1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TL DAY THEM VAN 9

32 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích "Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính"
Tác giả Phạm Tiến Duật
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 1969
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 234 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

con","cò mãi yêu con".Hình ảnh con cò biểu tượng cho tấm lòng người mẹ suốt đời này mẹ vẫn "sẽ" và "mãi" ở bên con,việc sử dụng từ ngữ trên đã góp phần khẳn[r]

Trang 1

Đề : Phân tích "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật

DÀN Ý :

I Mở bài :

- Hoàn cảnh sáng tác : năm 1969, trong cuộc chiến đấu gian khổ của những chiến

sĩ lái xe đường Trường Sơn thời chống Mỹ.

- Bài thơ hay trong chùm thơ đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 -

1970, tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật.

II Thân bài :

1 Từ hình ảnh những chiếc xe không kính độc đáo, bài thơ khắc hoạ vẻ đẹp hình ảnh, tính cách dũng cảm, lạc quan, yêu nước, giàu tình đồng chí đồng đội của những người chiến sĩ lái xe

2 Trên những chiếc xe bị bom đạn ác liệt của kẻ thù tàn phá, không còn kính chắn gió, không mui không đèn, thùng xe bị xước, các chiến sĩ lái xe vẫn hiên ngang, bất chấp gian khổ hy sinh, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

3 Bút pháp hiện thực, tả thực không cường điệu không mỹ lệ hóa Ngôn ngữ thơ mộc mạc như lời nói hàng ngày, như văn xuôi, nhưng giàu nghệ thuật, nhịp điệu, nhạc điệu linh hoạt.

- Giọng điệu sôi nổi, tinh nghịch, vui tươi, có chút ngang tàng của chất lính.

- Lời thơ giàu suy tưởng, câu thơ cuối toả sáng chủ đề, đặc sắc với nhãn tự trái tim.

III Kết bài :

- Bài thơ tái hiện hành trình gian khổ nhưng rất anh hùng của các chiến sĩ vận tải đoàn 559 trên tuyến lửa Trường Sơn những năm chống Mỹ.

- Kết hợp giữa hiện thực hào hùng với cảm hứng lãng mạn cách mạng, âm hưởng

sử thi chặng đường 30 năm chống xâm lược của dân tộc 1945 - 1975.

II. DÀN Ý CHI TIẾT :

I Mở bài :

- Hoàn cảnh sáng tác : năm 1969, trong cuộc chiến đấu gian khổ của những chiến

sĩ lái xe đường Trường Sơn thời chống Mỹ.

- Bài thơ hay trong chùm thơ đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 -

1970, tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật.

Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ

"xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai"(Tố Hữu), Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính, khoẻ, dạt dào sức sống, tinh nghịch vui tươi, giàu suy tưởng "Bài thơ về tiểu đội không kính" (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm

1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó.

II Thân bài :

1 Cái độc đáo đã bộc lộ ngay từ nhan đề bài thơ

- Hai chữ bài thơ nói lên cách khai thác hiện thực : không phải chỉ viết về những chiếc xe không kính, chỉ viết về hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà chủ yếu khai thác chất thơ vút lên từ hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ Việt Nam vượt lên những khắc nghiệt của chiến tranh.

2 Sáng tạo độc đáo nhất là hình ảnh những chiếc xe không kính :

- "Không có kính không phải vì xe không có kính" : câu thơ như một câu văn xuôi.

- Hình ảnh thơ cũng lạ :

+ Hình ảnh xe cộ tàu thuyền đi vào trong thơ thường là được "mỹ lệ hoá", "lãng mạn hoá" và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn tả thực :

Trang 2

Đùng đùng gió giục mây vần

Một xe trong cõi hồng trần như bay

(Chiếc xe đưa Thuý Kiều ra đi với Mã Giám Sinh ; Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Tế Hanh trong bài Quê hương cũng tả con thuyền rất lãng mạn :

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang

Và chính Phạm Tiến Duật trong bài thơ "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây" :

Anh lên xe, trời đổ cơn mưa

Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ.

+ Còn hình ảnh những chiếc xe không kính là hình ảnh rất thực Giọng thơ thản nhiên, chất thơ rất đẹp từ hình ảnh ấy.

- Nguyên nhân : "Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi"

- Không có kính, không có đèn, không có mui xe, thùng xe có xước.

3 Vẻ đẹp của hình ảnh người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn:

- Tư thế ung dung mà hiên ngang :

+ Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

+ Điệp từ "nhìn" như một niềm sảng khoái bất tận ; "nhìn thẳng"- hiên ngang.

+ Diễn tả cụ thể cảm giác của người lính lái xe :

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái.

Ấn tượng thực, qua cảm nhận của tác giả trở thành hình ảnh lãng mạn.

- Thái độ bất chấp gian khổ, hiểm nguy :

Không có kính, ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi

+ "Không có kính, ừ thì ,"chưa cần " Những điệp khúc tạo nên giọng điệu ngang tàng, bất chấp.

+ Niềm vui , lạc quan của người lính :

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

"Lại đi, lại đi, trời xanh thêm" : Câu thơ với năm thanh bằng và điệp ngữ lại đi tạo âm điệu thanh thản, nhẹ nhàng Hình ảnh bầu trời xanh phơi phới một niềm lạc quan, yêu đời.

- Điều làm nên sức mạnh giúp người lính vượt qua khó khăn ấy chính là lòng yêu nước, là ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc :

Không có kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước :

Chỉ cần trong xe có một trái tim.

+ Nghệ thuật tương phản giữa vật chất và tinh thần, giữa bên ngoài và bên trong, giữa cái không có và cái có.

+ Sức mạnh để chiếc xe băng mình ra trận chính là sức mạnh của trái tim người lính , một trái tim nồng nàn tình yêu nước và sôi trào ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trang 3

* Liên hệ thơ Tố Hữu :

Tố Hữu đã ca ngợi :

Thiếu tất cả, ta rất giàu dũng khí

Sống chẳng cúi đầu, chết vẫn ung dung

Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hoá anh hùng

Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo

III Kết bài :

- Đánh giá bài thơ và phong cách thơ Phạm Tiến Duật:

"Bài thơ về tiểu đội xe không kính" là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu khác của ông như Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây v.v Chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc hoạ, tôn vinh vẻ đẹp phẩm giá con người, hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng

và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống Mĩ xâm lược

1945 - 1975.

BÀI VIẾT THAM KHẢO :

Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai"(Tố Hữu), Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính, khoẻ, dạt dào sức sống, tinh nghịch vui tươi, giàu suy tưởng "Bài thơ về tiểu đội không kính" (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió - hình ảnh có sức hấp dẫn đặc biệt vì nó chân thực, độc đáo, mới lạ Xưa nay, hình ảnh xe cộ trong chiến tranh đi vào thơ ca thường được mỹ lệ hoá, tượng trưng ước lệ chứ không được miêu tả cụ thể, thực tế đến trần trụi như cách tả của Phạm Tiến Duật Với bút pháp hiện thực như bút pháp miêu tả "anh bộ đội cụ Hồ thời chống Pháp" của Chính Hữu trong bài Đồng chí (1948), Phạm Tiến Duật đã ghi nhận, giải thích về "những chiếc xe không kính" thật đơn giản, tự nhiên :

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe ban đầu vốn tốt, mới trở thành hư hỏng : không còn kính chắn gió, không mui không đèn, thùng xe bị xước Hìmh ảnh những chiếc xe không kính không hiếm trong chiến tranh chống Mỹ trên đường Trường Sơn lửa đạn nhưng phải là một chiến sĩ, một nghệ sĩ tâm hồn nhạy cảm, trực tiếp sẵn sàng chiến đấu cùng những người lính lái xe thì nhà thơ mới phát hiện được chất thơ của hình ảnh ấy để đưa vào thơ ca một cách sáng tạo, nghệ thuật Không tô vẽ, không cường điệu mà tả thực, nhưng chính cái thực đã làm người suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ.

Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe Đó là những con người trẻ trung, tư thế ung dung, coi thường gian khổ, hy sinh Trong buồng lái không kính chắn gió, họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh và điệp ngữ :

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái.

Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực

Trang 4

tiếp nhìn thấy, cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh, vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế Các anh nhìn thấy từ "gió","con đường" đến cả "sao trời", "cánh chim" Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái Hình ảnh "những cánh chim sa, ùa vào buồng lái" thật sinh động, gợi cảm Hình ảnh "con đường chạy thẳng vào tim" gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận, con đường chiến đấu, con đường cách mạng.

Hiên ngang, bất chấp gian khổ, những người lính lái xe luôn lạc quan tin tưởng chiến thắng Những câu thơ lặp cấu trúc tự nhiên như văn xuôi, lời nói thường ngày thể hiện hình ảnh đẹp,

tự tin, có tính cách ngang tàng:

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô, mau thôi.

Phạm Tiến Duật từng là thành viên của đoàn 559 vận tải chiến đấu ở Trường Sơn nên chất lính, tính ngang tàng thể hiện rõ nét trong thơ Các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ, trước kẻ thù mà trái lại "tiếng hát át tiếng bom", họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh ý chí Yêu đời, tiếng cười sảng khoái của họ làm quên đi những nguy hiểm Câu thơ

"nhìn nhau mặt lấm cười ha ha" biểu lộ sâu sắc sự lạc quan ấy.

Tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó là phẩm chất của người lính Những khoảnh khắc của chiến tranh, giữa sống chết, những người lính trẻ từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm vụ, lý tưởng đã gắn bó nhau như ruột thịt, gia đình :

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

"Trời xanh thêm" vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến "Trời xanh thêm" vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng Những người lính lái xe hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, trẻ trung sôi nổi, giàu tình đồng chí đồng đội, có lòng yêu nước sâu sắc Lòng yêu nước là một động lực tạo cho họ ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, đánh bại giặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc :

Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc, mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng

và suy tưởng vừa bay bổng vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ vận tải Trường Sơn Bốn dòng thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ thú vị Hai câu đầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống, do đường trường gây ra : xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe bị xước Điệp ngữ "không có" nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc

"không có kính/ rồi xe không có đèn / Không có mui xe / thùng xe có xước" như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai bom đạn Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét Đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng "vì miền Nam", vì cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho

cả nước Chói ngời, toả sáng khổ thơ, cả bài thơ là hình ảnh "trong xe có một trái tim" Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ anh hùng của mỗi người cầm lái tích tụ, kết đọng ở

Trang 5

"trái tim" gan góc, kiên cường, chứa chan tình yêu nước này Ẩn sau ý nghĩa câu thơ "chỉ cần trong xe có một trái tim" là chân lý của thời đại chúng ta: sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối, "con mắt của thơ", làm bật lên chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ Thiếu phương tiện vật chất nhưng những chiến sĩ vận tải Đoàn 559 vẫn hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ, nêu cao phẩm chất con người Việt Nam anh hùng như Tố Hữu đã ca ngợi :

Thiếu tất cả, ta rất giàu dũng khí

Sống chẳng cúi đầu, chết vẫn ung dung

Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hoá anh hùng

Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo

"Bài thơ về tiểu đội xe không kính" là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ, Chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc hoạ, tôn vính vẻ đẹp phẩm giá con người, hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng

và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945

- 1975.

Đề bài Cảm nhận về tình quê của nhân vật Nhĩ

trong truyện ngắn “Bến quê” - Nguyễn Minh Châu

Bài làm:

“Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người”

(trích Quê hương- Đỗ Trung Quân)

Quê hương vốn rất gần gũi, bình dị nhưng cũng rất đổi thiêng liêng trong tình cảm mỗi người Việt Nam Muôn ngàn tình cảm của con người sẽ hội tụ trong tình yêu quê hương đất nước Bởi thế, quê hương đã trở thành đề tài muôn thuở trong thơ ca Việt Nam Truyện ngắn “Bến quê” của Nguyễn Minh Châu là tác phẩm tiêu biểu đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng đọc giả Truyện là tình quê của Nhĩ – nhân vật chính của truyện - một tình yêu quê hương, đất nước mới lạ trong văn học Việt Nam

“Bến quê” là tình cảm mà Nguyễn Minh Châu đã gởi gắm qua nhân vật Nhĩ - một người từng

đi đến khắp nơi tận cùng của Trái đất - nhưng đến cuối đời, căn bệnh hiểm nghèo đã cột chân anh vào chiếc giường bệnh, không thể nhúc nhích được Trong hoàn cảnh đặc biệt này, anh mới nhận ra những nét gần gũi, bình dị và đáng yêu của quê hương mình

Vào buổi sáng đầu thu, anh nằm trên giường bệnh, cảnh vật thiên nhiên hiện ra trước mắt anh đẹp biết bao Nhĩ đưa mắt nhìn từ gần ra xa, từ thấp lên cao qua ô cửa sổ nhà mình Mấy bông hoa bằng lăng như đậm hơn Thấp thoáng phía xa là con sông Hồng với những tia nắng chiếu xuống, nước sông có màu vàng thau đẹp lạ thường Mọi thứ tưởng chừng rất đỗi quen thuộc lại trở nên hết sức lạ lẫm trong mắt Nhĩ - Cảnh vật đẹp quá làm Nhĩ cứ ngắm hoài một cách say mê Bỗng Nhĩ thấy “vòm trời như cao hơn”, “dòng sông như rộng ra’ Cảnh vật vẫn

Trang 6

hiện hữu bao lâu nay như thế đấy chứ? Đó chỉ là cái nhìn của một con người có dự cảm sắp phải đi xa, đến một nơi rất xa, xa lắm… Phải chăng Nhĩ đã nhận ra bằng trực giác của mình một điều: mình không còn sống được bao lâu nữa? Dự đoán của Nhĩ như thực hơn, rõ hơn sau những câu hỏi anh đã hỏi Liên - vợ mình: “Hôm nay đã là ngày thứ mấy rồi nhỉ?” (Hình như Liên đã hiểu những gì Nhĩ đang nghĩ nên chị không trả lời ?) Không phải ngẫu nhiên mà những bông hoa bằng lăng trong mắt Nhĩ trở nên đậm sắc hơn, tiếng đất lở ở bãi bồi bên kia sông dội đến tai Nhĩ âm vang hơn, hay Nhĩ hỏi Liên những câu như thế … là dự báo về quãng đời còn lại của Nhĩ một cách thật kín đáo, thầm lặng Những hình ảnh mang tính biểu tượng

đã được Nguyễn Minh Châu sử dụng thành công

Một con người luôn đi đến những nơi xa lạ như Nhĩ mà lại bị bó chân trên giường bệnh thì không đau khổ nào bằng Nhưng chính những ngày đó Nhĩ mới được sống bởi lẽ anh đã nhìn

rõ được hình ảnh của quê hương Đó là những bông hoa bằng lăng, là con sông, là bãi bồi, là vòm trời quê hương… Lần đầu tiên Nhĩ thấy Liên mặc áo vá Người vợ mà mà bấy lâu nay anh chưa quan tâm hết mực nay mới thật sự hiện hữu trước mắt anh… một hình dáng dịu hiền, một dáng dấp tần tảo, chịu đựng và giàu đức hy sinh Mọi sinh hoạt của Nhĩ đều nhờ vào sự chăm sóc của Liên Đến lúc này anh mới thấy thương và yêu vợ hơn bao giờ hết Dù bao năm tháng đã qua đi nhưng nét đẹp của Liên không hề thay đổi ,cũng như quê hương vậy, vẫn chan chứa nghĩa tình

Quê hương mình sao đẹp thế? Nhĩ càng ngắm càng yêu quê hương, yêu thương những gì gần gũi, bình dị của quê mình Khát khao cuối cùng của Nhĩ là được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông Hồng nhưng anh biết điều này không thể Anh đã nhờ con anh - Tuấn , thực hiện ước nguyện này giúp anh Nhưng nghịch lý thay! Con anh cũng không làm được điều mà cha mình mong muốn Tuấn chưa hiểu được ước muốn của cha và ra đi một cách miễn cưỡng Và anh

đã sa vào đám cờ thế trên đường để thoả mãn nhu cầu ham chơi, thích khám phá của mình Nhĩ không trách Tuấn bởi lẽ anh cũng từng như thế Hoạ chăng chỉ có những người từng trải như anh mới hiểu hết được sự đời, mới thấy được những gì mình cần phải làm? Lúc này, Nhĩ mới nhận ra một triết lý Con người ta thật khó tránh khỏi những cái “vòng vèo”, “chùng chình” trên đường đời để hướng tới những giá trị đích thực của cuộc sống Những nghịch lý trong cuộc đời mỗi người không ai có thể lường hết được Và hai tình huống nghịch lý trong truyện này cũng là một minh chứng để mỗi người biết cách sống tốt hơn, sống đẹp hơn Mong ước cuối cùng của Nhĩ không thể thực hiện được Anh nhìn ra ngoài cửa sổ một cách xa xăm, đầy mê say Anh mải mê hướng mắt theo cánh buồm Hành động cuối cùng của Nhĩ:

“đu mình ra ngoài cửa sổ, đưa bàn tay ra ngoài vẫy vẫy như đang ra hiệu cho một ai đó” có

vẻ kỳ quặc Nhưng có thể Nhĩ đang nôn nóng thúc giục con trai mình hãy nhanh chóng để khỏi lỡ chuyến đò; hay đó là một sự đánh thức con người hãy sống khẩn trương, sống có ích, đừng sống vô bổ và tránh xa những cái “vòng vèo”, “chùng chình” trong cuộc đời kia

Nhưng rồi con đò cũng cập bến và Nhĩ cũng ra đi trong nỗi niềm tiếc nuối, ân hận

“Bến quê”- nơi neo đậu cuối cùng của mỗi con người Nhĩ đã mãi mãi đi vào cõi vĩnh hằng nhưng trong anh còn bao nuối tiếc Hoàn cảnh đặc biệt đã đánh thức Nhĩ để anh nhận ra được những giá trị gần gũi, bình dị của quê hương, để anh thêm yêu quê hương mình Con người ta ai cũng thế, bao lần vấp ngã trên đường đời nhưng chủ yếu là họ có vực dậy mà đi tiếp hay không Nhân vật Nhĩ trong truyện đã theo đuổi những ước mơ xa vời nơi chân trời tươi đẹp nhưng anh lại đánh mất hình ảnh của quê hương, của người thân Đến lúc nhận ra mọi việc thì đã quá muộn màng Dù mãi mãi lìa xa quê hương nhưng anh được nằm dưới khoảng đất yêu thương của quê mình, được đất mẹ che chở đến ngàn thu, đây cũng là một niềm hạnh phúc

Truyện ngắn “Bến quê” khép lại để cho người đọc cảm thấy ngậm ngùi cho cuộc đời một con người Nhưng bài học triết lý sâu xa của truyện còn âm ỉ mãi Trong cuộc sống có bao lần ta mắc phải cái “vòng vèo”, “chùng chình” của đường đời, hãy sống sao cho thật có ích, phải biết trân trọng những giá trị gần gũi, bình dị của quê hương bởi lẽ dù cho ta có đi đến nơi nào thì quê hương vẫn là điểm dừng chân cuối cùng của cuộc đời mỗi con người Tình yêu quê hương

sẽ là nguồn sinh lực thúc đẩy mỗi chúng ta hướng tới những ước mơ, khát vọng đích thực trong hương thơm gió lộng của cuộc đời.

Trang 7

Đề Suy nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong “Lặng lẽ Sa Pa”

Gấp lại truyện ngắn “Lặng lẽ Sa pa ”của Nguyễn Thành Long lòng ta cứ xao xuyến vấn vương trước vẻ đẹp của những con người ,trước những tình cảm chân thành, nồng hậu trong một cuộc sống đầy tin yêu Dù được miêu tả ít hay nhiều nhân vật nào của “Lặng

lẽ Sa pa” cũng hiện lên với nét cao quí đáng khâm phục.Trong đó anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu đã để lại cho chúng ta nhiều ấn tượng khó phai

mờ

Trước tiên anh thanh niên này đẹp ở tấm lòng yêu đời,yêu nghề ,ở tinh thần trách nhiệm cao với công việc lắm gian khổ của mình.Trong lời giới thiệu với ông hoạ sỹ già và cô gái,bác lái xe gọi anh là “người cô độc nhất thế gian”.Đã mấy năm nay anh “sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m bốn bề chỉ có cỏ cây và mây mù lạnh lẽo”.Công việc hàng ngày của anh là“đo gió,đo mưa ,đo chấn động mặt đất”rồi ghi chép,gọi vào máy bộ đàm báo về trung tâm.Nhiều đêm anh phải “đối chọi với gió tuyết và lặng im đáng sợ”.Vậy mà anh rất yêu công việc của mình.Anh quan niệm:“khi ta làm việc ta với công việc là đôi,sao gọi là một mình được?”Anh hiểu rõ : “Công việc của cháu gian khổ thế đấy,chứ cất nó đi,cháu buồn đến chết mất”.Sống một mình nhưng anh không đơn độc bởi “lúc nào tôi cũng có người để trò chuyện.Nghĩa là có sách ấy mà ”.Tuy sống trong điều kiện thiếu thốn nhưng người thanh niên ấy vẫn ham mê công việc,biết sắp xếp lo toan cuộc sống riêng ngăn nắp, ổn định.Anh nuôi gà, trồng hoa, đọc sách,thỉnh thoảng anh xuống đường tìm gặp bác lại xe cùng hành khách để trò chuyện cho vơi bớt nỗi nhớ nhà.

Sống trong hoàn cảnh như thế sẽ có người dần thu mình lại trong nỗi cô đơn.Nhưng anh thanh niên này thật đáng yêu ở nỗi “ thèm người ”,lòng hiếu khách đến nồng nhiệt và sự quan tâm đến người khác một cách chu đáo.Ngay từ những phút gặp gỡ ban đầu ,lòng mến khách ,nhiệt tình của anh đã gây được thiện cảm tự nhiên đối với người hoạ sỹ già

và cô kỹ sư trẻ.Niềm vui được đón khách dào dạt trong anh,toát lên qua nét mặt,cử chỉ:anh biếu bác lái xe củ tam thất,mừng quýnh đón quyển sách bác mua hộ,hồ hởi đón mọi người lên thăm “nhà”,hồn nhiên kể về công việc,đồng nghiệp và cuộc sống của mình nơi Sa pa lặng lẽ.Khó người đọc nào có thể quên,việc làm đầu tiên của anh khi có khách lên thăm nơi ở của mình là:hái một bó hoa rực rỡ sắc màu tặng người con gái lần đầu quen biết.Bó hoa cho cô gái ,nước chè cho ông hoạ sỹ già, làn trứng ăn đường cho hai bác cháu…Tất cả không chỉ chứng tỏ đó là người con trai tâm lý mà còn là kỷ niệm của một tấm lòng sốt sắng , tận tình đáng quí

Công việc vất vả ,có những đóng góp quan trọng cho đất nước nhưng người thanh niên hiếu khách và sôi nổi ấy lại rất khiêm tốn.Anh cảm thấy đóng góp của mình bình

thường,nhỏ bé so với bao ngừơi khác.Bởi thế anh ngượng ngùng khi ông hoạ sỹ già phác thảo chân dung mình vào cuốn sổ tay Con người khiêm tốn ấy hào hứng giới thiệu cho ông hoạ sỹ những người khác đáng vẽ hơn mình:“Không,không ,bác đừng mất công

vẽ cháu,để cháu giới thiệu cho bác những người khác đáng vẽ hơn.”Đó là ông kỹ sư ở vườn rau vượt qua bao vất vả để tạo ra củ su hào ngon hơn,to hơn.Đó là “người cán bộ nghiên cứu sét,11 năm không xa cơ quan lấy một ngày”…Dù còn trẻ tuổi,anh thấm thía cái nghiã,cái tình của mảnh đất Sa pa,thấm thía sự hy sinh lặng thầm của những con người đang ngày đêm làm việc và lo nghĩ cho đất nước

Bằng một cốt truyện khá nhẹ nhàng ,những chi tiết chân thực tinh tế ,ngôn ngữ đối thoại sinh động Nguyễn Thành Long đã kể lại một cuộc gặp gỡ tình cờ mà thú vị nơi Sa pa lặng lẽ.Chưa đầy 30 phút tiếp xúc với anh thanh niên,khiến người hoạ sỹ già thêm suy

Trang 8

ngẫm về vẻ đẹp cuộc đời mà mình không bao giờ thể hiện hết được và còn làm cô kỹ sư trẻ lòng bao cảm mến bâng khuâng …Với truyện ngắn này ,phải chăng nhà văn muốn khẳng định:Cuộc sống của chúng ta được làm nên từ bao phấn đấu,hy sinh lớn lao và thầm lặng? Những con người cần mẫn,nhiệt thành như anh thanh niên ấy khiến cuộc sống này thật đáng trân trọng, thật đáng tin yêu

Phân tích bài thơ Ánh Trăng - Nguyễn Duy

Bài làm

Có nhiều tác phẩm vừa mới được ra đời đã bị chết yểu Có nhiều tác phẩm gây

dư luận xôn xao một thời rồi bị độc giả quên lãng cùng thời gian Nhưng cũng có những bài thơ , truyện ngắn để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc sâu sắc Bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy chính là tiêu biểu cho điều đó

Tác phẩm ra đời năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh , 3 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng Bài thơ như một lời tâm sự chân thành : Vầng trăng không chỉ là vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước mà nó còn gắn bó với tuổi thơ , với những ngày kháng chiến gian khổ Vầng trăng đối với mỗi chúng ta không bao giờ có thể quên bởi nó là một kỷ niệm thiêng liêng Nó đem lại ánh sáng xua tan đêm tối Nó là tri kỉ Và khổ thơ đầu hiện lên nhằm khắc họa điều đó:

Trần trụi với thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ

Ngỡ không bao giờ quên

Cái vầng trăng tình nghĩa

Khổ thơ thứ 2 như một lời nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị mà hiền hậu.Một ẩn dụ so sánh đã làm nổi bật chất trần trụi , chất hồn nhiên người lính những

năm tháng ở rừng Đó là cốt cách của các anh- “trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ” Trăng vô cùng bình dị Một vẻ đẹp thấm nhuần chất nhân

Trang 9

văn Trăng tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên, trăng hóa vào thiên nhiên và hòa tan vào cây cỏ Vầng trăng chính là biểu tượng đẹp của những năm tháng ấy , đã trở thành " vầng trăng tri kỉ " " vầng trăng tình nghĩa " ngỡ không bao giờ quên

Ấy thế mà có những thời gian tác giả đã lãng quên cái vầng trăng tình nghĩa

đó

Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường

Trước giây tác giả sống gần gũi với thiên nhiên , với sông, với bể, với rừng Bây giờ thời gian dần trôi, môi trương sống thay đổi nên lòng người đã đổi thay Tác giả đã quen với cái nếp sống có “ánh điện cửa gương” ấy rồi Quen “ánh điện cửagương” cũng như đã quen sống trong một môi trường đầy đủ tiện nghi vật chất Cho nên dần dần cái vầng trăng ngày nào đã bị niềm vui hưởng thụ cuộc sống sung túc che khuất mất Đúng như vậy! Vầng trăng tượng trưng cho những tháng năm gian khổ, là tình đồng chí được hình thành trong những năm tháng chiến tranh Nhưng giờ đây hòa bình lập lại lòng người đổi thay là chuyện thường tình Bởi thế người đời thường nhắc nhau:

Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay

Qua sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm…

Vầng trăng đã không còn vị trí nào trong tim tác giả nữa Bút pháp nhân hóa

“vầng trăng đi qua ngõ " đã làm nỗi bật điều đó Hằng đêm trăng vẫn cứ đi, vẫn mang chút ánh sáng nhỏ nhoi chiếu sáng bầu trời đêm tối Vậy mà tác giả đã bị cuộc sống xa hoa làm mờ mắt Không còn nhớ đến trăng nữa Giọng thơ như giãi bày tâm sự, nhà thơ như tự trò chuyện với mình Chất trữ tình trong lời thơ trờ nên sâu lắng chân thành… Rồi bất chợt duyên số đến Tác giả đã gặp lại cái vầng trăng tình nghĩa đó:

Thình lình đèn điện tắt

Phòng buyn đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn

Vầng trăng xuất hiện bất ngờ trong cái khoánh khắc ấy, giây phút ấy Tác giả bàng hoàng trước vẻ đẹp huyền diệu của vầng trăng Bởi đã quen với ánh điện cửagương rồi, bây giờ bỗng gặp lại ánh sáng của vầng trăng, bao kỉ niệm xưa bỗng ùa

về làm tác giả rưng rưng nước mắt…

Ngửa mặt lên nhin mặt

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng?

Một cái nhìn đầy áy náy và xót xa! Trăng chẳng nói chằng trách gi mà sao người cảm thấy có cái gì rưng rưng, tâm can xúc động , nước mắt ứa trào ra ??? Người lính khóc và giọt nước mắt làm cho lòng anh thanh thản, bình tâm lại Bao kỉ niệm đẹp của đời người ùa về, tâm hồn bỗng gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với quê hương đất nước Với cấu trúc thơ song hành, điệp từ như, biện pháp tu từ so

sánh cho thấy ngòi bút của Nguyễn Duy thật tài hoa “Như là đồng là bể như là

Trang 10

sông là rừng" Đoạn thơ hay ở chỗ chất bộc bạch chân thành, ở tính biểu cảm, ở

tính hình tượng hàm súc và ngôn ngữ hình ảnh thơ giản dị đi vào lòng người , khắc sâu được điều nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta 1 cách nhẹ nhàng mà thấm thía

Khổ cuối bài thơ hàm nghĩa độc đáo, mang lại chiều sâu tư tưởng triết lí nhân sinh:

Làm ơn há dễ trông người trả ơn

Và như ông ngư nữa

Một câu danh lợi chi sờn lòng đây

Lục vân Tiên từng cứu Kiều Nguyệt Nga khỏi bọn cướp Phong Lai , chàng cướp chỉ vì " thấy chuyện bất bình chẳng tha " chớ không vì lợi lộc gì cả Chàng là 1 thư sinh nho nhã vậy mà vẫn không cầm lòng trước chuyện bất bình, ra tay diệt bọn ác cứu người hiền Ông Ngư thì gia cảnh nghèo khó nhưng khi gặp Vân Tiên

sa cơ đã ra sức cứu giúp , cho dù thân thể Vân Tiên như " trái mùi trên cây " Cả 3hình tượng ấy đều giống nhau Đều ra sức giúp ích cho đời mà không mong lợi lộc gì cho riêng mình Và trăng còn mãi sự chung thủy , không bao giờ đổi thay

Dù lòng người thay đổi thì trăng vẫn vậy Trăng sẽ không chấp người vô tình , sẽ

im phăng phắc Hành động đó là 1 nghĩa cử cao đẹp, là tấm gương sáng để thế

hệ trẻ noi theo Nhưng chính điều đó đã làm cho người lính - vốn bị lạc vào lối sống phồn hoa đô thị , quên 1 thời gắn bó chia ngọt sẻ bùi với vầng trăng phải " giật mình " Giật mình vì tính chung thủy của vầng trăng , giật mình vì sự khoan dung độ lượng Chắc hẳn người lính trẻ này sẽ có 1 bài học quý giá về đạo lí làm người Luôn luôn ghi nhớ công ơn người đi trước và những người làm ơn với

mình " ăn quả nhớ kẻ trồng cây ", " uông nước nhớ nguồn " chính là những đạo lí

đã vang lên từ những bài thơ như thế này

Ánh trăng của Nguyễn Duy là 1 bài thơ hay Tác giả đã vận dụng thể thơ 5 chữ 1 cách sáng tạo tài hoa Nếu như trong bài thơ " Tre Việt Nam " câu thơ lục bát có khi được tách ra thành 2 hoặc 3 dòng thơ để tạo nên hiệu quả nghệ thuật gây ấn tượng thì trong bài thơ này có 1 nét mới: chữ đầu của dòng thơ không được viết hoa Phải chăng nhà thơ muốn cho cảm xúc được dạt dào trôi theo dòng chảy của

Trang 11

thơi gian kỉ niệm ? Và ông muốn đền đáp lỗi lầm của mình đối với vầng trăng tìnhnghĩa bằng giọng thơ bộc bạch nhỏ nhẹ mà lắng sâu này?

Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em

về nhân vật Phương Định

Hình ảnh Phương Định-một trong ba cô gái của "tổ trinh sát mặt đường" trong truyện ngắn "Những ngôi sao xa xôi" đã được nhà văn Lê Minh Khuê khắc họa rất thành công.Thật vậy,hình ảnh Phương Định hiện lên vô cùng đáng yêu đáng mến, một cô gái Hà Nội xinh xắn nhưng chỉ khiêm tốn nhận mình là "khá" với

"hai bím tóc dày, tương đối mềm" , "cái cổ cao kiêu hãnh như đài hoa loa kèn", còn đôi mắt, đôi mắt tuyệt đẹp-đôi mắt mà các anh lái xe vẫn hết lời khen ngợi

"Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!".Một vẻ đẹp thật nữ tính và có chiều sâu! Bước chân vào chiến trường,hành trang duy nhất mang theo là những kỉ niệm về những ngày tháng hồn nhiên của thời thiếu nữ bên gia đình trong "một căn nhà nhỏ" để rồi cô chợt nhớ nhà, nhớ mẹ,"nhớ những ngôi sao to trên bầu trời thành phố",nhớ

"cái vòm tròn nhà hát" hoặc "bà bán kem " Tất cả như ùa về trong giây lát Phảichăng chính những kỉ niệm hồn nhiên,trong sáng của thời thiếu nữ nơi quê nhà thân thương ấy đã làm dịu mát lòng cô ngay giữa chiến trường bom đạn ác liệt? Phương Định còn rất thích hát, cô thích "dân ca quan họ mềm mại dịu

dàng","thích Ca-chiu-sa của Hồng Quân Liên Xô", thích "dân ca Ý trữ tình giàu có" , cô hát với một niềm lạc quan , yêu đời tha thiết , tiếng hát át tiếng bom, và cái ác liệt của chiến tranh cũng đâu thể ngăn cản được niềm vui thích rất đỗi ngây thơ đến trẻ con của Định , cô "vui thích cuống cuồng" khi bắt gặp một trận mưa

đá trên cao điểm Chao ôi, có ai ngờ rằng ở người con gái tưởng chừng như kiêu

kì ấy lại có một tình đồng chí , đồng đội gắn bó keo sơn ruột thịt như chị em hơn bao giờ hết , và "thực tình trong suy nghĩ của cô những người đẹp nhất , thông minh , can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ".Chẳng những Phương Định là một cô gái có tâm hồn trong sáng, nhiều

mơ ước,nhiều xúc cảm mà cô còn là một nữ thanh niên xung phong hết sức can trường quả cảm nữa.Đáng khâm phục biết bao khi người con gái đất Hà thành ấy

đã rời chiếc ghế nhà trường xung phong vào phục vụ tuyến đường Trường Sơn máu lửa để rồi từng ngày chạy trên cao điểm,từng giờ từng phút đếm bom

rơi,bom nổ , ước lượng khối đất đá lấp vào hố bom,tậm chí phá bom nếu cần,thật nguy hiểm bởi ngày ngày phải đối mặt với Tử thần nhưng dường như cô không hềquan tâm đến cái chết,cô luôn đặt nhiệm vụ lên hàng đầu và hoàn thành tốt công việc.Đọc "Những ngôi sao xa xôi" ta như thấy được ở người con gái ấy hình ảnh của cả thế hệ thanh niên xung phong trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước "Xẻ dọc trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai" Những trang văn của Lê Minh Khuê đã khép lại nhưng hình ảnh một cô gái Hà Nội với "hai bím

Trang 12

tóc dày" đang "ngồi bó gối mơ màng" bên khung cửa sổ vẫn còn mãi trong lòng người đọc.

Phân tích bài thơ: MÙA XUÂN NHO NHỎ

Thanh Hải

Bài làm:

Mùa xuân nho nhỏ của tác giả Thanh Hải viết vào 11-1980 Đấy là khoảng thời gian một tháng trước khi nhà thơ vĩnh biệt cõi đời Bài thơ bộc lộ cảm xúc dâng trào trước mùa xuân của thiên nhiên đất nước và, xúc động hơn, nó còn thể hiện

ước nguyện bình dị, khiêm nhường mà tha thiết mãnh liệt của nhà thơ: Muốn làm một mùa xuân nho nhỏ để góp phần vào mùa xuân lớn của quê hương đất nước

Đó chính là khát vọng được hòa nhập - cống hiến của nhà thơ.

Mở đầu bài thơ là bức tranh xuân nơi xứ Huế thơ mộng:

Mọc giữa giòng sông xanh

Một bông hoa tím biếc

Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời

Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng

Sáu câu thơ với mấy nét chấm phá thôi mà bức tranh mùa xuân thiên nhiên có đủ

cả không gian cao rộng của bầu trời, có cái rộng dài mênh mang của dòng sông,

có sắc màu của bông hoa tím biếc và cả âm thanh rộn rã tươi vui của con chim chiền chiện hót vang trời Tiếng chim lan tỏa khắp bầu trời như đọng thành “từng giọt long lanh rơi”

Nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác "giọt long lanh" Đó không chỉ đơn thuần là giọt sương, giọt mưa xuân, mà trên hết nó là giọt âm thanh Dường như tiếng hót

ấy không tan ra, không loãng ra mà đọng lại kết tụ thành hình thành khối thành từng giọt rơi trong không trung và trong sâu thẳm tấm lòng nhà thơ

Nhà thơ không chỉ cảm nhận mùa xuân bằng thị giác, thính giác, mà còn bằng cả xúc giác "tôi đưa tay tôi hứng"… từng giọt , từng giọt Nhà thơ đón nhận vẻ đẹp của mx = tất cả sự nâng niu, trân trọng.

Từ cảm hứng về mùa xuân của thiên nhiên, nhà thơ cảm nghĩ về mùa xuân của đất nước:

Mùa xuân người cầm súng

Lộc giắt đầy trên lưng

Mùa xuân người ra đồng

Lộc trải dài nương mạ

Điệp từ "lộc" lặp lại hai lần là một hình ảnh đặc sắc "Lộc" ở đây không chỉ là lá non, chồi non, mà còn là biểu tượng cho sức sống mùa xuân, là thành quả hạnh phúc "Lộc" gắn liền với "người cầm súng","người ra đồng" đã làm cho ý thơ gắn với cuộc sống lao động-chiến đấu, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trên những vành

lá ngụy trang của người ra trận, muôn ngàn chồi non đang hé nở Trên những nương mạ của người ra đông sức sống thanh xuân của mầm xanh đang trỗi dậy mạnh mẽ thôi thúc lòng người

Trang 13

Tất cả như hối hả

Tất cả như xôn xao

Đất nước bốn ngàn năm

Vất vả và gian lao

Đất nước như vì sao

Cứ đi lên phía trước

Thanh Hải có sự cảm nhận thật sâu sắc về đất nước: "đất nước như vì sao" bay lên ngời sáng, lung linh Nhịp thơ nhanh, dồn dập hối hả như không khí khẩn trương của đất nước ta trong giai đoạn đó Nghệ thuật so sánh đất nước như người mẹ hiền, tần tảo, bao dung, "vất vả và gian lao", đất nước như vì sao đạp bằng mọi chông gai, tiến lên phía trước và trường tồn bất diệt theo thời gian Khổ thơ thể hiện niềm tin sáng ngời và niềm tự hào sâu sắc của nhà thơ về đất nước và con người VN

Từ cảm xúc về mùa xuân, tác giả chuyển mạch thơ một cách tự nhiên để bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm của mình về lẽ sống và giá trị cuộc đời mỗi con người:

Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc

Đó là khát vọng được hòa nhập, được cống hiến cho đất nước Ước nguyện đó đã dâng lên thành một lẽ sống cao đẹp: mỗi người hãy cống hiến cho cuộc đời chung một nét riêng, cống hiến phần tinh túy nhất dù là nhỏ bé, khiêm nhường Ước nguyện ấy bất chấp thời gian, tuổi tác "Dù là tuổi hai mươi/Dù là khi tóc bạc" lúc nào cũng tha thiết, mãnh liệt Điệp từ "dù là…dù là” là lời tự nhắc trong hoàn cảnh nào cũng cống hiến hết mình Ước muốn ấy được nhà thơ thể hiện bằng một hình ảnh thơ sáng đẹp, một giọng thơ thủ thỉ tâm tình tha thiết Điều tâm niệm ấy thật cao đẹp, chân thành và là sự phát triển tự nhiên trong mạch cảm xúc của bài thơ

Sự chuyển đổi đại từ "tôi" sang đại từ "ta" không phải ngẫu nhiên mà là dụng ý của tác giả

“Tôi” là số ít, là cá nhân, còn "ta" là số nhiều, là của chung mọi người “Ta” tạo được sắc thái trang trọng thiêng liêng như một lời nguyện ước Tuy vậy trong cái

"ta" ấy vẫn có một giọng điệu nhỏ bé, khiêm nhường của cái "tôi" Thanh Hải Độc giả bắt gặp ở đây một nhân sinh quan đầy ý nghĩa mà nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

"Nếu là con chim,chiếc lá

Con chim phải hót,chiếc lá phải xanh

Lẽ nào vay mà không có trả

Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình"

Nhớ lại hoàn cảnh sáng tác của bài thơ, bài thơ được viết khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh, đang phải giành giật với sự sống từng ngày, nhưng trong ông vẫn không gợn một chút băn khoăn lo lắng về bệnh tật, về những suy nghĩ riêng

tư cho bản thân mình Trong ông chỉ lặng lẽ một khát vọng được sống, được tiếp cống hiến như một ngọn nến sắp tàn vẫn bùng lên những tia sáng rực rỡ nhất

Trang 14

"Mùa Xuân nho nhỏ" chính là sự cống hiến đẹp đẽ nhất của Thanh Hải trước khi ông trở về với cát bụi.

Đoạn kết của bài thơ như là tiếng lòng nhà thơ trở về đất Mẹ - xứ Huế thân yêu:

Mùa xuân ta xin hát

Câu Nam ai, Nam bình

ở một người con yêu quê hương và gắn bó máu thịt với quê hương

Khúc Nam Ai-Nam Bình cùng với "nhịp phách tiền đất Huế" đã khép lại bài thơ nhưng lại mở ra một chân trời cảm xúc , thoáng buồn thương ngậm ngùi nhưng tha thiết máu thịt Âm thanh đó không chỉ ngân mãi trong tâm trí nhà thơ mà còn ngân mãi trong lòng độc giả yêu "Mùa xuân nho nhỏ".

Thuyết minh: Chiếc Nón Lá

Nón lá có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khỏang 2500-3000 năm Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng cho người con gái Việt Nam và thực tiễn với đờisống nông nghiệp, một nắng hai sương, Nón lá ở Việt Nam có nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử:

Nón dấu : nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa

Nón gò găng hay nón ngựa: sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa

Nón rơm : Nón làm bằng cộng rơm ép cứng

Nón quai thao : người miền Bắc thường dùng trong lễ hội

Nón Gõ : Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa

Nón lá Sen: cũng gọi là nón liên diệp

Nón thúng: thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng

Nón khua :Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa

Nón chảo : thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng

Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang

Nón bài thơ : ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ v

……

Tuy có nhiều chủng lọai nhưng phổ biến nhất vẫn là nón lá.Phải nói rằng người Việt Nam ta từ nông thôn đến thành thị đều từng dùng nón lá nhưng có mấy ai

Trang 15

quan tâm đến nón có bao nhiêu vành,đường kính rộng bao nhiêu?.Nón lá tuy giản

dị rẻ tiền nhưng nghệ thuật làm nón phải khéo tay.Với cây mác sắc,họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu rồi uốn thành vòng tròn trịa bóng bẩy.Có được khung nón,người ta còn phải mua lá hay chặt lá non còn búp ,cành lá

có hình nan quạt nhiều là đơn chưa xòe ra hẳn đem phơi khô.Lá non lúc khô có màu trắng xanh,người mua phải phơi lá vào sương đêm cho bớt độ giòn.người ta

mở lá từ đầu đến cuống lá ,cắt bỏ phần cuối cùng,rồi dùng lưỡi cày nóng và búi giẻ hơ trên thanh hồng kéo lên lá nón thành tờ giấy dài và mỏng,nổi lên những đường gân nhỏ,lựa những lá đẹp nhất để làm vành ngòai của nón.Sau đó người ta dùng cái klhung hình chóp ,có 6 cây sườn chínhđể gài 16 cái vành nón lớn nhỏ khác nhau lên khung.lọai khung này thường do người chuyên môn làm để kích thước khi lợp lá và chằm nón xong co thể tháo nón ra dễ dàng.Những lá nón làm xong được xếp lên khung,giữa 2 lóp lá lót một lượt mo nang thật mỏng và được buộc cho chắc.Tiếp là công đọan khâu, bàn tay người thợ thoăn thoắt kluồn mũi kijm len xuống sao cho lỗ khâu thật kín nguời thợ khéo còn có tài lẩn chỉ,khéo léo giấu những nút nổi vào trong.Chiếc nón khi hòan chỉnh vừa bền vừa đẹp ,soi lên ánh mặt trời thấy kín đều.Nón rộng đường kính 41cm,người ta phết phía ngòailớp sơn dầu mỏng để nước mưa không qua các lỗ kim mà vào trong.Để có môt chiếc nón như thế phải trải qua 15 khâu,từ lên rừng hái lá,sấy lá,mở,ủi,chọn

lá,chắm ,cắt lá v,,,v,,,

Cũng chính vì mang đầy tính nghệ thuật mà con người luôn biết trân trọng sản vậtvăn hóa này.Ngay trog thời đại thông tin,tuy có số lượng không đông nhưng vẫn còn có những con người yêu văn hóa truyền thống mà bám trụ với nghề làm nón khó thì nhiều mà lời thì ít này.Họ đã cùng chung tay lập ra những làng nón truyền thống,nơi cung cấp số lượng lớn nón cho các tỉnh thành.Có thể kể đến làng Phú Cam còn gọi là phường Phước Vĩnh ,Ngay ở trung tâm thành phố Huế ,Trên bờ nam sông An Cựu.Làng Phú Cam nổi tiếng với nón bài thơ Huế đã xinh ở dáng lại nhã ở màu,mỏng nhẹ,soi lên ánh sáng thấy rõ những hình trổ giấy về phong cảnh Huếkèm theo lới thơ cài ở hai lớp lá.Hay xã Nghĩa Châu(Nghĩa Hưng) từ lâunổi tiếng với nghề làm nón thanh thóat ,bền đẹp.Rồi nón Gò Găng ở Bình

Định,Nón lá ở làng Chuông (Thanh Oai,Hà Tây), tất cả tô đẹp thêm cho nét văn hóa nón độc đáo của Việt Nam

Và rồi, tất nhiên,chiếc nón lá đi vào thơ ca nhẹ nhàng như mặc nhiên phải

vậy.Nhà thơ Bích Lan đã từng miêu tả chịếc nón bài thơ Huế rằng:

Ngưới xứ Huế yêu thơ và nhạc Huế

Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay

Nón bài thơ e lệ nép trong tay

Thầm lặng bước những khi trời dịu nắng

Và ngay cả trong ca dao:

Nón này che nắng che mưa

Nón này để đội cho vừa đôi ta

Còn duyên nón cụ quai tơ

Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong

Hình ảnh chiếc nón lá trong mắt nhà thơ là hình ảnh của người thiếu nữ thơ ngây trong tà áo dài thanh khiết,của người phụ nữ mộc mạc chân tình gắn đời với mảnh

Trang 16

ruộng quê hương,của những mối tình thầm kín gửi qua bài thơ dấu trong nón lá.Mỗi chiếc nón có một linh hồn riêng ,một ý nghĩa riêng.hiện nay ,Việt Nam ta có đến hàng chục lọai nón cổ truyền khác nhau,chứng minh cho nền văn hóa và đậm sắc nghệ thuật.Đời sống văn minh,phát triển nhung nón lá Việt Nam vẫn thuần túy nguyên hình của nó :giản dị,duyên dáng.Ở bvất cứ nơi đâu,từ rừng sâu hẻo lánh,trên đồng ruộng mênh mông,dọc theo sông dài biển cả,đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay.

Thuyết minh: Cây tre Việt Nam

Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các nẻo đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả - được xem như là biểu tượng của người Việt đất Việt, Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp,cây nào cũng quý,nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa Tre,nứa, trúc, mai, vầu… mấy chục loại khác

nhau,nhưng cũng một mầm măng non mọc thẳng "

“Tre xanh, xanh tự bao giờ

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh ”

Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc, và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họLúa Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng Thân có thể cao đến 10 -18m , ít phân nhánh Mỗi cây có khoảng 30 đốt, Cả đời cây tre chỉ

ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”

Cùng với cây đa, bến nước, sân đình_một hinh ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẳn sàng hy sinhtất cả Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đềugóp phần xây dựng cuộc sống

Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà “ Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc ” Không phài ngẫu nhiên sự tích loại tre thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng - hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Ân xâm lược đã trở thành biểu

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:58

w