Báo cáo trình bày lý thuyết về hoạt động Tái bảo hiểm tại Việt Nam. Nội dung chính bao gồm: Khái quát chung về Tái bảo hiểm như khái niệm, nhiệm vụ, chức năng, vai trò; Các hình thức tái bảo hiểm như Tạm thời, cố định, lựa chọnbắt buộc; Các phương thức TBH như Tỷ lệ và không theo tỷ lệ
Trang 1BÁO CÁOTÌM HIỂU TÁI BẢO HIỂM
Trang 22
Trang 3MỤC LỤC3
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁI BẢO HIỂM
1.1 Khái niệm
Tái bảo hiểm (Reinsurance) là một loại nghiệp vụ mà Nhà bảo hiểm sử dụng để
chuyển một phần trách nhiệm đã chấp nhận với Người được bảo hiểm cho Nhà bảohiểm khác, trên cơ sở nhượng lại cho Nhà bảo hiểm đó một phần chi phí bảo hiểmthông qua hợp đồng tái bảo hiểm
Thực tế tái bảo hiểm được hình thành trên cơ sở bảo hiểm gốc nên nó luôn gắnliền với nghiệp vụ bảo hiểm gốc Người ta thường nói “tái bảo hiểm chính là bảo hiểmcho các nhà bảo hiểm” bởi những tổn thất mà các công ty bảo hiểm phải gánh chịu đãđược dàn trải ra
Tại Việt Nam hiện nay có 2 Công ty tái bảo hiểm là Tổng Công ty cổ phần Táibảo hiểm quốc gia Việt Nam và Công ty tái bảo hiểm PVI (PVI Re)
Một số khái niệm liên quan đến tái BH:
- Công ty nhượng tái bảo hiểm: Là công ty bảo hiểm gốc chuyển giao tất cả haymột phần rủi ro đã chấp nhận
- Công ty nhận tái bảo hiểm: Là công ty bảo hiểm chấp nhận lại cho các rủi ro đãđược bảo hiểm từ công ty nhượng tái bảo hiểm
- Mức giữ lại: Là một phần trách nhiệm mà công ty nhượng tái bảo hiểm giữ lạicho chính họ trên một rủi ro bảo hiểm gốc
Trang 5- Hoa hồng tái bảo hiểm: Là một phần phí tái bảo hiểm mà công ty nhận tái bảohiểm trả lại cho công ty nhượng tái bảo hiểm.
- Năng lực bảo hiểm: Tái bảo hiểm giúp công ty bảo hiểm có thể đáp ứng khảnăng nhận bảo hiểm những rủi ro có giá trị lớn hơn khả năng tài chính của mình
- Tích tụ rủi ro: Tái bảo hiểm bảo vệ công ty bảo hiểm trước những rủi ro lớn vàmang tính chất thảm họa
- Khả năng tài chính: Công ty bảo hiểm cũng cần phải bảo hiểm cho chính công
và nhận tái bảo hiểm:
- Chuyển tái bảo hiểm (tái bảo hiểm đi): có nghĩa là một công ty bảo hiểm gốcphân tán rủi ro cho các công ty tái bảo hiểm Trong trường hợp này, công ty bảo hiểmgốc phải chuyển phí cho các công ty tái bảo hiểm và nhận được từ họ yếu tố đảm bảo
và ổn định kinh doanh của mình
- Nhận tái bảo hiểm (tái bảo hiểm đến): là một công ty tái bảo hiểm nhận mộtphần rủi ro đã được bảo hiểm từ một công ty bảo hiểm gốc khác Trong trường hợpnày, công ty tái bảo hiểm được hưởng số phí từ công ty bảo hiểm gốc nhằm mục đíchkinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm
- Ngoài ra tái bảo hiểm còn bao gồm cả hình thức tái bảo hiểm tiếp (chuyểnnhượng tái bảo hiểm) có nghĩa là một công ty tái bảo hiểm phân chia tiếp phần tráchnhiệm mà mình đã nhận từ một công ty bảo hiểm gốc cho các công ty tái bảo hiểmkhác
Trang 61.3 Chức năng của tái BH
Đối với các thể loại khác nhau của tái bảo hiểm chức năng của chúng cũng khácnhau Chức năng của tái bảo hiểm đi chủ yếu nhằm đảm bảo sự kinh doanh cho công
ty bảo hiểm gốc Sự đảm bảo này phụ thuộc vào các dạng hợp đồng tái bảo hiểm vàđược thể hiện ở các mức độ khác nhau:
– Có thể giảm một cách tuyệt đối sự chênh lệch của kết quả kinh doanh trong lúc
tỷ lệ phí và chi bồi thường vẫn giữ nguyên
Ngược lại, tái bảo hiểm nhận có chức năng hoàn toàn khác với tái bảo hiểm đi Ởđây công ty bảo hiểm xuất khẩu dịch vụ bảo hiểm nhằm ổn định kinh doanh cho cáccông ty bảo hiểm khác Vì vậy chức năng của tái bảo hiểm nhận giống với chức năngcủa bảo hiểm đối ngoại là kinh doanh dịch vụ bảo hiểm nhằm tăng thu ngoại tệ
Tổng kết lại ta có thể rút ra kết luận : đối với nhà nước thì tái bảo hiểm có 3 chứcnăng chủ yếu :
– Đảm bảo tính ổn định và sự chắc chắn cho quá trình KD và SX của các đơn vịkinh tế
– Đảm bảo tính ổn định của ngân sách ngoại tệ nhà nước
– Tăng thu nhập quốc dân
Thông qua nhiệm vụ và chức năng trên ta thấy bảo hiểm có một ý nghĩa quantrọng đối với việc phát triển kinh tế của một đất nước Đảm bảo kinh doanh cho công
ty bảo hiểm có nghĩa là đảm bảo được sự kinh doanh và sản xuất của các đơn vị kinh
tế, từ đó tạo điều kiện tốt cho họ phát triển kinh doanh Đảm bảo tính ổn định của ngânsách ngoại tệ nhà nước có nghĩa là đảm bảo được kế hoạch chi tiêu ngoại tệ nhằm pháttriển sản xuất một cách đồng bộ Tăng thêm thu nhập quốc dân tức là mở rộng đượckinh doanh và sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân
Trang 71.4 Vai trò của tái BH
Tái bảo hiểm có vai trò to lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, đối với cả những người tham gia bảo hiểm Vai trò của tái bảo hiểm được thể hiện:
Phân tán rủi ro, góp phần ổn định tài chính cho công ty bảo hiểm gốc, đặc biệt làtrong những trường hợp xảy ra các sự cố thảm họa hay tích luỹ rủi ro
Nâng cao khả năng nhận bảo hiểm của công ty bảo hiểm gốc đối với những rủi rovượt quá khả năng tài chính của nó Thường xảy ra đối với các hợp đồng bảo hiểm có
số tiền bảo hiểm lớn, mức trách nhiệm cao liên quan đến khả năng nhận bảo hiểm củacông ty bảo hiểm gốc với người tham gia bảo hiểm
Nhờ có tái bảo hiểm mà các công ty bảo hiểm có thể nhận được những hợp đồngbảo hiểm lớn, vừa đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật về biên khả năng thanhtoán, vừa không phải từ chối khách hàng
Phòng ngừa thảm họa khi các rủi ro bất thường, rủi ro mang tính thảm hoạ (bão,động đất, khủng bố, dịch bệnh…) xảy ra sẽ ảnh hưởng đến khả năng bồi thường củacông ty bảo hiểm gốc Tái bảo hiểm cho phép các công ty bảo hiểm gốc thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ của mình đối với khách hàng bất chấp các rủi ro đó xảy ra
Tái bảo hiểm là một công cụ quản trị rủi ro hữu hiệu của những nhà bảo hiểmtrong việc dàn trải rủi ro và tổn thất
Thông qua hoạt động tái bảo hiểm, công ty bảo hiểm gốc được hỗ trợ về mặt tàichính nhờ khoản hoa hồng tái bảo hiểm, hỗ trợ về mặt kỹ thuật…
Công cụ giúp cho khách hàng yên tâm hơn trong việc đảm bảo khả năng thanhtoán của các công ty bảo hiểm gốc Nhờ có tái bảo hiểm mà khách hàng có thể nhậnđược bồi thường chính xác, đầy đủ và kịp thời
Tái bảo hiểm không chỉ là sự phân tán rủi ro cho những nhà bảo hiểm mà còn là
sự phân tán rủi ro giữa các quốc gia với nhau vì vậy những tổn thất lớn hoàn toàn cóthể được chia sẻ với số lượng đông người tham gia bảo hiểm
1.5 Lịch sử phát triển của Tái bảo hiểm
Giai đoạn đầu phát triển của tái bảo hiểm
Vào giai đoạn cuối cùng của thời đại trung cổ, khi ngành bảo hiểm bắt đầu pháttriển và mở rộng ở châu Âu thì nhu cầu tái bảo hiểm đã xuất hiện và ngày càng tăngnhanh cùng với sự phát triển của nền kinh tế TBCN Trước tiên, nghiệp vụ tái bảohiểm được tiến hành cho loại hình bảo hiểm vận chuyển hàng hải, sau này dần dầnđược mở rộng sang bảo hiểm cháy, BHNT
Trang 8Nước Ý là nước đầu tiên chứng kiến sự ra đời của dịch vụ tái bảo hiểm Bản giaoước cổ nhất được biết đến với tính chất pháp lý như một hợp đồng tái bảo hiểm đãđược ký kết tại thành phố Genés vào năm 1370 giữa một bên là hai thương nhân hoạtđộng với tư cách là nhà tái bảo hiểm với một bên là đại diện cho một nhà bảo hiểm.Trong thời gian này các hình thức tái bảo hiểm khác cũng đã xuất hiện, ví dụ như táibảo hiểm cháy … Lúc đầu nghiệp vụ tái bảo hiểm được các công ty bảo hiểm tiếnhành, điều đó có ý nghĩa là họ vừa tiến hành bảo hiểm gốc vừa đồng thời tiến hành cảtái bảo hiểm Hình thức tái bảo hiểm duy nhất được sử dụng đó là hình thức tái bảohiểm tùy ý lựa chọn cho từng rủi ro riêng lẻ.
Giai đoạn từ giữa thế kỷ thứ 19 đến giữa thế kỷ 20
Thời kỳ này quan hệ thương mại giữa các nước được mở rộng và phát triểnmạnh Do đó hình thức hợp đồng tái bảo hiểm trao đổi qua lại giữa các nhà bảo hiểmnhư trên không còn đáp ứng được nhu cầu Việc thành lập các công ty tái bảo hiểmchuyên nghiệp là một sự kiện có tính chất quan trọng trong việc phát triển của ngànhbảo hiểm
Khả năng phục vụ của các công ty tái bảo hiểm cũng được cải tiến thêm bằngviệc mở rộng tái bảo hiểm ra các loại hình bảo hiểm khác và lan rộng ra các thị trườngbảo hiểm nước ngoài thúc đẩy ngành bảo hiểm ngày càng phát triển Trong thời kỳ này
kỹ thuật của tái bảo hiểm cũng được cải tiến Nhiều hình thức và phương pháp tái bảohiểm đã được xây dựng
Giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ hai
Sự phục hồi nhanh chóng của các công ty tái bảo hiểm của CHLB Đức
Sự thành lập các công ty bảo hiểm nhà nước ở các nước XHCN: Sự kiện này ảnhhưởng lớn đến chiều hướng phát triển của tái bảo hiểm quốc tế Các nước XHCN đãtiến hành biện pháp độc quyền về tái bảo hiểm và hạn chế quan hệ với thị trường táibảo hiểm tư bản chủ nghĩa
Trong những nước chậm phát triển hoặc mới giành được độc lập những tổ chứcđộc quyền tái bảo hiểm, cục bộ hay toàn phần đã được thành lập nhằm bảo vệ lợi íchriêng của họ làm thu hẹp khả năng hoạt động của các công ty tái bảo hiểm quốc tế ởnhững nước đó
Nhiều công ty tái bảo hiểm mới được thành lập và càng ngày có nhiều công tybảo hiểm tiến hành đồng thời dịch vụ tái bảo hiểm Do đó cuộc cạnh tranh giữa họngày càng gay gắt và dưới nhiều hình thức khác nhau
Trang 9Trong thời gian này, hình thức tái bảo hiểm không theo tỷ lệ là hình thức tối ưunhất đáp ứng được nhu cầu đảm bảo của các công ty bảo hiểm gốc và ngày càng đượcphổ biến rộng rãi
1.6 Phân biệt Tái bảo hiểm và Đồng bảo hiểm
Đồng bảo hiểm chính là cách thức để phân tán, chia sẻ rủi ro theo chiều ngangbằng cách tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm khác nhau chocùng 1 đối tượng bảo hiểm Khi xảy ra những rủi ro, thiệt hại tổn thất của đối tượngbảo hiểm thì các công ty bảo hiểm sẽ cùng có trách nhiệm bảo hiểm này theo tỷ lệ thỏathuận và mức phí mà khách hàng đã đóng trước đó Vì vậy, giữa Tái bảo hiểm và Đồngbảo hiểm có những điểm giống nhau như sau:
- Có nhiều công ty cùng tham gia vào 1 đơn vị rủi ro
- Đều là nghiệp vụ phân tán rủi ro giữa các công ty bảo hiểm với nhau
- Tỷ lệ phần trăm chấp nhận rủi ro tùy thuộc vào khả năng tài chính của công tybảo hiểm đó và loại rủi ro
- Tăng khả năng nhận bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm
- Hỗ trợ các công ty bảo hiểm nhỏ mới ra đời ổn định và phát triển
- Tăng thu nhập cho các công ty bảo hiểm
- Giúp khách hàng có giá trị tài sản lớn cần bảo hiểm có thể ký được hợp đồngmột cách nhau chóng
Mặc dù có điểm giống nhau giữa tái bảo hiểm và đồng bảo hiểm là cùng có nhiềucông ty bảo hiểm tham gia cho cùng một đơn vị rủi ro, nhưng giữa chúng có nhiềuđiểm khác nhau Đó là:
Khái
niệm
Là phương thức phân tán rủi ro
theo chiều ngang, bằng cách
tập hợp nhiều doanh nghiệp
cùng tham gia bảo hiểm cho
một đối tượng
Là một loại nghiệp vụ mà Nhà bảohiểm sử dụng để chuyển một phần tráchnhiệm đã chấp nhận với Người đượcbảo hiểm cho Nhà bảo hiểm khác, trên
cơ sở nhượng lại cho Nhà bảo hiểm đómột phần chi phí bảo hiểm thông quahợp đồng tái bảo hiểm
Hợp
đồng - Chỉ có 1 hợp đồng duy nhấtđược ký kết giữa các nhà đồng
bảo hiểm
- Người chịu trách nhiệm cao
nhất là người được ủy nhiệm
Trang 10Việc ký hợp đồng do nhiều
công ty bảo hiểm tiến hành,
mỗi một công ty tham gia đồng
bảo hiểm đều phải ký tên vào
giấy chứng nhận bảo hiểm
Công ty bảo hiểm gốc đứng ra ký hợpđồng bảo hiểm với người tham gia vàsau đó phân chia trách nhiệm cho cáccông ty tái bảo hiểm theo sự thỏa thuậngiữa họ và các công ty tái bảo hiểm
Pháp lý
- Người được bảo hiểm phải
biết tất cả các nhà đồng bảo
hiểm Khi tổn thất xảy ra người
được bảo hiểm có quyền bồi
thường tất cả các nhà đồng bảo
hiểm
- Người được bảo hiểm chỉ cần biếtngười bảo hiểm gốc chịu trách nhiệmthanh toán khi có tổn thất xảy ra
- Nếu người bảo hiểm gốc bị phá sảnthì người được bảo hiểm không cóquyền đòi công ty bảo hiểm bồi thường
Đối
tượng
- Người được bảo hiểm là đối
tượng trực tiếp được bảo hiểm - Công ty bảo hiểm là đối tượng trựctiếp được bảo hiểm
Điều
kiện của
doanh
nghiệp
Phải được phép kinh doanh tái
bảo hiểm Được phép kinh doanh bảo hiểm
Hậu quả
pháp lý
khi có
tổn thất:
+ Khi có tổn thất xảy ra, người
được bảo hiểm có quyền khiếu
nại yêu cầu bồi thường tổn thất
đối với tất cả DN đồng bảo
hiểm
+ Mỗi DNBH chỉ chịu trách
nhiệm phần của mình, không
chịu trách nhiệm cho nhau
Khi có tổn thất xảy ra thì người đượcbảo hiểm chỉ có quyền yêu cầu DNBHbồi thường ( không được yêu cầu DNtái bảo hiểm bồi thường)
+ DNBH gốc sẽ đứng ra bồi thường hết100% giá trị hợp đồng
+ Sau đó nhà bảo hiểm gốc sẽ đượchoàn lại một phần số tiền từ các nhà táibảo
hiểm với tỷ lệ bồi thường tuân theo hợpđồng tái bảo hiểm
1.7 Thị trường Tái bảo hiểm ở Việt Nam
Theo số liệu từ Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), quy mô thịtrường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam năm 2017 đã tiệm cận mức 2 tỷ USD; doanhthu phí bảo hiểm gốc đạt 43.653 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2016 Trong đó, tỷ lệdoanh thu phí bảo hiểm được các công ty bảo hiểm phi nhân thọ giữ lại chiếm 68%,đồng nghĩa với việc phần rủi ro các công ty này tự chịu; 32% còn lại, các công ty bảohiểm nhượng lại cho các nhà tái bảo hiểm để san sẻ bớt rủi ro Điều này hình thành
Trang 11nên một thị trường thứ cấp phía sau ít được công chúng Việt Nam chú ý, đó là thịtrường tái bảo hiểm.
Tại Việt Nam, quy mô thị trường tái bảo hiểm năm 2017 đạt 13.066 tỷ đồng, tăng9,1% so với năm 2016 Các nhà tái bảo hiểm nước ngoài nắm giữ 72%, phần còn lạithuộc về Vinare (thành lập năm 1994) và PVIRe (thành lập năm 2011)
Vinare niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội từ năm 2006, với mãchứng khoán VNR, nên dường như được nhiều người biết đến hơn Tuy nhiên, do cơcấu cổ đông khá cô đặc (cổ đông nhà nước SCIC, cổ đông nước ngoài Swiss Re và các
tổ chức khác nắm giữ gần 96% cổ phần) nên tính thanh khoản của cổ phiếu VNR kháthấp
Trong khi đó, non trẻ hơn về tuổi đời, nhỏ hơn về quy mô vốn, nhưng với thươnghiệu và thế mạnh của công ty mẹ PVI, PVIRe đang chứng tỏ được sức bật rất tốt Năm
2014, sau 3 năm thành lập, PVIRe đã đạt được quy mô doanh thu phí nhận tái bảohiểm xấp xỉ với Vinare (hơn 1.600 tỷ đồng)
3 năm gần đây (2015 - 2017), PVIRe đã chủ động điều chỉnh chính sách khaithác, nhận tái bảo hiểm theo hướng hiệu quả, vì vậy quy mô phí nhận tái bảo hiểm đạtbình quân 1.300 tỷ đồng, nhưng hiệu quả hoạt động vẫn được đảm bảo Cụ thể, tỷ lệkết hợp của PVIRe luôn đạt từ 80 - 82%, là mức tốt nhất trên thị trường bảo hiểm ViệtNam và thấp hơn nhiều tỷ lệ kết hợp bình quân của ngành tái bảo hiểm thế giới làkhoảng 95% (tỷ lệ kết hợp càng thấp thì hiệu quả hoạt động của công ty tái bảo hiểmcàng cao)
Trang 12CHƯƠNG 2 CÁC HÌNH THỨC TÁI BẢO HIỂM
2.1 Tái bảo hiểm tạm thời
Tái bảo hiểm tạm thời hay còn gọi là tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn, là hình thức táibảo hiểm mà công ty bảo hiểm gốc chuyển nhượng cho công ty tái bảo hiểm từng dịch
vụ hay từng đơn bảo hiểm một cách riêng lẻ
Đây là hình thức tái bảo hiểm cơ bản và cổ điển nhất Danh từ “Tùy ý lựa chọn”(Facultative) có liên quan đến ý niệm là trong loại tái bảo hiểm này, công ty nhượng(ceding company) có toàn quyền lựa chọn rủi ro cần phải tái bảo hiểm, tái bảo hiểmcho dịch vụ nào, tỷ lệ bao nhiêu
Và ngược lại, nhà tái bảo hiểm (Reinsurer) có quyền nhận hay từ chối rủi ro hoặcchỉ nhận tái bảo hiểm với một tỷ lệ mà họ cho là thích hợp Công ty bảo hiểm gốc cónghĩa vụ phải cung cấp cho công ty tái bảo hiểm mọi thông tin có liên quan đến dịch
vụ được bảo hiểm Trên thực tế nhà tái bảo hiểm cũng tiến hành đánh giá mức độ rủi
ro của dịch vụ rồi quyết định có nhận tái bảo hiểm hay không mà không cần đầy đủcác chi tiết
Vào thời điểm khi kết thúc một thỏa thuận thương mại nào đó thì các bên thamgia vào thỏa thuận đó thường quan tâm đến việc quy định thật chính xác các chi tiếtcần thiết của thỏa thuận lần tới, các mục đích, nghĩa vụ của các bên đối với nhau vàđặt ra các điều kiện cần thiết để ràng buộc những nghĩa vụ và quyền lợi ấy và như vậy,chỉ có hình thức tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn là phù hợp nhất, vì nó có thể cho phép nhàtái bảo hiểm có được một ý niệm đúng về những rủi ro mà mình phải gánh chịu trướckhi tham gia hợp đồng
Thủ tục để tiến hành thực hiện một hợp đồng tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn như sau:
Trước hết công ty nhượng thông báo cho tái bảo hiểm một dịch vụ nào đó mà họcần phải tái bảo hiểm dưới hình thức một phiếu đề nghị (slip), trong đó có ghi các đặcđiểm chính của rủi ro được tái bảo hiểm như: tên và địa chỉ của người được bảo hiểm,tính chất của rủi ro được bảo hiểm, ngày bắt đầu và chấm dứt của thời gian bảo hiểm,
số tiền được bảo hiểm, phí bảo hiểm, phần giữ lại của công ty nhượng, tỷ lệ thủ tục phítái bảo hiểm…
Sau khi nhận được phiếu đề nghị này, nhà tái bảo hiểm có toàn quyền tự do đểlựa chọn toàn bộ hay một phần tỷ lệ nào đó hay bằng một số tiền cố định trên cơ sở rủi
ro được đề nghị Nhà tái bảo hiểm xác nhận phần tham gia của mình thông thườngbằng cách ghi trực tiếp vào bản thứ hai, của phiếu đề nghị và gửi trả lại cho công ty