Nhưng trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân và đế quốc xâm lược, nhất là ngót 20 năm chống Mĩ cứu nước vừa qua, quê hương của người Mạ phần nhiều là những căn cứ địa các
Trang 1VĂN HÓA TINH THẦN CỦA DÂN TỘC MẠ
Khái niệm: Văn hóa tinh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật chất là những ý niệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn mực, tạo nên một hệ thống Hệ thống đó bị chi phối bởi trình độ của các giá trị, đôi khi có thể phân biệt một giá trị bản chất Chính giá trị này mang lại cho văn hóa sự thống nhất và khả năng tiến hóa nội tại của nó
Và khi nói về văn hóa tinh thần của một tộc người thì ta xét trên các yếu tố: ngôn ngữ, lễ hội, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa dân gian
1, Ngôn ngữ:
Tiếng nói của người Mạ thộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme, miền núi phía Nam gần gũi với tiếng nói của người Mnông, Chơro, Xtiêng, và nhất là tiếng nói của người Cơ ho là dân tộc láng giềng gần gũi nhất
Trong vốn từ vựng của ngôn ngữ Mạ, yếu tố Khơme trội hơn hẳn so với các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ ở Bắc Tây Nguyên như Bana, Xơ đăng
Trước kia, dó ít có điều kiện tiếp xúc với người Việt, lại cư trú ở khu vực có tính chất đóng kín, nên nhiều người Mạ không biết tiếng phổ thông, nhất là nữ giới và những người ở lứa tuổi ngoại 50
Nhưng trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân và đế quốc xâm lược, nhất là ngót 20 năm chống Mĩ cứu nước vừa qua, quê hương của người Mạ phần nhiều là những căn cứ địa cách mạng, một số nơi là vùng bị tạm chiếm, việc tiếp xúc với người Việt ngày càng được mở rộng và trở thành một nhu cầu trong sinh hoạt thường xuyên Đến nay, đa số người Mạ đều biết tiếng phổ thông và biết chữ quốc ngữ, nhiều người sử dụng tiếng phổ thông và chữ quốc ngữ một cách thuần thục, nhất là giới trẻ
2, Lễ hội:
Xuất phát từ phương thức sinh hoạt kinh tế chủ yếu của người Mạ là phát rừng làm rẫy, vì vậy nên, người Mạ có nhiều lễ nghi nông nghiệp gắn liền với quá trình canh tác rẫy để cầu mong cho mùa màng tốt tươi Những cuộc lễ cúng thần nông nghiệp được tiến hành theo chu ký canh tác của nông lịch Mạ
Lễ cúng thần lúa (yang koi) là lễ cúng lớn nhất của người Mạ, thường được tổ
chức vào tháng 2 âm lịch khi người Mạ đã thu hoạch xong mùa màng Trước đây,
lễ cúng thường được tổ chức ở nhà dài, nhưng gần đây do kết cấu cộng đồng có
sự thay đổi nên mỗi nhà tùy theo điều kiện tự tổ chức Lễ cúng thần lúa được tổ chức bằng hình thức đâm trâu, hay đây còn gọi là lễ đâm trâu
Vì vậy cho nên, đâm trâu được xem là lễ hiến sinh lớn nhất của người Mạ, đây là ngày hội lớn Người Mạ dựng khoảng ba cây nêu trước sân theo hình tam giác Cây nêu lớn dùng để cột trâu, các cây nêu nhỏ cột dê hoặc heo hoặc bò Trước đây, lễ thường kéo dài nhiều ngày, nhiều đêm, nhưng ngày nay rất ít được tổ chức Trên các cây nêu,
Trang 2người Mạ chia làm nhiều bậc để trang trí Theo họ quan niệm, cây nêu phần trên hướng thẳng lên trời tượng trưng cho thần linh, phía giữa là tổ tiên và dưới gốc là con người Trên các cây nêu, họ tạo những bông tre xoắn thành chùm, tượng trưng cho bông lúa lớn Hai màu xanh, đỏ được dùng chủ yếu trong trang trí với quan niệm màu đỏ là huyết con vật được hiến sinh để báo cho thần linh, màu xanh cầu mong cho mùa màng xanh tươi Dưới gốc cây nêu thường để những ché rượu cần mà mỗi nhà người Mạ làm đem đến
Lễ đâm trâu thường được tiến hành vào buổi xế chiều Cộng đồng người Mạ khi tổ chức thường mời các buôn làng khác đến dự Nghi thức tiếp đón bằng cách già làng đem rượu trong ống tre ra ngoài cổng mời khách Đoàn khách vừa đi đến vừa đánh cồng chiêng Khi mời rượu xong, già làng đọc lời cúng trong bàn thờ và làm nghi thức tẩy uế
để đâm trâu
Tiếp đến, những người có uy tín trong cộng đồng, khoảng ba người, được chọn để đâm trâu Trong khi đoàn người đi xung quanh các cây nêu hát múa thì những người đâm trâu lựa thế dồn trâu vào để đâm cho trâu nhanh chết Khi đâm trâu, bò và heo (hoặc dê) xong, họ xẻ thịt ngay và nướng trên đống lửa được đốt sẵn, rồi chia cho cộng đồng tham gia ăn và uống rượu cần
Trong buổi lễ, các thanh niên nam nữ Mạ múa hát, các người già thì tập trung uống rượu cần và hát kể cho nhau nghe về cộng đồng của mình Cồng chiêng được đánh thâu đêm suốt sáng…
Trang 3 Khoảng vào đầu tháng 3, khi cây cành đã khô thì làm một lễ cúng thần lửa (lơ yang us) Lễ cúng sau khi phát rừng, trước khi đốt Lễ này cúng trên rẫy, mỗi gia
đình cúng riêng ở rẫy của mình, làm gà uống rượu Khi cúng, người ta khấn thần Lửa rằng "hãy đốt cho sạch, cho tốt, đừng để tôi phải dọn lại nữa"
Trước khi gieo hạt thì làm lễ cúng hồn lúa (le yang tuyt koi), lễ này gọi cũng tương
tự như các lần trên
Khoảng cuối tháng 3 thì gieo lúa sớm (koi krong) Lúa mùa chính vụ (koi me)
được trồng trong khoảng tháng 4 Gieo hạt bằng cách chọc lỗ tra hạt Khi lúa đến
“thì con gái” và sắp trổ đòng thì làm lễ yu tam nơm để ăn mừng và tạ ơn mẹ lúa
Lúc lúa đã lớn cao từ hai tấc cho đến năm tấc, mỗi nhà lại cúng ở rẫy một lần nữa Cầu cho lúa khỏi bị hư hại vì hạn hán, vì bọ rầy phá lúa; đồng bào rải nghệ,
ngãi (xơnơm) vào lúa để chống sâu bọ phá hại Tất cả các gia đình trong buôn
đều cử hành lễ đồng nhất trong một ngày; năm nào cũng phải cúng, dù không thấy có nguy cơ gì và mặc dù vụ lúa năm rồi vẫn tốt Người ta giao ước với thần rẫy rằng "lúa tôi tỉa rồi, thần hãy bảo đảm khu vực trồng lúa của làng, của gia đình tôi không bị mất lỗ nào, lúa phải mọc lên tốt"
Đến lúc trổ bông thì làm lễ yu rmul (hay còn gọi là yu Đụng), họ cúng cho lúa chín
đều hạt Lễ này cúng cả hai nơi, ngoài rẫy và cả ở tại buôn Lễ vật lớn hơn lễ vật
ở các lễ trước, gồm có heo hay dê đem hiến sinh và phải kiêng cữ trong bảy ngày liền: không được làm gì ngoài rẫy, không đi qua khu vực của buôn khác; chỉ đi chơi quanh quẩn trong buôn mình Mỗi nhà sẽ ra rẫy hái một vài bông lúa, đem gài lên mái nhà chỗ thờ Tại ngoài rẫy, mỗi rẫy làm một cây nêu cao đến năm hay sáu mét gọi là N'yú Cây này cũng được trau chuốt trang trí và cắm ở rẫy cho đến
Trang 4khi lúa đem về kho thì sẽ được đem về cắm cạnh kho lúa Có người cho rằng N'yú tượng trưng cho nơi trú ngụ của hồn lúa
Lễ yu tuyn kách hoặc yu pas koi Họ cúng trước khi suốt lúa đem về kho Lễ vật
có gà, rượu và được cúng ở rẫy Vào thời gian này các kho lúa (Đankoi) chắc
chắn và cao ráo được dựng lên cạnh nhà ở, mỗi kho lúa là thuộc một cặp vợ chồng và những người con chưa lập gia đình hoặc còn nhỏ Cùng trong một nhà dài, cứ vài ba bếp lửa thì lại làm một kho lúa riêng Đồng bào Mạ có tinh thần đoàn kết tương trợ rất cao, tuy làm kho riêng nhưng những ai thiếu lúa ăn đều có thể "nói một tiếng" với chủ của kho nào còn lúa, rồi tự xúc lúa về ăn
Lễ Nhu R'he – lễ mừng lúa mới: Lúc mọi nhà đã đem lúa về kho, cả buôn định ngày lễ mừng gặt hái xong Nhu R'he thường trùng hợp vào tháng giêng, đầu mùa xuân; có thể xem là lễ tết đón mừng năm mới của người Mạ
(hình ảnh rất đông người Mạ tập trung về nhà văn hóa để múa hát, đánh cồng,
chiêng mừng năm mới) Trước ngày diễn ra lễ họi, già làng là người quyết định chọn ngày tổ chức và quy
mô lễ hội Quy mô lễ hội lớn hay nhỏ tùy thuộc vào kết quả của vụ thu hoạch lúa được nhiều hay ít Sau đó già làng sẽ làm lễ báo với thần linh ngay buôn làng tổ chức lễ hội Nhu R'he diễn tiến trong 3-4 ngày như sau:
- Ngày thứ nhất, các gia đình đi chặt vài cây tre để trang hoàng cho lễ cúng
- Ngày thứ hai đi ra rẫy nhổ cây N'yú đem về cắm ở đầu kho lúa (Đam koi)
- Ngày thứ ba, lo quét dọn sạch kho, trải chiếu bên dưới và chuẩn bị sẵn vò rượu cần đặc biệt
- Ngày thứ tư, buổi sáng, bắt đầu lễ cúng tại nhà kho của Chau pô bri Tại đây, người ta giết gà, heo hay dê, luộc trứng gà, một chén cơm nếp, một ly hoặc chén nước lã, một chén rượu, một ống tre, một Ntơr koi cắm vào đụn lúa trong nhà kho từ
Trang 5trước Họ lấy máu con vật bị giết bôi vào các vật dụng trong nhà, bôi vào trán của những người tham gia nghi lễ với ý nghĩa cầu mong điều may mắn cho mọi người Ngày diễn ra lễ hội, cây nêu được dựng ở trung tâm của buôn để chào đón các vị thần linh Mọi người được phân công chuẩn bị những đồ cũng lễ như: rượu cần, cơm lam, trâu, heo, gà, các vật dụng mang tính nghi thức như xà gạc nghi lễ, lao đâm trâu cùng với các loại nhạc cụ truyền thống không thể thiếu như cồng, chiêng, trống, tù và, khèn bầu, trai gái trong buôn chuẩn bị những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất để tham gia nhảy múa trong lễ hội, già làng và những người có uy tín trong làng xếp đồ cúng vào đúng nơi quy định Các nghi thức cũng lễ và lời cúng lễ diễn ra theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn có 1 lời cúng với khác nhau nhưng đều có ý nghĩa cảm ơn thần linh đã ban phát cho một vụ mùa bội thu, cầu xin thần linh phù hộ cho buôn làng ấm no Sau đó máu cảu các con vật lại được bôi lên cây nêu để hiến tế cho các vị thần
Con trâu được xem là linh hồn của lễ hội, là vật hiến sinh cho thần linh Trâu được buộc chắc chắn vào cây nêu chính, người ta cử ra một người khỏe mạnh, có uy tín trong làng thực hiện đâm trâu hiến tế Trước hết, họ dùng xà gạc nghi lễ chặt 2 kheo chân sau của con trâu cho trâu khụy ngã Tiếp đó, dùng cây lao nghi lễ đâm mạnh vào phần ngực trâu, động tác đâm trâu ohair có lực mạnh, chính xác sao cho trâu chết nhanh thì mới được coi là may mắn trâu sau khi chết được người ta nhét là và đổ nước vào miệng với ý nghĩa cho trâu ăn lần cuối trước khi về với thần linh Máu trâu được già làng và những người uy tín bôi lên cây nêu để dâng cúng cho Yang
Trước khi xẻ thịt trâu thì đầu trâu được cắt rời và buộc lên cây nêu với ý nghĩa dâng phần quan trọng nhất cho Yang Trâu được xẻ thịt chia đều cho các thành viên trong làng cùng một số đồ cúng lễ Dân làng ăn uống nhảy múa cho tới đêm khuya
(Sau khi cúng ở kho của Chau pô bri, ông này sẽ dẫn đám cúng gồm có những người đại diện của mỗi hộ, lần lượt đi cúng ở các kho khác trong khắp buôn Cũng làm gà, heo tùy theo khả năng của mỗi nhà Họ ăn cơm nếp do gia đình chủ kho nấu sẵn để dưới nhà kho Chau pô bri luôn luôn là người dẫn đầu đám cúng đi khắp vùng.)
- Sau đó, họ bắt đầu cho bảy ngày kiêng cữ kế tiếp, không được đi đâu, không được làm gì có tính cách lao động sản xuất Quan trọng nhất là ngày thứ ba và ngày thứ bảy (tức là ngày thứ mười và thứ mười bốn của Nhu R'he) Họ tin rằng đi làm việc trong hai ngày đó sẽ gặp xui, hoặc chặt cây sẽ chặt nhằm chân, đi rẫy thì sẽ gặp rắn, hổ
Lễ cúng thần rừng được thực hiện trước khi đi chọn rừng hoặc sau khi đi xem mảnh rừng đã phát (tùy từng địa phương), cả làng thực hiện tại nhà ông Châu quăng bon (người chủ làng), sau đó đồng bào về cúng riêng tại nhà mình Đồng bào ra chỗ rừng đã chọn, bẻ một nhánh cây nhỏ đem về nhà, cúng xong họ giắt
Trang 6nhánh cây ấy lên chỗ mái thờ trong nhà, mỗi khi dời nhà đều phải đem theo các thức ấy Lễ vật có rượu, gà, vịt
Ngoài ra, người Mạ còn có lễ cúng mừng sức khỏe Lễ cúng sức khỏe được tổ chức không theo một thời gian cố định, mà tùy theo người được mừng thọ và gia đình họ Tuổi được làm lễ mừng thọ thường trên 70, có khi thấp hơn, lễ to hay nhỏ tùy vào kinh tế gia đình Lễ thường được tổ chức vào thời điểm sau khi thu hoạch vụ mùa xong Nhờ đó mọi người có thời gian vui chơi ca hát, cồng
chiêng… Đa số lễ được tổ chức trong gia đình và khách mời là họ hàng, làng xóm Nghi thức lễ không thể thiếu già làng đến làm lễ
Trước ngày làm lễ, người chủ trong gia đình sẽ huy động con cháu chuẩn
bị những thứ cần thiết như gà, lợn, ché rượu cần, gạo nếp loại ngon nhất, rau rừng… để làm món ăn trong ngày cúng Sau đó, con cháu sẽ đi báo tin mời bà con, họ hàng trong buôn tham dự và mời già làng làm chủ lễ Bên cạnh những món ăn truyền thống như cơm lam, canh thịt, thịt nướng… trong ngày lễ không thể thiếu cây nêu được trang trí hình hài những loài chim, thú rất công phu… để thể hiện sự tôn nghiêm, tôn kính thần linh Lễ cúng được tổ chức ngay tại gia đình của những người được cúng mừng sức khỏe Ngoài ra, lễ này cũng được tổ chức chung cho cả buôn làng tại bến nước, đầu làng thành một lễ cúng lớn và trang trọng, cả buôn tham gia Trong ngày vui đó, tiếng chiêng, tiếng trống là món ăn tinh thần không thể thiếu Những bài chiêng nói về cuộc sống lao động, sự biết ơn các Yàng sẽ được thể hiện trong suốt ngày cúng
Trang 7Vào buổi lễ chính thức, bên cạnh cây nêu là những ché rượu cần được xếp hai bên con gà… Già làng thực hiện nghi lễ cầu nguyện, cám ơn Yàng (thần sông, thần núi, thần lúa…) đã mang lại ấm no hạnh phúc cho gia đình, tạ ơn Yàng đã ban cho những người được mừng tuổi, mong phù hộ họ sống lâu trăm tuổi… Sau lời cúng của già làng, cùng tiếng chiêng trống vang lên rộn rã, rồi thịt gà, heo được mang đến nướng sẵn sàng bên lửa hồng để bắt đầu đãi dòng họ, bà con trong buôn Tiếp nghi lễ cúng cầu Yàng, già làng tiến hành nghi thức trao vòng sức khỏe cho được mừng sức khỏe, đút nắm cơm nếp thơm, uống rượu cần ngon Cuối cùng, con cháu thực hiện các nghi lễ dâng mừng sức khỏe cho ba mẹ, ông bà, thể hiện sự biết ơn công lao của họ Trong ngày lễ, những người đến tham dự góp vui có những lễ vật của riêng mình như con gà, ché rượu, nếp thơm… để góp vào cuộc vui mừng cho chủ nhà Cuộc vui diễn ra cả ngày đêm, có khi kéo dài đến hai, ba ngày, cùng với tiếng chiêng trống, lời ca, điệu múa mừng chủ nhà… Hiện nay, Lễ cúng sức khỏe được tổ chức tập trung, thông thường được tổ chức từ các ngành văn hóa địa phương nên bà con tham dự chỉ để tái hiện lại tập tục đó
Để được các thần linh hài lòng và nâng đỡ, người Mạ thường tổ chức lễ hiến sinh vào dịp vui mừng như: cưới, hỏi, sinh đẻ, lên nhà mới, kết nghĩa anh em, sắm được tài sản quý (chiêng, ché, trâu, bò, ), và cả những dịp chẳng lành như: ốm đau, dịch bệnh, tang ma, thiên tại, hạn hán,
Như vậy, trong một chu kỳ sản xuất nông nghiệp, người Mạ đã tiến hành nhiều rất nhiều lễ nghi Một số đặc điểm chính của các lễ nghi này là:
- Tất cả những ngày cúng đều thống nhất, đồng loạt trong một buôn; nhưng không đồng loạt với các buôn, các vùng khác Điều này do vị trí địa lý, thời tiết và thời gian thu hoạch có xê xích nhau đôi ngày
- Lễ vật cúng tùy khả năng số súc vật mà mỗi gia đình có và cũng do kết quả vụ mùa thu hoạch được Thu hoạch khoảng bảy mươi đến tám mươi gùi lúa (gùi đơn vị
Trang 8có chu vi miệng gùi tám gang tay) sẽ cúng heo hay dê Trên một trăm gùi lúa thì cúng một con trâu
- Nơi cúng, đơn vị cúng đôi khi không thống nhất Có lúc cúng trong nhà và cả ngoài rẫy; có lúc chỉ cúng một nơi Có buôn làm lễ cúng chung cả buôn, có buôn chỉ cúng riêng từng gia đình một, gia đình nói ở đây có tính cách gia đình lớn bao gồm nhiều hộ nhỏ quan hệ thân thuộc Mỗi buôn thường chỉ có một đến ba đơn vị cúng là
nhiều Nếu gia đình cúng riêng, chủ tế là chủ nhà (Pô hiu) Khi cúng xong phải mời Tom Bri uống trước Cúng tập thể thì đầu heo dành cho chủ đất (Pô ụ).
Những năm gần đây, đa số các buôn đã bỏ bớt nhiều lễ, chỉ giữ lại một vài lễ cúng
quan trọng như yu tam nơm, yu tơrơ, yu R'he.
3, Tôn giáo tín ngưỡng:
Người Mạ quan niệm là có một thế giới siêu hình tồn tại ngoài thế giới hữu hình,
có khả năng và thường xuyên chi phối mọi hoạt động của họ trong đời sống hàng ngày Những tàn dư của tôn giáo nguyên thủy tồn tại khá đậm nét trong thế giới quan của người Mạ Do trình độ phát triển của xã hội còn thấp, lại thêm môi trường là một vùng cao nguyên mênh mông, núi rừng âm u, trùng điệp người Mạ tin ở vạn vật hữu linh
Các lực lượng siêu hình mà họ gọi chung là yang đều được quan niệm là các thần thiện Trái lại, các thần ác, ma quái được gọi là cha (hay chác).
Cũng như quan niệm của người Cơ ho, người Mnông láng giền và các dân tộc
khác ở Tây Nguyên, người Mạ coi yang Nđu là thần sáng tạo_vị thần tối cao Bao trùm
lên hệ thống thần linh trong tín ngưỡng dân gian người Mạ là các vị thần nông nghiệp,
trong đó quan trọng nhất là thần lúa (yang koi), thần rừng (yang bri), thần núi (yang be nơm), thần lửa (yang us)
Do trình độ dân trí còn thấp, nên người Mạ tin vào thần linh, do đó, họ tổ chức rất nhiều lễ cúng thần nông nghiệp để cầu mong cũng như để tạ ơn thần linh đã phù hộ cho
vụ cấy trồng trọn vẹn
Do xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, có vật lành, có vật dữ mà sinh ra có nhiều kiêng kỵ trong sản xuất, cũng như mọi sinh hoạt hàng ngày Như nhiều dân tộc ở Tây Nguyên, người Mạ e ngại nhất là nghe tiếng mang kêu Nghe tiếng kêu của con thú này, họ buộc phải dừng lại mọi hoạt động kể cả trong các trường hợp đang trên đường
đi xa, đang phát rừng làm rẫy, đốn cây về làm nhà, chọn đất để dời buôn đến, vì họ cho rằng nghe thấy tiếng kêu của con thú này sẽ mang lại nhiều sự rủi ro Những người
đi rừng cũng không dám tiếp tục công việc đang làm dở, mỗi khi họ bắt gặp dù chỉ một con trăn hay một con chồn từ trên cây nhảy xuống, hoặc nhìn thấy một giống khỉ ăn đêm
(đô gloh).
Gia tô giáo và đạo Tin Lành đã thâm nhập vào một số gia đình Mạ dưới thời Mỹ - Ngụy, song những giáo lý của phương Tây vẫn không làm thay đổi được thế giới quan
và nhân sinh quan truyền thống của người Mạ Họ vẫn thờ cúng thần nhà (yang hiu),
thần lúa, thần rừng và các thần linh khác trong tín ngưỡng cổ truyền
Trang 9Trong tâm thức của người Mạ, địa ngục, thế giới của sự chết chóc, là nơi mà mọi thứ đều đảo ngược với thế giới thật của người sống trên mặt đất Người Mạ không có tục thờ cúng đích danh tên tuổi của tổ phụ hoặc của những người đã chết; nhưng đối với tổ tiên họ có một sự tôn kính sâu xa, không nhắc đến tục danh khi nói chuyện thông thường Họ cũng biểu lộ sự mến tiếc bằng cách đặt lại cho trẻ mới sinh tên của người
đã mất Mỗi người có bổn phận phải nhớ cội nguồn của mình, biết rõ mình thuộc nhánh tông chi nào; khi tuổi đời ngày một cao họ xem đó như là một việc quan trọng của đời sống Người có uy tín đạo đức trong bộ tộc cũng thường là những người ghi nhớ rất rõ phổ hệ của dòng họ mình, họ có thể kể ra tên của từng cặp tổ phụ đến trên hai mươi đời
4, Văn hóa dân gian:
Tuy đã trải qua nhiều biến đổi của lịch sử, của các quá trình tộc người, song dân tộc Mạ vẫn lưu giữ được một kho tàng văn học – nghệ thuật dân gian khá phong phú và sống động
a Văn học dân gian:
Truyền thuyết và nhiều truyện cổ tích của người Mạ gắn liền với nhiều vùng đất đai, núi sông của xứ sở và còn gắn liền với mối quan hệ giữa các dân tộc ở trong vùng liên quan đến nạn hồng thủy, đến buổi khai thiên lập địa trên quê hương xứ
sở của người Mạ: “ Nước bắt đầu dâng lên từ sông Đạ Đơng rồi ngập hết cả vùng Đạ Lát (Đà Lạt), Di Linh, Blao (Bảo Lộc) trong số những người con gái Mạ còn sống sót sau tai họa khủng khiếp này thì K’Grúp lấy chồng người Chăm, K’Grun lấy người miền núi (chỉ người Cơ ho), còn cô gái M’Ho lấy chồng Gioan (người Việt) Đó là một trong số khá nhiều những truyền thuyết, những truyện cổ tích nói về buổi khai thiên lập địa trên xứ Mạ xưa, người Mạ có một thể loại cổ
tích bằng văn vần gọi là ya liau giống như khan (trường ca) của người Êđê.
Người Mạ còn có một thể loại văn học truyền miệng là những truyện rừng, truyện
về các con thú Đó là thể loại truyện cười, truyện ngụ ngôn, nhân cách hóa các con vật để nói về thế sự dười hình thức gây cười bằng ngôn ngữ bóng bẩy, hàm súc
Ở vùng Mạ cũng rất phát triển về thể loại tục ngữ, thành ngữ, những câu châm
ngôn xứ thế mà họ gọi là hdri Tất cả những câu châm ngôn, ngạn ngữ mang
nội dung về đạo đức, phong tục của dân tộc và các quan hệ xã hội khác của các làng xã Mạ được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được mọi người thừa nhận và làm theo và nó trở thành “tập quán pháp” của cả cộng đồng Thể loại văn học truyền miệng còn là nguồn tư liệu sử học, dân tộc học, luật học, xã hội học, tâm lý dân tộc học và mỹ học có giá trị to lớn
Một thể loại khác trong văn học truyền miệng của người Mạ cũng rất đáng yêu, đáng quý là những bài ca dao Người Mạ còn lưu giữ được nhiều bào ca dao cổ, phản ánh nhiều mặt sinh hoạt của con người xưa như: tình cảm, y phục, các hình thức cư trú, lao động sản xuất, Mỗi bài ca dao thường chỉ dài 5,6 đến không
Trang 10quá 20 câu Mỗi câu dài ngắn không theo quy tắc nào Song chỉ có quy tắc hiệp vần là chặt chẽ Cách hiệp vần phổ biến và là lõi sở trường trong ca dao người
Mạ là âm cuối cùng của câu trên bắt nhịp với âm tiết cuối của từ thứ nhất trong câu liền sau đó
Luật tục N'dri cũng là một sản phẩm văn học dân gian, gồm những câu nói có vần điệu, ý nghĩa của nó không bao giờ thay đổi Là những quy ước xã hội, và là di sản văn hóa tinh thần, luật tục này không phải là một bộ luật của hệ thống mà mang hình thức là những phương ngôn, ngạn ngữ được lưu truyền áp dụng thành quy tắc chung
Ngoài ra còn có thể thơ ca trào lộng có phần tục tính gọi là N' dri sơret Các anh chàng nghịch ngợm sử dụng loại "thơ chua" này để chọc ghẹo phái nữ hoặc đùa cợt những lúc ở không
Một khía cạnh nữa của văn vần dân gian Mạ là các lời tế thần trong các buổi lễ quan trọng: lễ đâm trâu, lễ mừng mùa gặt xong, Ngôn ngữ sử dụng để cầu khẩn thần linh thường là cổ ngữ, có thể gồm một số tiếng đã không còn dùng phổ biến hàng ngày Chỉ có những người lớn tuổi có trách nhiệm mới phải nhớ đến Những lời khấn thần, đôi khi ý nghĩa không hẳn là cầu xin mà là giao ước với thần linh về nhu cầu của con người Tình đoàn kết giữa các thành viên trong bộ tộc, mối liên hệ giữa các nhóm cư trú trong vùng, sự hỗ tương giữa tự nhiên và con người, cũng là tinh thần chính của mỗi lời văn tế
b Nghệ thuật dân gian:
Dân ca Mạ (tam pớt) đậm chất trữ tình, còn gọi là tình ca với lối hát giao duyên
của trai gái Tiêu biểu là thiên trường ca của cộng đồng nói về nàng Kơ Yal và nàng Ka Oông như là một biểu tượng đẹp đẽ của tình yêu chung thủy
Dân ca Mạ thường đi đôi với nhạc cổ để tăng thêm sức truyền cảm của những
điệu tam pớt Nhạc cụ truyền thống của người Mạ chủ yếu là bộ chiêng đồng gồm
có 6 chiếc to nhỏ khác nhau và đều không có núm Khi hòa tấu chiêng thường có trống đánh giáo đầu, giữ nhịp và đổ hồi trước khi kết thúc Chiêng sử dụng vào các lễ đâm trâu hoặc hội mùa