1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu quy trình lựa chọn Danh mục đầu tư

18 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 482,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo trình bày về quy trình lựa chọn danh mục đầu tư chứng khoán cơ bản. Bao gồm quá trình phân tích chứng khoán như phân tích vĩ mô, phân tích ngành, phân tích công ty. Quá trình phân tích chứng khoán bằng excel như Tính tỷ suất lợi tức, phương sai, độ lệch chuẩn; Tính hiệp phương sai và hệ số tương quan, Tính và vẽ đường biên phương sai bé nhất

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH LỰA CHỌN DANH MỤC ĐẦU

Trang 2

MỤC LỤC

BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH VIÊN i

PHẦN 1 - PHÂN TÍCH CHỨNG KHOÁN 1

1.1 Phân tích vĩ mô 1

1.1.1 Thị trường thế giới 1

1.1.2 Thị trường Việt Nam 1

1.2 Phân tích ngành 2

1.2.1 Xây dựng và bất động sản 2

1.2.2 Ngành sản xuất hàng tiêu dùng 3

1.2.3 Ngành bán lẻ 4

1.2.4 Ngành dầu khí 4

1.3 Phân tích công ty 5

1.3.1 CTCP - Tập đoàn VinGroup – VIC 5

1.3.2 CTCP – Sữa Việt Nam Vinamik – VNM 6

1.3.3 CTCP - Vàng bạc đá quý Phú Nhuận – PNJ 7

1.3.4 CTCP - Tổng công ty khí Việt Nam – GAS 8

PHẦN 2 - PHÂN TÍCH DANH MỤC ĐẦU TƯ 9

2.1 Tính tỷ suất lợi tức, phương sai, độ lệch chuẩn 9

2.2 Tính hiệp phương sai và hệ số tương quan 11

2.3 Tính và vẽ đường biên phương sai bé nhất 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO I

Trang 3

PHẦN 1 - PHÂN TÍCH CHỨNG KHOÁN

1.1 Phân tích vĩ mô

1.1.1 Thị trường thế giới

Đến nay, thị trường chứng khoán thế giới và nền kinh tế thế giới đang trở nên đắt hơn trước một số khó khăn

Thứ nhất, các cổ phiếu đang ở trong ngưỡng của thị trường giá xuống, nghĩa là các chỉ

số giảm 20% so với đỉnh Trong các thống kê mới nhất, tính đến nay, tất cả các thị trường chứng khoán thế giới đều giảm mạnh, riêng Việt Nam giảm từ mức đỉnh 1.211 điểm xuống 892,54 điểm (28/12/2018), giảm quá 20% Và trong tất cả các thống kê lịch sử của thị trường chứng khoán thế giới đều cho thấy, để các thị trường phục hồi từ giá đáy lên trở lại đỉnh cũ, sớm nhất cũng phải mất 21 tháng

Thứ hai tiếp tục mối lo chiến tranh thương mại Mỹ - Trung chưa đến hồi kết

Thứ ba, thế giới chứng kiến giá dầu đi xuống, tất cả các nhà phân tích và chuyên gia tỏ

ra đều nghi ngại về tăng trưởng kinh tế thế giới đi xuống

Thứ tư là sự bất ổn địa chính trị tại Trung Đông - Mỹ, Nga - Mỹ thế giới hứa hẹn một năm rất bất ổn và chưa biết sẽ đi về đâu

Ảnh hưởng chung đến thị trường tài chính thế giới là đúng nhưng lại là cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam trong việc tái cơ cấu chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Cơ hội chính của thị trường năm 2019 là mức định giá đã rất hấp dẫn khi thị trường liên tục giảm mạnh vào cuối năm 2018 và xu hướng chuyển dịch sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam được đẩy mạnh Thách thức sẽ tiếp tục đến từ những biến động bên ngoài như chiến tranh thương mại

Mỹ Trung (tác động sẽ thấy rõ hơn vào năm 2019, và khả năng có thể diễn biến xấu hơn nếu hai bên không đạt được thỏa thuận), chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục được thắt chặt ở Mỹ do thị trường lao động khá căng thẳng tại đây, các bất ổn có thể có tại châu Âu khi khối này đã dừng nới lỏng tiền tệ và có rất nhiều các cuộc bầu cử tại đây vào năm 2019

1.1.2 Thị trường Việt Nam

Nguyên nhân khiến thị trường chứng khoán đã có giai đoạn giảm kể từ tháng 4/2018 đến nay chủ yếu là do từ tình hình bất ổn của thế giới xoay quanh vấn đề cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, lo ngại xu hướng bảo hộ thương mại và Brexit

Đồng thời, việc Fed tăng lãi suất 4 lần trong năm 2018 cũng khiến dòng tiền rút khỏi kênh chứng khoán ở các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam Ngoài ra, việc tăng trưởng tín dụng chậm lại cũng đã khiến nhóm ngân hàng, bất động sản điều chỉnh mạnh và ảnh hưởng tiêu cực lên xu hướng chung của toàn thị trường

Với những dự báo nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng và cải thiện tích cực trong năm 2019 thì những nguyên nhân kể trên sẽ là động lực giữ sự ổn định của thị trường chứng khoán Tuy nhiên, rủi ro của các tác động từ các nền kinh tế lớn của thế giới vẫn

Trang 4

còn phức tạp, nhưng chắc chắn thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn duy trì xu hướng tăng dài hạn và tích cực

Các chuyên gia đánh giá nhóm ngành bất động sản công nghiệp sẽ được thu hút dòng tiền trong năm 2019 Các công ty khai thác các thị trường tiêu dùng trong nước, nhóm cổ phiếu ngành vận tải vẫn sẽ có tăng trưởng tốt và ổn định Ngoài ra, ở nhóm cổ phiếu vốn hóa vừa và nhỏ được đánh giá triển vọng lạc quan ở thủy sản và dệt may

Rất rõ ràng là dòng vốn sẽ rút khỏi kênh chứng khoán khi rủi ro chiến tranh thương mại gia tăng cho nên thị trường chứng khoán thế giới sẽ bị tác động tiêu cực trong ngắn hạn

và thị trường chứng khoán Việt Nam cũng sẽ không nằm ngoài lề xu hướng này

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang thật sự là thị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư khi các thị trường Việt Nam đang được đánh giá là thị trường còn non trẻ và còn rất nhiều tiềm năng phát triển Đồng thời, với quy mô về thị trường nội địa lớn và nền kinh tế đang có mức độ hội nhập thương mại cao, thị trường chứng khoán Việt Nam đang được nằm trong danh sách những điểm đến đầu tư hàng đầu Với tình hình vĩ mô dự báo là tiếp tục tăng trưởng và ổn định trong năm 2019 và nhiều sản phẩm phái sinh dự kiến sẽ được triển khai, nhà đầu tư sẽ tiếp tục đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2019

Thị trường chứng khoán Việt Nam được kỳ vọng sẽ đứng vững trong năm 2019 bất chấp các bất ổn của thị trường chứng khoán thế giới có thể sẽ diễn ra Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì tăng trưởng tốt trong năm 2019 và sẽ hỗ trợ tích cực lên diễn biến của thị trường chứng khoán trong năm Mặc dù thận trọng nhưng không bi quan về thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2019 và có thể lạc quan về sự phát triển trong dài hạn

1.2 Phân tích ngành

1.2.1 Xây dựng và bất động sản

Theo phân tích của nhiều chuyên gia, trung bình hàng năm số lượng hộ gia đình mới

có nhu cầu nhà ở tại Hà Nội và TP.HCM lần lượt là 81.000 và 63.000 Nếu xét đến nhu cầu đến từ thâm hụt nhà ở xuống cấp thì con số này là 130.000 và 134.000, tạo ra một nền tảng vững chắc cho thị trường nhà ở tại 2 thành phố lớn của Việt Nam trong dài hạn

Nhiều nhận định đều cho thấy năm 2019, thị trường bất động sản sẽ tiếp tục phát triển trên đà của năm 2018 với những chuyển động tích cực, trong đó tập trung phát triển đồng đều các dòng sản phẩm Bức tranh chung về thị trường bất động sản trong năm 2019 chắc chắn sẽ tươi sáng

Nhận định về diễn biến thị trường nhà ở trong thời gian tới, ông MacGregor - Tổng Giám đốc Savills Việt Nam cho rằng nền kinh tế Việt Nam liên tục đón nhận những tin tức khả quan: GDP cả nước đã giữ đà tăng trưởng, đạt 6,88% trong quý 3/2018, và nằm trong số những những nền kinh tế phát triển tốt nhất thế giới FDI tiếp tục tăng nhanh, kiều hối đạt

Trang 5

mức kỷ lục đồng thời dự trữ ngoại hối cũng đạt mức cao nhất, hỗ trợ tích cực cho đồng Việt Nam

Do đó, động lực tăng trưởng của thị trường nhà ở Việt Nam tiếp tục được thúc đẩy bởi

cơ cấu dân số vàng, triển vọng kinh tế tích cực và các dự án cơ sở hạ tầng mới TP.HCM và

Hà Nội đang đi vào giai đoạn chuyển mình và sánh ngang với những thành phố khác trong khu vực Thị trường căn hộ được thúc đẩy bởi nguồn cầu nhà ở mạnh mẽ, trong khi đó phân khúc cao cấp đang thu hút sự quan tâm của tầng lớp siêu giàu trong nước và khu vực

Nhìn vào năm 2018 và những năm tiếp theo, có thể ước tính thị trường nhà ở sẽ tiếp tục phát triển theo hướng nhiều người mua nhà để ở hơn và ít đầu cơ, đó là một quá trình chuyển đổi lành mạnh hơn và là dấu hiệu tích cực cho thị trường đi lên

Về phía nguồn cung, thị trường đang tập trung chuyển sang phân khúc giá rẻ và trung cấp Theo đó, các dự án nhà ở giá rẻ và tầm trung mới như dự án Vincity có quy mô lớn do Vingroup phát triển và dự án Gem Riverside do Tập đoàn Đất Xanh phát triển dự kiến sẽ giúp phân khúc này tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn so với các phân khúc khác trong vài năm tới

1.2.2 Ngành sản xuất hàng tiêu dùng

Theo nghiên cứu Toàn cảnh ngành thực phẩm - đồ uống Việt Nam năm 2018 của Vietnam Report, ngành thực phẩm và đồ uống hiện chiếm khoảng 15% GDP và có xu hướng tăng lên; đồng thời đang chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu chi tiêu hàng tháng của người tiêu dùng (chiếm khoảng 35% mức chi tiêu)

Dẫn số liệu từ Tổng cục Thống kê, báo cáo cho biết chỉ số tiêu thụ của ngành chế biến thực phẩm và sản xuất đồ uống trong 9 tháng đầu năm 2018 tăng lần lượt 8,1% và 10,2% so với cùng kỳ năm trước Trong khi đó theo dự báo của BMI - ngành thực phẩm và đồ uống sẽ cao hơn trong giai đoạn 2016 - 2019, Việt Nam có thể đứng ở vị trí thứ ba châu Á

Không chỉ là thị trường tiêu thụ, Việt Nam còn có tiềm năng xuất khẩu các sản phẩm thực phẩm - đồ uống và hiện đã có những doanh nghiệp tương đối mạnh, có tên tuổi, sức cạnh tranh, thường xuyên dẫn đầu tại thị trường trong nước, đủ cơ sở để xuất khẩu ra nước ngoài

Theo nghiên cứu của BMI, cơ hội đầu tư cho ngành chế biến thực phẩm của Việt Nam vẫn còn khá lớn, đặc biệt trong ngành đồ uống, thực phẩm chế biến và sữa Hoạt động M&A trong ngành thực phẩm - đồ uống thời gian qua cũng diễn ra rất sôi động, cả về số lượng và chất lượng, tạo nên những "ông lớn" của ngành thực phẩm - đồ uống, điển hình như Vinamilk, Masan, Thành Thành Công, Kido, Pan Group…

Mặt khác, theo đánh giá của VDSC, dư địa tăng trưởng của ngành sữa trong dài hạn vẫn khá tích cực Mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực, chỉ vào khoảng 26 lít/năm so với Thái Lan (35 lít/năm) hay Singapore (45 lít/người) Đồng thời, các yếu tố về nhân khẩu học như dân số đông với tốc độ gia tăng dân số lớn, cơ cấu dân số trẻ cùng thu nhập tầng lớp trung lưu ngày càng gia tăng sẽ là động lực thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng sữa trong dài hạn

Trang 6

1.2.3 Ngành bán lẻ

Ngành bán lẻ hiện đang có triển vọng rất tích cực bởi kinh tế Việt Nam giai đoạn 2019-2022 được giữ vững mức tăng trưởng bình quân trên 6.5%/năm, kéo theo số lượng người thuộc tầng lớp trung lưu ở trên tăng nhanh, dự kiến đạt 33 triệu người năm 2020 Thị trường nông thôn còn chưa phát triển trong khi hiện nay 2/3 dân số Việt Nam đang sinh sống

ở khu vực nông thôn,

Số liệu của Tổng cục thống kê, Bộ Tài chính cho thấy, năm 2018, GDP cả nước tăng 7,08% - mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây Thu nhập của người Việt ngày càng tăng cao dẫn đến nhu cầu mua sắm vàng trang sức càng lớn, mở ra cơ hội nhưng cũng không

ít thách thức dành cho ngành vàng nói chung và lĩnh vực vàng trang sức nói riêng

So với các lĩnh vực bất động sản, tài chính, ngân hàng, dầu khí…thì số lượng các doanh nghiệp bán lẻ niêm yết trên sàn chứng khoán là khá ít với chỉ vài cái tên như PNJ, Thế giới di động (MWG), Digiworld (DGW) hay sắp tới là FPT Retail (FRT) Mặc dù không chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường nhưng bán lẻ đang là nhóm ngành thu hút sự quan tâm đặc biệt từ giới đầu tư với mức tăng trưởng vượt trội Không chỉ nhà đầu tư trong nước mà các nhà đầu tư nước ngoài cũng thấy được tiềm năng phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam

Thị trường bán lẻ Việt Nam hiện nay đang khá màu mỡ Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2017 doanh thu bán lẻ đạt 2,9 triệu tỷ đồng, tương đương 130 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm 2016 Đây là con số cao nhất từ trước đến nay của Việt Nam, trong đó ngành hàng đá quý và kim loại quý tăng 13,2%

1.2.4 Ngành dầu khí

Ngành khí Việt Nam những năm vừa qua đã có những bước phát triển nổi bật với nhiều dự án đường ống thu gom khí đồng hành ngoài khơi, cùng với xây dựng các cụm khí điện đạm và các cơ sở xử lý khí trong đất liền

Tính trong giai đoạn 2011-2016, tốc độ tăng trưởng kép 5 năm của ngành khí trong nước đạt trung bình 4,0%, mặc dù tốc độ đã giảm mạnh so với giai đoạn 2001-2006 (đạt khoảng 35,7%) nhưng tốc độ này vẫn cao hơn so với mức 1,5% của ngành khí toàn cầu

Dự báo trong giai đoạn 2016-2025, ngành khí trong nước vẫn có nhiều động lực tăng trưởng Trong đó, động lực chính đến từ khí LPG sử dụng trong lĩnh vực dân dụng, dự báo sẽ đạt mức 7,6%/năm, do nhu cầu sử dụng khí LPG trong sinh hoạt là nhu cầu thiết yếu và hiện tại mức sử dụng bình quân trên đầu người ở Việt Nam còn rất thấp Bên cạnh đó, kế hoạch phát triển nhiệt điện khí sẽ được đẩy mạnh với sản lượng điện từ 8,8 GW vào năm 2015 lên đến 15 GW vào năm 2025, dự báo ngành điện sẽ đóng góp 0,5%/năm vào mức tăng trưởng ngành khí, đồng thời ngành đạm sẽ tiếp tục duy trì mức tiêu thụ khí ổn định như hiện nay

Xét về cung cầu khí thiên nhiên, nhìn chung sản lượng khí thiên nhiên trong nước vẫn

bị thiếu hụt lớn Trong đó, lượng thiếu hụt nhiều nhất là khí LPG với hơn 50% nhu cầu tiêu thụ, tương đương khoảng 778 nghìn tấn LPG phải nhập khẩu vào năm 2016 Tuy nhiên, việc

Trang 7

đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng đường ống, các nhà máy xử lý khí cùng với các cơ sở nhập

và tái hóa khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) trong giai đoạn 2016-2020, sẽ là tiền đề hỗ trợ gia tăng nguồn cung cấp khí thiên nhiên và giúp giảm lượng thiếu hụt khí thiên nhiên trong nước

Trong ngắn hạn và trung hạn (1-2 năm): phân khúc trung nguồn vẫn duy trì lợi thế cạnh tranh và gia tăng sản lượng, đồng thời giá khí sẽ ở mức ổn định Do đó, có thể đầu tư vào các công ty thuộc các phân khúc sản phẩm đặc thù với tỷ suất lợi nhuận tốt như kinh doanh khí CNG và những doanh nghiệp có vị thế lớn về phân phối

Trong dài hạn (3-5 năm): ngành khí vẫn tiếp tục tăng trưởng ổn định trong 3-5 năm nhất là lĩnh vực kinh doanh LPG, đồng thời, việc giá dầu sẽ phục hồi trong dài hạn cùng với

đà phục hồi của kinh tế trong nước sẽ thúc đẩy thị trường khí thiên nhiên phát triển sôi động hơn

1.3 Phân tích công ty

1.3.1 CTCP - Tập đoàn VinGroup – VIC

Nhìn chung, Vingroup là công ty niên yết lớn nhất Việt Nam có thị phần lớn trong lĩnh vực bất động sản và bán lẻ, đội ngũ quản lý có năng lực và khả năng huy động vốn tốt Năm 2018 đánh dấu sự chuyển hướng của tập đoàn sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp và công nghệ trong khi BĐS vẫn là hoạt động kinh doanh cốt lõi Đây là bước đi tất yếu của một tập đoàn lớn để bắt kịp với cuộc Cách mạng Công nghệ 4.0 và bổ sung vào hệ sinh thái đa dạng của mình

* Điểm mạnh

Tập đoàn luôn giữ vị trí top đầu trong các lĩnh vực mà mình hoạt động, đặt biệt là lĩnh vực bất động sản, về phân khúc cho thuê và du lịch giải trí, có nguồn vốn dồi dào Khối lượng tài sản hiện tại lớn

Ban lãnh đạo dày dặn kinh nghiệm, có kiến thức và khả năng lãnh đạo Hoạt động trên nhiều lĩnh vực, phân tán rủi ro, đồng thời đây lại là các lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao

Bề dày lịch sử hoạt động, đã giành được rất nhiều giải thưởng lớn

Các dự án đều tọa lạc tại các vị trí đắc địa của những khu đô thị lớn trong nước

* Điểm yếu

Các lĩnh vực mà Tập đoàn đang đầu tư có tỷ lệ nhạy cảm với biến động thị trường (Bất động sản) Các dự án Tập đoàn tham gia đầu tư đều là dự án cần đầu tư vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm Tập đoàn sử dụng đòn bẩy tài chính mạnh, tỷ lệ nợ trên tài sản rất cao nên ảnh hưởng đến khả năng thanh toán cũng như lãi vay là khoản chi phí đáng kể

* Cơ hội

Chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu về các dịch vụ du lịch, giải trí, y tế, giáo dục ngày càng cao hơn, thị trường ngày càng có tiềm năng mở rộng hơn

Trên thị trường Việt Nam, hiếm có doanh nghiệp nào có được tiềm lực mạnh như Vingroup, vì thế khi càng phát triển và mở rộng, Vingroup càng bỏ xa các đối thủ cạnh tranh

Trang 8

Rào cản gia nhập thị trường dịch vụ mà Vingroup đang đầu tư là rất lớn, vì thế, ngoài những đối thủ cạnh tranh hiện tại, sẽ có rất ít đối thủ nào tham gia thêm vào thị trường mà có tiềm lực mạnh tương đương Vingroup

* Thách thức

Kỳ vọng của người tiêu dùng ngày càng cao, vì thế hoạt động ở lĩnh vực dịch vụ, thách thức rất lớn đối với Vingroup là theo kịp những xu thế thay đổi, cũng như những nhu cầu mới của người tiêu dùng

Lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao cũng là mục tiêu nhắm đến của nhiều công ty, tập đoàn khác Sự cạnh tranh sẽ càng ngày càng cao hơn, khốc liệt hơn

1.3.2 CTCP – Sữa Việt Nam Vinamik – VNM

VNM kết thúc năm 2018 với doanh thu thuần 52.562 tỷ đồng, chỉ tăng 3% n/n và LNST 10.206 tỷ đồng, giảm 0,7% n/n; trong đó, ước tính các sản phẩm sữa nước chiếm ~50% doanh thu, tiếp theo là sữa bột (25%), sữa chua (9%), sữa đặc (9%) và phần còn lại đến từ các sản phẩm khác Trong khi doanh thu xuất khẩu vẫn chưa thật sáng sủa mặc dù tăng 4,6% n/n sau khi giảm trong năm 2017, nhu cầu thị trường nội địa yếu khiến doanh thu nội địa của VNM chỉ tăng 2,7% trong 2018 Tuy nhiên, tình hình tiêu thụ đã có dấu hiệu phục hồi từ cuối năm 2018 và kỳ vọng mức tăng trưởng 2019 sẽ cải thiện

Tuy nhiên, mặc dù tăng trưởng năm 2018 khiêm tốn, cổ phiếu VNM vẫn có một số động lực quan trọng giúp tăng trưởng trong trung hạn:

• Khả năng SCIC tiếp tục bán đấu giá cổ phần VNM trong năm nay với giá cao và giảm tiếp tỷ lệ sở hữu – Hiện cả F&N và gần đây là Jardine C&C đều muốn trở thành cổ đông lớn để nắm quyền kiểm soát nên có vẻ có nhu cầu mua vào các lô lớn cổ phiếu VNM và NĐT muốn mua sẽ trả giá cao để giành quyền kiểm soát

• Triển vọng tăng trưởng của ngành sữa Việt Nam vẫn khả quan nhất khu vực – Dự báo ngành sữa sẽ tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 9% trong vài năm tới nhờ chi tiêu nội địa trên đầu người cho các sản phẩm sữa vẫn thấp hơn khu vực Ngoài ra dân số và mức độ đô thị hóa hiện vẫn đang tăng Và có vẻ giới trẻ vẫn tiếp tục sử dụng các sản phẩm sữa mặc dù đã trưởng thành

• Có một số dấu hiệu cho thấy VNM đang theo đuổi một chiến lược M&A tích cực – VNM đã mua 65% cổ phần Đường Khánh Hòa và đây là một dấu hiệu nữa cho thấy công ty đang ngày càng quan tâm đến hoạt động M&A Với dòng tiền mặt tự do là khoảng 7.000 tỷ đồng mỗi năm, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu chỉ là 0,02 lần và kế hoạch đầu tư hàng năm trong 4 năm tới chỉ là 3.400 tỷ đồng, thì VNM có nhiều tiền để chi cho hoạt động M&A Trên thực tế tại thời điểm cuối năm 2017, lượng tiền mặt của VNM là 11.083 tỷ đồng Theo đó, dự đoán rằng công ty đang theo đuổi một chiến lược M&A tích cực cả ở trong nước và nước ngoài

Định giá của VNM xứng đáng cao hơn bình quân khu vực nhờ những động lực kể trên Triển vọng tăng trưởng tương lai ổn định và có vẻ công ty sẽ giành thêm được thị phần

Trang 9

mặc dù theo đó chi phí quản lý và bán hàng cũng sẽ tăng Có thể nhận thấy thị trường sữa vẫn còn nhiều tiềm năng tăng trưởng nhờ: cơ cấu dân số, quá trình đô thị hóa đang diễn ra và thu nhập tăng lên Việc nâng công suất cũng cho thấy VNM muốn nắm bắt tiềm năng tăng trưởng này

1.3.3 CTCP - Vàng bạc đá quý Phú Nhuận – PNJ

PNJ đang tiếp tục định hình lại các chuẩn mực hoạt động kinh doanh trong ngành kim hoàn khi đẩy mạnh hoạt động bán lẻ Họ đã có nền tảng sản xuất nữ trang rất chất lượng, tự tin chỉ cần tiếp cận được với người tiêu dùng sẽ chiếm được cảm tình

Triển vọng dài hạn của PNJ là rất khả quan nhờ ít bị cạnh tranh; tích cực mở mới cửa hàng và đầu tư mạnh vào công nghệ mới; có khả năng lấy được thị phần từ thị trường trang sức không có thương hiệu với quy mô lớn, đặc biệt là công ty đã thành lập công ty con mới tập trung vào hoạt động bán buôn Vì vậy, tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn của PNJ vẫn rất tốt

Phân tích tài chính công ty:

Công ty ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong 2018 nhờ mảng bán lẻ tiếp tục mở rộng, hứa hẹn triển vọng tích cực cho 2019 Mức tăng trưởng tích cực của doanh thu 2018 có được là nhờ doanh thu vàng miếng tăng 29,5%, trang sức vàng tăng 34% và trang sức bạc tăng 17% Bên cạnh trang sức, PNJ đang trong giai đoạn đầu đưa sản phẩm đồng hồ vào danh mục kinh doanh, với tỷ trọng đóng góp còn rất khiêm tốn

Đà tăng trưởng tích cực này được kỳ vọng sẽ tiếp tục trong những năm tới trên cơ sở thị trường bán lẻ tại VN đang phát triển sôi động, nhu cầu cho nhóm hàng xa xỉ đang dần mở rộng theo xu hướng thu nhập cải thiện

* Thế mạnh: Hơn 20 năm kinh nghiệm trong ngành kim hoàn, PNJ đã xây dựng được thương hiệu mạnh được nhiều người tiêu dùng tin tưởng PNJ có hệ thống cửa hàng, đại lý rộng lớn phục vụ tốt cho công tác phân phối, giới thiệu sản phẩm PNJ là cổ đông sáng lập ngân hàng Đông Á nên nhận được nhiều ưu đãi từ ngân hàng này trong hoạt động tài trợ vốn

* Tiềm năng: Ngành kim hoàn tại Việt Nam có tiềm năng rất lớn Với lợi thế hiện tại, khả năng mở rộng, chiếm lĩnh thị trường của PNJ trong tương lai là rất lớn Thị trường bất động sản hồi phục, các công ty liên doanh với PNJ sẽ có nhiều dự án triển khai, khả năng đóng góp nhiều lợi nhuận cho PNJ trong tương lai

* Điểm yếu: Ngành nghề chính của PNJ, sản xuất kinh doanh hàng trang sức chịu nhiều rủi ro mà công ty khó có thể dự báo và khắc phục được Hoạt động đầu tư tài chính hiện tại chưa mang lại lợi nhuận đáng kể cho công ty mặc dù chiếm tỷ trọng cao trong nguồn tài sản

* Thách thức: Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp trong ngành kim hoàn cả trong và ngoài nước.Với nguồn vốn đầu tư tài chính tài hạn khá lớn, PNJ sẽ đối mặt với những thách thức không nhỏ nếu việc đầu tư này không hiệu quả

Trang 10

1.3.4 CTCP - Tổng công ty khí Việt Nam – GAS

Tổng công ty Khí Việt Nam - Công ty cổ phần (PV Gas) là đơn vị trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, giữ vai trò chủ đạo trong ngành công nghiệp khí Việt Nam, hoạt động trên các lĩnh vực thu gom, xuất nhập khẩu, vận chuyển, chế biến, phân phối, tàng trữ và kinh doanh khí và các sản phẩm khí; Qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, PV Gas đã trở thành Tổng Công ty hàng đầu trong Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, hàng năm đóng góp vào Ngân sách Nhà nước hàng ngàn tỉ đồng

Theo thông tin từ PVGas, từ nay đến 2025, phần đấu vươn lên hàng thứ 4 khu vực ASEAN về sản lượng khí kinh doanh hàng năm và có tên trong các doanh nghiệp khí mạnh của châu Á

Tổng tài sản mục tiêu đạt khoảng 128.000 tỷ đồng, gấp 2,5 lần năm 2015; tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân đạt 8%/năm, tỷ suất lợi nhuận sau thuế/vốn điều lệ trung bình trên 20%/năm; duy trì 100% thị phần khí khô, 70% thị phần LPG toàn quốc; cơ cấu sản phẩm theo doanh thu (khí và LNG chiếm 61%, sản phẩm khí 27%, dịch vụ khí 12%)

Kết thúc năm 2017, PV GAS đã thực hiện vượt mức kế hoạch sản lượng từ 2-46%, sản xuất và cung cấp cho các khách hàng trên 9,6 tỷ m3 khí, trên 1,3 triệu tấn LPG, trên 78 ngàn tấn condensate Các chỉ tiêu tài chính vượt kế hoạch từ 28-68%, tăng 9-15% so với thực hiện năm 2016 Cụ thể, GAS đạt doanh thu 66.001 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 10.560 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước gần 4.690 tỷ đồng

Mặc dù mất đi vị thế độc quyền trong thị trường khí nhưng với lợi thế là đơn vị đầu tiên có kho LNG, kinh nghiệm kinh doanh khí lâu năm cũng như nhu cầu khí dự báo tăng trưởng mạnh mẽ, doanh thu và lợi nhuận của GAS có thể vẫn sẽ được đảm bảo trong tương lai

Việc giá dầu hồi phục mạnh trong những tháng vừa qua, cùng với kỳ vọng các dự án dầu khí lớn tái khởi động trong năm 2019 đã giúp các cổ phiếu dầu khí bứt phá ấn tượng Trong đó có cổ phiếu GAS (PV Gas), trong 7 phiên giao dịch đầu tiên của tháng 4/2019, GAS ghi nhận 5 phiên tăng giá với mức tăng đạt gần 7% từ mức 98.200 đồng/cp lên 105.000 đồng/cp Mức tăng này của GAS diễn ra trong bối cảnh PV Gas đặt mục tiêu kinh doanh năm

2019 với sự sụt giảm cả về doanh thu và lợi nhuận

PHẦN 2 - PHÂN TÍCH DANH MỤC ĐẦU TƯ

2.1 Tính tỷ suất lợi tức, phương sai, độ lệch chuẩn

Trước tiên, thực hiện lấy giá đóng của của 4 chứng khoán PNJ, VIC, GAS, VNM trong vòng 3 năm (từ 01/01/2016 – 31/12/2018) thông qua trang web vietstock.vn

Tỷ suất lợi tức

Ngày đăng: 06/05/2021, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w