1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Nam Bộ: Tìm hiểu dân tộc Mạ vùng Nam Bộ

31 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Phần A : Khái quát chung Phần B : Nội dung chính Chương I: Đặc điểm kinh tế xã hội của dân tộc Mạ 1. Đặc điểm kinh tế 2. Đặc điểm xã hội Chương II:Đặc điểm văn hóa của dân tộc Mạ 1. Văn hóa vật chất của người Mạ 2. Văn hóa phi vật thể của dân tộc Mạ 3. Phong tục tập quán của người Mạ Phần C : Kết luận

Trang 1

Môn : Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Nam Bộ

Đề tài : Tìm hiểu dân tộc Mạ vùng Nam Bộ

Chương II:Đặc điểm văn hóa của dân tộc Mạ

1 Văn hóa vật chất của người Mạ

2 Văn hóa phi vật thể của dân tộc Mạ

3 Phong tục tập quán của người Mạ

Phần C : Kết luận

Trang 2

Phần A : Khái quát chung

Người Mạ có tên gọi khác là Châu Mạ , Mạ Ngăn , Mạ Xốp , Mạ krung.Người Mạ là một dân tộc thiểu số ở miền Nam Tây Nguyên,dân số có trên

30 nghìn người

Địa bàn cư trú chủ yếu của họ nằm trên lưu vực sông Đông Nai,giáp ranhgiữa các cao nguyên Trường Sơn Nam; phía Bắc giáp cao nguyên Mnong,caonguyên Đắc Lắc và vùng đầm hồ Lạc Thiện; Đông Bắc giáp cao nguyên LâmĐồng (cao nguyên Đà Lạt) ; Đông Nam giáp cao nguyên Bảo Lộc-Di Linh và TâyNam giáp với vùng đất cao miền Đông Nam Bộ

Tại Đông Nam Bộ người Mạ có 2472 người chiếm 7,41% dân số cả nước.Sống tập trung chủ yếu ở tình Đồng Nai với 2186 người , Bình Phước 285 người

Trang 3

Ruộng nước chiếm tỉ lệ rất nhỏ Chỉ những nơi đất bằng và thấp,đồng cỏ savan mọc vào mùa nắng ,nước ngập vào mùa mưa ,không có cây cối thì người Mạmới canh tác được ruộng nước Phương thức canh tác ruộng nước của người Mạchưa bước ra khỏi ngưỡng cửa của phương thức làm rẫy Sauk hi dẫn nước vàoruộng và ngâm trong ít ngày cho đất nhão,người ta cuốc lên một lượt rồi trangbằng mặt ruộng Công việc trang bằng đất đóng vai trò quan trọng của khâu bừaruộng Sau đó người ta tháo nước kiệt đi để trong vòng nửa tháng thì ruộngkhô.Đến đây,phương thức làm rẫy lại được áp dụng: dùng gậy trọc lỗ và tra hạt.

Người Mạ có những mảnh vườn ở gần nhà ,thường được rào bằng phên đanmắt cáo Trong vườn thường có cây thuốc lá,chuối , mít,mía,đu đủ…thỉnh thoảng

có vườn chuyên canh trồng bong,dâu tằm,thuốc lá hoặc bo bo,…

Việc chăn nuôi của người Mạ kém phát triển Họ nuôi gà,lợn,dê,trâu,bò chủyếu là để giết thịt trong các lễ hiến sinh hoặc có khách,các dịp như sửa nhà…Một

số gia đình nuôi ngựa và trong làng thỉnh thoảng có một vài con voi dùng để vậnchuyển Việc chăn nuôi gia súc ,gia cầm theo lối thả rông,tối mới nhốt vào chuồng.Hiện nay,có nơi đã dùng trâu để làm sức kéo trong canh tác nông nghiệp

Thủ công nghiệp ở đây chỉ là nghề phụ gia đình Phổ biến có nghề đannhững đồ dùng bằng mây ,tre gồm nhiều loại gùi,thung,giỏ,công cụ để bắt cá,…Nghề dệt vải bằng khung dệt thô sơ nhưng có kỹ thuật cao với phương pháp thêudệt hoa văn trên nền vải Nghề rèn có ở nhiều làng để tu sửa nông cụ bằng kim loại

và hoạt động trong những dịp nông nhàn Xưa kia, đồng bào tìm quặng từ trongcát,đá trên các ngọn núi cao đem về luyện thành sắt,thép

Những làng Mạ có kỹ thuật làm thuyền độc mộc để đi lại,vận chuyển vàđánh cá trên sông

Công việc săn bắt,hái lượm,nhất là hái lượm là những hoạt động kháthường xuyên để có rau ăn và củi nấu trong bữa ăn hàng ngày.Dụng cụ săn bắn cổtruyền là nỏ,có mũi tên tẩm độc,lao và một số cạm bẫy thô sơ

Trước kia,việc trao đổi chủ yếu là sản phẩm lấy sản phẩm không có chợ.Vật trung gian để định giá trao đổi là trâu,bò Ngô,lúa thì được đo lường bằng cácloại gùi to nhỏ khác nhau theo tập quán ở địa phương

Trang 4

2 Đặc điểm xã hội

a,Tổ chức xã hội

Tổ chức xã hội của người Mạ là bon (làng) Bon là một tổ chức gồm một sốnóc nhà quần tụ với quy mô nhỏ ở phân tán các ven sông, suối,thung lũng,sườnđồi, thuận tiện nguồn nước sinh hoạt Mỗi làng trước đây gồm một hoặc hai ngôinhà dài, trong làng có một số chòm, xóm Xưa các làng người Mạ chỉ định cưkhoảng 15-20 năm lại chuyển đi nơi khác Tập quán cư trú này ngắn với hoạt độngkinh tế nương rẫy và chiếm đoạt Khi làng phải chuyển đó là khi đất canh tác bạcmàu với rừng tái sinh trên rẫy bỏ hóa chưa đủ thời gian phục hồi lại

Phạm vi đất của một làng bao gồm đất ở,đất canh tác,đất luân canh, đấtrừng để săn bắt và hái lượm, bãi chăn thả gia súc, đất đầm hồ, sông , suối, trongkhu vực và rừng thiêng Những nơi canh tác ruộng nước, thì số ruộng thuộc quyền

sở hữa của cả làng; nhưng trên thực tế, quyền sở hữu thooucj từng nhóm gia đình

có quan hệ huyết thống, trong hai, ba đời các nhóm lại chia nhau để canh tác theonguyên tắc cha truyền con nối và chỉ có quyền chiếm hữu, không có quyền bánhoặc chuyển nhượng cho người ngoài nhóm gia đình

Cộng đồng duy trì lối sống xã hội kinh tế trong các bon Các thành viêntrong làng có quan hệ huyết thống với nhau theo quan hệ hôn nhân, nó phản ánhtính công xã thị tộc phụ hệ và công xã thị tộc phụ hệ mở rộng

Làng cử ra chủ làng( chau kuăng bon) và chủ rừng( tom bri)- họ còn đượcgọi là những người giàu mạnh( chau pái) Các làng có một đến hai người điềukhiển rừng( châu át bri)

Các thành viên trong bon đều là chủ sở hữu đất đai và các sản vật tự nhiênthông qua đại diện của mình là người đứng đầu làng và chủ rừng Người trong làng

có quyền chiếm một phần đất đai để canh tác và hưởng hoa lợi từ miếng đất đó.Người điều khiển rừng và các người đứng đầu các gia đình hàng năm hướng dẫnviệc canh tác trong làng

Sự giàu, nghèo giữa các hộ trong làng chưa phân hóa sâu sắc và không dobóc lột mà có, thực chất sự chênh lệch là do các hộ kinh nghiệm sản suất, đất tốtxấu, diện tích khai phá được, lao động cần cù khác nhau Người giàu được phânbiệt với người nghèo hơn là do có nhiều lúa, ngô, trâu, lợn và đặc biệt và đặc biệt

là chiêng, ché Số lượng và chất lượng chiêng, ché còn là thang bậc giá trí xã hội.Tính cộng đồng trong làng còn biểu hiện ở tập tục tương trợ nhau về kinh tế( cho,

Trang 5

bếu, trao đổi, không có quan hệ vay- trả) Các hộ hết lương thực được các hộ bêncạnh cho lấy ( một cối hay một gùi) sau khi chủ kho của làng đồng ý.

b,Hình thái cơ cấu gia đình

Hình thái gia đình của cộng đồng người Mạ là phụ hệ Gia đình lớn ( chau

pô hìu) đang trong quá trình tan rã và hình thành những gia đình nhỏ Gia đình lớnthường cư trú hai, ba nhà liền kề nhau,mỗi nhà gồm từ hai, ba đến sáu, bảy cặp vợchồng cùng con cái của họ khoảng 10 đến trên dưới 30 thành viên thuộc 3,4 thế hệđược sinh ra từ một ông tổ

Các gia đình cư trú chung dưới một mái nhà dài, các thành viên cùng làmchung, hưởng chung( thu hoạch cất vào một kho chung) song tổ chức bữa ăn thìriêng từng cặp vợ chồng và con cái họ tài sản chung của gia đình lớn là đất canhtác, hoa lợi, trâu, bò, dê và chiêng ché Các cặp vợ chồng gia đình lớn sở hữachung các loại công cụ sản xuất, gia súc nhỏ, đồ dùng nhà bếp, đồ dùng cá nhân

Nhưng mặt khác, các gia đình cùng sống chung dưới một mái nhà dàinhưng sản xuất, thu hoạch hoa lợi vào các kho riêng của từng cặp vợ chồng, tuynhiên trong quá trình sản xuất, một gia đình nhỏ nào đó hết lương thực thì giađình khác hỗ trợ ( không phải trả lại) đứng đầu gia đình lớn là người đànoongcao tuổi, quán xuyến công việc như chỉ đạo canh tác, dời, sửa hay làm nhàmới, mua sắm tài sản lớn( voi, trâu, chiêng, ché, ) ,tổ chức các lễ nghi phong tục( cúng thần, cưới hỏi, ma chay ), giải quyết xích mích giữa các thành viên nếu có

và đối ngoại

Bên cạnh hình thức gia đình lớn đang dần dần tan rã xã hội người Mạ đãxuất hiện ngày càng phổ biến hình thức gia đình nhỏ phụ quyền Trong gia đìnhnày, quyền hành vẫn thuộc về người đàn ông là chủ yếu tuy vậy, mọi việc thườngđược bàn bạc chung giữa hai vợ chồng Gia đình nhỏ thực sự là một đơn vị kinh

tế cá thể Tuy vậy vẫn còn lưu giữ được nhiều dấu vết của gia đình lớn phụ hệ

Trang 6

Chương II : Đặc điểm văn hóa của dân tộc Mạ

1 Văn hóa vật chất

a.Nhà ở

Ngôi nhà dân gian của ngời Mạ là nhà sàn dài.Hiện nay ở nhiều nơi như:DiLinh,Bảo Lộc,…họ vẫn cư trú trong những ngôi nhà như vậy Theo các tài liệucũ,hồi đầu thế kỉ XX tồn tại những ngôi nhà dài hàng trăm mét.Đến nay,chỉ phổbiến những ngôi nhà dài trong khoảng từ 20 đến ngoài 30m Đồng thời xuất hiệnngày càng nhiều những ngôi nhà sàn ngắn trong khoảng từ 4 đến 8m Tiếp nối hiệntrạng này là sự xuất hiện những ngôi nhà đất của các gia đình nhỏ với mái phủ bến

bề như kiến trúc của người Việt

Nhà của người Mạ làm bằng tre, nứa,bương, mai,những bộ phận chính củakhung nhà được làm bằng gỗ.Nhà có hai mái và lợp bằng lá mây hoặc cỏ tranh tùytheo nguyên liệu sẵn có ở địa phương.Lá lợp được kết thành từng tấm,mỗi tấm dàikhoảng 2m

Nhà sàn người Mạ hiện nay phổ biến chỉ cao hơn mặt đất từ 40-60cm Cónhững ngôi nhà sàn thấp gần như nhà trệt (nhà đất) Nhưng càng trở về trước , nhàsàn Mạ lại càng cao hơn,tầm cao thích hợp là 1m40 hay 1m50 Đây chính là quátrình phát triển nội tại của ngôi nhà Mạ(từ kiến trúc sàn cao rồi hạ xuống thấp dần

và tiến tới bỏ sàn ở đất)

Nhà sàn Mạ là loại nhà vì cột dựa vững trên các cây cột và các hàng xàngang,dọc,không có vì kèo Hai hàng cột cái bằng gỗ ở giữa,chia lòng nhà ra làm 3khoảng xấp xỉ bằng nhau Khoảng giữa rộng nhất là nơi đựng vựa lúa trên sàn.Gậm sàn vựa lúa(trên sàn nhà) là nơi đặt bếp nấu ăn Những gian không có vựa lúa

là chỗ sinh hoạt nội trợ,hội họp và tiếp khách.Khoảng trong là chỗ ngủ bao giờcũng rộng hơn khoảng ngoài một ngang tay Phần rộng thêm một ngang tay sátvách trong là nơi để các ché ủ rượu cần.Khoảng ngoài là nơi đi lại và dựng một sốgiá tre để chứa các âu đựng nước,các đồ dùng nhà bếp và đồ dùng gia dụng khác

Trang 7

Bộ xương mái được kết cấu bởi các hàng đòn tay, cây đòn nóc ,rui (hay làkèo giả) ,mè …như một kiến trúc riêng biệt chụp lên khung nhà Các đòn tay vàcác đòn nóc đều được dặt chồng lên các cây kèo Xung quanh nhà thưng bằng nứa

lồ ô đập dập,bồ banh Những cây cột gỗ đỡ vách dựng theo hai hàng phên dọc trởthành hai hàng cột phụ chống lên rìa mái Sàn nhà cũng nát bằng nứa lồ ô đậpdập,bồ banh Cửa ra vào đều mở về phía mặt tiền,phía trước mỗi cửa đều đặt chếchmột thang khung

Nhà sàn dài của người Mạ là nơi cư ngụ của một gia đình lớn hay nhiều giađình nhỏ có quan hệ huyết thống theo dòng cha Mỗi gia đình nhỏ đều có một vựalúa trong nhà và có bếp nấu ăn riêng Các cây cột vựa lúa cao tầm 1m kể từ mặtsàn, tại vị trí dưới lồ luồn dầm lên đều trang trí mô hình “chày cối”

Ở vào vị trí trung tâm của ngôi nhà là những gian để tiếp khách còn đượcdựng một cây “cột trống” chống lên giữa bụng một cây “quá giang” Trên thân cộttrống cũng được trang trí mô hình chày cối, có một xà ngang nối liền cột trống vớimột cây cột đỡ vách phên mé trong để treo trống cái mỗi khi có dịp cúng thần.Cách xà treo trống khoảng 1m theo hàng cột cái mé trong là cây “cột thiêng” đứngđộc lập ,đâm lên xà lòng nhà Cột thiêng cũng được trang trí giống như cột trống

và vựa lúa Đây là cột cũng thần trong ngôi nhà Mạ Khi có nghi lễ,một số lễ phẩmđược buộc vào cây cột này

Trang 8

Các mái cửa ra vào của ngôi nhà Mạ đều được uốc khum khum,làm thànhmột cái vòm bằng những thái tre,cành trúc đội lên mái cỏ Cửa đó gọi là cửamẹ(pồng me).

Xung quanh nhà ở,người Mạ dựng những kho lúa trên sàn cao Sàn cáchmặt đất khoảng 1m4 Tất cả những cây cột nhà kho này đều có trang trí chày cốinhư cột trống,vựa lúa,cột thiêng trong ngôi nhà để ở

Kỹ thuật lắp ghép trong kiến trúc nhà ở của người Mạ chủ yếu là buộc bằngdây mây,ít thấy dựa vào ngoãm hay chạc Chỉ riêng các cây cột có trang trí chàycối là có một lồ luồn dầm

Trang 9

+ áo chui đầu ôm sát thân , dài thắt lưng , kín tà, hai vạt áo trước và saubằng nhau, cổ tròn thấp Nửa thân áo trước và sau lưng được trang trí hoa văn màu

đỏ và xanh trong bố cục dải băng ngang thân với các mô típ hoa văn hình học làchủ yếu Chiều dọc hai bên mép áo trang trí bằng các sọc nhiều màu sắc Có trườnghợp nửa trên áo dệt trang trí hoa văn kín trên nền trắng với hoa văn hình học màu

đỏ, xanh

+ mặc váy quấn(xà rông)là váy dùng một tấm vải quốn thành váy,dài quábắp chân,được trang trí hoa văn theo bố cục dải băng ngang thân váy Váy đượctrang trí bốn phần, nếu tính từ trên xuống phần một và ba là khổ vải màu đen hoặcchàm không có hoa văn trang trí,phần hai và bốnđược trang trí hoa văn hình họcnhiều màu,rất công phu và đẹp mắt Dải thứ hai tính từ trên xuống có thể xem là đồ

án trang trí chính,hoa văn đậm và rực rỡ hơn Mảng thứ tư sát chân váy chủ yếu làhoa văn theo nhiều dải băng ngang nhiều màu

-Y phục truyền thống của nam giới người Mạ :

+ áo màu trắng ,xẻ tà vạt sau dài hơn vạt trước che kín mông Nủa phíatrước áo thường dệt ,thêu hoa văn hình học màu đỏ ,trắng ,xanh,có loại áo có tua ởvạt sau.Có các loại áo:áo dài tay ,áo cộc tay và áo không tay

Trang 10

+ đóng khố,có các loại khố dài,khố ngắn;thường là màu chàm,có loại khôngtrang trí có lại trang trí với các hoa văn chủ yếu là các sọc ngang dọc,phần lớn chạytheo rìa mép khố ,đầu khố thường có tua hoặc có đính hạt cườm.

- Trang phục của người mà được làm bằng thổ cẩm,với cách dệt khéo léongười phụ nữ Mạ đã trở thành những “kỹ thuật viên xuất sắc”,nhất là trong việcnhuộm vải Bằng các nguyên liệu có sẵn ở nơi cư trú như các loại vỏ, quả, lá và củcây rừng họ pha chế để cho ra các màu trên vải dệt truyền thống là đen, đen chàm,

đỏ, vàng, trắng, xanh trong đó đen chàm là màu chủ đạo… Bàn tay tài hoa củangười phụ nữ Mạ kết hợp với một số bí quyết tích lũy tự bao đời đã tạo ra nhữngcuộn chỉ dệt chất lượng cao, màu không lây sang quần áo khác cùng giặt, trải quađôi mươi mùa rẫy mà thổ cẩm vẫn giữ được sắc màu nguyên thủy

+ Mùa lạnh,người lớn tuổi thường khoác them tấm mền cho ấm,một sốngười còn quấn khăn trên đầu…

- Cách trang trí hoa văn của áo, váy đều được thực hiện từ khâu dệt vải.Trên một tấm vải, người Mạ sáng tạo mẫu hoa văn theo trí tưởng tượng của từngngười Áo của dân tộc Mạ có nhiều loại, mỗi loại có tên gọi khác nhau, tùy thuộc

+Tà trước của áo được trang trí những mô típ hoa văn cách điệu về thiên

Trang 11

nhiên cùng những sinh hoạt trong đời sống hằng ngày của người Mạ như hoa câybông, lá bí, con vượn, con hổ, chà gạc, cối giã gạo, mũi tên, ché rượu Bên cạnhnhững mô típ hoa văn cổ truyền, ngày nay trên áo phụ nữ Mạ còn có những hoavăn hình máy bay, hình người (kon cau), vẩy con trăn, phù hiệu Mặt sau của áothường trang trí hoa văn động vật như: chân quạ, chim, hươu (sếm pút), vượn(kwain) Hai bên sườn áo là dải hoa văn vảy thằn lằn chảy suốt từ vai xuống gấu

áo Hoa văn trên cạp váy được dệt bằng nhiều loại sợi, len màu xanh đậm, hình con

ốc sên, vảy bụng con thằn lằn, hình zích zắc

- Ngày nay, Y phục của người Mạ hiện nay đã có nhiều thay đổi, trong lúclao động, đàn ông thường mặc quần đùi (quần xà lỏn), chỉ có một số người già cònmặc khố Nữ giới tuy vẫn còn mặc váy quấn nhưng nhiều cô gái đã ưa mặc váy tânthời (váy ống), khi đi xa, nam giới có nhiều người mặc quần âu và áo sơ mi, phụ

nữ thường mặc áo dệt kim hoặc áo may sẵn của các cửa hàng tạp hóa

-Trang sức

- Cũng như các dân tộc khác ở Tây Nguyên, người Mạ mặc trang phục kếthợp một số trang sức Đồ trang sức của dân tộc Mạ thường là các vòng cổ bằng hạtcườm nhiều màu nhưng chủ yếu được làm bằng đồng, chẳng hạn như chiếc vòngtay có hoa văn khắc chìm (Kồng)

+ Vòng tay không chỉ là đồ trang sức của phụ nữ mà nam giới cũng có thóiquen đeo vòng bởi nó là vật có ý nghĩa tín ngưỡng Phụ nữ Mạ quan niệm đeovòng có thể loại trừ những điều xấu ảnh hưởng đến con người + Ngoài ra, vòng tay còn là vật chứng giao ước khi một cá nhân trở thànhthành viên của buôn làng Họ cũng đeo vòng cho nhau trong những cuộc gặp gỡbạn bè thân thiết hay gặp một người khách quý + Trong lễ cưới, lễ kết nghĩa anh em, người ta đeo vòng cho nhau để cầu

+ Khi đeo vòng cho nhau họ có một nghi lễ nhỏ: Đặt vòng lên chai rượurồi nói chuyện với nhau Nếu đồng ý kết bạn, họ rót rượu ra uống sau đó đeo vòngcho nhau và từ đó coi nhau như anh em ruột thịt Trường hợp hai người cho nhauvay trâu bò thì khắc vào vòng của nhau, mỗi trâu 1 vạch ngang -Người Mạ có tục “cà răng căng tai” Vòng tai bằng ngàvoi,đồng ,kền,gỗ,khoanh nứa màu vàng.Họ quan niệm,lỗ tai ai càng to thì càngđẹp

Trang 12

c.Ẩm thực

Bữa cơm hàng ngày của người Mạ chủ yếu là cơn gạo tẻ với muối trộnớt,sả,măng tươi và các loại rau rừng , bầu, bí, mướp, cà,đọt mây,đọt sắn…;đôi khimới có them cá,tôm ,cua,ốc…do kiếm được ở bờ song,suối,hay thịt thú rừng sănđược

Gia súc,gia cầm chăn nuôi được chỉ giết thịt khi đãi khách xa đến hay cócông việc như sửa chữa nhà cửa,thu hoạch ngô lúa…

Cách chế biến: gia cầm được vặt sạch long,đem thui trên bếp lửa,sau đómổ,chặt và đem nấu.Thức ăn được chế biến bằng cách nướng , luộc,kho và nấucanh

Thức uống chủ yếu là nước suối (trước đây không đun sôi) và rượu cần…

 ẩm thực phản ánh đời sống tự cấp tự túc với hoạt động nương rẫy là chủyếu,có quan hệ sâu sắc với rừng của dân tộc Mạ

d.Phương tiện đi lại ,vận chuyển và đồ dung sinh hoạt

Phương tiện đi lại,vận chuyển trong nếp sống cổ truyền là một biểu hiệnkhông thể thiếu trong văn hóa vật thể Đây là một sự sáng tạo văn hóa phục vụ chotập quán mưu sinh và đời sống sinh hoạt của cộng đồng gắn với môi trường tựnhiên

Dân tộc mạ cũng như một số dân tộc miền Đông Nam Bộ nhưXtiêng,Mnông , Chơro với nền kinh tế nương rẫy và gắn bó với núi rừng là chủyếu,nên phương tiện vận chuyển chủ yếu là chiếc gùi được đan và tạo hình với cácđặc trưng khác nhau Gùi là phương tiện vận chuyển lương thực,nước,hoa màu,lâmthổ sản và nhiều vật dụng khác trong lao động và trong đời sống thường nhật Tùytừng chức năng mà gùi được đan với các kỹ thuật dày,thưa khác nhau.Gùi để vậnchuyển đi xa được đan công phu và có trang trí hoa văn.Ngoài ra,voi cũng là mộtphương thức vận chuyển ,đi lại của người Mạ

Công cụ sản xuất của người Mạ không nhiều lắm,chủ yếu là các công cụgắn với hoạt động kinh tế nương rẫy Tiêu biểu là chiếc chà gạc là công cụ để phátrẫy (chặt cây nhỏ,phát cành,dây leo…); rìu để đốn cây to ; cuốc để xới dất;gậychọc lỗ đầu vót nhọn ,bịt sắt để tra hạt giống (lúa,ngô…); ống lồ ô để đựng hạt

Trang 13

giống ; cào và vằng để làm cỏ lúa rẫy;liềm để cắt lúa nếp,lúa tẻ thì suốt bằng taycho vào giỏ ,vào gùi mang về kho của gia đình Các chỗ có ruộng nước thì dùngtrâu để quần đất cho đất tơi xốp, mềm trước khi cấy trồng.

Đồ dùng sinh hoạt của người Mạ cũng rất ít do cuộc sống xã hội cổ truyềnkhó khăn và chưa phát triển Trong các gia đình thường có các nhạc cụ nhưchiêng.thanh la bằng đồng để sử dụng trong các nghi lễ; có ché ủ rượu cần bằngsành sứ; các loại nồi đất để nấu cơm,thức ăn;cối để giã gạo và chày tay bằng gỗ.Các gùi,thung…được làm bằng tre,nứa,mây…để vận chuyển,đựng đồ;nhiều vỏ tráibầu khô được tàng trữ để làm giỏ đựng…ngoài ra còn có các loại ghế ngồi bằng gỗnhư ghế dài,ghế chủ,ghế khách

2.Văn hóa tinh thần

 Khái niệm: Văn hóa tinh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật chất lànhững ý niệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn mực, tạo nên một

hệ thống Hệ thống đó bị chi phối bởi trình độ của các giá trị, đôi khi có thể phânbiệt một giá trị bản chất Chính giá trị này mang lại cho văn hóa sự thống nhất vàkhả năng tiến hóa nội tại của nó

 Và khi nói về văn hóa tinh thần của một tộc người thì ta xét trên cácyếu tố: ngôn ngữ, lễ hội, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa dân gian

a, Ngôn ngữ:

Tiếng nói của người Mạ thộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn –Khơme, miền núi phía Nam gần gũi với tiếng nói của người Mnông, Chơro,Xtiêng, và nhất là tiếng nói của người Cơ ho là dân tộc láng giềng gần gũi nhất

Trong vốn từ vựng của ngôn ngữ Mạ, yếu tố Khơme trội hơn hẳn so với cácdân tộc cùng nhóm ngôn ngữ ở Bắc Tây Nguyên như Bana, Xơ đăng

Trước kia, dó ít có điều kiện tiếp xúc với người Việt, lại cư trú ở khu vực cótính chất đóng kín, nên nhiều người Mạ không biết tiếng phổ thông, nhất là nữ giới

và những người ở lứa tuổi ngoại 50

Trang 14

Nhưng trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân và đế quốcxâm lược, nhất là ngót 20 năm chống Mĩ cứu nước vừa qua, quê hương của người

Mạ phần nhiều là những căn cứ địa cách mạng, một số nơi là vùng bị tạm chiếm,việc tiếp xúc với người Việt ngày càng được mở rộng và trở thành một nhu cầutrong sinh hoạt thường xuyên Đến nay, đa số người Mạ đều biết tiếng phổ thông

và biết chữ quốc ngữ, nhiều người sử dụng tiếng phổ thông và chữ quốc ngữ mộtcách thuần thục, nhất là giới trẻ

b, Lễ hội:

Xuất phát từ phương thức sinh hoạt kinh tế chủ yếu của người Mạ là phátrừng làm rẫy, vì vậy nên, người Mạ có nhiều lễ nghi nông nghiệp gắn liền với quátrình canh tác rẫy để cầu mong cho mùa màng tốt tươi Những cuộc lễ cúng thầnnông nghiệp được tiến hành theo chu ký canh tác của nông lịch Mạ

Lễ cúng thần lúa (yang koi) là lễ cúng lớn nhất của người Mạ, thường

được tổ chức vào tháng 2 âm lịch khi người Mạ đã thu hoạch xong mùa màng.Trước đây, lễ cúng thường được tổ chức ở nhà dài, nhưng gần đây do kết cấu cộngđồng có sự thay đổi nên mỗi nhà tùy theo điều kiện tự tổ chức Lễ cúng thần lúađược tổ chức bằng hình thức đâm trâu, hay đây còn gọi là lễ đâm trâu

Vì vậy cho nên, đâm trâu được xem là lễ hiến sinh lớn nhất của người Mạ,đây là ngày hội lớn Người Mạ dựng khoảng ba cây nêu trước sân theo hình tamgiác Cây nêu lớn dùng để cột trâu, các cây nêu nhỏ cột dê hoặc heo hoặc bò.Trước đây, lễ thường kéo dài nhiều ngày, nhiều đêm, nhưng ngày nay rất ít được tổchức Trên các cây nêu, người Mạ chia làm nhiều bậc để trang trí Theo họ quanniệm, cây nêu phần trên hướng thẳng lên trời tượng trưng cho thần linh, phía giữa

là tổ tiên và dưới gốc là con người Trên các cây nêu, họ tạo những bông tre xoắnthành chùm, tượng trưng cho bông lúa lớn Hai màu xanh, đỏ được dùng chủ yếutrong trang trí với quan niệm màu đỏ là huyết con vật được hiến sinh để báo chothần linh, màu xanh cầu mong cho mùa màng xanh tươi Dưới gốc cây nêu thường

để những ché rượu cần mà mỗi nhà người Mạ làm đem đến

Trang 15

Lễ đâm trâu thường được tiến hành vào buổi xế chiều Cộng đồng người

Mạ khi tổ chức thường mời các buôn làng khác đến dự Nghi thức tiếp đón bằngcách già làng đem rượu trong ống tre ra ngoài cổng mời khách Đoàn khách vừa điđến vừa đánh cồng chiêng Khi mời rượu xong, già làng đọc lời cúng trong bàn thờ

và làm nghi thức tẩy uế để đâm trâu

Tiếp đến, những người có uy tín trong cộng đồng, khoảng ba người, đượcchọn để đâm trâu Trong khi đoàn người đi xung quanh các cây nêu hát múa thìnhững người đâm trâu lựa thế dồn trâu vào để đâm cho trâu nhanh chết Khi đâmtrâu, bò và heo (hoặc dê) xong, họ xẻ thịt ngay và nướng trên đống lửa được đốtsẵn, rồi chia cho cộng đồng tham gia ăn và uống rượu cần

Trong buổi lễ, các thanh niên nam nữ Mạ múa hát, các người già thì tậptrung uống rượu cần và hát kể cho nhau nghe về cộng đồng của mình Cồng chiêngđược đánh thâu đêm suốt sáng…

Ngày đăng: 10/05/2021, 07:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w