Đời sống văn hóa ở một số nơi chưa thật sự lành mạnh, chưa thật sự trở thành sức đề kháng mạnh mẽ trong quá trình giao lưu và hội nhập; đồng bào các dân tộc thiểu số ít có cơ hội để sáng
Trang 1
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Báo cáo tổng kết đề tài
Thực trạng hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa-tinh thần
các dân tộc thiểu số tây nguyên
6963
28/8/2008
hà nội – 2008
Trang 2MỤC LỤC
trang
Chương I: HƯỞNG THỤ VÀ SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN
HÓA TINH THẦN - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
1.1 Bản chất của hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa
1.2 Nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa trong
1.2.2 Sự đa dạng trong nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo ra
1.3 Xây dựng đời sống văn hóa để nâng cao cơ hội hưởng
thụ và sáng tạo giá trị văn hóa tinh thần của đồng bào
1.3.1 Xây dựng đời sống văn hóa - một đòi hỏi thiết thực
HÓA TINH THẦN Ở TÂY NGUYÊN - THỰC
2.1.3 Văn hóa cồng chiêng - "linh hồn" của đời sống văn
2.2 Thực trạng hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa
2.2.1 Hoạt động của các loại hình văn hóa mới (văn hóa hiện
đại) nhằm đưa những thành tựu, giá trị của văn hóa
Trang 32.2.2 Thực trạng sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa
2.3 Đánh giá chung về những thành tựu và hạn chế trong
quá trình hưởng thụ và sáng tạo văn hóa tinh thần của
2.4 Những vấn đề cấp thiết đang đặt ra trong quá trình
nâng cao cơ hội hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn
Chương III: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO CƠ HỘI HƯỞNG THỤ VÀ SÁNG TẠO CÁC
3.1.1 Một số dự báo về nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn
3.1.2 Một số định hướng cơ bản về xây dựng đời sống văn
hóa nhằm nâng cao cơ hội và hưởng thụ và sáng tạo
3.2 Những giải pháp nâng cao cơ hội hưởng thụ và sáng tạo
3.2.1 Xây dựng, nắm bắt nhu cầu, thị hiếu văn hóa nhằm
3.2.2 Tăng cường các hoạt động văn hóa nhằm đáp ứng
3.2.4 Xây dựng và phát huy vai trò các thiết chế văn hoá cơ sở 98
3.2.5 Phát huy dân chủ trong quá trình hưởng thụ và sáng
3.2.6 Kế thừa, phát huy và phát triển các giá trị di sản văn
3.2.7 Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ
các dân tộc thiểu số để sáng tạo nhiều hơn các sản
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa trong quá trình CNH,
HĐH hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đây chính
là quá trình tăng cường, củng cố và bồi đắp nền tảng tinh thần của xã hội, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa vừa tạo ra sức đề kháng chống lại những tiêu cực trong quá trình hội nhập và giao lưu văn hóa hiện nay Cùng với việc xây dựng nền tảng, củng cố truyền thống văn hóa, xây dựng đời sống văn hoá cở
sở còn tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường củng
cố tính thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam anh em Đây là một quá trình lâu dài nhưng phải thật sự bền bỉ để đưa văn hóa thấm sâu vào trong đời sống xã hội, tạo dựng nên môi trường văn hóa lành mạnh để phát triển bền vững
Là địa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh vừa là vùng văn hoá đặc sắc của nước ta, từ khi đổi mới đến nay, đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của các dân tộc ở Tây Nguyên đã có nhiều
phát triển Đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng có cơ hội nhiều hơn
trong việc hưởng thụ các thành tựu về kinh tế, văn hóa, đặc biệt là về giáo dục, y tế cũng như sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới Tuy nhiên do điều
kiện lịch sử cũng như những hạn chế trong quá trình triển khai các chính sách
mà khoảng cách giàu nghèo vẫn chưa được rút ngắn, đặc biệt là khoảng cách hưởng thụ các giá trị văn hóa Đời sống văn hóa ở một số nơi chưa thật sự lành mạnh, chưa thật sự trở thành sức đề kháng mạnh mẽ trong quá trình giao lưu và hội nhập; đồng bào các dân tộc thiểu số ít có cơ hội để sáng tạo ra các sản phẩm, giá trị văn hoá mới Lợi dụng một số hạn chế này, các thế lực thù địch đã lấp vào khoảng trống văn hóa đó những yếu tố văn hóa ngoại lai, không lành mạnh lôi kéo đồng bào xa rời truyền thống văn hóa dân tộc, thậm chí kích động ly khai, gây ra bất ổn chính trị
Trang 5Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Thực trạng hưởng thụ và sáng
tạo các giá trị văn hóa tinh thần các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên" để
đánh giá thực trạng hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trong thời gian; phân tích những nguyên nhân, những bài học kinh nghiệm đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm tạo cơ hội nhiều
hơn cho việc hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hoá góp phần vào sự
nghiệp xây dựng đời sống văn hóa cở sở ngày càng lành mạnh đồng thời tạo
ra sức mạnh, tinh thần gắn kết cộng đồng để đấu tranh chống lại âm mưu các
thế lực thù địch Chính vì vậy mà việc triển khai đề tài sẽ mang ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu
Văn hóa Tây Nguyên từ trước đến nay đã được nhiều nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước rất quan tâm Các công trình nghiên cứu này thường tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như dân tộc học, văn hóa dân gian, văn hóa học, xã hội học để tiếp cận chuyên sâu ở một lĩnh vực nhỏ nào đó
Vào tháng 4 năm 1995 tại tỉnh Gia Lai đã diễn ra hội nghị hay hội thảo về
“công tác văn hóa thông tin ở cơ sở” trong đó có tập trung đề cập về vấn đề
xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tuy nhiên đây là tập hợp những bài viết của nhiều tác giả nên tính hệ thống chưa cao Cũng đề cập đến vấn đề này, Bộ Văn
hóa - Thông tin và Vụ Văn hóa Dân tộc - Miền núi cho ra đời công trình "Xây
dựng đời sống văn hóa ở các tỉnh phía Nam" do Nxb Văn hóa dân tộc ấn hành
Công trình "Văn hóa Tây Nguyên - thực trạng và những vấn đề đặt ra" do
GS.TS Trần Văn Bính chủ biên (Nxb CTQG Hà Nội 2004) đã đề cập một số
khía cạnh về thực trạng văn hóa Tây Nguyên; Hội thảo khoa học Bảo tồn và
phát huy văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên vào tháng
10/2007 tại Buôn Ma Thuột… Tuy nhiên công trình này phần lớn chỉ đề cập đến đời sống văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở chứ chưa đi sâu vào đánh giá thực trạng hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của các dân tộc thiểu số
Ngoài ra, trong những năm gần đây trên các tạp chí Cộng sản, Văn hóa
nghệ thuật, Tư tưởng văn hóa, Lý luận chính trị, Sinh hoạt lý luận có nhiều
bài viết xoay quanh vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở Tây Nguyên như
Trang 6"Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở Kon Tum", "Mấy suy nghĩ về bảo tồn và
phát huy giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Tây Nguyên", "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên" của TS Nguyễn Ngọc Hoà; "Về vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở" của TS Nguyễn Hữu Thức
Tất cả những công trình trên tuy mới chỉ khai thác ở một số bình diện nhất định nhưng là những cứ liệu quý giá để tiếp tục nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên Kế thừa những công trình này, tác giả muốn khai thác kỹ hơn về quá
trình hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên với mong muốn nhận diện, đánh giá lại quá trình hưởng thụ và sáng tạo
văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số, trong đó có phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở kể từ khi có Nghị quyết TW V (khoá VIII) đồng thời đề xuất những giải pháp tiếp tục tạo cơ hội nhiều hơn trong việc hưởng thụ và sáng tạo văn hóa ở Tây Nguyên hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu:
- Trên cơ sở khảo sát, đánh giá, đề tài phân tích thực trạng sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần đồng thời xác định rõ những thành tựu
và hạn chế, nguyên nhân và kinh nghiệm trong quá trình nâng cao cơ hội
hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần ở Tây Nguyên trong
thời gian qua
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao cơ hội hưởng thụ và sáng tạo
các giá trị văn hóa trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở Tây Nguyên
trong thời gian sắp đến
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được triển khai trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngoài những phương pháp chung, phổ biến trong nghiên cứu lý luận văn hóa, văn hóa học, đề tài còn sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, phỏng vấn, đối thoại, toạ đàm đồng thời kế thừa kết quả các công trình có liên quan
Trang 75 Phạm vi nghiên cứu
Văn hóa Tây Nguyên nói chung và vấn đề hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần nói riêng về cơ bản là khá rộng Trong giới hạn của kinh
phí và thời gian nhất định, nội dung đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng
hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Xuất phát từ mục tiêu này mà địa bàn khảo sát của đề tài tập trung
vào đối tượng nghiên cứu là đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc thiểu số bản địa Chính vì vậy mà ngoài những đánh giá chung nhóm đề
tài chủ yếu tập trung khảo sát ở các huyện miền núi có tỷ lệ dân tộc thiểu số
khá cao ở các tỉnh Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum…
Ngoài ra, những kết quả từ công trình sẽ là nguồn tài liệu cần thiết trong nghiên cứu, giảng dạy ở các viện nghiên cứu, các trường đại học trong nước
và khu vực, đặc biệt là trên địa bàn Tây Nguyên
7 Kết cấu của đề tài
Với những mục tiêu như vậy nội dung của đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu đề tài gồm có 3 chương như sau:
Chương I Hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa - những vấn đề lý
luận và thực tiễn
Chương II Hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa ở Tây Nguyên -
thực trạng và những vấn đề đang đặt ra
Chương III Những định hướng và giải pháp nâng cao cơ hội hưởng thụ và
sáng tạo các giá trị văn hóa ở Tây Nguyên
Trang 8CHƯƠNG I
HƯỞNG THỤ VÀ SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH THẦN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Bản chất của hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là lĩnh vực vô cùng rộng lớn và sự thẩm thấu của văn hóa trong đời sống xã hội đã nói đến chức năng, vai trò to lớn của văn hóa trong lịch sử Năm 1871 định nghĩa đầu tiên của E Tylor về văn hóa được xem như là cột mốc đánh dấu sự sinh thành của một ngành học Cách tiếp cận của Tylor xem văn hóa như là những gì mà con người làm ra với tư cách là một thành viên của xã hội Sau này các định nghĩa theo thời gian mà trở nên nhiều hơn Nhiều nhà nghiên cứu đã thống kê hiện nay văn hóa đã có gần 1000 định nghĩa Trên Google hiện nay có khoảng 9.390.000 tài liệu đề cập đến vấn đề này trong đó có gần 500 định nghĩa về văn hóa1
Dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung, khi nói đến văn hóa là nói đến những gì con người làm ra để đáp ứng nhu cầu của con người Nhà triết học người Pháp T.Chardin xem văn hóa là “tri quyển” để phân biệt với “sinh quyển” là cái tự nhiên Quan niệm Mác xít xem văn hóa như là
“thiên nhiên thứ hai” do con người sáng tạo nên Chủ tịch Hồ Chí Minh thì xem văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người “Vì lẽ sinh tồn và mục đích của cuộc sống mà loài người mới sáng tạo và phát minh
ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức
sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”2 Ngược về
2
Trang 9lịch sử, quan niệm Phương Đông xem văn hóa như là một quá trình đưa những gì tốt đẹp vào cuộc sống để quản lý và phát triển xã hội Thuật ngữ
“văn trị giáo hóa” có từ rất xa xưa xem văn hóa như là cái không thể thiếu được trong lãnh đạo, quản lý xã hội Một xã hội được xem là tốt đẹp và muốn dược tốt đẹp thì phải lấy văn hóa làm trọng, lấy văn hóa làm thước đo đồng thời phải đưa cái đẹp, cái đúng, cái tốt vào cuộc sống như một thước đo của
xã hội Phương Tây xem văn hóa như là sự vun trồng con người Thuật ngữ
culture hàm nghĩa là sự vun trồng, chăm bón, trau dồi Ban đầu là vun trồng
chăm bón cây cối, về sau là vun trồng con người, xây dựng nhân cách con người Từ đây chúng ta càng thấm thía với câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lợi ích 10 năm thì ta phải trồng cây, vì lợi ích 100 năm thì ta phải trồng người Như vậy, trồng người là văn hóa và nhiệm vụ trồng người không phải một sớm một chiều mà phải lâu dài, kiên trì và bền bỉ, không được nôn nóng, vội vàng
Bản chất của văn hóa về cơ bản là như vậy, tuy nhiên trong thực tiễn sinh động, văn hóa phong phú và đa dạng hơn nhiều Điều đầu tiên mà ai cũng có thể nhìn thấy là không ai sinh ra đã có văn hóa mà luôn có một môi trường văn hóa luôn chờ sẵn Văn hóa không phải từ trên trời rơi xuống mà là một quá trình Quá trình đó bao gồm rất nhiều hoạt động từ sáng tạo, truyền
bá, gìn giữ cũng như chia sẻ và chuyển giao các giá trị văn hóa Tất cả các hoạt động đó nhằm đảm bảo nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa của con người; tất cả vì con người với tư cách là động lực đồng thời cũng
là mục tiêu của sự phát triển
1.1.2 Con người - chủ thể sáng tạo ra văn hóa
Khi nói về văn hóa, phần lớn các nhà nghiên cứu đều xuất phát từ những hoạt động của con người, một hoạt động có ý thức, được hướng dẫn bởi tư duy Con người được thừa nhận như một động vật xã hội, động vật bậc cao khi năng lực thể hiện bản chất người bằng những sản phẩm văn hóa Chính vì
Trang 10
vậy mà khi nghiên cứu văn hóa chúng ta không được tách rời con người, bởi dấu ấn để lại của con người trên hành tinh này chính là văn hóa Khi nghiên cứu về vấn đề này, mọi người đều thừa nhận rằng dù là văn hóa vật chất hay tinh thần thì những sản phẩm đó không có nguồn gốc từ tự nhiên mà đều là thành quả sáng tạo của con người, với tư cách là chủ thể sáng tạo A.A Radughin cho rằng: “Con người tạo ra và sử dụng thế giới các đồ vật và thế giới các ý tưởng xoay quanh con người, và vai trò của con người là vai trò kẻ sáng tạo, còn vị trí của con người trong văn hóa là vị trí trung tâm của việc tạo
ra các tác phẩm nghệ thuật, tức là vị trí trung tâm của văn hóa Con người sáng tạo ra văn hóa, tái tạo và sử dụng văn hóa như phương tiện để tự phát triển Con người là kiến trúc sư, là nhà xây dựng và người dân của thế giới tự nhiên được gọi là văn hóa thế giới, là “tự nhiên thứ hai”, là nơi trú ẩn “được tạo ra một cách nhân tạo” của nhân loại Đó chính là thế giới của các hiện thực, cái thế giới không có trên trái đất trước khi con người ra đời, đó là hiện thực, cái hiện thực xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng con người, và sẽ còn tồn tại cho đến khi nhân loại còn tồn tại”1
Con người sáng tạo ra văn hóa như một thiên chức bởi lẽ con người không hài lòng với tự nhiên, thậm chí còn thấy tự nhiên quá chật chội và buồn
tẻ Từ đó con người bước vào hành trình khám phá bản thân mình thông qua quá trình tác động vào tự nhiên Khái niệm CON NGƯỜI tự bản thân nó đã nói lên tính vật chất và tinh thần của con người với tư cách là một tạo vật đặc biệt của tạo hóa Chính vì vậy mà sự hiện hữu của sản phẩm vật chất hay tinh thần cũng là để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người mà thôi
Để thỏa mãn nhu cầu vật chất, con người tạo ra “những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng”, đó là ăn uống, trang phục, nhà cửa, công trình, đường sá; để thỏa mãn nhu cầu tinh thần con người
“sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật”, đó là những lý tưởng về thẩm mỹ, đạo đức, chính trị, tôn giáo Như vậy, về thực chất hoạt động của con người lan rộng ra
Trang 11
tất cả các kênh của văn hóa vật chất cũng như tinh thần, thẩm thấu toàn bộ trong đời sống xã hội
Sự sáng tạo của con người không chỉ thể hiện ở việc làm ra các sản phẩm văn hóa cụ thể mà còn biết văn hóa hóa, biểu tượng hóa những gì đã có trong tự nhiên Sáng tạo đó thể hiện năng lực bậc cao của con người trong quá trình tìm kiếm và cải biến hiện thực ở chiều cạnh cao hơn, thẩm mỹ hơn Chúng ta có thể xem vịnh Hạ Long hay Phong Nha - Kẻ Bàng là di sản thiên nhiên vì nó là sản phẩm của tạo hóa nhưng không có thể không thừa nhận những gì con người đã “tô điểm” cho nó, khoác lên nó chiếc áo thẩm mỹ, thậm chí là chiếc áo tín ngưỡng, tôn giáo linh thiêng Con người đã sáng tạo
ra cái đẹp bằng cách như vậy, cho nên con người luôn đứng ở vị trí trung tâm của sự sáng tạo, cho dù ở lĩnh vực nào, nghệ thuật hay đạo đức, khoa học hay tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán
1.1.3 Con người - sản phẩm của văn hóa
Con người là khởi đầu của sự sáng tạo ra văn hóa nhưng suy cho cùng bản chất ấy lại mang tính xã hội và chịu sự chi phối của không gian và thời gian Từ khi ra đời với tư cách là “thiên nhiên thứ ai” văn hóa không dừng lại như một sản phẩm thụ động mà ngược lại nó tác động trở lại con người, thậm chí nó còn làm thay đổi “năng lực bản chất người” Điều này thể hiện vai trò
to lớn của văn hóa trong xã hội, trong việc hình thành nhân cách con người Văn hóa do con người sáng tạo ra trong lịch sử nhưng kỳ diệu và may mắn thay là không ai sinh ra đã có văn hóa mà luôn có một cái văn hóa luôn chờ sẵn Nền văn hóa đó, không gian văn hóa đó quy định khuôn mẫu ứng xử của con người trong quá trình sống Bắt đầu có thể là lời ru đầu đời của mẹ, chuyện cổ tích của bà để rồi sau đó phải “học ăn, học nói, học gói, học mở” thì mới từng bước nên người Nói chung, để học hỏi những khuôn mẫu ứng
xử của một cộng đồng nhất định con người phải hiểu biết những thang bậc giá trị và thực hành theo những hành lang của những giá trị mà một cộng đồng đã tạo nên
Trang 12Nếu như con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra văn hóa nói đến
năng lực sáng tạo thể hiện cá tính cá nhân, thì trong con người với tư cách là sản phẩm của văn hóa lại bộc lộ tính cộng đồng sâu sắc Con người có thể
sáng tạo ra mọi thứ nhưng cái quan trọng là sự lưu giữ của cộng đồng Cộng đồng chỉ lưu giữ những gì tốt đẹp, là chân, thiện, mỹ chứ không lưu giữ cái tôi riêng biệt, cái tách rời cộng đồng Giá trị là thước đo duy nhất để phản ảnh năng lực cá nhân; giá trị cũng là cái duy nhất để cá nhân ràng buộc với cộng đồng Sự tích hợp của những giá trị do con người sáng tạo ra trong lịch sử cứ thế mà mỗi ngày càng nhiều thêm, trở thành truyền thống, thành các lớp văn hóa và tác động trở lại con người, chi phối nhân cách con người
Sự hình thành nhân cách con người không đơn thuần là sự chuyển giao một cách thụ động những giá trị mà là một quá trình năng động hóa đời sống văn hóa Sự vận động các giá trị trong môi trường văn hóa đã làm sinh động đời sống văn hóa đồng thời bộc lộ khá rõ tính tương đối của các giá trị Để có được văn hóa, con người phải được trao truyền, chia xẻ những giá trị Các thiết chế văn hóa của mỗi cộng đồng phải phát huy tối đa chức năng của mình
để làm cho văn hóa thẩm thấu vào từng ngõ ngách của đời sống văn hóa Mỗi
cá nhân trong cộng đồng được quyền tiếp xúc và hưởng thụ các giá trị với tư cách là một thành viên của cộng đồng đó Ngược lại sự thua thiệt về cơ hội hưởng thụ các giá trị nói đến sự bất bình đẳng về văn hóa.Đây là vấn đề luôn luôn được các nhà lãnh đạo, quản lý quan tâm khi xây dựng những chính sách văn hóa phù hợp với từng cộng đồng văn hóa cụ thể
Có thể nói rằng, con người với tư cách là chủ thể sáng tạo hay là sản phẩm của văn hóa cũng đều nằm trong cấu trúc toàn vẹn của nó Con người được hiểu như là khởi đầu với tư cách là chủ thể sáng tạo ra văn hóa nhưng đồng thời là kết quả của sự phát triển văn hóa; vừa là mục tiêu vừa là động lực của văn hóa Khi nói con người là động lực của sự phát triển chúng ta đề cập đến năng lực sáng tạo, nhưng khi nói con người là mục tiêu, chúng ta phải nhìn nhận ở mức độ hưởng thụ các giá trị văn hóa mà loài người đã tạo ra Đây cũng là cơ sở để đánh giá chất lượng sống hay chỉ số phát triển của con
Trang 13người trong mỗi cộng đồng, quốc gia một cách cụ thể Tuy nhiên, để hiểu một cách đúng đắn vấn đề này, chúng ta phải bắt đầu từ nhu cầu văn hóa tinh thần, trong đó nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo ra các giá trị văn hóa có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng
Như vậy, hưởng thụ và sáng tạo văn hoá là một quá trình vận động và biến đổi của các hoạt động văn hóa để thoả mãn nhu cầu văn hóa của con người trong những môi trường văn hóa nhất định Quá trình này thông qua các hoạt động sản xuất, sáng tạo; lưu giữ, truyền bá, chia sẻ, tiêu dùng và hưởng thụ các giá trị văn hóa, nhằm thoả mãn nhu cầu văn hóa tinh thần của con người và xã hội
1.2 Nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa trong quá trình phát triển
1.2.1 Cấu trúc của hưởng thụ và sáng tạo văn hóa
Con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ của giá trị văn hoá do mình sáng tạo ra trong lịch sử của chính mình Sáng tạo ra giá trị văn hoá và hưởng thụ các giá trị văn hoá là một quá trình thống nhất biện chứng không thể tách rời Không biết hưởng thụ các giá trị văn hoá sẽ không
có sự sáng tạo ra giá trị văn hoá và ngược lại, không sản xuất ra được các giá trị văn hoá thì không có điều kiện để hưởng thụ giá trị văn hoá Sự sản xuất, sáng tạo và hưởng thụ (tiêu dùng) các giá trị văn hoá lại phụ thuộc vào nhu cầu cuộc sống và đòi hỏi của sự sinh tồn của con người Muốn nâng cao chất lượng hưởng thụ các giá trị văn hoá một vấn đề tiên quyết đặt ra là phải biến tất cả các giá trị văn hoá thành tài sản của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân đến với văn hoá, để hưởng thụ và góp phần tạo ra giá trị văn hoá mới
1.2.1.1 Nhu cầu văn hóa
Theo nghĩa thông thường, nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Nhu cầu là sự phản ánh một cách khách quan các đòi hỏi về vật chất, tinh thần và xã hội của đời sống con người phù hợp với
Trang 14trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ” Nhu cầu là một phạm trù mang tính lịch sử Mức độ và phương thức thỏa mãn nhu cầu về cơ bản phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội Nhu cầu của các tầng lớp, nhóm, cộng đồng được hình thành tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh (kinh tế, xã hội,
tự nhiên) của họ cũng như tùy thuộc vào những đặc trưng về nhân khẩu, chủng tộc, dân tộc Nhu cầu được phân thành nhiều loại: Xét về mặt chủ thể,
có nhu cầu cá nhân, nhu cầu tập thể, nhu cầu xã hội; xét về mặt hoạt động, có nhu cầu lao động, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu trao đổi, nhu cầu giải trí,v,v ; xét về mặt đối tượng, có nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần; xét về mặt chức năng, có nhu cầu chính, nhu cầu phụ; xét về mặt đạo lý, có nhu cầu hợp lý, nhu cầu không hợp lý,v.v
Nhu cầu là động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động của cá nhân và do đó
nó thúc đẩy sản xuất để xã hội phát triển Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối hoạt động của con người càng cao Quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân Trong trường hợp này, trình độ nhận thức có sự chi phối nhất định đối với nhu cầu: nhận thức sâu rộng sẽ có khả năng điều khiển sự thỏa mãn nhu cầu một cách hợp lý Vì vậy, nắm bắt nhu cầu là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách cũng như thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của cơ quan, đơn vị, cộng đồng, quốc gia, nhằm tiến tới thỏa mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu văn hóa
Cũng theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhu cầu văn hóa là một dạng đặc biệt của nhu cầu thể hiện những đòi hỏi tất yếu của con người về mặt văn hóa trong hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa Chẳng hạn như: nhu cầu xem phim, đọc sách, báo, nhu cầu sáng tạo các tác phẩm văn hóa nghệ thuật,v.v Nhu cầu văn hóa là nhu cầu mang tính người, nảy sinh, phát triển trong điều kiện con người đã thỏa mãn ở một chừng mực nhất định các nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở Mặt khác, nhu cầu này còn xuất phát từ nội tâm con người, từ quá trình hoàn thiện phẩm chất, nâng cao trình độ thẩm mỹ và văn hóa chung của con người
Trang 15Liên quan đến khái niệm này có thuật ngữ thị hiếu văn hóa Thị hiếu văn hóa (hay thị hiếu thẩm mỹ) là khả năng của con người đánh giá về mặt văn hóa, thẩm mỹ những hiện tượng của hiện thực cũng như những tác phẩm văn hóa nghệ thuật trong quá trình tiêu dùng văn hóa Khó có thể đưa ra được một cách tiếp cận vấn đề thị hiếu dựa theo những tiêu chuẩn cứng nhắc Nhưng, mọi người đều nhận thấy rằng thị hiếu văn hóa được quy định bởi những điều kiện xã hội và lịch sử cụ thể Thị hiếu đó có liên quan chặt chẽ với một nhân tố mà chúng ta gọi là thẩm mỹ Thị hiếu còn liên quan đến trình độ học vấn và nhận thức văn hóa, nhất là năng lực nhận thức thẩm mỹ Chính vì vậy, việc giáo dục văn hóa và thẩm mỹ có quan hệ chặt chẽ với việc hình thành một thị hiếu văn hóa lành mạnh, tích cực trong xã hội
Với những quan niệm về nhu cầu và thị hiếu văn hóa như trên thì việc nắm bắt nhu cầu, thị hiếu văn hóa của mọi tầng lớp trong xã hội là một công việc hết sức phức tạp, vì nhu cầu văn hóa này liên quan, tương tác, phụ thuộc vào nhiều nhân tố, từ tự nhiên đến xã hội, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa và
nó chính là dòng chảy từ quá khứ qua hiện tại đến tương lai…
1.2.1.2 Hoạt động văn hóa
Nhu cầu văn hóa rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên, nhu cầu văn hóa
là cái tiềm ẩn mà chúng ta không thể xác định một cách rõ ràng Chính vì vậy
mà muốn biết được nhu cầu văn hóa thì phải thông qua hoạt động văn hóa Con người sống không thể không hoạt động thực tiễn và một trong nhiều hoạt động quan trọng của thực tiễn có hoạt động văn hóa được xem như là hoạt động ở tầng bậc cao Nhà nghiên cứu văn hóa Đoàn Văn Chúc, trong tác phẩm Xã hội học văn hóa cho rằng, dù ở bất cứ thời đại nào thì con người cũng dùng thời gian của mình vào 4 loại hoạt động chủ yếu: Đó là hoạt động lao động sản xuất để đảm bảo sự sống; hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân trong đời sống xã hội; hoạt động duy trì, bảo vệ đời sống vật chất cá nhân và những hoạt động thuộc đời sống tinh thần1 Cho dù có nhiều cách tiếp cận về
Trang 16
cách phân chia này nhưng nhìn chung mọi hoạt động của con người về cơ bản
là để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần, trong đó hoạt động văn hóa có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Thực tế cho thấy hoạt động văn hoá chính là quá trình sản xuất (sáng tạo) và tiêu dùng, tiêu thụ (hưởng thụ) những sản phẩm (giá trị) văn hóa đáp ứng nhu cầu văn hóa của con người Đó là một chuỗi những hoạt động như sản xuất, sáng tạo, truyền bá, chia sẻ, lưu giữ, hưởng thụ văn hóa…Chính vì vậy mà muốn tạo cơ hội cho việc sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần thì không gì hơn là phải tăng cường các hoạt động văn hóa Cũng thông qua bức tranh hoạt động văn hóa chúng ta mới có thể đánh giá được đời sống văn hóa phong phú hay nghèo nàn, đa dạng, độc đáo hay ngưng đọng, khô cứng Mặt khác chính hoạt động văn hóa là cơ sở để cho những sản phẩm văn hóa ra đời Nói cách khác, không có hoạt động văn hóa sẽ không có sản phẩm văn hoá đáp ứng nhu cầu cho con người
Tuy nhiên, trong đời sống văn hóa thì không phải bất cứ hoạt động văn hóa nào cũng đều sản xuất ra các sản phẩm văn hóa bởi lẽ có hoạt động văn hóa là để thoả mãn nhu cầu tự thân như giao tiếp, xem phim, nghe nhạc, đọc sách…Chỉ có hoạt động sáng tạo là nhu cầu đích thực của con người mới cho
ra đời sản phẩm văn hóa Đó chính là sự phát huy năng lực bản chất của con người ở lĩnh vực thẩm mỹ Hiểu được quy luật này chúng ta sẽ có kế hoạch đầu tư trọng điểm hơn cho sự sáng tạo của các chủ thể văn hóa
1.2.1.3 Sản phẩm văn hóa
Khi nói về hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần thì sản phẩm văn hóa là một bộ phận vô cùng quan trọng Trong thực tế không có ai, tập thể nào lại tiếp nhận và hưởng thụ văn hóa mà lại không thông qua sản phẩm văn hóa Mặt khác, con người sẽ không còn giá trị nếu chỉ thoả mãn nhu cầu tự thân một cách thuần tuý mà lại không sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa mới, giá trị văn hóa mới Sản phẩm văn hóa bao gồm sản phẩm văn hóa vật thể (vật chất) như công cụ sản xuất, kiến trúc nhà cửa, các di tích lịch
Trang 17sử, tranh tượng, các thiết chế văn hóa như trường học, thư viện, rạp hát…Ở các dân tộc thiểu số là nhà rông, nhà dài…các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng…Sản phẩm văn hóa phi vật thể ( tinh thần) tồn tại dưới dạng giá trị như truyền thuyết, tín ngưỡng dân gian, lễ hội, ca dao hò vè, các hình thức diễn xướng…Thật ra sự phân chia này chỉ có tính tương đối vì các giá trị văn hóa phi vật thể luôn hoá thân trong các sản phẩm văn hóa vật thể
Tuy nhiên sản phẩm văn hóa cao nhất, đặc biệt nhất chính là con người Con người vừa là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, không chỉ lưu giữ văn hóa mà
còn là sản phẩm văn hóa Một nghệ nhân trong bất cứ loại hình văn hóa nào
cũng là sản phẩm văn hóa vô cùng quý giá, bởi lẽ mất nghệ nhân thì mọi hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa không còn ý nghĩa Điều này lại hết sức
có ý nghĩa với văn hóa dân gian, văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Tất cả những thành tố trên, từ nhu cầu văn hóa, hoạt động văn hóa để thỏa mãn nhu cầu đến sáng tạo các sản phẩm văn hóa đều gắn với một không gian văn hóa nhất định Chính vì vậy mà trong cùng một thời điểm việc hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa không giống nhau Chẳng hạn, nếu như hiện nay ở các đô thị lớn, internet đã trở thành một nhu cầu văn hóa lớn,
đã hình thành một lớp cư dân mạng, thì ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số những phương tiện tối thiểu như báo chí, truyền hình vẫn còn gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy mà việc xác định đúng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa trong từng thời điểm, từng địa bàn cụ thể là hết sức quan trọng trong quá trình nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân hiện nay
1.2.2 Sự đa dạng trong nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần
Hưởng thụ văn hoá là khái niệm chỉ quá trình tiêu dùng các sản phẩm của các loại hình nghệ thuật (văn học, sân khấu, múa, âm nhạc, kiến trúc, mỹ thuật), sản phẩm của truyền thông (sách báo, phát thanh, truyền hình, mạng internet ), các sản phẩm du lịch văn hoá, thể dục thể thao Hưởng thụ các sản
Trang 18phẩm văn hoá là quá trình chủ thể tác động vào các tác phẩm nghệ thuật và văn hoá khác thông qua các giác quan bằng cả tình cảm và trí tuệ để thoả mãn nhu cầu tinh thần của chính bản thân họ và qua sự thụ cảm thường mở ra khả năng tái tạo hoặc sáng tạo ra sản phẩm văn hoá mới Như vậy, hưởng thụ các sản phẩm văn hoá là khâu cuối cùng của đời sống văn hoá nhưng thông qua hưởng thụ mới biết được nhu cầu tinh thần để sản xuất ra các sản phẩm văn hoá thích ứng nhu cầu đời sống để nâng cao chất lượng tiêu dùng văn hoá Khi nói đến hưởng thụ văn hóa là nói đến khả năng tiêu dùng văn hóa của mọi người dân trong một môi trường văn hóa cụ thể nào đó Thực tế cho thấy, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường hiện nay đã tạo nên
sự biến đổi khá nhanh về nhu cầu cũng như khả năng tiêu dùng văn hóa một cách khá đa dạng và phong phú Ngành công nghiệp văn hóa đã từng bước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người trên cơ sở sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm văn hóa Quá trình này, một mặt đã đa dạng hóa nhu cầu tiêu dùng của mọi tầng lớp trong xã hội nhưng mặt khác nó đem lại nhiều cơ hội và khả năng lựa chọn các sản phẩm văn hóa phù hợp với nhu cầu, sở thích của mọi người dân
Quá trình hội nhập, giao lưu mạnh mẽ hiện nay đã tạo nhiều cơ hội để trao đổi, tiếp xúc văn hóa mạnh mẽ thông qua các phương thức sáng tạo văn hóa, các sản phẩm văn hóa, các biểu hiện thực tiễn của bản sắc văn hóa giữa các khu vực, quốc gia, vùng, miền, cộng đồng đã khiến cho người dân tiếp xúc, hấp thụ được những cái mới, cái khác của bên ngoài, trong đó có cả cái mới, cái khác về cách thức tiêu dùng văn hóa và sản phẩm văn hóa (ở cả hai mặt, hai chiều, lợi và hại) Đây là một yếu tố không kém phần quan trọng trong việc thúc đẩy hệ thống nhu cầu, khả năng cũng như thực tiễn tiêu dùng văn hóa sinh động hiện nay1
Một đặc điểm quan trọng nữa là sự thay đổi về phương thức quản lý kinh tế, xã hội và văn hóa trong thời gian gần đây đã làm thay đổi nhanh
Trang 19
chóng cách thức thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa trong mọi tầng lớp dân
cư Điều này có liên quan trực tiếp đến khả năng thu nhập của người dân Chính vì vậy mà sự đa dạng về nhu cầu văn hóa cũng như mức độ hưởng thụ
và sáng tạo văn hóa là hết sức phong phú và sinh động, thậm chí là phức tạp
Có thể thấy rằng trong những năm đổi mới vừa qua, cùng với sự cải thiện nhanh của đời sống vật chất, nhu cầu, thị hiếu văn hóa của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội ở nước ta cũng đã có nhiều thay đổi, thậm chí là phong phú và phức tạp Cũng từ thực tế này mà hệ thống nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ văn hóa của người dân biến đổi một cách nhanh chóng, phong phú và phản ảnh ở nhiều cấp độ khác nhau Trên thực tế ngày nay, mọi người dân nói chung không chỉ có xu hướng thỏa mãn trực tiếp nhu cầu có tính chất vật chất trong ăn, mặc, ở, mà còn hướng đến sự cảm thụ văn hóa, nghĩa là đòi hỏi cái đẹp trong các sản phẩm văn hóa Chẳng hạn, một chiếc áo không còn thuần túy là để mặc che thân mà người tiêu dùng, hưởng thụ tìm thấy trong đó những giá trị văn hóa, thậm chí là những biểu tượng văn hóa; một tờ báo không chỉ tồn tại như là sản phẩm cung cấp thông tin mà còn phải đẹp, phải
“bắt mắt”, phải mang những biểu tượng văn hóa và bản sắc
Sự đa dạng trong hưởng thụ và sáng tạo văn hóa là một quy luật tất yếu khi nền kinh tế thị trường mỗi ngày càng phát triển Sự không đồng đều trong thu nhập, hay nói đúng hơn là sự phân hóa giàu nghèo diễn ra ngày càng tăng
đã nói đến sự đa dạng trong nhu cầu tiêu dùng văn hóa Mặt khác, do sự phát triển không đồng đều của các vùng miền cũng như môi trường văn hóa không giống nhau phản ánh rõ nét biểu đồ nhu cầu và hoạt động văn hóa Ở các đô thị lớn, thu nhập đời sống dân cư khá giả, thường xuyên tiếp cận với văn minh hiện đại, nhu cầu và sức sáng tạo của mọi thành viên chịu ảnh hưởng của quá trình giao lưu và toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ, đặc biệt là sự phát triển của internet Nhu cầu biểu hiện văn hóa truyền thống từng bước bị phai nhạt Trong khi đó, ở môi trường nông thôn, vùng sâu, vùng xa thì đa số người dân vẫn còn những hoạt động văn hóa mang tính truyền thống như lễ
Trang 20hội, tín ngưỡng, tôn giáo bên cạnh hoạt động và tiêu dùng các giá trị văn hóa hiện đại như báo chí, phim ảnh, thậm chí cả internet
Có thể nói rằng đánh giá về thực trạng tiêu dùng và sáng tạo văn hóa mà không thông qua những tiêu chí cụ thể thì khó có thể nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu đa dạng của mọi tầng lớp trong xã hội Theo tác giả Phạm Tùng Thư thì thực trạng và tình hình tiêu dùng văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa
cá nhân và cộng đồng được thể hiện qua những chỉ tiêu hiện vật văn hóa (tính riêng cho từng nhóm sản phẩm văn hóa chủ yếu) và chỉ tiêu giá trị văn hóa (tính theo cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng hay toàn bộ xã hội, về mức độ tiêu dùng theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thậm chí theo đầu người trong đó, đơn vị gia đình là hết sức sức quan trọng) Tất cả sự đa dạng trong hưởng thụ hay sáng tạo văn hóa, dù ở môi trường nào, thời điểm nào cũng đều chịu sự chi phối bởi những điều kiện nhất định cũng như tuân theo những quy luật tất yếu của quá trình cung - cầu, trong tính quy luật giữa kinh tế với văn hóa, chính trị với văn hóa, của quy luật kế thừa và giao lưu văn hóa cũng như tâm lý tiêu dùng có tính lịch sử trong đời sống văn hóa
Tuy nhiên, khẳng định sự đa dạng và sinh động trong hưởng thụ, tiêu dùng và sáng tạo trong đời sống văn hóa không đồng nghĩa với việc cổ súy cho thái độ bàng quan với những hoạt động văn hóa mà quan trọng là để có
cơ sở khoa học cho việc dự báo xu hướng biến đổi trong hưởng thụ và sáng
tạo văn hóa của mọi tầng lớp dân cư, từ đó tìm ra những định hướng và giải pháp tạo cơ hội hưởng thụ và nâng cao sức sáng tạo văn hóa một cách lành mạnh và công bằng Theo đánh giá của chúng tôi, hiện nay, quá trình hưởng thụ, tiêu dùng và sáng tạo văn hóa có mấy xu hướng cơ bản sau:
Một là xu hướng hiện đại hóa trong nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa Đây là xu hướng đang nổi trội trong thực tế hiện nay bởi quá trình toàn cầu hóa kinh tế và sự hội nhập đang diễn ra một cách mạnh mẽ Các sản phẩm, thành tựu văn hóa hiện đại như điện ảnh, truyền thông đang ngày càng
có chỗ đứng quan trọng trong đời sống văn hóa của mọi tầng lớp dân cư, đặc
Trang 21biệi là lớp trẻ Hiện tượng Bi Rain, ca sĩ, diễn viên Hàn Quốc biểu diễn ở sân vận động Quân khu 7 đã thu hút một lượng lớn khán giả trẻ với giá vé rất cao vừa qua là một ví dụ về nhu cầu hưởng thụ văn hóa hiện nay Ngày lễ Tình yêu 14/2 vốn có gốc gác từ phương Tây nhưng nó đã trở thành nhu cầu phổ biến ở Việt Nam, thậm chí ở những nước theo đạo Hồi Hay như Nôel vốn là một ngày lễ của Thiên chúa giáo, chủ yếu ở phương Tây, nhưng ngày nay nó
đã trở thành một lễ hội của đa số người dân, kể cả những người không theo đạo hay khác đạo…
Hai là xu hướng tìm về truyền thống trong hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần Đây là xu hướng có vẻ như ngược với xu hướng hiện đại hóa Thực tế cho thấy, ngoài việc tham gia vào quá trình sáng tạo và tiêu dùng văn hóa trong các sản phẩm văn hóa hiện đại, có một bộ phận không nhỏ người dân quay lại với truyền thống bằng những sinh hoạt không thể thiếu được như tham gia vào lễ hội truyền thống, tổ chức những cuộc thi
có tính truyền thống Thành phần tham gia vào các hoạt động này không chỉ
có người lớn tuổi, các trí thức, các tín đồ mà có cả giới trẻ và người nước ngoài Để đáp ứng nhu cầu này, hoạt động của các tổ chức văn hóa, các công
ty du lịch đã có những chương trình, kế hoạch khá phong phú để mọi người
có cơ hội được tìm về nguồn Chẳng hạn, hoạt động của công ty Làng Việt tại Hội An, tỉnh Quảng Nam đã đưa lại cho mọi người về với một vùng quê miền Trung Việt Nam, trong đó tất cả những sinh hoạt đồng áng đã được tái hiện một cách sinh động
Ngoài 2 xu hướng cơ bản trên, tùy theo thu nhập, độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, các nhóm, vùng miền mà có những xu hướng khác nhau, trong đó cơ bản vẫn là xu hướng cá nhân hóa trong lựa chọn về hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa Nhìn chung, sự đa dạng trong hưởng thụ và sáng tạo văn hóa
là một quy luật tất yếu trong quá trình phát triển hiện nay
Đối với các dân tộc thiểu số thì vấn đề hưởng thụ và sáng tạo văn hóa tinh thần cũng có những tương đồng và khác biệt Từ khi đổi mới cho đến
Trang 22nay, nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường đã nhanh chóng phát triển, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của từng cộng đồng, từng buôn làng, từng hộ gia đình, tạo nên những đổi thay to lớn trong đời sống mọi mặt của họ từ vật chất đến tinh thần, từ kinh tế đến văn hóa Kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa trong quá trình mở rộng giao thương, giao lưu đã mang đến nhiều cái mới, cái lạ, tạo nên nhiều đổi thay trong đời sống văn hóa của nhân dân, đặc biệt là đối với các dân tộc thiểu số Những biến đổi này đã thay đổi nhu cầu cũng như thị hiếu văn hóa ở một mức độ nào đó trong từng vùng miền cụ thể
Trước hết là các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ, những tri thức tiến bộ, hiện đại của nhân loại,… ngày càng thâm nhập sâu rộng hơn vào đời sống của mọi người dân, nhất là vào giới trẻ, tạo nên những thay đổi tích cực trong nhu cầu, thị hiếu văn hóa của họ Nhiều người trong số họ, dưới tác động của những cái mới tích cực đã nâng cao trình độ nhận thức nói riêng, trình độ cảm nhận văn hóa nói chung Nhìn chung, họ nhanh nhạy hơn trong nhận thức, nắm bắt cái mới, cái tích cực và mở rộng hơn tầm nhìn, thế giới quan, nhân sinh quan của mình Có thể nói, chính sách “đổi mới”, “mở cửa” đến được với người dân thì bên cạnh những tiện nghi cuộc sống do sự phát triển kinh tế mang lại nó cũng tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần hết sức quan trọng Chính sự thay đổi này đã tác động hết sức mạnh mẽ đến đời sống văn hóa của đồng bào làm thay đổi mạnh mẽ nhận thức, lối sống cũng như nhu cầu, thị hiếu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa của họ…Kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa càng phát triển tác động của chúng vào đời sống văn hóa và nhu cầu thị hiếu văn hóa của đồng bào càng càng mạnh mẽ Cũng nhờ “đổi mới” mà mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nói chung, lớp trẻ nói riêng đạt được trình độ học vấn, trình độ nhận thức cao hơn các thế hệ trước, tỏ ra nhanh nhạy hơn trong tiếp nhận những cái mới, những cái hiện đại, cái tiện nghi trong cuộc sống
Trang 23Với những thành tựu kinh tế mang lại, thị hiếu văn hóa của nhân dân cũng đang biến đổi Nếu như trước đây, họ tiêu dùng chủ yếu là các sản phẩm, vật dụng do họ tự làm ra thì nay họ phụ thuộc nhiều hơn, phản ứng một cách lựa chọn hơn các sản phẩm của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, sản xuất trong nước hoặc nhập từ nước ngoài vào Do thu nhập và mức sống của một bộ phận đồng bào tăng lên nhiều so với trước nên nhiều hộ gia đình đã bắt đầu biết xây nhà đẹp, biết sử dụng các loại máy móc, công cụ lao động sản xuất hiện đại (như xe công nông, máy cày, máy bơm, máy phát điện, máy xay xát,…) cũng như sử dụng nhiều loại sản phẩm tiêu dùng tiện nghi và đắt tiền như xe máy, tủ lạnh, ti vi, đầu video, máy tính, điện thoại, internet,v.v…
Từ đó các sản phẩm văn hóa gắn với những thiết bị kể trên được tiêu thụ một cách rộng rãi trong nhân dân Những hàng hóa, vật dụng và tiện nghi này thực
sự đã tác động rất mạnh đến quá trình hình thành nhận thức, nhu cầu, thị hiếu, tâm lý, lối sống của nhân dân, góp phần quy định nhu cầu, thị hiếu văn hóa của họ cả ở nghĩa tích cực lẫn tiêu cực
Bên cạnh những cái tiến bộ, những giá trị của nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ làm hình thành nên nhu cầu thị hiếu tiêu dùng ở một bộ phận người dân, nhất là một số thanh thiếu niên Nhu cầu, thị hiếu, tâm lý của
xã hội tiêu dùng, thậm chí là chủ nghĩa tiêu dùng coi trọng các giá trị vật chất, tâm lý sính ngoại đang bắt rễ ở đây Ngày nay, có thể quan sát thấy một bộ phận thanh thiếu niên coi các giá trị vật chất, các lợi ích vật chất hơn các giá trị tinh thần; nhiều người trong số họ quan tâm hơn đến việc kiếm tiền để có thể mua sắm, hưởng thụ các vật dụng tiêu dùng hơn là hướng tới các giá trị chính trị, văn hóa, xã hội Và lẽ đương nhiên, trong bối cảnh đó những nhu cầu, thị hiếu văn hóa gắn với những sinh hoạt văn hóa truyền thống không còn sức hút đối với họ như trước Các nhu cầu chính trị - xã hội một thời thiêng liêng như “lý tưởng cách mạng”, phấn đấu đứng vào hàng ngũ Đảng, Đoàn, cũng như sự tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội trở nên mờ nhạt, thiếu vắng trong một bộ phận đáng kể những người này Vì vậy, mặc dù trình độ học vấn của nhiều thanh, thiếu niên được nâng lên cao hơn
Trang 24nhiều so với trước nhưng hiện nay vấn đề tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị đang gặp những khó khăn
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, tăng cường giao lưu, giao thương với bên ngoài và đa dạng hóa thành phần dân tộc do di cư, nền văn hóa truyền thống của các dân tộc bản địa, hệ giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại và tàn lụi Cùng với điều
đó, nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo các giá trị văn hóa truyền thống cũng đang bị giảm sút nhanh hơn Văn hóa truyền thống mà cốt lõi là các giá trị văn hóa truyền thống đang mất dần đi những cơ sở kinh tế - xã hội mà nhờ chúng nền văn hóa này được nảy sinh, nuôi dưỡng và phát triển Trước hết, đó là sự giảm sút nhanh chóng của rừng do sự khai thác và phá hoại quá mức của con người Chẳng hạn như trước đây, nói tới Tây Nguyên là người ta nghĩ tới những cánh rừng đại ngàn mênh mông với tán lá che không thể nhìn thấy mặt trời, thì nay muốn thấy rừng phải đi rất xa và quả là rất khó nếu muốn tìm đến loại rừng nguyên sinh “đại ngàn” như đã nói trên Nền văn hóa các dân tộc bản địa Tây Nguyên vốn gắn bó chặt chẽ với rừng (nên còn được gọi là nền
“văn hóa rừng”), nên khi rừng không còn thì cơ sở tự nhiên của nền văn hóa
đó cũng không còn tồn tại, và lẽ dĩ nhiên nó sẽ suy yếu đi, dễ bị tấn công, lấn
át, thậm chí là bị bóp chết bởi các nền văn hóa bên ngoài Rừng đã lùi xa khỏi các buôn làng và thay vào đấy là những cánh đồng cà phê, cao su, tiêu, điều, ruộng lúa, ruộng ngô,… mênh mông, với những phương thức canh tác hiện đại… Nói cách khác, cùng với sự suy yếu, biến mất của cơ sở tự nhiên thì cơ
sở kinh tế của nền văn hóa truyền thống này đang thay đổi theo kiểu nhảy vọt
Lẽ đương nhiên, nền văn hóa truyền thống đó nhất định bị suy yếu đi và dễ dàng bị “xâm thực” bởi những nhân tố văn hóa khác Sống trong bối cảnh tự nhiên và kinh tế - xã hội thay đổi kiểu như vậy thì nhu cầu, thị hiếu văn hóa của người bản địa tất yếu phải biến đổi theo cho phù hợp với chúng Và nhu cầu văn hóa hướng tới những giá trị văn hóa mới (tại chỗ hoặc nhập ngoại) phù hợp hơn với hoàn cảnh đang thay đổi tất yếu phải xảy ra Vì lẽ đó, không
có gì đáng ngạc nhiên khi người ta nhận thấy rằng chưa bao giờ những giá trị
Trang 25cộng đồng truyền thống (kiểu đại gia đình mẫu hệ ở Tây Nguyên gắn với nhà dài, truyền thống cộng đồng gắn với nhà rông,… lại phân hóa, biến đổi nhanh chóng như ngày nay Các tập tục truyền thống cùng các giá trị văn hóa cộng đồng như thiết chế già làng, luật tục, các phong tục tập quán, các lễ hội truyền thống, rượu cần, cồng chiêng,… giảm sút vai trò và ý nghĩa như hiện nay
1.3 Xây dựng đời sống văn hóa để nâng cao cơ hội hưởng thụ và sáng tạo giá trị văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số hiện nay
1.3.1 Xây dựng đời sống văn hóa - một đòi hỏi thiết thực hiện nay
Nếu như nói văn hóa là giá trị thì đời sống văn hóa chính là quá trình hưởng thụ, trao đổi, chia xẻ những giá trị đó và sáng tạo ra các giá trị mới trong từng môi trường văn hóa vốn đa dạng và phong phú Chính vì vậy mà xây dựng và phát triển văn hóa cơ sở không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, lành mạnh trong từng gia đình, làng xóm, vùng miền mà còn phát huy được sức sáng tạo, nội lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đây là lĩnh vực nhạy cảm, tinh tế cho nên đặt
ra cho công tác lãnh đạo, quản lý văn hoá những nhiệm vụ, yêu cầu rất cao
của quá trình xây và chống trong văn hoá Chính vì vậy mà Văn kiện Đại hội
lần thứ X khẳng định thêm vai trò của việc nâng cao đời sống văn hóa: “ Đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hóa đại chúng và môi trường văn hóa lành mạnh”, “nâng cao chất lượng và mở rộng diện phổ biến các sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và đa dạng của các tầng lớp nhân dân”1 Để làm tốt được nhiệm vụ này không phải là điều dễ dàng, đặc biệt là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc trong đó có 53 dân tộc thiểu số sống chủ yếu ở vùng miền núi Do những điều kiện lịch sử nhất định mà đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số có nhiều khoảng cách so với miền xuôi, đặc biệt là chênh lệch khá xa về mức hưởng thụ và sáng tạo văn hóa
Trang 26
ở các đô thị lớn Chính vì vậy mà việc Đảng ta đề cao nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa ở các dân tộc thiểu số thực chất là tạo ra nhiều cơ hội hưởng thụ
và sáng tạo các giá trị văn hóa cho đồng bào trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ý nghĩa to lớn này được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở vùng đồng bào thiểu số là một chủ trương lớn của Đảng, mang ý nghĩa chiến lược lâu dài, đồng thời có tính thời sự nóng hổi và cấp bách Đây là bước đi ban đầu, là cơ sở của việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới XHCN Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở chính là quá trình trực tiếp chuyển tải những kiến thức đến từng người dân ở mọi miền đất nước để họ có khả năng tiếp nhận những thành tựu văn hóa và tham gia tích cực vào các hoạt động khác của xã hội Xây dựng đời sống văn hóa ở vùng đồng bào thiểu số là để tạo điều kiện cho mọi người dân có nhiều cơ hội sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới, vừa xóa bỏ cái cũ, vừa xây dựng cái mới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở từng địa phương Đồng thời, đây là bước khởi đầu xây dựng cuộc sống phát triển toàn diện cả tinh thần lẫn vật chất Xây dựng và phát triển văn hóa ở cơ sở không chỉ tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, lành mạnh trong từng gia đình, cộng đồng mà còn phát huy được tinh thần dân chủ và tính sáng tạo của nhân dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta cần có kế hoạch
thật tốt để phát triển kinh tế, văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” Thực hiện di chúc của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn coi
trọng vai trò của văn hóa, văn nghệ, thường xuyên chăm lo đời sống văn hóa, đáp ứng nhu cầu của nhân dân lao động, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số đồng thời thu hút đông đảo quần chúng tham gia vào quá trình sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới
Thứ hai là xây dựng đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số được coi như bước khởi đầu có ý nghĩa nền tảng của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Trang 27lao động trong việc sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa nghệ thuật, từng bước tạo dựng lối sống văn minh, hiện đại
Thứ ba là xây dựng đời sống văn hóa ở các dân tộc thiểu số không chỉ tạo cơ hội hưởng thụ và sáng tạo mà còn là cuộc đấu tranh bền bỉ trên mặt trận tư tưởng văn hóa nhằm khẳng định các giá trị dân chủ, tiến bộ của văn hóa dân tộc và nhân loại đồng thời kiên quyết chống lại những hành vi thô bạo, phi đạo đức, lai căng, cổ hủ lạc hậu, đi ngược lại thuần phong mỹ tục… cũng như thường xuyên cảnh giác với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các phần tử phản động với ý định chia rẽ dân tộc Bên cạnh đó xây dựng đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số cũng là để mở rộng giao lưu văn hóa trong nước với nước ngoài; vừa giữ gìn bản sắc các dân tộc thiểu số, vừa tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới
Để làm được điều này thì việc xây dựng và phát huy hiệu quả mạng lưới thiết chế văn hóa bao gồm trung tâm văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, nhà truyền thống, trạm y tế, trường học, sân vận động, khu vui chơi… có ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây chính là quá trình tạo điều kiện và phát huy sáng tạo tại mỗi địa phương, mỗi đơn vị cơ sở, huy động sức người, sức của trong nhân dân Những thiết chế văn hóa, ngoài việc tạo hình thức thẩm mỹ cho cơ sở, còn là môi trường để nhân dân có điều kiện tiếp cận, hưởng thụ và hoạt động văn hóa; đồng thời cũng là nơi sáng tạo văn hóa, nghệ thuật và các sản phẩm văn hóa phi vật thể khác
Thứ tư là xây dựng đời sống văn hóa ở các dân tộc thiểu số chính là cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng tới nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng hiện nay đang gặp nhiều khó khăn về mọi mặt mà còn biến những giá trị văn hóa đó thành tài sản của nhân dân Xây dựng đời sống văn hóa ở các dân tộc thiểu số để tạo nên sức đề kháng nhằm chống lại những thế lực thù địch luôn rình rập phá hoại công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Do vậy, chúng ta phải xây dựng được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc
Trang 28thiểu số, đưa những yếu tố tiến bộ, cách mạng vào mọi mặt của đời sống Mặt khác cần xây dựng những giải pháp nâng cao dân trí, nâng cao trình độ học vấn, khoa học, để đồng bào các dân tộc thiểu số nhận thức được hạn chế, khiếm khuyết của mình để từ đó thường xuyên đề cao những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống dân tộc cũng như bổ sung những giá trị văn hóa mới tiến bộ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc
1.3.2 Diện mạo đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số
Có thể nói rằng, các dân tộc thiểu số Việt Nam có một truyền thống văn hoá vô cùng quí giá và đa dạng Đây chính là nhân tố quan trọng để các dân tộc thiểu số đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân
Thực tiễn hoạt động văn hóa diễn ra ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số trong thời gian qua khá đa dạng và phong phú Điều này thể hiện qua các chương trình, kế hoạch đầu tư, phát huy di sản văn hóa cũng như phong trào xây dựng đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số của các địa phương trong cả nước
Ở vùng miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã diễn ra nhiều hoạt động văn hóa cả truyền thống lẫn hiện đại rất phong phú và
đa dạng Những hoạt động này xuất phát từ nhu cầu văn hóa tinh thần đang ngày càng gia tăng trên phạm vi cả nước đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số Các liên hoan văn hóa các dân tộc thiểu số ngày càng nhiều hơn ở từng vùng, từng khu vực, được mở rộng nhiều hơn, thậm chí đã giao lưu văn hóa với quốc tế Chúng ta cũng đã tổ chức tốt các lễ hội có tầm vóc quốc gia, quốc tế nhằm bảo tồn và khai thác tốt các di sản văn hóa tiêu biểu góp phần đắc lực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương Nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc tiêu biểu của nhiều vùng văn hóa trong cả nước, nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới; nhiều chương trình lễ hội văn hóa, du lịch hấp dẫn, có tính cộng đồng được tổ chức công phu thu hút đông
Trang 29đảo người dân và đồng bào thiểu số tham gia Bên cạnh đó các dân tộc thiểu
số luôn duy trì ngày hội văn hóa các dân tộc nhằm kế thừa các giá trị văn hóa các dân tộc anh em cũng như tạo ra sự giao lưu mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển văn hóa
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở cho đồng bào thiểu số, xem đây chính là sự nghiệp xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, các địa phương cũng đã gặt hái được nhiều thành công bởi được sự quan tâm đầu tư theo chiều sâu, nhất là khu vực miền núi Nhiều mô hình và hình thức hoạt động văn hóa cơ sở được nhân dân sáng tạo, phát huy hiệu quả Trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở, cán bộ là người dân tộc thiểu số được nâng lên đáng kể; cơ sở vật chất, các thiết chế văn hóa cơ sở được đầu tư và phát huy được tác dụng; hoạt động văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp và quần chúng diễn ra sôi nổi; giao lưu văn hóa được mở rộng trong khu vực và cả với quốc tế; công tác quản lý Nhà nước về văn hóa có những tiến bộ rõ rệt đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm
vụ trong thời kỳ mới
Đặc biệt, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở
khu vực vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã có nhiều thay đổi, khởi sắc cả
bề rộng lẫn chiều sâu bởi phong trào hợp với “ý Đảng lòng dân” cho nên đã được sự hưởng ứng, đồng thuận của mọi tầng lớp trong xã hội Kết quả cho thấy đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, chênh lệch giàu nghèo giữa miền núi và miền xuôi, giữa đồng bào Kinh với các dân tộc thiểu số được giảm bớt; di sản văn hóa được giữ gìn và phát huy; đạo đức, lối sống trong xã hội có chuyển biến tích cực; nhiều thiết chế văn hóa có qui
mô đã được xây dựng; công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa đã mang lại hiệu quả đáng kể; đặc biệt là nhiều điển hình, mô hình văn hóa ra đời góp phần ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội
Để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, việc phát huy hiệu quả các thiết
chế văn hóa đóng vai trò quan trọng Chính vì vậy mà Thừa Thiên - Huế có
Trang 30phong trào xây dựng nhà rông văn hóa ( riêng huyện Nam Đông có tới 22 nhà rông, huyện A Lưới có 9 nhà rông) Tỉnh Kon Tum, một tỉnh miền núi còn gặp nhiều khó khăn nhưng nhân dân đã đóng góp kinh phí xây dựng và nâng cấp 347 nhà rông văn hóa, khôi phục 530 đội cồng chiêng Tỉnh Phú Yên xây dựng 50 nhà rông cho các dân tộc thiểu số ở 3 huyện miền núi Tỉnh Quảng Nam tích cực xây dựng hàng chục nhà gươl cho đồng bào Cơ Tu…
Xây dựng môi trường văn hóa cũng là một trong những tiêu chí quan
trọng để đánh giá chất lượng sống trong từng cộng đồng dân cư bởi lẽ nhu cầu văn hóa, hoạt động văn hóa, sản phẩm văn hóa đều vận động trong một không
gian cụ thể Trong hơn 5 năm (2001 – 2005) triển khai phong trào, kết quả
cho thấy nhiều địa phương đã đạt trên 70% gia đình đạt chuẩn văn hóa, (trung bình cả nước là 73.39% năm 2005), trên 40% làng xóm, khu phố đạt chuẩn văn hóa (trung bình cả nước là 53.4%) nhiều cơ quan đơn vị đạt 100% gia đình văn hóa Toàn tỉnh Phú Yên đã có 76% gia đình đạt chuẩn văn hóa, có
385 thôn, buôn đạt danh hiệu văn hóa, 91 thôn buôn miền núi đạt tiêu chuẩn văn hóa; Đăk Lăk có 75.4% số hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa, trong đó hộ đồng bào thiểu số chiếm 30%
Nhiều địa phương đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác phòng chống tệ nạn, đảm bảo môi trường văn hóa lành mạnh Ở Tây Nguyên, nhiều
cơ quan đơn vị, doanh nghiệp kết nghĩa với từng buôn làng để chia xẻ những khó khăn với đồng bào thiểu số; tỉnh Thừa Thiên - Huế phân công 104
cơ quan, đơn vị giúp đỡ 52 xã đặc biệt khó khăn và xã nghèo…Điều này minh chứng cho tinh thần tiên phong, cách mạng nhưng rất nghĩa tình của cán bộ
và nhân dân trong kháng chiến cũng như trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Việc có nhiều cơ hội hơn để hưởng thụ văn hóa đòi hỏi phải xây dựng
các điều kiện thiết yếu, trong đó việc phủ sóng truyền hình, phát thanh có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là đối với các dân tộc thiểu số Hiện nay Kon Tum
đã có 100% số hộ được phủ sóng phát thanh, 80% số hộ được phủ sóng
Trang 31truyền hình, 100% số xã được cấp phát báo Nhân dân, báo Kon Tum Đăk Lăk có 82% số hộ được xem truyền hình, 91% số hộ nghe đài, 100% số xã có cán bộ văn hóa Cho đến nay toàn vùng Tây Nguyên đã có 99.2% số xã có đường ô tô đến trung tâm, 98% số xã có điện lưới quốc gia, 72% số hộ được dùng điện…Trong 5 năm qua, Tây Nguyên đã xây dựng được 1.026 điểm phục vụ bưu điện, 484 điểm bưu điện văn hóa xã
Điều đáng nói là trong nhiều năm qua, di sản văn hóa phi vật thể có giá trị và đặc trưng tiêu biểu ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã được sưu tầm và phát hiện; nhiều lễ hội truyền thống được khôi phục thu hút đông đảo người dân tham gia hưởng thụ và sáng tạo văn hóa Một số làng nghề truyền thống được khôi phục không những giữ lại được bí quyết ngành nghề mà còn mang lại thu nhập đáng kể cho người lao động; nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã được hoàn thiện và ứng dụng trong thực tiễn
Ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tiêu biểu tuy gặp nhiều khó khăn nhưng cũng đã đạt được nhiều
thành tựu đáng kể Đáng chú ý nhất là đã có sự đồng thuận trong xã hội, của
Đảng và Nhà nước khi đầu tư công sức và tiền của cho việc sưu tầm, khảo cứu có hệ thống sử thi Tây Nguyên cũng như bảo lưu và kế thừa các giá trị của luật tục, thiết chế, buôn làng truyền thống của các dân tộc thiểu số Công tác điền dã ở Tây Nguyên đã phát hiện hệ thống sử thi với khoảng 801 đơn vị sử thi các dân tộc thiểu số Mặc dù tình trạng chảy máu cồng chiêng vẫn diễn ra nhưng Đăk Lăk vẫn còn giữ được 3.825 bộ, tổng cộng 25.488 cái Tỉnh Kon Tum còn giữ được 265 nhà rông và 1.853 bộ cồng chiêng Trong tháng 11 năm 2007 vừa qua, tỉnh Đăk Lăk đã tổ chức thành công Festival Cồng chiêng Tây Nguyên mang tầm quốc tế bằng nguồn vốn xã hội hóa hơn
15 tỷ đồng, đã thu hút nhiều người quan tâm cả trong và ngoài nước Nhiều giá trị văn hoá phi vật thể của dân tộc B’râu, Rơ Mâm đã được kịp thời sưu tầm và lưu giữ
Trang 32Nhìn chung, những thành tựu trong sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số đã minh chứng cho đường lối và chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan về địa hình, khí hậu, lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, cũng như những nhân tố chủ quan về lãnh đạo quản lý, cơ chế đãi ngộ mà vẫn còn nhiều vấn đặt ra trong công tác xây dựng đời sống văn hóa Chênh lệch trong đời sống văn hóa ở nông thôn và miền núi vẫn còn khá xa so với miền xuôi, các đô thị Cơ hội hưởng thụ các thành tựu kinh tế xã hội, các giá trị văn hóa cũng như tham gia vào hoạt động sáng tạo văn hóa không nhiều, có nơi “đói”
về văn hoá Theo điều tra, sự chênh lệch này rất đáng quan tâm: nếu như chênh lệch về kinh tế chỉ gấp 15 lần thì văn hóa gấp 100 lần Điều này thể hiện ở chỗ
“việc xây dựng nếp sống văn hóa chưa được coi trọng đúng mức Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ Quản lý Nhà nước về văn hóa còn nhiều sơ
hở, yếu kém, đặc biệt là đối với các sản phẩm văn hóa hiện đại Đấu tranh ngăn ngừa văn hóa phẩm độc hại chưa được chú ý đầy đủ, còn nhiều yếu kém, bất cập” Chính sách đầu tư, phát triển văn hóa vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số còn chưa thỏa đáng Một số nguyên nhân sau đây phản ảnh thêm những bất cập và hạn chế đó:
Thứ nhất là một số chủ trương, chính sách văn hóa khi triển khai đã
không được nghiên cứu một cách có hệ thống, kỹ lưỡng, đồng bộ cho nên chưa đi sâu vào lòng dân, chưa tương thích với phong tục, tập quán của từng tộc người, từng vùng miền cụ thể Chúng ta đã không thu được kết quả bao nhiêu khi bỏ ra rất nhiều công sức để xây dựng nhà rông văn hóa cho đồng bào thiểu số nhưng lại đánh mất tính thiêng của nhà rông truyền thống (với chức năng tín ngưỡng, tôn giáo) Điều này cho thấy, việc chuyển đổi chức năng của các thiết chế văn hóa truyền thống, đặc biệt là đối với các dân tộc thiểu số không dễ dàng áp đặt, hay nôn nóng “cách mạng” trong một sớm một chiều
Thứ hai là Nhà nước chưa cụ thể hóa những chủ trương, chính sách đối
với phong trào xây dựng đời sống văn hóa Các hoạt động này còn bị động, lệ
Trang 33thuộc và chờ đợi quá nhiều vào kinh phí của TW và các nguồn đầu tư từ nước ngoài cho nên các hoạt động thường có tính thời vụ, chắp vá, thiếu tính liên tục Điều này có căn nguyên từ việc một số địa phương chưa nhận thức sớm và đầy đủ di sản văn hóa là tài sản văn hóa của cộng đồng dân tộc; đời sống văn hóa lành mạnh, tốt đẹp là nền tảng, nội lực tiềm tàng cho phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương, vùng miền, quốc gia, dân tộc Vấn đề nhận
thức này phải xuống đến từng người dân, và phải được cụ thể hóa ở chỗ
người dân được hưởng lợi (vật chất và tinh thần) một cách rõ ràng từ di sản
Kinh nghiệm cho thấy khi nào đồng bào các dân tộc thiểu số ý thức được giá trị văn hóa trong các di sản, được hưởng lợi từ di sản một cách thật sự thì việc xây dựng đời sống văn hóa gặp nhiều thuận lợi, cơ hội hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa ngày càng nhiều hơn
Thứ ba là bệnh hình thức, chạy theo chỉ tiêu đề ra vẫn còn như một áp
lực cho nên tính bền vững và chất lượng xây dựng phong trào không cao Mặt khác một số nơi lại buông lỏng quản lí để cho cái “cũ mà xấu” được phục hồi trong tang ma, cưới xin, lễ hội Đánh giá về điều này, nhiều địa phương đã thẳng thắn cho rằng: cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phát triển chưa thật sâu rộng, có nơi còn hình thức, việc công nhận danh hiệu đơn vị văn hóa có trường hợp còn mang tính hình thức; phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở phát triển không đồng đều, chưa bền vững
Thứ tư là các thiết chế văn hóa (cả truyền thống lẫn hiện đại) chưa phát
huy được yêu cầu đề ra cho việc thỏa mãn nhu cầu văn hóa của người dân vùng các dân tộc thiểu số Một số thiết chế văn hóa truyền thống, đặc biệt là của các dân tộc thiểu số đã dần dần đánh mất chức năng vốn có của mình do một số nơi đã duy ý chí quá sức để biến nó thành các thiết chế chính trị một cách khiên cưỡng và máy móc Bên cạnh đó việc phủ sóng chưa đầy đủ, tạo những vùng lõm ở một số huyện miền núi cũng như quản lý chưa chặt chẽ các thiết bị thu hình nhập lậu qua các cửa khẩu đã tiếp tay cho người dân miền núi (Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế) sử dụng những sản phẩm văn hóa đồi trụy, độc hại
Trang 34Suy cho cùng thì việc nâng cao cơ hội hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần cũng đồng nghĩa với việc xây dựng đời sống văn hóa ngày càng lành mạnh, tốt đẹp Cùng với cả nước, các địa phương vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang tích cực triển khai những nhiệm vụ văn hóa quan trọng, có tính chiến lược lâu dài là tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW
V (khóa VIII) để làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống của toàn xã hội; trở thành mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm nâng cao hơn nữa đời sống văn hóa cho nhân dân Để hiện thực hóa được điều này, trước hết cần tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải kịp thời xây
dựng đề án phát triển văn hóa một cách khoa học trong qui hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương Đề án này phải hội đủ những cơ
chế phát triển dựa trên mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, nền tảng đặc thù
của từng địa phương, tính tiêu biểu của di tích và môi trường văn hóa khu vực, trong đó lấy việc hưởng thụ văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số làm trung tâm Nếu vùng Tây Bắc có những liên hoan về hát then, Tây
Nguyên có lễ hội đâm trâu, có Không gian văn hóa cồng chiêng, có Làng văn
hóa các dân tộc, thì Tây Nam Bộ cũng có những sinh hoạt văn hóa truyền
thống mang bản sắc văn hóa của người Khơ Me
Hai là tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác giao lưu văn hóa trong khu vực
và quốc tế Làm tốt công tác đối ngoại, tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu di sản văn hóa tiêu biểu của từng địa phương; duy trì và phát huy hơn nữa các
Tuần lễ văn hóa cũng như Liên hoan văn hóa nghệ thuật các dân tộc ở các địa
phương và khu vực; phát triển mạnh mẽ ngành kinh tế du lịch - dịch vụ để tiếp tục đầu tư và khai thác có hiệu quả hệ thống di sản văn hóa ở từng khu vực góp phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ba là tiếp tục phát huy hiệu quả công tác xã hội hóa các hoạt động văn
hóa trên cơ sở triển khai tốt Nghị quyết 90/CP và Nghị định 73/CP của Chính phủ Phải làm cho mọi người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số ý thức sâu
Trang 35sắc về giá trị to lớn của di sản cũng như ý nghĩa nền tảng, lâu dài của việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở để họ tự giác bảo tồn, khai thác tốt di sản văn hóa góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần trong nhân dân Hàng năm cần xúc tiến việc tổng kết thực tiễn để đề xuất, nhân rộng những điển hình về xã hội hóa các hoạt động văn hóa, mô hình thiết chế văn hóa, thông tin ở cơ sở
Bốn là xây dựng và khai thác tốt các thiết chế văn hóa cơ sở vùng đồng
bào dân tộc thiểu số Đây là giải pháp thiết thực nhằm tận dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa truyền thống cũng như hiện đại để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của nhân dân Việc xây dựng các thiết chế văn hóa phải dựa trên tính đặc thù của địa phương, tránh rập khuôn, bình quân và phải xuất phát từ nhu cầu văn hóa thật sự của nhân dân Cần đầu tư và tập trung nhiều hơn cho thiết chế văn hóa miền núi, nông thôn và các dân tộc thiểu số Các thiết chế văn hóa phải có bản sắc riêng tùy thuộc vào phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư đang sinh sống, tránh tình trạng xây dựng một cách sơ sài, đồng phục
Năm là tăng cường chỉ đạo công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tiếp tục triển khai phong trào Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa cả bề rộng lẫn chiều sâu Tiếp tục kiện toàn,
củng cố Ban chỉ đạo các cấp để nâng cao năng lực chỉ đạo, tổ chức thực hiện phong trào cũng như phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc, các sở, ban ngành để phong trào ngày càng đi vào chiều sâu, tránh tình trạng hoạt động hình thức, thời vụ Đầu tư nguồn lực nhiều hơn cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa
Sáu là tăng cường công tác quản lý Nhà nước về văn hóa, nâng cao hiệu
quả công tác thanh tra, kiểm soát các hoạt động văn hóa trên các lĩnh vực: bảo tồn di sản văn hóa, báo chí, xuất bản, lễ hội, quảng cáo Kiên quyết xử lý các hiện tượng vi phạm di tích, các sản phẩm văn hóa nhập lậu có nội dung xấu,
đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc
Trang 36Bảy là sáng tạo nhiều hơn nữa các sản phẩm văn hóa Thực tế cho thấy
việc hưởng thụ những giá trị văn hóa tinh thần không những tùy thuộc vào những điều kiện thiết yếu mà còn có nguyên do từ sự nghèo nàn của các sản phẩm văn hóa So với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thì ở vùng miền núi,
cơ hội tiếp cận những sản phẩm văn hóa hiện đại bị hạn chế rất nhiều cho nên việc hưởng thụ các giá trị văn hóa vẫn còn nhiều thiệt thòi Chính vì vậy cần phát huy, phục hồi các làng nghề truyền thống cũng như khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn nữa các sản phẩm văn hóa hiện đại đáp ứng nhu cầu, thị hiếu văn hóa của người dân
Trang 37
CHƯƠNG II
HƯỞNG THỤ VÀ SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH THẦN Ở TÂY NGUYÊN THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG ĐẶT RA
2.1 Khái quát về văn hóa và đời sống văn hóa Tây Nguyên
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, nhất là an ninh quốc phòng đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước Trong chiến tranh giữ nước vĩ đại hay trong hoà bình xây dựng đất nước, Tây Nguyên vẫn đang và sẽ là địa bàn có vị trí đặc biệt Trong chiến tranh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xác định: “Khống chế Tây Nguyên là khống chế cả miền Nam”
Tây Nguyên có đường biên giới dài 590 km với Lào, Campuchia, bao gồm 5 tỉnh: Lâm Đồng, Đăk Nông, Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum, có diện tích
tự nhiên trên dưới 56.000km2 (chiếm gần 17% diện tích cả nước), số dân trên 4,8 triệu người của 46 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có trên 1.5 triệu người là dân tộc thiểu số, có tỉnh như Đăk Lăk dân tộc thiểu số chiếm trên 50% số dân1 Có một số tộc người bản địa có số dân rất ít như B’râu chỉ có 351 người, cư trú trong một làng ( làng Đăk Mế xã Bờ Y) huyện Ngọc Hồi và tộc người Rơ Mâm chỉ có 380 người, cư trú tại một làng ( làng Le xã Mô Rai) ở huyện Sa Thầy
Đặc điểm trên cho thấy đây là vùng văn hoá đa dạng, phong phú, cho nên sản phẩm văn hoá cũng phong phú, đa dạng, nhu cầu hưởng thụ văn hoá cũng phải đa chiều Có thể nói, trong những năm qua cùng với các chính sách cụ thể
và phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chính sách trên lĩnh vực văn hoá tinh thần cho các đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Nhờ các chính sách kinh tế, văn hoá đúng đắn phù hợp
Trang 38
đã tạo ra một diện mạo mới ở Tây Nguyên trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đời sống văn hoá tinh thần của các dân tộc thiểu số ngày càng phong phú, các sản phẩm văn hoá mới được coi trọng, các sản phẩm văn hoá truyền thống được phát huy trong các ngày hội lớn của các dân tộc Tây Nguyên
Ngoài các dân tộc bản địa cư trú lâu đời còn có các tộc người khác như Mường, Nùng, Tày, Thái, Sán Dìu, Sán Chay, Kờ Ho, Khơ Me, Chăm, Dao…
từ các tỉnh khác di cư vào sinh sống trên địa bàn và cư trú rải rác ở nhiều địa phương trong vùng Tây Nguyên là một vùng đất đậm đặc về văn hóa dân gian truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số Hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú, độc đáo mang bản sắc đặc thù, thể hiện ở các loại hình như: văn hóa luật tục, văn hóa cư trú, nhà rông, nhà dài, văn hóa cồng chiêng và nhạc cụ dân tộc, diễn xướng dân gian, các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống, văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, ngôn ngữ - chữ viết, chạm khắc - hoa văn, họa tiết, dệt thổ cẩm, đan lát
Ở Tây Nguyên, sự sáng tạo nên các giá trị truyền thống và đặc thù văn hóa cộng đồng của đồng bào các dân tộc thiểu số đều bắt nguồn bởi văn hóa rừng Đối với đồng bào, rừng là tất cả, là toàn bộ cuộc sống, là không gian và thời gian sinh tồn của họ Sự phong phú, độc đáo của văn hóa các dân tộc Tây Nguyên thể hiện ở chỗ, nó không giống với các tộc người ở các vùng miền khác, nó có nhiều thể loại khác nhau, nhiều hình thức thể hiện khác nhau, đậm đặc cả trong văn hóa vật thể và phi vật thể Đấy chính là sự sáng tạo vô cùng tuyệt vời của các thế hệ nghệ nhân dân gian các dân tộc thiểu số làm nên bản sắc văn hóa đặc thù phục vụ đời sống tinh thần của chính mình, được trao truyền từ đời này sang đời khác và trường tồn cùng với thời gian Có thể cho thấy một số di sản văn hóa đặc trưng văn hóa Tây Nguyên như sau:
2.1.1 Hệ thống sử thi
Sử thi các dân tộc thiểu số là một trong những đặc trưng của vùng văn hóa Tây Nguyên Bằng thể loại văn vần dài hàng ngàn câu, với những tuyến
Trang 39nhân vật đan xen nhau thể hiện những giai đoạn lịch sử tiêu biểu của dân tộc mình Có vùng thì chỉ hát kể, có vùng thì vừa hát kể vừa kèm theo diễn xuất rất linh hoạt và thu hút Thông qua đó người nghe nhận biết được quan niệm
về sự ra đời của đất, trời, của con người, tâm linh tín ngưỡng, mối quan hệ trong cộng đồng, phong tục tập quán, sự hình thành và phát triển đời sống xã hội… được trình diễn một cách rất hấp dẫn, kết cấu chặt chẽ, có chương có đoạn, có mở có kết rất tài tình Là sự thể hiện khát vọng của đồng bào về một
xã hội tươi đẹp, một cuộc sống đủ đầy, bình đẳng, cái thiện thắng cái ác… Nghệ thuật hát kể sử thi thu hút rất đông người nghe, đặc biệt trong dịp nông nhàn, lễ hội, mùa mưa trong không gian nhà rông hoặc nhà dài, bên cạnh bếp lửa lung linh, huyền ảo và kỳ bí Sinh hoạt hát kể sử thi đang được khôi phục trở lại ở các cộng đồng dân cư, song chủ yếu mới được tổ chức ở các hoạt động lễ hội của cộng đồng làng, chưa phát huy để trở thành thường xuyên trong giai đoạn hiện nay
2.1.2 Loại hình dân ca
Đây là một thế mạnh trong đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số Cũng như các khu vực khác, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã sáng tạo ra nhiều thể loại dân ca rất phong phú, nghệ thuật diễn xướng cũng khá đặc sắc, đi vào lòng người Các thể loại dân ca tiêu biểu như hát ru, hát giao duyên, sinh hoạt, phong tục, lễ hội… thông qua các kiểu: hát nói, hát có tiết tấu, diễn xướng nhất là dân ca giao duyên, đối đáp, hát ru… nhiều làn điệu rất đặc sắc như Tin Tin, Rơ Nghê của tộc người Xê Đăng, Ba
Na hay làn điệu k’đọ của tộc người Giẻ - Triêng… rất giống với nghệ thuật hát Ei Rei dân ca Ê Đê (Đăk Lăk) sâu lắng, mượt mà, tha thiết và thời gian thể hiện rất dài, có nhạc cụ đệm như đàn Tơ Rưng, đàn KlôngPut, Ting Ning, Goong… lời ca thường có vần điệu khá chặt chẽ, nhịp điệu hài hòa, ngôn ngữ đối xứng dễ thuộc, dễ nhớ, gieo vần linh hoạt
2.1.3 Văn hóa cồng chiêng - "linh hồn" của đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên
Trang 40Cùng với đàn T'rưng, Klông Pút, Đinh Năm, Đinh Túk, cồng chiêng là loại nhạc cụ phổ biến, đặc trưng nhất của các dân tộc Tây Nguyên Ngoài vai trò là phương tiện diễn tấu nghệ thuật, cồng chiêng còn thể hiện quyền uy, sự giàu sang của mỗi gia đình, dòng tộc, bản làng, là vật thiêng trong tín ngưỡng của các dân tộc Tây Nguyên, thành tố đặc trưng của văn hóa Tây Nguyên Cồng chiêng và nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên rất đa dạng, phong phú Có rất nhiều bài chiêng như: chiêng
ăn mừng nhà rông mới, mừng nhà dài, mừng lúa mới, chiêng đón khách, chiêng tiễn khách Thông thường, cồng đảm nhiệm phần đệm và giữ nhịp, chiêng đảm nhận phần giai điệu Đặc điểm chung, nổi bật của dàn cồng, chiêng là sự kết hợp linh hoạt những âm thanh cao, thấp, tạo nên sự phối bè khác nhau Kết hợp với cồng, chiêng có cả trống, lục lạc, chuông đồng tạo nên sự hoà âm phong phú Quyện hoà trong tiết tấu, giai điệu của cồng chiêng
là những âm thanh của rừng đại ngàn, của suối reo, thác chảy; là màu sắc của nắng, của gió, của đất; là tâm hồn mộc mạc, chân thành, khoáng đạt của đồng bào các dân tộc thiểu số
Cồng chiêng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số Cồng chiêng là loại nhạc cụ nghi
lễ, được sử dụng trong các dịp lễ hội, là thành tố cơ bản để tạo nên lễ hội Với con người, từ lễ thổi tai của trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả; với cây lúa, từ lễ bói điềm, chọn đất đến thu hoạch, đóng cửa kho; với cộng đồng, từ lễ tu sửa máng nước đến mừng nhà nhà dài, nhà rông mới, mừng ghế kban bất cứ lễ hội nào cũng không thể vắng bóng cồng chiêng Ứng với mỗi hoàn cảnh ấy là một bài chiêng khác nhau, và ngay trong lễ hội, các bài chiêng cũng đánh theo tiết tấu, nhịp điệu khác nhau, tuỳ theo không khí chung của lễ hội Cồng chiêng còn được sử dụng nhân lúc rảnh rỗi, vui chơi hoặc đón tiếp khách
2.1.4 Một số nhạc cụ dân tộc truyền thống
Nhạc cụ dân tộc truyền thống được chế tác từ các loại chất liệu của núi rừng như tre, nứa, gỗ, vỏ bầu, sừng, da động vật… song cực kỳ phong phú, đa dạng và độc đáo do các thế hệ nghệ nhân các dân tộc thiểu số sáng tạo ra để