1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu hoạt động phát hành trái phiếu ngân hàng, thực tế tại Vietinbank

29 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 325,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo trình bày những thông tin khái quát về hoạt động phát hành trái phiếu của ngân hàng thương mại, cụ thể tại ngân hàng Vietinbank. Nội dung chính trình bày lý thuyết về ngân hàng TM, trái phiếu do NH phát hành; Hoạt động phát hành và quy trình thực hiện; số liệu thực tế một đợt phát hành tại NH Vietinbank

Trang 1

CHỦ ĐỀ

HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU NGÂN HÀNG VÀ THỰC TẾ Ở NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM VIETINBANK

Trang 2

MỞ ĐẦU

Những năm gần đây, ngân hàng thương mại (NHTM) đã hình thành, tồn tại và pháttriển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa Các NHTM đã áp dụng nhiều kênhhuy động vốn khác nhau trong đó hoạt động phát hành trái phiếu của NHTM tạo ra mộtkênh huy động vốn rất hiệu quả, nhất là trong thời buổi cạnh tranh ngày càng gay gắt Tráiphiếu NHTM được nhận định là rất thanh khoản, có thể sinh lời cao, lãi suất hấp dẫn, điềukiện linh hoạt nên các NHTM nhờ phát hành trái phiếu mà thu về được lượng lớn vốntrung và dài hạn

Qua quá trình tìm hiểu về hoạt động phát hành trái phiếu ngân hàng Nhóm đã tiếnhành thu thập và tổng hợp một số thông tin về hoạt động này và thực tế một đợt phát hànhtrái phiếu tại tại ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank)

Bài tập được thực hiện gồm có 02 phần:

Phần 1: Khái quát về hoạt động phát hành trái phiếu ngân hàng

Phần 2: Thực tế một đợt phát hành trái phiếu (Đợt 1/2017) tại ngân hàng Côngthương Việt Nam

Do thời gian và kiến thức nghiên cứu còn hạn chế nên bài tập không thể tránh khỏinhững sai sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy và các bạn

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU i

PHẦN 1 – KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU NGÂN HÀNG 1

1 Khái quát về ngân hàng thương mại 1

1.1 Khái niệm chung về ngân hàng thương mại 1

1.2 Chức năng của NHTM 2

1.3 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường 3

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM 3

2 Trái phiếu do NHTM phát hành 4

2.1 Khái quát về trái phiếu 4

2.2 Trái phiếu do NHTM phát hành 6

2.2.1 Khái niệm 6

2.2.2 Đặc điểm 6

3 Hoạt động phát hành trái phiếu của NHTM 6

3.1 Bản chất và đặc điểm 6

3.2 Phân loại Trái phiếu NHTM 7

3.3 Mục đích phát hành 8

3.4 Quy trình thực hiện 9

3.4.1 Chuẩn bị hồ sơ phát hành trái phiếu 10

3.4.2 Công bố thông tin trước đợt phát hành 10

3.4.3 Tổ chức phát hành trái phiếu 10

3.4.4 Thực hiện lưu ký trái phiếu 11

3.4.5 Thực hiện thanh toán tiền gốc, lãi trái phiếu 11

3.4.6 Công bố thông tin về kết quả phát hành 11

3.4.7 Công bố thông tin và báo cáo định kỳ 11

3.5 Vai trò của hoạt động phát hành trái phiếu NHTM 12

PHẦN 2 – THỰC TẾ MỘT ĐỢT PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU 14

(ĐỢT 1 – 2017) CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 14

1 Giới thiệu ngân hàng TMCP công thương Việt Nam 14

Trang 4

1.1 Khái quát về ngân hàng 14

1.2 Quá trình hình thành và phát triển 15

1.3 Tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi, triết lý kinh doanh 16

1.4 Cơ cấu tổ chức 18

2 Loại và đặc điểm của trái phiếu phát hành 18

3 Mục đích phát hành trái phiếu 19

4 Lịch trình phân phối trái phiếu, kế hoạch sử dụng 19

5 Kết quả phát hành Trái Phiếu đợt 1 năm 2017 20

5.1 Thông tin chung 20

5.2 Kết quả của đợt phát hành (đợt 1/2017) 21

6 Nhận xét đợt phát hành 23

KẾT LUẬN I TÀI LIỆU THAM KHẢO II

Trang 5

PHẦN 1 – KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH

TRÁI PHIẾU NGÂN HÀNG

1 Khái quát về ngân hàng thương mại

1.1 Khái niệm chung về ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một tổ chức về trung gian tài chính có vị trí quan trọngtrong nền kinh tế và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp

Ngân hàng thương mại hình thành dựa trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và traođổi hàng hóa Khi sản xuất phát triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùnglãnh thổ và giữa các quốc gia tăng lên, để khắc phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khuvực thì xuất hiện các thương gia làm nghề đổi tiền Khi trao đổi hàng hóa phát triển quaytrở lại kích thích sản xuất hàng hóa Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ được pháttriển dần như giữ tiền hộ, chi trả hộ và trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng

Từ lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy các ngân hàngthương mại chỉ xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế đã phát triển đến một trình độ nhấtđịnh, dẫn đến tính tất yếu của việc hình thành hệ thống ngân hàng gắn bó chặt chẽ với nềnkinh tế

Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:

Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch

vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính

Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại

là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của côngchúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó chochính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính"

Ở Việt Nam, định nghĩa Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là tổ chức

kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ kháchhàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiếtkhấu và làm phương tiện thanh toán

Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính

mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiềngửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiềudịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội

Trang 6

1.2 Chức năng của NHTM

Trung gian tín dụng

Ngân hàng thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế,mặt khác nó cũng dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các thành phầnkinh tế Với chức năng trung gian tín dụng thì ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợiích cho tất cả các bên tham gia:

- Đối với người gửi tiền thì họ sẽ thu được một khoản vốn tạm thời nhàn rỗi củamình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ Hơn nữa, ngân hàng còn đảmbảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi

- Đối với người đi vay họ sẽ thỏa mãn nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanhtoán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứngvốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp

- Đối với ngân hàng thương mại họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho bản thân mình

từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi Lợi nhuận này chính là cơ sở tồntại của ngân hàng thương mại

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngânhàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay,

nó quyết định sự tồn tại của ngân hàng Đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năngkhác

Trung gian thanh toán

Chức năng này thực hiện nhiệm vụ là ngân hàng đứng ra thanh toán hộ cho kháchhàng bằng cách chuyển từ tài khoản này sang tài khoản khác Thông qua chức năng nàyNgân hàng đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngânhàng là người giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ khách hàng

Với sự ra đời của ngân hàng thương mại, phần lớn các khoản chi trả trong hoạtđộng mua bán trao đổi hàng hóa dịch vụ của xã hội dần được thực hiện qua ngân hàng vớinhững hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện với côngnghệ ngày càng hiện đại hơn Chính nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội ở ngânhàng nên việc lưu thông hàng hóa dịch vụ trở nên nhanh chóng, an toàn tiết kiệm hơn

Chức năng tạo tiền

Tạo tiền là chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của Ngân hàng thươngmại.Với mục đích là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và pháttriển của mình, các Ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù

Trang 7

của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế Chức năng tạotiền được thực thi dựa trên cơ sở hai chức năng khác của Ngân hàng thương mại là chứcnăng tín dụng và chức năng thanh toán

1.3 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường

Bất kì một quốc gia nào có nền kinh tế phát triển, đang phát triển, thậm chí kémphát triển thì Ngân hàng cũng có tác động to lớn đến nền kinh tế Trong nền kinh tế thịtrường thì ngân hàng đóng vai trò như sau:

- Ngân hàng là nơi tập trung tiền nhàn rỗi và cung ứng tiền vốn cho quá trình sảnxuất kinh doanh

- Ngân hàng là trung gian trong quá trình thanh toán góp phân thúc đẩy quá trìnhlưu thông hàng hóa nhanh chóng

- Ngân hàng góp phần điều tiết và kiểm sát thị trường tiền tệ và thị trường vốn

- Ngân hàng góp phần thu hút, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước và cung cấpcác dịch vụ tài chính khác

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM

Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục sản phẩm dịch vụ

Ngày nay, các ngân hàng đang mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính mà

họ cung cấp cho khách hàng Quá trình mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ đã tăng tốctrong những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ

sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ

Sự gia tăng cạnh tranh

Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở nên quyết liệtkhi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ Các ngânhàng địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấntài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng Đây là những dịch vụ đang phải đốimặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, ngân hàngđầu tư Merrill Lynch, các công ty tài chính như GE Capital và các tổ chức bảo hiểm nhưPrudential Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụcho tương lai

Sự gia tăng chi phí vốn

Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bìnhthực tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng Với sự nới lỏng các luật

lệ, ngân hàng buộc phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi

Trang 8

Đồng thời, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – mộtnguồn vốn đắt đỏ - để tài trợ cho các tài sản của mình Điều đó buộc họ phải tìm cách cắtgiảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng

hệ thống xử lý điện tử hiện đại

Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất

Các quy định của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàngkhả năng nhận được mức thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làmcho các cơ hội đó trở thành hiện thực Và công chúng đã làm việc đó Hàng tỷ USD trướcđây được gửi trong các tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch khôngsinh lợi kiểu cũ đã được chuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tàikhoản có tỷ lệ thu nhập thay đổi theo điều kiện thị trường Ngân hàng đã phát hiện ra rằng

họ đang phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn.Các khoản tiền gửi "trung thành" của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trênphương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơn với ý thích thay đổicủa xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm

Cách mạng trong công nghệ ngân hàng

Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã vàđang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thốngdựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ vàcấp tín dụng Những ví dụ nổi bật nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, cho phépkhách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiền POS đượclắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toánhàng hóa dịch vụ bằng giấy; và hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịchmột cách nhanh chóng trên toàn thế giới

2 Trái phiếu do NHTM phát hành

2.1 Khái quát về trái phiếu

Khác với cổ phiếu, là một chứng khoán vốn, cổ đông là người góp vốn vào công ty

và trở thành chủ sỡ hữu công ty, thì trái phiếu là một chứng khoán nợ và người nắm giữtrái phiếu là chủ nợ của đơn vị phát hành

Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người

sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thờigian xác định và với một lợi tức quy định Người phát hành có thể là doanh nghiệp (tráiphiếu trong trường hợp này được gọi là trái phiếu doanh nghiệp), một tổ chức chínhquyền như Kho bạc nhà nước (trong trường hợp này gọi là trái phiếu kho bạc), chính

Trang 9

quyền (trong trường hợp này gọi là công trái hoặc trái phiếu chính phủ) Người mua tráiphiếu, hay trái chủ, có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chính phủ

Tên của trái chủ có thể được ghi trên trái phiếu (trường hợp này gọi là trái phiếughi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu vô danh) Trái chủ là người cho nhà phát hànhvay và họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả sử dụng vốn vay của người vay.Nhà phát hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các cam kết nợ được xác định trong hợpđồng vay

 Với những đặc điểm trên, trên phương diện nhà đầu tư thì trái phiếu có tính ổnđịnh và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu Vì vậy, trái phiếu là loại chứng khoán được cácnhà đầu tư ưa chuộng

Thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu là thị trường phát hành và giao dịch các loại trái phiếu củaChính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật

Trái phiếu sẽ được phát hành lần đầu trên thị trường sơ cấp qua nhiều phương thứckhác nhau như bảo lãnh phát hành, đấu thầu v.v Sau đó, các trái phiếu này sẽ tiến hànhgiao dịch trên thị trường thứ cấp Thành viên tham gia trên thị trường trái phiếu bao gồmchủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, các tổ chức trung gian tài chính

Trong các chủ thể tham gia trên thị trường Trái phiếu, Ngân hàng thương mại vừađóng vai trò là người phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn phục vụ cho hoạt động củamình, và đặc biệt vừa là tổ chức đầu tư kinh doanh trái phiếu hoặc trung gian tài chínhnhằm tìm kiếm lợi nhuận, đảm bảo thanh khoản và nâng cao thương hiệu của mình trênthị trường

Trang 10

2.2 Trái phiếu do NHTM phát hành

2.2.1 Khái niệm

Trái phiếu do NHTM phát hành là một loại trái phiếu doanh nghiệp Trái phiếudoanh nghiệp là loại trái phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm huy động vốntrung dài hạn cho đầu tư phát triển

Doanh nghiệp (bao gồm các NHTM) sẽ phát hành trái phiếu khi có nhu cầu huyđộng vốn lớn để tài trợ cho việc đầu tư mở rộng, phát triển hoạt động sản xuất kinh daonhtrong trường hợp không đủ điều kiện hoặc không muốn phát hành cổ phiếu, hoặc tùythuộc vào chiến lược quản lý vốn của mỗi doanh nghiệp

2.2.2 Đặc điểm

Về bản chất, trái phiếu doanh nghiệp chính là chứng khoán xác nhận nợ của doanhnghiệp phát hành, trong đó doanh nghiệp phát hành trái phiếu là người đi vay còn ngườimua trái phiếu (trái chủ) chính là người cho vay

Trái phiếu doanh nghiệp chính là sự chứng nhận về mặt pháp lý, ghi nhận sự liên

hệ giữa quyền của chủ nợ đối với doanh nghiệp và những nghĩa vụ tài chính mà doanhnghiệp phải thực hiện

Thông thường, trái phiếu doanh nghiệp được trả lãi theo thời hạn một năm hoặcnửa năm lần Trong trường hợp doanh nghiệp lâm vào trình trạng phá sản, các trái chủđược quyền ưu tiên thanh toán trước các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường và cổ phiếu ưuđãi

Trong phân khúc trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu do các ngân hàng thương mại

và các tổ chức tài chính phát hành thường được phân loại thành một nhánh riêng

Về bản chất, trái phiếu do NHTM phát hành có thể coi là một dạng huy động tiếtkiệm đặc biệt của các ngân hàng

3 Hoạt động phát hành trái phiếu của NHTM

3.1 Bản chất và đặc điểm

Việc phát hành trái phiếu của NHTM thực chất là một hình thức huy động vốn, cóthể chính các công ty chứng khoán mua kinh doanh Hoạt động phát hành trái phiếu củacác NHTM là tạo ra một kênh hoạt động vốn rất hiệu quả, nhất là trong thời buổi cạnhtranh ngày càng gay gắt Trái phiếu NHTM được nhận định là rất thanh khoản, có thể sinhlời cao, lãi suất hấp dẫn, điều kiện linh hoạt nên các NHTM nhờ phát hành trái phiếu màthu về hàng ngàn tỷ đồng vốn trung dài hạn

Trang 11

Bởi lãi suất trái phiếu ngân hàng có mức trên dưới 10,5% một năm, bên mua cóquyền bán lại trái phiếu cho bên bán khi chưa đến kỳ đáo hạn Lãi suất được thanh toáncuối kỳ hoặc hàng năm… Một số doanh nghiệp hiện trích một phần vốn ra đầu tư tráiphiếu ngân hàng trong lúc chưa có dự án hoặc do vẫn có nguồn vốn nhàn rỗi nhưng chưatriển khai được dự án nên đầu tư vào trái phiếu và họ có thể bán lại cho ngân hàng thu hồivốn khi có nhu cầu vốn

Thực tế trên thị trường, lãi suất tiết kiệm VND hiện được các ngân hàng đẩy lêncao, sát trần cho vay, cùng nhiều khuyến mãi, tiện ích để khuyến khích khách hàng gửitiền Trong khi đó, người dân không mấy mặn mà với gửi kỳ hạn dài Với các mức lãi suấtcao, ngân hàng lại có thêm những điều kiện ràng buộc như món tiền gửi lớn, không đượcrút trước hạn, lĩnh lãi cuối kỳ… Điều này không phù hợp với tính toán của khách hàngcũng như nhu cầu rút vốn linh hoạt để rót vào các kênh đầu tư khác đang hấp dẫn

Đại diện một số NHTM thừa nhận, nhu cầu vốn trung dài hạn thường rất lớn trongkhi nguồn vốn trung dài hạn không nhiều Thời gian qua, tình hình huy động vốn trên thịtrường chứng khoán của doanh nghiệp gần như tê liệt Doanh nghiệp phải làm hồ sơ đếnngân hàng đề nghị tài trợ vốn trung dài hạn

Để huy động vốn trung dài hạn, phát hành trái phiếu trung dài hạn là bài toán đượccác ngân hàng áp dụng linh hoạt Nhờ đó các ngân hàng đã huy động được hàng ngàn tỷđồng vốn trung dai hạn từ phát hành trái phiếu Thông qua hoạt động phát hành trái phiếu,theo đánh gia của các chuyên gia, các NHTM cùng lúc đạt được nhiều mục đích như vừacải thiện vốn trung – dài hạn, vừa có cơ sở tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn phát hành tráiphiếu Với nguồn vốn mời này, các NHTM có khả năng đa dạng hóa kênh đầu tư thôngqua việc đầu tư vào các loại giấy tờ có đặc biệt là TPCP, trái phiếu của chính các NHTMhoặc tổ chức kinh tế

3.2 Phân loại Trái phiếu NHTM

Phân loại dựa vào tính chất thì trái phiếu có 2 loại là trái phiếu không chuyển đổi

và trái phiếu chuyển đổi.

Phân loại theo mức độ bảo đảm thanh toán của chủ thể phát hành phân thành trái phiếu có bảo đảm và trái phiếu không có bảo đảm.

Khoản 2 điều 5 Nghị định 90 quy định trái phiếu chuyển đổi như sau:

a) Trái phiếu chuyển đổi là trái phiếu có bảo đảm hoặc trái phiếu không có bảo đảm, trái phiếu kèm theo chứng quyền hoặc trái phiếu không kèm theo chứng quyền;

b) Đối tượng phát hành trái phiếu chuyển đổi là công ty cổ phần.

Trang 12

Như vậy theo Nghị định thì doanh nghiệp là công ty cổ phần bao gồm cả các Ngânhàng thương mại cổ phần được phép phát hành cả trái phiếu không chuyển đổi và tráiphiếu chuyển đổi.

Cũng theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định 90 thì: “Trái phiếu chuyển đổi”

là loại trái phiếu do công ty cổ phần phát hành, có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp phát hành theo điều kiện đã được xác định trong phương án phát hành trái phiếu

Loại trái phiếu này có đặc điểm là lãi suất cố định và tương đối thấp so với các loạitrái phiếu khác, song trái phiếu chuyển đổi hứa hẹn đem lại cho nhà đầu tư lợi nhuận lớnhơn khi chuyển đổi thành loại cổ phiếu thường doanh nghiệp và đây cũng chính là bảnchất của trái phiếu chuyển đổi Về bản chất kinh tế, trái phiếu chuyển đổi được coi là mộtsản phẩm lồng ghép giữa trái phiếu doanh nghiệp và quyền mua cổ phiếu do chính doanhnghiệp phát hành Quyền mua cổ phiếu cho phép người nắm giữ có quyền, mà không cónghĩa vụ mua cổ phiếu tại một thời điểm trong tương lai với một mức giá xác định trước

 Sự khác biệt của trái phiếu chuyển đổi so với trái phiếu không chuyển đổi đó làquyền chuyển đổi sang cổ phiếu theo một tỷ lệ cố định trong tương lai của trái chủ Do

đó, trái phiếu chuyển đổi thường có giá trị hơn trái phiếu thông thường

3.3 Mục đích phát hành

Hỗ trợ nguồn thanh khoản và đảm bảo thanh toán

Trong quá trình hoạt động, có những thời điểm khó khăn trong thanh khoản ngắnhạn, việc huy động vốn từ cá nhân, tổ chức và các ngân hàng khác không dễ dàng, thìkênh huy động vốn từ việc tham gia nghiệp vụ OMO, cầm cố thế chấp trái phiếu vay vốnvới NHNN, hoặc thực hiện vay vốn các tổ chức khác có đảm bảo bằng trái phiếu, hoặcbán hẳn trái phiếu trên thị trường thứ cấp được các NHTM áp dụng phổ biến Bên cạnh

đó, NHTM cũng có thể cầm cố trái phiếu tại NHNN để thiết lập hạn mức thấu chi tàikhoản hoặc đảm bảo cho việc thanh toán tập trung một tài khoản tại NHNN trong thờigian ngắn nhất

Tìm kiếm lợi nhuận

So với hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu có quy mô và tỷtrọng nhỏ hơn song cũng có ý nghĩa rất quan trọng về mặt thu nhập và tạo điều kiện chocác ngân hàng thâm nhập sâu rộng vào nền kinh tế Bên cạnh đó, hoạt động này nhằm tạocân bằng về thu nhập cho ngân hàng trong chu kỳ kinh doanh Khi thu nhập từ các khoảntín dụng giảm xuống thì thu nhập trái phiếu có thể bù đắp lại

Trang 13

Việc đầu tư kinh doanh trái phiếu sẽ đem lại cho ngân hàng thu nhập từ việc hưởnglãi Coupon, chênh lệch giá mua và giá bán trái phiếu … Bên cạnh đó, NHTM có thể sửdụng nguồn vốn vay từ NHNN thông qua nghiệp vụ thị trường mở, cầm cố chiết khấu tráiphiếu với lãi suất thấp để cho vay lại các tổ chức khác với lãi suất cao hơn Hơn nữa, hoạtđộng này cũng giúp giảm nhẹ mức độ tác động của thuế tới hoạt động ngân hàng, đặc biệt

là bù đắp cho các khoản thu nhập từ cho vay bị đánh thuế

Đa dạng hóa danh mục đầu tư

Hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu cũng góp phần đa dạng hóa danh mục đầu

tư, bên cạnh các nghiệp vụ truyền thống và cổ điển như tín dụng, góp vốn liên doanh liênkết v.v Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư giúp NHTM phân chia rủi ro trong hoạt độngcho vay, đầu tư, đa dạng hóa lợi nhuận từ nhiều nguồn khác nhau Bên cạnh đó, hoạt độngnày cũng giúp tạo nên sự mềm dẻo trong việc quản lý danh mục tài sản của ngân hàng bởi

vì không giống như phần lớn danh mục cho vay, rất nhiều loại trái phiếu đầu tư có thểđược mua hoặc bán nhanh chóng để cấu trúc lại danh mục tài sản

Tạo sự đa dạng về mặt địa lý

Trái phiếu thường xuất phát từ nhiều khu vực khác nhau hơn so với các khoản tíndụng của ngân hàng, điều này cho phép NHTM đa dạng hóa đầu tư và lợi nhuận của nótrên phương diện địa lý một cách có hiệu quả hơn

Nâng cao năng lực cạnh tranh và thương hiệu ngân hàng

Hiện nay một trong những chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM là hệ sốCAR Đây là tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi Theo chuẩnquốc tế thì CAR tối thiểu phải đạt 9% Trên cơ sở đó, hoạt động đầu tư kinh doanh tráiphiếu, đặc biệt là trái phiếu có mức độ rủi ro thấp như Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếuNHNN cũng góp phần làm tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của NHTM (hệ số CAR) trên

cơ sở giảm tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh vàthương hiệu của ngân hàng

Là công cụ thực hiện chính sách quản lý tài sản của NHTM

Trái phiếu được đầu tư kinh doanh sẽ nằm trong danh mục tài sản sinh lời củaNHTM Khi hoạt động mua – bán trái phiếu diễn ra nó sẽ tác động lên bảng cân đối kếtoán của ngân hàng, nó làm thay đổi cấu trúc của danh mục tài sản Do đó, hoạt động nàycũng được coi là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện chính sách quản lý tàisản của NHTM

3.4 Quy trình thực hiện

Trang 14

3.4.1 Chuẩn bị hồ sơ phát hành trái phiếu

 Phương án phát hành trái phiếu

 Bản công bố thông tin về đợt phát hành trái phiếu

 Hợp đồng tư vấn ký kết giữa ngân hàng phát hành với công ty chứng khoán

về hồ sơ phát hành trái phiếu

 Báo cáo tài chính năm trước liền kề của năm phát hành được kiểm toán;

 Kết quả xếp hạng tín nhiệm của tổ chức xếp hạng tín nhiệm đối với doanhnghiệp phát hành trái phiếu và loại trái phiếu phát hành (nếu có)

Hồ sơ phát hành trái phiếu thành nhiều đợt còn bao gồm:

 Dự án hoặc kế hoạch sử dụng vốn làm nhiều đợt

 Tài liệu về tình hình tài chính của ngân hàng nghiệp phát hành, tình hình sửdụng số tiền thu được từ các đợt phát hành trước

3.4.2 Công bố thông tin trước đợt phát hành

Tối thiểu mười ngày làm việc trước ngày dự kiến tổ chức đợt phát hành trái phiếu,thực hiện công bố thông tin trước đợt phát hành cho các nhà đầu tư đăng ký mua tráiphiếu và gửi nội dung công bố thông tin cho Sở Giao dịch Chứng khoán

Trực tiếp gửi nội dung công bố thông tin trước đợt phát hành đến các nhà đầu tưđăng ký mua trái phiếu và Sở Giao dịch Chứng khoán theo hình thức hồ sơ giấy hoặc hồ

sơ điện tử

3.4.3 Tổ chức phát hành trái phiếu

Trái phiếu được phát hành theo các phương thức sau:

 Đấu thầu phát hành trái phiếu;

 Bảo lãnh phát hành trái phiếu;

 Đại lý phát hành trái phiếu;

Ngày đăng: 06/05/2021, 16:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w