Với việc “thẩm tra toàn diện các quan năng nhận thức nói chung” [45, 26] của con người nhằm tìm ra con đường đưa siêu hình học thoát khỏi những bế tắc về vấn đề nhận thức của thế kỷ XVII
Trang 1
TRẦN MINH LÊ
VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC IMMANUEL KANT
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2
TRẦN MINH LÊ
VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC IMMANUEL KANT
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGÔ THỊ MỸ DUNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, chưa được ai
là hoàn toàn trung thực
Tp Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm 2014
Tác giả
TRẦN MINH LÊ
Trang 4Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 10
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 11
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 11
7 Kết cấu của luận văn 11
Chương 1 KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC IMMANUEL KANT 12
1.1 Hoàn cảnh ra đời của triết học Immanuel Kant 12
1.2 Những thời kỳ phát triển của triết học Immanuel Kant 24
1.3 Vị trí của vấn đề nhận thức luận trong hệ thống triết học Immanuel Kant 33
Kết luận chương 1 42
Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NHẬN THỨC LUẬN IMMANUEL KANT 45
2.1 Nhận thức cảm tính 45
2.2 Nhận thức giác tính 54
2.3 Nhận thức lý tính 68
2.4 Một số nhận định, đánh giá về nhận thức luận Immanuel Kant 81
Kết luận chương 2 104
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Friedrich Engels (1820 - 1895) đã viết, “một dân tộc muốn đứng trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [7, 489], nhưng muốn phát triển và hoàn thiện tư duy lý luận “thì cho tới nay không còn một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” [7, 487] Bởi lẽ, triết học chính là sản phẩm tinh tuý nhất của mỗi dân tộc, nó phản ánh sâu sắc nhất, đầy đủ nhất thực tiễn xã hội sinh động của mỗi thời đại Ở đây, các nhà mácxít muốn nhấn mạnh rằng, để có được và hoàn thiện năng lực tư duy lý luận, người ta chỉ có cách duy nhất là thông qua việc nghiên cứu lịch sử triết học một cách cơ bản Năng lực tư duy lý luận không thể đạt được khi chúng
ta “đốt cháy giai đoạn”, thiếu nghiên cứu nền tảng về lý luận và phương pháp tiếp cận của các trào lưu triết học khác nhau trong lịch sử nhân loại
Nhìn lại tiến trình phát triển của lịch sử triết học, chúng ta không thể không nhắc đến triết học cổ điển Đức – đỉnh cao của triết học Tây Âu trước ngưỡng cửa của thế giới hiện đại Triết học cổ điển Đức, được mở đầu từ Immanuel Kant, đã tạo ra một cuộc đột phá vào cách hiểu siêu hình về bức tranh thế giới và cũng trở thành một trong những tiền đề lý luận cơ bản cho sự hình thành hệ thống triết học Marx – Lenin Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử triết học trước Marx, trong đó có nhận thức luận của Kant, là cần thiết bởi khó
có thể hiểu hết giá trị và ý nghĩa của triết học Marx nếu không nghiên cứu chúng trong mối liên hệ với các học thuyết trước đó
Hơn nữa, ý nghĩa của triết học Immanuel Kant không chỉ dừng lại ở việc sáng lập triết học cổ điển Đức bằng sự kế thừa những tư tưởng có giá trị của thời đại trước mà còn mở đường, khơi gợi, thôi thúc sự tìm tòi, khám phá cho thế hệ sau Hegel đã đánh giá: “Triết học của Immanuel Kant là nền tảng và
Trang 6điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại.” [73, 256] Vì vậy, việc nghiên cứu nhận thức luận của Kant có thể giúp chúng ta hiểu sâu hơn về lịch sử tư tưởng triết học nói chung và triết học cổ điển Đức nói riêng, góp phần nâng cao tư duy lý luận
Bên cạnh đó, chúng ta nhận thấy rằng, trong mọi hoạt động thực tiễn của con người luôn có sự tham gia của hoạt động nhận thức, vì thế mà một trong hai vấn đề cơ bản của triết học là trả lời cho câu hỏi: “Con người có nhận thức được thế giới hay không?” Tuy nhiên, mỗi triết gia, mỗi trường phái triết học lại có những đáp án không giống nhau cho câu hỏi ấy Nhận thức luận được xem như sợi chỉ xuyên suốt quá trình phát triển của lịch sử triết học, là một trong những vấn đề trọng tâm của cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Với việc “thẩm tra toàn diện các quan năng nhận thức nói chung” [45, 26] của con người nhằm tìm ra con đường đưa siêu hình học thoát khỏi những
bế tắc về vấn đề nhận thức của thế kỷ XVII - XVIII và đề cao tính tích cực của chủ thể trong quá trình nhận thức, nhận thức luận của Kant đã mở ra một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tư tưởng triết học phương Tây Từ đấy về sau, mọi trào lưu triết học đều ít nhiều xoay quanh những vấn đề mà Kant đã đặt ra Chính vì vậy mà việc nghiên cứu những quan điểm về nhận thức của Kant sẽ góp phần nâng cao tư duy lý luận về nhận thức, qua đó trang bị cho chúng ta cơ sở để tiếp thu những quan điểm nhận thức trong triết học Marx – Lenin, cũng như hiểu thêm về một số khuynh hướng triết học phương Tây hiện đại
Hiện nay, việc quan tâm đẩy mạnh hơn nữa việc giảng dạy và nghiên cứu triết học ngoài mác xít, trong đó có triết học cổ điển Đức, đối với nước ta
là yêu cầu khách quan và cấp thiết Điều này xuất phát từ yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ
Trang 7hiện đại, toàn cầu hóa, kinh tế tri thức Theo một số nghiên cứu khoa học, trong những năm gần đây, số người quan tâm đến triết học, nghiên cứu triết học ngoài mác xít tuy có gia tăng những vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp phát triển lý luận nói chung, triết học nói riêng Chúng ta còn quá ít các chuyên gia đầu ngành và sách, tư liệu về triết học ngoài mácxít cũng như triết học cổ điển Đức, nhất là các tài liệu nguyên bản [89, 830] Vì vậy, việc nghiên cứu những quan điểm của Kant về nhận thức luận từ đó đưa
ra những nhận định, đánh giá về nó sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu tìm hiểu chuyên sâu về triết học của Kant nói riêng và triết học cổ điển Đức nói chung Xuất phát từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi đã chọn:
“Vấn đề nhận thức luận trong triết học Immanuel Kant” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Hệ thống triết học Kant chứa đựng một lượng tri thức đồ sộ và phong phú với nhiều lĩnh vực khác nhau Chính vì lẽ đó mà triết học Kant trong đó
có nhận thức luận của ông đã được nghiên cứu sâu rộng ở nhiều quốc gia trên
thế giới với cách tiếp cận, mức độ nghiên cứu khác nhau
Đầu tiên chúng ta phải kể đến những bài viết của Nguyên Sa về “ Triết
học Kant”, đăng trên tạp chí Sáng tạo số 11 và 12, xuất bản năm 1957; bài
“Thử tóm tắt học thuyết Kant” của Hòa Nguyên Nguyễn Hóa, đăng trên tạp
chí “Bách khoa”, số 13, năm 1957 Trong những bài viết này các tác giả đã
trình bày một cách khái quát nhất nội dung triết học Kant trong đó có nhận thức luận và đưa ra những nhận định của mình về giá trị tư tưởng của triết học Kant đối với một số học thuyết triết học phương Tây đương đại
Tác phẩm “Triết học Kant” của Trần Thái Đỉnh, do nhà xuất bản Văn
mới xuất bản năm 1974, đã đề cập đến tư tưởng triết học Kant một cách có hệ thống với sự phân tích, đánh giá qua ba lĩnh vực: “Sinh hoạt tri thức của con
Trang 8người”, “Sinh hoạt đạo đức của con người” và từ đó đi đến tìm hiểu “Ý nghĩa của con người” Với việc tác giả không quá mở rộng vấn đề mà chỉ tập trung cho thấy tính tinh tế và mạch lạc trong lập luận của Kant, tác phẩm này được xem như là nền móng cho người mới bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu về triết học
Kant Tác phẩm “Triết học Kant” đã được nhà xuất bản Văn hóa thông tin tái
xuất bản năm 2005
Nghiên cứu về triết học Kant nói chung còn có tác phẩm “Triết học
Imanuin Cantơ” của tác giả Nguyễn Văn Huyên được nhà xuất bản Khoa học
xã hội xuất bản năm 1996 Điểm nổi bật của tác phẩm này là bên cạnh việc trình bày một cách khái quát, có hệ thống các quan điểm triết học của Kant với những nội dung: triết học nhận thức, triết học thực tiễn, mỹ học, con người và tương lai loài người, tác giả đã đưa ra những nhận định, chỉ ra được bản chất nhân đạo trong triết học của Kant nêu lên ý nghĩa của triết học Kant với thời đại ngày nay
Ngoài ra, tác phẩm “Triết học Kant” của tác giả Nguyễn Đình Thi do
Nxb Tân Việt xuất bản cũng đã trình bày khái quát nội dung triết học Kant với bốn phần chính: trong phần đầu tiên, tác giả đã nêu ra những vấn đề chính của triết học Kant; phần thứ hai, tác giả đi tìm hiểu về tri thức luận của Kant với các nội dung như vấn đề giá trị của tri thức, duy lý luận và đối tượng luận; trong phần thứ ba, tác giả đề cập đến luân lý trong triết học Kant; phần thứ tư
là phần điểm nhấn của tác phẩm, trong phần này, tác giả đã đưa ra những khuyết điểm của triết học Kant và ý nghĩa của nó đối với lịch sử triết học Nguyễn Đình Thi cho rằng nếu đặt Kant vào thế kỷ XVIII, ta sẽ thấy học thuyết của của Kant không có một khuyết điểm nào Vì lẽ đó, theo ông, Kant chiếm một trong những chóp núi của tư tưởng nhân loại
Là một công trình của nhiều tác giả, bao gồm nhiều bài viết với nhiều cách tiếp cận và góc độ nghiên cứu khác nhau về triết học Kant, tác phẩm
Trang 9“I.Cantơ - Người sáng lập nền triết học cổ điển Đức” do GS.TS Nguyễn
Trọng Chuẩn chủ biên, được nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm
1997 được xem là một tác phẩm tiêu biểu với nhiều bài viết nhằm tiếp cận triết học Kant, qua đó đưa ra những nhận định, đánh giá, cũng như tìm ra mối liên hệ của triết học phương Tây hiện đại với triết học Kant, chỉ rõ vai trò của triết học Kant đối với sự phát triển của triết học Đặc biệt trong tác phẩm này
có đến 8 bài viết của các tác giả khác nhau trình bày về các khía cạnh trong
nhận thức luận của Kant Trong bài viết “Quan niệm của I Cantơ về tính tích
cực của chủ thể nhận thức” của Nguyễn Trọng Chuẩn, tác giả đã khẳng định
rằng việc Kant chuyển trọng tâm từ khách thể sang bản thân chủ thể nhận thức đã thấm sâu vào toàn bộ phép biện chứng của triết học cổ điển Đức
Ngoài ra còn có các bài viết khác như: “Phép biện chứng tiên nghiệm trong
triết học Cantơ”; “Siêu hình học Cantơ – một học thuyết về các mối quan hệ” của tác giả Đặng Hữu Toàn; “Học thuyết về “antinomia” và “logic tiên nghiệm của Cantơ”, “Quan niệm của Can tơ về bản chất của nhận thức” của
tác giả Vũ Văn Viên; “Về học thuyết phạm trù trong triết học Cantơ”, “Quan
niệm về “vật tự nó” của Cantơ và sự đánh giá của một số nhà triết học tiêu biểu về quan niệm đó” của tác giả Lê Công Sự; và “Cái tiên nghiệm trong triết học Cantơ” của tác giả Phạm Minh Lăng Tuy mới chỉ dừng lại ở mức độ
khái quát nhưng đây là những đóng góp không nhỏ của các tác giả trong việc tìm hiểu triết học Kant
Trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Triết học cổ điển Đức: những vấn đề
nhận thức luận và đạo đức học” của Đại học quốc gia Hà Nội, do nhà xuất
bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2006, có 17 báo cáo tham luận trong và ngoài nước nghiên cứu về nhận thức luận của Kant Các báo cáo đã tập trung làm rõ cơ chế diễn ra quá trình nhận thức và những điểm lưu ý khi nghiên cứu quá trình này Đáng lưu ý ở đây là ý kiến trao đổi của GS.TS Tô Duy Hợp,
Trang 10PGS.TSKH Đỗ Văn Khang, PGS Bùi Đăng Duy và các tiến sĩ Dương Văn Thịnh, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Vũ Hảo, Phạm Văn Chung, Phạm Thái Việt xung quanh việc hiểu thế nào cho đúng những khái niệm cơ bản của triết học tiên nghiệm Immanuel Kant về cái tiên nghiệm, cái siêu nghiệm, cái siêu việt, vật tự nó, niệm thức, lược đồ, trí tưởng tượng, các quá trình tổng hợp tri thức, chất thể và mô thức tư duy, thực tiễn, điểm mù lý tính, nan đề và hóa giải nan đề… Tuy còn những quan điểm khác nhau xung quanh những khái niệm trên, nhưng các nhà khoa học đều nhất trí với nhau rằng, những quan điểm khác nhau đó không hẳn là do khó khăn về mặt thuật ngữ mà do chúng
ta chưa lĩnh hội nhất quán cách kiểu của Kant về tư duy nhận thức Ngoài ra, những báo cáo cũng đã làm rõ những ảnh hưởng của nhận thức luận của Kant đối với sự hình thành, phát triển của triết học Marx và các trào lưu, khuynh hướng triết học phương Tây sau này
Một trong những công trình có đối tượng nghiên cứu khá gần với đề tài
mà chúng tôi thực hiện là luận văn “Tư tưởng triết học của Immanuel Kant về
biện chứng của quá trình nhận thức” của ThS Đặng Thị Ánh Nguyệt Trong
công trình nghiên cứu này, ngoài việc khái quát điều kiện kinh tế, chính trị -
xã hội nước Đức thế kỷ XVII –XVIII và những tiền đề hình thành tư tưởng triết học Kant mà đặc biệt là sự tác động của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy nghiệm lúc bấy giờ, tác giả đã chia sự phát triển của triết học Kant thành hai thời kỳ chính là “tiền phê phán” và “phê phán” Từ đó, tác giả đã khẳng
định vai trò là cơ sở lý luận và phương pháp luận của lý luận nhận thức trong
hệ thống triết học Kant Để làm rõ tư tưởng biện chứng của Kant trong quá trình nhận thức, tác giả đã đi vào phân tích các giai đoạn của quá trình nhận thức: nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính, nhận thức giác tính Ở giai đoạn nhận thức cảm tính, những biểu hiện ban đầu về thế giới khách quan mà chúng ta có được là nhờ cảm năng và những trực quan cảm tính: không gian
Trang 11và thời gian Ở giai đoạn nhận thức giác tính, con người có được những tri thức khách quan nhờ sự sắp xếp của các phạm trù tiên thiên Và ở giai đoạn nhận thức lý tính, con người gặp phải những bế tắc không thể tránh khỏi khi
cố gắng vượt ra khỏi “thế giới hiện tượng” Bằng việc nhấn mạnh tính biện chứng trong nhận thức luận của Kant không chỉ ở chỗ đã xem nhận thức như
là một quá trình với nhiều giai đoạn, cấp độ khác nhau mà còn thể hiện trong những nghịch lý của lý tính; và trình bày ý nghĩa lịch sử của tư tưởng biện chứng trong nhận thức luận của Kant đối với lịch sử triết học, đặc biệt là sự ảnh hưởng của nó đối với Fichte, Schelling, Heghen, đây đã trở thành điểm nhấn cho toàn bộ công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Ánh Nguyệt
Đặc biệt là tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của Kant do Bùi Văn
Nam Sơn dịch và chú giải được nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2004 với phần chú giải của mình, tác giả đã giúp người đọc hiểu được phần nào tư tưởng nhận thức luận của Kant một cách dễ dàng hơn Tuy nhiên, với vai trò
là nền tảng của triết học Kant nói riêng và triết học cổ điển Đức nói chung,
“Phê phán lý tính thuần túy” là một tác phẩm chiếm vị trí đặc biệt với nội
dung vô cùng phong phú và phức tạp Bên cạnh những nội dung chính là: Học thuyết siêu nghiệm về các yếu tố cơ bản của nhận thức và Học thuyết siêu nghiệm về phương pháp, tác phẩm còn bao gồm Lời tựa cho lần xuất bản thứ nhất (1781), Lời tựa cho lần xuất bản thứ hai (1787), Lời dẫn nhập và các thông tin liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của ông Trong bộ ba tác phẩm
phê phán của Kant, nếu hai tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán”, “Phê
phán lý tính thực hành” (cũng đã được Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải và
được Nxb Tri thức, xuất bản năm 2007) được xem là tinh túy của triết học
Kant, thì “Phê phán lý tính thuần túy”được xem là tác phẩm chính yếu gắn
liền với tên tuổi của Kant và là tiền đề để hiểu được hai tác phẩm trên
Trang 12Bên cạnh đó, tác phẩm “Học thuyết phạm trù trong triết học I Kant”,
của Lê Công Sự được nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2007 đã trình bày khá đầy đủ, có hệ thống nội dung cũng như bản chất khoa học của học thuyết phạm trù của Kant Đặc biệt, bên cạnh việc chỉ ra những thành công cũng như khiếm khuyết của hệ thống phạm trù trong triết học Kant, tác giả cũng đã phân tích những ảnh hưởng, tác động của chúng đối với triết học hiện đại và đời sống nhận thức lý luận trong xã hội Việt Nam hiện nay
Triết học Kant nói chung và nhận thức luận của ông nói riêng còn được trình bày trong rất nhiều các giáo trình, cách tác phẩm về triết học phương
Tây nói chung Đặc biệt trong một số tác phẩm khác như: “Triết học cổ điển
Đức” của PGS.TS Đinh Ngọc Thạch chủ biên xuất bản năm 1989; Lịch sử triết học: Triết học cổ điển Đức của Viện hàn lâm khoa học xã hội Liên Xô
được Nxb Sự thật xuất bản năm 1992;“Triết học cổ điển Đức” của Lê Công
Sự do Nxb Thế giới xuất bản năm 2006… đây là các tác phẩm nghiên cứu riêng về triết học cổ điển Đức cùng với nhiều triết gia tiêu biểu trong đó có Kant là vai trò là người sáng lập Ở các tác phẩm này, các tác giả đã khái quát
về cuộc đời cũng như các tác phẩm của Kant, trình bày quan điểm của Kant cũng như giá trị của nó trong thời kỳ tiền phê phán, và sau đó các tác phẩm đã tập trung vào nghiên cứu triết học Kant với các bộ phận: triết học lý luận và triết học thực tiễn Trong khi triết học lý luận của Kant chủ yếu đề cập đến những vấn đề nhận thức luận và logic học với mục đích xác định đối tượng và giới hạn của tri thức con người để cuối cùng đi tới việc tìm lời giải đáp cho câu hỏi: “Tôi có thể biết được cái gì?”; thì triết học thực tiễn nhằm giải đáp cho câu hỏi: “Tôi cần phải làm gì”, “Tôi có thể hi vọng vào cái gì” và “Con người là gì”, đạo đức học trả lời câu hỏi thứ nhất, mỹ học trả lời câu hỏi thứ hai và câu thứ ba là của nhân học Các tác giả đều thống nhất rằng, triết học Kant là một hệ thống hoàn chỉnh và đồ sộ, dù có nhiều hạn chế nhưng những
Trang 13gì mà Kant đã làm được đã đưa Kant trở thành một triết gia Đức vĩ đại TS
Lê Công Sự đã nhận xét về hệ thống triết học của Kant như sau: “Một nhà tư tưởng dù có đầu óc uyên bác và giàu trí tưởng tượng đến mấy cũng không thể bao quát hết các vấn đề của thời đại Cái đáng quý trong nhân bản học của Kant là ở chỗ, thông qua môn khoa học này, ông muốn gửi tới hậu thế bức thông điệp hòa bình… Bởi hòa bình là biểu tượng thống nhất giữa chân lý, cái đẹp, với cái cao cả Và chính ở đây, chúng ta chợt nhận ra rằng chân –thiện –
mỹ là ba giá trị cao quý nhất làm cho nhà triết học trăn trở suốt cả cuộc đời”
Trong các tác phẩm: “Lịch sử triết học” của Hà Thiên Sơn, được Nxb Trẻ xuất bản năm 2001; Minh triết trong tư tưởng phương Tây của Nguyễn
Thu Phong (Hoàng Vũ) được Nxb Tp Hồ Chí Minh xuất bản năm 2002;
“Đại cương lịch sử triết học phương Tây” của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh,
Nguyễn Anh Tuấn được Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006;
“Lịch sử triết học” của Nguyễn Hữu Vui được Nxb Chính trị quốc gia xuất
bản năm 2007… triết học Kant đã được trình bày một cách khái quát và khá đầy đủ Các tác phẩm nói trên đã đi vào nghiên cứu những thành công của Kant trong cả hai giai đoạn “tiền phê phán” và “phê phán”, đồng thời trình bày một cách dễ hiểu những quan niệm của Kant về nhận thức, về tự do, về một nền hòa bình vĩnh cửu, về cái đẹp Qua đó, các tác giả cũng đã nhấn mạnh đến vai trò của triết học Kant với tư cách là xuất phát điểm cho triết học
cổ điển Đức cũng như triết học phương Tây hiện đại GS TS Nguyễn Hữu Vui cho rằng triết học Cantơ đã đặt ra nhiều vấn đề sâu sắc cho sự phát triển của triết học phương Tây hiện đại Nhiều tư tưởng của triết học hiện sinh, chủ nghĩa duy ý chí, triết học thực chứng, hiện tượng học… đều ít nhiều xuất phát
từ những tư tưởng của Cantơ
Nhìn chung, thông qua các giáo trình, các tài liệu giảng dạy, cũng như những bài báo cáo tham luận, vấn đề nhận thức luận của Kant đã được giới
Trang 14thiệu một cách tổng quát, đem lại cho người đọc cái nhìn ban đầu và những đánh giá khái quát nhất Đặc biệt, trong thời gian gần đây đã có công trình nghiên cứu chuyên biệt, sâu sắc về nhận thức luận của Kant và khá gần với nội dung mà luận văn nghiên cứu (Luận văn Thạc sĩ của tác giả Đặng Thị Ánh Nguyệt) Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tích tư tưởng biện chứng trong quá trình nhận thức của Kant, từ đó nêu lên ý nghĩa của nó đối với lịch sử triết học mà chưa có sự đánh giá về những điểm tiến bộ cũng như hạn chế của ông trong toàn bộ nội dung về lý luận nhận thức
Trên cơ sở kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu nói trên, luận văn
dựa vào nội dung Tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của Kant do Bùi
Văn Nam Sơn dịch và chú giải được nhà xuất bản Văn học xuất bản năm
2004, để khái quát nội dung nhận thức luận của Kant, đồng thời đưa ra những đánh giá về mặt tiến bộ, hạn chế của nó, góp phần đáp ứng nhu cầu tìm hiểu chuyên sâu về triết học của Kant
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ những nội dung cơ bản của nhận thức luận Immanuel Kant và đưa ra những đánh giá về mặt hạn chế cũng như tiến
bộ của nó Để đạt được mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái quát sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học
Immanuel Kant, từ đó khẳng định vị trí quan trọng của nhận thức luận trong
hệ thống triết học Immanuel Kant
Thứ hai, trình bày, phân tích những nội dung cơ bản của nhận thức luận
Immanuel Kant, từ đó đưa ra những đánh giá về mặt tiến bộ cũng như hạn chế của nó
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Immanuel Kant là một nhà tư tưởng lớn của nhân loại, triết học của ông chưa một lượng tri thức vô cùng phong phú với nhiều tác phẩm quan trọng
Trang 15Trong khuôn khổ để tài, đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nội dung
cơ bản trong nhận thức luận của Kant và phạm vi nghiên cứu là những nội dung chính của nhận thức luận Kant bao gồm nhận thức cảm tính, nhận thức giác tính và nhận thức lý tính
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, đối chiếu và so sánh, để làm
rõ nội dung tư tưởng, những tiến bộ và hạn chế của nhận thức luận Kant
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Trên cơ sở phân tích, đánh giá những nội dung cơ bản của nhận thức luận Kant, luận văn góp phần đưa ra một cái nhìn tổng thể về vấn đề nhận thức luận của Kant, góp phần nâng cao năng lực tư duy lý luận
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về triết học cổ điển Đức, lịch sử tư tưởng triết học phương Tây
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 2 chương và 7 tiết Trong đó:
Chương 1: Khái quát sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học Immanuel Kant (Hoàn cảnh ra đời của triết học Immanuel Kant; Những thời
kỳ phát triển của triết học Immanuel Kant; Vị trí của vấn đề nhận thức luận trong hệ thống triết học Immanuel Kant)
Chương 2: Những nội dung cơ bản của nhận thức luận Immanuel Kant (Nhận thức cảm tính; Nhận thức giác tính; Nhận thức lý tính; Một số nhận định, đánh giá về nhận thức luận Immanuel Kant)
Trang 16Chương 1 KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC IMMANUEL KANT
Cũng như mọi học thuyết triết học, triết học Kant ra đời chịu sự quy định của hoàn cảnh lịch sử dân tộc và của thời đại Để có thể hiểu được tư tưởng
về nhận thức luận của Kant một cách có hệ thống, trong chương này luận văn
trình bày khái quát hoàn cảnh ra đời, các thời kỳ phát triển của triết học
Kant, từ đó phân tích vị trí của nhận thức luận trong toàn bộ hệ thống triết
học của ông
1.1 Hoàn cảnh ra đời của triết học Immanuel Kant
Immanuel Kant (1724 – 1804) là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng triết học phương Tây Ông được xem là người sáng lập triết học cổ điển Đức, là người đặt nền móng cho sự phát triển của triết học Đức từ đấy về sau
Kant sinh ngày 22 tháng 04 năm 1724 tại Koenigsberg, một thành phố nhỏ thuộc vùng đông bắc nước Phổ, trong một gia đình thợ thủ công không mấy giàu có Mẹ của Kant là một thánh giáo có tấm lòng nhân ái, yêu lao động, trọng danh dự và sự thật, bà có một đức tin mãnh liệt và một lối sống nề nếp Chính điều này đã tác động tích cực đến việc hình thành nhân cách thời niên thiếu và những năm sau này của Kant
Vào mùa thu năm 1740, Kant vào học tại khoa triết, Trường Đại học tổng hợp Koenigsberg Chính tại đây, Kant đã làm quen với triết học, toán học, vật lý học, thiên văn học và các tư tưởng chính trị của các nhà Khai sáng
Pháp Sau khi tốt nghiệp với luận văn “Những suy nghĩ về sự đánh giá đúng
đắn của lực sống” (1745), Kant phải làm gia sư cho các gia đình quý tộc gần
mười năm Đến năm 1755, Kant bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài
Trang 17“Về Lửa” Sau đó vài tháng, ông được bổ nhiệm làm giảng viên Trường Đại
học Koenigsberg
Năm 1770, Kant được phong làm giáo sư logic và siêu hình học Với lòng hăng say, nhiệt tình và tư chất thông minh, ông đã giảng dạy nhiều môn khoa học khác nhau và viết nhiều tác phẩm triết học có giá trị
Nhưng đến năm 1797, sức khoẻ suy giảm, Kant “cáo từ” giảng đường đại học về nghỉ ngơi, sống những năm cuối đời một cách ung dung tự tại Ông
tạ thế vào ngày 12 tháng 2 năm 1804
Kant là một con người khá bình dị, trầm lặng, có lối sống ngăn nắp, điều
độ, suốt đời không đi khỏi thành phố quê hương Với việc luôn tuân thủ những quy tắc nhất định, ông nổi tiếng là người có kỷ luật chặt chẽ, là “chiếc đồng hồ sống” của người dân Koenigsberg Trong sự nghiệp khoa học của mình, Kant được đánh giá cao cả trong và ngoài nước: năm 1786, ông được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Hoàng gia Phổ lại Berlin; năm 1794, ông trở thành viện sĩ danh dự Viện hàn lâm khoa học Saint – Petersburg; năm
1798, cả Viện hàn lâm khoa học Italia và Viện hàn lâm khoa học Paris đều bầu ông làm viện sĩ của mình [75, 15 - 17]
Triết học Kant ra đời không chỉ là sự phản ánh hiện thực xã hội nước Đức lúc bấy giờ mà còn là kết quả của những thành tựu trong khoa học tự nhiên và những tư tưởng triết học trước đó, đặc biệt là tư tưởng nhân văn của các nhà Khai sáng và những quan điểm của chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa duy nghiệm về vấn đề nhận thức
Thực tiễn lịch sử xã hội nước Đức thế kỷ XVII – XVIII với hai đặc
điểm lớn là chia cắt về chính trị và lạc hậu về kinh tế, đã ảnh hưởng mạnh
đến tư tưởng triết học của Kant, nhất là ở thời kỳ “phê phán”
Sau cuộc chiến tranh tôn giáo, mà đỉnh cao là vào thế kỷ XVI, đế quốc
La Mã “thần thánh” chỉ còn trên danh nghĩa Thực chất chính phủ trung ương
Trang 18do hoàng đế làm đại biểu không có quyền lực gì, còn lãnh địa của các nước chư hầu là những cường quốc độc lập, mạnh ai nấy cai trị Sự mâu thuẫn về địa vị và quyền lực đó đã dẫn đến cuộc đấu tranh kéo dài ba mươi năm, bắt đầu vào năm 1618, giữa hoàng đế và các chư hầu ở Đức Sau khi giành được thắng lợi, các nước chư hầu tiến hành xây dựng chế độ chuyên chính trung ương tập quyền Thông qua bộ máy nhà nước, họ thống trị và bóc lột nhân dân trong lãnh địa của mình Ngoài ra để mở rộng lãnh thổ, các nước chư hầu còn lôi kéo, cấu kết với các nước bên ngoài nước Đức nhằm tạo sức mạnh xâm chiếm các nước chư hầu khác Chính vì thế chiến tranh giữa các nước chư hầu xảy ra không dứt
Chiến tranh đã “dẫm nát” nhiều thành thị, phá hoại hầu hết các vùng nông thôn và làm cho kinh tế nước Đức ngày càng suy sụp Hơn nữa, sự manh mún, chia cắt của nước Đức đã tạo nên những hệ thống pháp luật riêng,
“cân, đong, đo, đếm” riêng, hệ thống tiền tệ riêng Đặc biệt, sự tồn tại khá dày của các trạm thuế quan tại biên giới các nước đã cản trở việc lưu thông hàng hóa, làm cho nước Đức không thể trở thành một thị trường thống nhất được [108, 149 - 152]
Sự kém phát triển của công thương nghiệp đã khiến giai cấp tư sản bắt đầu chuyển qua đầu tư ruộng đất, kéo theo sự quay trở lại của chế độ nông nô
Sự tồn tại của chế độ nông nô đã gây trở ngại rất to lớn cho sự phát triển kinh
tế ở nước Đức và tước đoạt hầu hết các quyền tự do của nông dân Người nông dân hoàn toàn bị tùy ý hành hạ, họ không được học những nghề thủ công, không được địa chủ đồng ý thì không được kết hôn, họ cũng thường bị đem bán, cho mượn hay đem cầm cố [108, 153]
Chính sự manh mún, “chia năm xẻ bảy” của đất nước, sự hà khắc, kém năng động, quan liêu của chế độ đã làm cho nước Đức trở thành một trong những nước lạc hậu bậc nhất châu Âu tính đến thế kỷ XVIII Xét theo mức độ
Trang 19cách mạng thì Đức lạc hậu hơn so với Anh 200 năm, so với Pháp 50 năm [84, 5] Bối cảnh kinh tế xã hội của nước Đức lúc bấy giờ được Engels khắc họa như sau: “Đấy là một đống những cái chán chường, mục nát và tan rã Không
ai cảm thấy mình dễ chịu, thủ công, thương nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp trong nước đều rơi vào cảnh điêu tàn cùng cực Nông dân, thợ thủ công và chủ xí nghiệp chịu hai lần khổ ải: chính quyền ăn bám và trạng thái tiêu điều” [4, 577] Engels nhận xét: “Mọi thứ nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hi vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi” [4, 754]
Thực tiễn đó đòi hỏi các nhà triết học phải tìm ra câu trả lời để giải quyết những vấn đề của đời sống xã hội và sinh hoạt tinh thần lúc bấy giờ Tuy nhiên, sự non yếu của giai cấp tư sản Đức đã dẫn đến việc ra đời các hệ thống triết học duy tâm và dao động, dễ thỏa hiệp trong tư tưởng về chính trị
Một trong những hệ tư tưởng ra đời trước nhu cầu bức thiết ấy là triết học Kant với tính hai mặt của nó Một mặt, triết học Kant phản ánh khát vọng chiến thắng của lý trí trước cái phi lý, nỗ lực vượt qua sự “ngưng đọng” của đời sống hiện thực Mặt khác, nó chịu sự quy định của hiện thực, buộc phải chấp nhận những giới hạn của tự do, sự tuân phục các chuẩn mực phổ biến đã trở thành “mệnh lệnh tuyệt đối”, sức mạnh cưỡng chế mang ý nghĩa của tính tất yếu không cưỡng được
Sự chia cắt về chính trị và sự lạc hậu về kinh tế của vương quốc Đức cùng với sư tái diễn chế độ nông nô lần thứ hai đã tạo nên nỗi thống khổ cho nhân dân Đức, tác động đến sự hình thành tư tưởng của Kant về ý chí tự do,
về nhân phẩm con người, về vấn đề chiến tranh và hòa bình, về việc cần thiết phải xây dựng một liên minh giữa các quốc gia nhằm đảm bảo một nền hòa mình lâu dài cho toàn thể nhân loại [14, 19 – 20]
Trang 20Chính thực tiễn lịch sử nước Đức mà khát vọng tự do của con người và ước mơ xây dựng một liên bang của các nhà nước lý tưởng, tiến tới một nền hòa bình vĩnh cửu trên toàn thế giới đã trở thành nội dung cơ bản của triết học Kant Tuy nhiên, vì được xây dựng trên mảnh đất hiện thực nghèo nàn và lạc hậu nên những khát vọng đó chỉ nằm trong “thiện ý” mà thôi [14, 20]
Ngoài ra, nhận thức luận của Kant cũng bị hạn chế bởi chính thế giới quan duy tâm nảy sinh từ mảnh đất hiện thực đó Cho nên, khi giải quyết những vấn đề về lý luận nhận thức, Kant chưa thực sự khoa học và biện
chứng Như V.I.Lenin đã từng chỉ ra trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán: “Khi Cantơ thừa nhận rằng một cái gì đó ở ngoài
chúng ta, một vật tự nó nào đó, phù hợp với những biểu tượng của chúng ta thì Cantơ là người duy vật Khi ông ta tuyên bố rằng cái vật tự nó ấy là không thể nhận thức được, là siêu nghiệm, là ở thế giới bên kia thì ông ta một người duy tâm” [96, 238-239]
Những thành tựu về khoa học tự nhiên không chỉ cung cấp cho triết
học những tư liệu sinh động, những bằng chứng cụ thể mà nó còn có thể tạo tiền đề cho triết học xây dựng những phương pháp nhận thức Không nằm ngoài quy luật đó, triết học Immanuel Kant chịu ảnh hưởng bởi những thành tựu trong khoa học tự nhiên
Sự phát triển của khoa học tự nhiên từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII nhất
là thiên văn học, như thuyết nhật tâm của Nikolas Copernicus (1473 – 1543),
ba định luật về sự chuyển động của các hành tinh của Johannes Kepler (1571 – 1630) và định luật hấp dẫn vũ trụ của Isaac Newton (1643 – 1727) đã giúp Kant nhận ra sự hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình thống trị trong nhiều thế kỷ
Năm 1543 tại Ba Lan, nhà thiên văn học Copernicus đã cho ra đời tác
phẩm “Về sự xoay tròn của các thiên thể”, một bước ngoặt mới trong lịch sử
Trang 21vũ trụ luận được hình thành Trong tác phẩm này Copernicus đã trình bày nội dung thuyết nhật tâm nổi tiếng của mình bằng cách chứng minh rằng trung tâm của Thái dương hệ chính là mặt trời, còn trái đất và những hành tinh khác đều chuyển động xung quanh nó Sự ra đời của học thuyết này đã đánh đổ khuynh hướng duy tâm siêu hình, bảo thủ và có phần ngây thơ của thuyết địa tâm thời cổ đại khi cho rằng: Thượng đế tạo dựng vũ trụ nhằm phục vụ con người, do đó trái đất – nơi con người sinh sống – phải nằm ở trung tâm, còn mặt trời, mặt trăng và các hành tinh khác đều quay xung quanh nó [52, 160 – 161] Tuy nhiên học thuyết nhật tâm của ông đã không giải thích được vấn đề tại sao những vật thể tồn tại trên mặt đất không bị “bốc” khỏi đây nếu quả thực trái đất đang chuyển động
Kepler là nhà thiên văn học người Đức đầu tiên công khai ủng hộ quan điểm của Copernicus Công trình đáng chú ý nhất của ông là ba định luật về
sự chuyển động của các hành tinh Định luật đầu tiên nói rằng, hành tinh chuyển động không phải theo một vòng tròn mà theo một hình êlip với mặt trời nằm ở tiêu điểm Định luật thứ hai nói rằng, tốc độ chuyển động của các hành tinh tăng lên khi nó chuyển dịch càng gần mặt trời Định luật thứ ba xác định công thức toán học giữa thời gian cần cho hành tinh chuyển động quanh mặt trời và khoảng cách giữa nó và mặt trời [52, 170 – 171]
Ba định luật của Kepler cho thấy vũ trụ vận hành theo những quy luật rõ ràng, nhưng một vấn đề vẫn chưa được giải thích là tại sao hành tinh vẫn không bị bay ra khỏi quỹ đạo của nó và bay mất vào khoảng không vũ trụ? Với sự ra đời của định luật hấp dẫn vũ trụ, Newton đã đưa ra lời giải đáp cho những câu hỏi trên Theo định luật này, mỗi hành tinh đều có một lực hấp dẫn mà sức hấp dẫn tùy thuộc vào khối lượng và vị trí của nó trong vũ trụ [52,
232 – 233]
Trang 22Các phát minh khoa học trên đây đã đem đến cho Kant những quan niệm mới về sức mạnh và khả năng trí tuệ của con người trong việc nhận thức Chính vì thế, trong triết học của mình, Kant khẳng định vai trò tích cực, năng động của tư duy cũng như vai trò của chủ thể trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Những thành tựu mà khoa học tự nhiên đạt được cũng cho thấy thế giới vật chất là một hệ thống vận hành theo những quy luật của tự nhiên Vấn đề đặt ra cho các nhà triết học lúc bấy giờ – trong đó có Kant – là tìm hiểu xem
xã hội loài người có tuân theo những quy luật tự nhiên hay không? Những thành tựu này cũng đã giúp Kant nhận ra sự hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình thống trị trong nhiều thế kỷ, qua đó đưa ra phương pháp tư duy mới – phương pháp biện chứng Chính bằng phương pháp này Kant đã giải thích nguồn gốc của hệ mặt trời từ mối quan hệ giữa lực hút và lực đẩy vốn có trong vật chất mà không cần đến “cú hích đầu tiên của Thượng đế” như cách
lý giải của Descartes và Newton Ông đã đưa ra kết luận rằng, thế giới tự nhiên tồn tại trong tính vô cùng tận của nó và theo quy luật của giới tự nhiên, mọi sự vật đều nằm trong quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong [19, 420]
Về mặt lý luận, những quan điểm của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy
nghiệm về vấn đề nhận thức của con người, cũng như những tư tưởng nhân văn của các nhà triết học Khai sáng, đặc biệt là Rousseau đã tác động mạnh đến tư tưởng triết học Kant thời kỳ phê phán
Chủ nghĩa duy lý (đại biểu là Descartes, Spinoza, Leibniz, Wolff) xây
dựng những học thuyết của mình dựa trên nền tảng của khoa học tự nhiên lý thuyết, đề cao vai trò suy diễn toán học và đi đến khẳng định: nguồn gốc duy nhất của tri thức là lý tính Họ tuyệt đối hóa tư duy logic, đề cao tính phổ biến
Trang 23và tính tất yếu của tri thức cá nhân đồng thời hạ thấp giá trị của tri giác cảm tính
Xuất phát từ mệnh đề “cogito, ergo sum” (“tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”),
Rene Descartes (1596 – 1679) xây dựng nhận thức luận của mình với hạt nhân là học thuyết về ý niệm bẩm sinh Từ cách nhìn của nhà duy lý, Descartes đề cao vai trò của trực giác lý tính trong việc tạo lập các mệnh đề khoa học tự nhiên mà không cần đến kinh nghiệm và sự chứng minh bằng thực tế Lý tính có thể tự mình tạo lập ra tri thức xác thực là do sự bất tử của linh hồn và sự tồn tại của Chúa trời Tuy có nhiều điểm khác nhau nhưng Descartes và Kant đều đề cao vai trò của toán học và nhận thức lý tính của con người [74, 68]
Baruch Spinoza (1632 – 1677) tuy quan niệm quá trình nhận thức gồm nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, nhưng ông coi thường nhận thức cảm tính, quy cho cảm tính trách nhiệm gây ra những sai lầm trong nhận thức Ông chia quá trình nhận thức nói chung thành ba giai đoạn: nhận thức cảm tính hay tưởng tượng, nhận thức giác tính, nhận thức trực giác lý tính [2, 290] Chính quan điểm này của Spinoza đã ảnh hưởng đến tư tưởng của Kant về các giai đoạn trong qa trình nhận thức: cảm tính, giác tính, lý tính [74, 70]
Bên cạnh đó, học thuyết về các phạm trù của Kant còn chịu sự tác động bởi tư tưởng của Gottfried Leibniz (1646 – 1716) về vấn đề phạm trù Sacskevich cho rằng, đối với sự hình thành những ý tưởng nhận thức luận
mới của Kant, tác phẩm Những kinh nghiệm mới của Leibniz đóng một vai trò quan trọng Trong Những kinh nghiệm mới của Leibniz và Phê phán lý tính
thuần túy của Kant đều đề cập đến vấn đề nội dung và hình thức của tri thức
Cả hai nhà triết học đều có một mục đích chung là dung hòa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy lý, xuất phát từ việc phân loại đối tượng nhận thức thành hiện tượng và vật tự nó Cũng giống như Leibniz, Kant cho rằng chân lý đạt
Trang 24được bằng con đường kinh nghiệm chỉ có ý nghĩa riêng, trong khi đó chân lý đạt được bằng lý tính thì có ý nghĩa phổ quát và tất yếu [74, 72]
Chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Christian Wolff (1679 – 1754), Kant cho rằng chúng ta phải noi theo phương pháp chặt chẽ của Wolff về việc làm thế nào để có được bước đi vững chắc của một khoa học bằng cách phải khẳng định các nguyên tắc một cách hợp quy luật, xác định rõ ràng các khái niệm, bảo đảm sự chặt chẽ của các chứng minh, tránh các bước nhảy liều lĩnh trong khi rút ra các kết luận [45, 61]
Nhìn chung, các nhà triết học duy lý đã tuyệt đối hóa năng lực lý tính và cho rằng, con người có thể đạt tới các tri thức về các thực tại tiên nghiệm mà chỉ cần đi từ ý niệm này sang ý niệm khác như ta vẫn làm trong suy diễn toán học Chính những quan điểm này của chủ nghĩa duy lý đã ảnh hưởng đến quan điểm của Kant trong nhận thức luận khi ông thừa nhận vai trò của lý tính trong quá trình nhận thức của con người
Đối lập với trường phái triết học trên, chủ nghĩa duy nghiệm (đại biểu là
Bacon, Hobbes, Locke, Berkeley, Hume) lại coi kinh nghiệm cảm tính là nguồn gốc duy nhất của tri thức, khẳng định rằng toàn bộ tri thức đều bắt nguồn từ kinh nghiệm, dựa trên kinh nghiệm
Người đặt nền móng cho chủ nghĩa duy nghiệm cận đại là Francis Bacon (1561 – 1626) với nhận định nổi tiếng “tri thức là sức mạnh”, qua đó khẳng định sức mạnh vĩ đại của tri thức khoa học Theo ông con người cần phải thống trị và làm chủ tự nhiên, nhưng để làm được điều đó con người cần có một khoa học mới và một công cụ mới dựa trên nền tảng của hai yếu tố: kinh nghiệm và lý tính Trong đó kinh nghiệm là mức độ ban đầu của nhận thức, lý tính là mức độ thứ hai với chức năng tái tạo, sắp xếp các tư liệu do kinh nghiệm mang lại [2, 273] Qua đó chúng ta thấy, Bacon đang cố gắng đặt ra
Trang 25vấn đề về mối liên hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Đây có thể là một gợi ý cho Kant khi ông nghiên cứu về nhận thức luận
Kế thừa tư tưởng của Francis Bacon, Thomas Hobbes (1588 – 1679) đã nhìn thấy tính chất mâu thuẫn và chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý trong vấn đề phương pháp và bản chất của nhận thức Để giải quyết mâu thuẫn này, ông đã đưa ra một phương án dung hòa, coi trọng cả vai trò của kinh nghiệm cảm tính và lý tính Ở điểm này, nhận thức luận của Hobbes đã
có những ảnh hưởng nhất định đến Kant
John Locke (1632 – 1704) cho rằng tâm hồn đứa trẻ lúc mới sinh ra như
“tấm bảng trắng” (tabula rasa), mọi ký hiệu và ý niệm được hình thành trên
nó là do kinh nghiệm cảm tính mang lại Chính vì vậy mà ông viết “mọi tri
thức đều dựa trên kinh nghiệm và suy cho cùng đều xuất phát từ đó”[1, 65]
Locke cho rằng, thế giới tồn tại đa dạng và phức tạp nên việc nhận thức được thế giới là một vấn đề khó khăn Chính ở đây đã mầm mống những tư tưởng của chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa duy tâm chủ quan, để rồi sau đó được Berkeley và Hume phát triển Đến Kant, chủ nghĩa hoài nghi được nâng lên thành thuyết bất khả tri, còn chủ nghĩa duy tâm chủ quan được nâng lên thành chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm [74, 59]
Nhìn chung, trong khi chủ nghĩa duy lý đề cao vai trò suy diễn toán học
và đi đến khẳng định: nguồn gốc duy nhất của tri thức là lý tính Họ tuyệt đối hóa tư duy logic, đề cao tính phổ biến và tính tất yếu của tri thức cá nhân đồng thời hạ thấp giá trị của tri giác cảm tính Họ cho rằng, con người có thể đạt tới tri thức về các thực tại tiên nghiệm mà chỉ cần đi từ ý niệm này sang ý niệm khác như người ta vẫn làm trong suy diễn toán học Đối lập với trường phái trên, các nhà triết học duy nghiệm lại khẳng định cảm giác là nguồn gốc duy nhất của tri thức Không có cái gì có trong lý tính mà trước đó lại không
có trong cảm tính
Trang 26Những quan điểm phiến diện, không đầy đủ và đối lập nhau về nguồn gốc của tri thức khoa học, về phương pháp, cách thức để có được tri thức khoa học của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy nghiệm thế kỷ XVII – XVIII
đã dẫn đến sự bế tắc về mặt lý luận cho các nhà triết học lúc bấy giờ Nếu tán thành quan niệm của chủ nghĩa duy nghiệm thì phải thừa nhận rằng, mọi tri thức khoa học chỉ là những hiểu biết vụn vặt, ngẫu nhiên, hay thay đổi Ngược lại, nếu tán thành quan điểm của chủ nghĩa duy lý thì phải thừa nhận rằng, mọi tri thức khoa học là kết quả sáng tạo của trí tuệ con người mà không cần đến sự tồn tại của hiện thực khách quan [14, 23 – 24 ]
Với mong muốn khắc phục những hạn chế và bế tắc của hai khuynh hướng triết học nói trên, triết học lý luận của Kant đã ra đời dựa trên sự kế thừa những yếu tố hợp lý của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy nghiệm Ông
đã cố gắng liên kết yếu tố cảm tính và yếu tố lý tính trong quá trình nhận
thức Kant cho rằng mọi nhận thức của con người đều bắt đầu từ kinh nghiệm nhưng không phải vì thế mà tất cả đều bắt nguồn từ kinh nghiệm [45, 77] Bởi
lẽ, vẫn có những tri thức khoa học được hình thành nhờ năng lực phán đoán tiên nghiệm của con người (như trong toán học thuần túy) [45, 95] Ở đây, Kant đồng ý với tư tưởng của các nhà triết học duy lý về tính độc lập của chủ thể nhận thức
Theo Kant, nhờ nhận thức cảm tính, sự vật được chúng ta lĩnh hội trở thành những dữ kiện cho chúng ta, nhưng phải nhờ năng lực tưởng tượng và năng lực tổng hợp thuần túy của trí năng dưới dạng các phạm trù, những tri thức đó mới có tính phổ quát và tất yếu Kant cho rằng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức giác tính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cùng với sự khẳng định rằng “khái niệm mà không có trực quan thì trống rỗng, còn trực quan mà không có kinh nghiệm thì mù quáng” [45, 200], nhận thức luận của Kant đã dung hòa được cả tư tưởng của chủ nghĩa duy nghiệm lẫn chủ nghĩa
Trang 27duy lý Tuy nhiên, đó không chỉ là sự kết hợp đơn giản giữa các nhân tố hợp
lý của hai trường phái trên mà bằng phương pháp tư duy biện chứng, Kant đã thực sự làm một cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy để xây dựng nên nhận thức luận của mình
Bên cạnh những ảnh hưởng về nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý và
chủ nghĩa duy nghiệm, tinh thần “hoài nghi có phê phán” của Hume cũng có
tác động rất lớn đến tư tưởng của Kant Chính Hume đã đánh thức Kant ra khỏi giấc ngủ giáo điều nhiều năm về trước và vạch ra một hướng đi mới cho những nghiên cứu triết học của ông Kant nhận xét, Hume “là người đã đặt những bước chân đầu tiên vào đúng con đường của chân lý” và “Hume có lẽ
là người đại biểu xứng đáng và tài hoa nhất trong số các triết gia theo thuyết hoài nghi; các tác phẩm và phương pháp của ông quả thật đã gây được ảnh hưởng sâu sắc nhất, đánh thức việc nghiên cứu về năng lực của bản thân lý
tính” [45, 1110] Quan điểm của Hume về nguyên tắc nhân quả đã gợi mở
cho Kant một hướng đi mới Kant nhận ra rằng, khi nói đến nguyên tắc nhân quả, các nhà triết học trước đó đã sai lầm khi cho rằng tất cả đều phải có nguyên nhân “trước sau” và dựa vào đó để chấp nhận một nguyên nhân đầu tiên là Thượng đế Nghi vấn về nguyên tắc nhân quả của Hume đã giúp Kant tiến xa hơn trong việc nghiên cứu những vấn đề tương quan giữa các khái niệm khác
Quan sát những đối tượng của tri thức, Hume đã đưa ra nguyên tắc liên tưởng, theo đó tất cả những gì mà đối tượng mang lại được liên kết thống nhất thành những biểu tượng trong tư tưởng Nhưng sự liên kết này nằm ở đâu? Ở chính sự vật, trong tri giác trực tiếp hay trong sự diễn dịch của lý tính? Cái gì tạo nên sự tương quan giữa tưởng tượng và đối tượng bên ngoài? Đó là nghi vấn khởi điểm mà Kant đã tiếp thu từ Hume cho sự phê phán trong triết học
Trang 28của mình Tuy nhiên Kant đã từ chối đi theo kết luận cuối cùng của Hume rằng nguyên tắc nhân quả không có giá trị phổ quát [14, 27]
Tư tưởng tiến bộ của các nhà Khai sáng Pháp, đặc biệt là quan điểm của
Rousseau đã có ảnh hưởng rất mạnh đến tư tưởng triết học của Kant Chính tư
tưởng của Rousseau về lịch sử phát triển xã hội, về tự do, về sự tha hóa bản chất tự nhiên của con người và sự can thiết phải phục hồi những giá đã tác động đến Kant, giúp ông chuyển từ nghiên cứu khoa học tự nhiên sang nghiên cứu con người và xã hội loài người Ông viết:
Tôi là người nghiên cứu theo khuynh hướng của riêng mình Tôi khát khao tri thức, ước vọng vươn lên không mệt mỏi và đôi lúc tôi cảm thấy thỏa mãn với những thành quả mà mình đạt được Đã có lúc tôi nghĩ rằng, điều này
có thể đưa lại niềm vinh dự cho nhân loại, và tôi khinh miệt những kẻ tiện dân không có tri thức Rousseau dã cảm hóa tôi Những mặc cảm mù quáng và tính kiêu ngạo trong tôi mất dần Tôi bắt đầu tôn trọng mọi người và thấy mình có ích hơn trước [77, 721]
Dưới tác động của Rousseau, Kant đã gửi gắm vào các tác phẩm của mình tình yêu thương con người và sức mạnh của hoạt động sáng tạo Sự ảnh hưởng của Rousseau đối với triết học Kant khá đậm nét, chính vì vậy khi đánh giá triết học Kant, Marx đã viết: “triết học Kant là lý luận Đức của cách mạng Pháp” [4, 131]
Tóm lại, chính sự lạc hậu về kinh tế, chia cắt về chính trị của nước Đức cùng với những thành tựu trong khoa học tự nhiên ở phương Tây trong những thế kỷ XVII – XVIII đã ảnh hưởng lớn đến toàn bộ tư tưởng triết học của Kant, trong đó có nhận thức luận Đặc biệt, sự bế tắc của siêu hình học lúc bấy giờ đã dẫn đến sự ra đời nhận thức luận của Kant với mong muốn khai
mở một lối thoát cho siêu hình học
1.2 Những thời kỳ phát triển của triết học Immanuel Kant
Trang 29Quá trình hình thành và phát triển của triết học Immanuel Kant được chia thành hai thời kỳ chính là thời kỳ “tiền phê phán” (1746 – 1769) và thời
kỳ “phê phán” (1770 – 1804) Trong thời kỳ “tiền phê phán”, Kant tập trung nghiên cứu các vấn đề của toán học, khoa học tự nhiên và ông đã có nhiều phát minh nổi tiếng về các lĩnh vực này Thời kỳ “phê phán” là thời kỳ ông có nhiều đóng góp to lớn cho kho tàng triết học cổ điển Đức nói riêng và triết học thế giới nói chung
Thời kỳ “tiền phê phán”, vũ trụ luận chiến vị trí đặt biệt quan trọng
trong tư tưởng Kant Trước Kant đã có nhiều người đưa ra lý thuyết vũ trụ của mình, nhưng đều gặp phải những nan giải nhất định do sự chi phối của trình
độ nhận thức chung Sau thời gian dài nghiên cứu các môn khoa học tự nhiên, đến năm 1754, Kant tập trung vào vấn đề này Câu hỏi đầu tiên mà Kant đặt
ra là trái đất đang ở tuổi thanh xuân hay đã già? Phải chăng trái đất đang chết
dần vì sự già cỗi của nó? Với tác phẩm “Về ma sát của thủy triều” (1754), Kant đã trở thành người đầu tiên trình bày về sự tác động của sức hút đối với
tốc độ vòng quay của mặt trăng và trái đất [75, 24]
Năm 1755, Kant viết tác phẩm “Lý giải mới những nguyên lý đầu tiên
của nhận thức siêu hình” Trong tác phẩm này, Kant đã bắt đầu định hình
phương pháp nghiên cứu của riêng mình – phương pháp biện chứng dựa trên nguyên lý tuần tự, nguyên lý về nguồn gốc chung của các hiện tượng trong thế giới, nguyên lý về mối liên hệ và tác động lẫn nhau giữa các hiện tượng
Những nguyên lý này chính là cơ sở lý luận cho sự ra đời của “Lịch sử tự
nhiên tổng quát và thuyết bầu trời” (1755) Trong đó, Kant đã giải thích quá
trình hình thành và nguồn gốc vận động của thế giới theo luật cơ học [75, 24] Nghiên cứu sự hình thành vũ trụ, Kant cho rằng, vũ trụ nguyên thủy tràn đầy các hạt vật chất nằm trong trạng thái hỗn mang (chaos) Nhờ lực vạn vật hấp dẫn và thông qua lực hút, lực đẩy các hạt vật chất dần dần quy tụ lại thành
Trang 30những khối tinh vân có dạng hình cầu với những kích thước to nhỏ khác nhau
Do ma sát khi có va chạm khiến chúng bị nóng lên, mức độ ma sát giữa các hạt vật chất quyết định nhiệt độ của mỗi hành tinh Hành tinh lớn nhất trong thái dương hệ là mặt trời Vì lực hấp dẫn tỉ lệ với khối lượng (dựa theo định luật của Newton) nên những hành tinh ở gần mặt trời bao giờ cũng nặng hơn hành tinh ở xa, và nhân của hành tinh bao giờ cũng nặng hơn lớp vỏ của nó [105, 380]
Theo Kant, sự hình thành và phát triển của vũ trụ là một quá trình liên tục Sự mất đi của thế giới cũ là một bước làm phát sinh thế giới mới Kant viết: “sau khi chuyển từ sự hỗn loạn sang hệ thống có tổ chức trật tự, tự nhiên
có khả năng khôi phục một dạng hỗn loạn mới” [75, 26]
Những quan điểm trên của Kant không chỉ đóng góp cho khoa học tự nhiên mà còn có giá trị đối với triết học bấy giờ Kant cho rằng các hành tinh được cấu tạo tự nhiên từ các hạt vật chất rất nhỏ và có sự kết thúc tự nhiên, nghĩa là có sự chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác Ngoài ra Kant đã biến thái dương hệ vĩnh viễn, bất biến của Newton với “cú hích của Thượng đế” thành một quá trình lịch sử, theo Kant sự hình thành và phát triển của vũ trụ là một quá trình liên tục dựa trên nguyên lý đối lập giữa lực hút và lực đẩy Như vậy, nguyên lý về sự phát triển tuy chưa rõ ràng nhưng đã được thể hiện trong triết học Kant Bên cạnh đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cũng được Kant đề cập đến khi ông cho rằng vũ trụ là một hệ thống lớn bao gồm nhiều hệ thống nhỏ, mỗi hệ thống là một thang bậc trong sự phân cấp và
có mỗi quan hệ qua lại lẫn nhau tạo nên sự cân bằng cho toàn hệ thống, một khi các yếu tố của hệ thống thay đổi sẽ dẫn đến tình trạng mất cân bằng của
hệ thống và kéo theo sự hủy diệt của toàn bộ vũ trụ Chính những tư tưởng biện chứng nêu trên đã đưa Kant trở thành người phá vỡ những quan điểm siêu hình thế kỷ XVII – XVIII
Trang 31Đánh giá về vấn đề này, Engels đã viết: “Học thuyết của Can – tơ cho rằng tất cả các thiên thể hiện tại đều sinh ra từ những khối vân tinh đang xoay tròn là một thành tựu lớn nhất của khoa thiên văn từ thời Côpécníc đến nay
Lần đầu tiên, cái quan niệm cho rằng giới tự nhiên không có lịch sử trong
không gian, đã bị lung lay” [7, 85]
Ngoài những nghiên cứu về vũ trụ, thời kỳ này Kant còn có những đóng góp trong lĩnh vực sinh vật học, nhân chủng học, mỹ học Trong sinh vật học, Kant đã phân chia các cấp động vật khác nhau theo nguồn gốc của chúng Trong nhân chủng học, Kant khẳng định sự khác nhau về sinh hoạt, phong tục của các chủng tộc trên thế giới không dẫn đến việc dân tộc này tỏ ra ưu việt hơn dân tộc kia trong tư duy, nhận thức
Tuy nhiên, từ năm 1762 trở đi, chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Rousse trong quan điểm về con người và xã hội, Kant bắt đầu chuyển sang quan tâm
đến các vấn đề xã hội khác Trong tác phẩm “Triết lý rởm về bốn dạng thức
tam đoạn luận” (1762), mầm mống của cuộc cách mạng trọng nhận thức đã
bắt đầu xuất hiện dưới dạng một loạt các câu hỏi như: phán đoán của con nguời có được là như thế nào? Phải chăng đây là khả năng tiên nghiệm thuần túy? Chúng ta xét đoán như thế nào về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn? Kant nhận thấy rằng mình đang dần dần bước ra khỏi lối mòn của siêu hình học cũ, và bắt đầu thời kỳ mới trong hành trình triết học
Nhìn chung, trong thời kỳ “tiền phê phán” Kant đã đạt được nhiều thành tựu trong khoa học tự nhiên Với quan điểm biện chứng về tự nhiên, Kant đã
trở thành người đầu tiên phá vỡ những quan điểm siêu hình tồn tại trong
nhiều thế kỷ và “ông đã phá vỡ một cách hết sức khoa học đến mức là hiện nay phần lớn lý lẽ của ông đã dùng để chứng minh vẫn còn có giá trị” [7, 86]
Mặc dù ở giai đoạn “tiền phê phán”, Kant đã xuất hiện như một học giả
lỗi lạc trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, song phải đến thời kỳ “phê
Trang 32phán”, Kant mới xuất hiện như một nhân vật “khổng lồ” trong lịch sử triết
học Với bộ ba tác phẩm “phê phán”: “Phê phán lý tính thuần túy” (1781),
“Phê phán lý trí thực hành” (1788), “Phê phán năng lực phán đoán” (1790),
triết học Kant đã trở thành điểm khởi đầu của một dòng triết học có ảnh hưởng to lớn đến lịch sử văn hóa nhân loại - triết học cổ điển Đức
Trong giai đoạn này, Kant tập trung nghiên cứu về vấn đề con người và
xã hội loài người, ông viết: “Nếu như tồn tại một khoa học thực sự cần cho con người thì đó là khoa học mà tôi đang dạy, cụ thể là, xác định cho con người một vị trí xứng đáng trong thế giới – từ đó có thể học được cái điều mà
ai cũng phải học để làm người” [105, 384]
Theo đó, Kant đề ra nhiệm vụ của triết học là phải tìm ra lời giải đáp cho
ba câu hỏi: Tôi có thể biết được gì? Tôi cần phải làm gì? Tôi có thể hi vọng gì? Việc trả lời ba câu hỏi này sẽ giúp chúng ta trả lời được câu hỏi quan trọng nhất: Con người là gì? [45, 1194]
Để trả lời cho câu hỏi thứ nhất: “Tôi có thể biết được gì?”, Kant cho rằng, về nguyên tắc chúng ta chỉ nhận thức được “thế giới hiện tượng” mà không thể nhận thức được thế giới “vật tự nó” Trong quan điểm “vật tự nó” của Kant chứa đựng một ý nghĩa tích cực, nó khẳng định sự tồn tại của các sự vật khách quan bên ngoài chúng ta Ở góc độ này, Kant thể hiện như một nhà duy vật [105, 388]
Theo Kant, nhận thức của con người là một quá trình với ba giai đoạn là: nhận thức cảm tính, nhận thức giác tính và nhận thức lý tính Xét về chức năng, cảm tính là khả năng tri giác, do nó chỉ có được biểu tượng khi tương tác với một cái khác, nên mang tính thụ động Ngược lại, giác tính là khả năng tạo nên ý tưởng một cách độc lập, nên nó mang tính tích cực, chủ động trong quá trình nhận thức Dù khác nhau về chức năng, nhưng chúng thống nhất hữu cơ với nhau Sự chuyển hoá từ tri giác cảm tính (trực quan sinh
Trang 33động) đến tư duy lý luận (trừu tượng) như bước nhảy vọt từ giai đoạn thấp đến giai đoạn cao của nhận thức Quan điểm như thế có ý nghĩa biện chứng sâu sắc Theo nhận xét của Hegel, đây là: “một thành tựu rất quan trọng của nhận thức triết học, bởi vì bằng điều đó… vận động của tư duy được đề cao” [105, 401]
Để trả lời cho câu hỏi thứ hai: “Tôi cần phải làm gì?” Kant cho rằng, con
người cần phải hành động theo quy luật đạo đức chung, tức những mệnh lệnh
tuyệt đối Theo Kant mệnh lệnh tuyệt đối mang tính phổ quát và tất yếu, có giá trị cho mọi thực thể lý tính và ở mọi thời đại Quy luật đạo đức tự nó là một quy luật thực tiễn, vô điều kiện và là khuôn mẫu cho mọi hành vi Nguyên tắc cơ bản của nó là: không bao giờ được đối xử với con người chỉ như là phương tiện mà luôn đồng thời là mục đích Nguyên tắc này yêu cầu mỗi người cần phải tôn trọng phẩm giá của chính mình và của tất cả mọi người trong các quan hệ xã hội, không bao giờ để mình trở thành phương tiện
và cũng không bao giờ sử dụng người khác chỉ như là phương tiện cho bất kỳ mục đích nào [14, 72]
Để trả lời cho câu hỏi thứ ba: “Tôi có thể hy vọng gì?”, Kant cho rằng, với tư cách là một “thực thể cảm tính” – bản thể kinh nghiệm – con người khó
có thể hành động theo các quy luật đạo đức chung hướng đến sự thiện tối cao,
vì vậy con người cần đến niềm tin và sự hy vọng vào một trật tự hoàn hảo, đó
là Thượng đế Thượng đế đặt ra cho con người những quy tắc đạo đức nhưng đồng thời cũng cho con người tuân theo các quy luật đạo đức đó bằng sự giúp
đỡ bằng tình yêu giải thoát [14, 102] Nghĩa là hành động có đạo đức sẽ giúp con người xứng đáng được có cuộc sống hạnh phúc
Kant cho rằng, “mục đích của hành vi đạo đức của con người không phải
là hạnh phúc, mà làm thế nào để xứng đáng được hạnh phúc Niềm hy vọng được hạnh phúc vì đã xứng đáng với hạnh phúc buộc con người phải tin rằng
Trang 34có một lý tính tối cao vừa bắt buộc con người làm theo những quy luật đạo đức, vừa đồng thời như là nguyên nhân của tự nhiên Như vậy, con người cần
có niềm tin về sự tồn tại của Thượng đế để trợ giúp các động cơ đạo đức của mình, từ đó con người có thể hy vọng có được hạnh phúc vì con người đã hành động có đạo đức” [14, 100]
Cuối cùng, để trả lời cho câu hỏi: “Con người là gì?”, Kant cho rằng, con người vừa là “một thực thể cảm tính”, vừa là “một thực thể tư duy” và vừa là
“một thực thể siêu khả giác” Là một “thực thể cảm tính”, con người tồn tại và phát triển không tách rời tự nhiên, hay “thế giới hiện tượng”, chịu sự tác động
và quy định của những quy luật tất yếu của thế giới hiện tượng như tất cả các hiện tượng khác Là “một thực thể tư duy”, con người có lý tính và có tự do ý chí, nghĩa là con người độc lập, tự do và tự quyết đối với hàn vi của chính mình Và cuối cùng, là “một thực thể siêu khả giác”, con người có khả năng vượt ra khỏi mọi ảnh hưởng của cảm tính để cảm nhận được cái đẹp, cái cao
cả nơi tâm hồn mình Theo Kant, chỉ có con người, với khả năng kết hợp một cách nhịp nhàng, hài hòa giữa năng lực trí tưởng tượng và giác tính mới có thể chiêm ngưỡng, cảm nhận cái phi cảm tính, cái siêu khả giác, cái thẩm mỹ, làm cho người cảm thấy cuộc sống này đẹp hơn và có ý nghĩa hơn [39, 97] Bên cạnh những quan điểm về nhận thức luận, đạo đức học, mỹ học, Kant còn tập trung nghiên cứu về triết học pháp quyền, triết học lịch sử, triết học tôn giáo… và xem đây chính là đạo đức học ứng dụng
Triết học pháp quyền của Kant được hình thành nhằm giải quyết một số
vấn đề: tự do con người có được từ đâu, làm thế nào để đảm bảo được quyền
tự do đó, và bằng cách nào con người có thể tiến dần đến “vương quốc của tự do” [17, 3] Nội dung của triết học pháp quyền của Kant chính vì thế đi vào nghiên cứu các khía cạnh như pháp luật, nhà nước và quyền lực của nhà nước
Trang 35Kant cho rằng, con người là “công dân của hai thế giới” –“thế giới hiện tượng” và “thế giới vật tự nó” Là “thực thể cảm tính”, con người thuộc về
“thế giới hiện tượng” tức “vương quốc của sự tất yếu”, và chịu sự quy định của những quy luật tự nhiên Trong “vương quốc của sự tất yếu”, mục đích của con người là vươn đến hạnh phúc và lợi ích cá nhân Nhưng với tư cách là
“thực thể lý tính”, con người thuộc về “thế giới vật tự nó” tức “vương quốc của tự do, và vì vậy, con người không chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên mà là chủ thể tự quyết, chủ thể ban hàn luật [17, 4] Có nghĩa là, theo Kant, trong trạng thái tự nhiên, con người độc đoán, tùy tiện, quấy rối lẫn nhau trong các lĩnh vực của đời sống Chính vì vậy, cần phải có pháp luật để cưỡng chế những hành vi độc đoán nhưng vẫn đảm bảo tự do cho mỗi cá nhân
Với tư cách là những học thuyết mang tính hệ thống, pháp luật bao gồm luật
tự nhiên và luật thành văn Và để đảm bảo tự do cá nhân, đòi hỏi trách nhiệm
từ phía cá nhân và nhà nước Mỗi cá nhân, với tư cách là một thực thể lý tính, cần hiểu rõ trách nhiệm pháp lý của mình thể hiện trong các nguyên tắc: 1 Hãy là một con người biết nhận thức về quyền của mình, luôn khẳng định giá trị của mình là giá trị của một con người trong quan hệ với những người khác;
2 Không làm điều gì bất công với người khác; 3 Hãy tham gia vào một tổ chức với những người khác, để tránh tổ chức gây bất công [17, 5]
Kế thừa tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp, đặc biệt là Rousseau và Montesquieu, Kant cho rằng nhà nước có thể được thiết lập dựa trên khế ước ban đầu, theo đó, “tất cả mọi người từ bỏ tự do bên ngoài của họ để trở thành thành viên của một cộng đồng, một nhà nước” [17, 5] Ông khẳng định rằng, mỗi nhà nước có ba quyền lực ở trong nó, đó là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, việc thực thi công lý được đảm bảo nhất nếu như ba quyền lực đó độc lập với nhau
Trang 36Nhìn chung, trong quan điểm về triết học pháp quyền, Kant muốn nhấn mạnh rằng, mục đích của lịch sử loài người là hoàn thiện luật, xây dựng hiến pháp nhà nước tốt nhất ở mọi dân tộc, là tiến tới nền hòa bình vĩnh cửu trên toàn thế giới [17, 8] Ở khía cạnh này, triết học pháp quyền của Kant chứa đựng những giá trị nhân văn vô cùng sâu sắc
Trong triết học lịch sử, Kant cho rằng, lịch sử của loài người và của văn
hóa loài người là lịch sử của sự phát triển tự do Ông cho rằng, sự phát triển của các nền văn minh đã diễn ra với sự đổi giá với cảm nhận hạnh phúc cá nhân Ông cho rằng, ai lấy hạnh phúc cá nhận làm tiêu chuẩn thì người đó chỉ được phép nói về một sự thụt lùi của lịch sử Khi các quan hệ xã hội ngày càng trở nên phức tạp hơn, khi năng lượng sống của nền văn minh ngày càng mạnh mẽ hơn, thì các nhu cầu ngày càng tăng và như vậy, khả năng thỏa mãn những nhu cầu càng ngày càng ít đi [14, 54] Như vậy, trong khi các nhà Khai sáng cho rằng hạnh phúc là mục đích của loài người thì với Kant, việc xây dựng một cộng đồng đạo đức vững mạnh mới là mục tiêu cao nhất của lịch
sử
Trong triết học tôn giáo, Kant lập luận rằng, vì con người vừa là thực thể
cảm tính, vừa là thực thể tư duy nên trong con người luôn tồn tại hai hệ động cơ: động cơ cảm tính (xu hướng tự nhiên, thiên về cái ác) và động cơ đạo đức (thiên về cái thiện) Trong sự đấu tranh chống lại cái ác, con người cần đến niềm tin để hỗ trợ cho động cơ đạo đức của mình Thượng đế đặt ra cho con người quy tắc đạo đức nhưng đồng thời cũng cho con người trong việc tuân theo quy tắc đạo đức đó sự giúp đỡ bằng tình yêu giải thoát [14, 55]
Tóm lại, tư tưởng triết học của Kant thời kỳ phê phán thực sự là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử triết học phương Tây Nó nghiên cứu con người như một chủ thể hoạt động tích cực trong mọi lĩnh vực (nhận thức, đạo đức, tình cảm, pháp quyền, lịch sử, tôn giáo…) Và trong mỗi lĩnh vực, Kant
Trang 37đều để lại những giá trị sâu sắc, quý báu, đặt nền móng cho nhiều trào lưu triết học từ đó về sau
1.3 Vị trí của nhận thức luận trong hệ thống triết học Immanuel Kant
Với mong muốn xác lập một siêu hình học mới – một siêu hình học có thể “tạo dựng hạnh phúc chung cho nhân loại” [45, 1186], Kant đã xây dựng nên hệ thống triết học đồ sộ với hai bộ phận cấu thành là triết học lý luận và triết học thực tiễn Nếu như triết học lý luận nghiên cứu các khả năng nhận thức của con người (nhận thức cảm tính, nhận thức giác tính, nhận thức lý tính), qua đó xác định giới hạn tri thức của chúng ta, tức là làm rõ vấn đề “Tôi
có thể biết được cái gì?”, thì triết học thực tiễn lại nghiên cứu các nguyên lý hoạt động thực tiễn của con người trong xã hội bao gồm các hoạt động đạo đức, tôn giáo, pháp quyền, thẩm mỹ…, để giải đáp các vấn đề “Tôi cần phải làm gì?”, “Tôi có thể hi vọng gì?” Từ đó, Kant trả lời cho câu hỏi được xem như là mục đích cuối cùng của triết học phê phán: “Con người là gì?” Kant cho rằng: “Chúng ta có đầy đủ cơ sở xem xét con người không chỉ là mục
đích của tự nhiên như những sinh vật khác, nhưng ở đây, trên trái đất, là mục
đích cuối cùng của tự nhiên” [105, 410]
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, với tư cách là một hệ thống, chúng ta không thể hiểu một cách thấu đáo toàn bộ triết học Kant nếu như không hiểu
về nhận thức luận Nhận thức luận của Kant vì thế có một vị trí cực kỳ quan
trọng Với việc xác lập thế giới quan và phương pháp luận, nó được xem như
là cơ sở lý luận cho toàn bộ hệ thống triết học của Kant
Bằng phương pháp phê phán được bắt nguồn từ lý luận nhận thức, Kant
đã xây dựng nên một hệ thống triết học vô cùng độc đáo – triết học phê phán
Trong Lời tựa cho lần xuất bản thứ nhất của cuốn “Phê phán lý tính
thuần túy” (1781), (bản A), Kant mở đầu ngay bằng thực trạng bế tắc của siêu
Trang 38hình học trong việc giải quyết các vấn đề tồn tại của Thượng đế, tự do của ý chí và sự bất tử của linh hồn [45, 5] Kant cho rằng, siêu hình học thời bấy giờ
đã trở thành “đấu trường tranh cãi bất tận” xoay quanh các câu hỏi: Thế nào là một tri thức khoa học, Siêu hình học có thể trở thành một khoa học hay không, và ta có thể nhận thức được cái tuyệt đối (Thượng đế) hay không? Để trả lời những câu hỏi ấy, triết học thế kỷ XVII – XVIII đã hình thành nhiều học thuyết triết học tranh cãi quyết liệt, nhưng nhìn chung có thể chia thành hai trường phái lớn, đó là trường phái duy lý và trường phái duy nghiệm Với phương pháp tư duy của mình, chủ nghĩa duy nghiệm hoài nghi năng lực nhận thức của con người, công nhận sự thất bại của siêu hình học trong việc lý giải sự tồn tại của một thực thể tối cao và cho rằng về mặt lý thuyết không thể chứng minh được sự tồn tại của thực thể tối cao đó (Thượng đế) [45, 24]
Ngược lại, bằng phương pháp tư duy giáo điều, chủ nghĩa duy lý lại cho rằng có thể chứng minh được sự tồn tại của Thượng đế và xem Ngài là một đấng hoàn thiện, toàn năng Thượng đế chính là nguyên nhân của những tri thức hiển nhiên trong bản thân con người, và trước hết là nguyên nhân của chính ý tưởng về Thượng đế trong “tôi” (Descartes) Hay nói cách khác, siêu hình học được chủ nghĩa duy lý xem như một môn khoa học về Thượng đế [45, 24]
Sự tranh cãi gay gắt này đã dẫn đến thái độ “ngán ngẩm, thờ ơ, dửng dưng” của nhiều người nghiên cứu triết học, họ không muốn nêu lên bất kỳ câu hỏi về siêu hình học nào nữa, thậm chí muốn xóa bỏ hẳn siêu hình học ra khỏi lĩnh vực nghiên cứu của triết học Đó là thái độ của triết học “khai sáng hời hợt” muốn trừng phạt siêu hình học bằng “sự khinh thị” Nhưng theo Kant, những nhà triết học tỏ ra bàng quan với siêu hình học nhất định sớm muộn cũng phải quay về với những khẳng định siêu hình học, bởi lẽ thái độ
Trang 39“bàng quan” cũng là một thái độ giáo điều tự mâu thuẫn Do đó theo Kant, nếu không biết đặt vấn đề theo một cách khác thì họ sẽ làm tái diễn cuộc tranh cãi bất tận Kant cho rằng, siêu hình học đã tự tin đứng ra đảm nhận thực hiện những công việc trên “nhưng với phương pháp ngay từ đầu là giáo điều, tức là không có sự kiểm tra trước đó về năng lực hay sự bất lực của lý tính đối với công việc lớn lao như thế” [45, 86] Kant chính là người thực hiện việc “đặt vấn đề một cách khác” Ông không tránh né hay khinh thị (ngược lại còn rất quý trọng) các vấn đề của siêu hình học, đồng thời không tham gia vào cuộc tranh cãi bằng cách đứng về chủ nghĩa duy lý hay chủ nghĩa duy nghiệm Ông muốn khai phá một con đường mà trước đó chưa có ai đi nhằm đưa siêu hình học và triết học nói chung ra khỏi bế tắc Con đường đó là “thiết lập một phiên tòa để vừa bảo vệ những yêu sách chính đáng, đồng thời bác bỏ mọi đòi hỏi không có cơ sở, không phải bằng các phán quyết độc đoán mà dựa trên các quy luật hằng cửu và bất di bất dịch của lý tính Tòa án này không gì khác hơn là sự phê phán bản thân lý tính thuần túy” [45, 8]
Trong Lời tựa của quyển “Phê phán năng lực phán đoán” Kant viết: “ta
có thể gọi quan năng nhận thức từ những nguyên tắc tiên nghiệm là lý tính
thuần túy, và việc nghiên cứu về khả thể và những ranh giới của lý tính này
nói chung là Phê phán lý tính thuần túy” [44, 1] Nói cách khác, nội dung của
“Phê phán lý tính thuần túy” chính là toàn bộ quan điểm của Kant về nhận
thức Có nghĩa là, Kant xem việc đưa ra những luận điểm mới về nhận thức như là con đường giải thoát siêu hình học khỏi những bế tắc mà trước đây chưa có hệ thống triết học nào làm được
Thuật ngữ “phê phán” trong quan điểm của Kant không phải là “đả kích” hay “lên án” theo cách hiểu thông thường Ý nghĩa của từ “phê phán” ở đây nằm ngay trong việc “thiết lập một tòa án” để xem xét và xác định nguồn gốc,
Trang 40phạm vi và các giới hạn của lý tính Hay nói một cách khác, theo Kant, “phê phán tức là đặt câu hỏi về mặt có hợp pháp hay không” [45, 25]
“Lý tính” ở đây hiểu theo nghĩa rộng là “toàn bộ quan năng nhận thức cao cấp” [45, 25] bao gồm cả giác tính, năng lực phán đoán và lý tính, hay là
lý trí theo nghĩa hẹp, tức quan năng suy luận khác với giác tính, là quan năng
phán đoán Như vậy, “Phê phán lý tính thuần túy” là thẩm tra toàn diện các
quan năng nhận thức nói chung của con người và nhất là thẩm tra giới hạn, phạm vi của loại tư duy “thuần túy”, độc lập với kinh nghiệm [45, 26]
Bằng cách đó, triết học Kant đã chủ trương xây dựng một triết học mới
thông qua phương pháp phê phán, mở đầu là trong nhận thức luận, chính vì
thế mà triết học Kant còn được gọi là triết học phê phán
Kant cho rằng: “ta có thể chia các phương pháp thịnh hành ra làm hai: phương pháp tự nhiên chủ nghĩa và phương pháp khoa học” [45, 1189] Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra rằng, phương pháp tự nhiên chủ nghĩa với quan niệm chỉ có lý trí thông thường, không cần sự giúp đỡ của khoa học là sự biểu hiện của chủ nghĩa “thù ghét lý tính” có rất nhiều điểm phi lý và mâu thuẫn Còn đối với những người theo phương pháp khoa học thì theo Kant, họ buộc phải lựa chọn giữa phương pháp giáo điều hoặc phương pháp hoài nghi Như vậy,
“chỉ còn phương pháp phê phán là còn để ngỏ” [45, 1190] Kant cho rằng:
“chỉ thông qua sự phê phán này mới cắt dứt được tận gốc thuyết duy vật, thuyết định mệnh, thuyết vô thần, thói phóng nhiệm thiếu đức tin, óc cuồng tín và mê tín có thể gây tai hại rộng rãi như thuyết duy tâm và thuyết hoài nghi rất nguy hiểm cho học thuật tuy khó đến được với quần chúng đông đảo” [45, 59]
Phương pháp phê phán cũng đã được Kant sử dụng trong triết học thực tiễn của mình (bao gồm triết học đạo đức, triết học pháp quyền, triết học lịch