Từ trước đến nay, ẩn dụ vẫn được hiểu theo quan điểm của ngôn ngữ học truyền thống, là một biện pháp tu từ nghệ thuật trong thơ ca - ẩn dụ tu từ do Aristotle đề xướng trong công trình Po
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯƠNG NGỌC KHÁNH PHƯƠNG
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ PHỤ NỮ TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯƠNG NGỌC KHÁNH PHƯƠNG
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ PHỤ NỮ TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Việt Nam học
Trang 3LUẬN VĂN THẠC SĨ
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ PHỤ NỮ TRONG TIẾNG VIỆT
Luận văn được bảo vệ ngày 3/11/2016, tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn là trung thực và không trùng với bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LƯƠNG NGỌC KHÁNH PHƯƠNG
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục Danh mục các bảng Danh mục các lược đồ DẪN NHẬP 1
0.1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
0.2 Lịch sử vấn đề 2
0.3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 10
0.4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 10
0.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 12
0.6 Cấu trúc của luận văn 13
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 15
1.1 Những vấn đề lý thuyết về ẩn dụ 15
1.1.1.Ẩn dụ theo quan niệm tiền tri nhận 15
1.1.2.Ẩn dụ theo quan niệm tri nhận 18
1.2 Một số thuật ngữ liên quan 26
1.2.1.Ý niệm và sự ý niệm hóa 26
1.2.2.Phạm trù và sự phạm trù hóa 28
1.2.3.Điển dạng 29
1.2.4.Nghiệm thân 30
1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và ẩn dụ theo quan niệm tri nhận 31
1.3.1.Tính phổ quát văn hóa trong ẩn dụ ý niệm 32
1.3.2.Tính đa dạng văn hóa trong ẩn dụ ý niệm 33
Tiểu kết chương 1 35
Trang 6CHƯƠNG 2 CÁC KIỂU LOẠI ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ PHỤ NỮ TRONG
TIẾNG VIỆT 37
2.1 Ẩn dụ cấu trúc ý niệm về phụ nữ 38
2.1.1 Ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ ĐỘNG VẬT 38
2.1.2 Ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ THỰC VẬT 51
2.1.3 Ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ THỨC ĂN 58
2.1.4 Ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ ĐỒ VẬT 65
2.1.5 Ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ TRẺ CON 69
2.2 Ẩn dụ bản thể ý niệm về phụ nữ 72
2.2.1 Ẩn dụ ý niệm THÂN PHẬN CỦA PHỤ NỮ LÀ THỰC THỂ 73
2.2.2 Ẩn dụ ý niệm TRINH TIẾT CỦA PHỤ NỮ LÀ THỰC THỂ 75
2.2.3 Ẩn dụ ý niệm TÂM HỒN CỦA PHỤ NỮ LÀ THỰC THỂ 77
2.3 Ẩn dụ định hướng ý niệm về phụ nữ 78
2.3.1 Ẩn dụ ý niệm ĐỐI XỬ TỐT VỚI PHỤ NỮ LÀ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG LÊN; ĐỐI XỬ KHÔNG TỐT VỚI PHỤ NỮ LÀ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG XUỐNG 78
2.3.2 Ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG, TRẠNG THÁI CÓ SỨC SỐNG CỦA PHỤ NỮ LÀ HƯỚNG LÊN; HOẠT ĐỘNG, TRẠNG THÁI KHÔNG CÓ SỨC SỐNG CỦA PHỤ NỮ LÀ HƯỚNG XUỐNG 81
Tiểu kết chương 2 83
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ CƠ SỞ Ý NIỆM HÓA CỦA ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ PHỤ NỮ TRONG TIẾNG VIỆT 85
3.1 Đặc điểm của ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt 85
3.1.1 Tính đa dạng văn hóa của ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt 85
3.1.2 Tính ổn định trong tư duy của ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt 96
3.1.3 Tính sáng tạo trong thơ ca của ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt 101
Trang 73.2 Cơ sở ý niệm hóa của ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt 105
3.2.1 Cơ sở ý niệm hóa dựa vào thể xác 106
3.2.2 Cơ sở ý niệm hóa dựa vào tri thức 108
3.2.3 Cơ sở ý niệm hóa dựa vào kinh nghiệm 109
Tiểu kết chương 3 113
KẾT LUẬN 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
DANH MỤC NGUỒN NGỮ LIỆU 127
PHỤ LỤC 134
Phụ lục 1: Kết quả khảo sát ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt theo các phạm trù 135
Bảng 1a: Kết quả khảo sát ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ ĐỘNG VẬT 135
Bảng 1b: Kết quả khảo sát ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ THỰC VẬT 137
Bảng 1c: Kết quả khảo sát ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ THỨC ĂN 139
Bảng 1d: Kết quả khảo sát ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ ĐỒ VẬT 140
Bảng 1e: Kết quả khảo sát ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ TRẺ CON 141
Phụ lục 2: Ngữ liệu ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt 142
Phần 2a: Ngữ liệu ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ ĐỘNG VẬT 142
Phần 2b: Ngữ liệu ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ THỰC VẬT 169
Phần 2c: Ngữ liệu ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ THỨC ĂN 192
Phần 2d: Ngữ liệu ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ ĐỒ VẬT 202
Phần 2e: Ngữ liệu ẩn dụ ý niệm PHỤ NỮ LÀ TRẺ CON 210
Phần 2f: Ngữ liệu của một số ẩn dụ ý niệm về phụ nữ khác 215
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân loại thành viên của các tiểu phạm trù động vật 39 Bảng 2.2 Thống kê số lƣợng biểu thức ngôn ngữ mang ẩn dụ ý niệm về phụ nữ theo các tiểu phạm trù động vật 40 Bảng 2.3 Phân loại thành viên của các tiểu phạm trù thực vật 53
Trang 9DANH MỤC CÁC LƢỢC ĐỒ
Lƣợc đồ 1.1 Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH 21
Lƣợc đồ 2.1 Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ PHỤ NỮ LÀ ĐỘNG VẬT 41
Lƣợc đồ 2.2 Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ PHỤ NỮ LÀ THỰC VẬT 53
Lƣợc đồ 2.3 Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ PHỤ NỮ LÀ THỨC ĂN 60
Lƣợc độ 2.4 Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ PHỤ NỮ LÀ ĐỒ VẬT 66
Lƣợc đồ 2.5 Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ PHỤ NỮ LÀ TRẺ CON 70
Trang 10Metaphors we live by (1980) của G Lakoff và M Johnson và đang tiếp diễn cho
đến ngày nay Không giống với bất kỳ quan niệm ngôn ngữ học nào trước đó, đối tượng mà ngôn ngữ học tri nhận quan tâm không phải là các đơn vị ngôn ngữ hay sự hiện thực hóa của chúng trong ngữ cảnh kèm theo các nhân tố hữu quan
mà là hệ thống ý niệm phổ quát (system of universal concepts) và hoạt động tri nhận (cognition) của con người thông qua những biểu thức ngôn ngữ (linguistic expression)
Trong ngôn ngữ học tri nhận, nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) là nội dung được tập trung bàn luận nhiều nhất Từ trước đến nay, ẩn
dụ vẫn được hiểu theo quan điểm của ngôn ngữ học truyền thống, là một biện pháp tu từ nghệ thuật trong thơ ca - ẩn dụ tu từ do Aristotle đề xướng trong công
trình Poetics (Nghệ thuật thơ ca) năm 335 trước Công nguyên, hay một phương
thức chuyển nghĩa - ẩn dụ từ vựng; nhưng trong khung lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ được hiểu với tư cách hoàn toàn khác, là một phương thức ý niệm hóa thế giới của con người
Kể từ khi lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận nói chung, về ẩn dụ ý niệm nói riêng được giới Việt ngữ học tiếp nhận, đã có khá nhiều công trình dịch thuật về
lý thuyết, đồng thời áp dụng nó vào thực tiễn tiếng Việt Tuy nhiên, trong phạm
vi những tài liệu tiếp cận được, chúng tôi nhận thấy vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về những ẩn dụ liên quan đến ý niệm phụ nữ trong
Trang 11tiếng Việt Điều đáng nói nhất, phụ nữ cũng được xem là một đối tượng tri nhận
cơ bản trong mọi ngôn ngữ, đã được mô tả qua nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh [83], [95], [96], tiếng Tây Ban Nha [96], [107], tiếng Trung [105], tiếng Serbia [104], tiếng Rumani [104], v.v nhưng lại chưa được mô tả qua cứ liệu tiếng Việt
Trên đây là những lý do để chúng tôi chọn đề tài “Ẩn dụ ý niệm về phụ nữ
trong tiếng Việt”
0.1.2 Mục đích nghiên cứu
Qua việc thu thập, thống kê, phân tích ngữ liệu cũng như vận dụng những
lý thuyết cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận nói chung, lý thuyết ẩn dụ ý niệm nói riêng, đồng thời kết hợp với những tri thức liên ngành, luận văn cố gắng đạt được các mục đích sau:
Tìm hiểu đặc điểm tri nhận của người Việt về đối tượng phụ nữ căn cứ vào nguồn ngữ liệu tiếng Việt, có liên hệ với ngữ liệu thuộc một vài ngôn ngữ khác (tiếng Anh, tiếng Trung)
Xác định và lý giải những nhân tố hữu quan chi phối đặc điểm tri nhận của người Việt về phụ nữ
0.2 Lịch sử vấn đề
0.2.1 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm
0.2.1.1 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm ở nước ngoài
Những nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm xuất hiện đồng thời với sự ra đời của
ngôn ngữ học tri nhận mà Metaphors we live by (1980) [93] của G Lakoff và M
Johnson được xem là công trình đầu tiên đánh dấu sự kiện này Hai tác giả đã đưa ra những lý luận hoàn toàn mới mẻ về ẩn dụ, theo đó ẩn dụ không phải là một thuộc tính của ngôn từ mà mang bản chất ý niệm Để triển khai điều này, phần tiếp theo của chuyên luận đề cập đến những nội dung cốt yếu của ẩn dụ ý niệm như sự phân loại ẩn dụ, mô tả một số ẩn dụ mà tác giả cho là phổ quát tạo
Trang 12trong tư duy nhân loại, đồng thời lý giải đặc điểm tri nhận của cộng đồng ngôn ngữ căn cứ vào kinh nghiệm thể xác (nghiệm thân), kinh nghiệm văn hóa
Nhìn nhận lại bản chất và cách thức tổ chức của ẩn dụ trong thơ ca, công
trình More than Cool Reason: A Field Guide to Poetic Metaphor (1989) [90] của
G Lakoff và M Turner đã chứng tỏ ẩn dụ thơ ca (poetic metaphor) thực chất là những ẩn dụ thường quy (conventional metaphor), tức ẩn dụ ý niệm thông thường, được cấu trúc dựa theo những cơ chế cải biến mới mẻ, thay vì là một phạm trù độc lập, tách biệt với ngôn ngữ đời thường theo quan niệm truyền thống Điều này được tập trung triển khai ở hai nội dung: sức mạnh của ẩn dụ thơ ca (the power of poetic metaphor) và cấu trúc ẩn dụ của một bài thơ độc lập (the metaphor structure of a single poem)
Tiếp nối những thành tựu trên, các chuyên luận về ẩn dụ ý niệm của Z
K vecses góp phần mở rộng những nội dung lý luận cơ bản, đáng chú ý nhất là vai trò của văn hóa đối với việc nghiên cứu ẩn dụ, đồng thời đa dạng hóa nội dung của các loại ẩn dụ khi tác giả khảo sát sự hành chức của chúng trong nhiều
ngôn ngữ Những đóng góp kể trên được thể hiện rõ trong Metaphor: A Pratical
Introduction (2002) [86] Một chuyên luận khác, Metaphor and Emotion: Language, Culture, and Body in Human Feeling (2004) [81], Z K vecses đã xác
lập một hệ thống chi tiết những ẩn dụ ý niệm của phạm trù cảm xúc, đáng chú ý
là tác giả đã chỉ ra những tính chất phổ quát và đặc thù văn hóa của các ẩn dụ
này Tuy nhiên, phải đến công trình Metaphor in Culture: Universality and
Variation (2005) [82] thì mối quan hệ giữa ẩn dụ và văn hóa mới được phân tích
một cách chi tiết, hệ thống từ nhiều góc độ Một công trình khác, Cognition and
Culture (2010) [79] là sự tập hợp những bài viết về ẩn dụ được khảo sát trên
nhiều loại diễn ngôn khác nhau như chính trị, khoa học, giáo dục, tôn giáo, nghệ thuật của Z K vecses và một số tác giả khác
Trang 13Ngoài ra, những nội dung lý thuyết nhập môn của ngôn ngữ học tri nhận,
trong đó có ẩn dụ ý niệm cũng được nhắc đến trong nhiều giáo trình: Cognitive
Linguistics (2001) [94], Cognitive Linguistics An Introduction (2006) [77], The Oxford Handbook of Cognitive Linguistics (2007) [102], v.v Về mặt thực tiễn,
có thể thấy rằng ẩn dụ ý niệm đã và đang được nghiên cứu từ nhiều góc độ, có sự kết hợp với những đường hướng nghiên cứu khác trong phạm vi chuyên ngành ngôn ngữ học như phân tích diễn ngôn, ngữ pháp, ngữ nghĩa, phong cách, v.v nhưng phổ biến hơn cả là nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học đối chiếu, các
ẩn dụ ý niệm được miêu tả và đối chiếu trong nhiều ngôn ngữ khác nhau: tiếng Anh [83], [95], [96], [105], tiếng Tây Ban Nha [96], [107], tiếng Trung [78], [105], tiếng Malay [98], [103], tiếng Ý [104], tiếng Nga [78], tiếng Đức [104], tiếng Ba Tư [97], tiếng Ả Rập [98], tiếng Serbia [104], tiếng Rumani [104], v.v nhằm phác họa toàn cảnh bức tranh ngôn ngữ của các dân tộc về thế giới
0.2.1.2 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm tại Việt Nam
Kể từ khi lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận tri nhận nói chung, ẩn dụ ý niệm nói riêng được tiếp nhận tại Việt Nam, giới Việt ngữ học đã công bố những chuyên luận, bài viết nhằm giới thiệu và vận dụng lý thuyết này vào việc mô tả thực tiễn tiếng Việt, kèm theo sự đối chiếu với các ngôn ngữ khác
Bắt đầu là cuốn Ngôn ngữ học tri nhận – từ lý thuyết đại cương đến thực
tiễn tiếng Việt (2005) [54] của Lý Toàn Thắng, tác giả đã đề cập một số vấn đề
lý thuyết trọng tâm của ngôn ngữ học tri nhận: ý niệm và sự ý niệm hóa, điển dạng và các phạm trù tri nhận Toàn bộ phần còn lại của chuyên luận được tác giả dành riêng để phác thảo mô hình tri nhận phổ quát của nhân loại về không gian và đặc điểm tri nhận của người Việt về phạm trù này (có so sánh với tiếng Anh và tiếng Nga) Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam
về phạm trù không gian theo lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận Ngoài ra, phần phụ lục của cuốn sách gồm những bài viết của chính tác giả trao đổi về các vấn đề: phạm trù thực vật trong tiếng Việt, ngữ pháp học tri nhận (khảo sát một vài
Trang 14hiện tượng ngữ pháp tiếng Việt), ứng dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào việc dạy - học ngoại ngữ, v.v Nội dung của các bài viết phần nào hé mở những vấn đề nghiên cứu mới cho những ai muốn tiếp bước trào lưu ngôn ngữ này
Cuốn Ngôn ngữ học tri nhận – ghi chép và suy nghĩ của Trần Văn Cơ
(2007) [9] được xem là công trình đầu tiên xác lập cơ sở lý thuyết về ẩn dụ tri nhận1 tại Việt Nam Ngoài những vấn đề lý thuyết chung của ngôn ngữ học tri nhận, tác giả dành ra một chương (chương V) để giới thiệu lý thuyết ẩn dụ ý
niệm, trên cơ sở tiếp thu những ý tưởng của công trình Metaphors we live by
(1980) có kèm theo sự biện giải, đánh giá của chính tác giả Nhưng phải đến
Khảo luận ẩn dụ tri nhận (2009) [10] thì lý thuyết ẩn dụ ý niệm mới được Trần
Văn Cơ khái quát thành một hệ thống chặt chẽ gồm: bản chất, sự hình thành và cách phân loại ẩn dụ, cũng như mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hóa, tư duy
trong nghiên cứu ẩn dụ ý niệm Sau đó, tác giả còn biên soạn cuốn Ngôn ngữ học
tri nhận – từ điển tường giải & đối chiếu (2011) [11] với cấu trúc gồm hai phần
chính: (i) từ điển tường giải với 96 mục từ; (ii) từ điển đối chiếu (Anh – Việt và Việt – Anh) Tài liệu mang lại nhiều thông tin tra cứu hữu ích trong bối cảnh nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam còn hiếm hoi về giáo trình, từ điển tra cứu
Về công trình dịch thuật, đáng kể nhất là cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học tri
nhận (2001) [45] của tác giả Triệu Diễm Phương, do Đào Thị Hà Ninh dịch năm
2011 Cũng tương tự như các giáo trình nhập môn khác, cuốn sách này cũng lần lượt triển khai những vấn đề cơ sở: ý niệm, phạm trù, mô hình tri nhận của ẩn dụ
và hoán dụ, v.v Trong phần ẩn dụ, đáng chú ý nhất là 2 nội dung: sự phân biệt giữa ẩn dụ thường quy và ẩn dụ sáng tạo (ẩn dụ thơ ca) và tính sáng tạo của ẩn
dụ được phân tích, diễn giải khá chi tiết
1
Thuật ngữ conceptual metaphor được Trần Văn Cơ (2007), (2009), (2011) dịch là ẩn dụ tri nhận
Trang 15Ngoài ra, có thể kể đến một số bài viết trên các tạp chí trong nước với nội
dung chính là giới thiệu về lý thuyết ẩn dụ tri nhận như: George Lakoff và một số
vấn đề về lý luận ngôn ngữ học tri nhận (Đào Thị Hà Ninh, 2005) [40], Bản chất của ẩn dụ (Nguyễn Đức Tồn, 2007) [60], Suy nghĩ về ẩn dụ khái niệm trong thế giới thơ ca từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (Nguyễn Lai, 2009) [35], Vài nét về sự tương đồng trong ẩn dụ (Vi Trường Phúc, 2012) [43], v.v Bên cạnh
đó là các bài viết mô tả, phân tích một số phạm trù, ý niệm quen thuộc trong
tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ khác: Ẩn dụ ý niệm về cuộc đời trong
thơ tiếng Anh và tiếng Việt (Nguyễn Thị Quyết, 2012) [46], Ẩn dụ ý niệm „vàng‟ trong tiếng Việt nhìn từ góc độ miền nguồn (Đặng Thị Hảo Tâm, 2012) [52], Ẩn
dụ ý niệm về quyền lực và sự kính trọng trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
(Nguyễn Ngọc Vũ, 2012) [67], Ẩn dụ ý niệm „NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ MÓN ĂN‟
trong tiếng Việt (Nguyễn Thị Bích Hợp, 2016) [28], v.v Các bài viết đã góp
phần củng cố thêm cho tính chặt chẽ và khả năng ứng dụng linh hoạt của lý thuyết ẩn dụ ý niệm, đồng thời từng bước định hình bức tranh tinh thần của người Việt về thế giới trên cơ sở khai thác mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hóa và tư duy
Ngoài sách, tạp chí, vấn đề ẩn dụ ý niệm (ẩn dụ tri nhận) cũng được bàn luận sôi nổi trong nhiều luận văn, luận án Các công trình này tập trung khai thác
miền nguồn hoặc miền đích của ẩn dụ ý niệm Chẳng hạn, các đề tài: Ẩn dụ tri
nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn (Nguyễn Thị Bích Hạnh, 2014) [19], Một số
ẩn dụ thi ca trong thơ Mới nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (Phan Ngọc
Trần, 2014) [63], Ẩn dụ tri nhận trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Từ Thị Mỹ Hạnh, 2015) [20], Ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)
(Trần Thế Phi, 2016) [42], v.v chủ yếu mô tả đặc điểm của các ẩn dụ có chung miền đích về cuộc đời, tình yêu, sự sống - cái chết, thời gian, cảm xúc Điều này cũng chứng tỏ rằng những nỗ lực để nắm bắt các ý niệm trừu tượng là một phần quan trọng trong hoạt động nhận thức hằng ngày của con người Bên cạnh đó,
Trang 16những công trình: Miền ý niệm sông nước trong tri nhận người Việt (Đinh Thị
Vũ Trinh, 2010) [64], Ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong tiếng Việt (Trần Thị Phương Lý, 2012) [38], Ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn” trong tiếng Việt
(Nguyễn Thị Bích Hợp, 2015) [27] chú trọng xác lập hệ thống ẩn dụ ý niệm và đặc điểm tri nhận của cộng đồng người Việt dựa trên những miền nguồn quen thuộc, cụ thể như thực vật, đồ ăn, môi trường sông nước Đây đều là những miền nguồn chứa đựng tri thức phong phú và giá trị văn hóa dân tộc đa dạng, đặc sắc Cùng sự mô tả chi tiết, một số tác giả kể trên đã nỗ lực vận dụng những tri thức liên ngành về văn hóa, lịch sử, xã hội để lý giải cơ sở ý niệm hóa của các ẩn dụ
0.2.2 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về phụ nữ
0.2.2.1 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về phụ nữ ở nước ngoài
Từ những bài viết đã tiếp cận, chúng tôi nhận thấy ẩn dụ ý niệm về phụ nữ
đã được mô tả qua nhiều cứ liệu ngôn ngữ (tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Trung, tiếng Rumani, tiếng Serbia) cũng như được khảo sát qua một số phương tiện khác nhau (văn bản viết, phiếu điều tra) Cụ thể như sau:
B Song (2009) trong bài viết A conceptual metaphorical study about the
representation of women in Chinese and English women‟s magazine websites (Nghiên cứu về sự biểu đạt ý niệm phụ nữ trên các tạp chí điện tử tiếng Trung và tiếng Anh dành cho phụ nữ) [105] đã phân tích những ẩn dụ ý niệm về phụ nữ
trong hai ngôn ngữ này Bài viết đã làm nổi bật cách nhìn về phụ nữ trong mỗi ngôn ngữ qua các giai đoạn khác nhau, điều này thể hiện khá rõ nét trong cứ liệu
tiếng Trung Ngoài ra, tác giả bài viết còn đề cập đến khái niệm iconic metaphor, tạm dịch là ẩn dụ phỏng hình, dùng để chỉ phương thức tri nhận đặc thù của
những cộng đồng mà tiếng mẹ đẻ là một ngôn ngữ tượng hình như tiếng Trung Với những biện giải thuyết phục, vấn đề này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều đóng góp cho khoa học nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong các ngôn ngữ tượng hình
Trang 17Với ngữ liệu khảo sát là tiếng lóng trong ngôn ngữ Anh - Mỹ, Z K vecses (2006) đã xác lập những ẩn dụ ý niệm về phụ nữ và đàn ông trong bài viết
Metaphor and ideology in slang: the case of WOMAN and MAN (Ẩn dụ và tư tưởng trong tiếng lóng: trường hợp PHỤ NỮ và ĐÀN ÔNG) [83] Ngoài ẩn dụ,
bài viết còn đề cập đến những hoán dụ ý niệm liên quan đến các từ chỉ bộ phận
cơ thể của hai đối tượng này Ngữ liệu minh họa tuy chưa thực sự đa dạng nhưng
hệ thống các ẩn dụ cùng hoán dụ ý niệm mà tác giả đã chỉ ra khá thuyết phục so với thực tiễn ngôn ngữ Anh – Mỹ, cũng như mức độ chia sẻ của chúng đối với các ngôn ngữ khác, trong đó có tiếng Việt
Bài viết The representation of women in teenager and women‟s magazines:
recurring metaphors in English (Sự biểu đạt ý niệm phụ nữ trong các tạp chí phụ nữ: những ẩn dụ „hồi quy‟ trong tiếng Anh) [95] của I López (2007) đã chỉ ra 5
ẩn dụ ý niệm về phụ nữ mà tác giả cho là phổ biến trong tiếng Anh và lần lượt
mô tả chúng Điểm khá thú vị của bài viết này là ý niệm phụ nữ được phân tích trong mối quan hệ với một số ý niệm liên quan như tình dục và đàn ông Một bài
viết sau đó, Of Women, Bitches, Chickens and Vixens: Animal Metaphors for
Women in English and Spanish (Phụ nữ, chó cái, gà con, chồn cái: ẩn dụ động vật dùng cho phụ nữ trong tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha) [96], I López (2009)
đã đối chiếu những ẩn dụ về phụ nữ trong tiếng Anh được xác lập trước đó với tiếng Tây Ban Nha nhằm chỉ ra những biểu hiện tương đồng và khác biệt của các
ẩn dụ này Cuối cùng, bài viết dẫn đến những kết luận khá thú vị, khẳng định sự
đa dạng văn hóa chính là giá trị cốt lõi bên trong những ẩn dụ về phụ nữ được ánh xạ từ miền nguồn động vật
Một bài viết khác, A critical study of the women are animals conceptual
metaphor (Ẩn dụ ý niệm phụ nữ là động vật ở góc độ phê phán) của E Túrpin và
D López (2014) [108] tập trung phân tích ẩn dụ PHỤ NỮ LÀ ĐỘNG VẬT dưới góc độ phân tích diễn ngôn phê phán (critical discourse analysics) Trong bài viết, tác giả đã chia phạm trù động vật thành từng phạm trù thứ cấp (subcatergory)
Trang 18như thú cưng, gia súc, động vật hoang dã để thông qua cơ chế ánh xạ, làm nổi bật những đặc trưng của miền đích
Gần đây, bài viết Beauty and The Beast from a Cognitive Linguistic
Perspective: Animal Metaphors for Women in Serbian and Romanian (Người đẹp và quái thú từ quan điểm ngôn ngữ học tri nhận: Ẩn dụ động vật dùng cho phụ nữ trong tiếng Serbia và tiếng Rumani) của A Kilyeni và N Sila ki (2015)
[104] cũng tập trung phân tích những ẩn dụ mà trong đó phụ nữ được gán cho những thuộc tính của động vật Từ bảng thống kê gồm 21 loại động vật khác nhau, tác giả đã trình bày chi tiết những điểm giống và khác nhau từ các biểu thức ngôn ngữ mang ẩn dụ về phụ nữ trong tiếng Rumani và tiếng Serbia
0.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về phụ nữ tại Việt Nam
Như đã đề cập, vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được mô tả và lý giải một cách có hệ thống dựa trên ngữ liệu tiếng Việt Hiện tại, luận văn chỉ xác lập được
2 tài liệu tham khảo liên quan đến ẩn dụ ý niệm về phụ nữ, gồm một luận văn và một bài báo:
Luận văn An investigation into conceptual metaphors of women in the tale
of Kieu and its English version (Khảo sát ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong Truyện Kiều và bản dịch Truyện Kiều bằng tiếng Anh) [99] của Nguyễn Thị Hồng Phúc
(2013) đã làm nổi bật đặc trưng của ý niệm phụ nữ trong tiếng Việt qua các phương diện từ loại, cú pháp, ngữ nghĩa của các biểu thức ngôn ngữ được khảo sát Những khác biệt trong cách thức diễn đạt ý niệm phụ nữ ở hai văn bản tiếng Việt và tiếng Anh có giá trị tham khảo và ứng dụng trong công tác dịch thuật và giảng dạy Truyện Kiều cho người nước ngoài
Bài viết Ẩn dụ ý niệm „NGƯỜI PHỤ NỮ LÀ MÓN ĂN‟ trong tiếng Việt
(2016) [28] của Nguyễn Thị Bích Hợp đã hệ thống khá chi tiết những đặc điểm của miền nguồn món ăn, từ đó thiết lập ánh xạ để nhận hiểu miền đích phụ nữ lần lượt dựa trên các tiêu chí phân loại: ngoại hình, tính cách, hoạt động và thân phận Ngoài những thao tác định lượng, người viết còn liên hệ những tri thức
Trang 19văn hóa, phong tục Việt Nam để đưa ra những kết luận hợp lý về đặc điểm tri nhận của người Việt về phụ nữ
Tuy chưa đa dạng, nhưng đây thực sự là những gợi ý có giá trị để chúng tôi triển khai một cách hệ thống và nhìn nhận bao quát hơn về đối tượng tri nhận này
0.3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
0.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các ẩn dụ ý niệm về phụ nữ, cụ thể gồm:
5 ẩn dụ cấu trúc, 3 ẩn dụ bản thể, 2 ẩn dụ định hướng được xác lập trong phạm vi ngữ liệu tiếng Việt khảo sát từ 144 đơn vị sách, báo
0.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi xác định từng nhiệm vụ cụ thể cho luận văn như sau:
Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết của ẩn dụ ý niệm và những nội dung khác của ngôn ngữ học tri nhận có liên quan đến đối tượng nghiên cứu;
Phân loại và mô tả nội dung của từng ẩn dụ ý niệm về phụ nữ dựa trên nguồn ngữ liệu đã khảo sát trong tiếng Việt;
Xác lập những đặc điểm quan trọng của hệ thống ẩn dụ này trong tiếng Việt dựa trên những nội dung đã phân tích trước đó và sự liên hệ với ngữ liệu tiếng Anh, tiếng Trung
Hình thành cơ sở ý niệm hóa cho các ẩn dụ ý niệm về phụ nữ
0.4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
0.4.1 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài này, luận văn chủ yếu sử dụng các thủ pháp, phương pháp nghiên cứu sau:
Thủ pháp thống kê: thống kê các đại lượng về tần số, tỉ lệ (%) của các biểu
thức ngôn ngữ mang ẩn dụ ý niệm về phụ nữ bằng chương trình Microsoft Excel
Trang 20Thủ pháp phân loại và hệ thống hóa: phân từng ẩn dụ ý niệm về phụ nữ
và các biểu thức ngôn ngữ ứng với mỗi ẩn dụ theo một trật tự có hệ thống, phục
vụ cho thao tác mô tả, phân tích đặc trƣng của ẩn dụ ở những nội dung kế tiếp
Thủ pháp xác định ẩn dụ của nhóm Pragglejaz
Ngoài những thủ pháp ứng dụng chung cho mọi phân ngành của ngôn ngữ học, luận văn còn vận dụng thủ pháp xác định ẩn dụ (Metaphor Identification Procedure – MIP) do nhóm Pragglejaz đề xuất năm 2007 Thủ pháp này tập trung vào việc phân tích các đơn vị từ vựng (lexical unit), xem xét ý nghĩa của chúng trong ngữ cảnh, để xác định đơn vị từ vựng nào là ẩn dụ, đơn vị nào không phải ẩn dụ Quy trình xác định ẩn dụ thông qua những biểu thức ngôn ngữ tối giản gồm các thao tác sau:
1 Đọc toàn bộ văn bản – diễn ngôn để xác lập ý nghĩa khái quát của nó;
2 Xác định những đơn vị từ vựng trong văn bản – diễn ngôn;
3 (a) Với mỗi đơn vị từ vựng trong văn bản, xác lập nghĩa của nó trong ngữ cảnh, tức là cách thức nó gán với một thực thể, quan hệ hay thuộc tính trong tình huống được gợi ra bởi văn bản (nghĩa ngữ cảnh) Cũng cần xét đến những yếu tố trước và sau đơn vị từ vựng
(b) Với mỗi đơn vị từ vựng, xác định xem liệu hiện tại nó có ý nghĩa nào cơ bản hơn trong những ngữ cảnh khác so với ngữ cảnh được cho hay không Theo chúng tôi, những ý nghĩa cơ bản có khuynh hướng:
Cụ thể hơn; điều chúng gợi ra sẽ dễ tưởng tượng, nhìn, nghe, ngửi,
nếm hơn;
Liên quan đến hành động cơ thể;
Rõ ràng hơn (đối lập với mơ hồ);
Tồn tại trước;
Trang 21 Ý nghĩa cơ bản không nhất thiết phải là ý nghĩa xuất hiện thường xuyên nhất của đơn vị từ vựng;
(c) Nếu đơn vị từ vựng có một ý nghĩa hiện tại cơ bản hơn trong những ngữ cảnh khác chứ không phải trong ngữ cảnh được cho, quyết định liệu ý nghĩa ngữ cảnh đó có đối lập với ý nghĩa cơ bản nhưng có thể hiểu được trong thế tương quan với nó hay không
4 Nếu có, đánh dấu đơn vị từ vựng đang xét là ẩn dụ [100, p.3]
Phương pháp miêu tả: miêu tả những thuộc tính cơ bản của miền nguồn và
các ánh xạ của chúng lên miền đích để nhận diện đặc trưng của các ẩn dụ ý niệm
về phụ nữ trong tiếng Việt dựa vào ngữ liệu đã thu thập
Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: nhận diện đặc điểm ngữ nghĩa của các
biểu thức ngôn ngữ chứa ý niệm phụ nữ trên cơ sở xem xét mối quan hệ của chúng với các đơn vị ngôn ngữ trong ngữ cảnh có cùng sở chỉ
0.4.2 Nguồn ngữ liệu
Để xác lập nguồn ngữ liệu có khả năng bao quát phạm vi tiếng Việt một cách tương đối, chúng tôi tiến hành khảo sát từ danh mục gồm 144 đơn vị sách, báo; trong đó tập hợp các văn bản thuộc nhiều thể loại khác nhau: ca dao (3 tuyển tập), thơ trung đại và hiện đại (12 tác phẩm và tuyển tập tác phẩm), truyện – tiểu thuyết (103 tác phẩm và tuyển tập tác phẩm), báo chí (9 loại, 26 số)
0.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
0.5.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn góp phần xác lập các đặc điểm tri nhận của người Việt về đối tượng phụ nữ thông qua việc vận dụng khung lý thuyết ẩn dụ ý niệm để phân loại, luận bàn, xác định đặc trưng và cơ sở ý niệm hóa của ẩn dụ về phụ nữ trong tiếng Việt Bên cạnh đó, luận văn cũng đóng góp vào việc nghiên cứu Việt ngữ học theo đường hướng ngôn ngữ học tri nhận
Trang 220.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp hệ thống những ngữ liệu tương đối khách quan và những luận giải liên quan đến ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho khoa học ngữ văn, một số khoa học liên ngành cũng như những ai quan tâm đến lĩnh vực này
0.6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bố cục của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan
Chương này tập trung xác lập cơ sở lý thuyết cho đề tài, trước tiên là những vấn đề của lý thuyết ẩn dụ ý niệm mà trọng tâm là bản chất ý niệm của ẩn dụ, phân biệt ẩn dụ theo quan niệm của ngôn ngữ học tri nhận với ẩn dụ theo những quan niệm trước đó, đồng thời đưa ra cách phân loại ẩn dụ ý niệm, sự phân biệt
ẩn dụ thường quy và ẩn dụ thơ ca mà luận văn sẽ áp dụng để triển khai ở những chương kế tiếp Bên cạnh đó, một số thuật ngữ của ngôn ngữ học tri nhận có liên
hệ mật thiết đến vấn đề nghiên cứu như ý niệm - sự ý niệm hóa, phạm trù - sự phạm trù hóa, điển dạng, nghiệm thân cũng được đề cập phục vụ cho việc chứng minh, biện giải trong luận văn Nội dung cuối cùng được khái quát là mối quan
hệ giữa ẩn dụ ý niệm và văn hóa được nhìn nhận từ 2 góc độ: tính phổ quát và tính đa dạng văn hóa trong ẩn dụ ý niệm
Chương 2: Các kiểu loại ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt
Nội dung chính của chương này là phân loại và luận bàn các kiểu loại ẩn dụ
về phụ nữ Trước tiên là phân loại ẩn dụ thành 3 nhóm: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng, căn cứ vào lý thuyết về sự phân loại đã được trình bày ở chương trước Sau đó, lần lượt triển khai chi tiết nội dung của từng ẩn dụ trong
sự đối chiếu với kết quả khảo sát, đồng thời liên hệ với các ẩn dụ về phụ nữ trong một số ngôn ngữ khác để phác họa bức tranh tinh thần của người Việt liên quan đến ý niệm này
Trang 23Chương 3: Đặc điểm và cơ sở ý niệm hóa của ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt
Nội dung chương này gồm 2 phần Thứ nhất, xác định và triển khai đặc điểm nổi bật của ẩn dụ về phụ nữ trong tiếng Việt thành 3 nội dung: tính đa dạng văn hóa, tính ổn định trong tư duy, tính sáng tạo trong thơ ca Cơ sở để thiết lập các đặc điểm này là sự xem xét ẩn dụ ý về phụ nữ lần lượt trong mối quan hệ với
3 yếu tố: bối cảnh văn hóa, hoạt động tư duy và hoạt động sáng tạo nghệ thuật Nội dung thứ hai là xác lập cơ sở ý niệm hóa cho ẩn dụ, gồm: cơ sở ý niệm hóa dựa vào thể xác, cơ sở ý niệm hóa dựa vào tri thức, cơ sở ý niệm hóa dựa vào kinh nghiệm (văn hóa, xã hội)
Trang 24CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Những vấn đề lý thuyết về ẩn dụ
Quan niệm về ẩn dụ từ thời đại của Aristotle cho đến thế kỉ XX đã có nhiều chuyển biến đáng kể Ngôn ngữ học truyền thống xác định ẩn dụ là một biện pháp tu từ hoặc một phương thức phát triển nghĩa của từ, quan niệm này lần lượt được trình bày trong các nghiên cứu của Aristotle, M Cicero, M Quintilian, E Tesauro, G Vico, J Rousseau, F Nietzsche, v.v Những công trình kế tiếp của I.A.Richards, M Black, M Hess, N Gootman, v.v vào đầu thế kỉ XX chứng tỏ cái nhìn về bản chất của ẩn dụ đã có sự thay đổi đáng kể từ quan hệ so sánh sang quan hệ tương tác Lý luận này đã trở thành tiền đề cho sự ra đời của lý thuyết ẩn
dụ ý niệm trong khuôn khổ lý luận ngôn ngữ học tri nhận cuối thế kỉ XX do G Lakoff và M Johnson đề xướng và tiếp tục được triển khai bởi nhiều tên tuổi như M Turner, G Fauconier, Ch Fillmore, R Gibbs, Z K vecses, v.v
1.1.1 Ẩn dụ theo quan niệm tiền tri nhận
1.1.1.1 Thuyết so sánh của Aristotle
Tại phương Tây, Aristotle (384 - 322 TCN) được xem là người luận bàn về
ẩn dụ sớm nhất Nhìn nhận về ẩn dụ dưới góc độ là một hiện tượng ngôn ngữ,
ông cho rằng ẩn dụ là “cấp cho sự vật một tên gọi thuộc về sự vật khác, sự
chuyển đổi này đi từ loại (species) sang giống (genus), hay từ giống sang loại, hay từ loại sang loại, trên cơ sở phép loại suy” [71, p.XXI] Định nghĩa này xuất
phát từ quan niệm cho rằng mọi sự vật, hiện tượng trong quá trình tương tác với con người đều được gán cho những tên gọi Ẩn dụ được xây dựng trên cơ sở vi phạm nguyên tắc này, là sự chuyển đổi tên gọi từ thực thể này sang thực thể khác căn cứ vào những nét tương đồng giữa chúng Ẩn dụ còn được hiểu là sự so sánh
ngầm, “phân biệt với tỷ dụ (simile) ở chỗ nó không được đánh dấu bởi các từ so
sánh „như‟ (like), „giống như‟ (as)” [74, p.200] Có thể thấy ẩn dụ là một thuộc
Trang 25tính của ngôn từ, một hiện tượng ngôn ngữ, được xác lập dựa trên sự tương đồng giữa hai thực thể có liên hệ với nhau
Cũng trong Poetics (Nghệ thuật thơ ca), Aristotle cho rằng ẩn dụ không phải là từ thông dụng, mà là từ khác thường, là những gì tách khỏi cách nói
thông thường Ẩn dụ được hình dung như một kiểu loại trang sức phục vụ cho mục đích tu từ, là tín hiệu thẩm mỹ trong nghệ thuật thơ ca và hùng biện Bên cạnh việc đề cao tác dụng của ẩn dụ, ông cũng khẳng định rằng chỉ những thiên tài hay những người thực sự khéo léo mới có thể sáng tạo ra ẩn dụ Bởi ẩn dụ là
thứ không thể bắt chước được từ người khác, là dấu hiệu của tài năng đặc biệt và
sự tinh thông tuyệt đối về ngôn ngữ
Với cách tiếp cận truyền thống thì ẩn dụ là một công cụ được hạn định trong phạm vi thơ ca và thuật hùng biện, là một biện pháp tu từ hỗ trợ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật và định hình phong cách tác giả Quan niệm này không chỉ được chấp nhận trong giới học thuật mà còn được chia sẻ rộng rãi trong nhận thức phổ thông Điều đó có nghĩa rằng, hơn hai ngàn năm qua, nhận thức của chúng ta về ẩn dụ cơ bản là không có sự thay đổi Ẩn dụ vẫn được xem là một cơ chế chuyển đổi và thay thế các từ ngữ dựa trên những đặc điểm tương đồng của chúng
1.1.1.2 Thuyết tương tác của I A Richards và M Black
Đến đầu thế kỉ XX, quan niệm về ẩn dụ dần có sự thay đổi nhằm phản biện lại hệ thống lý thuyết về ẩn dụ trước đó Sự thay đổi này tập trung ở hai điểm; thứ nhất, ẩn dụ không phải là đặc trưng chỉ riêng ngôn ngữ thơ ca, hùng biện mới
có mà còn xuất hiện phổ biến trong ngôn ngữ thường ngày; thứ hai, ẩn dụ không phải là sự chuyển đổi tên gọi giữa hai thực thể mà là sự tương tác
Quan niệm ẩn dụ là một hiện tượng phổ biến trong ngôn ngữ thường ngày
đã được I.A.Richards phân tích trong tiểu luận The Philosophy of Rhetoric (1936) Ông xem ẩn dụ là “một nguyên tắc của ngôn ngữ có mặt ở khắp nơi và
không phải là vật trang trí hay thuyết phục” [101, p.386] Trong tiểu luận này,
Trang 26tác giả còn đề cập đến hai thuật ngữ là đối tượng (tenor) và phương tiện (vehicle); trong đó, đối tượng được hiểu là ý tưởng chính (original idea), phương tiện được hiểu là ý tưởng vay mượn (borrowed idea) Giữa chúng diễn ra quá trình tương
tác để tạo tập ý nghĩa Với cách hiểu này, ẩn dụ là sự biểu thị một tư tưởng, thực
sự là một thuộc tính của tư duy thay vì chỉ là một hiện tượng ngôn từ
Quan niệm bản chất của ẩn dụ là sự tương tác được trình bày cụ thể trong
Lý thuyết tương tác (Interaction theory) của M Black (1954) Toàn bộ quan
điểm của ông được tóm lược thành 7 nhận định như sau:
Một biểu thức ngôn ngữ mang ẩn dụ có hai chủ thể khác biệt nhau:
một chủ thể chính (principal) và một chủ thể phụ (subsidinary)
Những chủ thể này tốt nhất nên được xem là “những hệ thống
(systems of things) thay vì “những đối tượng” (things)
Các phát ngôn ẩn dụ được tạo ra bằng việc phóng chiếu lên chủ thể
chính hệ thống những “hàm chỉ liên quan”(associated implications) của chủ thể phụ
Những hàm chỉ này chính là những liên tưởng đã được thừa nhận
trong ý thức của người nói, có liên hệ với chủ thể phụ, trong những trường hợp, có thể bao gồm những hàm chỉ không chuẩn (deviant implications) được khám phá bởi người sáng tác
Ẩn dụ chọn lọc, nhấn mạnh, loại trừ và tổ chức đặc trưng của chủ thể chính bằng cách hàm chỉ những phán đoán về chủ thể chính có thể được áp dụng cho chủ thể phụ
Điều này dẫn đến việc thay đổi nghĩa của những từ thuộc cùng một nhóm hay cùng hệ thống như những biểu thức ẩn dụ; một số thay đổi đó, có thể trở thành những chuyển nghĩa ẩn dụ (metaphorical transfer)
Trang 27 Nhìn chung, không có sự bắt buộc nào đối với sự thay đổi nghĩa,
cũng không có quy tắc nào giải thích một số ẩn dụ có thể thay đổi nghĩa, một số khác thì không [73, p.292 - 293]
Tóm lại, những đóng góp của I A Richards và M Black có ý nghĩa tích cực đối với công tác nghiên cứu ẩn dụ Tác giả đã cho thấy bản chất của ẩn dụ là phát sinh từ tư tưởng Điều này một lần nữa nhấn mạnh: ẩn dụ là một quá trình tương tác và chuyển di ngữ nghĩa giữa hai thực thể có liên quan Lý luận này đã
“nâng cấp” ẩn dụ từ cấp độ ngôn ngữ lên cấp độ tư duy, đồng thời mở đường cho
sự nghiên cứu ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận sau này
1.1.2 Ẩn dụ theo quan niệm tri nhận
1.1.2.1 Bản chất của ẩn dụ ý niệm
G Lakoff và M Johnson (1980) đã bác bỏ quan điểm truyền thống về ẩn
dụ bằng việc đưa ra một cách nhìn nhận hoàn toàn khác về nó: “Ẩn dụ ý niệm
phổ biến trong ngôn ngữ hằng ngày, chúng không phải tồn tại trong ngôn ngữ
mà tồn tại ngay trong suy nghĩ và hành động của chúng ta” [93, p.3] Theo đó,
ẩn dụ không còn là một hiện tượng ngôn ngữ, một thuộc tính của ngôn từ mà là
“một quá trình tất yếu diễn ra trong hoạt động tư duy của con người” [86, p.x]
D Lee (2001) cũng nhận định tương tự: “[…] ẩn dụ là những cấu trúc vĩ mô ảnh
hưởng đến cách tư duy của chúng ta về toàn bộ các lĩnh vực trải nghiệm của con người” [94, p.7] Nói cách khác, tư duy của con người về cơ bản là mang tính ẩn
dụ
Về bản chất, ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) là “sự nhận hiểu một
miền ý niệm trong tri thức của một miền ý niệm khác” [86, p.4] Trong đó, có
một miền ý niệm được cộng đồng ngôn ngữ thụ đắc trước, giữ vai trò hỗ trợ trong việc tri nhận một miền ý niệm mới, gọi là miền nguồn (source domain)
Trong lý thuyết ẩn dụ ý niệm, miền nguồn được định nghĩa là “miền cung cấp
cấu trúc cho ẩn dụ, được kích hoạt bởi sự ánh xạ xuyên miền” [76, p.201] Theo
đó, miền đích (target domain) sẽ là “miền được cấu trúc bởi miền nguồn […] sự
Trang 28ánh xạ cấu trúc từ miền nguồn sang miền đích hình thành nên sự liên kết tương hợp ở cấp độ ý niệm” [76, p.210] Với ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MỘT CHUYẾN
HÀNH TRÌNH, CHUYẾN HÀNH TRÌNH với cấu trúc tri thức: chủ thể tham gia hành trình, bạn đồng hành, lộ trình, điểm đến, chướng ngại trên hành trình, v.v đóng vai trò là miền nguồn, cung cấp tri thức sang miền đích TÌNH YÊU thông qua những ánh xạ xuyên miền Ta dễ dàng nhận thấy đặc điểm của miền nguồn là cụ thể, chứa đựng nhiều tri thức (chủ yếu là kinh nghiệm), gần gũi với đời sống của cộng đồng ngôn ngữ, còn miền đích bao giờ cũng trừu tượng, phức tạp và khó nắm bắt hơn
Sự ánh xạ xuyên miền (cross - domain mappings) giữa những yếu tố của miền nguồn và những yếu tố tương ứng của miền đích như đã đề cập ở trên chính là cơ chế hình thành ẩn dụ ý niệm Như sự nhận định của Z K vecses:
“Nhận biết một ẩn dụ ý niệm chính là nhận biết hệ thống các ánh xạ của nó” [86,
p.33] Ánh xạ giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành ẩn dụ ý niệm Đặc biệt, những ánh xạ này chỉ diễn ra theo một chiều từ miền nguồn sang miền đích, hoàn toàn không có chiều ngược lại Bên cạnh tính đơn tuyến thì tính chất cục bộ (còn gọi là tính chất bộ phận) cũng là một đặc trưng quan yếu của ánh xạ Nghĩa
là, chỉ một số yếu tố của miền nguồn ánh xạ sang miền đích chứ không phải toàn
bộ tri thức cấu thành nên miền nguồn Ví dụ, trong ẩn dụ LÝ THUYẾT LÀ
NHỮNG TÒA NHÀ, ý niệm kết cấu của tòa nhà được cấu trúc sang miền đích, trong khi đó, những ý niệm khác như mái nhà, cầu thang, những căn phòng
trong tòa nhà, hành lang lại không được ánh xạ sang miền đích LÝ THUYẾT
Điều này là hiển nhiên, bởi “nếu cơ chế ánh xạ là hoàn toàn thì hai miền ý niệm
sẽ gộp thành một và trở nên thống nhất” [92, p.13]
Theo G Lakoff (1992), “các ánh xạ không phải võ đoán mà căn cứ vào thể
xác, kinh nghiệm và tri thức” [91, p.245] Ẩn dụ ý niệm thường được kích hoạt
một cách tự động (automatic) và vô thức (unconscious) trong não bộ của con
Trang 29người, căn cứ vào những trải nghiệm của thể xác, sự tương tác của mỗi cá nhân với môi trường vật lý, bối cảnh văn hóa, xã hội
Theo quan điểm tri nhận, ẩn dụ được công thức hóa dưới dạng MIỀN ĐÍCH LÀ MIỀN NGUỒN Với quy tắc này, mỗi ẩn dụ đều được định danh cụ thể, chẳng hạn: Ý TƯỞNG LÀ THỨC ĂN, TÌNH YÊU LÀ CHIẾN TRANH, CUỘC ĐỜI LÀ VỞ KỊCH, THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC, chứ không đề cập một cách chung chung như trước đây
P Kockelman (2007) khi nhắc đến mối quan hệ giữa ẩn dụ với văn hóa, xã
hội đã khẳng định: “[…] ẩn dụ là một hiện tượng của tư duy, văn hóa, thần kinh
và nghiệm thân” [80, p.178] Điều này cho thấy, bên cạnh vai trò là một công cụ
tư duy của các thành viên trong cộng đồng ngôn ngữ, ẩn dụ ý niệm còn là chìa khóa để các nhà nghiên cứu tìm hiểu, giải mã những đặc điểm tri nhận, văn hóa mang tính phổ quát cũng như đặc thù của các cộng đồng ngôn ngữ căn cứ vào sự hiện thực hóa của các ẩn dụ qua từng biểu thức ngôn ngữ mang tính chất ẩn dụ (metaphorical expression) Những biểu thức này chính là sự kết hợp của từ, ngữ, câu có chức năng hiện thực hóa bề mặt (surface realization) một ánh xạ xuyên miền
1.1.2.2 Phân loại ẩn dụ ý niệm
Căn cứ vào bản chất của sự ánh xạ, G Lakoff và M Johnson (1980) đã đưa
ra 3 loại ẩn dụ ý niệm: ẩn dụ cấu trúc (structure metaphor), ẩn dụ bản thể (ontological metaphor), ẩn dụ định hướng (orientational metaphor) Theo Z
K vecses (2002), các ẩn dụ này cũng có thể trùng lặp trong nhiều trường hợp
a Ẩn dụ cấu trúc
Ẩn dụ cấu trúc hình thành trên cơ sở thông qua một miền ý niệm để nhận
hiểu một miền ý niệm khác Ở đó, “miền nguồn cung cấp một cấu trúc tri thức
tương đối dồi dào cho ý niệm thuộc miền đích” [86, p.37] Hai miền ý niệm này
tuy không đồng nhất nhưng những yếu tố cấu thành chúng lại có sự tương hợp với nhau Sự tương hợp này có thể được phác họa qua sơ đồ ánh xạ ý niệm giữa
Trang 30những yếu tố của A và những yếu tố của B Chẳng hạn, với ẩn dụ ý niệm TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH, sự ánh xạ xuyên miền có thể được xác lập dựa trên sự tương hợp về cấu trúc giữa miền nguồn và miền đích như sau:
Lược đồ 1.1 Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH Miền nguồn
[CHIẾN TRANH]
Miền đích [TRANH LUẬN]
Tấn công >>> Thể hiện ý kiến của bản nhân
Vũ khí >>> Lý lẽ
Bảo vệ con người, tài sản >>> Bảo vệ quan điểm
Thua cuộc >>> Thất bại
Một vài biểu thức ngôn ngữ minh họa cho ẩn dụ TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH2:
(1) Anh ta tấn công vào từng điểm yếu trong lập luận của tôi (He attacked every weak point in my argument.)
(2) Tôi đập tan lập luận của hắn (I demolished his argument.)
(3) Tôi không bao giờ thắng được lí lẽ của anh ta (I‟ve never won an
argument with him.)
(4) Nếu bạn dùng chiến thuật đó, hắn ta sẽ quét sạch bạn ngay (If you
use that strategy, he‟ll wipe you out.)
(5) Những lời phê bình của anh ấy trúng ngay vào đích (His criticisms
were right on target.)
b Ẩn dụ bản thể
Ẩn dụ bản thể thực chất là sự phạm trù hóa những đối tượng trừu tượng nhờ vào khả năng bản thể hóa của tri giác con người Ẩn dụ này được hình thành dựa
và Nguyễn Thị Kiều Thu (2007) [58, tr.1]
Trang 31trên kinh nghiệm của chúng ta khi tiếp xúc các đối tượng vật lý và các chất liệu Cũng lưu ý thêm rằng, đây là quá trình tiếp nhận kinh nghiệm thông qua các vật thể, vật chứa, chất liệu nói chung chứ không nêu một cách cụ thể loại vật thể, vật chứa nào Nhờ ẩn dụ bản thể mà những ý niệm trừu tượng về cảm xúc, tư tưởng,
sự kiện, hoạt động, v.v được hình dung như những vật thể, chất liệu dựa vào kinh nghiệm của con người được hình thành trong quá trình tương tác với thế giới vật chất Cũng theo Z K vecses (2002) thì ẩn dụ bản thể cung cấp cấu trúc tri nhận cho những ý niệm ở miền đích ít hơn so với ẩn dụ cấu trúc
Trong Metaphors we live by (1980), ẩn dụ ý niệm LẠM PHÁT LÀ MỘT
THỰC THỂ 3 được phân tích như một trường hợp tiêu biểu của ẩn dụ bản thể
Ẩn dụ này có thể được minh họa bằng biểu thức ngôn ngữ như sau:
(6) Lạm phát đang hạ thấp mức sống của chúng ta (Inflation is lowering our standard of living.)
(7) Nếu lạm phát thêm nữa thì chúng ta sẽ không sống nổi (If there‟s
much more inflation, we‟ll never survive.)
(8) Chúng ta cần chiến đấu chống lại lạm phát (We need to combat inflation.)
(9) Lạm phát đang đẩy lùi chúng ta vào góc tường (Inflation is hacking
us into a corner.)
(10) Mua đất là cách tốt nhất để đối phó với lạm phát (Buying land is the
best way of dealing with inflation.)
c Ẩn dụ định hướng
So với ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể thì ẩn dụ định hướng cung cấp cấu trúc tri nhận ít nhất Đây là loại ẩn dụ không cấu trúc một miền ý niệm thông qua
một miền khác mà tổ chức cả “một hệ thống các ý niệm tương liên với nhau” [93,
p.15] Các ẩn dụ định hướng đều dựa trên sự định hướng không gian cơ bản của con người như lên - xuống, trung tâm - ngoại vi, gần - xa, v.v Những cách định
3
Theo G Lakoff & M Johnson (2003 [1980]) [93, p 27] và Nguyễn Thị Kiều Thu (2007) [58, tr.18]
Trang 32vị không gian xuất phát từ thực tế cơ thể con người và hoạt động của cơ thể chúng ta trong môi trường vật chất Các biểu thức ngôn ngữ dưới đây đều có tính chất định hướng không gian lên - xuống:
NHIỀU HƠN (THÌ) HƯỚNG LÊN, ÍT HƠN (THÌ) HƯỚNG XUỐNG4
(11) Số lượng sách phát hành hằng năm tiếp tục tăng lên (The number of
books printed each year keeps going up)
(12) Thu nhập năm ngoái của tôi tăng lên một ít (My income rose last
year)
(13) Số lượng hoạt động nghệ thuật của tiểu bang này đã giảm sút trong
năm nay (The amount of artistic activity in this state has gone down
in the past year)
(14) Nếu cảm thấy nóng thì hạ thấp nhiệt độ của máy điều hòa xuống một
chút (If you‟re too hot, turn the heat down)
Cơ sở kinh nghiệm: Nếu ta thêm vào một chất hay một vật gì vào một bình chứa thì độ cao của nó sẽ tăng lên
NIỀM VUI (THÌ) HƯỚNG LÊN, BUỒN PHIỀN (THÌ) HƯỚNG XUỐNG5
(15) Hôm nay, tôi cảm thấy lâng lâng (I‟m feeling up.)
(16) Tôi cảm thấy xuống tinh thần (I‟m feeling down.)
(17) Tôi rơi vào sự chán nản (I fell into a depression.)
(18) Nghĩ về cô ấy luôn giúp tôi nâng tinh thần mình lên (Thinking about
her always gives me a lift.)
Cơ sở kinh nghiệm: dáng vẻ rũ xuống thường đi kèm với trạng thái tinh thần chán nản, tiêu cực, trong khi những cảm xúc tích cực gắn với chiều hướng lên căn cứ theo phương thẳng đứng
Trang 331.1.2.3 Phân biệt ẩn dụ thường quy và ẩn dụ thơ ca
Bàn về ẩn dụ trong văn bản nghệ thuật, G Lakoff và M.Turner (1989) cho
biết: “việc nghiên cứu ẩn dụ thơ ca thực chất là sự mở rộng của việc nghiên cứu
ẩn dụ thường quy Mỗi ẩn dụ được đặc trưng hóa bởi hệ thống những ánh xạ, chính hệ thống này được vận dụng vào ẩn dụ thơ ca” [90, p.205] Ẩn dụ thường
quy, tức ẩn dụ ý niệm thông thường, được quy ước, chấp nhận trong một cộng đồng ngôn ngữ và ẩn dụ thơ ca không tạo thành hai phạm trù tách biệt mà có mối liên hệ mật thiết với nhau Nói một cách đơn giản, ẩn dụ thơ ca là phần mở rộng của hệ thống ẩn dụ ý niệm cấu trúc hoạt động tri nhận của con người
Trong More than Cool Reason: A Field Guide to Poetic Metaphor (1989),
các ẩn dụ thơ ca đã được G Lakoff và M Turner xét lại để làm rõ hơn về bản chất và cách thức tổ chức của chúng trong văn bản thơ ca Nhà thơ với tư cách là thành viên của một cộng đồng ngôn ngữ nhất định sẽ vận dụng các ẩn dụ được chia sẻ rộng rãi trong cộng đồng để giao tiếp với các độc giả của họ Các ẩn dụ này được người nghệ sĩ vận dụng theo những cách thức mới mẻ; theo hai tác giả, những biểu hiện mới lạ của ẩn dụ trong thơ ca được thiết lập bởi 4 cơ chế (phương thức): mở rộng, chi tiết hóa, đặt vấn đề và kết hợp [90, p.67 - 72]
Cơ chế mở rộng (extending): Bản chất của ẩn dụ là không mang tính toàn
phần, một số yếu tố của miền nguồn không được ánh xạ sang miền đích theo cách thức thông thường mà ẩn dụ hiện thực hóa Nhưng trong văn bản thơ ca, những yếu tố này lại xuất hiện, tham gia vào cấu trúc ánh xạ để tạo ra những ý niệm mới Chẳng hạn ẩn dụ CÁI CHẾT LÀ GIẤC NGỦ, chỉ một số khía cạnh trong tổng thể tri thức của chúng ta về giấc ngủ: ngừng hoạt động, ngừng nhận thức, tư thế nằm ngang, v.v được ánh xạ sang miền đích CÁI CHẾT Ví dụ,
trong bài thơ Giấc ngủ chiều của Huy Cận, yếu tố “ngáp” thuộc miền nguồn vốn
xa lạ với cấu trúc ánh xạ thông thường, nhưng lại có thể tìm thấy ánh xạ của nó lên miền đích trong thơ:
Trang 34(19) Thâu qua cái ngáp dài vô hạn
Hình ảnh lung linh vũ trụ buồn [19, tr.78]
Cơ chế chi tiết hóa (elaboration): Sự miêu tả chi tiết các sơ đồ (schema)
bằng cách lấp đầy vào các ô (slot) sẵn có theo những cách thức đặc biệt, chứ không phải mở rộng ẩn dụ bằng cách bổ sung những yếu tố mới Nói khác đi, cơ chế này chính là sự phức hóa những yếu tố sẵn có của miền nguồn Ví dụ, với ẩn
dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT CHUYẾN HÀNH TRÌNH, yếu tố phương tiện tham gia hành trình có thể được chi tiết hóa thành nhiều loại phương tiện khác nhau;
trong bài thơ Cách xa của Huy Cận, chuyến hành trình của đời người được chi
tiết hóa thành một chuyến tàu hỏa đã qua nhiều sân ga:
(20) Dọc đời rải rác muôn ga đón,
Khó nỗi ngồi chung một chuyến tàu [19, tr.46]
Cơ chế đặt vấn đề (questioning): Với cơ chế này, các nhà thơ cải biến cách
sử dụng các ẩn dụ thông thường bằng cách gợi ra những câu hỏi trên cơ sở chỉ ra những điểm bất hợp lý trong sơ đồ ánh xạ giữa hai miền ý niệm Ví dụ, trong ẩn
dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT NĂM, tuổi trẻ tương ứng với mùa xuân Nhưng điều bất hợp lý ở đây là mùa xuân của đất trời thì mang tính tuần hoàn, còn tuổi trẻ trong đời người thì qua đi không trở lại
(21) Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại [101, tr.40]
Cơ chế kết hợp (composing): Đây là cơ chế được sử dụng phổ biến nhất
trong tất cả các cơ chế, chứng tỏ được sức mạnh của ẩn dụ trong thơ ca Trong
đó, hai hay nhiều hơn hai ẩn dụ thông thường được kết hợp đồng thời trong
phạm vi một khổ thơ, một dòng thơ Khổ thơ dưới đây trong bài Nụ cười xuân
của Xuân Diệu, đời người được ánh xạ bởi hai miền nguồn, dẫn đến sự kết hợp giữa hai ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT NĂM và ĐỜI NGƯỜI LÀ CỎ CÂY:
(22) Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui,
Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời
Trang 35Sao buổi đầu xuân êm ái thế!
Cánh hồng hết những nụ cười tươi [101; tr.13]
1.2 Một số thuật ngữ liên quan
1.2.1.Ý niệm và sự ý niệm hóa
1.2.1.1 Ý niệm
Ý niệm (concept) là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ học tri nhận, tuy nhiên giới nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay chưa có sự nhất quán trong việc đưa ra một định nghĩa chung về ý niệm Về cơ bản, có thể xem đây là
một đơn vị thuộc về hoạt động tinh thần, “một đơn vị cơ bản của tri thức, là
trung tâm của sự phạm trù hóa và ý niệm hóa […] Ý niệm là những thực thể tri nhận tương đối ổn định, được bổ sung bởi các kinh nghiệm tạm thời và lặp lại”
[76, p.31] Ý niệm là những biểu tượng tinh thần (mental representation), chứa
đựng kinh nghiệm của người sử dụng ngôn ngữ Ý niệm mang tính chủ quan không chỉ vì nó tồn tại bên trong đầu óc con người, mà bởi vì ý niệm phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của từng ngôn ngữ khác nhau nên chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi các yếu tố văn hóa, xã hội của từng cộng đồng Theo
Xtepanov (1987) “ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hóa trong ý
thức con người, dưới dạng của nó nền văn hóa đi vào ý thức (tư duy) của con người, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người – người bình thường, không phải là “người sáng tạo ra những giá trị văn hóa” – chính con người đó đi vào văn hóa, và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hóa” 6
Nhận định này đề cập đến mối quan hệ mật thiết giữa ý niệm và văn hóa; văn hóa là một trong những cơ sở hình thành ý niệm, còn ý niệm thì phản ánh và lưu giữ những nội dung văn hóa dưới dạng những biểu tượng tinh thần
Bàn về các phương tiện bộc lộ, diễn đạt ý niệm, Lý Toàn Thắng (2005) cho
rằng: “Các đơn vị ngôn ngữ (từ, ngữ, kết cấu) đều biểu đạt (symbolized/ denotes)
những ý niệm (concepts) và những ý niệm này đều tương ứng với các ý nghĩa
6
Dẫn theo Trần Văn Cơ (2007) [9, tr.136 – 137]
Trang 36(meanings) của những đơn vị ngôn ngữ đó” [54, tr.20] Phương tiện hiện thực
hóa ý niệm mà tác giả đang đề cập ở đây là ngôn ngữ, nhưng ngoài ngôn ngữ, các kí hiệu, hình ảnh cũng có khả năng biểu đạt ý niệm
Về cấu trúc ý niệm, Trần Văn Cơ (2009) cho rằng ý niệm có cấu trúc trường - chức năng, được cấu trúc theo mô hình trung tâm và ngoại vi Hạt nhân của mô hình này là khái niệm, nằm ở trung tâm của trường - chức năng, mang tính phổ quát cho toàn nhân loại Còn ngoại vi là những yếu tố đặc thù liên quan đến các giá trị văn hóa dân tộc Nét đặc thù văn hóa bao gồm: văn hóa toàn dân tộc; văn hóa tộc người; văn hóa vùng, miền, địa phương; văn hóa riêng của nhóm xã hội mà con người tham gia và chịu tác động về nhiều mặt; cuối cùng là văn hóa cá thể với những đặc điểm tạo thành nhân cách cá nhân như tình cảm, đạo đức, học vấn, kinh nghiệm sống, những đặc điểm tâm sinh lý, v.v
1.2.1.2 Sự ý niệm hóa
Từ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học tri nhận định nghĩa ý niệm hóa là “một
quá trình kiến tạo nghĩa mà ngôn ngữ tham gia Quá trình này diễn ra thông qua
sự tiếp nhận tri thức bách khoa phong phú và sự kích hoạt những quá trình hội nhập ý niệm mang tính phức hợp” [76, p.38] Có thể hiểu sự ý niệm hóa là quá
trình hình thành ý niệm thông qua nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ (từ, ngữ, kết cấu); là sự phân cắt thế giới thành từng mảnh từ cách nhìn của mỗi cộng đồng, dân tộc để hình thành nên bức tranh ý niệm về thế giới, được hiện thực hóa thông qua ngôn ngữ để tạo thành bức tranh ngôn ngữ về thế giới
Nói như R W Langacker (1987), “ngữ nghĩa học là sự ý niệm hóa” 7 Đây
là quá trình cấu trúc ngữ nghĩa có liên quan chặt chẽ đến bản chất năng động của
tư duy, đồng thời là một trong những quá trình quan trọng nhất trong hoạt động tri nhận của con người, từ việc ngữ nghĩa hóa thông tin nhận được, đến việc hình thành ý niệm và toàn bộ hệ thống ý niệm trong bộ não con người Quá trình này không chỉ diễn ra theo cơ chế ánh xạ giữa hai miền, trong nhiều trường hợp, sự ý
7
Dẫn theo Lý Toàn Thắng (2005) [54, tr 20]
Trang 37niệm hóa diễn ra trên cơ sở pha trộn, hội nhập (integration/ blending) giữa nhiều miền ý niệm, không gian tinh thần (mental space)
1.2.2 Phạm trù và sự phạm trù hóa
1.2.2.1 Phạm trù
Phạm trù (category) vốn dĩ là một khái niệm mang bản chất triết học, theo
quan niệm cổ điển, nó được hiểu là “những vật chứa đựng trừu tượng, một số sự
vật ở bên trong, một số khác ở bên ngoài” [89, p.35] Những thành viên trong đó
đều mang những thuộc tính chung và cố hữu của riêng chúng Đến lượt mình, những thuộc tính này lại trở thành những đặc trưng quan yếu để phân định phạm trù này với phạm trù khác Ta dễ dàng nhận thấy quan niệm này được diễn giải trên cơ sở những suy nghĩ tiên nghiệm thay vì là kết quả của những nghiên cứu mang tính kinh nghiệm Điều này dẫn đến một hệ quả là các phạm trù đều có ranh giới rõ ràng và tất cả các thành viên trong một phạm trù đều có vị trí đồng đẳng
Nhà triết học L Wittgenstein (1953) là người đầu tiên phát hiện ra những khiếm khuyết của lý thuyết cổ điển về phạm trù Qua việc nghiên cứu phạm trù
game (trò chơi), ông cho rằng phạm trù không phải là những vật chứa được phân
giới rõ ràng, trên thực tế, ranh giới giữa chúng rất mờ nhạt, khó phân định và có thể mở rộng cùng với sự xuất hiện của những sự vật mới Các thành viên trong một phạm trù đều có sự khu biệt ở một mức độ cho phép, chúng được sắp xếp theo trình tự ưu tiên căn cứ vào số lượng thuộc tính quan yếu mà chúng sở hữu, trong đó có những thành viên được xem là ví dụ tốt nhất (best example) và cũng những thành viên trở thành ví dụ tồi nhất; vị trí của các thành viên về không có
sự đồng đẳng theo lý thuyết truyền thống mà có sự phân biệt giữa thành viên trung tâm và thành viên không phải trung tâm
1.2.2.2 Sự phạm trù hóa
Thế giới xung quanh con người được hình dung như một chỉnh thể đa dạng
và phức tạp Vì vậy, trong quá trình tương tác với thế giới, con người có xu
Trang 38hướng phân chia chỉnh thể phức tạp này thành từng phân đoạn, phạm trù để có thể tri nhận dễ dàng hơn; theo đó, những sự vật, hiện tượng có cùng đặc điểm, tính chất sẽ được xếp chung vào một phạm trù Đây là một thao tác tư duy hiệu quả giúp con người hệ thống hóa khối lượng tri thức bách khoa phong phú, đồng thời giảm thiểu sự quá tải về thông tin vì không cần phải tri nhận về từng thực thể như là những đối tượng rời rạc
Lý thuyết phạm trù cổ điển cho rằng “quá trình phạm trù hóa có mục đích
tập hợp những hiện tượng giống nhau về mặt nào đó thành những lớp lớn hơn”
[11, tr.28] Cụ thể hơn, phạm trù hóa là quá trình diễn ra đồng thời các thao tác
phân loại, sắp xếp các thực thể vào từng phạm trù bằng cách “kiểm tra danh mục
những thuộc tính dùng để định nghĩa cái tập hợp mà nó được coi là thành viên”
[33, tr.116] Tuy nhiên, từ những nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến phạm trù, E Rosch (1973) nhấn mạnh rằng phạm trù hóa là một quá trình mang tính chủ quan bị chi phối bởi kinh nghiệm, hoạt động tương tác của con người với môi trường Cũng nói thêm rằng, quá trình phạm trù hóa và quá trình ý niệm hóa
có mối liên hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất “Phạm trù hóa tập hợp các đơn
vị giống hoặc tương tự nhau về mặt nào đó nào đó để hình thành các phạm trù tri nhận, còn ý niệm hóa thì trừu xuất những đơn vị tối giản trong kinh nghiệm của con người thành nội dung của các đơn vị ngôn ngữ” [15, tr.227]
1.2.3 Điển dạng
Điển dạng (prototype) bắt đầu với những nghiên cứu thực nghiệm về phạm trù màu sắc, từ đó mở rộng sang những phạm trù khác trong tự nhiên Thuật ngữ
này được định nghĩa như sau: “điển dạng được nhìn nhận như một biểu tượng
tinh thần chứa đựng các đặc trưng quan yếu mà các thành viên trong phạm trù cùng chia sẻ” [76, p.175] Theo đó, thành viên điển dạng của các phạm trù tri
nhận là thành viên có số lượng lớn nhất các thuộc tính chung với các thành viên khác trong phạm trù, đồng thời có số lượng nhỏ nhất các thuộc tính cùng chia sẻ với các thành viên của phạm trù bên cạnh Có thể hiểu điển dạng là ví dụ tốt nhất
Trang 39(best example), là thành viên điển hình của một phạm trù, là điểm quy chiếu tri nhận (cognitive reference point) để con người thực hiện việc phạm trù hóa Ngược lại, những “ví dụ tồi”, tức là thành viên ngoại biên của phạm trù, chỉ có chung một số lượng nhỏ các thuộc tính với các thành viên khác cùng phạm trù với chúng, đồng thời có vài thuộc tính thuộc về các phạm trù khác khiến cho ranh giới của phạm trù trở nên mờ nhạt
Điển dạng là một sản phẩm của sự phân loại mang tính tâm lý chứ không phải một quy ước từ xã hội Nói đến điển dạng là nói đến những thuộc tính, đặc trưng quan yếu của một phạm trù mà một thành viên nào đó trong phạm trù đại diện chứ không phải nói đến bản thân thành viên đó Do đó mà điển dạng có tính khả biến, khi xuất hiện một thành viên nào khác có khả năng đại diện tốt hơn trong một phạm trù đang xét thì nó lập tức được thay thế vào vị trí của điển dạng trước đó
1.2.4 Nghiệm thân
Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng những kinh nghiệm mang tính nghiệm thân (embodied experience) chính là cơ sở cho sự phát triển nghĩa của từ, cũng như sự hình thành ẩn dụ ý niệm Với quan điểm tư duy không độc lập với
thể xác (body), G Lakoff (1987) đã khẳng định: “những cấu trúc dùng để kết nối
hệ thống ý niệm của chúng ta đều nảy sinh từ những kinh nghiệm thể xác và được hiểu theo những cách kinh nghiệm thể xác; hơn nữa, bản chất cốt lõi của
hệ thống ý niệm của chúng ta bắt nguồn trực tiếp từ tri giác, sự vận động của thể xác cùng sự trải nghiệm về những đặc trưng của thể xác và xã hội” [89, p.xiv]
Quan điểm này chứng tỏ thể xác là nền tảng đầu tiên của kinh nghiệm; nhận thức
và ngôn ngữ của con người không thể được xem xét trong sự tách biệt với những kinh nghiệm liên quan đến thể xác Khái niệm nghiệm thân (embodiment) được
chính thức được G Lakoff và M Johnson đề cập trong Philosophy in the Flesh:
The Embodied Mind and Its Challence to Western Thought (1999), được hiểu là
quá trình con người lấy các bộ phận cơ thể và sự trải nghiệm của thể xác để định
Trang 40hình hệ thống ý niệm T Rohrer (2007) đã liệt kê 12 cách hiểu khác nhau về nghiệm thân8, trong đó, cách hiểu được chia sẻ rộng rãi nhất: nghiệm thân là sự trải nghiệm lấy thể xác làm nền tảng Lý thuyết nghiệm thân khẳng định rằng:
“Sự trải nghiệm về thể xác và xã hội của con người là nền tảng cho hệ thống ý
niệm và hệ thống ngôn ngữ” [102, p.27] Nhờ đó các ánh xạ trong ẩn dụ không
mang tính võ đoán mà do bản chất của quá trình nghiệm thân quy định, nói cách khác, kinh nghiệm thể xác đã đặt cơ sở tạo thành ẩn dụ ý niệm
Kinh nghiệm mang tính nghiệm thân có sức ảnh hưởng không nhỏ đối với việc nhìn nhận thế giới của con người, để khẳng định điều này, V Evan và M
Green (2006) cho rằng: “Tư tưởng về kinh nghiệm nghiệm thân đòi hỏi chúng ta
phải có một cách nhìn riêng về thế giới vì bản chất duy nhất của thể xác chúng
ta Nói cách khác, cách lý giải (construal) về thực tế của chúng ta dường như bị trung chuyển bởi bản chất của thể xác chúng ta” [77, p.45] Điều này đã làm nên
sự đối lập giữa quan niệm của chủ nghĩa kinh nghiệm với chủ nghĩa duy lý, cho rằng có thể nghiên cứu ngôn ngữ như là một hệ thống điện toán (computational system), thuần túy hình thức mà không cần quan tâm đến bản chất của thể xác và những kinh nghiệm của con người
1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và ẩn dụ theo quan niệm tri nhận
Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của một khoa học độc lập, văn hóa
được E B Taylor (1871) định nghĩa như sau: “Văn hóa như một phức hợp bao
gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội tiếp thu được”9 Do xuất phát từ nhiều giác độ khác nhau nên định nghĩa về văn hóa đến nay vẫn chưa có sự thống nhất Ở mức độ chung nhất, có thể hiểu văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được sản sinh bởi con người với tư cách là thành viên của một cộng đồng; những giá trị này được chấp nhận
9
Dẫn theo Trần Ngọc Thêm (2001) [56, tr.21]