trưng, khu biệt của ẩn dụ với các biện pháp tu từ khác
5 Đóng góp mới của tuận văn
Phần nghiên cứu về ẩn dụ trong tuận văn chủ yếu kế thừa những kết quá nghiên cứu trước đây của các nhà nghiên cứu VHDG Tuy nhiên tuận văn này cũng cố gắng tìm hiếu thêm một số vấn đề mới chưa được các nhà nghiên cứu đề cập hoặc nghiên cứu chưa sâu như:
+ Góp phần bổ sung và hệ thống hóa các ý kiến về khái niệm ẩn dụ
+ Phân loại ẩn dụ và miêu tả các ẩn dụ
+ Trình bày một số chức năng của ẩn dụ trong CDDCTT
+ Bước đầu thống kê các ẩn dụ theo các tiêu chí phân loại (Phụ lục đính kèm)
6 Kết cấu tuận văn
Do những đặc điểm về đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu đã nêu trên, tuận văn
có kết cấu như sau:
Phần mở đầu
Dẫn tuận
Lý do chọn đề tài, mục đích ý nghĩa của đề tài
Lịch sử vấn đề
Nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Đóng góp mới của tuận văn
Kết cấu tuận văn
Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương I: Khái niộm ẩn dụ
Chương II: Các loại ẩn dụ
Chương III: Chức năng của ẩn dụ
Phần kết tuận
Phần danh mục tài liệu tham khảo
Phần phụ lục
Trang 15Cho đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau về ẩn dụ
Từ xa xưa , Hégel đã quan niệm về ẩn dụ trong công trình nghiên cứu về mỹ học: “Ẩn dụ
là một sự so sánh rút gọn, bởi vì hình ảnh và ý nghĩa ở đây không đối lập nhau: trái lại ta chỉ thấy có hình ảnh Trong lúc đó cái ý nghĩa thực sự của nó bị bỏ qua: song nhờ mối liên hệ trong
đó hình ảnh này được nêu lên, ẩn dụ cho phép chúng ta nhận ngay ra ý nghĩa ở trong hình ảnh,
ý nghĩa này thực tế là cái người ta muốn nói đến mặc dầu không được nêu lên một cách hiển nhiên” [19(1), 634]
Theo Nguyễn Như Ý giải thích, ẩn dụ "chính là phương thức chuyển nghĩa của từ dựa vào
sự giống nhau hoặc tương đồng về một mặt nào đó của hai sự vật, tính chất, hành động" và trong
văn chương thì ẩn dụ được coi là “phép tu từ dựa trên sự so sánh kín đáo, bóng bẩy làm cho câu
văn tăng sức gợi cảm” [84, 53]
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan gọi ẩn dụ với một tên khác là thể "tỉ" Ông cho rằng “còn
một lối tỉ khác nữa, lối so sánh gián tiếp, tức nghệ thuật ẩn dụ, là một phương pháp nghệ thuật
tế nhị hơn Phương pháp này được sử dụng ở ca dao nhiều”(46,84]
Chúng ta cũng nhận thấy trong các giáo trình Tiếng Việt hoặc sách giáo khoa cho các cấp, những nhà nghiên cứu, chuyên gia viết sách đều định nghĩa "ẩn dụ là một phép tu từ phổ biến
Đó là một sự so sánh mà chỉ nêu lên hình ảnh so sánh" Cù Đình Tú định nghĩa "ẩn dụ là cách lấy tên gọi của một đối tượng này để tâm thời biểu thị một đối tượng khác, trên cơ sở thừa nhận ngầm một nét giống nhau nào đấy giữa hai đối tượng" [74, 103] Từ việc thống kê và nghiên cứu
"99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt", tác giả Đinh Trọng Lạc đã đưa ra định nghĩa
"ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính
Trang 16Trần Đình Sử khi nghiên cứu về "Thi pháp Truyện Kiều" cũng đưa ra định nghĩa về ẩn
dụ: “Nó đem từ ngữ hay phương thức biểu đạt vốn để chỉ sự vật A hay hành động A, mà chỉ trực
tiếp sự vật B hay hành động B hoàn toàn khác, mà lại không thấy rõ sự so sánh giữa chúng với nhau Người ta cũng gọi đó là ví ngầm, cái đem dùng làm ví là dụ thể, cái được ví tức là được nói đến là dụ chỉ Trong văn học ẩn dụ là hình thức tu từ nhằm phát hiện cái tương đồng giữa hai sự vật khác lạ Hai sự vật dụ thể và dụ chỉ càng khác xa nhau bao nhiêu thì ẩn dụ càng gây
ấn tượng bây nhiêu.” [51,282 )
Đào Thản trong cuốn "Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật" cho rằng "Ẩn dụ
cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng" [59, 145] Tác giả còn nhấn mạnh ý nghĩa của ẩn dụ "Vì là một lối nói ẩn, ví von, không nêu rõ đối tượng, cho nên ẩn dụ thường có tính phiếm chỉ hoặc ám chỉ Ý nghĩa của nó biểu lộ ra do đó có thể là bóng gió xa xôi" 159, 145]
Mỗi nhà nghiên cứu đều cố gắng tìm ra nét đặc thù mang tính bản chất của ẩn dụ Chúng ta nhận thấy các khái niệm, định nghĩa của các nhà nghiên cứu không hoàn toàn giống nhau Chẳng
hạn cách gọi tên ẩn dụ khá phong phú như: “lối so sánh ngầm”; "lối so sánh gián tiếp"; "thể tỉ" Khi lý giải “thế nào là ẩn dụ” các tác giả dùng nhiều thuật ngữ khác nhau như: “ẩn dụ là một sự
so sánh rút gọn” (Hégel); "ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa của từ " (Đạt từ điển tiếng Việt
- Nguyễn Như Ý); tác giả Vũ Ngọc Phan thì định nghĩa ẩn dụ là “lối so sánh gián tiếp”; "ẩn dụ
là lối ví ngầm" (Cù Đình Tú) hoặc tác giả Đinh Trọng Lạc lại định nghĩa “ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng ”
Tuy cách gọi tên hoặc dùng khái niệm thuật ngữ khác nhau nhưng hầu hết ctc tác giả đều
thống nhất trong cách nhận xét về bản chất mang tính đặc trưng của ẩn dụ: đó là một phương
thức biểu đạt dựa trên sự liên tưởng, so sánh kín đáo giữa hai sự vật, hiện tượng trên cơ sở
Trang 1717
thừa nhận ngầm nét tương đồng nào đấy giữa hai đối tượng Cách biểu đạt này sẽ giúp cho câu văn, lời thơ thêm bóng bẩy, biểu cảm hơn
Ta cần phân biệt rõ hai loại ẩn dụ: ẩn dụ không nghệ thuật và ẩn dụ nghệ thuật
* Ẩn dụ không nghệ thuật (ẩn dụ định danh): Đây là thủ pháp có tính thuần túy kỹ thuật
dùng để cung cấp những tên gọi bằng vốn từ vựng Vì thế người ta còn gọi loại này là ẩn dụ từ vựng Những ẩn dụ này có tính cố định và tạo nên các nghĩa chuyển - kết quả của việc thay thế
tên gọi này bằng lên gọi khác Thí dụ: chân núi, mặt nước, cổ chai, đứng gió Những ẩn dụ này
không nhằm mục đích phát hiện những sắc thái ý nghĩa mới và hầu như nhưng không mang tính nghệ thuật Chúng không đem lại cho người đọc những xúc cảm về vẻ đẹp của ngôn từ mang tính biểu cảm, không gợi sự liên tưởng phong phú
* Ẩn dụ nghệ thuật (ẩn dụ tu từ): là những ẩn dụ phải hội đủ ba yếu lố: tính tạo hình, tính
truyền cảm, tính cá thể hóa Những ẩn dụ phải giúp người đọc tưởng tượng ra thế giới xung quanh đầy sắc màu thông qua ngôn ngữ nghệ thuật Chúng tác động mạnh mẽ đến cảm xúc của người đọc và gợi sự liên tưởng phong phú, sâu sắc Những hình ảnh ẩn dụ mang tính nghệ thuật phải là sản phẩm của sự sáng tạo, mang dấu ấn cá nhân của từng tác giả Đây là một cách nói ngụ ý sâu xa buộc người đọc, người nghe phải suy nghĩ ý tình ẩn chứa đằng sau ngôn từ, hình ảnh
Chẳng hạn với câu ca dao hết sức quen thuộc:
''Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào"
Với ví dụ trên, chúng ta có thể tìm hiểu được quy luật biểu hiện của ẩn dụ Muốn hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc ý nghĩa của ẩn dụ chúng ta phải có một sự liên tưởng thật phong phú dựa trên cơ sở yếu tố logic và yếu tố tâm lý xã hội
Ẩn dụ không trực tiếp gọi thẳng tên đối tượng, phải đặt ẩn dụ trong một hoàn cảnh cụ thể
để tìm hiểu ý nghĩa đích thực ngầm được nói đến qua ẩn dụ Câu ca dao trên có mấy hình ảnh ẩn
dụ được nhắc đến Đó là "mận - đào", "lối vào vườn hồng" Ngày xưa, người bình dân hay mượn hình ảnh thiên nhiên thay cho lời xưng hô với nhau Có lẽ "mận" đã chờ đợi lâu lắm rồi cơ hội này để hỏi "đào" Cách xưng hô, đối đáp nhau mộc mạc, chân chất: này "đào", này "mận" nghe
Trang 1818
quen thuộc gần gũi như cuộc sống lao động bình dị; thế nhưng khi câu hỏi cất lên, ta thấy sự xao xuyến, rung động Cái tưởng chừng như đơn sơ, mộc mạc lại duyên dáng đến lạ lùng Mới đọc bốn câu ca dao, thấy dường như câu chuyện có vẻ xa xôi bóng gió thực ra lại nói đến chuyện rất gần: đó là chuyện của lứa đôi Người con trai muốn dò hỏi, ướm thử mức độ tình cảm của cô gái
đối với mình Hỏi "lối vào vườn hồng" có "ai vào hay chưa" chẳng qua để biết cô gái đã có người
yêu chưa (?), có sẵn lòng đón nhận tình cảm của mình không (?) Hỏi vậy là quá khôn khéo, kín đáo Và cô gái ở đây thật duyên dáng, tế nhị: trái tim của cô gái đang rộng mở để đón nhận tình
cảm của chàng trai - lối vào "vườn hồng" còn ngỏ Cái hay của lời đáp ở chỗ có từ phiếm định
"chưa ai vào" nhưng lại là lời khẳng định, lời giới thiệu về mình: cô gái vẫn còn tự do và đang
sẵn sàng đón nhận lời tỏ tình của chàng trai Câu ca dao được biểu hiện bằng những ẩn dụ kín đáo, duyên dáng Lời hỏi thăm và câu trả lời như thế thật là lịch sự và tế nhị
Tuy nhiên ở hoàn cảnh khác, người bình dân có những hình ảnh ẩn dụ mới từ cuộc sống
phong phú của mình “Con ếch”, "con rùa" quen thuộc với nhà nông lại mang ý nghĩa xã hội
sâu sắc: đó là thân phận con người trong xã hội cũ:
"Ếch kêu dưới vũng tre ngâm Ếch kêu mặc ếch, tre dầm mặc tre"
(TL VI - 992)
"Thương thay thân phận con rùa Trên đình đôi hạc, dưới chùa đôi bia"
(TL VI - 2132)
Những ẩn dụ như "ếch kêu", "vũng tre ngâm", "mặc", "dầm", "con rùa", "trên đình", “dưới
chùa”, "đội hạc", "đội bia" đã giúp cho câu ca dao mang nội dung sâu sắc, biểu cảm hơn
Trong thực tế, chúng ta thấy rằng ngay trong cấu trúc của so sánh nghệ thuật, phần lớn những hình ảnh ẩn dụ thường được dùng làm hình ảnh so sánh ở vế B hoặc là có thể coi vế B của
so sánh mang ý nghĩa ẩn dụ Xét những hình ảnh như "hạt mưa rào"; "hạt mưa sa": “miếng cau
khô” xuất hiện trong so sánh thực chất là những ẩn dụ hoặc mang ý nghĩa của ẩn dụ - ý nghĩa
biểu trưng và nhờ những hình ảnh ẩn dụ này mà so sánh trở nên tinh tế, biểu cảm hơn
Khảo sát một so sánh khác:
“Chàng ơi phụ thiếp làm chi Thiếp như cơm nguôi đỡ khi đói lòng”
Trang 1919
Ở đây người vợ (vế A) được ví như "cơm nguội" (vế B) Hình ảnh so sánh “cơm nguội” là
cách nói nhún nhường, tự hạ thấp mình trước người chồng và ta cũng hiểu đó chính là thân phận hẩm hiu, tầm thường của người vợ, người phụ nữ trong xã hội phong kiến mang nặng tư tưởng
"trọng nam khinh nữ", "chồng chúa vợ tôi" Hình ảnh “cơm nguội” để dành khi đói lòng khiến
người đọc xót xa, thương cảm cho tình cảnh đáng thương của người phụ nữ bị chồng ruồng rẫy,
phụ bạc vế B là hình ảnh "cơm nguội" được đem ra so sánh chính là một ẩn dụ chứa đựng nhiều
ý nghĩa sâu sắc về thân phận con người
Ta sẽ còn gặp rất nhiều hình ảnh ẩn dụ xuất hiện trong so sánh ở vế B làm nhiệm vụ là đối tượng để đối chiếu, so sánh như:
"Tình thương quán cũng như nhà Lều tranh có nghĩa hơn tòa hoa sen"
"Em như cây quế gỉữa rừng Thơm tho ai biết, ngát từng ai hay"
Trong thi pháp hiện đạt, người ta coi hoán dụ là một dạng của ẩn dụ Trần Đình Sử có một hướng nghiên cứu mới về ẩn dụ và hoán dụ Ông cho đây là những khái niệm ẩn dụ mang nội
dung hiện đạt: "Trong thuật ngữ phong cách học cổ điển Trung hoa có thuật ngữ tỷ dụ bao gồm
ba hình thức: minh dụ (A như B), ẩn dụ hay ám dụ (A là B) và tá dụ (mượn B thay cho A, A vắng mặt
Ví dụ: Tuế hàn nải tri từng bách chi hậu điêu dã Tùng bách ví với người quân tử, nhưng ở đây không nói ra, vắng mặt), Ẩn dụ trong nội dung hiện đạt rõ ràng là bao gồm cả hình thức "tá dụ" nêu trên và chỉ phân biệt với "minh dụ", được hiểu là phương thức so sánh hình ảnh” [51,
281]
Hoặc tác giả Đào Thản lại gộp nhân cách hóa vào chung thành ẩn dụ "Ngoài ra, ẩn dụ bao
gồm cả lối nhân cách hóa (và vật hóa); đó cũng là cách diễn đạt thông qua so sánh ngầm sự vật đối tượng với người (hoặc vật)" [59,148]
Căn cứ vào những quan niệm ẩn dụ theo truyền thống cùng với những cách hiểu mới của thi pháp hiện đạt về ẩn dụ cũng như xét ẩn dụ trong thực tế của CDDCTT, chúng tôi thấy khái
niệm ẩn dụ cần được hiểu rộng hơn, thoáng và tinh hoạt hơn: ẩn dụ là lối so sánh gián tiếp bao
hàm cả hoán dụ, nhân hóa và trong một số trường hợp cụ thể ẩn dụ còn xuất hiện trong so
Trang 2020
sánh gián tiếp Như vậy, tất cả những ẩn dụ xuất hiện trong cấu trúc so sánh đều trở thành đối
tượng khảo sát và nghiên cứu của chúng tôi trong tuận văn này
Cùng với nhiều biện pháp nghệ thuật khác tham gia xây dựng hình ảnh và diễn đạt cảm hứng trữ tình của nhân dân, các tác giả dân gian đã khai thác triệt để ưu thế của ẩn dụ nghệ thuật
là tính hàm súc, giá trị biểu cảm cao, có thể dùng linh hoạt trong nhiều ngữ cảnh khác nhau Vì vậy, ẩn dụ được sử dụng rất phổ biến trong CDDCTT
1.2 PHẢN BIỆT GIỮA ẨN DỤ VỚI SO SÁNH, TƯỢNG TRƯNG, HOÁN DỤ
Cùng với biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, các tác giả bình dân trong sáng tác ca dao dân ca trữ tình thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật quen thuộc khác như so sánh, tượng trưng, hoán
dụ Các biện pháp nghệ thuật này ở một chừng mực nào đó có điểm chung giống nhau vì chúng đều nhằm biểu đạt một cách hiệu quả nhất những cung bậc trạng thái cảm xúc của tâm hồn con người thông qua hệ thống những hình ảnh mang tính nghệ thuật cao Chúng ta có thể gặp trong
ẩn dụ, so sánh, tượng trưng, hoán dụ rất nhiều hình ảnh trở thành chất liệu quen thuộc trong ca
dao dân ca trữ tình như: cá - nước; rồng - mây; đình - ngói; bến nước - cây đa; trúc - mai; chèo
bẻo - măng vòi: trăng - đèn: trầu - cau
Trong ý nghĩa đó, xét về mặt bản chất của các biện pháp nghệ thuật này cơ bản là giống nhau Hầu hết các tác giả đều thông qua các hình ảnh mang tính nghệ thuật để diễn đạt suy nghĩ tình cảm một cách cụ thể sâu sắc và tinh tế nhất
Tuy nhiên, cấu tạo và phương thức thể hiện của từng biện pháp nghệ thuật lại có đặc điểm khác nhau và hiệu quả nghệ thuật của mỗi biện pháp sẽ có nhiều mức độ khác nhau
1.2.1 Phân biệt ẩn dụ với so sánh
Hégel quan niệm "xét ở bản thân, ẩn dụ đã là so sánh, bởi vì ẩn dụ biểu lộ một ý nghĩa tự
nó là rõ ràng nhờ nó giống và được so sánh với một hiện tượng của hiện thực cụ thể" [19 (1),
634]
Tuy nhiên, so sánh có những điểm khác với ẩn dụ Nếu như ẩn dụ là sự so sánh ngầm (so
sánh gián tiếp), kín đáo dựa trên cơ sở quan hệ liên tưởng giữa hai đối tượng nhưng bản thân cái
được nói tới được giấu đi một cách kín đáo thì ngược lại so sánh lại là cách biểu đạt dựa trên cơ
sở đối chiếu trực tiếp hai hay nhiều đối tượng khác loại có những dấu hiệu tương đồng nào đó
nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của đối tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của đối tượng kia Nghệ thuật so sánh là một trong những phương pháp chủ yếu diễn đạt tư tưởng và tình cảm
Trang 2121
của người bình dân trong ca dao dân ca trữ tình So sánh cũng là một lối cụ thể hóa những cái trừu tượng, giúp cho cách biểu đạt trở nên tình tứ và thắm thiết
Trong sáng tác thơ ca, so sánh là một phương thức biểu đạt không thể thiếu được Đào Thản
đánh giá: "Tác dụng chủ yếu của so sánh là miêu tả đối tượng bằng hình ảnh cụ thể, nhưng đồng
thời nó thường cũng bao gồm cả giải thích đánh giá và biểu lộ tình cảm" [59, 133]
So sánh giúp cho sự vật hiện lượng được nhìn ở nhiều góc độ khác nhau Nhờ vậy, người đọc có thể bằng sự hiểu biết của mình kết hợp với những hình ảnh được đem ra so sánh để có thể cảm nhận một cách đầy đủ, trọn vẹn hơn hình ảnh được biểu đạt
Tiếp cận với kho làng CDDCTT của người Việt, chúng ta sẽ ngạc nhiên trước sự sáng tạo của người lao động trong nghẹ thuật Hoặc vô tình, hoặc dụng công, các tác giả dân gian đều đem đến cho người dọc cái nhìn tươi mới, phong phú về sự vật, hiện tượng bằng lối so sánh mang
tính nghệ thuật cao Nói như Gôlúp: “Hầu như bất cứ sự biểu đạt hình ảnh nào cũng có thể
chuyển thành hình thức so sánh” [74, 100]
Khi nhắc đến so sánh, người ta thường nghĩ đến một phương tiện giúp ta nhận thức sâu sắc hơn những phương diện nào đó của sự vật Đúng như nhà ngôn ngữ học Đức thế kỷ XIX là Paolơ
đã nhận xét: "sức mạnh của so sánh là nhận thức" [74, 103]; nhưng ta phải khẳng định thêm: so
sánh trong CDDCTT không đơn thuần chỉ là nhận thức mà còn là sự sáng tạo nghệ thuật mang giá trị biểu cảm cao
Ai đã đọc những câu ca dao nói về tình yêu đôi lứa mà chẳng thuộc câu:
"Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tẩm hương"
Hình ảnh so sánh thật đẹp, phù hợp với đối tượng được nói đến Để diễn tả tình cảm của trai gái trong tình yêu, người bình dân có rất nhiều hình ảnh so sánh ví von Yêu nhau thắm thiết, sâu nặng nhưng cách biểu hiện tình cảm của người con trai khác người con gái Câu ca dao trên
chọn lựa hình ảnh rất cụ thể là "nước dâng cao" và "dải lụa đào tẩm hương" để so sánh cái được
nói đến rất trừu tượng là tình yêu Tình cảm rất khó đo lường đong đếm; thế nhưng khi được đem
ra để so sánh ví von với hai hình ảnh trên thì người đọc có thể cảm nhận được ngay mức độ cũng như đặc điểm trong cách biểu hiện tình cảm của người con trai và người con gái Ở người con trai, tình cảm mạnh mẽ và nồng nhiệt như nước lũ dâng cao ngập tràn bờ Ngược lại ở người con gái, tình cảm sâu sắc, cách biểu hiện cũng nhẹ nhàng, tinh tế Tình yêu của người con gái dịu
Trang 2222
dàng, đằm thắm nhưng cũng thật cao quý Tình yêu của người con gái được ví như dải lụa đào vốn đã đẹp lại được tẩm hương nên càng quý và tình yêu cứ mãi bền lâu theo năm tháng chẳng bao giờ phai nhạt
Về cấu tạo, so sánh bao giờ cũng có hai đối tượng: gồm chủ thể so sánh là đối tượng cần được biểu đạt và hình ảnh so sánh là đối tượng được dùng để so sánh
so sánh hay còn gọi là hình ảnh so sánh (núi Thái sơn; nước trong nguồn)
Về mặt hình thức, hai đối tượng được xem là hai vế thường được nối với nhau bằng các
liên từ biểu thị sự so sánh như: “như”, "là", "bằng", "hơn", “kém” “bao nhiêu bấy nhiêu”,
xưa đã dùng hình ảnh so sánh như "hạt mưa sa", “hạt mưa rào”, "miếng cau khô", “giếng giữa
đàng” để diễn tả sự bất hạnh tủi cực, bọt bèo của họ Ta có thể gặp một loạt hình ảnh so sánh
Trang 2323
So sánh nghệ thuật sẽ giúp người đọc cảm nhận một cách cụ thể hơn chủ thể so sánh và hình ảnh dùng để so sánh mang tính nghệ thuật sẽ dễ dàng đi sâu vào trái tim người đọc tạo giá trị thẩm mỹ cao
1.2.2 Phân biệt ẩn dụ với tượng trưng
Nếu xét biểu hiện bề ngoài, người ta dễ tầm ẩn dụ với tượng trưng bởi cả hai đều có phương thức biểu đạt dựa trên cơ sở là sự liên tưởng Tuy nhiên giữa ẩn dụ và tượng trưng có những đặc điểm khác nhau Ẩn dụ là một lối so sánh ngầm xuất hiện trong một ngữ cảnh cụ thể và chỉ có giá trị nhất thời Ẩn dụ thường thay đổi theo tình huống cụ thể và khi tách hình ảnh ẩn dụ ra khỏi ngữ cảnh thì hình ảnh ẩn dụ sẽ không còn ý nghĩa
Trong hệ thống hình ảnh ẩn dụ về thế giới thực vật, chúng ta biết đến hình ảnh quen thuộc
với người nông dân là hình tượng "cây chuối" Cây chuối xuất hiện trong CDTT khi thì cả một vườn "chuối giữa bàu"; khi là vạt chuối với thân cây "đã dứng vóc"; cụ thể hơn là "nải chuối
xanh", cũng có khi là nải chuối với những trái còn non “giú ép chát ngầm” và còn là những "tàu chuối xé đôi" hoặc những tàu lá bị cắt chỉ còn "lơ thơ" Đều là hình tượng về cây chuối nhưng
mỗi trường hợp, mỗi đối tượng mà từng bộ phận của cây chuối sẽ mang một ý nghĩa khác nhau Thí dụ:
"Công anh trồng chuối giữa bàu
Để ai cắt lá cho tàu lơ thơ"
(TL I - 278)
Trong câu ca dao trên có ba hình ánh ẩn dụ Đó là hình ánh "trồng chuối giữa bàu": "ai cắt
lá"; "tàu lơ thơ" Câu ca dao với một hệ thống ẩn dụ liên tiếp giúp người đọc liên tưởng đến cảnh
ngộ đáng thương của chàng trai Với cây chuối giữa bàu, có lẽ chàng trai đã phải bỏ công vun trồng, chăm bón; có thể hình dung cây chuối trong câu ca dao này chính là cô gái - đối tượng mà anh ưng ý và ra sức vun đắp tình yêu, mong có ngày thành đôi Thế nhưng cô gái đã về tay người khác giống như hình ảnh tàu lá chuối xanh non đã bị ai cắt lá chỉ còn lại tàu lá xác xơ Câu ca dao như một nỗi buồn vì tình duyên không thành và còn là sự xót xa của chàng trai khi hiểu tình cảnh cũng khốn khổ của cô gái Có lẽ hơn ai hết chàng trai biết cô gái không được hạnh phúc,
tàn tạ xác xơ vì bị ép duyên “ai cắt lá cho tàu lơ thơ”
Hình ảnh ẩn dụ "tàu lá chuối" ở câu ca dao sau lại mang một nghĩa ẩn dụ khác Đó là tàu
lá cao để chỉ chàng trai khi biết cô gái ưa minh thì ra vẻ kiêu kỳ làm cao:
Trang 2424
"Chuộng chuối, chuối lại cao tàu Thương anh, anh lại ra màu làm cao"
(TL IV - 349) Cũng với hình ảnh cây chuối nhưng với câu ca dao:
"Ngó lên đám bắp trổ cờ Chuối đã đứng vóc anh chờ duyên em"
(TL I - 278)
thì hình ảnh cây chuối "đổ đứng vóc" lại mang nghĩa khác Đó là hình ảnh một cô gái đang
tuổi xuân thì, tràn trề sức sống như cây chuối ngày nào bé nhỏ giờ đã nên hình nên dáng Cô gái
đã trở thành niềm ao ước của các chàng trai “chờ duyên em”
Với người nông dân thì chuối chín vừa thơm vừa ngon; nhưng nếu chuối còn xanh thì không
ai muốn đụng vào, sợ dính mủ khó chùi và chuối xanh ăn không được vì rất chát Vì thế mượn hình ảnh nải chuối còn xanh, các tác giả bình dân muốn hàm chỉ những người tầm thường, không xứng đáng để mọi người phải quan tâm, quý trọng:
“Sá chi một nải chuối xanh Năm bảy người dành cho mù dính tay”
(TL IV - 119) Cũng có khi nải chuối xanh lại được hiểu trong trường hợp tình duyên không xứng đôi phải
lứa "Nải chuối xanh" chính là sự bất hạnh, vô phước cho chàng trai (hoặc cô gái) khi lấy phải
"chuối non" chuyển qua một nghĩa mới: đó là hình ảnh cậu con trai còn ít tuổi lại đòi lấy vợ sớm
"Chuối non" chỉ người con trai còn nhỏ chưa trưởng thành:
"Chuối non giú ép chát ngầm Trai tơ đòi vợ, khóc thầm ban đêm"
(TL V - 376)
Trang 25"Tàu chuối xé đôi" trong hoàn cảnh này khiến ta liên tưởng đến cuộc sống nghèo khổ thiếu
thốn của người nông dân Tàu lá chuối không còn nguyên vẹn lại là chiếu, là nệm cho những đôi lứa bên nhau trong cảnh bần hàn nhưng hạnh phúc
Nhìn chung, ý nghĩa ở hình ảnh ẩn dụ là ý nghĩa nhất thời trong một ngữ cảnh cụ thể nào
đó Nghĩa của ẩn dụ thường thay đổi theo hoàn cảnh sử dụng
Trong thực tế, ẩn dụ thường không chỉ biểu hiện ở một hình ảnh duy nhất mà là một loạt
hình ảnh Muốn hiểu thật cụ thể, chính xác ý nghĩa của ẩn dụ ta thường phải phối hợp những hình ảnh hoặc các yếu tố nghệ thuật khác gắn liền với nó Như ví dụ trên, hình ảnh ẩn dụ
"chuối" sẽ mang những nghĩa cụ thể trong mối liên hệ giữa các hình ảnh khác như "chuối đứng
vóc"; “nải chuối xanh”; "ai cắt lá": "giú ép chát ngầm"; "mủ" chuối “dính tay”
Xét hình ảnh tượng trưng trong ca dao dân ca trữ tình, chúng ta nhận thấy giữa tượng trưng
và ẩn dụ, so sánh có mối liên hệ rất gần gũi Sự hình thành của tượng trưng chính là sự xuất hiện lặp đi lặp lại nhiều lần của các ẩn dụ, so sánh dẫn đến chỗ những ẩn dụ, so sánh này mang một giá trị ý nghĩa có tính ổn định, bền vững
Theo tác giả V.I.Erêmina thì giữa ẩn dụ và tượng trưng có những dấu hiệu mà trong quá trình nghiên cứu chúng ta có thể căn cứ vào đó mà phân biệt sự khác nhau giữa ẩn dụ và tượng
trưng Tác giả nhận thấy: "Ẩn dụ là thơ ca dân gian được sinh ra tức thời và mất đi khá nhanh
Biểu tượng (khái niệm biểu tượng ở đây cần được hiểu là tượng trưng - Phan Thị Bích Thủy) được hình thành trong quá trình lâu dài và sau đó sống hàng trăm năm Ẩn dụ là yếu tố biến đổi còn biểu tượng không đổi, bền vững Ẩn dụ là một phạm trù thẩm mỹ và phẩn lớn tự do tách khỏi phong cách ước lệ Biểu tượng thì ngược lại được giới hạn nghiêm tức bởi hệ thống thi ca xác định" [81, 86]
Chúng ta đã biết thi liệu để tạo nên tượng trưng chính là những ẩn dụ Nguồn gốc của tượng trưng là ẩn dụ nhưng những ẩn dụ này được sử dụng nhiều lần mang tính phổ biến và những hình ảnh ẩn dụ buộc người ta phải liên tưởng tới một ý nghĩa tượng trưng nào đó mà xà hội đã thừa nhận
Trang 2626
Thí dụ khi đọc câu ca dao:
"Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao"
Nhắc tới con cò là ta liên tưởng ngay đến hình ảnh người nông dân và cụ thể hơn là hình ảnh người phụ nữ dưới thời phong kiến Trong rất nhiều bài ca dao đều xuất hiện hình ảnh con
cò Có lẽ con cò kiếm ăn nơi đồng ruộng và sống gần gũi với người nông dân nên nó trở thành người bạn thân quen Hơn nữa, hình ảnh con cò trắng dang cánh bay trên nền trời xanh cao lồng lộng; cảnh con cò đêm hôm lặn lội bờ sông kiếm ăn vất vả, chống chọi với bao hiểm nguy rình rập có nhiều điểm rất giống với cuộc đời người nông dân Vì vậy con cò luôn gợi hứng cho các
sáng tác của người bình dân Tác giả Vũ Ngọc Phan nhận xét : "Một đặc điểm trong tư duy hình
tượng của nhân dân Việt Nam về cuộc đời: đời người với đời con cò và con bống" (46, 72) Con
cò tượng trưng cho đời sống tình cảm sâu sắc, tâm hồn thanh cao và cuộc sống lao động vất vả nhọc nhằn của người lao động Những hình ảnh này mang tính quy ước và nghiễm nhiên được mọi người thừa nhận Nhờ vậy những hình ảnh ẩn dụ này trở thành tượng trưng và được sử dụng rất rộng rãi phổ biến trong nhiều câu ca dao khác
Đây là con cò lam lũ, vất vả sớm hôm kiếm sống và luôn gặp gian nan, hiểm nguy:
"Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao"
(TL VI - 338) Hình ảnh con cò tiễn đưa chồng với tiếng khóc nỉ non:
"Cái cò lặn lội hờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non"
(TL IV - 478) Cảnh con cò bị vu oan:
“Cái cò, cái vạc, cái nông, Sao mày giẫm lúa nhà ông, hỡi cò?”
(TL IV - 467) Cảnh ngộ đắng cay mà con cò phải chịu đựng:
"Con cò lội bãi rau xanh, Đắng cay chịu vậy, than rằng cùng ai !”
Trang 2727
(TL VI - 428) Nhìn chung, trong ca dao, người lao động Việt Nam đã mượn hình ảnh con cò để thể hiện đời sống của mình và con cò đã thực sự trở thành hình ảnh nghệ thuật giàu chất thơ tượng trưng cho vẻ đẹp tâm hồn người bình dân
Trong CDDCTT, hệ thống những hình ảnh tượng trưng để bày tỏ tình yêu đôi lứa rất phong
phú Đó là các cặp biểu tượng "bướm - hoa": “hoa - nguyệt”; "thuyền - bến" được dùng khá
phổ biến
Ở câu ca dao:
“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
Cặp biểu tượng "thuyền – bến" chứa đựng nhiều ý nghĩa Thuyền luôn sóng đôi với bến
như sự gắn bó trong tình yêu đôi lứa Môi trường địa lý nước ta có sông nước, kênh rạch rất nhiều Phương tiện đi lại thời xưa chủ yếu bằng thuyền bè Hàng ngàn con sông, kênh, rạch là nơi các con thuyền đủ mọi kiểu dáng qua lại tạo nên nét đặc trưng của giao thông đường thủy
Môi trường sông nước luôn thể hiện qua hình ảnh trên bến dưới thuyền Thuyền - bến không còn
là phương tiện giao thông, sinh hoạt lao động mà trở thành cuộc đời con người, tình yêu lứa đôi Thuyền từ bến ra đi; thuyền lênh đênh trên sóng nước rồi thuyền lại về bến đậu neo Thuyền và bến là hai hình ảnh không tách rời nhau; nhắc đến thuyền là nhớ đến bến
Người xưa dựa vào thực tế con thuyền là vật di động, thường hay dịch chuyển để chỉ người con trai Vì hoàn cảnh kiếm sống, chàng trai phải dấn thân, xông pha, rong ruổi chốn xa như con thuyền rời bến ra khơi Hình ảnh bến - mang tính cố định, không dời chuyển được - tượng trưng cho người con gái Bến sông là nơi con thuyền chở người thương ra đi và cũng chính bến sông này chứng kiến cô gái - người ở lại - đứng ngóng trông, chờ đợi người thương trở về Vẻ đẹp của
hình ảnh tượng trưng là chỗ nhờ người xưa đã mượn cái bất biến của "bến" để diễn tả và khẳng
định cái bất biến của tình cảm cô gái Dù vại đổi sao dời, dù gian nan irắc trở, dù người ra đi (như con thuyền) có thể không trở lại (về bến cũ) nhưng lòng người ở lại vẫn thủy chung tuyệt
đối như "bến đợi" ngàn năm không dời đổi
Nhìn chung, sự phân biệt giữa ẩn dụ và tượng trưng chỉ mang tính tương đối Thực chất tượng trưng chẳng qua là những ẩn dụ được dùng với tần số cao và ý nghĩa tượng trưng của nó
mang tính ổn định, bền vững gần như là quy ước của xã hội Nghĩa gốc của tượng trưng bị “mờ
Trang 2828
đi”, "nhòe ra" khiến cho ngôn ngữ ca dao trở nên đa nghĩa Theo Trần Đình Sử thì "hình ảnh tượng trưng là mơ hồ nhất, bởi ở đó cái cá biệt biểu thị một cái chung lớn lao hơn hẳn Tượng trưng bao gồm hình ảnh tượng trưng và ý nghĩa tượng trưng, nhưng trong tác phẩm chỉ xuất hiện hình ảnh tượng trưng như một cái biểu đạt, mà ý nghĩa tượng trưng vắng mặt, người ta hiểu hình ảnh tượng trưng theo một thứ phản xạ có điều kiện" {50,31]
Tượng trưng với đặc tính mơ hồ, đa nghĩa sẽ hấp dẫn người đọc trong việc đi tìm, khám phá ra vẻ đẹp muôn màu của kho tàng CDDCTT
1.2.3 Phân biệt ẩn dụ với hoán dụ
Cùng với ẩn dụ, so sánh, tượng trưng thì hoán dụ là một trong những biện pháp tu từ nghệ thuật được sử dụng quen thuộc trong thơ ca dân gian
Hoán dụ là cách chuyển đổi tâm thời tên gọi ở đối tượng này sang biểu thị một đối tượng khác dựa trên một mối quan hệ khách quan, vật chất hoặc logic có tính chất gần gũi nhau giữa hai sự vật Nói cách khác, hoán dụ (hoán có nghĩa là thay đổi, thay thế) là phép tu từ dùng hình ảnh mang nghĩa này để diễn đạt thay cho một ý nghĩa khác có quan hệ liên tưởng
Thí dụ:
"Tím gan thay khách má đào Mênh mông bể Sở dễ vào khó ra"
(TL IV - 328)
"Khách má đào" là một hoán dụ rất quen thuộc khi người ta muốn chỉ người phụ nữ đẹp
(má hồng mịn như da trái đào ) nhưng cuộc đời truân chuyên
Mục đích của hoán dụ là nhấn mạnh vào một dấu hiệu một thuộc tính nào đó của đối tượng được nói đến; dấu hiệu hoặc thuộc tính này được dùng làm cái đại diện, cái thay thế cho đối tượng Ta thường gặp cách gọi tên thay thế trong thơ ca trữ tình dân gian như: khách má hồng, phận má đào, bạn Tố Nga (Ra về gặp bạn Tố Nga)
Về hình thức biểu hiện, hoán dụ giống ẩn dụ ở chỗ chỉ xuất hiện một vế (cái biểu đạt) trong văn bản, còn vế kia (cái được biểu đạt) bị che lấp đi Tuy nhiên điểm khác nhau rõ nét nhất giữa
ẩn dụ và hoán dụ là :
+ Với ẩn dụ thì mối quan hệ giữa hai sự vật khi chuyển tên gọi tâm thời thường dựa vào cơ
sở là sự giống nhau giữa hai đối tượng bằng con đường liên tưởng tương đồng trong một hoàn
cảnh cụ thể
Trang 2929
+ Ngược lại, ở hoán dụ khi thay đổi tên gọi thường căn cứ vào mối quan hệ gần gũi, có thực
giữa hai đối tượng Cơ sơ để hình thành hoán dụ là sự liên tưởng tương cận, phái hiện ra mối
quan hệ khách quan có thực có tính chất vật chất hoặc logic giữa các đối tượng Thí dụ khi nói
đến hình ảnh "phận má đáo": “khách má hồng” ngay lập lức ta có thể hiểu tác giả muốn nói đến
người phụ nữ đẹp (má hồng, má đào là một bộ phận trên khuôn mặt của người phụ nữ và người phụ nữ trẻ đẹp thường có đôi má hồng) nhưng hoàn cảnh trớ trêu, nghiệt ngã (kiếp hồng nhan)
* Môt số loai hoán du đước dùng trong văn chương như:
+ Mối quan hệ giữa chủ thể và vật sở thuộc (y phục hoặc đồ vật cá nhân):
"Hỡi cô yếm thắm lòa xòa Lại đây đập đất trồng cà với anh"
Với cái yếm màu đỏ thắm có vẻ hơi điệu đàng (yếm thắm lòa xòa) giúp cho chàng trai dễ
dàng phân biệt cô gái mà mình muốn ngỏ lời làm quen với những cô gái khác cũng mặc yếm + Mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể (gọi tên một bộ phận nào đó để liên tưởng tới cái toàn thể):
“Hôm nay gặp buổi êm trời
Má đào lại được sánh người trượng phu”
(TL VI - 1115)
Má đào là một bộ phận cơ thể chỉ người con gái đẹp
+ Mối liên hệ giữa con số cụ thể và con số tổng quát (còn gọi là cải số):
"Biết nhau từ thuở buôn thừng Trăm chắp ngàn nối xin đừng quên nhau”
(TL IV - 301)
"Cầu này cầu ái cầu ân Một trăm con gái rửa chân cầu này"
Con số "trăm", "ngàn" biểu thị số nhiều không xác định
Hoán dụ là một biện pháp tu từ mang tính nghệ thuật nhưng so với ẩn dụ, so sánh, tượng trưng thì ít xuất hiện hơn trong ca dao dân ca trữ tình (hoặc văn vần nói chung) Tuy nhiên, để tạo sự phong phú trong biểu đạt, các tác giả bình dân cùng sử dụng hoán dụ như một phương tiện nghệ thuật một cách khéo léo nhằm tăng sức gợi cảm cho CDDCTT
Trang 30ẩn dụ như vậy đều dùng cái cụ thể để nói vấn đề có ý nghĩa khái quát
Nói về quan hệ số lượng - chất lượng có câu tục ngữ "Quá mù sa mưa"
Nếu trời nhiều mây mù đến mức độ nào đó - số lượng tăng lên quá mức – thì sẽ có mưa
lớn Có nghĩa là nếu lượng đổi thì chất cũng biến đổi theo như một điều tất yếu
* Ẩn dụ trong câu đố
Đặc điểm của câu đố là che, lạ hóa đối tượng để giấu đối tượng được đố cho người nghe giải đố Vì vậy người ta dùng ẩn dụ nhằm lạ hóa đối tượng, đánh lạc hướng người đọc Ẩn dụ trong câu đố thường nói lên đặc điểm của đối tượng, nhằm "che" đối tượng (nửa kín nửa hở) để
gài bẫy logic Tác giả Đỗ Bình Trị cho rằng: “câu đố thực chất là một ẩn dụ” (Những đặc trưng
của câu đố - tr 3) Thí dụ:
Cái cân trong câu đố được mô tả thành một cây gì đó:
"Một cây mà nở trăm hoa Chỉ có một qủa chẳng già chẳng non"
Câu đố có những hình ảnh ẩn dụ nhằm lạ hóa cái cân buộc người nghe phải suy đoán, liên tưởng để tìm lời giải (Một cây trăm hoa, một quả không già không non)
Hoặc khi đố về cái nồi, tác giả dân gian mô tả trạng thái biến đổi của nó qua hình ảnh ẩn
dụ là một cô gái khi còn ở nhà cha và khi đã về nhà chồng:
"Khi ở nhà cha da đỏ hồng hồng Khi về nhà chồng da đen thui thủi"
Mục đích của câu đố là thông qua những ẩn dụ để khai thác cái nhìn mới lạ, bất ngờ, độc đáo đối với các sự vật, hiện tượng quen thuộc
Trang 3131
* Ẩn dụ trong truyện ngụ ngôn
Mỗi truyện ngụ ngôn là một ẩn dụ Thông qua nội dung câu chuyện, cốt truyện có ý nghĩa
ẩn dụ, tác giả muốn nêu lên bài học kinh nghiệm sống hoặc bài học luân lý, triết lý
Thí dụ:
Câu chuyện "Ếch ngồi đáy giếng" khuyên người ta không nên chủ quan, kiêu ngạo, tự phụ Câu chuyện “Thầy bói xem voi” là một ẩn dụ sâu sắc châm biếm những kẻ "mù về nhận
thức" (không phê phán sự khuyết tật về thể chất) Đây là ẩn dụ nhằm phê phán cách nhìn phiến
diện khi nhìn và đánh giá sự vật Giảng ngụ ngôn thực chất là giảng ấn dụ
Ẩn dụ ở ba thể loại trên thường không thể hiện chức năng biểu cảm hoặc thể hiện chức năng biểu cảm rất mờ nhạt
* Ẩn dụ trong ca dao
Phương thức tạo nên ẩn dụ trong ca dao cũng khác với thể loại khác Ấn dụ trong ca dao không đi từ cái cụ thể, đơn nhất đến cái khái quát như tục ngữ Nó cũng không phải là hình thức miêu tả đối tượng bằng cách nhìn khác, lạ hóa đối tượng như câu đố
Ẩn dụ không nhằm mục đích khuyên nhủ, răn dạy như trong ngụ ngôn mà chủ yếu là cách biểu đạt tinh tế, gợi những liên tưởng, xúc cảm đối với người đọc
Việc phân loại ẩn dụ trong ca dao (chương II) và miêu tả các chức năng của ẩn dụ (chương III) sẽ làm rõ hơn những đặc trưng của ẩn dụ trong ca dao
Từ việc bước đầu tìm hiểu những khái niệm về ẩn dụ cũng như làm thao tác phân biệt ẩn
dụ với một số biện pháp tu từ nghệ thuật khác như so sánh, hoán dụ, tượng trưng, chúng tôi thấy
có một số điểm cần chú ý:
1 Đề cập tới khái niệm ẩn dụ, các nhà nghiên cứu dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để gọi tên ẩn dụ (so sánh rút gọn; so sánh gián tiếp; định danh thứ hai ) Bên cạnh đó, tùy theo mục đích nghiên cứu ẩn dụ, các tác giả chú trọng những đặc trưng của ẩn dụ theo chuyên ngành Chẳng hạn Hégel quan niệm ẩn dụ ở góc độ mỹ học; Nguyễn Như Ý chú trọng đến việc giải thích nghĩa của từ; Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Đào Thản đi sâu nghiên cứu ẩn dụ ở phương diện tu
từ học, ngôn ngữ học Còn các nhà nghiên cứu VHDG như Vũ Ngọc Phan, Trần Đình Sử quan tâm nhiều đến giá trị ý nghĩa, tác dụng của ẩn dụ trong văn chương
2 Có thể khác nhau về cách gọi tên ẩn dụ nhưng hầu hết các tác giả đều thống nhất khi nhận xét về đặc trưng của ẩn dụ và đều khẳng định ẩn dụ là một phương thức biểu đạt hết sức
Trang 3232
quan trọng tạo nên sức hấp dẫn cho văn chương Bản chất của ẩn dụ là lối so sánh ví von một cách kín đáo, tế nhị Ẩn dụ xuất hiện trong so sánh trực tiếp (vế B) giúp cho sự biểu đạt trở nên tinh tế, nhận thức sâu sắc hơn và mang lại giá trị biểu cảm cao.Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi tiếp nhận tất cả các quan niệm về ẩn dụ của các tác giả và dựa vào đó làm cơ
sở về mặt lý luận cho phần nghiên cứu ở các chương sau
3 Cần phân biệt biểu tượng với tượng trưng Hai khái niệm này dễ gây nhầm lẫn Hình ảnh
ẩn dụ bao giờ cũng có ý nghĩa biểu tượng nhưng không phải hình ảnh ẩn dụ nào cũng trở thành hình ảnh tượng trưng, Ẩn dụ chỉ trở thành hình ảnh tượng trưng khi nó được lặp đi lặp lại nhiều lẫn, ổn định về nghĩa, về lý thuyết thì như vậy, song trong thực tế không ít người nhầm lẫn và cũng không ít trường hợp thật khó xác định đó là ẩn dụ hay tượng trưng
4 Khi so sánh và phân biệt những điểm giống và khác nhau giữa ẩn dụ với so sánh, hoán
dụ, tượng trưng chúng tôi nhận thấy có những quan niệm mới về ẩn dụ và hoán dụ Theo thi pháp hiện đại thì người ta coi hoán dụ là một dạng của ẩn dụ; trong ẩn dụ có bao hàm hoán dụ Hoặc người ta xếp nhân cách hóa vào chung thành ẩn dụ Đây cũng là những gợi ý để chúng tôi nghiên cứu thêm trong quá trình khảo sát các ẩn dụ
5 Trong ca dao, ẩn dụ được sử dụng nhiều nhưng không đơn thuần chỉ là hiện tượng tu từ;
nó còn là hiện tượng của văn hóa dân gian Ẩn dụ được sáng tạo, sử dụng, cảm thụ theo những truyền thống của văn hóa dân gian và truyền thống thể loại Về điểm này, chúng tôi sẽ nói thêm
ở các chương sau của luận văn
Trang 33
33
CHƯƠNG II: CÁC LOẠI ẨN DỤ TRONG CA DAO
Ẩn dụ có nhiều loại Tùy theo tiêu chí phân loại, cách phân loại mà chúng ta có những ẩn
dụ khác nhau Dưới đây chúng tôi xin trình bày một số tiêu chí để bước đầu phân loại các ẩn dụ trong CDDCTT Đó là tiêu chí từ loại và tiêu chí chất liệu tạo nên ẩn dụ
2.1 PHÂN LOẠI CĂN CỨ VÀO TỪ LOẠI TẠO NÊN ẨN DỤ
2.1.1 Ẩn dụ là những danh từ
Xét về mặt từ loại thì ẩn dụ là những danh từ được dùng phổ biến nhất trong CDDCTT Những danh từ làm ẩn dụ trong ca dao thường là những hình ảnh về thế giới tự nhiên như: trời, trăng, mây, nước, mưa, gió, bãi cát, đá, vôi
“Anh tiếc thay hai mưa trong rơi xuống đống bùn Anh tiếc thay tờ giấy trắng để thằng cỏn con nó vẽ xằng”
"Thài lài mọc cạnh bờ sông Tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài tài"
(TL IV - 318)
"Quả đào tiên ruột mất vỏ còn Buông lời hòi bạn đường mòn ai đi"
(TL IV - 287)
Trang 3434
Ở loại này ta có thể kể đến những hình ảnh ẩn dụ như: chim, sáo, trâu, bò, ếch, nhái (thế giới ẩn dụ là động vật); hàng rào, vườn, giếng, dao, liềm, gương, bát, đũa, áo, khăn, chuông khánh, mảnh chĩnh (thế giới của đồ vật):
"Chuông khánh còn chẳng ăn ai Huống là mãnh chĩnh ném ngoài bờ tre"
(TL I - 318)
"Ai ơi đừng phụ bát đàn Nâng niu bát sứ bể tan có ngày"
2.1.2 Ẩn dụ là tính từ
Cho lới bây giờ, có rất nhiều công trình nghiên cứu về CDDCTT của người Việt nhưng điểm lại những công trình viết về ẩn dụ và đặc biệt là những ẩn dụ là tính từ kết sức hiếm hoi
Chúng tôi có tham khảo bài viết "Tính ngữ trong thơ ca trữ tình dân gian Việt Nam" [80]
của tác giả Phạm Thu Yến Ở bài viết này, bước đầu tác giả nghiên cứu đặc điểm sử dụng tính ngữ trong thơ trữ tình dân gian Việt Nam, tìm hiểu nét đặc sắc có tính truyền thống trong hình tượng nghệ thuật đã góp phần biểu hiện thế giới tâm hồn phong phú của người lao động Tác giả Phạm Thu Yến đã phân loại tính ngữ trong CDDC ra làm 4 loại, trong đó có tính ngữ ẩn dụ Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy ẩn dụ là tính từ xét về mặt số lượng được sử dụng trong CDDCTT không nhiều nhưng rất mang lại hiệu quả nghệ thuật cao Tính từ ẩn dụ tạo ra sự song hành của cảm giác về các hiện tượng Cũng giống như bất kỳ ẩn dụ nào, tính từ ẩn dụ góp phần thể hiện sự so sánh ngầm và chuyển lời dấu hiệu nhận thức từ đối tượng này sang đối tượng khác
Trang 3535
Những ẩn dụ tính từ thường xuất hiện cùng với ẩn dụ danh từ tạo nên trường liên tưởng phong phú, sâu sắc và giúp người đọc có cơ hội khám phá sâu hơn nữa cái được biểu đạt được
ẩn sau cái biểu đạt
Một số điều cần chú ý khi tìm hiểu các tính từ là ẩn dụ:
* Trường hợp bản thân các tính từ không được coi là ẩn dụ nhưng khi kết hợp với danh từ
đem trái tim chân thành (nối sợi dây dài) trao cho kẻ hời hợi, nông cạn (giếng cạn)
* Bản thân các tính từ là những ẩn dụ độc lập chứa đựng nhiều ý nghĩa kín đáo Thí dụ:
Chê kẻ tầm thường, vô giá trị có tính từ "chát lè", "dở dang":
“Thà rằng ăn nửa quả hồng Còn hơn ăn cả chùm sung chát lè”
(TL VI - 1990)
"Thà rằng ăn cả chùm sung Còn hơn ăn nửa trái hồng dở dang"
Tính chất sự vật thông qua ngũ quan của con người được thể hiện qua hệ thống những ẩn
dụ là tính từ thường đề cập đến những đặc điểm của sự vật và qua con đường liên tưởng chúng
ta hiểu về chính cuộc sống của người lao động
Trang 3636
Những đặc điểm đó là:
+ Kích thước, khoảng cách:
Những tính từ định hình về kích thước, dáng dấp của sự vật có những tính từ ẩn dụ như:
"cao", "sâu", "dài”, "rộng"
"Đường dài ngựa chạy cát bay Ngãi nhân thăm thẳm một ngày một xa"
(TL IV - 303)
Con đường vốn đã xa càng trở nên xa xôi vạn dặm."Dài" là một tính từ ẩn dụ gắn liền với
hình ảnh con đường ngựa chạy Con đường càng trở nên xa thẳm và mù mịt Khoảng cách giữa hai người yêu như bị đẩy ra xa hơn
Tính từ ẩn dụ nói về cao - thấp, đặc biệt khi miêu tả về chiều cao của cây thường mang nhiều ý nghĩa Có khi chiều cao của cây chỉ một phẩm chất cứng cỏi, bản lĩnh của con người bất chấp gian nan, thử thách:
“Cay cao chẳng sợ gió rung
Bờ cao chẳng sợ nước sông tràn vào”
(TL VI - 379) hoặc hàm ý chi sự thuận lợi, chở che:
"Cây cao bóng cả không ngồi Anh ra giữa nắng trách trời không râm"
(TL IV - 287)
"Em ham cây cả bóng cao Nên quyết chun vào đỡ gió che mưa"
(TL V - 405) + Tính chất, trang thái:
Những tính từ ẩn dụ loại này thường biểu đạt những thuộc tính của sự vật, hiện tượng và tác giả muốn thể hiện thế giới của con người ở nhiều góc độ khác nhau
Để biểu đạt cho sự trẻ trung, tươi tắn, tràn đầy sức sống, ẩn dụ tính từ có một loạt những
tính từ ở nhiều mức độ khác nhau như: "non": "xanh"; "tươi": "lộc"; "chồi"; "chín"; "thắm":
"nở” Hình ảnh đi kèm thường là thế giới thực vật như cây, lá, hoa
“Ai cho chín lạng không mừng
Trang 37"Cau non trầu lộc mỉa mai
Da trắng tóc dài, đẹp với ai dây?"
(TL IV - 290)
"Nghĩ tiếc cho ai nhành mai đang thắm Chẳng xứng tay cầm uổng nhánh mai tươi"
(TLV1 - 1556) Những tính từ ẩn dụ loại này thường để ví với những cô gái đang độ xuân thì hoặc mới lớn
như "cau non" "trầu lộc"; cũng có khi biểu đạt cho sự trong trắng, thanh khiết của những cô con gái nhà lành như "cỗ chồi xuân non cành" Ngược lại, chỉ sự tàn tạ, héo úa, già nua, có nhiều tính
từ ẩn dụ như: "tàn" (Bông búp không bán để tàn ai mua; Bông tàn hết nhụy bướm lui); "héo" (Hoa đào héo nhụy anh thương; Bấy lâu ni huê héo dàu dàu); "phai" (Gần trưa đứng bóng hoa
phai dần dần)
Tính từ ẩn dụ cũng được các tác giả sử dụng biến hóa gần gũi với cách hiểu đa nghĩa của
người bình dân trong lời ăn tiếng nói hằng ngày Cũng với tính từ "non" nhưng vào một hoàn cảnh khác thì tính từ chuyển sang nghĩa ẩn dụ khác "Non" sẽ có nghĩa gần với "xanh" (chưa
chín) để biểu thị cho sự non nớt, chưa trưởng thành:
"Chuối non giú ép chát ngầm Trai tơ đòi vợ khóc thầm ban đêm"
(TL V - 376)
“Anh đừng vạch vách, bẻ rào Vườn quê mới lập, quả đào còn non”
(TLV- 331) Những tính từ hàm ý ca ngợi, kính trọng, đề cao phẩm chất, tính cách con người như
"trong"; "sâu"; "tỏ" (nước trong, gương trong, gương tỏ, giếng sâu) Đối lại là những tính từ ám
Trang 3838
chỉ những kẻ tầm thường, phản trắc, xấu xa như: "đục"; "nông": "tróc"; "mờ" (gương mờ, gương
tróc thủy, giếng cạn, nước đục)
+ Tâm trạng - Cảm giác:
Những tính từ diễn tả tâm trạng, cảm giác không nhiều nhưng khi xuất hiện chúng có tác dụng biểu đạt rất chính xác ý nghĩa của cái được biểu đạt
Thí dụ như cảm giác "mát mẻ - lạnh lùng" được dùng trong câu ca dao:
"Ai ngờ cá lại ham mồi
Bỏ nơi mát mẻ, tìm nơi lạnh lùng"
(TL I - 282) những tính từ này hàm ý chỉ người có tình yêu thực lòng (mát mẻ) và những kẻ hờ hững (lạnh lùng)
Hoặc cảm giác ước muốn những gì mình không có, luôn thấy thiếu thốn "lạt" miệng Trong
bài ca sau, tính từ ẩn dụ chỉ những kẻ ham hố, thích chuộng của lạ, rộng hơn là chỉ những người không chung thủy:
"Tới đây lạt miệng thèm chanh
Ở nhà đã có cam sành chín cây"
(TL ra - 398)
"Anh về mắc võng ru con Đừng nên tơ tưởng trái chanh non cuối mùa"
(TL VI - 169) + Hương vị:
Quan niệm của người lao động về giá trị, phẩm chất đạo đức của con người cũng giống như cây cỏ với những hương vị được coi là chuẩn mực cho phẩm cách Hoa tượng trưng cho con người và những tính từ ẩn dụ miêu tả những cung bậc, sắc độ của hương vị hoa trái đã biểu hiện
vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân lao động
Khi ca ngợi phẩm chất cao quý, vẻ đẹp bên trong của người lao động thì tính từ ẩn dụ được dùng phổ biến với tần số cao là mùi thơm của hoa trái Tính từ này có nhiều mức độ khác nhau:
"thơm" (Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi); "thơm tho - ngát lừng" (Thơm tho ai biết, ngát lừng ai hay);
"thơm lâu" (Chẳng bằng bông bưởi thơm lâu dịu dàng); "thơm xa" (Quế già, quế lụi hương trường
Trang 3939
thơm xa); "thơm nức" (Hoa thơm, thơm nức cả rừng); "thơm lửng thơm lừng" (Hoa thơm, thơm
lửng thơm lừng)
Khi phê phán loại người xấu xa, ti tiện, tầm thường hoặc hoàn cảnh không tốt, các tác giả
dân gian dùng tính từ ẩn dụ là những mùi "tanh”, "hôi" (cỏ hôi; mà đeo hoa bí hoa bầu cho hôi;
hôi tanh mùi bùn)
Bên cạnh “hương” là “vị” Hệ thống những tính từ ẩn dụ loại này thường được người bình
dân sử dụng để đánh giá thực chất giá trị của các loại người trong xã hội Những vị ngọt ngào, thanh thao tượng trưng cho sự cao quý; những vị chua, chát, mặn, lạt, đắng cay thể hiện sự tầm thường, vô giá trị hoặc chỉ những sự vất vả nhọc nhằn Thí dụ:
Thể hiện sự quý trọng người trong trắng, thanh khiết có tính từ ẩn dụ “thanh thao”:
“Khế rụng bờ ao thanh thao anh lượm Ngọt như cam sành úng cuống anh chê”
(TL V - 417)
Diễn tả nỗi vất vả, gian nan ở đời có tính từ ẩn dụ "chua", "mặn":
"Tay cầm nắm muối quả mơ
Mơ chua, muối mặn, ta chờ đợi nhau"
Từ đó mỗi người tự rút ra những nhận xét về ý nghĩa đời sống của con người bằng sự liên tưởng Những màu sắc được nhắc đến nhiều là màu xanh, màu vàng, màu trắng, màu hồng Có những sắc màu tự nhiên để miêu tả cái đẹp của thế giới tự nhiên và những tính từ này còn tượng trưng cho sự cao quý
Chẳng hạn như màu trắng của hạt gạo được nhấn mạnh với tính từ chỉ sắc độ “trắng ngần”
khiến ta liên tưởng đến cảnh ngộ thật đáng thương của cô gái khi đặt tình yêu không đúng chỗ:
"Tiếc thay hạt gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần than rơm"
Trang 4040
(TL II- 314) Khi nhắc đến con ngựa quý, người ta dùng ẩn dụ màu hồng:
"Ai về đường ấy hôm nay Ngựa hồng ai cưỡi, dù tay ai cầm"
(TL I - 191)
Để chỉ con cá tươi ngon có hình ảnh con “cá hồng” Màu hồng của con cá còn được hiểu là
cô gái trẻ trung, xinh đẹp Đối lại con tép bị ươn, bị sình hết ngon có hình ảnh con "tép bạc"
Màu bạc của con tép giữa trưa khiến ta liên tưỏng đến những cô gái quá thì, nhan sắc tàn phai, không đáng để ý:
"Buổi chợ đông con cá hồng anh chê lạt Buổi chợ tàn rồi, con tép bạc cũng phải mua"
(TL IV - 302) Khi miêu tả thế giới thực vật, một đặc điểm được các tác giả chú ý là màu sắc của hoa, của
lá Những tính từ chỉ màu sắc này tô đậm vẻ đẹp riêng của từng đối tượng gợi cảm xúc thẩm mỹ
về cái đẹp Màu trắng của bông bưởi, bông sen gợi vẻ cao quý, thanh khiết; màu vàng của lá trầu kết hợp với màu xanh của cau tạo nên cái đẹp hòa hợp, ăn ý Những chiếc lá màu xanh gợi sự non tươi, giàu sức sống đem đến cho ta cảm giác yêu đời:
Đó là hình ảnh hoa sen được tô đậm với một loạt tính từ chỉ màu sắc xanh, trắng, vàng thật đẹp, thật cao quý:
"Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng"
(TL VI - 2227) Hoặc hình ảnh "trầu - cau" quấn quýt càng trở nên đẹp đôi, hài hòa bởi hai tính từ chỉ màu
sắc "xanh - vàng":
“Trầu vàng nhá với cau xanh, Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời”
(TL IV - 265) Màu vàng thường tạo nên vẻ đẹp rực rỡ, sang trọng nên tính từ này xuất hiện khá nhiều (trầu vàng, cúc vàng) Như hoa cúc với màu vàng rực rỡ làm đẹp cho đời nên phải nở muộn:
"Vì hoa tham lấy sắc vàng