1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu chính sách An sinh xã hội tại Thụy Điển

26 182 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 160,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo trình bày về quá trình hình thành phát triển của hệ thống ASXH tại Thụy Điển, qua đó giới thiệu cụ thể một số chính sách nổi bật tại đây, đưa ra thách thức, so sánh với hệ thống ASXH tại VN và rút ra bài học

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM TÌM HIỂU VỀ CÁC CHÍNH SÁCH

AN SINH XÃ HỘI Ở THỤY ĐIỂN

Trang 2

Và Thụy Điển là một trong những quốc gia trên thế giới đã đạt được nhữngthành tựu nổi bật trong sự kết hợp giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội Nếu nhưkhoảng hơn một trăm năm trước, Thụy Điển bị xem là quốc gia nghèo nàn, lạc hậunhất của Châu Âu, thì đến nay, đất nước Bắc Âu này lại đang được xem là hình mẫu xãhội mà nhiều quốc gia khác ngưỡng mộ và học tập, trở thành nơi đáng sống nhất trênthế giới.

Chính vì điều đó nên nhóm đã quyết định lựa chọn chủ để “Tìm hiểu về các chính sách an sinh xã hội ở Thụy Điển” nhằm tìm hiểu những nét nổi bật trong chính

sách ASXH và nêu ra một số đề xuất có thể ứng dụng vào điểu kiện thực tế ở ViệtNam

Bài tập được thực hiện gồm có 04 phần:

Phần 1: Giới thiệu về Thụy Điển và hệ thống an sinh xã hội

Phần 2: Giới thiệu một số chính sách an sinh xã hội ở Thụy Điển

Phần 3: Những thách thức đối với ASXH ở Thụy Điển

Phần 4: So sánh với Thụy Điển và bài học rút ra cho ASXH ở Việt Nam

Do thời gian và kiến thức nghiên cứu còn hạn chế nên bài tập không thể tránhkhỏi những sai sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của cô

Trang 3

PHẦN 1 - GIỚI THIỆU VỀ THỤY ĐIỂN VÀ

HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI

Thuỵ Điển (tiếng Thuỵ Điển: Sverige) là một vương quốc xinh đẹp nằm ven bờbiển Baltic ở Bắc Âu, giáp Na Uy ở phía Tây và Phần Lan ở phía Đông Bắc, nối vớiĐan Mạch bằng cầu Öresund ở phía Nam Đất nước này không chỉ nổi tiếng về nhữngcâu chuyện thần thoại, mà từ mấy thập kỷ qua, nền dân chủ nơi đây đã đạt được nhữngbước tiến vượt bậc

Với diện tích 449 964 km², Thụy Điển là nước lớn thứ ba trong Liên minh châu

Âu, với dân số 9,4 triệu người Thụy Điển có mật độ dân số thấp với 21 người/ km²nhưng lại tập trung cao ở nửa phía Nam của đất nước Thủ đô của Thụy Điển

là Stockholm, đây cũng là thành phố lớn nhất nước Thành phố lớn thứ hai

là Göteborg với dân số khoảng 500.000 người và 900.000 người trên tổng vùng Thànhphố lớn thứ ba là Malmö với dân số khoảng 260.000 người và 650.000 người ở tổngvùng

Vào năm 1889, khi thành lập Đảng Xã hội Dân chủ Thụy Điển, vương quốc nàycòn là một trong những nước lạc hậu nhất Châu Âu, người ta gọi là nước của cướpbiển, phần lớn dân vốn là cướp biển và tội phạm bị các nước Tây Âu đày đến đây cùngvới các hậu duệ của họ Kinh tế Thụy Điển hồi ấy còn lạc hậu rất nhiều so với Nga hồiCách mạng Tháng Mười năm 1917

Từ năm 1920, khi Đảng Xã hội Dân chủ Thụy Điển bắt đầu nắm chính quyềncho đến nay, tuy có một số thời kỳ gián đoạn, nhưng Đảng này vẫn nắm quyền lãnhđạo đất nước lâu hơn cả Trong thời gian đó Thụy Điển được xây dựng từ một nước lạchậu thành một nước có nền kinh tế phát triển, đứng thứ hai trên thế giới về GDP đầungười và thứ nhất về phúc lợi xã hội chứng tỏ xã hội hóa phân phối đã đạt trình độ rấtcao

Trang 4

Ngày nay, Thuỵ Điển là một nước quân chủ lập hiến với thể chế đại nghị và mộtnền kinh tế phát triển ở trình độ cao Thụy Điển đứng đầu về chỉ số dân chủ trên thếgiới theo tạp chí The Economist và đứng thứ bảy trong Liên hiệp quốc về chỉ số pháttriển con người Thụy Điển là thành viên của Liên minh châu Âu vào năm 1995 và làthành viên của OECD.

Thụy Điển là xã hội tự do và cởi mở, nó thể hiện ở nhiều khía cạnh như tự dobáo chí, tự do tham gia tuần hành, tự do diễn thuyết, quyền phát biểu… Cởi mở còn làtạo ra một xã hội công bằng Nước này được coi là một trong những quốc gia có hiếnpháp dân chủ rõ ràng nhất thế giới Hiến pháp Thụy Điển dẫn nhập bằng các từ ngữ:

“Tất cả quyền lực công đều bắt nguồn từ người dân”

Ở Thụy Điển người dân nói chung và các phương tiện truyền thông như báogiấy, đài phát thanh và truyền hình có quyền tiếp cận tài liệu, hồ sơ chính thức Điềunày cho phép người dân có cái nhìn thấu đáo, rõ ràng về các hoạt động của chính phủcũng như chính quyền địa phương Nó xuất phát từ ý tưởng, một nền dân chủ tốt cầnđược giám sát; minh bạch để giảm bớt nguy cơ lạm dụng quyền lực

Sức mạnh nhân dân được sử dụng với sự tôn trọng bình đẳng, tự do cũng nhưgiá trị của cá nhân Các cơ quan công quyền đặc biệt phải đảm bảo quyền làm việc,nhà ở và giáo dục, cũng như thúc đẩy an sinh xã hội, an ninh và môi trường tốt chongười dân sinh sống ở đó Luật pháp và các quy định khác hướng tới việc đảm bảo đểkhông bất kỳ công dân nào chịu thua thiệt vì họ thuộc về cộng đồng thiểu số nhưchủng tộc, màu da, nguồn gốc hay giới tính

Chính phủ Thụy Điển chủ tâm thực thi một hệ thống kinh tế cho phép mọi côngdân có quyền lợi đồng đều, đồng thời cung cấp phụ phí làm việc, được xem như hệthống an sinh xã hội Do đó, tạo sự đồng đều về lợi ích cho tất cả người có việc làm,ngay cả chỉ làm bán thời gian Sự cách biệt về mức sống của một người lao động bìnhthường với một người có chuyên môn nghiệp vụ cao cấp không quá lớn

1.2 Quá trình hình thành của hệ thống an sinh xã hội tại Thụy Điển

Mô hình nhà nước phúc lợi Thụy Điển được manh nha hình thành từ đầu thế kỷ

XX, khi vào năm 1913, Thụy Điển áp dụng hệ thống hưu trí phổ cập và năm 1916 ápdụng hệ thống bảo hiểm tai nạn lao động bắt buộc Đây được coi là nền móng quantrọng thứ nhất để hình thành hệ thống phúc lợi Thụy Điển những năm sau này

Những khó khăn kinh tế trong nước do cuộc đại suy thoái kinh tế toàn cầu vàocuối những năm 1920 khiến tình trạng thất nghiệp của Thụy Điển trở nên trẩm trọng.Vào năm 1931, tại Thụy Điển đã nổ ra những cuộc biểu tình của người lao động Sựkiện này đã đẩy phong trào công nhân và Đảng Dân chủ Xã hội giành thắng lợi trongcuộc bầu cừ năm 1932 Thắng lợi này được coi là nền móng quan trọng cho việc hìnhthành hệ thống an sinh xã hội ở Thụy Điển

Trang 5

Chính phủ mới do Đảng Dân chủ Xã hội lãnh đạo đã tiến hành hai cuộc cảicách cơ bản:

Một là, duy trì chính sách tài khóa mở rộng để kích cầu và giảm thất nghiệp Hai là, thực hiện những cải cách quan trọng trong lĩnh vực luật lao động, chăm

sóc sức khỏe, giáo dục và những lĩnh vực xã hội khác

Vào năm 1938, các nghiệp đoàn lao động và liên đoàn các chủ lao đọng đã thểchế hóa một hệ thống, trong đó vấn đề tiền lương và các vấn đề khác liên quan đến thịtrường lao động được đàm phán ở cấp trung ương Hệ thống nghiệp đoàn đã góp phầntạo nên sự đồng thuận giữa nhà nước và người sử dụng lao động, tạo nên sự phát triểntương đối bình đẳng về thu nhập của người lao động

Kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ Hai, nhà nước phúc lợi Thụy Điển tiếptục được hoàn thiện thông qua việc đưa vào áp dụng một hệ thống giáo dục miễn phí

và một hệ thống chăm sóc trẻ em một cách hoàn hảo Đồng thời, trợ cấp nhà ở, cảicách hưu trí, trợ cấp cho phụ nữ, cũng được bắt đầu được áp dụng rộng rãi Vào năm

1955, nhà nước phúc lợi Thụy Điển chính thức được hoàn thiện khi chính phủ bắt đầu

áp dụng hệ thống giáo dục miễn phí và hệ thống bảo hiểm y tế phổ cập, trong đó tráchnhiệm giáo dục và chăm sóc sức khỏe được chuyển hoàn toàn sang khu vực nhà nước

Trong thập kỷ 1950, 1960, 1970, Thụy Điển nhanh chóng trở thành một quốcgia giàu có và thịnh vượng sau nhiều thập kỷ bị đánh giá là lạc hậu nhất châu Âu.Trong giai đoạn 1950-1973, tăng trưởng GDP hàng năm đạt 3,7%/năm, cao hơn 1% sovới giai đoạn 1918-1950 Tỷ lệ thất nghiệp chỉ ở mức 1,5%-2%/năm, thấp hơn rấtnhiều so với mức trung bình của toàn châu Âu và Mỹ Tăng trưởng kinh tế đã đưa thunhập bình quân đầu người của người dân Thụy Điển tăng rất cao trong những năm đầuthập kỷ 1970 Trong thời gian này, mô hình phát triển kiểu Thụy Điển được được đànhgiá là rất thành công Vào đầu thập kỷ 1970, Thụy Điển là nước đứng thứ tư trên thếgiới về việc nâng cao thu nhập và mức sống của người dân tính theo phương phápđồng giá sức mua

Vào những năm 1990, do kinh tế suy thoái, năng suất lao động xã hội giảm vàtăng trưởng thấp, mô hình Nhà nước phúc lợi Thụy Điển nói riêng và hệ thống ASXHcủa nhiều nước đã rơi vào cuộc “khủng hoảng Nhà nước phúc lợi” Trước thực trạng

đó, Thụy Điển đã cải cách hệ thống phân phối an sinh, trong đó có các chính sách bảohiểm như: hạn chế chi tiêu cho ốm đau và thanh toán bảo hiểm bệnh tật, cải cách phúclợi thất nghiệp, cải cách điều kiện, tiêu chuẩn, chỉ số và tổ chức hệ thống bảo hiểm hưutrí mới (1994), thực hiện các biện pháp kiểm tra thu nhập của một số đối tượng đếntuổi nghỉ hưu (1997), áp dụng mức lương hưu cơ bản thấp hơn cho những đối tượngnghỉ hưu có gia đình và giảm 6% lợi ích hưu trí ban đầu (1998 - 1999), cải cách hệthống bảo hiểm thất nghiệp mang tính giới hạn hơn (2000) Mặc dù đã có những điều

Trang 6

chỉnh như trên, nhưng đến nay các chính sách bảo hiểm trong hệ thống đảm bảoASXH của Thụy Điển vẫn có các loại hình, nội dung và được quản lý thực hiện rất tốt.

Trang 7

và các chương trình dành cho học sinh khuyết tật Các trường không thuộc hệ bắt buộcbao gồm các lớp mẫu giáo – nhà trẻ, lớp trung học phổ thông, giáo dục người lớn vàgiáo dục người lớn dành cho người khuyết tật

Hệ thống giáo dục gồm 9 năm giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, 3 năm giáodục trung học, 3 năm giáo dục đại học, 1 năm giáo dục thạc sĩ và 4 năm giáo dục tiến

sĩ Giáo dục tiểu học và trung học được miễn phí hoàn toàn Chính phủ không chỉ tàitrợ cho giáo dục mà còn cả chi phí đi lại, sách giáo khoa và bữa ăn miễn phí LuậtGiáo dục Thụy Điển còn quy định, không những tất cả mọi người đều được đi họckhông mất tiền suốt đời mà từ nhà trẻ đến bậc trung học, nếu trong lớp có một học sinhngười nước ngoài, thì nhà trưởng phải bố trí một giáo viên biết tiếng mẹ đẻ của họcsinh đó, mỗi tháng phải lên lớp với một số giờ nhất định bằng tiếng mẹ đẻ cho em này

Ở bậc đại học, từ lúc vào học cho đến khi tốt nghiệp, tuy có quy ước số năm học nhấtđịnh, nhưng luật pháp quy định nếu học sinh nào tốt nghiệp rồi mà chưa tìm được côngviệc thích hợp và không muốn rời nhà trưởng thì có thể tiếp tục học tập miễn phí Hầuhết các trưởng đại học và các tổ chức giáo dục sau trung học cũng được điều hành bởinhà nước và cũng được giáo dục miễn phí Tuy nhiên, ở bậc đại học và cao đẳng, việc

ăn uống, sách vở và chi phí đi lại không được nhà nước tài trợ trực tiếp dù tất cả sinhviên đều có thể vay vốn trợ cấp để trang trải chi phí sinh hoạt

Hàng năm, chi tiêu của nhà nước cho giáo dục chiếm khoảng 8% GDP, thuộcdiện cao nhất thế giới Phần lớn kinh phí được sử dụng cho các trường phổ thông vàcác trường đại học công, nhưng học sinh cũng được tự do tham gia các trường tư theo

ý tưởng giáo dục đặc biệt hoặc bởi một số nhóm lợi ích nhất định Những trường nàycũng được tài trợ bằng ngân sách nhà nước Các trưởng tư phải mở rộng cho mọingười và tuân theo các tiêu chuẩn đo Luật Giáo dục quy định Khác với các trườngcông, các trường tư được phép thu một mức phí tượng trưng Các trường tư thưởngphổ biến trong các thành phố lớn và chiếm khoảng 3,5% trong tổng số học sinh

Thụy Điển nổi tiếng với chính sách gia đình hào phóng nhằm hỗ trợ công việc

và cuộc sống gia đình cũng như hạnh phúc của trẻ em Thụy Điển chi hơn một phần ba

Trang 8

GDP vào lợi ích liên quan đến trẻ em và gia đình, một trong những nước chi cao nhấttrong EU Bên cạnh những lợi ích tài chính này, Thụy Điển còn cam kết cung cấp dịch

vụ cho các gia đình như khoản trợ cấp cao cho chăm sóc trẻ, chăm sóc sức khỏe miễnphí và chăm sóc nha khoa, dịch vụ giáo dục, vv

Thụy Điển thường được xem là nguyên mẫu của mô hình nhà nước phúc lợiBắc Âu Luôn trong lĩnh vực quốc tế khi nói đến chính sách gia đình và bình đẳng giớithông qua định hướng lâu dài Chi tiêu hào phóng cho lợi ích gia đình, nghỉ phép linhhoạt và giờ làm việc cho cha mẹ có con nhỏ và chăm sóc trẻ em chất lượng cao, giá cảphải chăng được xem là yếu tố chính tạo nên sự thành công

Năm 1974, Thụy Điển là quốc gia đầu tiên trên thế giới thay thế chế độ "nghỉthai sản cho mẹ" bằng "nghỉ thai sản cho bố mẹ", các bậc phụ huynh được nghỉ thờigian dài tới vài tháng, thậm chí vài năm mà vẫn nhận được tiền lương đều đặn mỗitháng

Bất kì ai đăng ký sinh sống hơp pháp tại Thủy Điển đều có cơ hội được hưởngchế độ nghỉ thai sản của đất nước này Chế độ này được áp dụng cho những vị phụhuynh là công dân hợp pháp của Thụy Điển, có đầy đủ giấy tờ cần thiết, bất kể đứa trẻkhông được sinh ra ở Thụy Điển, hay cha mẹ không làm việc tại đây

2.2.1 Chế độ sinh sản và chăm sóc trẻ em

Phụ nữ sinh con được nghỉ 18 tháng có lương, trong đó 12 tháng đầu hưởng100% lương, 6 tháng cuối hưởng 90% Nếu đến tháng thứ 18 lại có thai, sẽ tiếp tụcđược nghỉ hưởng tiếp 90% lương cho đến khi đứa trẻ ra đời lại được hưởng chế độnghỉ đẻ 18 tháng Ngoài ra, nếu người vợ làm công việc tương đối quan trọng khôngthể hoặc không muốn ở nhà quá lâu như vậy, thì hai vợ chồng có thể bàn bạc để chồng

có thể nghỉ thay vợ

Trẻ em ở Thụy Điển được trợ cấp rất lớn, sự hỗ trợ chăm sóc trẻ em ở ThụyĐiển nhiều đến mức người ta có cảm tưởng rằng “người Thụy Điển đã quốc hữu hóacác gia đình” Cụ thể là:

Ở Th ụy Điển, khi sinh con hoặc nhận con nuôi, cha mẹ được hưởng 480 ngày(khoảng 16 tháng) nghỉ phép để chăm sóc đứa trẻ Thời gian nghỉ phép kéo dài nàyđược khuyến khích chia đều cho cả cha và mẹ đứa trẻ, mỗi người được hưởng 240ngày

Trong 390 ngày đầu tiên, khoản trợ cấp dựa trên thu nhập hiện có (ở mức phúclợi bệnh tật, tức là 80% tiền lương, giới hạn ở mức tối đa 105 euro mỗi ngày) Trong

90 ngày còn lại, tiền được thanh toán theo tỷ lệ cố định là 20 euro một ngày Đối vớitrường hợp sinh đôi, họ được hưởng thêm 90 ngày ở mức phúc lợi bệnh tật và 90 ngày

Trang 9

phụ với mức tiền cố định, sinh ba trở lên (thêm 180 ngày ở mức phúc lợi bệnh tật chomỗi đứa trẻ)

Đối với hỗ trợ người bố: Cho phép người bố có thể có mặt vào thời gian người

mẹ sinh con, thu dọn nhà cửa và chăm sóc đứa trẻ trong thời gian mới sinh Người bố

có quyền được hưởng trợ cấp tiền mặt tạm thời cho bố mẹ trong 10 ngày mỗi đứa trẻ,nếu việc chăm sóc đứa trẻ cản trợ việc thực hiện công việc Quyền này cũng có thểchuyển cho người khác Trong trường hợp nhận con nuôi, bố hoặc mẹ cũng có quyềnđược hưởng mỗi người 5 ngày Mức độ bù đắp tương đương 80% thu nhập bằng mức

hỗ trợ tiền mặt ốm đau

Chế độ nghỉ thai sản của các cặp vợ chồng tại Thụy Điển được đảm bảo bởichính hệ thống Cơ quan Bảo hiểm xã hội quốc gia, trợ cấp được chi trả bởi mức thuếcao của nước này Trường hợp này cũng là một ví dụ điển hình cho việc đóng thuế caomang lại nhiều lợi ích cho đất nước và xã hội, một việc không phải quốc gia nào cũngthực hiện được

Tại Thụy Điển, khi cha mẹ bị ốm và không thể chăm sóc đứa trẻ, có một chế độđặc biệt dành cho trường hợp này đó là cha mẹ có thể tạm dừng kỳ nghỉ thai sản củamình và chuyển sang chế độ nghỉ ốm Ngoài ra, đối với trường hợp cha mẹ có condưới 18 tháng, họ có thể nghỉ việc hoàn toàn để chăm sóc con trẻ Trước khi trẻ lên 8tuổi hoặc học xong tiểu học, cha mẹ có thể được giảm 1/4 thời gian làm việc Chẳnghạn như mỗi ngày làm việc 8 tiếng, khi có con dưới 8 tuổi cha mẹ chỉ cần làm việc 6tiếng

2.2.2 Trợ cấp gia đình

Tất cả các gia đình có trẻ em sống ở Thụy Điển đều nhận được hỗ trợ tài chínhdưới hình thức trợ cấp trẻ em (barnbidrag) cho đến khi đứa trẻ 16 tuổi Một tỷ lệ cốđịnh được miễn thuế (hiện tại là 115 euro mỗi tháng), tiền mà cha mẹ có thể sử dụng

để trợ giúp chi phí chăm sóc con cái của họ Nếu đứa trẻ được học toàn thời gian(thường là trường trung học phổ thông), Ủy Ban Sinh Viên Quốc Gia sẽ trả phụ cấptiền học

Nếu gia đình có nhiều hơn một đứa trẻ, cha mẹ cũng nhận được khoản trợ cấp

bổ sung gia đình tăng thêm đỗi với mỗi đứa trẻ Vì vậy, một gia đình có sáu trẻ emkhông chỉ nhận thêm 610 euro mỗi tháng trong trợ cấp trẻ em, mà còn bổ sung 400euro mỗi tháng

Trợ cấp gia đình được điều chỉnh theo khoảng thời gian đều đặn, một số thậmchí thay đổi hàng năm, có tính đến những thay đổi trong số tiền cơ sở giá (phản ánhlạm phát) Điều này nhằm mục đích điều chỉnh giá trị của các khoản phụ cấp cho chiphí sinh hoạt Khi nói đến trợ cấp nhà ở và tiền cấp dưỡng con cái, các phúc lợi có thểtăng hoặc giảm tùy thuộc vào thu nhập của hộ gia đình

Trang 10

2.3 Bảo hiểm thất nghiệp

Thụy Điển xem việc đảm bảo việc làm còn quan trọng và có ý nghĩa hơn cả hỗtrợ tiền bạc cho người lao động Chính vì vậy, sự hỗ trợ tài chính được thực hiện vớiđiều kiện rất khắt khe Người thất nghiệp chỉ nhận được trợ cấp khi họ không thể tìmđược việc làm hoặc xã hội không tạo được việc làm cho họ và đáp ứng những điềukiện:

(1) Phải là những người không có việc làm và đăng ký tìm việc làm tại cơ quandịch vụ việc làm của nhà nước;

(2) Họ phải là người có khả năng và mong muốn chấp nhận một việc làm thíchhợp với ít nhất 3h/ngày, trung bình 17h/tuần Đối với trường hợp thất nghiệp tựnguyện hoặc không thực hiện công việc hay từ chối công việc thích hợp, chờ kết quảđào tạo chỉ được hưởng trợ cấp từ 20 đến 60 ngày;

(3) Người lao động phải làm việc tối thiểu 6 tháng (tối thiểu 70h/tháng) và ítnhất 450h trong 6 tháng liên tục trong năm kể từ ngày thất nghiệp;

(4) Người nhận bảo hiểm thất nghiệp phải là thành viên của quỹ thất nghiệptrong vòng 12 tháng

Nếu người lao động đáp ứng các điều kiện về bảo hiểm thất nghiệp, quỹ bảohiểm thất nghiệp sẽ chi trả một khoản bảo hiểm trong vòng 300 ngày Đối với người cócon dưới 18 tuổi được nhận thêm 150 ngày bảo hiểm

Thụy Điển là một quốc gia chi trả chế độ BHTN tương đối hào phóng với cáchình thức trợ cấp thất nghiệp cơ bản và trợ cấp thất nghiệp tự nguyện có liên quan đếnthu nhập Đối với chế độ trợ cấp thất nghiệp cơ bản, người thất nghiệp được hưởngmức trợ cấp cố định tối đa là 30 euro mỗi ngày Nếu người lao động làm việc ít hơntoàn thời gian, bảo hiểm cơ bản sẽ được giảm tương ứng với thời gian làm việc

Ngoài bảo hiểm thất nghiệp cơ bản, Thụy Điển còn có Bảo hiểm liên quan đếnthu nhập tự nguyện Đối với chế độ trợ cấp thất nghiệp tự nguyện, người thất nghiệpnhận 80% của mức lương nhận được gần nhất với mức trợ cấp tối đa là 730SEK/ngàycho 100 ngày đầu tiên và sau đó là 680SEK/ngày, tối đa trong 300 ngày và 5ngày/tuần

Đây là những quy định khá linh hoạt nhằm vừa mở rộng phạm vi đối tượngtham gia, vừa tăng quỹ BHTN, đảm bảo mạng lưới an sinh có thể che phủ hết các đốitượng có nhu cầu và có khả năng rơi vào hoàn cảnh khó khăn Với những quy địnhnhư vậy, nên hiện nay có khoảng 80% những người lao động làm công ăn lương tạiThụy Điển tham gia vào các quỹ BHTN

Về tài chính, quỹ BHTN được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Đối vớichế độ bảo hiểm tự nguyện, người tham gia đóng khoản phí từ 100 – 150SEK/tháng

Trang 11

Người tham gia bảo hiểm ở chế độ cơ bản thì không phải nộp phí Người sử dụng phảiđóng góp tỷ lệ nhất định theo bảng lương.

Về quản lý, chế độ BHTN thuộc sự quản lý của các Công đoàn dựa trên cơ sởcung cấp của Chính phủ và đóng góp của người sử dụng lao động và công đoàn Hiệnnay có tới 38 quỹ bảo hiểm đang hoạt động và chịu sự giám sát của Ban BHTN quốcgia Các quỹ này có quan hệ chặt chẽ với công đoàn, nhưng độc lập về pháp lý Có thểnói, nhờ có các chế độ và hình thức bảo hiểm đa dạng, nên Thụy Điển đã tạo ra được

“tam giác phát triển” lý tưởng: kinh tế vĩ mô tăng trưởng ổn định; thị trường lao độngthích ứng với toàn cầu hóa; xã hội phát triển bền vững vì khoảng cách chênh lệch giàunghèo nhỏ

Sở dĩ các chế độ bảo hiểm được thực hiện hiệu quả là do có sự kết hợp nhuầnnhuyễn giữa cấu trúc kinh tế, thể chế chính trị và phân phối an sinh Cấu trúc kinh tếcủa Thụy Điển mang tính chất của nền kinh tế thị trường hỗn hợp: kết hợp chế độ sởhữu công cộng và tư nhân, kết hợp phân phối theo lao động và theo vốn, nhà nước kếthợp với thị trường trong điều tiết kinh tế Thể chế chính trị Thụy Điển là thể chế đađảng, trong đó sự ảnh hưởng của Đảng Dân chủ xã hội là rõ nét và tích cực nhất Hệthống phân phối an sinh của Thụy Điển luôn nhấn mạnh đến công bằng, hiệu quả và vìcon người

Chế độ bảo hiểm hưu trí của Thụy Điển được hình thành vào năm 1947, sửa đổinăm 1960 và vận hành theo cơ chế đóng - hưởng (pay as you go) Chế độ bảo hiểmhưu trí là nguồn thu nhập cơ bản của người già và được nhà nước thanh toán qua hìnhthức trả lương hưu hàng tháng

Người lao động về hưu được định kỳ lĩnh lương đủ sống, người già yếu không

tự lo liệu cuộc sống được thì có thể vào ở trong viện dưỡng lão của nhà nước, đượchưởng sự chăm sóc y tế miễn phí, điều kiện sống tại đây tương đương với khách sạn 3sao

Lương hưu cho người cao tuổi được áp dụng cho những người từ 61 tuổi trởlên Tuy nhiên người nhận lương có thể hoãn việc nhận lương nếu họ muốn và giá trịcủa khoản lương đó sẽ tăng lên theo thời gian trì hoãn của họ Lương có người cao tuổi

có thể trả toàn bộ, ¾, ½, hay ¼ Theo đó, một người về hưu ở tuổi 63 sẽ có thu nhậphằng tháng thấp hơn 12% so với khi nghỉ hưu ở tuổi 65, trong khi người làm đến năm

69 tuổi nhận được lương hưu cao gấp gần 30% so với người nghỉ hưu năm 63 tuổi

Hệ thống lương mới: gồm có 3 loại lương: lương thu nhập (income pension),lương theo phí (premium pension), lương bảo đảm (guarantee pension) Có 1 số lý docho cải cách này, trong đó đáng chú ý là tỉ lệ số lượng người nhận lương so với sốngười hoạt động có hiệu quả kinh tế trong xã hội ngày càng tăng Ngày nay, cứ 100

Trang 12

người làm việc thì có 30 người nghỉ hưu và trong vòng 25 năm tới con số dự báo sẽ là

41 Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng thấp của nền kinh tế nhưng lại đi kèm với sự giatăng số người nhận mức lương ngày càng cao hơn đã làm lộ rõ yếu điểm của hệ thống

Ngoài hệ thống hưu trí nhà nước, hầu hết người lao động Thụy Điển tham giavào một chương trình hưu trí tư nhân theo nghề nghiệp Trong chương trình này, ngườilao động có thể đóng từ 2% đến 4,5% phần thu nhập của họ vào một tài khoản cánhân Ngoài ra, để đảm bảo trợ cấp hưu trí đủ sống cho tất cả người dân, Chính phủThụy Điển đã xây dựng và thực hiện chương trình lưới an toàn xã hội Với lưới an toànnày, mức độ thay thế thu nhập đạt mức tương đối cao, 90% thu nhập của các hộ giađình già ở Thụy Điển xuất phát từ các quỹ lương hưu cộng cộng và các lợi ích khác

Cải cách về lương hưu và chế độ nghỉ thai sản thoải mái đã giúp Thụy Điển duytrì được tỷ lệ việc làm cao nhất châu Âu, đạt mức 74,4% vào năm ngoái so với số liệutrung bình của EU là 64,1%, theo Reuters dẫn thống kê của Eurostat

Trong số đó, 73,6% tháp việc làm của quốc gia Bắc Âu này gồm những người

từ 55 đến 64 tuổi, hơn hẳn mức trung bình của EU là 50,1% Thụy Điển cũng là thànhviên hiếm hoi của khối EU có dân số sẽ tăng trong thời gian tới: Đến năm 2050 dựkiến dân số nước này tăng lên 11,4 triệu người từ mức hiện tại là 9,7 triệu Ngược lại,dân số của Đức từ 82 triệu sẽ giảm còn 74,7 triệu vào năm 2050

Đánh giá tác động của hệ thống hưu trí Thụy Điển, ta thấy hệ thống này xemxét thu nhập của hộ gia đình già như là một bộ phận thu nhập của các hộ gia đình trungniên Số liệu của OECD cho thấy tỷ lệ thay thế này có thể thay thế thu nhập của tất cảcác hộ gia đình ở độ tuổi 67 bằng thu nhập của các hộ gia đình ở độ tuổi 55 Tỷ lệ này

ở Thụy Điển là khoảng 80%, trong khi ở Anh chỉ là 70% 90% thu nhập của các hộ giađình già ở Thụy Điển xuất phát từ các quỹ công cộng như lương hưu và các lợi íchkhác, nhưng ở Anh tỷ lệ này dưới 50% Có nghĩa là nước Anh phụ thuộc nhiều hơnvào các nguồn thu nhập tư nhân để giải quyết lương hưu

2.5 Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động

Thụy Điển là một quốc gia sớm áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động(được đưa vào luật lần đầu năm 1901) Theo đó, bồi thường tai nạn lao động là tráchnhiệm của giới chủ Đến năm 1916, bảo hiểm tai nạn không còn là chế độ tự nguyện,

mà được quy định như một hình thức bảo hiểm bắt buộc Sau nhiều lần điều chỉnh(1962, 1976 và 1991) để theo kịp với sự phát triển của kinh tế - xã hội, đến nay bảohiểm tai nạn lao động trở thành một chế độ bảo hiểm bắt buộc nằm trong hệ thống bảohiểm xã hội của Thụy Điển

- Về đối tượng, khi mới ra đời, chế độ bảo hiểm tai nạn chỉ được áp dụng ở

những lĩnh vực sản xuất công nghiệp và ngành nghề có độ rủi ro cao Cùng với sự pháttriển, bảo hiểm tai nạn lao động ngày càng được mở rộng ra ở tất cả các ngành nghề và

Trang 13

cho mọi loại hình lao động Hiện nay, toàn bộ lao động (người lao động làm công ănlương, tư nhân) đều tham gia chế độ bảo hiểm tai nạn lao động.

- Về tài chính, người lao động không phải đóng mà người sử dụng lao động

phải đóng 0,68% của bảng lương và một phần nhỏ được Nhà nước bổ sung từ các quỹ.Quy định này áp dụng đối với cả những người lao động tự làm chủ (đóng 0,68% củatổng thu nhập)

- Về quyền lợi, chế độ bảo hiểm tai nạn lao động được áp dụng nhằm mục đích

là bù đắp những mất mát về thu nhập, chi phí chăm sóc sức khỏe, y tế, trợ cấp chongười sống phụ thuộc và hỗ trợ mai táng phí trong trường hợp tử vong Người đượchưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động sẽ được hưởng trợ cấp hàng năm Tùy theomức độ thương tật mà người tham gia bảo hiểm tai nạn lao động có thể được hưởngnhững mức chi trả và quyền lợi khác nhau:

+ Đối với thương tật tạm thời, người lao động sẽ được nhận 77,6% số thu nhập

bị mất và có thể đạt mức trần (tối đa) là 294.700SEK/năm Khoản trợ cấp này sẽ đượcchi từ ngày thứ 22 (người sử dụng lao động sẽ trả từ ngày thứ 2 đến ngày 21 với 80%thu nhập bị mất) kể từ ngày mất khả năng lao động và khoản trợ cấp này được trả 7ngày/tuần và người về hưu sẽ nhận trợ cấp không quá 180 ngày kể từ ngày về hưu Đốivới những người tự làm chủ hoặc không làm công ăn lương sẽ nhận được 77,6% số thunhập bị mất từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 21, tối đa không quá 627SEK Mức trợ cấp tối

đa và tối thiểu được điều chỉnh hàng năm, dựa vào chỉ số giá tiêu dùng

+ Đối với thương tật vĩnh viễn, người lao động mất khả năng làm việc trở lạivĩnh viễn (100%) thì sẽ nhận được 100% mức thu nhập đã mất và tối đa là294.700SEK/năm Sự điều chỉnh mức trợ cấp cho người bị thương tật vĩnh viễn cũngđược tính toán dựa vào sự điều chỉnh của chỉ số lương và giá cả tiêu dùng

+ Về một số lợi ích khác kèm theo, người bị tai nạn cũng được hưởng các lợiích về chăm sóc y tế Nếu họ có những người sống phụ thuộc, thì những người này cònđược nhận trợ cấp hàng năm (có điều kiện) Khi người bị tai nạn lao động bị chết, họ

sẽ nhận được một khoản trợ cấp mai táng phí (11.790SEK) Có một điều phải nhấnmạnh là, các lợi ích khi gặp thương tật có liên quan chặt chẽ với các lợi ích khi gặp ốmđau, các khoản thu nhập có được do bảo hiểm tai nạn lao động chi trả phải đóng thuế

dù đó là khoản thu nhập từ lương hay mai táng phí

- Về quản lý, bảo hiểm tai nạn lao động được quản lý, tổ chức và giám sát thựchiện theo hệ thống từ trung ương – đại diện là Cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) quốcgia, vùng và địa phương Luật pháp quy định rằng, khi có tai nạn lao động xảy ra thìngười có trách nhiệm phải báo ngay cho người sử dụng lao động và người sử dụng laođộng phải có nghĩa vụ báo cáo cho cơ quan BHXH

Ngày đăng: 06/05/2021, 15:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w