Bên cạnh đó họ còn biết tận dụng đất soi bãi, trồng bông, các loại rau mầu như: bí, gừng, lạc, khoai tây… * Chăn nuôi Để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm sức kéo và phân bón…các hộ gia đình
Trang 1Then Tày- nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của dân tộc Tày xã Dương Quang thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
I. KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở XÃ DƯƠNG QUANG
1 Khái quát về người Tày ở Dương Quang
a Đặc điểm tự nhiên, xã hội, địa bàn cư trú
Dương Quang là một xã nằm trong địa giới hành chính của thị xã Bắc Kạn, nằm ở phía Tây Bắc và cách trung tâm thị xã Bắc Kạn khoảng 7km; xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 2593,7ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 480ha, diện tích đất lâm nghiệp 875ha, diện tích đất rừng là 1137,7ha , diện tích đất khác
là 101ha Cả xã gồm 757 hộ, dân số là 2903 người Phía Tây giáp với xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông; phía Bắc giáp phường Minh Khai thị xã Bắc Kạn; phía Nam giáp phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn; phía Đông giáp phường Đức Xuân, thị xã Bắc Kạn
Địa hình xã Dương Quang chia làm hai khu vực tương đối phức tạp, vùng đồi núi có độ cao trung bình 150 - 350m có độ dốc khá lớn Nằm xen giữa các dãy núi
là những thung lũng và những cánh đồng lúa, bãi soi dọc hai bên sông Mạng lưới sông suối phân bố khá đồng đều, gồm hai con sông lớn là sông Cầu, sông Nặm Cắt
và nhiều con suối nhỏ khác Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu đồng áng, vận chuyển hàng hóa, phát triển thủy điện Những con những cánh đồng lúa, những bãi soi ven sông tạo cho nơi đây trở thành một mảnh đất trù phú, phì nhiêu Dương Quang thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa tuần hoàn theo bốn mùa rõ rệt nhưng nổi bật nhất là mùa hạ nóng nực, nắng lắm mưa nhiều và mùa đông khô
Trang 2hanh lạnh lẽo bởi gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ trung bình năm từ 200 - 220C, mùa
hạ từ 260 - 280C Lượng mưa trung bình năm khá lớn từ 1000mm đến 1500mm Mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3
Dương Quang gồm 4 dân tộc anh em cùng sinh sống là Tày, Kinh, Nùng, Dao Trong đó dân tộc Tày chiếm số dân đông nhất trong xã, sống tập trung thành các làng bản tập trung ven các con sông, thung lũng Các dân tộc anh em ở đây qua bao thế hệ đã chung sống hòa thuận, tôn trọng và giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển
b Đặc điểm đời sống kinh tế, mưu sinh
Kinh tế truyền thống của người Tày là nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa nước, sau nữa là chăn nuôi, thu hái lâm thổ sản và làm thủ công gia đình
* Trồng trọt
Người Tày gọi ruộng là nà, họ canh tác trên các thửa ruộng bậc thang nằm xen ở các khe suối, thung lũng, những cánh đồng lúa ở lưu vực các con sông Cầu, sông Nặm Cắt… đây là những khu vực thuận tiện, đảm bảo nguồn nước tưới tiêu cho sản xuất Dẫn nước tưới là các công trình thủy lợi - những con mương dài, phai đập, hay những máng tre, mai dẫn nước vượt qua những khe sâu Ngoài ra người Tày nơi đây còn có tập quán canh tác nương rẫy, trồng them lúa nương, ngô, đỗ, khoai sắn…nhằm tăng sản lượng hoa màu Bên cạnh đó họ còn biết tận dụng đất soi bãi, trồng bông, các loại rau mầu như: bí, gừng, lạc, khoai tây…
* Chăn nuôi
Để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm sức kéo và phân bón…các hộ gia đình người Tày nơi đây đều chăn nuôi một số loại gia súc, gia cầm thích hợp với điều kiện và khả năng Trong đó trâu, lợn, gà, vịt, cá là những loại vật nuôi phổ biến nhất của mọi gia đình Ngoài ra một số hộ gia đình còn nuôi ong lấy mật, đõ nuôi ong được làm từ những than cây rừng rỗng ruột
Trang 3* Nghề thủ công gia đình
Nghề thủ công của người Tày khá đa dạng và phong phú như: kéo sợi, dệt vải, đan chài lưới, làm ngói đất lợp nhà, làm cối xay, làm chõ nấu rượu, chõ đồ xôi… Hầu hết các hộ gia đình đều tự tranh thủ thời gian nông nhàn để đan lát, làm những vận dụng thông thường với nhiều hình thức và kiểu cách như: phên, giần sàng, nong nia, dậu gánh, ki gánh phân, giỏ đựng cá, lồng gà…Một số người có trình độ cao hơn tinh thông nghề sắt làm dao, cuốc, thuổng…
c Đặc điểm xã hội truyền thống
* Gia đình:
Trước đây do đông con, tập quán hoặc do hoàn cảnh kinh tế phổ biến kiểu gia đình đông thành viên, có những gia đình 15 - 16 người Hiện nay gia đình người Tày thuộc loại gia đình nhỏ, phụ quyền thường có hai đến ba thế hệ gồm ông bà, cha mẹ, con cháu khoảng 4 đến 8 thành viên Người chủ gia đình là người chồng, người cha Họ là người có vai trò quyết định việc tổ chức sản xuất cũng như điều hòa các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội Trong gia đình việc lao động luôn được các thành viên tự giác thực hiện theo lứa tuổi và giới tính Tuy là gia đình phụ quyền nhưng trong gia đình người phụ nữ vẫn có vai trò khá quan trọng
* Dòng họ:
Mỗi dòng họ thường sống tập trung trong một bản, sau do phát triển kinh tế văn hóa và hôn nhân mà có thêm nhiều họ khác đến cư trú Trong mỗi họ đều có chi trưởng, chi thứ; họ có vai trò quan trọng trong công việc của dòng họ Họ là người tham gia chủ trì các đám cưới, đám ma, chia gia tài, hòa giải mâu thuẫn trong dòng họ với các họ khác Người trong dòng họ luôn coi nhau như anh em ruột thịt, giúp đỡ nhau trong khó khăn, hoạn nạn, cưu mang lẫn nhau Mọi việc liên quan đến các thành viên trong dòng họ đều được đem ra bàn bạc hoặc chứng kiến
Trang 4Người Tày không có nhà thờ họ, không tổ chức cúng lễ chung tại nhà trưởng
họ nhưng đối với những mộ tổ chung con cháu đều đến thăm nom và tảo mộ Điều
đó thể hiện ý thức về cội nguồn dân tộc, về gia đình dòng họ
d Đặc điểm văn hóa tộc người
- Đặc điểm văn hóa vật chất
* Nhà cửa: Nhà sàn là ngôi nhà truyền thống của người Tày ở Dương Quang.
Ngôi nhà là nơi diễn ra tất cả các sinh hoạt trong cuộc sống thường ngày cũng như các hoạt động văn hóa tín ngưỡng khác Sở dĩ nhà sàn được ưa chuộng ở đây là đồng bào cư trú ở vùng núi rậm rạp, với lối kiến trúc độc đáo của ngôi nhà sàn thích hợp với địa bàn cư trú, chịu được tác động của thời tiết mưa nắng, độ ẩm cao; tránh các loại côn trùng, rắn, thú dữ…Nguyên liệu làm nhà từ những vật dụng đơn giản, lấy từ tự nhiên như: gỗ, tre, nứa, lá cọ…Mặt sàn được dát bằng tre, vầu hoặc
gỗ xẻ; xung quanh được quay bằng ván hoặc vách đan từ nứa Trong nhà thường ngăn ra nhiều buồng để ngủ hay để thóc lúa; giữa nhà có bếp lửa để đun nấu, sưởi lửa và là nơi thờ vua bếp
* Trang phục: Người Tày xưa mặc quần áo chàm Phụ nữ mặc áo dài năm
thân cài cúc cổ và nách bên phải, áo dài tới đầu gối, quần dài tới mắt cá chân, thắt lưng quấn ngang eo buông dải dài sau lưng, đầu vấn khăn mỏ quạ Trang phục của người Tày thường được cắt may rất đơn giản, không trang trí hóa văn Trang sức chủ yếu được làm bằng bạc như: vòng cổ, vòng tay, dây xà tích Trang phục nam giới có áo, quần, mũ nồi Áo của năm giới là áo ngắn được may ghép bốn thân, hai thân trước và hai thân sau, xẻ ngực, hai hàng cúc áo làm bằng vải, cổ tròn dựng đứng Ngày nay người Tày nơi đây ăn mặc đơn giản hơn như áo bà ba, áo sơ mi các kiểu, quần âu, những bộ quần áo chàm chỉ còn ở những bản hẻo lánh xa xôi và được mặc nhiều vào các dịp lễ hội
* Đồ ăn uống, hút:
Trang 5Nguồn lương thực, thực phẩm chính của đồng bào Tày ở Dương Quang là những sản phẩm từ chính những hoạt động sản xuất Đó là gạo, ngô, khoai, sắn, đậu…và các loại rau củ quả do trồng hoặc hái được trong rừng, các loại thủy sản như: tôm, cua, ốc, cá…
Hàng ngày người Tày ăn hai bữa chính là bữa trưa và bữa tối Tùy từng ra đình có thể ăn thêm bữa phụ vào sáng và chiều Đây thường là thức ăn còn dư lại
từ bữa trước, ai có nhu cầu thì ăn chứ không dọn ra thành mâm Ngoài những bữa cơm tẻ gia đình người Tày vẫn thường nấu cơm nếp, đồ xôi và làm các loại bánh như: bánh chưng, bánh gio, chà lam, khẩu thi…vào các dịp lễ tết Thức uống thông dụng của người Tày là nước đun sôi để nguội, nhiều khi đi làm xa thì uống nước khe suối Trong gia đình còn uống nước chè, nước các loại cây dây leo mọc tự nhiên trong rừng, đây vừa là thức uống vừa là một vị thuốc rất tốt
- Đặc điểm văn hóa tinh thần
* Tiếng nói, chữ viết: Trong toàn xã người Tày là tộc người có số dân đông
nhất và cư trú ở hầu hết các thôn Chính vì lý do đó mà tiếng Tày được sử dụng như một ngôn ngữ phổ thông So với các anh em khác ở đây người Tày có thể tự hào về sự phong phú và đa dạng trong vốn từ vựng của dân tộc mình Tuy nhiên trải qua quá trình phát triển việc sử dụng tiếng Tày đang có xu hướng thu hẹp dần thay vào đó là ngôn ngữ phổ thông Hiện nay có không ít người Tày nhưng không biết sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình
Trước đây chữ Nôm Tày chỉ được sử dụng trong tầng lớp những gia đình khá giả thời Bắc thuộc, hoặc những lớp người dòng dõi nho học; dòng dõi làm thầy cúng Cho đến nay công tác sưu tầm để có được một bản ghi chép đầy đủ chữ Nôm Tày về quy trình làm Then, về lời hát Then cổ hầu như chưa có Qua khảo sát trên địa bàn xã và một số huyện trong tỉnh những thầy Then, cũng như lớp người cao tuổi biết chữ Nôm Tày rất ít
Trang 6* Tín ngưỡng tôn giáo: Nghi lễ và phong tục của người Tày hết sức phong
phú và đa dạng, điều này xuất phát từ tín ngưỡng văn hóa dân gian của dân tộc Người Tày Dương Quang ảnh hưởng mạnh và tiếp thu những yếu tố của Đạo giáo, Phật Giáo, Nho giáo; tuy nhiên tôn giáo khi du nhập vào đây không còn giữ được nguyên gốc nữa mà đã bị dân gian hóa hòa quyện với tín ngưỡng dân gian nơi đây Đồng bào Tày cũng có quan niệm về vạn vật hữu linh; coi trọng sự che chở của tổ tiên, thổ địa, thành hoàng…Đối với dân tộc Tày việc thờ cúng tổ tiên là quan trọng nhất Theo quan niệm của họ ông bà, cha mẹ sau khi chết linh hồn được siêu thoát và lên sống ở trên trời Do đó con cháu phải lập bàn thờ ở trong nhà để cúng, hàng năm làm lễ cúng giỗ người đã khuất, mời tổ tiên về chứng giám, nhận
lễ vật và phù hộ cho con cháu được khỏe mạnh, làm ăn phát đạt Bên cạnh việc thờ cúng tiên người Tày còn thờ cúng thần nông, thần bếp lửa, thờ tổ sư, thờ bà mụ… Theo họ đây đều là những vị thần có sức mạnh bảo trợ cho sự bình yên của gia đình và dân làng
* Văn học nghệ thuật: Dân tộc Tày ở Dương Quang có một kho tàng văn học
nghệ thuật hết sức phong phú đa dạng Hiện nay còn rất nhiều câu chuyện dân gian được lưu truyền, nội dung của các câu chuyện phản ánh về cuộc sống của cư dân nông nghiệp nơi đây; ca ngợi cuộc sống bình yên, âm no, phê phán sự lười biếng, gian ác, bất công…
Sinh hoạt văn hóa văn nghệ cũng vô cùng độc đáo với các thể loại ca hát như: Phong Slư, Sli, Lượn, Then…Những lời ca tiếng hát là cầu nối gắn kết người dân lại gần nhau và trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của họ Những lời hát vang lên trong những buổi lao động, những buổi lễ hội, những phiên chợ vùng cao như những lời tâm tình, tiếng nói của tâm hồn Ngoài ra người Tày còn có những bài hát quan lang trong đám cưới, những bài ca nghi lễ trong đám ma…
Trang 7* Lễ hội truyền thống: Tết Nguyên Đán là tết lớn nhất trong năm của người
Tày nơi đây Đây là dịp để con cháu sum họp quây quần bên gia đình Và cũng là dịp để con cháu thể hiện sự biết ơn, hiếu thảo với ông bà cha mẹ qua mâm cúng tổ tiên và những lời chúc tụng nhau nhân dịp đầu xuân năm mới Ngoài ra trong năm người Tày còn rất nhiều lễ tết khác như: Tết Thanh Minh, tết Đoan Ngọ, rằm tháng Bảy…
Lễ hội truyền thống lớn nhất của người Tày là hội lồng tồng Phần lễ bao gồm các hoạt động dâng mâm lễ cúng Thần Nông cầu cho mùa màng bội thu, làng bản
an cư lập nghiệp Sau nữa là phần hội với các trò chơi dân gian như tung còn, kéo
co, đánh yến…Hội Lồng Tồng cũng là dịp để các đôi trai gái tìm đến hò hẹn, gặp
gỡ giao lưu tâm tình
II THEN TÀY – NÉT SINH HOẠT VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO
1 Các hình thức thể hiện của Then Tày
Người Tày ở Dương Quang đến với Then, hâm mộ Then không hoàn toàn vì
là mê tín, tin vào ma quỷ, thần phật mà còn vì những lời ca, điệu hát của Then gần gũi với cuộc sống tâm tư tình cảm của họ Đến với Then, người Tày như đến với một hình thức văn nghệ đầy vui tươi và cuốn hút Vì yêu Then, say mê Then nên người dân Tày Dương Quang rất hay làm Then, Then bao quát nhiều lĩnh vực trong đời sống của người Tày Người ta làm Then cầu mong những điều tốt đẹp, may mắn sẽ tới với cả gia đình mình, làm Then khi ốm đau, làm Then khi vui (đám cưới, mừng thọ, chúc mừng năm mới ), làm Then khi buồn (đám ma) Then có thể làm vào bất cứ thời gian nào trong năm nhưng đặc biệt là vào dịp cuối năm, đầu xuân năm mới hay những khi vụ mùa rảnh rỗi Nhìn chung các hoạt động sinh hoạt Then của người Tày ở Dương Quang rất phong phú và đa dạng, ta có thể kể đến một số hình thức sinh hoạt Then tiêu biểu ở đây như:
- Then cấp sắc (Lẩu Then): Đây là cuộc đại lễ của nhà Then Người làm Then
cứ 3 đến 5 năm tổ chức một lần (hoặc có thể không theo kỳ hạn vì phụ thuộc vào
Trang 8hoàn cảnh kinh tế) Nhà Then đem lễ vật gồm hương, hoa, trà, rượu, vàng, bạc, châu báu, bánh trái đến dâng Ngọc Hoàng để thỉnh cầu nhà vua phong cấp cho Then Chức vị của Then được thể hiện ở dải dây gắn ở mũ và dây ở chùm xóc nhạc, mỗi dây là một cấp bậc của Then Sau lễ cấp sắc thầy Then sẽ được gắn thêm một dải dây ở mũ và chùm xóc nhạc
Ngày Lẩu Then được coi như ngày hội gồm 5 đến 7 thầy Then cùng tham gia đàn, hát, cúng tế Đây là cuộc Then với các chương đoạn dài nhất, phong phú nhất
và cũng được diễn xướng một cách độc đáo nhất từ phần lời ca, đàn, hát, múa, trang trí, các trò diễn Ngày lễ này thu hút rất nhiều bà con hàng xóm, con cháu
gần xa đến dự xem rất đông Thầy Then làm Lẩu Then càng nhiều lần thì chức tước
càng cao, càng có uy tín và quyền hạn được mọi người tin tưởng
- Then nghi lễ đám ma (Thấy phi): Đây là một cuộc Then tương đối lớn, kéo
dài Khi trong nhà không may có người mất thì người Tày sẽ mời thầy Then đến làm lễ để chiêu hồn người chết, làm cho linh hồn được siêu thoát Vì theo quan niệm của người Tày là khi mỗi người chết đi thì linh hồn sẽ rời khỏi thể xác và đi lang thang chứ chưa biết tìm lối đi để siêu thoát Cuộc Then này kéo dài từ khi người chết nhập quan tới sau khi đưa ma Sau cuộc Then, người nhà sẽ cảm thấy thanh thản hơn vì đã làm tròn nghĩa vụ với người chết, yên tâm vì linh hồn người chết đã tìm được nơi yên nghỉ
- Then nối số (tau slổ, hắt khoăn): Trong đời sống tâm linh của người Tày, số
mệnh con người đều do các thần linh cai quản Ngọc Hoàng là vị vua có quyền lực tối cao nhất cai quản cả ba cõi: Cõi âm, Cõi trần, Cõi trời; có quyền quyết định vận mệnh và cuộc sống của con người Mỗi người từ khi sinh ra mệnh dài hay ngắn đều được quyết định và ghi sẵn trong sổ của Diêm Vương - vị vua cai quản cõi âm
Do vậy, người Tày làm lễ Then này nhờ thầy Then đem quân tướng lên xin với Diêm Vương và tâu lên Nam Tào, Bắc Đẩu để mong có sức khỏe và sống lâu hơn Ngoài ra lễ Then còn được tổ chức với mục đích mừng thượng thọ ông bà để ông
Trang 9bà luôn mạnh khỏe và sống lâu đồng thời thể hiện sự biết ơn của con cháu đối với công lao của ông bà, cha mẹ
- Then chữa bệnh: Người Tày quan niệm rằng khi người chết, người ốm do
không hiểu nguyên nhân gây bệnh họ cho là do thần linh, ma quỷ làm hại hay do hồn vía hoảng sợ, giật mình trước một hiện tượng bất ngờ nào đó ập đến làm hồn vía lìa khỏi xác Khi một người trong gia đình bị ốm người nhà sẽ đến nhờ Then xem người ốm vì nguyên nhân gì và xem quyết định đón Then về làm lễ để thương lượng với các thần linh, trấn át quỷ thần, sai khiến âm binh đi tìm vía tìm lại vào thể xác cho người ốm khỏi bệnh Sau cuộc Then, người bệnh sẽ thấy tâm hồn thanh thản vì họ cảm thấy mình đã được thần linh che chở, phù hộ Đây là cách chữa bệnh bằng phương thuốc tinh thần của người Tày
- Then cầu an: Lễ Then này có thể được tổ chức vào bất kỳ thời gian trong
năm khi gia chủ thấy cần thiết Nhưng phổ biến nhất là sau tết Nguyên Đán từ tháng Giêng cho tới tháng Ba đầu xuân năm mới Đây là một loại hình Then rất phổ biến Có thể chỉ do một giấc mơ không lành hay chồn, cáo, rắn, rết vào trong nhà; gia đình gặp chuyện không may, hao tốn tiền của, tai nạn Họ đều đón Then đến để làm lễ cầu an, giải hạn để cầu mong ta qua nạn khỏi, cầu mong những điều bình an, may mắn đến với gia đình Lễ Then được tổ chức khiến cho người Tày luôn cảm có cảm giác yên tâm vì đã dâng lễ và được thần linh che chở, phù hộ Tùy theo yêu cầu của từng gia đình mà lễ cầu an và giải hạn có thể được kết hợp hoặc tách riêng ra
- Then cầu hoa, cầu tự (Hắt Bjoóc ma): Những đôi vợ chồng mới cưới, những
gia đình hiếm muộn về đường con cái họ hay đón Then đến làm lễ Họ hy vọng rằng Then đàn, hát cầu xin với Hoa Vương Thánh Mẫu - nữ thần trông coi về tình yêu, hoặc muốn con cái khỏe mạnh Người Tày cho rằng những đứa con sinh ra đều là sản phẩm của mười hai bà mụ tạo thành Mười hai bà mụ đó mỗi người chịu trách hạnh phúc con cái của thiên hạ Họ cho rằng bà mụ luôn che chở, dạy dỗ cho
Trang 10những đứa trẻ mới sinh cách ăn cách nói, cũng như tính cách và sự khôn ngoan đều
do bà mụ quyết định Bà còn có một vườn hoa vàng, hoa bạc, hoa vàng là con trai, hoa bạc là con gái Những gia đình nào đã được bà ban cho hoa thì xin bà giúp cho đứa trẻ hay ăn chóng lớn, khỏe mạnh nên người
2 Then trong đời sống người Tày ở Dương Quang
Then phổ biến rộng rãi trong các làng bản người Tày, ở đâu có làng bản của người Tày là ở đó có sự hiện hữu của Then Dương Quang vốn là mảnh đất sinh tụ của phần đông dân tộc Tày qua bao thế hệ chính vì thế ở mảnh đất này Then được phổ biến rộng rãi sâu rộng Về nguồn gốc của Then ở Dương Quang không ai biết chắc chắn thời gian Then xuất hiện ở nơi đây Mọi người đều nói rằng khi mình sinh ra đã được nghe tiếng đàn Then rồi Then đã gắn bó với người Tày từ xa xưa,
tự bao giờ Then đã gắn bó với đời sống tâm linh, tâm tư, tình cảm trở thành một nét văn hóa của người Tày Dương Quang nói riêng, của Bắc Kạn nói chung
Then là loại hình cúng bái phổ biến, ưa thích và lâu đời của người Tày Dương Quang, Then giữ một vị trí không thể thiếu trong đời sống tâm linh của dân tộc Tày nơi đây Họ tin và tôn thờ thần phật, vì vậy họ cúng lễ cầu khẩn thần phật mong muốn có thể đạt được nguyện vọng của mình Tuy nhiên, việc cúng bái trong Then không nặng nề như trong Tào mà mang tính chất văn nghệ với là những bài hát mang tính tự sự Với quan niệm thần linh là người điều khiển mọi hoạt động tối cao của con người, việc làm Then đã đáp ứng về mặt tinh thần trong đông đảo quần chúng nơi đây
Ở Dương Quang hầu hết những người chuyên làm nghề Then là đàn ông, gọi
là những thầy Then Khi muốn làm lễ Then người Tày đến nhà thầy Then định ngày, chọn ngày lành tháng tốt và đặt lễ trước, chuẩn bị lễ theo yêu cầu của thầy Then Đến ngày hẹn họ đến đón Then về nhà để thực hiện các nghi lễ Trước bàn thờ tổ tiên với khói hương nghi ngút và mâm lễ đầy đủ thầy Then giống như sứ giả làm cầu nối giữa người âm với người dương, người trần tục và thần thánh Then trò