Vấn đề nhận thức luận - bộ phận cấu thành của hệ thống triết học vào thời cận đại đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu sâu sắc hơn bản chất của thế
Trang 1- -
PHAN THỊ NGỌC ÁI
VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC DESCARTES
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2- -
PHAN THỊ NGỌC ÁI
VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC DESCARTES
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đinh Ngọc Thạch Nội dung trong luận văn là trung thực và chưa được tác giả nào công bố
Tác giả
Phan Thị Ngọc Ái
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô trong khoa Triết trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh cùng toàn thể anh chị em và bạn bè đã tạo điều kiện và môi trường học tập thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc đến người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và dìu dắt tôi trên con đường nghiên cứu khoa học – PGS.TS Đinh Ngọc Thạch
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, VĂN HÓA
VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC DESCARTES 11 1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, VĂN HÓA HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN CỦA DESCARTES 11
1.1.1 Đ
iều kiện kinh tế, chính trị - xã hội hình thành nhận thức luận của Descartes 11 1.1.2 Điều kiện văn hóa hình thành nhận thức luận của Descartes 19 1.2 TIỀN ĐỀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN CỦA DESCARTES 29 1.2.1 Tiền đề khoa học tự nhiên hình thành nhận thức luận của Descartes 29 1.2.2 Tiền đề lý luận hình thành nhận thức luận của Descartes 39 1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC VÀ NHẬN THỨC LUẬN CỦA DESCARTES 45 Kết luận chương 1 50
Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC DESCARTES 52
2.1 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG NHẬN THỨC LUẬN CỦA DESCARTES 52 2.1.1 Cơ sở và bản chất của nhận thức trong nhận thức luận của Descartes 52 2.1.2 Phương pháp nhận thức trong nhận thức luận của Descartes 61 2.1.3 Đặc điểm trong nhận thức luận của Descartes 73
Trang 62.2.1 Giá trị và hạn chế trong nhận thức luận của Descartes 78
2.2.2 Vấn đề đặt ra từ nhận thức luận của Descartes 84
Kết luận chương 2 98
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử triết học luôn có vai trò quan trọng trong lịch sử tư tưởng nhân loại Năng lực tư duy lý luận không thể đạt được nếu bị mảnh vụn, gián đoạn thiếu nghiên cứu nền tảng lý luận và phương pháp tiếp cận của các trào lưu triết học trước Trong mỗi thời đại để phát triển tư duy phải có tính kế thừa xuyên suốt và không có cách nào khác là: “Tư duy lý luận chỉ
là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có thôi Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện và muốn hoàn thiện nó cho tới nay không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” [43, 487]
Vấn đề nhận thức luận - bộ phận cấu thành của hệ thống triết học vào thời cận đại đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu sâu sắc hơn bản chất của thế giới, giới tự nhiên, khẳng định quyền lực của con người và góp phần định hướng cho hoạt động thực tiễn, cho quá trình xác lập môi trường lành mạnh, nhân văn thay thế xã hội phong kiến Cùng với những thay đổi cơ bản trong quá trình phát triển của khoa học tự nhiên, sự hình thành các phương pháp nghiên cứu đặt
ra trước triết học nhiệm vụ phân tích mang tính nhận thức luận đối với các kết quả nghiên cứu khoa học trở nên cấ ất liệu do khoa học đem đến cần được luận chứng và hệ thống hóa, từ đó vạch ra con đường nhận thứ ặt ra nhiệm vụ tìm hiểu bản chất của quá trình nhận thức và nguồn gốc tri thức Chính vì thế, các nhà tư tưởng xem việc tìm kiếm phương pháp luận chung và làm rõ bản chất của tư duy là nhiệm vụ
Trang 8trung tâm Trước thực tiễn, nhu cầu về mặt tư tưởng như vậy, thời Cận đại
đã được khai mở với lối tư duy mới từ Descartes1
Descartes có địa vị rất quan trọng và ảnh hưởng lớn trong lịch sử triết học phương Tây T
ểm mới trong khoa học và chủ nghĩa nhân văn qua thái
độ phê phán đối với thần quyền, đề cao quyền bình đẳng tự nhiên giữa người với người, đòi hỏi mở rộng không gian văn hóa cho tất cả mọi người,
đã giới thiệu hình ảnh Descartes như một trong những người mở đường cho phong cách tư duy mới, trong truyền thống duy lý cổ điể
ới lối tư duy
đề cao lý trí, phương pháp luận khoa học, tinh thần phê phán và khám phá khoa học, đỡ đầu tri thức khoa học Giá trị nhận thức luận trong triết học duy lý của Descartes không chỉ dừng lại ở nước Pháp thế kỷ XVII, mà còn trở thành giá trị chung của cả nhân loại
Để xây dựng đất nước giàu mạnh phải thực hiện những cuộc cách mạng xã hội, văn hóa, khoa học – kỹ thuật đưa đất nước đi lên, nói cách
1
Nguyên bản tiếng Pháp: René Descartes, tiếng Latinh : Renatus Cartesius, phiên âm tiếng Việt: Rơ-ne Đê-các-tơ
Trang 9khác là có năng suất lao động cao trong sản xuất dựa vào khoa học, công nghệ tiên tiến, cũng như tinh thần đề cao tri thức khoa học, khám phá và phát minh, chống mọi định kiến Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học, công nghệ diễn ra trên quy mô lớn, thúc đẩy sự ra đời của nền kinh tế tri thức và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Muốn làm chủ được nền kinh tế tri thức thì đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì không có cách nào khác là phải giáo dục nâng cao năng lực tư duy và chuyên môn Để làm được điều đó phải có một nền giáo dục có phương pháp, có hệ thống, tìm ra những biện pháp hợp lý, đúng đắn để đẩy mạnh
sự phát triển của đất nước đi lên Như vậy, để đạt được kết quả tốt nhất nhất định phải trang bị tri thức khoa học cho nguồn nhân lực Chính sự phát triển của tri thức gắn liền với sự phát triển của con người, con người
đã sử dụng tri thức để sống, phát triển và hoàn thiện bản thân Đào tạo con người có tri thức để vững bước trên con đường thành công trong thời đại khoa học, trí tuệ Việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trở thành nhiệm vụ cấp bách phải cần
có tư duy lý luận thì những vấn đề như bản chất của trí tuệ và tri thức, các phương pháp nhận thức cũng như những vấn đề cơ bản của nhận thức luận phải được đặt ra và giải quyết Từ đó cho thấy, nền tảng quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là phát huy vai trò của
lý luận và khả năng vận dụng sức mạnh của lý luận cho mọi mặt của đời sống xã hội
Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ về văn hóa, kỹ thuật kéo theo nhiều hậu quả trong mối quan hệ giữa con người với nhau làm lu mờ nhân cách, thiếu trí tưởng tượng, bần cùng trí tuệ, sùng bái tiêu dùng,… Mệnh
Trang 10đề “tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”2
đề cao vai trò tư duy con người, đặt chúng
ta đối mặt với tính chất phức tạp của vấn đề để lựa chọn và xử lý sáng suốt Descartes là đại diện cho tinh thần khoa học mới, khoa học từ bỏ tính sách vở, thực hiện nhiệm vụ khai mở trí tuệ cho con người, giúp con người nâng cao năng lực làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và hoàn thiện chính bản thân mình
Vậy, việc nghiên cứu nhận thức luận trong triết học Descartes, đặc biệt là phương pháp luận góp phần nâng cao năng lực tư duy, hiểu rõ vấn
đề cơ bản của triết học, có phương pháp tốt hơn trong nhận thức và hoạt
động thực tiễn Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn “Vấn đề nhận
thức luận trong triết học Descartes” làm đề tài luận văn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thế kỷ XVII – XVIII là một trong những giai đoạn phát triển đặc biệt trong lịch sử triết học nhân loại, trong đó Descartes là người khởi xướng lối tư duy mới Nhận thức luận trong triết học Descartes, đặc biệt là phương pháp luận có giá trị to lớn, đã thu hút được nhiều học giả quan tâm
kể cả trong và ngoài nước với nhiề
Về phương diện tác phẩm của Descartes, kể cả trong và ngoài nước đa phần dịch và giới thiệu chủ yếu một phần hoặc toàn bộ hai tác phẩm chính của
ông là Phương pháp luận và Những suy niệm siêu hình học Trong đó, đặc biệt Phương pháp luận là tác phẩm thể hiện rõ những quan niệm của ông về
những vấn đề của nhận thức luận trong hệ thống triết học của mình Tuyển tập
về các tác phẩm của Descartes: Tiếng Anh: Descartes’Philosophical Writings,
2 “Tôi tư duy, vậy thì tôi tồn tại” hoặc “Tôi tư duy, nên tôi tồn tại” (latinh: Cogito, ergo sum) hay “Tôi nghi ngờ, nên tôi tư duy, nên tôi tồn tại” (Dubito, ergo cogito, ergo sum), “Cogito ergo sum” là bản dịch nguyên văn tiếng Pháp của Descartes: “Je pense, donc je suis”
Trang 11Nxb Anscombe and Geach (Nelson University Paperbacks, 1970) bao gồm
Discourse on the Methode và Meditations, cùng với phần phụ lục Objections and Replies và nhiều thư từ và trích đoạn từ các tác phẩm khác; Tiếng Nga: Р Декарт (1989), Сочинения в двух томах, Изд Мысль, Москва (René Descartes, Tác phẩm gồm 2 tập, Nxb Tư tưởng Moscow); Tiếng Việt: Phương pháp luận (dịch và xuất bản 1973) và Những suy niệm siêu hình học
(dịch và xuất bản 1962) của Trần Thái Đỉnh được tái bản 2005, Nxb Văn học, hai công trình này tác giả đã dịch và đưa ra nhiều bình luận, đánh giá, chú giải
về triết học Descartes nói chung và triết học duy lý của ông nói riêng
, dịch từ tiếng pháp: Discours de la méthode, 1637 –
bàn
về phương pháp để hướng dẫn lý trí cho đúng cách và tìm thấy chân lý trong các khoa học, gồm 6 phần: Phần thứ nhất là vài nhận định về các khoa học; phần thứ hai, những quy tắc chính của phương pháp; phần thứ 3, những quy luật rút ra từ phương pháp; phần bốn, năm, sáu chứng minh sự hiện hữu của
thượng đế, trật tự các vấn đề vật lý và những việc tìm hiểu tự nhiên; Những suy niệm siêu hình học dịch từ Meditations Métaphysique, 1641 trong đây
Descartes thể hiện tư tưở
ngoài phần nhập đề, lời nói
đầu của tác giả thì gồm 6 suy niệm cùng với những câu hỏi và trả lời, tác phẩm này được xem là phần quan trọng nhất của nền triết học Descartes Cùng với tác phẩm dịch trên, thì có các công trình dịch một phần các tác
phẩm của ông như: René Descartes và tư duy khoa học, Nxb Giáo dục (2000)
do Trương Quang Đệ giới thiệu và dịch tác phẩm Phương
Descartes, tác giả đánh giá rất cao phương pháp tư duy khoa học theo quan niệm của Descartes và cố gắng phân tích giới thiệu tác phẩm này cũng như
Trang 12dịch lại để làm tài liệu nghiên cứu, vì theo tác giả Phương được xem như là bản tuyên ngôn của hệ tư tưởng Descartes về tư duy khoa học, vạch ra một cách suy nghĩ hoàn toàn mới trên cơ sở phủ nhận mọi định kiến, giáo điều có sẵn trước đó Trong đó, chương 1: Bàn về phương pháp nêu lên những nhận định về các ngành khoa học, đưa ra các quy tắc chủ yếu của
phương pháp nhận thức Chương 2: René Descartes và những khái niệm cơ
bản của triết học, chương 3: Các phụ lục, chương 4 là nguyên bản tiếng Pháp -
“Discourseon the Method”, và giới thiệu tập “Meditations”; Forrest E Baird
Những
Plato đến Derrida, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội (bản dịch của Đỗ Văn
Thuấn và Lưu Văn Hy);
Về phương diện triết học Descartes chủ yếu bàn về vấn đề phương pháp nhận thức trong nhận thức luận,vì cả hệ thống triết học của Descartes
đa phần tập trung vào giải quyết vấn đề phương pháp nhận thức do nhu cầu thực tiễn lúc bấy giờ - thế kỷ XVII đặt ra Các công trình nghiên cứu cả tác
phẩm dịch lẫn công trình viết trong nước như: Nhập môn Descartes, Nxb
Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2007, Tinh Vệ dịch, giới thiệu một cách nhập môn về Descartes, khái quát thân thế sự nghiệp, tác phẩm, siêu hình học của Descartes, giới thiệu về phương pháp của Descartes, những nguyên
tắc để nhận thức, sự vận dụng toán học vào tư duy Lược sử triết học Pháp
do Nguyễn Hải Hằng, Đào Ngọc Phong, Trần Nhật Tân dịch, Nxb Văn hóa thông tin, 2006 Trình bày triết học của Pháp thế kỷ XVII, XVIII, XIX, XX
và triết học Pháp hiện đại, trong đó nói về triết học Descartes một cách khái
Trang 13lược và đánh giá cao phương pháp luận của ông Lịch sử triết học và các luận đề (Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy biên dịch, 2004), Nxb Lao động,
Hà Nội giới thiệu chủ nghĩa duy lý và phân tích phương pháp của Descartes Vậy, vấn đề nhận thức luận của triết học Descartes, các công trình khẳng định công lao của ông xây dựng phương pháp mới trong nhận thức của thời đại Phân tích khái quát về phương pháp, các nguyên tắc để
nhận thức Những vấn đề cơ bản của triết học, Đông Hương, Kiến Văn biên dịch, Nxb Từ điển bách khoa, 2007; Các trường phái triết học trên thế giới, Nxb Văn hóa thông tin do nhóm Trí Tri dịch; Lịch sử triết học từ
cổ đại đến cận đại, Phạm Văn Liễn dịch, Nxb Văn hóa thông tin, 2009
Trong nước, những tác phẩm viết về triết học Descartes như: Trần
Thái Đỉnh với tác phẩm Triết học Descartes (2005), Nxb Văn họ
đánh giá địa vị
của Descartes trong lịch sử triết học và đặc biệt nói về phương pháp luận của Descartes, tác phẩm gồm 10 chương: chương 1 nói về phương pháp luận hay con đường triết học của Descartes; chương 2, những chuẩn bị hay
là những quy luật của phương pháp; chương 3, những nền tảng của siêu hình học, cũng là nền tảng triết học Descartes Các chương còn lại nói về những suy niệm của Descartes;
ần Văn Giàu: Triết học và tư tưởng, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh, 1988, đề cao vai trò của Descartes chống lại nền thống trị của nhà thờ, nói đến những đóng góp của Descartes trong cách mạng tư
Trang 14tưởng, phân tích hoài nghi và phương pháp suy diễn của Descartes; Trong
cuốn Các nhà toán học – triết học của tác giả Nguyễn Cang, Nxb Đại học
quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh, 2004 tác giả chỉ ra ảnh hưởng của toán học đến phương pháp luận triết học của Descartes và Leibniz
Về phương diện lịch sử triết họ
theo hệ thống dòng tư tưởng từ cổ, trung, cận, hiện đại và trong đó trình bày tư tưởng cơ bản của từng thời kỳ, từng tác giả, có tư tưởng triết học củ
quan, nhận thức luận, phương pháp luận, tác giả đề cập đến việc xây dựng phương pháp mới của ông – phương pháp phân tích khoa học Nguyễn Tiến
Dũng, Lịch sử triết học, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006;
ỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh,
Nguyễn Anh Tuấn, Đại cương lịch sử triết học phương Tây, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006; Trần Nhu (chủ biên), Từ các triết gia tự nhiên đến Karl Marx, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2001; Hoàng Xuân Việt, Lược sử triết học phương Tây, Nxb Tổng hợp
thành phố Hồ Chí Minh, 2004;
Trên đây là những tài liệu có giá trị giúp ích cho những người yêu
thích triết học nói chung và cũng như cả triết học Descartes Triết học duy
lý của Descartes được nhiều tác giả xét đến từ những góc độ, nhiều khía cạnh ở nhiều công trình khác nhau và theo các yêu cầu khác nhau Những công trình này đã góp phần tìm hiểu triết học Descartes nói chung, nhận thức luận nói riêng mang lại cho người đọc những thông tin và nhận định quý giá cho sự khởi đầu mới mang tính bước ngoặt trong tư duy của lịch sử
Trang 15triết học phương Tây Những công trình này tập trung vào tất cả những vấn
đề mà các nhà triết học quan tâm như thế giới quan, nhận thức luận, con người, đạo đức,… mà Descartes chỉ là một trong số những nhà triết học
được đề cập đến
Kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu, học viên sẽ trình bày nhận thức luận của Descartes một cách có hệ thống, logic, qua các dữ liệu và những tác phẩm được dịch đồng thời qua đó sẽ đưa ra cách đánh giá riêng về giá trị lịch sử cũng như hạn chế nhằm rút ra ý nghĩa của nó
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài là: Làm rõ vấn đề nhận thức trong triết học Descartes, đặc biệt phương pháp nhận thức của ông Từ đó rút ra đặc điểm, giá trị và hạn chế, đồng thời tìm hiểu sự ảnh hưởng của phương pháp nhận
thức của Descartes với triết học sau này
Để đạt mục đích nói trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm
vụ chủ yếu:
Một là, khái quát điều kiện lịch sử - xã hội, tiền đề hình thành nhận thức luận trong triết học Descartes và khái quát quá trình hình thành và phát triển nhận thức luận của ông
Hai là, trình bày, phân tích những nội dung cơ bản nhận thức luận trong triết học Descartes
Descartes, và tìm hiểu ảnh hưởng nhận thức luận của ông với triết học sau này
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện đề tài luận văn dựa trên những nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, ngoài ra đề tài được nghiên cứu và trình bày chủ yếu bằng các phương pháp khoa học: phân tích
Trang 16và tổng hợp, logic và lịch sử, so sánh và đối chiếu, hệ thống hóa và khái quát hóa,…
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần phân tích, đánh giá vị trí triết học
Descartes cũng như nhận thức luận của ông, qua đó thể hiện tính kế thừa trong sự phát triển tư tưởng Từ đó, giúp ta có phương pháp tốt hơn trong việc nhận thức và hoạt động thực tiễn
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham
khảo có ích phục vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy lịch sử triết học nói chung và triết học Descartes nói riêng
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành hai chương, năm tiết
Trang 17Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, VĂN HÓA VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN
TRONG TRIẾT HỌC DESCARTES
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, VĂN HÓA HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN CỦA DESCARTES
Descartes là người mở đường cho phong cách tư duy mới trong triết học Tây Âu, nền triết học này dần dần đoạn tuyệt với triết học Trung cổ do
tư tưởng Kitô giáo chiếm vị trí thống trị Nó chấm dứt quan niệm Trung cổ
về quan hệ giữa lý trí và niềm tin, giữa triết học và thần học Quan niệm mới về tri thức, đúng hơn về bản chất và vai trò của tri thức, đã từng bước thay thế hình thức, tri thức kinh viện là tri thức trống về nội dung, giáo điều
về bản chất và xa rời thực tiễn Cùng với Bacon, Descartes đã sáng lập nên triết học cận đại, triết học thời đại các cuộc cách mạng tư sản, thời đại bùng
nổ những phát minh khoa học và ứng dụng kỹ thuật Bằng kinh nghiệm sống của mình và khả năng nhạy bén nắm bắt xu thế lịch sử, Descartes đã sáng lập nên hệ thống triết học mới, phản ánh sâu sắc nhu cầu và khát vọng của thời đại, trong đó có nhu cầu vượt lên cái lỗi thời, lạc hậu trong nhận thức Tuy nhiên, những vấn đề mà Descartes nêu ra trong triết học, nhất là trong nhận thức luận của ông đều chịu sự chi phối của những diễn biến lịch
sử - xã hội cũng như quy luật kế thừa và phát triển của tri thức
1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội hình thành nhận thức luận của Descartes
Tây Âu từ thế kỷ XV – XVI chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ
và các đạo luật hà khắc Trung cổ bước vào thời kỳ tan rã Thay thế cho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển là nền sản xuất công trường thủ công đem
Trang 18lại năng suất lao động cao hơn Nhiều công cụ lao động được cải tiến và hoàn thiện nhằm thúc đẩy sản xuất Với sự phát triển nhanh chóng của kinh
tế, các nước Tây Âu đòi hỏi phải mở rộng thị trường để trao đổi buôn bán với các vùng trên thế giớ ững phát kiến địa lý như việc tìm ra châu Mỹ và các đường biển đến những miền đất mới càng tạo điều kiện phát triển nền sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa Nhờ
phát triển, thị trường trao đổi hàng hóa giữa các nước được mở rộng, các cuộc giao lưu Đông - Tây được tăng cường Trong giai đoạn này, các nước
tư bản chủ nghĩa sớm phát triển như Anh, Pháp, Tây Ban Nha,… thi nhau xâm chiếm thuộc địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên của các nước kém phát triển, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của mình Các nước này chú trọng vào công thương nghiệp, sản xuất hàng hóa để thu hút vàng bạc
về mình Chính phủ ra sức giúp đỡ giai cấp tư sản trong nước giành thị trường buôn bán, kinh doanh Trong thời điểm này, cuộc cách mạng giá cả
có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó kích thích quá trình tích lũy vốn ban đầu của chủ nghĩa tư bản Kết quả của quá trình tích lũy đó là giai cấp tư sản có điều kiện để tăng cường phát triển công thương nghiệp, mở các công trường thủ công, bần cùng hóa nhân dân lao động, tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy nhanh quá trình ra đời của chủ nghĩa tư bản
Cùng chung sự biến đổ
ở
n
Trang 19ớlle, Nantes, Le Havre,…
Trang 20rộng của thương mại, mậu dịch và nền kinh tế thị trường, giai cấp này trở nên lớn mạnh về số lượng và có sức ảnh hưởng về quyền lực
Trong giai đoạ
ế
ọ
ề quan hệ chính trị - xã hội, các giai cấp và tầng lớp đều muốn thoát khỏi sự ràng buộc của lãnh chúa phong kiến Nhà nước trung ương được củng cố, nhà vua dựa hẳn vào tầng lớp thương nhân với nguồn tài chính to lớn của họ để củng cố vị trí của mình Đồng thời với sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp, trong xã hội Tây Âu thời kỳ này, sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt Tầng lớp tư sản xuất hiện gồm các chủ xưởng công trường thủ công, xưởng thợ, chủ thuyền buôn,… Vai trò và vị trí của họ trong kinh tế và xã hội ngày càng được nâng cao Hàng loạt nông dân từ nông thôn di cư đến các thành phố,
Trang 21trở thành người làm thuê cho các công trường, xưởng thợ Chính họ là tiền thân của giai cấp công nhân sau này Các tầng lớp xã hội trên đại diện cho một nền sản xuất mới, cùng với nông dân đấu tranh chống chế độ phong kiến đang suy tàn
ẩ
–
Trang 22ớ
Trang 23Như vậy, cùng với điều kiện kinh tế - xã hội, tình hình chính trị các nước Tây Âu nói chung, nước Pháp nói riêng có nhiều biến động Chế độ quân chủ chuyên chế được xác lập, các cuộc cách mạng liên tiếp nổ ra chuẩn bị cho đại cách mạng Pháp Nếu thời kỳ Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản
Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản đã hình thành trong lòng xã hội phong kiến có xu hướng trở thành phương thức sản xuất thống trị, gắn liền với nhu cầu phát triển khoa học, kỹ thuật và tạo ra thị trường kinh tế thống nhất, phá vỡ những cát cứ phong kiến lâu đời thời Trung cổ Thì thời cận đại sự phát triển của lực lượng sản xuất mới làm cho quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời và mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất trở nên gay gắt là nguyên nhân kinh tế của những cuộc cách mạng thời kỳ này Như ức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, tạo nên sự mâu thuẫn gay gắt với phương thức sản xuất phong kiến Từ đó dẫn đến các cuộc cách mạng tư sản nhằm thay thế phương thức sản xuất phong kiến bằng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ở các nước Tây Âu, đây là thời kỳ giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi chính trị Cuộc cách mạng tư sản nổ ra đầu tiên ở Hà Lan vào cuối
Trang 24thế kỷ XVI (1560 - 1570), sau đó là cách mạng tư sả ế kỷ
- ộc cách mạng này đã giáng một đòn mạnh vào chế độ phong kiến Tây Âu, báo hiệu giờ cáo chung của chế độ phong kiến châu Âu Tính chất và sự thắng lợi của cách mạng tư sản có ảnh hưởng
to lớn đến thế giới quan của các nhà triết học thời cận đại Điều đó có ý
XVIII (1789 - 1794) Đó là những cuộc cách mạ
dấu sự thắng lợi của trật tự tư sản mới đối với trật tự phong kiến cũ
Xét toàn cảnh nước Pháp, có thể thấy xu hướng cải cách chính trị -
xã hội và đời sống tinh thần đã trở nên phổ biến Trong tiến trình lịch sử
đó, Descartes đã thật sự để lại dấu ấn tư tưởng sâu sắc, thể hiện bước chuyển về mọi mặt của thời đại ông Về phần mình, những chuyển biến trong kinh tế, chính trị và xã hội của Tây Âu và nước Pháp tác động đáng
kể đến khuynh hướng và tư tưởng triết học Descartes, trong đó có vấn đề nhận thức luận
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, sự hình thành quan hệ
xã hội mới, đã dẫn đến những biến đổi cơ bản trong kiến trúc thượng tầng, nhất là quan hệ quyền lực và hệ tư tưởng Giai cấp tư sản, lực lượng tiên phong của các cuộc cách mạng tư sản cổ điển, không thể chấp nhận vị trí của giai cấp bị trị, khi trong tay họ nắm toàn bộ sức mạnh kinh tế, làm lay chuyển đời sống tinh thần, biến đổi cơ cấu xã hội, khiến cho các giá trị hiện tồn bị hoài nghi Sự lớn mạnh của giai cấp tư sản, một mặt tạo nên sức lan tỏa nhanh chóng trong xã hội, thu hút các lực lượng xã hội khác nhau, hình thành cả phong trào rộng lớn chống chế độ chuyên chế, một mặt tập trung hóa hoặc làm suy yếu và phân hóa giai cấp thống trị, từ đó hình thành các tầng lớp quý tộc mới, đúng hơn là quý tộc tư sản mới Chính lực lượng này
đã làm giá đỡ cho những tư tưởng tích cực tiến bộ, hậu thuẫn cho những
Trang 25phát minh khoa học và ứng dụng kỹ thuật Những biến động kinh tế, chính trị - xã hội góp phần làm thay đổi và quyết định môi trường sáng tạo văn hóa xác lập nên hệ chuẩn giá trị mới Những gì lạc hậu, cũ xưa, không phù hợp với điều kiện xã hội mới đều bị loại trừ Nền văn hóa tư sản đòi hỏi loại bỏ chuẩn mực, giá trị của chế độ phong kiến, vốn mang nặng sự định kiến đẳng cấp và uy quyền Đây cũng chính là mảnh đất màu mỡ cho phong cách khám phá và tư duy mới của Descartes dù không thể vượt qua tính quy định giai cấp của xã hội, nhưng ông biết thâu tóm thời cuộc và khát vọng của thời đại, khát vọng khẳng định lý trí con người vào hệ thống triết học của ông, mà nội dung trung tâm là nhận thức luận, trong đó có vấn
đề nhận thức lại bản chất và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội
1.1.2 Điều kiện văn hóa hình thành nhận thức luận của Descartes
Những thay đổi mang tính bước ngoặt trong xã hội làm cơ sở lịch sử của vấn đề nhận thức Từ thời Phục hưng với nền văn hóa nhân văn, đề cao tinh thần sáng tạo và lựa chọn tự do, vượt qua định kiến và chủ nghĩa giáo điều, giải phóng cá nhân khỏi sự ràng buộc của nền chuyên chính tinh thần
của giáo hội Cùng với đó là phong trào cải cách tôn giáo, không chỉ đụng
chạm trực tiếp đến chủ nghĩa thần quyền, mà còn thổi luồng gió cách tân vào hàng ngũ tín đồ tôn giáo, phương diện kinh tế, chính trị - xã hội Về kinh tế, nó đòi hỏi phá bỏ những ràng buộc, những đặc quyền, tạo sự thông thoáng trong sản xuất, trao đổi hàng hóa Về chính trị - xã hội, nó tác động tích cực đến việc củng cố nền độc lập của các quốc gia châu Âu non trẻ
“Thời Phục hưng có thể xem như thời đại “con người trở về với chính mình”, hay nói cách khác, con người được sáng tạo ra một lần nữa Thuật ngữ “Phục hưng” (rinascimento, renaissance) dùng để chỉ hoạt động văn hóa khá phổ biến diễn ra tại các nước Tây Âu trong một thời kỳ lịch sử
Trang 26trước khi nổ ra các cuộc cách mạng tư sản, nhằm khôi phục, kế thừa và phát triển các giá trị văn hóa cổ đại Hy Lạp, La Mã từng bị lãng quên dưới thời Trung cổ do sự phong tỏa của ý thức hệ phong kiến và nhà thờ Kitô giáo Về mặt lịch sử đó là thời kỳ ếp từ chế độ phong kiến sang xã hội tư sản Theo quan điểm chung, thời Phục hưng bắt đầu từ thế kỷ cuối cùng của thời Trung cổ, và đạt đến cực thịnh vào thế kỷ XV – XVI Ở Ý quá trình này diễn ra sớm hơn, từ ế kỷ XIV, trung tâm là thủ đô Florence Truyền thống triết học cổ đại tìm thấy trong thời Phục hưng ý tưởng mới, được sử dụng nhằm giải quyết những vấn đề mới” [68, 1] Tư tưởng nhân văn là nội dung nổi bật và xuyên suốt của văn hóa Phục hưng Xem con người là trung tâm, là điểm xuất phát và giải phóng con người là mục đích cuối cùng Ở đó, hình ảnh con người tiến lên tự do, đề cao nhân tính, ca ngợi những giá trị đích thực của con người, hướng đến xây dựng một xã hội tốt đẹp Thay sự thống trị của Thượng đế bằng chính sự thống trị của con người, tất cả vì con người và cho con người Từ ý nghĩa chung
đó, “chủ nghĩa nhân văn (humanism) có nguồn gốc sâu xa từ “humanus” (con người) và “humanitas” (nhân tính) Do đó, Humanitas biểu thị không chỉ “phục hồi”, mà còn “tôn vinh” con người Từ nửa sau thế kỷ XVIII trở
đi, thuật ngữ chủ nghĩa nhân văn trở thành một trong những từ phổ biến, đề cập đến các lĩnh vực đạo đức, văn hóa, chính trị, mang những thông điệp lý tưởng về quyền con người” [68, 2]
Ngoài ra, phong trào văn hóa Phục hưng còn chống lại giáo hội và giai cấp quý tộc phong kiến với những tư tưởng của nó Cuộc đấu tranh vừa quyết liệt, vừa ôn hòa trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng của giai cấp tư sản nhằm chống lại giai cấp phong kiến và giáo hội Họ lên án, đả kích, châm biếm sự tàn bạo, dốt nát, giả nhân giả nghĩa của các giáo sĩ và quý tộc phong kiến với những tư tưởng của nó đưa văn hóa thoát khỏi tôn giáo,
Trang 27thoát khỏi thần học Họ phủ nhận quan niệm của Giáo hội cho Thượng đế
là trung tâm Nếu như Giáo hội chỉ chú trọng đến cuộc sống thần linh và thế giới bên kia, xem nhẹ con người, tuyên truyền lối sống khổ hạnh, bóp chết tình cảm tư tưởng, lý trí của con người thì các nhà nhân văn chủ nghĩa thời Phục hưng đề cao con người, cho con người là quý nhất Bên cạnh việc tán dương vẻ đẹp và đề cao trí tuệ tài năng, các chiến sĩ Phục hưng còn chủ trương chú trọng đến quyền tự do của con người Con người phải hưởng mọi lạc thú ở đời, ở “thiên đường trần gian” không phải chờ đến khi chết Nhiều nhà nhân văn chủ nghĩa đã nói lên lòng yêu thương quần chúng, mô
tả cảnh khổ cực của quần chúng, đứng hẳn về phía quần chúng trong cuộc đấu tranh chống bóc lột
Bên cạnh đó, tinh thần chống lại những quan điểm phản khoa học
và chủ nghĩa duy tâm cũng là một trong biểu hiện của Phong trào văn hóa Phục hưng Bất chấp tòa án và giàn thiêu của Giáo hội, các nhà khoa học
đã đứng về phía chân lý, bảo vệ sự thật Trên cơ sở sự phát triển của khoa học và triết học duy vật, phong trào văn hóa Phục hưng giáng những đòn quyết định vào thần học và triết học Kinh viện, làm lung lay uy quyền của Giáo hội, góp phần làm cho quần chúng tỉnh ngộ trước những mê hoặc của tôn giáo Phong trào văn hóa Phục hưng là tấm gương phản chiếu sức sống mãnh liệt của xã hội Tây Âu thời bấy giờ và đạt được những thành
tựu rực rỡ về mọi mặt Lần đầu tiên, quyền con người được đề cao, sự
sáng tạo và tài trí được ngưỡng mộ Điều đó đã tạo ra cho xã hội và mỗi con người một sức sống mới, một chất lượng mới Vì thế, sức sản xuất mới ngày càng phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy các cuộc cách mạng chính trị bùng nổ, để đi đến sự chiến thắng đối với chế độ cũ, như sự bừng tỉnh sau đêm trường Trung cổ
Trong triết học Phục hưng, chủ nghĩa nhân văn có tác dụng tích cực
Trang 28đến các lĩnh vực của nhận thức và hoạt động xã hội như văn chương, nghệ thuật, khoa học, kể cả tôn giáo Các nhà nhân văn đem đối lập hình ảnh con người cá nhân sáng tạo với sự hòa tan cá nhân vào cái chung, đối lập năng lực tự do lựa chọn với những chuẩn mực đạo đức giáo điều Với quan niệm con người là trung tâm của vũ trụ, các nhà nhân văn dành sự quan tâm đáng
kể đến việc xây dựng thiết chế xã hội lý tưởng phục vụ con người Tuy các phương án cải cách đời sống xã hội dù còn sơ lược, nhưng có tác dụng tích cực đến sự hình thành tư tưởng khai sáng ở thời đại sau Có thể thấy, những chuyển biến kinh tế, chính trị - xã hội thuận lợi đã khơi dậy tinh thần tranh luận và ý chí khám phá trong triết họ ự tác động của chủ nghĩa nhân văn lên nghệ thuật Phục hưng là rất to lớn Chủ nghĩa nhân văn tập trung vào những lợi ích, giá trị, phẩm giá của con người trở thành phổ biến trong thời kỳ Phục hưng Phẩm giá và giá trị của cá nhân được nhấn
mạnh Lúc bấy giờ, nhiều nhà khoa học đồng thời là những nhà tư tưởng
tiêu biểu của thời đại
Tính chất thế tục hóa, phi tôn giáo cũng là đặc điểm nổi bật của văn hóa Phục hưng Thể hiện ở quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa kinh viện
và thần quyền, chuyển sự quan tâm từ Thượng đế sang thế giới, từ những vấn đề xa rời thực tiễn sang những vấn đề của chính con người, giải phóng từng bước triết học ra khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, thần học Ở đây, không chống tôn giáo, mà làm cho những vấn đề của tôn giáo trở thành những vấn
đề của con người, con người sống, hoạt động, sáng tạo và hưởng thụ các thành quả của hoạt động, đó là ý nghĩa của phi tôn giáo
Như vậy, sự đấu tranh trong thời đại này, thể hiện chủ yếu trong cuộc đấu tranh của chủ nghĩa nhân văn chống lại tư tưởng phi nhân văn Sự phân cực thế giới quan giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không quyết liệt và gay gắt như ở thời cổ đại và cận đại; điều này phù hợp với
Trang 29mục đích của thời Phục hưng, cụ thể là của văn hóa nhân văn Phục hưng Hơn nữa, những người tham gia phong trào này không phải là các triết gia đúng nghĩa, mà là những nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu, dịch thuật, nhà khoa học, nhà hoạt động tôn giáo… có am hiểu triết học và giàu lòng nhiệt tình, mong muốn truyền bá các giá trị văn hóa và khoa học quý giá cho các tầng lớp nhân dân, trước hết là giới trí thức “Thời Phục hưng không sản sinh ra những triết gia “chuyên nghiệp” thực sự, song ở tầm mức văn hóa,
nó đã “sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lực suy nghĩ,
về nhiệt tình và tính cách, … về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng” [43, 489] Như vậy, phong trào văn hóa Phục hưng với những thành tựu của mình đã đem lại một ý nghĩa vô cùng to lớn Với tính chất tiến bộ nó mở ra cho xã hội Tây Âu một chân trời mới, bước đầu xóa
bỏ những xiềng xích về tư tưởng trói buộc con người, đem lại tự do cho họ bất chấp mọi trở lực của tòa án tôn giáo và pháp luật Trung cổ Con người được tự do phát triển, được đến với thiên đường ngay trên trần gian chứ không phải trong một khái niệm trừu tượng Có thể nói, văn hóa Phục hưng
là phong trào phá tan những tăm tối thời Trung cổ Những bức rào ngăn cách của nhãn quan cũ bị đập tan, đưa đến cái nhìn mới hơn
Có thể tóm lại, Phục hưng là thời đại chuyển tiếp từ chế độ phong kiến sang chủ nghĩa tư bản, mà ở bất kỳ thời chuyển tiếp nào cũng đều có diện mạo của mình, với những đặc trưng và nội dung ghi đậm dấu ấn của buổi giao thời lịch sử, vừa liên hệ với quá khứ, vừa báo trước tương lai Tính chất này được xem xét trên nền chung của những chuyển biến xã hội, khi cái mới xuất hiện ngay trong lòng xã hội cũ, đóng vai trò là cái mở đường, song chưa đủ khả năng vượt qua hoàn toàn cái đang tồn tại, đang đóng vai trò chuẩn mực trong xã hội đó, thì cái mới lúc bấy giờ như: Chủ nghĩa nhân văn, tư tưởng khoa học, quan điểm chính trị thế tục buộc phải
Trang 30sử dụng hình thức cũ để thể hiện khát vọng và thiên hướng của mình Tính
chất chuyển tiếp tư tưởng gắn liền với sự nhận thức lại các giá trị hiện tồn,
các giá trị đang được xem là chân lý phổ biến, hiển nhiên, biến thành thói quen ý thức ở con người, khó bị loại bỏ ngay lập Nếu không diễn ra quá trình nhận thức lại thì sẽ không có sự xuất hiện những học thuyết, những tư tưởng mang tính đột phá, vượt qua những cấm đoán, định kiến và chủ nghĩa giáo điều Có thể nhận thấy quá trình này qua chủ nghĩa nhân văn, những khám phá khoa học, phong trào cải cách tôn giáo Tính đa dạng, phức tạp và đầy mâu thuẫn của thời kỳ chuyển tiếp trong tư tưởng phản ánh tính phức tạp và mâu thuẫn của các quan hệ xã hội
Cuối cùng, chúng ta có thể thấy từ những biến đổi cơ bản về kỹ thuật
và kinh tế - xã hội của thời đại tạo nên những hệ quả sâu sắc trong lĩnh vực đời sống tinh thần của các nước Tây Âu lúc bấy giờ là thời đại của những trận chiến tư tưởng vĩ đại, của nỗ lực sáng tạo trong con người, thời đại mà theo Engels “cần đến những người khổng lồ và sản sinh ra những người khổng lồ về năng lực suy nghĩ, nhiệt tình và tính cách, về tính đa diện và mặt uyên bác” [43, 460] Tư tưởng nhân văn và khai sáng thể hiện rõ trong quan điểm lịch sử - xã hội và con người Tư tưởng đó có nguồn gốc sâu xa
từ thời cổ đại, được tiếp tục phát triển, cải biến và hoàn thiện trong các học thuyết triết học thế kỷ tiếp sau
Có thể, văn hóa Phục hưng chưa phá vỡ ngay tư tưởng Kitô giáo và thần quyền nhưng nó đã đưa khoa học và giáo dục mang tính thế tục lên vị trí hàng đầu, nhấn mạnh thái độ phủ nhận đối với tri thức kinh viện, thần học Nhưng, đặc trưng chung quan trọng nhất của hệ tư tưởng này là hướng
sự quan tâm đến quyền cá nhân, những quyền từng bị nền đạo đức tôn giáo
và phong kiến phản động xem nhẹ hoặc chà đạp, và đòi hỏi sự phát triển toàn diện và hài hòa của cá nhân Ta có thể nhận thấy dấu ấn chủ nghĩa
Trang 31Phục hưng trong cái tôi duy lý, cái tôi tư duy của Descartes, đấu tranh vượt qua cái gọi là tư duy chuẩn mực của thời Trung cổ Tiếp thu tinh thần của chủ nghĩa nhân văn, triết học Descartes thể hiện tư tưởng tôn vinh, đề cao con người, xem con người là điểm xuất phát và mục đích cuối cùng, khẳng định quyền lực của con người trước tự nhiên và việc giải phóng con người khỏi những uy quyền tư tưởng của thời đại
ải cách tôn giáo ở Thời kỳ trung đại, Giáo hội là một thế lực lớn ở Tây Âu không những nắm “phần hồn” mà còn nắm
cả “phần xác” của nhân dân Uy quyền của Giáo hội bao trùm cả Tây Âu, cản trở sự phát triển của văn hóa, khoa học kỹ thuật Bước sang thế kỷ XVI, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã hình thành, chiếm ưu thế trong nền kinh tế xã hội, tấn công vào nền tảng của xã hội phong kiến Giai cấp tư sản đang lên muốn phá bỏ những cản trở trên con đường phát triển, một mặt muốn chống lại Giáo hội và chế độ phong kiến nhưng mặt khác cũng muốn dựa vào thế lực phong kiến và Giáo hội để phục vụ cho việc phát triển kinh
tế và bóc lột nhân dân Giai cấp tư sản mong muốn “cái áo” tôn giáo phải được sửa sang lại cho phù hợp với mục đích và lối sống của giai cấp mình
Đó chính là nguyên nhân bùng nổ phong trào Cải cách tôn giáo ở Tây Âu
Phong trào cải cách tôn giáo ở Đức, người khởi xướng là giáo sư thần học Martin Luther (1483 - 1546), đưa đến sự ra đời một số tôn giáo, trong đó có đạo Tin lành phản ứng trước giáo quyền Rome và đòi hỏi một số cải cách đụng chạm đến tư tưởng Kitô nguyên bản Luther là người châm ngòi cho phong trào cải cách tôn giáo và khởi nghĩa nông dân ở Đức và Canvil đã ủng hộ phong trào cải cách tôn giáo ở Thụy sĩ Tư tưởng cải cách tôn giáo của họ được giai cấp tư sản châu Âu tiếp nhận một cách nồng nhiệt Tầng
Trang 32lớp quý tộc mới, thị dân và thợ thủ công hưởng ứng phong trào này Còn quý tộc phong kiến, giáo hội vẫn kiên quyết bảo vệ tôn giáo cũ Do đó, xung đột tư tưởng, xung đột tôn giáo đã xảy ra quyết liệt, gay gắt
Ngày 31 tháng 10 năm 1517, Luther công bố “95 luận đề” tại Thánh đường Wittenberg, phê phán giới tăng lữ lộng quyền, sống sa hoa trên nỗi khổ của tín đồ, và đòi hỏi Giáo hoàng xử tội những kẻ lợi dụng niềm tin để
hà hiếp dân chúng, cải cách sinh hoạt tôn giáo Tư tưởng Luther chủ yếu dựa vào những lý tưởng Kitô giáo sơ kỳ và các tác phẩm của Augustine Song, ông phủ nhận tham vọng của giới tăng lữ đòi nắm giữ vai trò lãnh đạo đời sống tinh thần của tín đồ Theo ông, con người đạt được sự cứu rỗi không vì những nghi lễ rườm rà, những hành vi sùng bái phức tạp, mà chỉ
vì một niềm tin Quan niệm của Luther đã hạn chế sự lộng quyền của Giáo hội Bởi lẽ, nó cho phép tín đồ được lựa chọn giáo phái Với các tôn giáo cải cách, mối liên hệ giữa đạo và đời ngày càng mở rộng Hơn nữa, tôn giáo cũng gắn với quá trình hình thành các quốc gia dân tộc hiện đại Phái Luther, hình thành vào khoảng năm 1580, đẩy mạnh hơn quá trình này, nó tước bỏ vai trò chính trị của nhà thờ cải cách, đặt nhà thờ trong sự lệ thuộc vào nhà nước Tôn giáo Luther được truyền bá rộng rãi ở Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển, và các nước châu Âu khác như Ba Lan, Hungary, Anh, Pháp,… Phong trào cải cách tôn giáo thành công ở một số nước phát triển Tây Âu đã làm tổn thất nặng nề về tín đồ và tài sản của Giáo hội La Mã Cơ đốc giáo một mặt phản ứng quyết liệt, đàn áp tân giáo, mặt khác đã có những cải cách để thích nghi với tình hình mới
Trong nửa đầu thế kỷ XVI, ở Tây Âu nhiều giáo phái mới đã ra đời, tuy ở những nước khác nhau, những điểm giáo lý cụ thể có khác nhau nhưng đều có nét chung là chủ trương đơn giản hóa các nghi lễ, cắt đứt quan hệ với Giáo hoàng và tòa thánh La Mã, xóa bỏ chế độ độc thân cho
Trang 33các mục sư, chỉ tin vào kinh Phúc Âm Sự cải cách tôn giáo này đã giáng một đòn mạnh vào thành trì của chế độ phong kiến và Giáo hội, mở đường cho lịch sử tiến lên
Tác dụng tích cực đối với cuộc đấu tranh của các lực lượng xã hội tiến bộ chống thần quyền, làm lung lay nền chuyên chính tinh thần của giáo hội Tác dụng tích cực đến phong trào nhân văn: Nó kêu gọi tín đồ đơn giản hóa nghi lễ, đến với Chúa chỉ vì một đức tin và phê phán tình trạng lãng phí, lối sống sa hoa, hưởng lạc của giới tăng lữ, chủ trương cuộc sống giản
dị, tiết kiệm, biết tích lũy, phù hợp với thời đại tư bản đang hình thành Tư tưởng khoan dung tôn giáo cho phép tín đồ tự do lựa chọn giáo phái, bình đẳng trong sinh hoạt, gắn kết lợi ích tín đồ với lợi ích quốc gia tạo nên sự phân cực mới trong lực lượng tôn giáo và chính trị Tây Âu Đây là ý nghĩa thế giới quan và ý nghĩa chính trị – xã hội của Phong trào cải cách tôn giáo
Như vậy, với thế giới quan mới và những đột phá cơ bản trong đời sống xã hội, phong trào cải cách tôn giáo giáng đòn mạnh vào Thiên chúa giáo và chủ nghĩa thầy tu Ý thức hệ của phong trào cải cách tôn giáo về hình thức là sự phản kháng chống lại tổ chức giáo hội và hệ tư tưởng của Thiên chúa giáo Trung cổ, về nội dung thì chống lại trật tự chính trị - xã hội phong kiến đang tồn tại Nó phản ánh trước hết khát vọng của giai cấp
tư sản thoát khỏi xiềng xích của Thiên chúa giáo như vũ khí của trật tự phong kiến, và từ đó hợp thức giáo hội riêng, mang đậm tính tư sản Phong trào cải cách tôn giáo thể hiện cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống chế độ phong kiến, giáo hội trên lĩnh vực tư tưởng, tôn giáo Đây là cuộc đấu tranh phức tạp quyết liệt lôi cuốn mọi giai tầng xã hội đứng vào chiến tuyến Giáo hội Thiên chúa giáo vốn là chỗ dựa, là sức mạnh tinh thần của chế độ phong kiến, củng cố sự vững bền của vua chúa Nhà thờ
đã đóng vai trò to lớn trong việc che chở cho ách thống trị của chế độ
Trang 34phong kiến suốt hàng ngàn năm Vì vậy, muốn lật đổ chế độ phong kiến, giai cấp tư sản trước hết cần phải tấn công vào giáo hội, nhằm tước bỏ và làm suy yếu vị thế sức mạnh tinh thần của giáo hội, và sau đó là tấn công vào cơ sở kinh tế của giáo hội
Sự thống trị của tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa giáo cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển triết học thời Phục hưng và cận đại Mặc dù dưới hình thức hư ảo và thần bí, nhưng các quan niệm tôn giáo đề cao giá trị và sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới Bên cạnh một số giá trị tích cực, các quan niệm thần học và tôn giáo nhìn chung là một trở ngại lớn đối với sự phát triển của triết học và khoa học thời Phục hưng và cận đại Vì vậy, xu thế chung của triết học và khoa học thời kỳ này
là đấu tranh chống lại các quan niệm tôn giáo thần bí, dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của thần học và giáo hội
Những biến cố to lớn diễn ra trong thế kỷ XV - XVI là phong trào Văn hóa Phục hưng; các cuộc phát kiến địa lý vĩ đại và những hậu quả kinh
tế, thương mại và xã hội phát sinh sau đó; phong trào cải cách tôn giáo đã làm lung lay tận gốc rễ chế độ phong kiến Trật tự và cấu trúc xã hội phong kiến bị tiến công trên nhiều mặt Vị thế độc quyền của Giáo hội Công giáo
La Mã không còn Các nhà văn, nhà tư tưởng Phục hưng mạnh dạng bày tỏ những khát vọng cá nhân, bất chấp những khát vọng này đi ngược lại với quan điểm của Giáo hội và không có lợi cho vị thế của các giai cấp thống trị Thế kỷ XVII - XVIII chứng kiến những tiến bộ có tính chất cách mạng trong hai lĩnh vực tư tưởng và khoa học Sự tiến bộ này góp phần không nhỏ vào việc làm bùng lên các cuộc cách mạng tư sản, lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến và dựng lên các thể chế dân chủ tư sản
Phong trào cải cách tôn giáo có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn, đó là: Thông qua đó, hàng loạt nhà nước non trẻ tại châu Âu có điều kiện củng
Trang 35cố tính độc lập Trong thời Trung cổ, giáo hội Thiên chúa La Mã đã đem lại ảnh hưởng chính trị mạnh mẽ, là một sức mạnh tư tưởng chủ đạo và thành trì vững chắc của chế độ phong kiến Tuy nhiên, thông qua các biến động chính trị - xã hội, văn hóa và tôn giáo, nền chuyên chế tinh thần của giáo hội bị đập tan, bản đồ chính trị châu Âu được xác định lại phù hợp với xu thế vận động của chủ nghĩa tư bản Như vậy, cùng với sự hình thành chủ nghĩa tư bản, những phong trào cách mạng rộng khắp, những cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt của các khuynh hướng khác nhau đã trở thành một trong những tiền đề cho việc giải phóng con người hướng đến tự do Đây là bước ngoặt tiến bộ vĩ đại trong lịch sử nhân loại, tuy nhiên, đây cũng là quá trình phức tạp do những hạn chế của giai cấp tư sản Cải cách tôn giáo đã dẫn đến việc đặt ra các vấn đề triết học theo hướng mới Cũng giống như tôn giáo, triết học đã quyết định đổi mới năng lực nhận thức của lý tính con người bằng con đường quay về với các cơ sở đơn giản của nhận thức
Đối với Descartes, phong trào cải cách tôn giáo đã hình thành quan điểm về sự dung hòa tri thức và niềm tin, khoa học và tôn giáo, nhưng ông nhấn mạnh vai trò của tri thức trong thực tiễn, còn niềm tin thì có tác dụng trong tôn giáo Triết học cận đại quan tâm các vấn đề trần tục mà không phải các vấn đề thần học Từ đó, làm cho những tư tưởng trở nên hữu ích trong hệ thống tri thức trên cơ sở lý tính đã được đổi mới
1.2 TIỀN ĐỀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN CỦA DESCARTES
1.2.1 Tiền đề khoa học tự nhiên hình thành nhận thức luận của Descartes
Ngoài những biến đổi tích cực trong đời sống tinh thần thì những thành quả của khoa học tự nhiên cũng được xem như tiền đề quan trọng cho cách tiếp cận mới về tri thức trong triết học Descartes Ở thời kỳ này,
Trang 36cơ học cùng với toán học chiếm vị trí thống trị trong các lĩnh vực khoa học
Cơ học đã đem đến cho khoa học tự nhiên tính chất máy móc của nó và điều đó cũng tác động đến cả tư duy Engels khẳng định: “Ngành khoa học
tự nhiên cơ bản nhất, tức là ngành cơ học về các vật thể trên trái đất và các thiên thể giữ vị trí hàng đầu” [43, 462] Thời Phục hưng, tại các nước Tây
Âu thiên văn học với tính cách là cơ học về các vật thể vũ trụ cùng với sự phát triển của nó mang lại cho con người những hiểu biết hoàn toàn khác với các quan niệm thống trị trong xã hội trước đây về vũ trụ, tạo tiền đề cho tinh thần khám phá khoa học, bác bỏ luận thuyết của tôn giáo và thần học hướng con người đến nhu cầu thực tiễn Thuyết Địa tâm của Ptolemei (khoảng 90 – khoảng 160) đang thống trị Ông là nhà thiên văn học người
Hy Lạp, tin rằng trái đất nằm ở trung tâm vũ trụ, còn mặt trời, mặt trăng, các vì sao và những hành tinh khác xoay chung quanh nó Trong khoảng thời gian hơn 1000 năm, mọi người đều tin vào quan điểm của Ptolemei về
vũ trụ và gọi nó là thuyết Vũ trụ địa tâm Thuyết này được Giáo hội Công giáo chấp nhận vì cho rằng Thượng đế tạo dựng vũ trụ nhằm phục vụ con người Trái đất là nơi con người sinh sống, là trung tâm Thế kỷ XVI, thuyết Địa tâm bị đánh đổ bởi hàng loạt nhà khoa học, mà người mở đầu là Copernicus rồi đến Bruno, Galilei và Kepler
Nicolaus Copernicus (1473 – 1543), cuộc cách mạng đã bùng nổ với nhà thiên văn học người Ba Lan này, “người đã bắt mặt trời dừng lại và đẩy cho trái đất quay” như những lời ghi trên tượng đài của ông ở Warsaw Qua nhiều năm nghiên cứu, ông đã nêu ra một thuyết về vũ trụ chống lại thuyết của nhà thiên văn học cổ đại Ptolemei đã ngự trị ở châu Âu suốt 14 thế kỷ Ông là một trong những người đầu tiên nhận thấy thuyết địa tâm chẳng những không giải thích được nhiều hiện tượng thiên văn học, mà còn là chỗ dựa cho thần học và giáo hội chống lại khoa học
Trang 37Kết quả hàng thập kỷ lao động của ông được thể hiện trong bộ sách
Về chuyển động quay của các thiên thể (De revolutionibus orbium coelestium) xuất bản lần đầu tiên năm 1543 Trong đó trình bày quan
điểm và những lý giải của ông về hệ thống nhật tâm đồng thời đưa ra danh mục các ngôi sao (định tinh) cũng như mô tả chuyển động biểu kiến của mặt trời, mặt trăng và các hành tinh Tuy nhiên, do cho rằng các hành tinh chuyển động tròn đều nên hệ thống của Copernicus còn chưa đạt độ chính xác cao và sau này Kepler, Newton tiếp tục hoàn thiện Hệ thống Copernicus dựa trên sự quả quyết rằng trái đất quay quanh chính nó một vòng trong một ngày và quay quanh mặt trời một vòng trong một năm Ngoài ra, những hành tinh khác cũng ở xung quanh mặt trời Như vậy, trái đất có sự tiến động trên trục của nó khi nó quay Thuyết của Copernicus
có ưu điểm hơn thuyết của Ptolemei ở chỗ giải thích được sự chuyển động hàng ngày của mặt trời và sao do chuyển động của trái đất xung quanh chính nó và chuyển động của mặt trời hàng năm do sự chuyển động của trái đất quanh mặt trời Ông giải thích được chuyển động bề ngoài có vẻ ngược sao Mars, Jupiter, Saturne, Mercure và Vénus giữ nguyên độ xa đối với mặt trời Ngoài ra, thuyết Copernicus đưa ra một bảng thứ tự mới của các hành tinh tùy chu kỳ quay vòng của chúng Hệ thống Copernicus khác
hệ thống Ptolemei là bán kính quỹ đạo của hành tinh càng lớn thì càng cần nhiều thời gian hơn để hành tinh đó quay một vòng quanh mặt trời Có vài thuyết của ông được chấp nhận nhưng “trung tâm mặt trời” bị bác bỏ hay
bị xem như không biết
Học thuyết của Copernicus lúc đầu không gây được sự chú ý của nhiều người, dư luận không tin, còn các nhà thiên văn học không coi đây là một công trình nghiêm túc, vì nó trái ngược với những gì họ quan sát được Chẳng hạn, nếu theo Copernicus các vì sao lẽ ra phải được nhìn thấy ở
Trang 38những vị trí khác nhau vào các thời điểm khác nhau trong năm Nhưng đó lại không phải là điều mà người ta quan sát được Copernicus cũng không đưa ra được những lời giải thích thỏa đáng về một số hệ quả phát sinh từ học thuyết của ông, chẳng hạn, người ta không hiểu tại sao những vật thể tồn tại trên mặt đất không bị bốc khỏi đây, nếu quả thực là trái đất đang chuyển động Tuy nhiên, tiến bộ của khoa học đã kịp thời cứu học thuyết Copernicus khỏi bị chìm vào quên lãng Mặc dù chưa lý giải được nhiều hiện tượng thiên văn nhưng thuyết nhật tâm của Copernicus có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của triết học và khoa học thời kỳ này Nó bác bỏ thuyết địa tâm của Ptolemei, và do đó giáng một đòn quyết định vào thế giới quan thần học, giải phóng khoa học tự nhiên khỏi sự thống trị của thần học Thuyết nhật tâm có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của triết học và khoa học thời kỳ này, Engels đã khẳng định: “Hành vi cách mạng mà khoa học tự nhiên dùng để tuyên bố sự độc lập của mình… chính là việc xuất bản tác phẩm trong đó Copernicus, tuy với một thái độ rụt rè… đã thách thức quyền uy của giáo hội trong các vấn đề của tự nhiên Từ đó trở đi khoa học tự nhiên mới bắt đầu được giải phóng khỏi thần học” [43, 461]
Giordano Bruno (1548 – 1600), nhà triết học, vũ trụ học người Ý,
ông đã tán thành và phát triển học thuyết của Copernicus về vũ trụ Ông cho rằng, không chỉ trái đất mà cả mặt trời cũng tự quay quanh trục của nó
và còn có nhiều hành tinh quay quanh mặt trời mà con người chưa biết đến Trong vũ trụ có vô số những ngôi sao tương tự mặt trời cũng như những thế giới khác giống như trái đất Chính bởi những tư tưởng khoa học chân chính mà ông bị giáo hội kết tội Bruno cũng vốn là một giáo sĩ, nhưng trong khi giáo hội cấm lưu hành tác phẩm của Copernicus thì ông lại phát triển thêm một bước Ông cho rằng, vũ trụ là vô tận, mặt trời không phải là trung tâm của vũ trụ mà chỉ là trung tâm của thái dương hệ chúng ta, ngoài
Trang 39ra còn có rất nhiều thái dương hệ khác Ông còn chứng minh, vật chất luôn luôn vận động, luôn luôn biến đổi và tồn tại vĩnh viễn Hàng loạt tiên đoán
mà chỉ sau này mới được thiên văn học luận chứng: các vì sao là những mặt trời xa xôi, sự tồn tại của những hành tinh chưa được biết đến trong hệ mặt trời, vũ trụ vô hạn, không có trung tâm bất biến
Bruno đã nêu ra quan điểm về tính thống nhất vật chất của vũ trụ: Mọi vật đều nằm trong vũ trụ và ngược lại vũ trụ nằm trong mọi vật, vũ trụ
là vô tận Quả đất chỉ là một hạt bụi nhỏ trong vũ trụ vô tận, không có hành tinh nào là trung tâm của vũ trụ, sự sống và con người có thể có trong nhiều hành tinh khác, không có chúa trời nào thống trị vũ trụ cả Tư tưởng biện chứng của ông đã vượt xa các nhà triết học Hy Lạp cổ đại vì ông đã dựa trên thành tựu toán học và cơ học của thời đại mình Theo ông, trong tự nhiên cái lớn nhất và cái nhỏ nhất phù hợp với nhau, thống nhất với nhau Ông phân biệt ba cái nhỏ nhất: trong toán học là điểm, trong vật lý là nguyên tử, trong triết học là đơn tử Phù hợp với cái đơn tử là cái lớn nhất
về triết học – giới tự nhiên vô cùng vô tận Việc xem xét cái lớn nhất với cái nhỏ nhất trong sự thống nhất của chúng giúp phát hiện đúng bí mật của thế giới Chống lại uy quyền của giáo hội, ông phủ nhận cả chân lý thần học lẫn quan niệm thừa nhận chân lý thịnh hành thời Trung cổ và Phục hưng, khẳng định tồn tại duy nhất một dạng chân lý duy nhất do triết học
và khoa học khám phá Khoa học không thể chấp nhận một sự sùng bái cá nhân hay một tư tưởng giáo điều nào cả Bản thân thuyết nhật tâm Copernicus là một thuyết tiến bộ cần phải ủng hộ, nhưng cũng không nên quá sùng bái Khi đề cập đến vấn đề con người, Bruno đặc biệt đề cao khả năng nhận thức trí tuệ Ông cho rằng, cơ sở của nhận thức là hoài nghi Nhận thức là quá trình thống nhất, đi từ cảm giác đến biểu tượng, trí năng,
lý tính, là quá trình không ngừng vươn đến sự chiêm nghiệm tối thượng ở
Trang 40trình độ trực giác trí tuệ Bruno có nhiều quan niệm cách mạng, tiên đoán trước nhiều vấn đề của khoa học tương lai Các quan niệm tiến bộ của ông sau này được nhiều nhà khoa học tích cực ủng hộ Bản thân vấn đề liệu có tồn tại nền văn minh ngoài trái đất hay không là đề tài sôi động của các thời đại Khoa học hiện nay đã và đang chứng thực nhiều tư tưởng sâu sắc của Bruno Về triết học, nhiệm vụ của lý trí là phản ánh một cách logic cái vật
lý, làm sáng tỏ cái vật lý là hình ảnh của vũ trụ siêu hình Tòa án của giáo hội đã quyết án tử hình Bruno, thiêu sống ông trên Quảng trường hoa ở La
Mã chỉ vì Bruno đấu tranh bảo vệ học thuyết Copernicius và bảo vệ quan điểm duy vật về thế giới Năm 1889 tại nơi Bruno bị thiêu sống người ta đã dựng tượng kỷ niệm vị thánh đã tuẫn tiết vì khoa học Học thuyết nhật tâm được củng cố thêm nữa bởi một nhà thiên văn học vĩ đại Galilei
Galileo Galilei (1564 -1642) là nhà thiên văn học, vật lý học, toán học và triết học người Ý, đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học Ông đã có những thành tựu đóng góp vĩ đại cho nhân loại về những cải tiến kính thiên văn và các quan sát thiên văn Ông là người mở đầu cho sự phát triển khoa học thực nghiệm và toán học cận đại với nhiều phát minh quan trọng và tiếp tục phát triển quan điểm của Copernicus và Bruno Ông là người đầu tiên dùng kính viễn vọng phóng to gấp 30 lần để quan sát bầu trời, phát hiện ra các vệ tinh, quan sát mặt trời, mặt trăng,… Ông đã chứng minh rằng mặt trăng cũng là một hành tinh giống như quả đất, bề mặt của nó cũng có núi non gồ ghề Ông còn phát hiện được thiên
hà là do vô số vì sao tạo thành, giải thích được cấu tạo của sao chổi Galilei cũng là người mở đầu cho ngành khoa học thực nghiệm, phát hiện
ra các định luật rơi thẳng đứng và giao động của các vật thể Galilei đã có nhiều đóng góp cho cơ học, đặc biệt là quy luật quán tính, lực rơi và gia tốc trọng trường