1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề nhận thức luận trong tác phẩm bút kí triết học của v i lênin

75 152 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 586,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề nhận thức luận trong tác phẩm “Bút kí triết học” đã trang bị cho các nhà triết học duy vật biện chứng cách xem xét, đánh giá lịch sử tư tưởng triết học một cách trung thực và nhận

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TÁC PHẨM

“BÚT KÍ TRIẾT HỌC” CỦA V.I.LÊNIN

Giáo viên hướng dẫn : Ths Dương Đình Tùng

Sinh viên thực hiện : Trần Thị Mỹ Hạnh

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này bản thân chúng tôi cần có sự nổ lực và cố gắng,nhưng trước hết phải nói đến sự tận tình hướng dẫn, giúp đỡ của Th.S Dương Đình Tùng Bằng tâm huyết và nhiệt tình của người giáo viên thầy đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ đưa ra những nhận xét đánh giá cho khóa luận của chúng em được hoàn thiện

Qua đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trong Khoa GiáoDục Chính Trị - Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng, Khoa Lý Luận Chính Trị - Đại Học Kinh Tế Đà Nẵng, cùng toàn thể các bạn sinh viên trong khoa đã góp ý, giúp đỡcho chúng tôi hoàn thành khóa luận

Tuy nhiên, do đây là lần đầu tiên chúng tôi tham gia làm khóa luận, do hạn chế về tri thức và hiểu biết, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy cô và các bạn sinh viên cùng những ai quan tâm đến đề tài khóa luận này, để đề tài ngày càng được hoàn thiện hơn

Đà nẵng, ngày 24 tháng 4 năm 2016

Trang 3

Danh mục các từ viết tắt

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

V.I.Lênin, vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản và toàn thể nhân loại cần lao trên thế giới – Người đã vận dụng thành công lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen trong thực tiễn cách mạng Nga Từ lập trường duy vật biện chứng, Lênin đã tổng kết những thành tựu của khoa học tự nhiên, vạch trần sự xuyên tạc của Makhơ vềphạm trù vật chất trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, qua đó phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng lên tầm cao mới

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỷ XX cùng với những biến đổi lớn về kinh tế, chính trị - xã hội , khi CNTB phát triển thành CNĐQ sự bóc lột của giai cấp tư sản ở các nước phương Tây ngày càng trở nên gay gắt Do nhu cầu mở rộng thị trường, cướp đoạt tài nguyên giai cấp tư sản đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược các nước chậm phát triển ở Châu Á, Châu Phi, v.v Từ đó những mâu thuẫn trên thếgiới ngày càng trở nên gây gắt, ngoài mâu thuẫn giữa giai cấp Tư sản và giai cấp

Vô sản đã xuất hiện thêm mâu thuẫn giữa CNĐQ phương Tây với các dân tộc thuộc địa bị áp bức Lúc này phong trào công nhân trên thế giới đòi hỏi phải có một định hướng cách mạng khoa học để chống lại hệ tư tưởng của giai cấp Tư sản.Trong giai đoạn này, khoa học tự nhiên đặc biệt là vật lý học đã phát triển nhanh chóng và trở thành cuộc cách mạng cận đại trong khoa học tự nhiên Những

phát hiện mới trong vật lý học, đặc biệt việc phát hiện ra điện tử đã làm đảo lộn

nhiều khái niệm nguyên lý trong triết học và khoa học tự nhiên cụ thể là vật lý học,

cụ thể là khái niệm vật chất Trước những biến đổi trên, với tinh thần sáng tạo và

sự kiên định của mình, Lênin đã bảo vệ, phát triển toàn diện chủ nghĩa Mác và nâng triết học Mác lên một tầm cao mới – trở thành triết học Mác - Lênin Trong các tác phẩm như: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán; Bút kí triết học; Bàn về phép biện chứng, v.v Lênin đã đưa ra các tư tưởng triết học dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng đang diễn ra và những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên, bổ sung, phát triển phép biện chứng mácxit Lênin

đã có những đóng góp lớn lao trong sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, đấu tranh cho

Trang 5

hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc Di sản Lênin để lại cho nhân loại tiến bộ

và vô cùng to lớn cả trên phương diện thực tiễn và lý luận

Trong tác phẩm “Bút kí triết học”, Lênin tiếp tục nghiên cứu, làm sâu sắc thêm những quy luật, phạm trù của PBCDV Ông phân tích sâu sắc về nguyên lý sựthống nhất giữa PBC, logic học và lý luận nhận thức, chỉ ra nguồn gốc của nhận thức.v.v Vấn đề nhận thức luận trong tác phẩm “Bút kí triết học” đã trang bị cho các nhà triết học duy vật biện chứng cách xem xét, đánh giá lịch sử tư tưởng triết học một cách trung thực và nhận thức về sự vận động phát triển của khoa học tựnhiên theo tinh thần liên hệ và phát triển Những người mác-xít xem bút kí triết học

là một trong những tác phẩm mang nội dung sâu sắc, giúp họ vững vàng hơn trong cuộc luận chiến tư tưởng của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Tư tưởng triết học của Lênin trong bút kí triết học có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng

để nghiên cứu các quy luật xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa

Giá trị về nhận thức luận trong tác phẩm không chỉ trong giai đoạn Lênin, mà ngày nay những tư tưởng đó vẫn đóng vai trò phương pháp luận trong nhận thức khoa học, và đối với Việt Nam trong tiến trình xây dựng đất nước quá độ lên chủnghĩa xã hội, việc nhận thức biện chứng về các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội là điều cần thiết trong việc hoạch định chính sách phát triển của đất nước

Vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Vấn đề nhận thức luận trong

tác phẩm Bút kí triết học của V.I.Lênin” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung nhận thức luận trong tác phẩm Bút ký triết học, chỉ ra những đóng góp của Lênin đối với sự phát triển lý luận nhận thức trong chủ nghĩa duy vật biện chứng

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích trên đề tài giải quyết các nhiệm vụ sau:

Phân tích những nội dung triết học cơ bản trong tác phẩm “Bút ký triết học”.Phân tích những nội dungnhận thức luận trong tác phẩm “Bút ký triết học”.Làm rõ những đóng góp của Lênin trong tác phẩm “Bút kí triết học” về nhận thức luận đối với sự phát triển của phép biện chứng duy vật

Trang 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề nhận thức luận trong tác phẩm “Bút kí triết học” của Lênin

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tác phẩm “Bút kí triết học” của Lênin

4 Phương pháp nghiên cứu

Phép biện chứng duy được xem là phương pháp chủ đạo để nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp

Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp cụ thể sau:

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích và tổng hợp các tư liệu có liên quan, từ đó tiếp tục nhận thức và xác định các phạm trù, quy luật, để lựa chọn các thuật ngữ để biểu đạt chính xác các khái niệm

Phương pháp logic và lịch sử: nhận thức các vấn đề nghiên cứu theo đúng thời gian, không gian nó diễn ra (nhận thức đúng quá trình ra đời, phát triển và tiêu vong của các tư tưởng về nhận thức luận trong lịch sử) Sau đó thông qua phương pháp logic để đi tìm bản chất, quy luật vận động phát triển của lý luận nhận thức từ

đó chỉ ra những đóng góp của Lênin đối với sự phát triển của phép biện chứng duy vật

Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân tích, chia các vấn đề nghiên cứu ra từng bộ phận để đi sâu vào nhận thức các bộ phận đó Sau khi hiểu được các bộphận cụ thể của vấn đề nghiên cứu bắt đầu liên kết thống nhất các bộ phận đã phân tích lại để hiểu và nhận thức cái chỉnh thể của vấn đề nghiên cứu

Trang 7

6 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong chủ nghĩa Mác - Lênin lý luận nhận thức là một trong những nội dung

cơ bản của phép biện chứng, đó là lý luận nhận thức duy vật biện chứng, tức học thuyết về khả năng nhận thức của con người đối với thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn, lý giải bản chất con đường và quy luật chung của quá trình nhận thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan nhằm phục vụ hoạt động thực tiễn của con người Vì vậy, vấn đề lý luận nhận thức duy vật biện chứng được C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin quan tâm nghiên cứu, nội dung vấn đề này được thể hiện trong một số tác phẩm của các ông

Trong tác phẩm Lời nói đầu cho bản thảo kinh tế 1857- 1859, C.Mác đã vận

dụng và phát triển phép biện chứng duy vật trong việc nghiên cứu những vấn đề vềkinh tế

Trong tác phẩm Chống Đuyrinh (1878), Ph.Ăngghen đã hệ thống hóa tất cả

những nguyên lý triết học mácxit, luận chứng rõ ràng về các phạm trù, quy luật của triết học mácxit, bao gồm cả những vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử Ông chống lại đường lối trung gian của Đuyrinh, bảo vệ nguyên tắc tính đảng của triết học.Quan điểm duy vật biện chứng trong giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học thể hiện một cách sâu sắc Ông đã phát triển những luận điểm căn bản của triết học duy vật, đưa ra định nghĩa kinh điển về vấn đề vật chất và phép biện chứng, về các quy luật, các cặp phạm trù, v.v

Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Lênin

viết: trong thời kì của mình Mác và Ăngghen đã tập trung chú ý nhiều nhất để xây dựng triết học duy vật về lịch sử tức là sử quan duy vật chứ không phải là lý luận nhận thức duy vật Tuy vậy, cần phải thấy rằng Mác và Ăngghen đã đặt nền tảng ban đầu của lý luận nhận thức duy vật biện chứng Sự phát triển của khoa học tựnhiên cận đại, sự phá sản của những quan điểm vật lý cũ, cũng như quan điểm duy vật siêu hình về vật chất, kết cấu của vật chất, v.v Đòi hỏi phải xây dựng lý luận

nhận thức, phải nhận thức một loạt vấn đề về nhận thức luận Trong tác phẩm Chủ

nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Lênin đã xem xét các vấn đề về

lý luận nhận thức Trên cơ sở phê phán học thuyết bất khả tri của chủ nghĩa Makhơ,

Trang 8

Lênin rút ra một số nguyên tắc của quá trình nhận thức như sau: Thứ nhất, mọi sựvật đều tồn tại độc lập với ý thức của con người Thứ hai, không có ranh giới khác biệt về nguyên tắc giữa “hiện tượng” và “vật tự nó”.Sự khác nhau chẳng qua là giữa cái nhận thức được và cái còn chưa nhận thức được.Thứ ba, cần xem xét lý luận nhận thức từ quan điểm biện chứng, không nên cho rằng nhận thức của chúng

ta là cái có sẳn hoặc bất biến; cần xem xét nó như một quá trình từ chưa chính xác trở nên chính xác hơn như thế nào.Ba kết luận trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lý luận về nhận thức.Một mặt, Lênin đã chỉ ra một cách đúng đắn đối tượng, nguồn gốc, bản chất của nhận thức nhằm chống lại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về nhận thức Mặt khác, Lênin cũng khẳng định quan điểm khả tri về khảnăng nhận thức của con người và chống lại quan điểm bất khả tri về vấn đề này.Ngoài ra, Lênin chỉ ra tính chất biện chứng của quá trình nhận thức, chống lại quan điểm siêu hình về lý luận nhận thức

Trong tác phẩm Bút kí triết học khi nghiên cứu về vấn đề nhận thức luận

Lênin cho rằng “Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người” nhưng sựphản ánh của con người không phải là đơn giản tiêu cực, mà có tính năng động sáng tạo Lênin đứng trên lập trường duy vật khẳng định đối tượng nhận thức là giới tự nhiên tồn tại khách quan, nhận thức của con người là sự phản ánh tính thứhai mà giới tự nhiên là tính thứ nhất Lênin còn chỉ ra nhận thức của con người là một quá trình ngày càng đi sâu với thế giới tự nhiên, bằng các khái niệm, phạm trù, quy luật con người ngày càng phản ánh giới tự nhiên sâu sắc và đầy đủ hơn Lênin cho rằng nhận thức là một quá trình phát triển biện chứng qua nhiều giai đoạn “Từtrực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn- đó

là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”

Đã có nhiều sách, báo, khóa luận nghiên cứu về vấn đề nhận thức luận duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật như:

Trong Lịch sử phép biện chứng Mác- xít, giai đoạn Lênin, Nxb Tiến bộ Mát–

xcơ – va, 1987 Tập thể các tác giả đã chỉ ra nội dung của giai đoạn Lênin trong sựphát triển phép biện chứng duy vật, vạch ra sự phong phú trong tư tưởng của Lênin

Trang 9

và ý nghĩa của chúng đối với sự phân tích các quy luật của thời đại hiện nay, sựphân tích các vấn đề của cuộc cách mạng khoa học của thế kỉ XX Các tác giả đã chỉ ra việc Lênin đã đặt ra và nghiên cứu quan niệm biện chứng về phát triển, vấn

đề thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan trong quá trình lịch sử xã hội, lý luận phản ánh, vấn đề thống nhất giữa phép biện chứng, logic học và lý luận nhận thức, đến việc Lênin phân tích phép biện chứng của sự phát triển trong thời đại chủnghĩa đế quốc, phép biện chứng của chiến lược, sách lược đấu tranh cách mạng, đến việc Người nghiên cứu phép biện chứng của thời kỳ quá độ và sự hình thành xã hội xã hội chủ nghĩa

Trong cuốn Bàn về mối liên hệ lẫn nhau của các phạm trù trong triết học Mác

– xít, Nxb sự thật Hà Nội, 1961 A.P.Sép - tu - lin đã trình bày quan điểm của mình

xung quanh vấn đề mối liên hệ giữa các phạm trù, nghiên cứu các phạm trù và các quy luật của phép biện chứng duy vật trên quan điểm mối liên hệ lẫn nhau giữa

chúng Đến cuốn Phương pháp nhận thức biện chứng, trong chương IV những

nguyên tắc của phương pháp nhận thức biện chứng, A.P.Sép - tu - lin đã trình bày

và phân tích những yếu tố của phương pháp nhận thức biện chứng, những nguyên tắc quan trọng nhất nhằm định hướng con người trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn như: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc năng động, nguyên tắc toàn diện, v.v

Luận văn thạc sĩ “Lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng”, Đặng Thị Hạnh, Đại học quốc gia Hà Nội, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn,

2011 Luận văn đã nghiên cứu sự hình thành và phát triển lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng từ đó vạch ra những nội dung lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mặt lịch sử

Bài “Nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng ở Việt Nam”, Phạm Văn Đức, Tạp chí triết học, v.v Bài viết đề cập đến nội dung cơ bản về một số thành quả và vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng ở Việt Nam trên cơ

sở luận giải làm rõ các kết quả trong nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển, về cácquy luật, phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật tác giả cho rằng trong

Trang 10

nghiên cứu đó đã góp phần truyền bá thế giới quan duy vật biện chứng, xây dựng

cơ sở phương pháp cho nhận thức trong hoạt động thực tiễn

Giáo trình Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác – Ph.Ăngghen,

V.I.Lênin, Doãn chính, Đinh Ngọc Thạch đồng chủ biên, NXB Chính trị quốc gia

Hà Nội, 2008 Giáo trình đưa ra một số chỉ dẫn về phương pháp phân tích các tác phẩm kinh điển của triết học Mác – Lênin, sau đó phân tích các tác phẩm tiêu biểu của C.Mác, PH.Ăngghen và V.I.Lênin, trong đó có các tác phẩm như: “Chống Đuyrinh”; “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”; “Bút kí triết học”; “Lại bàn về công đoàn”; v.v

Bài báo “Giới thiệu về tác phẩm Bút kí triết học của Lênin”, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, 2010 Bài viết đã khái quát các vấn đề trong tác phẩm: bối cảnh lịch sử xã hội ra đời của tác phẩm; kết cấu của tác phẩm; các nội dung chính trong tác phẩm về phép biện chứng, điều kiện, nguồn gốc, bản chất của nhận thức, con đường biện chứng của nhận thức, vấn đề chân lý, vấn đề quy luật, v.v

Câu hỏi và bài tập triết học chủ nghĩa duy vật biện chứng, NXB khoa học xã

hội, 2005 Tập 2 bao gồm phần I: câu hỏi và trả lời về quy luật cơ bản của phép biện chứng; phần II: bài tập và giải đáp về quy luật cơ bản của phép biện chứng Đến tập 4 bao gồm câu hỏi và trả lời về lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các bài tập và giải đáp về lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Hoàng Mỹ Hạnh trong bài báo“Bản chất của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo khái niệm phạm trù” đã nhấn mạnh sự hình thành các khái niệm, phạm trù gắn bó hữu cơ với quá trình nhận thức Nhờ đi từ cái riêng đến cái chung,

từ hiện tượng đến bản chất, từ trừu tượng đến cụ thể, nhờ có năng lực trừu tượng hoá và khái quát hoá mà tư duy con người có thể sáng tạo nên các hình thức phản ánh thế giới một cách gián tiếp, với mức độ khái quát và trừu tượng hoá cao đó chính là các khái niệm, các phạm trù triết học (hay logic học) Những phân tích trên

đã cho chúng ta thấy vai trò to lớn của nhận thức con người trong việc sáng tạo nên cáckhái niệm, phạm trù

Trang 11

Bùi Thanh Quất trong bài “Góp thêm một vài suy nghĩ về Lý luận nhận thức Biện chứng Duy vật”, đã luận giải hiện tượng tâm linh đang tồn tại trong đời sống

xã hội nước ta hiện nay từ quan niệm duy vật biện chứng và nguồn gốc tự nhiên của ý thức, của nhận thức và từ quan điểm của V.I.Lênin về nguồn gốc nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm vật lý, về giới hạn của nhận thức con người, tác giả cho rằng, chỉ khi nào chúng ta phát hiện ra được căn cứ vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của ý thức và nhận thức thì khi đó, hiện tượng tâm linh mới không còn là bí

ẩn đối với nhận thức của nhân loại và như vậy, không phải quan niệm duy vật về nhận thức bị xóa sổ để thay thế bằng quan niệm duy tâm, mà quan niệm duy vật biện chứng về nhận thức và ý thức sẽ được giữ vững, củng cố và phát triển

Trong bài báo “Phương pháp luận nhận thức thời đại của Lênin”, Trần Ngọc Hiên đã phân tích rằng Lênin nhận thức thời đại không chỉ về mặt trình độ phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở giai đoạn mới, mà còn phát hiệnmối quan hệ giữa thời đại với nhu cầu phát triển của nước Nga Xôviết Từ phương pháp luận nhận thức như vậy mà Lênin đã dũng cảm sáng tạo ra Chính sách kinh tế mới (NEP) và hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước trong điều kiện chính quyền Xôviết, dù phải vượt qua nhiều trở ngại ngay trong đảng cầm quyền Đó chính là Phương pháp luận khoa học của Việt Nam để nhận thức thời đại và dân tộc, để hành động trong phát triển đất nước

Dương Đình Tùng – Hồng Thế Vinh, Cơ sở hình thành khái niệm trong tư duy

lý luận, tạp chí triết học số 6/ 2011 Tác giả đã chỉ ra những đóng góp của Lênin

đối với vấn đề hình thành khái niệm, sự hình thành khái niệm không chỉ là cái logic chủ quan phản ánh về cái logic khách quan, mà đó còn là hình thức chủ quan hóa cái nội dung trong tính thống nhất giữa chủ quan và khách quan

Dương Đình Tùng trong bài “Cơ sở vận động của khái niệm trong tư duy luận

và ý nghĩa thực tiễn của nó”, tạp chí sinh hoạt lý luận, số 6/2012, đã chỉ ra những nguyên nhân cơ bản trong sự vận động của khái niệm Theo tác giả sự vận động của khái niệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ ba nguyên nhân sau: đầu tiên thuộc về sự vật với tư cách là khách thể nhận thức; thứ hai thuộc về thực tiễn xã hội- lịch sử; thứ ba thuộc về bản thân nội dung tri thức của khái niệm Từ đó, bài viết nêu lên ý

Trang 12

nghĩa thực tiễn cuả việc nghiên cứu cơ sở vận động của khái niệm trong tư duy lý luận đối với yêu cầu đổi mới tư duy lý luận hiện nay.

Trần Thị Thuận Vũ, “Tư duy kinh nghiệm và vai trò của nó trong hoạt động

thực tiễn”, Tạp chí Triết học số 10 (209) năm 2008 Bài viết góp phần làm rõ thêm

tư duy kinh nghiệm và vai trò của nó trong hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan của con người Theo tác giả, tư duy kinh nghiệm có những giá trị,

ưu thế nhất định, song cũng có những hạn chế mà tự nó không thể vượt qua Do đó,

để phát huy vai trò của tư duy kinh nghiệm, cần phải đặt nó trong mối liên hệ thống nhất với tư duy lý luận, bởi chỉ có tư duy lý luận mới khắc phục được tính chất phiến diện, hạn hẹp của tư duy kinh nghiệm

Trần Trung Lập trong bài “Tăng cường nghiên cứu phương thức tư duy, phát huy năng lực sáng tạo triết học” khẳng định rằng nhìn từ góc độ nhận thức thức luận về triết học thì tất cả hoạt động sáng tạo của con người đều bắt nguồn từ sựthay đổi, đổi mới và tối ưu hoá Do vậy chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ phương thức

tư duy để phát huy tốt hơn năng lực sáng tạo triết học.Phương thức tư duy, nhìn từ góc

độ nhận thức luận, là sự tổng hoà giữa xu thế nhận thức và mô thức vận hành nhận thức của con người Xu thế nhận thức chỉ một kiểu tình thế bắt đầu trước hoạt động nhận thức, là một trạng thái ý thức của chủ thể, như kết cấu chức năng của tư duy, ý

đồ nhận thức, trạng thái tâm linh của nhận thức Mô thức vận hành nhận thức chỉphương pháp, lôgíc, đường lối, công thức trong quá trình vận hành nhận thức

Bút kí triết học là tác phẩm kinh điển trong chủ nghĩa Mác – Lênin vì vậy đã

có nhiều nhà nghiên cứu triết học đi sâu vào việc phân tích tác phẩm, nghiên cứu sâu sắc thêm về phép biện chứng, nhận thức luận trong tác phẩm

Trong giáo trình Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác – PH.Ăngghen,

V.I.Lênin, các tác giả đã phân tích tác phẩm bút kí triết học chỉ ra việc Lênin đánh

giá chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trước C.Mác Lênin làm sáng tỏ cuộc đấu tranh về mặt thế giới quan giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phép biện chứng và phép siêu hình trong lịch sử phát triển của triết học Trong khi nghiên cứu các khuynh hướng vận động của tư duy triết học Lênin đưa ra đánh giá của mình vềquá trình hình thành và phát triển của phép biện chứng, chủ nghĩa duy vật và lý

Trang 13

luận nhận thức Ngoài ra các tác giả còn phân tích các yếu tố của phép biện chứng

và vấn đề phép biện chứng trong tác phẩm.Về vấn đề phép biện chứng các tác giảchỉ ra việc Lênin tìm hiểu phương pháp nghiên cứu của C.Mác trong “Tư bản”, phân tích nguồn gốc nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm, khẳng định sự thống nhất thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng trong triết học Mác

Nguyễn Thái Sơn biên soạn bài “Giới thiệu một số tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin - Triết học”, đã nêu lên hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, những nội dung chủ yếu của tác phẩm như: tư tưởng của V.I.Lênin về phép biện chứng là khoa học về sự phát triển; những tư tưởng của V.I.Lênin về sự áp dụng phép biện chứng lý luận nhận thức và lôgic học; chủ nghĩa duy vật chiến đấu trong tác phẩm

Nguyễn Đặng Kiên, Phạm Việt Dũng, Nguyễn Việt Anh, Vũ Dương Thành Nam, Hà Huy Tuấn trong “ Phân tích tác phẩm Bút kí triết học –V.I.Lênin”, các tác giả từ việc nêu lên bổi cảnh lịch sử xã hội và kết cấu của tác phẩm đã đi vào phân tích nội dung của tác phẩm: phân tích những yếu tố của phép biện chứng; phép biện chứng sự đối lập với phép siêu hình về sự phát triển; điều kiện nguồn gốc của nhận thức, bản chất của nhận thức; con đường bản chất của nhận thức; vấn đề chân lý; vấn đề quy luật Ngoài ra các tác giả còn nêu lên ý nghĩa thời đại của tác phẩm bút

kí triết học và cách vận dụng tác phẩm trong thời đại hiện nay

Nhìn chung các cuốn sách, bài viết trên chỉ nghiên cứu một cách tổng quát, chưa đi vào nghiên cứu cụ thể vấn đề nhận thức luận trong triết học Mác – Lênin nói chung hay vấn đề nhận thức luận trong tác phẩm “Bút kí triết học” nói riêng Trên cơ sở tiếp thu và hệ thống hóa kiến thức, những quan điểm khoa học trên của những người đi trước tôi sẽ nghiên cứu cụ thể hơn về vấn đề nhận thức luận dưới góc độ vấn đề nhận thức luận trong tác phẩm bút kí triết học của Lênin Khóa luận này sẽ nghiên cứu chuyên sâu hơn về một số vấn đề nhận thức luận trong tác phẩm

“Bút kí triết học”

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1:

KHÁI QUÁT VỀ NHẬN THỨC LUẬN VÀ GIỚI THIỆU

TÁC PHẨM “BÚT KÍ TRIẾT HỌC” CỦA LÊNIN 1.1 Một số quan điểm tiêu biểu về nhận thức luận trước Mác

1.1.1 Quan điểm về nhận thức luận của triết học duy tâm

1.1.1.1 Triết học Phương Đông Cổ đại

Phương Đông cổ đại với hai đại diện tiêu biểu là Trung hoa cổ đại và Ấn độ

cổ đại, với các trường phái triết học tiêu biểu đã có những đóng góp vào sự phát triển của triết học nói riêng và tư duy nhân loại nói chung trong vấn đề nhận thức luận

Đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy của triết học cổ, trung đại Trung Hoa là nhận thức trực giác, tức là có trong sự cảm nhận hay thể nghiệm Cảm nhận tức là đặt mình giữa đối tượng, tiến hành giao tiếp lý trí, ta và vật là thống nhất, khơi dậy linh cảm, quán xuyến nhiều chiều trong chốc lát, từ đó mà nắm bản thể trừu tượng Hầu hết các nhà tư tưởng triết học Trung Hoa đều quen phương thức tư duy trực quan thể nghiệm lâu dài, bỗng chốc giác ngộ Phương thức tư duy trực giác đặc biệt coi trọng tác dụng của cái tâm, coi tâm là gốc rễ của nhận thức, "lấy tâm để bao quát vật" Cái gọi là "đến tận cùng chân lý" của Đạo gia, Phật giáo, Lý học, v.v Nặng về ám thị, chỉ dựa vào trực giác mà cảm nhận, nên thiếu sự chứng minh rành rọt Đạo giáo quan niệm về nhận thức: Lão Tử đề cao tư duy trừu tượng, coi khinh nghiên cứu sự vật cụ thể Ông cho rằng "không cần ra cửa mà biết thiên

hạ, không cần nhòm qua khe cửa mà biết đạo trời" Trang Tử xuất phát từ nhận thức luận tương đối của mình mà chỉ ra rằng, nhận thức của con người đối với sự vật thường có tính phiến diện, hạn chế Nhưng ông đã rơi vào quan điểm bất khả tri, cảm thấy "đời có bờ bến mà sự hiểu biết lại vô bờ bến, lấy cái có bờ bến theo đuổi cái vô bờ bến là không được" Ông lại cho rằng, ngôn ngữ và tư duy lôgíc không khám phá được Đạo trong vũ trụ Trong ba thời kỳ: Sơ Hán, Ngụy Tấn, Sơ Đường, học thuyết Đạo gia chiếm địa vị thống trị về tư tưởng trong xã hội Suốt lịch sử hai ngàn năm, tư tưởng Đạo gia tồn tại như những tư tưởng văn hóa truyền

Trang 15

thống và là sự bổ sung cho triết học Nho gia Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng phân tích cấu trúc của vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau, nhưng tương tác với nhau Năm yếu tố Ngũ Hành không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh - khắc với nhau theo hai nguyên tắc sau:

Tương sinh (sinh hóa cho nhau): Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; Hoả sinh Thổ, v.v

Tương khắc (chế ước lẫn nhau): Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc; và Mộc khắc Thổ, v.v

Triết học Ấn độ cổ đại cũng tạo ra cho mình một đường hướng nhận thức riêng, để có một nhận thức đúng đắn đối với thế giới khách quan, nếu chỉ xuất phát

từ nhận thức và công cụ nhận thức, thì chúng ta sẽ mắc vào một cái vòng lẩn quẩn

và sẽ không thuyết phục được ai cả Trái lại, tình hình sẽ đổi khác, nếu chúng ta xuất phát từ hoạt động thực tiễn của bản thân chúng ta và của cả nhân loại từ khi nó xuất hiện trên trái đất này Trong quá trình hoạt động thực tiễn đó, con người không những nhận thức thế giới, mà còn kết hợp với thế giới một cách trực tiếp Nói cách khác, sự nhận thức tức là hình ảnh nội tại được tạo ra phải phù hợp với sự vật khách quan, óc tưởng tượng của chúng ta, không được thêm thắt vào, hay là giảm bớt đi Như chúng ta hiện nay thường nói, không được bôi đen, hay tô hồng Sự vật khách quan đối với Phật giáo hoàn toàn ở trong tầm nắm bắt của nhận thức trực tiếp của con người, chứ đâu có phải là “bất khả tri luận”, nhưng nói thế này thì đúng hơn là sự vật khách quan đó mà cảm giác thuần túy của con người nắm bắt, là siêu việt ngôn ngữ, văn tự, bởi khi chúng ta đã dùng tới ngôn ngữ, văn tự để chỉ mặt nó, nhận diện nó, thì nó đã không còn là nó nữa rồi, và chúng ta đã thêm vào bao nhiêu là yếu tố trí nhớ, tưởng tượng, chúng ta đã làm nhiễu, làm méo mó thực tại bằng chủ quan của chúng ta rồi Phật cũng khuyên không nên tin vào truyền thống, vì rằng có truyền thống tốt và xấu, thật và giả Cũng không nên căn cứ vào những sự kiện có thật, nhưng được hiểu và phân tích một cách hời hợt, cũng không nên tin vào những điều kể lại

Trang 16

Nói tóm lại, tất cả mọi điều, mọi lời nói, đều phải được phân tích nghiêm túc bằng lý trí, phải thực nghiệm nghiêm túc qua hành động thực tiễn

1.1.1.2 Nhận thức luận trong triết học Phương Tây

Platon (427 – 347 tr.CN) cho rằng, nhận thức của con người không phải là phản ánh các sự vật cảm biết của thế giới khách quan, mà là nhận thức về ý niệm Thế giới ý niệm có trước thế giới các vật cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết Ông cho rằng để nhận thức được chân lí, người ta phải từ bỏ những cái hữu hình cảm tính, phải “hồi tưởng” lại những gì mà linh hồn bất tử đã quan sát đước trong thế giới ý niệm Ví dụ: cái cây, con ngựa, nước là do ý niệm siêu tự nhiên về cái cây, con ngựa, nước sinh ra Hoặc khi nhìn các sự vật thấy bằng nhau là vì trong đầu ta

đã có sẵn ý niệm về sự bằng nhau Lý luận nhận thức của Platon cũng có tính chất duy tâm Theo ông tri thức, là cái có trước các sự vật cảm biết mà không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó Do vậy nhận thức con người không phải là phản ánh các sự vật của thế giới khách quan, mà chỉ là quá trình nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã lãng quên trong quá khứ Trên cơ sở đó, Platon phân hai loại tri thức: tri thức hoàn toàn đúng đắn, tin cậy và tri thức mờ nhạt Loại thứ nhất là tri thức ý niệm, tri thức của linh hồn trước khi nhập vào thể xác và có được nhờ hồi tưởng Loại thứ hai lẫn lộn đúng sai, là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảm tính, ở đó không có chân lý

Nhận thức luận của Arixtốt (384 – 322 tr.CN) có một vai trò quan trọng trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại Lý luận nhận thức của ông được xây dựng một phần trên cơ sở phê phán học thuyết Platôn về "ý niệm" và "sự hồi tưởng"

Trong lý luận nhận thức của mình, Arixtốt thừa nhận thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc, kinh nghiệm và cảm giác Tự nhiên là tính thứ nhất, tri thức là tính thứ hai Cảm giác có vai trò quan trọng trong nhận thức, nhờ cảm giác về đối tượng mà có tri thức đúng, có kinh nghiệm và lý trí hiểu biết được về đối tượng Ở đây, Arixtốt đã thừa nhận tính khách quan của thế giới Về các giai đoạn của nhận thức, Arixtốt thừa nhận giai đoạn cảm tính là giai đoạn thứ nhất; giai đoạn nhận thức trực quan (ví dụ sự quan sát nhật thực, nguyệt thực bằng

Trang 17

mắt thường); còn nhận thức lý tính là giai đoạn thứ hai, giai đoạn này đòi hỏi sự khái quát hóa, trừu tượng hóa để rút ra tính tất yếu của hiện tượng.

Sai lầm có tính chất duy tâm của Arixtốt ở đây là thần thánh hóa nhận thức lý tính, coi nó như là chức năng của linh hồn, của Thượng đế

Tomat Đacanh (1225 – 1274) là đại biểu của phái duy thực trong giai đoạn hưng thịnh của Chủ nghĩa kinh viện Lí luận nhận thức của Tomat Đacanh là mộtbước tiến mới trong triết học kinh viện trung cổ Về lý luận nhận thức, Tomat Đacanh khôi phục về mặt hình thức lí thuyết hình dạng của Arixtot nhưng lại bỏ cái sinh khí, cái sống động, sự tìm tòi chân lí trong học thuyêt của Arixtốt Theo ông, nhận thức của con người là hình dạng của sự vật chứ không phải bản than sự vật Ông chia hình dạng thành hình dạng cảm tính và hình dạng lí tính Trong đó, hình dạng cảm tính có vai trò quan trọng, nhờ đó mà cảm giác trở nên cảm thụ tích cực Còn hình dạng lí tính cao hơn hình dạng cảm tính, nhờ nó mà ta biết được cái chung chứa trong nhiều sự vật riêng lẽ Đơn Xcot (1265 – 1308) được coi là nhà duy danh lớn nhất thế kỷ XIII Về lí luận nhận thức, Đơn xcot cho rằng tinh thần và

ý chí là hình thức của thân thể con người và gắn liền với thân thể của con người đang sống do thượng đế ban cho từ con người mới được sinh ra Tri thức của con người được hình thành từ tinh thần và từ đối tượng nhận thức Tinh thần tuy có sức mạnh to lớn trong nhận thức, nhưng vẫn phải phụ thuộc vào đối tượng nhận thức Chỉ có những sự vật đơn nhất và cá biệt là thực tại cao nhất

Rogie Bêcơn (khoảng 1214 – 1294) được coi là người đề xướng vĩ đại nhất của khoa học thực nghiệm Theo ông, nguồn gốc của nhận thức là uy tín, lí trí và thực nghiệm Kinh nghiệm là tiêu chuẩn của chân lí, thước đo của lí luận Trong tri thức khoa học, không có sự nguy hiểm nào lớn hơn sự ngu dốt Tuy nhiên, ông không thể thoát khỏi những hạn chế của thời mình: thời đại thống trị của tôn giáo

và nhà thờ Ông cũng đã dành thời gian để nghiên cứu về tính chất rõ ràng của tư tưởng xuất phát từ mẩu mực đầu tiên của thượng đế và về ý chí hoạt động tiên nghiệm

Rơnê Đêcáctơ (1596 – 1654) là người sáng lập ra Chủ nghĩa duy lý Cũng như Bêcơn, Đêcáctơ đã chú ý nghiên cứu phương pháp nhận thức khoa học để tạo nên

Trang 18

khả năng đi sâu vào nghiên cứu những bí mật của giới tự nhiên Ông tin rằng, với phương pháp mới có thể đạt được những tri thức có ích cho cuộc sống Gạt bỏ đi những đạo lý kinh viện của tôn giáo, Đêcáctơ đưa lý trí lên vị trí hàng đầu trong lý luận về nhận thức Ông cho rằng nhiệm vụ của thí nghiệm không phải là phát minh

ra các quy luật của tự nhiên mà là khẳng định những tri thức, những quy luật mà lý trí phát hiện ra Đêcáctơ thừa nhận rằng sự nghi ngờ là điểm xuất phát của phương pháp khoa học Ông nhấn mạnh rằng, dù anh nghi ngờ mọi cái, nhưng không thể nghi ngờ rằng anh nghi ngờ Đêcáctơ nói: Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại, và ông cho đó

là nguyên lý cơ bản, bất ly bất dịch Ý nghĩa tiến bộ của nguyên lý trên là ở chỗ: nó

đề cao vai trò của lý trí, phủ nhận một cách tuyệt đối tất cả những gì mà người ta

mê tín Nhưng nguyên lý ấy lại thể hiện tính chất duy tâm, vì Đêcáctơ đã không nhìn thấy rằng không thể đi tìm tiền đề xuất phát của nhận thức ở ngay trong nhận thức mà phải tìm từ bản thân đời sống thực tiễn xã hội

Lý luận nhận thức của Hium (1711 -1766) xây dựng trên cơ sở kết quả cải biến chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Béccli theo tinh thần của thuyết không thể biết và hiện tượng luận (một học thuyết cho rằng con người chỉ nhận biết được hiện tượng bề ngoài của sự vật, mà không thể thâm nhập vào bản chất của chúng, tách rời hiện tượng và bản chất)

Phê phán mạnh mẽ các khoa học và ý thức thông thường thời đó đang ngày càng có xu hướng đối lập với triết học, Hium khẳng định sở dĩ có tình trạng như vậy là do từ trước tới giờ khoa học về con người, về nhận thức con người chưa được phát triên đầy đủ Vì vậy, ông coi nhiệm vụ của mình là tính cách đưa triết học thoát khỏi tình trạng trên bằng cách biến triết học thành học thuyết về con người

Cũng như Béccơly, Hium tuyệt đối hoá vai trò của cảm giác Coi đó là điểm xuất phát và dạng co bản của nhận thức Nhưng nếu Béccơly không dừng lại ở việc xem xét cảm giác ở khuôn khổ nhận thức luận, mà coi cả thế giới chỉ là tổ hợp của các cảm giác, thì Hium lại tách biệt các cảm giác con người với thế giới bên ngoài, coi chỉ bản thân các cảm giác là nguồn gốc nhận thức mà không cần đến sự tác động của thế giới bên ngoài Từ đây, Hium kết luận rằng, chúng ta chẳng có thể

Trang 19

biết được gì thế giới cả, thậm chí cũng không biết là thế giới có thức hay không nữa Ông nói: “Giới tự nhiện, đã đặt chúng ta ở một khoảng cách khá xa với các điều bí ẩn của nó, và nó chỉ thể hiện ra cho chúng ta những tri thức về một số các đặc tính, về bề ngoài” [2, tr.102].

Như vậy, quá trình nhận thức không phải là nhận thức thế giới, mà là nhận thức những quá trình tâm lý xảy trong con người được Hium gọi là những cảm xúc,

ấn tượng (impressions) Các ấn tượng, hay cảm giác được coi là “nguồn gốc tuyệt đối” của nhận thức Còn các ý niệm là sản phẩm của giai đoạn nhận thức cao hơn, nhưng kém sinh động hơn so với các ấn tượng mà nhận thức cảm tính đem lại Chúng là sự sao chép lại các ấn tượng trong phạm vi của ý thức.Tất cả các ý niệm đều được mô phỏng lại từ các ấn tượng

Các ý niệm và các xúc cảm được quy thành các dạng kinh nghiệm khác nhau,

và duy nhất chúng tồn tại thực

Theo quan niệm của Hium, một trong những nguyên lý tồn tại bẩm sinh trong con người là nguyên lý kết hợp (association) Bản chất của nguyên lý này thì không thể nhận thức được Cơ chế sinh học tạo nên sự liên tưoửng đó đầy bí ẩn Có 3 dạng liên tưởng của ý niệm Thứ nhất, là dạng liên tưởng theo sự giống nhau Chẳng hạn, khi một người thân của chúng ta đi vắng, thì lúc nhìn chân dung người

ấy, chúng ta lập tức liên tưởng tới anh ta Thứ hai, là sự liên tưởng kế cận nhau trong không gian và thời gian Chẳng hạn, chúng ta thường hay liên tưởng tới những cái bên cạnh mình, hoặc hay tiếp xúc với mình hơn những vật khác Thứ ba,

là sự liên tưởng nhân quả Chẳng hạn, khi nhìn thấy bố thì chúng ta liên tưỏng tới con, hoặc ngược lại, v.v Đây là dạng liên tưởng thông dụng nhất

Cantơ (1724 – 1804) – người tạo ra cuộc cách mạng trong triết học Là mộtnhà triết học nhị nguyên, một mặt ông thừa nhận sự tồn tại của thế giới các "vật tự nó" ở bên ngoài con người, mặt khác thừa nhận sự tồn tại của thế giới hiện tượng Thừa nhận tính khách quan của “vật tự nó”, Cantơ là nhà duy vật Nhưng mặt khác thế giới các vật thể quanh ta mà ta thấy được lại không liên quan gì đến cái gọi là

"thế giới vật tự nó", chúng chỉ là các hiện tượng, v.v Phù hợp với cái cảm giác và cái tri thức do lý tính của ta tạo ra Nhưng các cảm giác và tri thức không cung cấp

Trang 20

cho ta hiểu biết gì về "thế giới vật tự nó" Theo Cantơ, nhận thức con người chỉ biết được hiện tượng bề ngoài mà không xâm nhập được vào bản chất đích thực của sự vật, không phán xét được gì về sự vật như chúng tự thân tồn tại Như vậy, trong lĩnh vực nhận thức luận, Cantơ là một đại biểu tiêu biểu của thuyết "không thể biết" (mặc dù có khác với thuyết "không thể biết" của Hium) Nhận thức luận của Cantơ

có tính chất duy tâm là sự phản ứng đối với chủ nghĩa duy vật Pháp, là sự khôi phục Thượng đế Ông nói rằng, trong nhận thức cần hạn chế phạm vi của lý tính để dành cho đức tin

Hêghen (1770- 1831) cho rằng về cơ bản tồn tại thống nhất với tư duy, tức là quy luật của tồn tại quy định quy luật của tư duy Ông chống lại quan điểm “không thể biết” của I.Cantơ, ông cho rằng tư duy của con người có thể đạt được chân lý và nhận thức là một quá trình Ông cũng là người vận dụng phép biện chứng và nội dung phong phú của nhiều cặp phạm trù lôgic vào lý luận nhận thức

Triết học duy tâm của ông phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong, vốn có của sự phát triển tự nhiên và xã hội Ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới” Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn, “ý niệm tuyệt đối”, theo nhận xét của Lênin, chỉ là một cách nói theo đường vòng một cách nói khác về thượng đế mà thôi

Quan niệm về nhận thức luận của ông còn nhiều hạn chế, chẳng hạn:

Ông đứng trên lập trường duy tâm để xem xét nhận thức;

Ông chưa hiểu bản chất của thực tiễn trên tinh thần duy vật;

Nhận thức theo ông không phải là phản ánh bản thân sự vật mà là nhận thức

“tinh thần thế giới” đang tha hóa;

Đồng thời, ông cũng tuyệt đối hóa nhận thức lý tính của con người

1.1.2 Quan điểm về nhận thức luận của triết học duy vật trước Mác

Sự ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại có một số đặc điểm như: gắn hữu cơ với khoa học tự nhiên, hầu hết các nhà triết học duy vật đều là các nhà khoa học tự nhiên; sự ra đời rất sớm chủ nghĩa duy vật mộc mạc, thô sơ và phép

Trang 21

biện chứng tự phát; cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm biểu hiện qua cuộc đấu tranh giữa đường lối triết học của Đêmôcrít và đường lối triết học của Platôn, đại diện cho hai tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc; về mặt nhận thức, triết học Hy Lạp cổ đại đã theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy giác.

Heraclit (520 – 460 tr.CN) đã có những quan niệm đúng đắn về lí luận nhận thức Ông cho rằng nhận thức thế giới là nhận thức logot của vũ trụ Nhận thức logot có nghĩa là nhận thức tự nhiên và xã hội trong trạng thái đấu tranh và hài hòa với những mâu thuẫn của chúng Tri thức chân thực là tri tức về logot tức là qui luật của vũ trụ Theo ông, nhận thức được bắt đầu từ cảm tính: mắt và tai là người thầy tốt nhất, nhưng mắt là nhân chứng chính xác hơn tai Ông rất coi trọng nhận thức cảm tính nhưng không tuyệt đối hóa nó Theo ông, thị giác thường bị lừa vì tự nhiên thích giấu mình nên muốn nhận thức được nó phải tư duy, phải có óc sang suốt Ông còn nêu lên tính tương đối của nhận thức tùy theo hoàn cảnh và điều kiện

mà thiện - ác, xấu – tốt, lợi – hại chuyển hóa cho nhau

Đemocrit (khoảng 460 – 370 tr.CN) có nhiều công lao trong việc xây dựng lí luận về nhận thức Ông đặt ra và giải quyết một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của cảm giác với tính cách là điểm bắt đầu của nhận thức và vai trò của tư duy trong việc nhận thức tự nhiên Đêmôcrít phân nhận thức con người thành dạng nhận thức do các cơ quan cảm giác đem lại và nhận thức nhờ lý tính Nhận thức đem lại do cơ quan cảm giác là loại nhận thức mờ tối, chưa đem lại chân

lý Còn nhận thức lý tính là nhận thức thông qua phán đoán và cho phép đạt chân

lý, vì nó chỉ ra cái khởi nguyên của thế giới là nguyên tử, tính đa dạng của thế giới

là do sự sắp xếp khác nhau của các nguyên tử

Triết học Tây Âu cận đại thế kỷ XVII – XVIII với những đại biểu tiêu biểu đã góp phần vào sự phát triển chung về nhận thức luận của nhân loại Phranxi Bêcơn (1561 – 1626) là người sáng lập triết học duy vật Anh Bêcơn cho rằng nhiệm vụ của triết học, của khoa học nói chung là nhận thức thế giới tự nhiên, giúp cho con người nắm được các mối liên hệ phức tạp và các lực lượng hùng mạnh của tự nhiên Ông cho rằng, điều kiện cần thiết đầu tiên để xây dựng 1 khoa học chân

Trang 22

chính về giới tự nhiên là tẩy rửa được tất cả mọi ảo tưởng Theo Bêcơn, phương pháp nhận thức tốt nhất là thực nghiệm, quan sát, phân tích và quy nạp Từ phương diện triết học, Bêcơn đã lí giải phương pháp thực nghiệm được sử dụng rộng rãi thời đó trong khoa học tự nhiên và chuyển nó sang lĩnh vực triết học Bêcơn là người sáng lập ra phương pháp quy nạp và lôgic học quy nạp Triết học duy vật của Bêcơn phản bác chủ nghĩa duy tâm, triết học kinh viện và tôn giáo, tuy sự phản bác

đó mới chỉ ở mức độ đòi khoa học và triết học độc lập với tôn giáo và thần học; Bêcơn thừa nhận thuyết "Hai chân lí", cho rằng khoa học và tôn giáo không nên can thiệp vào thẩm quyền của nhau

Giôn Lốccơ (1632 – 1704) cũng là 1 đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa duy vật Anh, là 1 trong những người sáng lập ra tự nhiên thần luận Tiếp tục phát triển kinh nghiệm của Bêcơn, Lốccơ đã đưa “duy giác luận” vào triết học Nếu Bêcơn khẳng định rằng mọi tri thức đều bắt nguồn từ kinh nghiệm thì ông lại cho rằng kinh nghiệm là do những tài liệu cảm tính, những cảm giác hợp thành Lốccơ còn bác bỏ thuyết tư tưởng bẩm sinh của Đêcáctơ, ông khẳng định: không có tư tưởng bẩm sinh, mà chỉ có tư tưởng, khái niệm của con người xuất hiện trong quá trình con người tiếp xúc với thế giới xung quanh Cảm giác được hình thành khi con người tiếp cận với thế giới xung quanh, đó là căn cứ đầu tiên và có ý nghĩa quyết định với toàn bộ sự nhận thức

Lútvích Phoiơbắc (1804- 1872) là nhà duy vật tiến bộ thời kỳ trước Mác, đại biểu nổi tiếng của triết học cổ điển Đức, nhà tư tưởng của giai cấp tư sản dân chủ Đức Phoiơbắc đã có quan niệm đúng đắn rằng không thể quy các hiện tượng tâm

lý về các quá trình hóa – lý, ông còn công nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới Trong khi phát triển lý luận nhận thức duy vật, Phoiơbắc đã biết dựa vào thực tiễn, nhưng ông chỉ mới hiểu được thực tiễn là tổng hợp những yêu cầu của con người về tinh thần, về sinh lý mà chưa nhận thức được nội dung cơ bản của thực tiễn là hoạt động vật chất của con người, là lao động sản xuất vật chất, đấu tranh giai cấp trong xã hội con người và hoạt động thực tiễn của nó là cơ sở của nhận thức cảm tính và lý tính Triết học của Phoiơbắc cũng bộc lộ những hạn chế Chẳng hạn, khi ông đòi hỏi triết học mới - triết học nhân bản, phải gắn liền với tự

Trang 23

nhiên thì đồng thời đã đứng luôn trên lập trường của chủ nghĩa tự nhiên để xem xét mọi hiện tượng thuộc về con người và xã hội

1.1.3 Một số kết luận về vấn đề nhận thức luận trước Mác

Xuất phát từ chỗ phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng nhận thức chỉ là sự phức hợp những cảm giác của con người; chủ nghĩa duy tâm khách quan lại coi nhận thức là sự "hồi tưởng lại" của linh hồn bất tử về "thế giới các ý niệm" mà nó đã từng chiêm ngưỡng được nhưng đã bị lãng quên, hoặc cho rằng nhận thức là sự "tự ý thức về mình của ý niệm tuyệt đối" Khác với chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan, những người theo thuyết hoài nghi coi nhận thức là trạng thái hoài nghi về sự vật và biến sự nghi ngờ về tính xác thực của tri thức thành một nguyên tắc của nhận thức Đến thời kỳ cận đại, khuynh hướng này phủ nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người hoặc hạn chế ở cảm giác bề ngoài của sự vật

Đối lập với những quan niệm đó, chủ nghĩa duy vật thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người Tuy nhiên, do sự hạn chế bởi tính trực quan, siêu hình, máy móc mà chủ nghĩa duy vật trước Mác đã coi nhận thức là sự phản ánh trực quan, đơn giản, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của sự vật

Họ chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Chính vì thế mà C.Mác

đã nhận xét rằng: "Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước tới nay kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn; không được

nhận thức về mặt chủ quan" (C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.9)

Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước Mác đều quan niệm sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức, những vấn đề về lý luận nhận thức chưa được giải quyết một cách khoa học, đặc biệt là chưa thấy được đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức CNDT trước Mác do hạn chế về lịch sử nhận thức cùng với những khiếm khuyết sai lầm bởi tính chất duy tâm thần bí coi nhận thức là sự tự

Trang 24

nhận thức của ý niệm, tức tồn tại ngoài con người chứ không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan Thuyết không thể biết phủ nhận khả năng nhận thức của con người về thế giới do lý trí của con người có tính chất hạn chế và ngoài giai đoạn của cảm giác ra con người không thể biết được gì nữa Quan điểm này đã bị bắc bỏ bởi thực tiễn và sự phát triển của nhận thức loài người.

CNDV siêu hình trước Mác, tuy thừa nhận khả năng nhận thức con người về thế giới và coi nhận thức là sự phản ánh bởi hiện thực khách quan vào bộ óc ngươi Nhưng do hạn chế bởi tính siêu hình, máy móc và trực quan nên CNDV trước Mác

đã không giải quyết được một cách thực sự khoa học những vấn đề của lý luận thực tiễn và chưa nhận thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức do trực quan trong các quan niệm duy vật Điểm yếu nhất trong chủ nghĩa duy vật trước Mác khi bàn về vấn đề nhận thức luận, là họ không thấy được vai trò của xã hội, cụ thể là sự phát triển của sản xuất vật chất đối với sự hình thành và phát triển của ý thức và nhận thức, nên dẫn đến không thấy được vai trò định trước của ý thức đối với sự phát triển của thực tiễn xã hội Hay, như Mác đã chỉ ra, các trường phái triết học trước chỉ hướng tới giải thích thế giới mà không đi vào cải tạo thế giới

1.2 Giới thiệu tác phẩm “Bút kí triết học” của Lênin

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời và kết cấu tác phẩm

a Hoàn cảnh ra đời

Bút ký triết học thực chất là “Những ghi chép về triết học” được tập hợp từ các

bản ghi chép của V.I.Lênin trong những năm 1915 - 1916 Công trình này Lênin không có dự định xuất bản, bởi đây là sự ghi chép cho riêng mình Cả công trình chỉ

có một bài tương đối hoàn chỉnh đó là “Về phép biện chứng”, còn lại chỉ là những

ghi chép, trích dẫn, bình luận

Bút ký triết học ra đời thời sau khi diễn ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ

nhất Do yêu cầu của thực tiễn cách mạng và yêu cầu cần thiết phải xây dựng phép biện chứng duy vật như một phương pháp luận của sự nhận thức và cải tạo thế giới Cuộc chiến tranh đã phơi bày bản chất của chủ nghĩa đế quốc, làm bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt không thể khắc phục được giữa các nước tư bản, giữa chủ nghĩa

đế quốc và các dân tộc bị nô dịch

Trang 25

Ngay từ đầu thế kỷ XX, triết học Mác đã bị công kích từ nhiều phía, đặc biệt

là do các thủ lĩnh của Quốc tế II (Bécxtanh, Cauxky) khởi xướng Chủ nghĩa cơ hội thuộc mọi khuynh hướng đã phủ nhận phép biện chứng, thậm chí còn đánh đồng phép biện chứng với ngụy biệnvà chiết trung

Trong nội bộ phong trào công nhân Nga, cuộc tranh luận về lý luận cũng diễn

ra hết sức gay gắt giữa hai khuynh hướng chủ yếu: Khuynh hướng “tả khuynh” thì

nhấn mạnh bạo lực chính trị vô điều kiện, thực chất là khủng bố; khuynh hướng

“hữu khuynh” nhấn mạnh phương pháp ôn hoà để thay đổi xã hội Trước tình hình

đó, Lênin chú trọng xác lập quan điểm biện chứng về những hiện tượng mới, khám

phá ra các quy luật và động lực mới Người khẳng định: Cuộc đấu tranh của các

mặt đối lập đem lại sự phát triển.

Mục đích tối cao của Bút ký triết học là bảo vệ và phát triển phép biện chứng duy

vật của Mác, chống lại mọi xu hướng tư tưởng xuyên tạc hoặc xét lại chủ nghĩa Mác

Lênin cho rằng, thời điểm cấp bách này nếu các lý luận gia của giai cấp vô sản

im lặng hoặc dừng lại là phản bội của chủ nghĩa Mác Vì thế nhiệm vụ quan trọng nhất là khẳng định PBCDV bằng nền tảng khoa học tự nhiên đương đại và LSPBC

mà đỉnh cao nhất trước C.Mác là PBC Hêghen

Từ mục đích và nhiệm vụ trên thông qua việc chứng minh mối liện hệ lẫn nhau giưa các quy luật phát triển của thế giới khách quan và các quy luật nhận thức, Lê nin làm sâu sắc thêm các quan điểm về PBC như một khoa học về sự phát triển của thế giới khách quan, của tự nhiên, xã hội và tư duy; xác định các yếu tốcủa PBC, sự thống nhất giữa PBC – lý luận nhận thức – lôgic học Từ góc độ của phương pháp biện chứng tác phẩm cũng làm sáng tỏ thêm quy luật kế thừa trong sựphát triển của tư duy triết học qua các thời đại

b Kết cấu của tác phẩm

“Bút kí triết học” không có kết cấu chặc chẽ như một số tác phẩm khác của V.I.Lê-nin Tác phẩm chỉ là những ghi chép tóm tắt, đánh giá của V.I.Lê-nin về công trình triết học thời trước, từ Aritôt đến Hêghen và Látxan Từ những ghi chép và đánh giá ấy, V.I.Lê-nin đưa ra quan điểm của mình về phép biện chứng duy vật và

Trang 26

một số vấn đề triết học khác, những vấn đề đến nay được các nhà lý luận tiếp tục khai thác và sử dụng trong việc phổ biến triết học Mác – Lênin.

Tập 29 trong V.I.Lê-nin Toàn tập gồm những bản tóm tắt, những đoạn trích,

những ghi chú về các cuốn sách và các bài khác nhau viết về triết học, và cả những ý kiến và bút tích của Lê-nin ghi bên lề và trong văn bản các cuốn sách triết học trong

tủ sách riêng của Người

Tập này được chia thành ba phần; trong mỗi phần có những tài liệu ít nhiều đồng nhất về tính chất Phần I gồm các bản tóm tắt và các đoạn trích; phần II gồm những ghi chú khác nhau về các sách, các bài viết và các bài phê bình sách báo triết học; phần III gồm những đoạn trích các cuốn sách kèm theo những ý kiến và bút tích của Lênin Trong các phần, tài liệu được sắp xếp theo thứ tự thời gian, trên cơ

sở những ngày tháng đã được xác định bằng phương pháp gián tiếp trước đây hay

là khi soạn tập này, bởi vì hầu như tất cả các tài liệu đều không được tác giả đềngày tháng

Trong V.I Lênin Toàn tập, cuốn Bút ký triết học thuộc về thời kỳ chiến tranh

thế giới thứ nhất, khi đó Lê-nin đã viết xong phần chính của các bản tóm tắt, các

đoạn trích và các ghi chú Chính trong thời gian này, Lênin tóm tắt cuốn "Khoa

học lô-gích", và song song với việc đó, Người tóm tắt phần một cuốn "Bách khoa toàn thư các bộ môn triết học" của Gi.V.Ph.Hê-ghen, "Những bài giảng về lịch sử triết học" và "Những bài giảng về triết học của lịch sử" của Hê-ghen, tác phẩm

của L.Phơ-bách "Trình bày, phân tích và phê phán triết học của Lai-bni-txơ", của Ph.Lát-xan "Triết học của Hê-ra-clít Bí ẩn ở Ê-phe-xơ", "Phép siêu hình" của

Arixtốt và một số cuốn sách khác về triết học và khoa học tự nhiên Những bản tóm tắt và những ghi chú này là nội dung của tám tập bút ký giống nhau, bìa

màu xanh mà Lê-nin đặt đầu đề là “Bút ký triết học Hê-ghen, Phơ-bách và những tác giả khác"; thuộc về loại này còn có bản tóm tắt cuốn "Những bài giảng về bản

chất của tôn giáo" của Phơ-bách; bản tóm tắt này được viết trên các tờ rời, sớm

nhất là năm 1909

Những bản tóm tắt, những đoạn trích, những ghi chú của Lênin về triết học chỉ ra những con đường phát triển hơn nữa chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật

Trang 27

lịch sử và lịch sử khoa học của triết học Lênin viết: "Sự kế tục sự nghiệp của Hê-ghen

và của Mác phải là sự xây dựng một cách biện chứng lịch sử của tư tưởng loài người, của khoa học và kỹ thuật" [16, tr.156] Phép biện chứng duy vật mà Lê-nin phát triển

trong Bút ký triết học có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng để nghiên cứu các

quy luật xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, phân tích những mâu thuẫn của chủnghĩa tư bản hiện đại, xác định sách lược của phong trào cộng sản quốc tế trong điều kiện hiện nay, và đấu tranh chống triết học tư sản, chống lại chủ nghĩa xét lại hiện đại và chủ nghĩa giáo điều

1.2.2 Một số vấn đề cơ bản trong tác phẩm “Bút kí triết học” của Lênin

1.2.2.1 Vấn đề phép biện chứng trong tác phẩm

Phép biện chứng là học thuyết về sự phát triển phổ biến của tự nhiên, xã hội

và tư duy con người, là học thuyết phổ quát tác động đến hiện thực khách quan và hiện thực chủ quan Nghiên cứu các quy luật của phép biện chứng chính là nghiên cứu từ góc độ phổ quát theo nghĩa là những quy luật phổ biến

Trong tác phẩm, Lênin đánh giá cao các định nghĩa của Hêghen về phép biện chứng, thể hiện được thực chất của phép biện chứng với tính cách là khoa học về mối liên hệ và sự phát triển Lênin cũng nhấn mạnh sự thống nhất hữu cơ giữa phương pháp và hệ thống của phép biện chứng duy vật: “Những quy luật

của thế giới bên ngoài, của giới tự nhiên, chia thành quy luật cơ giới và quy luật

hóa học (…) là những cơ sở của hoạt động có mục đích của con người

Trong hoạt động thực tiễn của mình, con người đứng trước thế giới khách quan, phụ thuộc vào thế giới khách quan ấy, để thế giới khách quan ấy quy định hoạt động của mình” [31, tr.199]

Nội dung phần này là làm rõ hai quan điểm về phát triển, tự do vạch ra những hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình Trong phần này Lênin tìm hiểu phương

pháp nghiên cứu của C.Mác trong “Tư bản” phân tích nguồn gốc nhận thức luận

của CNDT, khẵng định sự thống nhất thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng trong triết học Mác

Việc đánh giá các học thuyết triết học thường căn cứ vào chỗ các học thuyết ấy sửdụng phương pháp nào để xem xét sự vật, sự vận động, sự phát triển của chúng Trong

Trang 28

lịch sử triết học có hai quan niệm khác nhau về phát triển: hoặc phát triển đượ xem như

sự tăng lên đơn giản về số lượng, sự lặp lại (quan niệm thứ nhất); hoặc như sự thống nhất của các mặt đối lập (quan niệm thứ hai) “Với quan niệm thứ nhất về sự vận động,

sự vận động, động lực của nó, nguồn gốc của nó, động cơ của nó nằm trong bóng tối (hay là người ta đem nguồn gốc ấy đặt ra bên ngoài – Thượng đế, chủ thể, v.v.) Với quan niệm thứ hai, sự lưu ý chủ yếu lại hướng chính vào sự nhận thức nguồn gốc của

“tự” vận động”.

Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan niệm thứ hai là sinh động Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động” của tất thẩy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bướt nhảy vọt”, của sự

“gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hóa thành mặt đối lập”, của sự “tiêu diệt cái cũ và nảy sinh ra cái mới” Như vậy bản chất của quan điểm biện chứng là quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Trong bản tóm tắt và phân tích “Lô-gích học” của Hêghen, Lênin đã đánh giá

các định nghĩa của Hêghen về phép biện chứng là những định nghĩa sâu sắc, thể hiện được thực chất của phép biện chứng với tính cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến

và sự phát triển Với việc đưa ra 16 yếu tố của phép biện chứng [31, tr.239 – 240], Lênin đã phê phán cơ sở thế giới quan và tính không triệt để của Hêghen và làm sáng

tỏ phép biện chứng như là một khoa học triết học

Yếu tố thứ nhất của phép biện chứng: “tính khách quan của sự xem xét (không

phải thí dụ, không phải dài dòng, mà bản thân sự vật tự nó)” Lênin đòi hỏi khi xem xét sự vật phải đặt nó trong tổng thể các quan hệ đa diện, đa chiều của chính nó, điều kiện khách quan của việc hình thành và phát triển - lô-gích khách quan của sự thay đổi – đó là những đòi hỏi của PBCDV

Yếu tố thứ hai của phép biện chứng: Xem xét sự vật trong “tổng hoà những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với sự vật khác” Muốn hiểu được bản chất của sự

vật, hiện tượng cần phải tính đến các mối quan hệ đa dạng của chúng Không nghiên cứu các mối liên hệ và quan hệ mọi mặt của từng sự vật thì không nắm bắt được tính phức tạp trong cơ cấu của nó, tính phụ thuộc nhân quả của các sự vật, hiện tượng Các đặc tính, tính chất, khía cạnh của sự vật bộc lộ ra thông qua những

Trang 29

tác động, chi phối nhau giữa chúng Vì thế, trong quá trình tìm hiểu, phân tích sự

vật cần tuân thủ nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc thứ hai được rút ra: nguyên tắc

lịch sử - cụ thể, hay nguyên tắc tính cụ thể.

Các nguyên tắc toàn diện và lịch sử - cụ thể nằm trong sự thống nhất như hai mặt của một tổng thể Xem nhẹ các nguyên tắc này khó tránh khỏi tính phiến diện siêu hình, chủ nghĩa chiết trung và nguỵ biện

Các nguyên tắc toàn diện và lịch sử - cụ thể nằm trong sự thống nhất như hai mặt của một tổng thể Xem nhẹ các nguyên tắc này khó tránh khỏi tính phiến diện siêu hình, chủ nghĩa chiết trung và nguỵ biện

Yếu tố thứ ba của phép biện chứng đề cập đến nguyên lý về sự phát triển:

“sự phát triển của sự vật ấy (cũng như của hiện tượng), sự vận động của chính nó,

đời sống của chính nó” Cần phải xem xét các sự vật trong sự vận động, sự phát triển của chúng V.I.Lênin chú trọng đến tính quy định khách quan của quá trình phát triển Trong quá trình phát triển luôn thể hiện các lực bên trong, các khuynh hướng của sự vật, triển khai nhiều mặt ngày càng mới, khám phá thêm các hình thức liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau Điều quan trọng là phải vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển Sự đối lập có tính nguyên tắc giữa phép biện chứng và phép siêu hình chính ở chỗ này

Yếu tố thứ tư của phép biện chứng: “những khuynh hướng (và # những mặt)

mâu thuẫn bên trong của sự vật ấy” Mâu thuẫn bên trong của các sự vật, hiện tượng - đó là đặc tính phổ biến trong thực tiễn “Bất cứ vật cụ thể nào, - V.I.Lênin viết, - bất cứ một cái gì cụ thể cũng nằm trong những mối quan hệ khác nhau và thường là mâu thuẫn với tất cả cái còn lại, ergo, nó là bản thân nó và là cái khác” [31, tr.146-147] Lênin dẫn lại quan điểm của Hêghen, theo đó mọi sự vật đều mâu

thuẫn bên trong; “mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi vận động và của tất cả mọi sức sống; chỉ trong chừng mực một sự vật chứa đựng trong bản thân nó một mâu thuẫn, thì nó mới vận động, mới có xung lực và hoạt động” [31, tr.147-148].

Tiếp đó, V.I.Lênin đánh giá cao tư tưởng của Hêghen về sự nhận thức bản chất của mâu thuẫn trong các hiện tượng tự nhiên và xã hội

Trang 30

Yếu tố thứ năm của phép biện chứng: “sự vật (hiện tượng) Coi là tổng số # và

sự thống nhất của các mặt đối lập” Đó cũng là đặc trưng cơ bản của phép biện

chứng Sự thống nhất của các mặt đối lập phản ánh quá trình vận động và phát triển của sự vật Khi xem xét các sự vật thực tế nằm ở hệ thống này hay hệ thống khác của các mối liên hệ, cần phân tích những mặt khác nhau của sự thống nhất của các mặt đối lập - sự thống nhất bên trong và bên ngoài, hình thức và nội dung, hiện tượng và bản chất Căn cứ vào đặc trưng của sự thống nhất ấy mà chúng ta có thểphân loại các dạng mâu thuẫn khác nhau

Phép biện chứng đòi hỏi xem xét sự thống nhất của các mặt đối lập một cách cụthể, xem xét những mối quan hệ cụ thể Đây cũng là bản chất của sự đồng nhất mang tính biện chứng, sự đồng nhất có chứa đựng các yếu tố khác biệt

Nhấn mạnh tính chất quan trọng của sự thống nhất của các mặt đối lập, V.I.Lênin đưa ra một định nghĩa nữa về phép biện chứng: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sựgiải thích và một sự phát triển thêm” [31, tr.240]

Yếu tố thứ sáu của phép biện chứng: “sự đấu tranh respective (cũng như) sự

triển khai của các mặt đối lập ấy, của những khuynh hướng mâu thuẫn etc” Yếu tốnày chỉ là quá trình triển khai các mặt đối lập, sự thâm nhập nhau của chúng Ngay

cả các khái niệm phản ánh bản chất của sự thống nhất và tác động lẫn nhau của các mặt đối lập cũng phải được mài sắc, gọt dũa, làm mềm dẻo, linh hoạt, tương đối, liên hệ với nhau, thống nhất trong các đối lập, để có thể bao quát thế giới Nhận thức biện chứng cần phản ánh sự triển khai toàn bộ các lĩnh vực của thực tiễn chứa đầy mâu thuẫn; cùng lúc cần tạo ra sự đổi mới kịp thời về mặt lý luận, để nghiên cứu một cách hiệu quả mối quan hệ nhiều mặt của nó Thiếu điều này thì không thểhiểu được giai đoạn phát triển và giải quyết mâu thuẫn biện chứng Giải quyết mâu thuẫn là kết quả khắc phục mặt đối lập này bằng mặt đối lập khác Một mâu thuẫn được giải quyết lại xuất hiện những mặt đối lập mới trong quan hệ với nhau, có nghĩa là những mâu thuẫn mới

Trang 31

Yếu tố thứ bảy của phép biện chứng: “sự kết hợp phân tích và tổng hợp - sự

phân tích những bộ phận riêng biệt và tổng hòa, tổng của những bộ phân ấy” Sựthống nhất (hay kết hợp theo cách diễn đạt của Lênin) phép phân tích và phép tổng hợp thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau Phép phân tích và phép tổng hợp nằm trong sự thống nhất, mặc dù phản ánh các mặt đối lập nhau của quá trình nhận thức

Yếu tố thứ tám của phép biện chứng: “những quan hệ của mỗi sự vật (hiện

tượng etc.) Không những là muôn vẻ, mà còn là phổ biến, toàn diện Mỗi sự vật

(hiện tượng, quá trình etc.) Đều liên hệ với mỗi sự vật khác” Yếu tố này nhấn mạnh tính phổ biến của mối liên hệ giữa sự vật này với sự vật khác Đặc điểm quan

trọng của nhận thức lý luận là làm sáng tỏ các mối liên hệ phổ biến, toàn diện có tính quy luật

Yếu tố thứ chín của phép biện chứng chỉ ra đặc trưng của sự chuyển hoá các

mặt đối lập Lênin viết: “không phải chỉ là sự thống nhất của các mặt đối lập, mà

còn là những sự chuyển hoá của mỗi quy định, chất, đặc trưng, mặt, thuộc tính sang

mỗi cái khác [sang cái đối lập với nó?]”

Yếu tố thứ mười của phép biện chứng: “quá trình vô hạn của việc tìm ra những

mặt mới, những quan hệ mới etc.” Yếu tố này làm rõ thêm tư tưởng của Lênin về

mối liên hệ phổ biến của tất cả các sự vật, các hiện tượng thực tiễn, tính vô tận, tính phức tạp của bản thân chúng và các cơ cấu hợp thành Phép biện chứng thể hiện ở

đây với tính cách là nhận thức sinh động, phức tạp và đa dạng (số lượng các mặt

không ngừng tăng lên), bao hàm vô số những mặt riêng biệt trong cách quan sát đi gần tới hiện thực

Yếu tố thứ mười một của phép biện chứng: “quá trình vô hạn của sự đi sâu

của nhận thức của con người về các sự vật, hiện tượng, quá trình v.v., nhận thức đi

từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn” Một cách cô đọng có thể hiểu rằng yếu tố này của phép biện chứng vạch ra quá trình đào sâu không ngừng của việc nhận thức bản chất của sự vật Vận động của nhận thức khoa học bắt đầu từ chỗ tìm thấy bản chất của các sự vật, hiện tượng ở ngay thực tiễn

Trang 32

Yếu tố thứ mười hai của phép biện chứng: “từ sự cùng tồn tại đến tính nhân quả

và từ một hình thức liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau này đến một hình thức khác sâu sắc hơn, chung hơn” Mối liên hệ nhân quả là quan hệ cơ bản trong thế giới, dù không phải

là quan hệ duy nhất

Yếu tố thứ mười ba của phép biện chứng: “sự lặp lại của một số đặc trưng, đặc

tính của giai đoạn thấp ở giai đoạn cao”

Yếu tố thứ mười bốn của phép biện chứng: “sự quay trở lại dường như với cái

cũ (phủ định của phủ định)”

Hai yếu tố mười ba và mười bốn đòi hỏi phải khảo sát quy định phủ định của phủ định Lênin đã đưa ra hai khía cạnh quan trọng nhất của phát triển là lưu giữcái tích cực, phù hợp trong quá trình phủ định, lặp lại cái cũ ở nấc thang cao hơn nhờ củng cố và phát huy cái tích cực Ta thấy rằng thông thường không phải mọi cái tích cực đều được phát huy; sự trở về không đơn giản là sự lặp lại cái cũ, mà đó

là sự lặp lại ở trình độ phát triển Sự lặp lại đã qua trên cơ sở mới, có thể diễn ra qua hai hoặc nhiều lần phủ định

Sự phát triển của khoa học và trình độ nhận thức chung của con người hôm nay càng khẳng định tính đúng đắn của quan điểm của Lênin về các yếu tố của phép biện chứng

Nó cũng chỉ ra rằng cuộc tranh luận giữa phép biện chứng và phép siêu hình trong việc xem xét các sự vật, hiện tượng, quá trình của thế giới, giới tự nhiên, thực tiễn vẫn còn thể hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau V.I.Lênin dành hẳn một phần để làm rõ vấn đề này

1.2.2.2 Vấn đề nhận thức luận trong tác phẩm

Lịch sử phát triển của triết học cho thấy, vấn đề nhận thức khoa học được đặt

ra từ rất sớm, đầu tiên là trong triết học Hy - La cổ đại, khoảng thế kỷ VI - IV TCN Tuy nhiên, trong thời kỳ cổ đại, do những hạn chế về các phương tiện, phương pháp nhận thức cũng như khả năng của mình, nhận thức của con người đối với thếgiới khách quan còn giản đơn, mang tính phỏng đoán hoặc chỉ dựa vào suy lý Luận bàn về vấn đề nhận thức khoa học mới chỉ là bước đầu, làm cơ sở cho sự phát triển, hoàn thiện lý luận về nhận thức sau này

Trang 33

Đến thời trung cổ, người ta đã cố gắng tìm cách giải thích thế giới thông qua tính tích cực của nhận thức con người Tuy nhiên, việc giáo dục trí tuệ khi đó còn là

sự độc quyền của các cha cố và có xu hướng thiên về thần học Điều này dẫn đến khó tránh khỏi cách đặt vấn đề: phải chăng có thể nhận thức được “thượng đế” và linh hồn của con người là linh hồn của “Chúa” Do vậy, trong suốt thời kỳ trung cổ, tri thức lý luận và các phương pháp nhận thức khoa học gần như không xuất phát từ thực tiễn, không gắn với thực thiễn sản xuất

Phủ nhận tính phi khoa học của triết học kinh viện, nhận thức luận cổ điển đã giải thích thế giới bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, phương pháp duy lý Cantơ đi xa hơn khi ông dùng cả những yếu tố biện chứng lẫn siêu hình của phương pháp “tiên nghiệm” để lý giải thế giới Mặc dù có nhiều đóng góp về vấn

đề nhận thức luận, song Phoiơbắc coi sự khác nhau giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính chỉ đơn thuần về mặt số lượng, tư duy chỉ là sự tập hợp giản đơn những tri thức cảm tính Với phương pháp biện chứng tư biện duy tâm, Hêgen đã cung cấp một công cụ vĩ đại phục vụ cho quá trình nhận thức Song, trong phương pháp của ông, phép biện chứng chỉ là phương tiện mang tính tư biện, duy tâm để giúp cho việc “tha hóa” của ý niệm tuyệt đối”

Có thể nói rằng, do hạn chế về mặt lịch sử và khoa học, nhận thức luận trước Mác còn nhiều thiếu sót; về cơ bản, nó mới dừng lại và được coi như một công cụ

để giải thích thế giới, mà chưa thấy được nhiệm vụ lớn hơn là cải tạo thế giới hiện thực

Khắc phục những thiếu sót của triết học trước đó, C.Mác và Ph Ăngghen đã đưa ra những quan điểm, nguyên tắc có tính nền tảng về lý luận nhận thức, thực hiện bước ngoặt cách mạng trong lý luận nói chung và lý luận nhận thưc nói riêng

C Mác cho rằng khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật, kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, là đã không thấy được vai trò của thực tiễn cũng như của chủ thể nhận thức; rằng, đối với nó, các”…sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ quan” Với ông, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý và “vấn

Trang 34

đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề để thực tiễn”; rằng, đời sống xã hội, về bản chất, là có tính thực tiễn Như vậy, nhận thức khoa học đã được C.Mác coi như một hình thức hoạt động đặc thù, một quá trình phản ánh tích cực về hiện thực thông qua những chủ thể xã hội và là sự thu nhận tri thức vào ý thức con người.

V.I Lênin đã kế tục tư tưởng vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen, phát triển sâu sắc lý luận nhận thức nói chung và nhận thức khoa học nói riêng như một bộ phận cấu thành hệ thống triết học macxít hoàn chỉnh Ông cho rằng: “Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người”, nhưng sự phản ảnh của con người không phải là đơn giản, tiêu cực mà có tình năng động sáng tạo, bao gồm cả một chuỗi những sự trừu tượng, sự cấu thành, sự hình thành các khái niệm, quy luật…;rằng,

“nhận thức là quá trình, xâm nhập (của trí tuệ) vào giới tự nhiên…” và nó " là sự tiến gần mãi mãi và vô tận của tư duy đến khách thể " Lênin viết tiếp “Nhưng đó không phải là một phản ánh đơn giản, trực tiếp hoàn chỉnh, mà là một quá trình cả một chuỗi những trừu tượng, sự cấu thành, sự hình thành ra các khái niệm, quy luật etc -

và chính những khái niệm, quy luật này etc (tư duy, khoa học = “ý niệm lôgíc”) bao

quát một cách có điều kiện, gần đúng với tính quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh

viễn vận động và phát triển”

Con người thông qua khái niệm, quy luật, phạm trù để phản ánh quy luật khách quan của giới tự nhiên Lênin đã làm rõ đối tượng nhận thức của con người là giới tự nhiên Lênin viết: “Ở đây, thật sự và về khách quan có 3 vế: 1) giới tự nhiên: 2) nhận thức của con người, = bộ óc của người (với tư cách là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên đó) và 3) Hình thức của sự phản ánh giới tự nhiên vào trong nhận thức của con người; hình thức này chính là những khái niệm, những quy luật, những phạm trù etc

Con người không thể nắm được = phản ánh = miêu tả toàn bộ giới tự nhiên một cách đầy đủ “tính khách thể trực tiếp” của nó, con người chỉ có thể đi gần mãi đến đó, bằng

cách tạo ra những trừu tượng, những khái niệm, một bức tranh khoa học về thế giới, v.v và v.v,.” [31, tr.192-193]

Trang 35

Lênin chỉ ra rằng nhận thức con người là một quá trình ngày càng đi sâu vào bản chất của giới tự nhiên chứ không thể nhận thức một cách đầy đủ ngay được, nghĩa là nhận thức là một quá trình đi từ hiện tượng đến bản chất Lênin viết Con người không

thể nắm được = phản ánh = miêu tả toàn bộ giới tự nhiên một cách đầy đủ “tính khách thể trực tiếp” của nó, con người chỉ có thể đi gần mãi đến đó, bằng cách tạo ra những

trừu tượng, những khái niệm, một bức tranh khoa học về thế giới, v.v và v.v,.” [31, tr.192-193]

Bằng các khái niệm, quy luật, phạm trù, con người ngày càng phản ánh giới tự nhiên sâu sắc và đầy đủ hơn Quá trình đó không bao giờ kết thúc, con người ngày càng tiếp cận đến giới tự nhiên vì bản thân giới tự nhiên luôn luôn vận động và phát triển Trong quá trình nhận thức đó, con người bằng các khái niệm, quy luật, tạo ra bức tranh khoa học về thế giới, bức tranh đó ngày càng được mở rộng, ngày càng sâu sắc hơn để phản ánh giới tự nhiên

Lênin khẳng định một nguyên lý trong quá trình nhận thức là, giới tự nhiên và con người phải kết hợp lại chứ không phải tách rời ra Lênin tán thành sự phê phán của Hêghen đối với Cantơ, vì Cantơ cho rằng “vật tự nó” là không thể nhận thức được, ông đã tách nhận thức với tồn tại, con người với tự nhiên Lênin viết: “Ở Cantơ, nhận thức chia rẽ (tách rời) giới tự nhiên và con người; thật ra, nó nối liền hai cái đó với nhau”

Lênin cho rằng, nhận thức là một quá trình biện chứng qua nhiều giai đoạn Lênin nói: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trưu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [31, tr.179]

Lênin tiếp tục giải thích nhận thức của con người gồm có hai hình thức là cảm tính và lý tính, có nguyên do từ đặc tính của bản thân thế giới khách quan quyết định, bởi: “Giới tự nhiên thì vừa là cụ thể vừa là trừu tượng, vừa là hiện tượng vừa là bản chất, vừa là khoảnh khắc vừa là quan hệ” Vì thế chính cái khách quan quy định cái chủ quan chứ không phải ngược lại và hoạt động nhận thức của con người là sự thống nhất giửa chủ quan và khách quan

Trang 36

1.2.2.3 Vấn đề logic học trong tác phẩm

Định nghĩa về lôgích biện chứng: Lênin nêu lên định nghĩa về lôgích biện chứng:

"Lôgích không phải là học thuyết về những hình thức bên ngoài của tư duy, mà là họcthuyết về những quy luật phát triển của "tất thảy mọi sự vật vật chất, tự nhiên và tinhthần", tức là học thuyết về những quy luật phát triển của toàn bộ nội dung cụ thể của

thế giới và nhận thức thế giới, tức là sự tổng kết, tổng số, kết luận của lịch sử nhận

Như vậy, lôgích biện chứng không nghiên cứu hình thức bên ngoài của tư duy

mà là nghiên cứu nội dung cụ thể của thế giới và sự nhận thức những nội dung đó.Lôgích biện chứng chuyển tính chính xác về hình thức của tư duy sang tính chân lýcủa tư tưởng Trong định nghĩa đó cũng khẳng định nhận thức của con người có thểphản ánh được bản chất và quy luật khách quan của thế giới Lênin cho rằng, lôgíchbiện chứng là học thuyết về những quy luật phát triển của toàn bộ nội dung cụ thểcủa thế giới và nhận thức thế giới Ở đây, bản thể luận và nhận thức luận đã thốngnhất Đây là một vấn đề rất quan trọng trong triết học mà nhiều nhà triết học trướcMác đã phạm sai lầm Ví dụ như Cantơ cho rằng, thế giới "vật tự nó" là không thểnhận thức được, như vậy ông đã tách rời bản thể luận và nhận thức luận, và đi đếnthuyết không thể biết

Định nghĩa trên còn nêu lên vai trò của lôgích biện chứng là sự tổng kết, tổng

số, kết luận của lịch sử nhận thức thế giới Ở đây có mối quan hệ giữa cái lôgích vàcái lịch sử trong quá trình nhận thức thế giới

Trang 37

Theo Lênin, “Trong logic cũ không có chuyển hóa, không có phát triển (củanhững khái niệm của tư duy), không có liên hệ bên trong tất yếu” [31, tr.106] nênkhái niệm trong logic hình thức là cái tỉnh tại được cho Ngược lại, logic biệnchứng là tư duy biện chứng, luôn nhìn đối tượng trong sự vận động, trong mối liên

hệ và quan hệ với các đối tượng khác nên khái niệm trong logic biện chứng là sựthống nhất giữa tính ổn định và tính biến hóa

Nội dung của lôgích biện chứng: Lênin đề ra những nội dung chủ yếu cholôgích biện chứng Lênin viết: "Những quan hệ (= chuyển hoá = mâu thuẫn) của

những khái niệm = nội dung chủ yếu của lôgích, hơn nữa những khái niệm ấy (và

những quan hệ, chuyển hoá và mâu thuẫn của chúng) đều được trình bày như là

những phản ánh của thế giới khách quan Biện chứng của sự vật sản sinh ra biện chứng của ý niệm, chứ không phải ngược lại"[31, tr.209] Khái niệm luôn có mối

quan hệ chuyển hóa từ cái nọ sang cái kia, tràn từ cái nọ sang cái kia và phản ánhthế giới khách quan một cách sinh động

"Trong những khái niệm của con người; những khái niệm này cũng phải đượcmài sắc, gọt giũa, mềm dẻo, năng động, tương đối, liên hệ với nhau, thống nhấttrong những đối lập, để có thể bao quát vũ trụ" [31, tr.155-156] Lênin chỉ ra mộtcách cụ thể các khái niệm, phạm trù phải như thế nào để có thể phản ánh sự vậtkhách quan

Như vậy, nội dung chủ yếu của lôgích biện chứng là quan hệ và chuyển hoácủa các khái niệm Hai chữ "quan hệ" biểu hiện một nội dung tư tưởng rất rộng,trong đó có một nội dung là mâu thuẫn, mâu thuẫn tức là quan hệ của hai mặt đốilập Do đó, nội dung chủ yếu của lôgích biện chứng là quan hệ mâu thuẫn của cáckhái niệm, mâu thuẫn của những khái niệm đó phản ánh mâu thuẫn thực sự trongcuộc sống

Khái niệm phải linh hoạt, mềm dẻo, năng động thì mới có thể phản ánh đượcmâu thuẫn và chuyển hoá của sự vật Những khái niệm của lôgích biện chứng phải

là những khái niệm đúng đắn Muốn hình thành khái niệm phải tiến hành trừutượng hoá đối với sự vật, hiện tượng khách quan, nhưng không phải sự trừu tượngnào cũng đúng đắn, khoa học Có những sự trừu tượng trống rỗng sẽ đưa đến

Ngày đăng: 16/05/2021, 23:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác- Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
[2]. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Giáo trình triết học Mác- Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác- Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
[3]. N. A. Berdaev, Phạm Nguyên Trường dịch, Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức- phần 1, tập tiểu luận Về trí thức Nga, Nhà xuất bản trí thức, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức- phần 1,"tập tiểu luận "Về trí thức Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản trí thức
[4]. N. A. Berdaev, Phạm Nguyên Trường dịch, Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức- phần 2, tập tiểu luận Về trí thức Nga, Nhà xuất bản trí thức, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức- phần 2,"tập tiểu luận "Về trí thức Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản trí thức
[5]. Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch, Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác - PH.Ăngghen - V.I.Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia,Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác - PH.Ăngghen - V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[6]. Đỗ Kiên Cường, Giới hạn của nhận thức, tạp chí Tia sáng, Thứ ba, 23/9/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới hạn của nhận thức
[7]. Câu hỏi và bài tập triết học chủ nghĩa duy vật biện chứng (tập 2), Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi và bài tập triết học chủ nghĩa duy vật biện chứng (tập 2)
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
[8]. Câu hỏi và bài tập triết học chủ nghĩa duy vật biện chứng (tập 4), Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi và bài tập triết học chủ nghĩa duy vật biện chứng (tập 4)
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
[9]. Phạm Văn Dương, Cái trừu tượng và cái cụ thể trong nhận thức, tạp chí Triết học, số 2/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái trừu tượng và cái cụthể trong nhận thức
[10]. Nguyễn Ngọc Hà , Lê Văn Mười, khái niệm thực tiễn trong lý luận nhận thức một số vấn đề cần quan tâm, Tạp chí Triết học số 4 (239) năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: khái niệm thực tiễn trong lý luận nhận thức một số vấn đề cần quan tâm
[11]. Hoàng Mỹ Hạnh, Bản chất của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo khái niệm, phạm trù, tạp chí triết học, số 9/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo khái niệm, phạm trù
[12]. Đặng Thị Hạnh, Lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội trường Đại học khoa học và nhân văn, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng
[13]. Nguyễn Chí Hiếu, Lại bàn về phạm trù thực tiễn của triết học Mác – Lênin, tạp chí sinh hoạt lý luận, số 6/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại bàn về phạm trù thực tiễn của triết học Mác –Lênin, tạp chí sinh hoạt lý luận
[14]. I. Đ. Ăng-đơ-rê-ép, Phép biện chứng duy vật với tính cách là lý luận nhận thức và logic biện chứng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phép biện chứng duy vật với tính cách là lý luận nhận thức và logic biện chứng
Nhà XB: Nxb Sựthật
[15]. Trần Trung Lập, Trần Thúy Ngọc dịch ,Tăng cường nghiên cứu phương thức tư duy, phát huy năng lực sáng tạo triết học, Tạp chí Triết học, số 6/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường nghiên cứu phương thức tư duy, phát huy năng lực sáng tạo triết học
[16]. Lịch sử phép biện chứng Mác- xít giai đoạn Lênin, Nxb Tiến bộ Mát- xcơ-va, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phép biện chứng Mác- xít giai đoạn Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va
[17]. P. Septulin, Bàn về mối liên hệ lẫn nhau của các phạm trù trong triết học Mác- xít, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về mối liên hệ lẫn nhau của các phạm trù trong triết học Mác- xít, Nxb Sựthật
Nhà XB: Nxb Sựthật
[18]. P. Septulin, Phương pháp nhận thức biện chứng, Nxb sách giáo khoa Mác- Lênin, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nhận thức biện chứng
Nhà XB: Nxb sách giáo khoa Mác- Lênin
[20]. Bùi Thanh Quất, Góp thêm một vài suy nghĩ về Lý luận nhận thức Biện chứng Duy vật, Tạp chí Triết học, 22/04/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp thêm một vài suy nghĩ về Lý luận nhận thức Biện chứng Duy vật
[21]. Hồ Sĩ Quý, Nhận thức luôn là nhu cầu mãnh liệt, Báo “Khoa học và đời sống” số 151 (2522) /2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức luôn là nhu cầu mãnh liệt", Báo “Khoa học và đời sống

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w