1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề nhân sinh quan trong triết học phật giáo thời nhà trần

174 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề nhân sinh quan trong triết học phật giáo thời nhà trần
Tác giả Vũ Thị Gấm
Người hướng dẫn PGS.TS. Trịnh Doãn Chính
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công cuộc củng cố và xây dựng đất nước Đại Việt với việc hình thành nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần .... Nếu bỏ qua những hạn chế về tính chất lịch sử và quan điểm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



VŨ THỊ GẤM

VẤN ĐỀ NHÂN SINH QUAN

TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

THỜI NHÀ TRẦN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2015

Trang 2



VŨ THỊ GẤM

VẤN ĐỀ NHÂN SINH QUAN

TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

THỜI NHÀ TRẦN

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60220301

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS TRỊNH DOÃN CHÍNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Doãn Chính Nội dung, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực Các tài liệu sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TRẦN 9

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM THẾ KỶ XIII - XIV VỚI VIỆC HÌNH THÀNH NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TRẦN 9 1.1.1 Công cuộc củng cố và xây dựng đất nước Đại Việt với việc hình thành nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần 9 1.1.2 Sự nghiệp đoàn kết dân tộc chống giặc Nguyên - Mông với việc hình thành nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần 25 1.2 TIỀN ĐỀ VĂN HÓA VÀ TƯ TƯỞNG HÌNH THÀNH NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TRẦN 37 1.2.1 Giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam với việc hình thành nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần 37 1.2.2 Quan điểm nhân sinh của Tam giáo với việc hình thành nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần 49

Kết luận chương 1 68 Chương 2: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TRẦN 70

2.1 NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA VẤN ĐỀ NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TRẦN 70 2.1.1 Quan niệm về nguồn gốc, bản chất con người trong triết học Phật giáo thời nhà Trần 72

Trang 5

2.1.3 Quan niệm về giáo dục con người và vấn đề giải thoát trong triết học

Phật giáo thời nhà Trần 94

2.1.4 Vấn đề sinh, tử của con người trong triết học Phật giáo thời nhà Trần 116

2.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TRẦN 125

2.2.1 Những đặc điểm chủ yếu trong nhân sinh quan của triết học Phật giáo thời nhà Trần 125

2.2.2 Ý nghĩa lịch sử của vấn đề nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần 145

Kết luận chương 2 157

KẾT LUẬN 160

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 164

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ môi trường; bảo tồn và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, nhằm mục tiêu: “Xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [15, tr.100] Đây là sự nghiệp cách mạng to lớn nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp của nhân dân ta Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, con người với sự phát triển toàn diện cả về đức và tài, có đủ trình độ, kỹ năng, phẩm chất đạo đức, đặc biệt có nhân sinh quan đúng đắn, là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định Đúng như Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” [36, tr.310] Nghị quyết Đại hội XI của Đảng cũng chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước” [15, tr.41], “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” [15, tr.76] Vì vậy, việc giáo dục, đào tạo con người toàn diện, có nhân sinh quan đúng đắn phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước là vấn đề có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết

Tuy nhiên, dưới tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc giáo dục, đào tạo và chăm lo cho con người ở nước ta trong thời gian qua mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể như con người làm chủ bản thân, làm chủ xã hội; rèn luyện con người có ý thức lao động, bản lĩnh,

Trang 7

năng động, thích nghi và sáng tạo; con người có điều kiện sống, suy nghĩ, hành động và lối sống văn minh, tiến bộ, … nhưng chính sự phát triển kinh

tế thị trường, hội nhập quốc tế cũng đã tác động tiêu cực đến việc đào tạo, xây dựng con người Việt Nam hiện nay Đó là sự biểu hiện tình trạng phai nhạt về lý tưởng và sự “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng” [15, tr.44] Họ chạy theo lợi ích cá nhân, sống ích kỷ, ít chú ý đến trách nhiệm và nghĩa vụ, ăn chơi sa đọa, coi thường các giá trị truyền thống Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đánh giá: “Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại” [15, tr.169] Do đó, vấn đề cấp bách đặt ra là cần giáo dục, đào tạo con người, bồi dưỡng và hoàn thiện nhân sinh quan đúng đắn cho con người Việt Nam, nhất là cho thanh, thiếu niên góp phần thắng lợi vào sự nghiệp đổi mới đất nước Muốn vậy, một mặt, chúng ta phải tiếp thu những thành tựu khoa học, giáo dục - đào tạo tiên tiến trên thế giới; mặt khác, chúng ta phải biết kế thừa những giá trị văn hóa của dân tộc, trong đó

có nhân sinh quan văn hóa để xây dựng, đào tạo toàn diện con người Việt Nam hiện nay

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, lịch sử các triều đại phong kiến nói riêng, thời nhà Trần là một trong những giai đoạn phát triển rực rỡ nhất, cả về chính trị, văn hóa, quân sự, xây dựng nên đất nước Đại Việt độc lập, thống nhất Đặc biệt, trong văn hóa thời nhà Trần đã xây dựng một nhân sinh quan trên cơ sở triết lý Phật giáo rất phong phú, sâu sắc, góp phần “cố kết lòng dân, trùng hưng sự nghiệp”, trở thành nền tảng tinh thần của xã hội Đại Việt thế kỷ XIII - XIV Nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời kỳ này là những quan niệm về đời sống, về mục đích, lý tưởng sống tốt đẹp của con người; về thái độ và hành động cũng như về sự sống, chết của con

Trang 8

người, trên cơ sở lấy tâm và sự giải thoát làm nền tảng, bằng phương pháp tu luyện trí tuệ, đạo đức và hành động gắn với thực tiễn đời sống và yêu cầu của lịch sử xã hội Đại Việt Chính nhân sinh quan ấy đã tạo được sức mạnh đoàn kết toàn dân, làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc

Nếu bỏ qua những hạn chế về tính chất lịch sử và quan điểm, lập trường giai cấp thì nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần không chỉ

có ý nghĩa lịch sử cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với xã hội Đại Việt thế

kỷ XIII - XIV, mà còn có ý nghĩa nhất định đối với sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay, đặc biệt trong việc chăm lo xây dựng, đào tạo con người Việt Nam toàn diện, có nhân sinh quan đúng đắn để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng

văn minh” [15, tr.70] Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Vấn đề nhân sinh quan

trong triết học Phật giáo thời nhà Trần” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Phật giáo thời nhà Trần được coi là một trong những đỉnh cao của nền văn hóa Đại Việt và cũng là đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam Hệ thống triết

lý Phật giáo nói chung, vấn đề nhân sinh quan trong triết học Phật giáo nói riêng đã trở thành nền tảng tinh thần của xã hội Đại Việt, làm nên ba lần đại thắng quân Nguyên - Mông, góp phần xây dựng đất nước Đại Việt độc lập, hùng mạnh Do đó, có nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu về vấn đề này ở những góc độ khác nhau Có thể khái quát kết quả các công trình đó trong những chủ đề chính sau:

Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về vấn đề nhân sinh quan

trong triết học Phật giáo thời nhà Trần ở góc độ lịch sử nói chung và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng Tiêu biểu cho chủ đề này phải kể đến các tác

phẩm lớn như: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông thế

kỷ XIII của Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

1975; Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần của Viện Sử học, Nxb Khoa

Trang 9

học xã hội, Hà Nội, 1980; Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Đại cương lịch sử Việt Nam, do Trương Hữu Quýnh,

Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005; … Đây là những công trình khoa học trình bày và phân tích khá sâu sắc những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như tiền đề lý luận hình thành nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần Về lịch sử Phật giáo Việt

Nam phải kể đến các tác phẩm: Việt Nam Phật giáo sử lược của Thích Mật Thể, Nxb Minh Đức, 1944; Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Viện Triết học

do Nguyễn Tài Thư và Minh Chi chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

1988; Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 4 (tư tưởng Việt Nam thời Trần) của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1992; Lược sử Phật giáo Việt

Nam của Thích Minh Tuệ, Thành hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh, 1993; Việt Nam Phật giáo sử luận I - II - III của Nguyễn Lang, Nxb Văn học, Hà Nội,

2000; Lịch sử Phật giáo Việt Nam, của Lê Mạnh Thát, tập 3, Nxb Tổng hợp,

Tp Hồ Chí Minh, 2006, … Các tác phẩm này đều đề cập đến lịch sử của Phật giáo Việt Nam nói chung, dành nhiều trang viết về Phật giáo thời Trần cùng với việc giới thiệu về con người, tư tưởng của các thiền sư tiêu biểu thời Trần như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang Đây là những tài liệu rất cần thiết giúp cho quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn của tác giả

Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về nhân sinh quan trong triết

học Phật giáo thời nhà Trần ở góc độ văn học như: Văn học Việt Nam - Văn

học đời Trần của Ngô Tất Tố, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1960; Văn học Việt Nam thế kỷ thứ X, nửa đầu thế kỷ XIII của Đinh Gia Khánh - Bùi Duy

Tân - Mai Cao Chương, tập 1, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp,

Hà Nội, 1978; Thơ văn Lý - Trần, do Viện Văn học biên soạn, Nxb Khoa học xã hội, tập 2, 1989; Thơ văn Lý - Trần của Lê Bảo, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999; Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, của Lê Mạnh Thát, Nxb

Trang 10

Tp Hồ Chí Minh, 2002; Văn học Phật giáo thời Lý Trần - diện mạo và đặc

điểm của Nguyễn Công Lý, Nxb Đại học quốc gia, Tp Hồ Chí Minh, 2003;

… Trong các tác phẩm trên, đáng chú ý nhất là tác phẩm Thơ văn Lý - Trần,

tập 2, do Viện Văn học biên soạn Đây là công trình khá đồ sộ, được thực hiện công phu, trình bày nguyên bản các tác phẩm, bản văn thơ kèm theo những lời giới thiệu, đánh giá khái quát về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn, tư tưởng của các vị vua, quan thời Trần Đây là tài liệu quan trọng giúp cho tác giả nghiên cứu về nội dung của vấn đề nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần

Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về vấn đề nhân sinh quan trong

triết học Phật giáo thời Trần dưới góc độ tư tưởng triết học, như các tác

phẩm: Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997; Tư tưởng triết học của Thiền phái

Trúc Lâm đời Trần của Trương Văn Chung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 1998; Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế

kỷ XIV của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 2002; Lịch sử

tư tưởng triết học Việt Nam do Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, 2006; Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần, do Doãn

Chính, Trương Văn Chung chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2008;

Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông - đặc điểm và giá trị lịch sử của Bùi Huy

Du, Nxb Chính trị quốc gia, 2012; Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ

thời kỳ dựng nước tới đầu thế kỷ XX, do Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính

trị Quốc gia, 2013; …

Ngoài ra còn có các bài viết đã được đăng trên tạp chí chuyên ngành

liên quan đến đề tài luận văn như: Triết học Phật giáo Trần Thái Tông của

Nguyễn Hùng Hậu, Nội san nghiên cứu Phật giáo, số 4/1994 và số 1/1995,

Hà Nội; Tìm hiểu tư tưởng triết học Thiền của Trần Nhân Tông của Nguyễn Hùng Hậu, Tạp chí Triết học, số 87/1995; Tư tưởng triết học của

Trang 11

Tuệ Trung Thượng Sĩ của Doãn Chính, Tạp chí Triết học, số 8/2012; Triết

lý nhân sinh trong triết học Phật giáo thời Trần của Doãn Chính - Bùi

Huy Du, Tạp chí Khoa học xã hội, số 11/2013; … Và một số luận án, luận văn mới công bố viết về thời đại nhà Trần, về Phật giáo thời Trần (trong

đó có đề cập đến nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần)

như: Tư tưởng Việt Nam thời Trần, luận án tiến sĩ Lịch sử của Trần Thuận, năm 2003; Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông, luận án tiến sĩ Triết học của Bùi Huy Du, năm 2009; Triết học Phật giáo thời Trần, luận

án tiến sĩ Triết học của Đỗ Hương Giang, năm 2010; … Các công trình kể trên đã tập trung nghiên cứu nội dung tư tưởng của triết học Phật giáo thời nhà Trần với những quan điểm phong phú, sâu sắc về bản thể luận, nhận thức luận và cả về triết lý nhân sinh thông qua tư tưởng của các thiền sư tiêu biểu như: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang

Nhìn chung cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về triết học Phật giáo thời nhà Trần ở các phương diện khác Song, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu riêng về vấn đề nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời kỳ này Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đã đạt được từ những người đi trước, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả cố gắng trình bày một cách toàn diện nội dung cơ bản của vấn đề nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần, từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử của nó đối với xã hội Đại Việt thế kỷ XIII - XIV và ý nghĩa đối với hiện nay, nhất là trong việc đào tạo, xây dựng toàn diện con người Việt Nam phục vụ sự nghiệp đối mới đất nước

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là nhằm làm rõ những nội dung và một số đặc điểm cơ bản của vấn đề nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà

Trang 12

Trần, từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với xã hội Đại Việt thế kỷ XIII - XIV, đối với công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, nhất là trong việc chăm lo xây dựng, đào tạo con người Việt Nam toàn diện,

có nhân sinh quan đúng đắn để phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước

Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Trình bày và phân tích cơ sở xã hội và những tiền đề dẫn đến hình thành nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần

- Trình bày và phân tích những nội dung của vấn đề nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần; từ đó đánh giá, rút ra những đặc điểm

và ý nghĩa lịch sử của vấn đề nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ trên, luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức, tôn giáo nói chung, về Phật giáo nói riêng

Đồng thời, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, logic, lịch sử, so sánh, đối chiếu để nghiên cứu và trình bày luận văn Luận văn được tiếp cận dưới góc độ triết học lịch

sử và triết học tôn giáo

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Về ý nghĩa khoa học, luận văn góp phần làm rõ nội dung, đặc điểm cơ

bản của vấn đề nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần một cách khái quát và hệ thống, giúp người đọc hiểu một cách sâu sắc về tư

Trang 13

tưởng triết học Phật giáo thời kỳ này cũng như quá trình phát triển của lịch

sử tư tưởng Việt Nam

Về ý nghĩa thực tiễn, từ việc phân tích nội dung của vấn đề nhân sinh

quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần, luận văn đã rút ra ý nghĩa lịch

sử của nó về cả mặt lý luận và thực tiễn, nhất là đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo con người Việt Nam hiện nay

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc học tập

và giảng dạy về lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam tại các trường Cao đẳng, Đại học ở nước ta

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày trong 2 chương và 4 tiết

Trang 14

Chương 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TRẦN

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM THẾ KỶ XIII - XIV VỚI VIỆC HÌNH THÀNH NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TRẦN

Quá trình hình thành tư tưởng của một dân tộc luôn gắn liền với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của dân tộc đó Ứng với từng hoàn cảnh lịch sử

cụ thể, các điều kiện này quy định nội dung, tính chất các hình thái tư tưởng khác nhau Đúng như C.Mác - Ăngghen đã nói: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [34, tr.607] và “các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [32, tr.156]

Vì vậy, là hình thái ý thức xã hội, nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần được hình thành gắn liền với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như nhiệm vụ cấp bách của xã hội Đại Việt thời nhà Trần, đó là công cuộc củng cố, xây dựng đất nước Đại Việt hùng mạnh; là yêu cầu đoàn kết sức mạnh toàn dân tộc để chống giặc Nguyên - Mông, khẳng định độc lập, tự chủ

và thống nhất của đất nước Đồng thời, nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời kỳ này còn là sự kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam và các quan điểm về nhân sinh sâu sắc của “Tam giáo” tạo nên nét đặc sắc, độc đáo mang đậm tính cách và tâm hồn Việt Nam

1.1.1 Công cuộc củng cố và xây dựng đất nước Đại Việt với việc hình thành nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần

Trong lịch sử tồn tại và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, sự thay thế triều đại này bằng một triều đại khác diễn ra như một quá trình tất

Trang 15

yếu, khách quan Do đó, triều đại nhà Trần thay thế nhà Lý không nằm ngoài quy luật tất yếu ấy Đất nước Đại Việt trải qua thời kỳ thống trị của nhà Lý bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì còn những hạn chế đáng kể trong việc phát triển kinh tế, ổn định xã hội Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho vua tôi nhà Trần là tiến hành củng cố và xây dựng đất nước Đại Việt hùng mạnh về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Chính quá trình này đã hình thành và thể hiện rõ nhân sinh quan của người Việt

Cuối thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII, sau thời kỳ hưng thịnh của nhà Lý, đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội trầm trọng Nạn thiên tai, mất mùa, đói kém, bệnh dịch hoành hành nhiều nơi trong nước làm cho nền kinh tế ngày càng thêm sa sút, đời sống nhân dân thêm cùng khổ Bên cạnh đó, bộ máy chính quyền nhà Lý từ trung ương đến địa phương tỏ ra quan liêu, lỏng lẻo trong việc quản lí xã hội dẫn đến tình trạng ở nhiều địa phương, các lãnh chúa phong kiến đã tập hợp lực lượng, nổi dậy chống phá triều đình, gây nên tình trạng cát cứ, phân quyền khắp nơi trong cả nước Trong số các tập đoàn quân sự cát cứ thời bấy giờ, ba tập đoàn cát cứ lớn chiếm ba vùng là: Nguyễn Nộn chiếm cứ Bắc Giang, Đoàn Thượng chiếm cứ Hồng Châu (Hải Dương) và mạnh nhất là tập đoàn cát cứ của anh em họ Trần ở vùng Hải Ấp (Thái Bình) Kinh thành Thăng Long rơi vào cảnh loạn lạc nhiều lần bị đánh phá khiến vua tôi nhà Lý nhiều lần phải đi sơ tán Do có công giúp nhà Lý dẹp loạn, lập lại trật tự, gia tộc họ Trần được triều đình trọng dụng đã thao túng quyền bính và dần thâu tóm mọi quyền lực trong tay

Vua nhà Lý lúc đó là Lý Huệ Tông, không có con trai, chỉ có hai người con gái với Trần Thị Dung Công chúa đầu gả cho Trần Liễu, công chúa thứ hai là Chiêu Thánh được lập làm thái tử Năm 1225, Lý Huệ Tông nhường ngôi cho Chiêu Thánh (Lý Chiêu hoàng) vừa mới bảy tuổi, lên làm Thái Thượng hoàng Sau đó, Huệ Tông xuất gia đi tu ở chùa Chân Giáo, lấy hiệu

là Huệ Quang đại sư Với cương vị là vua một nước nhưng do Lý Chiêu

Trang 16

Hoàng còn quá nhỏ nên mọi quyền hành trong thực tế đều do anh em họ Trần thao túng, nhất là quyền bính trong triều đều nằm trong tay Trần Thủ

Độ Theo sự sắp xếp của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu hoàng đã kết hôn với Trần Cảnh (em ruột của Trần Liễu) “Mùa đông, tháng 12, ngày 12 năm Ất Dậu (1225) nhận thiền vị của Chiêu hoàng, lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung” [65, tr.7] dưới sự giúp đỡ, ủng hộ của Trần Thủ Độ và họ hàng Như vậy, vương triều Lý đến đây chấm dứt sau 216 năm cầm quyền và bắt đầu cho triều đại nhà Trần

Kế tục những thành quả của nhà Lý trong việc phát triển kinh tế, xã hội, nhà Trần đã tập trung củng cố, xây dựng một đất nước Đại Việt hùng mạnh, thống nhất và chú trọng phát triển đất nước ở tất cả các lĩnh vực mà trước hết

là kinh tế

Về kinh tế, trong những năm đầu trị vì, nhà Trần tập trung đẩy mạnh

phát triển kinh tế Nhà Trần coi trọng nghề nông, đưa nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp, đặc biệt là chế độ sở hữu ruộng đất Có hai hình thức sở hữu ruộng đất trong nước ở thời nhà Trần, đó là ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước thông qua công xã nông thôn và ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân

Về hình thức ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước: Quyền sở hữu nhà nước

về đất đai được thiết lập trên các công xã nông thôn, nghĩa là, nhà vua nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất “đất của vua, chùa của bụt”, còn các công

xã được nắm quyền chiếm dụng và phân phối lại ruộng đất cho các thành viên công xã Đây là mối quan hệ sở hữu kép mang đậm màu sắc của chế độ phong kiến phương Đông Có hai bộ phận cấu thành ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước là: ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý và ruộng đất công làng

xã (do làng xã trực tiếp quản lý)

Bộ phận ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý gồm: Sơn lăng, Tịch điền và Quốc khố, tồn tại như tài sản của bản thân nhà vua và hoàng cung

Trang 17

Sơn lăng là đất phần mộ, ruộng được giao cho nông dân địa phương cày cấy nộp một số hoa lợi để dùng vào việc thờ phụng và sửa sang lăng, đền Tổng diện tích của ruộng Sơn lăng rất nhỏ nên nhìn chung nó không có tác dụng đáng kể trong chế độ sở hữu ruộng đất Tịch điền là ruộng đất riêng của cung đình, phần lớn các hoa lợi trên ruộng này đều sung vào kho riêng của vua, dùng để tế tự, chuẩn cấp cho dân nghèo hoặc để tiếp khách Tổng diện tích ruộng Tịch điền cũng nhỏ, không có ảnh hưởng gì nhiều trong sự phát triển sản xuất nông nghiệp Ruộng quốc khố là một trong các loại ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý, dùng cho tội phạm và tù binh cày cấy, có quy định mức tô cho loại ruộng này Như vậy, ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý chiếm số lượng không lớn nhưng cũng là nguồn thu nhập đáng kể của triều đình và vua nắm quyền sở hữu

Bộ phận ruộng đất công làng xã cũng thuộc sở hữu nhà nước nhưng do làng xã trực tiếp quản lý Loại đất này chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diện tích ruộng đất của cả nước, giao cho làng xã chia nhau cày cấy và nộp tô trực tiếp cho nhà nước Tô thuế ruộng đất thời kỳ này chủ yếu là đánh vào ruộng công, nhân đinh cày ruộng công làng xã phải nộp bằng thóc theo diện tích và phải thêm một số tiền nhất định Như vậy, hình thức thu tô thuế của nhà nước được thực hiện bằng cả hình thức hiện vật (thóc) và tiền, có quy định

cụ thể như: “Nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc, người không có ruộng thì miễn cả Có 1, 2 mẫu ruộng thì nộp 1 quan tiền, có 3, 4 mẫu thì nộp 2 quan tiền, có từ 5 mẫu trở lên thì nộp 3 quan tiền Tô ruộng mỗi mẫu nộp

100 thăng thóc” [65, tr.19]

Về hình thức sở hữu ruộng đất tư nhân, gồm có: thái ấp, điền trang của quý tộc nhà Trần, ruộng tư hữu của địa chủ và ruộng đất sở hữu của tiểu nông Thời kỳ đầu, khi chế độ lương bổng chưa được thực hiện, vua Trần đã dùng ruộng đất để phong cấp cho quý tộc quan lại và những người có công hoặc cấp cho họ một số hộ nông dân để thu bổng lộc Việc phong cấp đó dẫn

Trang 18

đến việc hình thành các thái ấp của quý tộc quan lại Ban cấp thái ấp là chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo cơ sở xã hội cho chính quyền nhà Trần Nguồn đất ban đầu của thái ấp thuộc quyền sở hữu nhà nước nhưng khi ban cấp thành thái ấp thì thái ấp thuộc chiếm hữu tư nhân các quý tộc Theo Trương Hữu Quýnh: “Thái ấp là một hình thức phong cấp làng xã cho vương hầu thời Trần Quy mô thái ấp không lớn, chỉ là một hoặc hai xã: Vạn Kiếp

là hai làng, Dương Xá là một làng, Dưỡng Hòa một làng, Quắc Hương một làng, …” [69, tr.106] Trên thái ấp của mình, các vương hầu, quý tộc làm chủ, được thu tô, thuế, bắt dân đi lao dịch cho mình và thành lập quân đội riêng Ngoài các thái ấp, tầng lớp quý tộc nhà Trần còn được quyền lập các điền trang riêng Năm 1226, do nhu cầu khẩn trương mở rộng diện tích canh tác và thực hiện chủ trương xây dựng, củng cố thêm lực lượng của quý tộc Trần, nhà Trần đã cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập những người phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn đất hoang, lập điền trang Vương hầu có thực sự điền trang từ đấy Điền trang là những trang trại lớn của quý tộc thời Trần, do quý tộc trực tiếp quản lý, sử dụng sức lao động của gia nô, nô tỳ và có quyền thừa kế Đây là bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu lớn phong kiến, tư nhân Phương thức bóc lột trong điền trang chủ yếu là thu tô Chế độ điền trang phát triển mạnh ở thời nhà Trần gắn liền với sự phát triển của chế độ nông nô và nô tỳ Sự xuất hiện điền trang vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa quân sự Các vương hầu, quý tộc Trần được lập điền trang, xây dựng phủ đệ, các lực lượng vũ trang riêng trên địa bàn quan trọng Triều đình cũng cho phép: “Bán ruộng công, mỗi một diện (mẫu) là 5 quan” [65, tr.25] Việc bán công điền thành tư điền

đã đẩy mạnh sự phát triển sở hữu lớn của quý tộc nhà Trần, làm phát triển mạnh mẽ việc chiếm hữu tư nhân về ruộng đất, tạo thêm một bước chuyển biến về mở rộng cho hình thái kinh tế phong kiến Điền trang và thái ấp là

Trang 19

hai bộ phận quan trọng có ý nghĩa quyết định tính chất loại hình sở hữu ruộng đất phong kiến quý tộc thời bấy giờ

Như vậy, ở thời nhà Trần, chế độ sở hữu ruộng đất, nhất là chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất giữ một vị trí hết sức quan trọng Đó là cơ sở để phát triển kinh tế của nhà nước, đồng thời cũng là cơ sở để xây dựng lực lượng quân sự cần thiết

Nhà Trần rất quan tâm đến sự phát triển nông nghiệp với việc thực hiện

chính sách bảo vệ và phát triển nông nghiệp như bảo vệ sức kéo, miễn thuế

cho dân khi mất mùa, thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” - gửi binh ở

nông, là chính sách gắn liền giữa nông và binh, giữa chiến đấu và sản xuất, giữa kinh tế và quân sự Đây là chính sách lớn, một quốc sách về xây dựng quân đội phòng giữ đất nước Nhà Trần ban chiếu khuyến nông và đặc biệt rất quan tâm đến công tác trị thủy Năm 1248, Trần Thái Tông đặt cơ quan

hà đê, có chánh sứ, phó sứ phụ trách việc đê điều ở các lộ phủ Đây là công việc quan trọng, một bước ngoặt lớn trong lịch sử thủy lợi nước ta Đắp đê ngăn mặn ở vùng ven biển để lập điền trang là công việc mới mẻ ở thời nhà Trần Năm 1248, Trần Thái Tông lại cho đào sông Mã, sông Lễ và đục núi Chiếu Bạch ở Thanh Hóa Năm 1256, triều đình lại cho khơi lại sông Tô Lịch nhằm đảm bảo giao thông và tưới tiêu Đến thế kỷ XIV, hệ thống đê dọc sông Hồng và các sông lớn ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ ngày nay, về cơ bản

đã được xây dựng Đây là một thành quả vô cùng to lớn quân dân thời nhà Trần, đồng thời cũng thể hiện tính chất tích cực của nhà nước thời Trần Nhà nước đã thực sự quan tâm đến nền sản xuất xã hội bằng việc huy động nhân dân chăm lo làm thủy lợi, góp phần quan trọng vào sự phát triển nông nghiệp

ở nước ta thời bấy giờ: bảo vệ người, bảo vệ ruộng đất, cây trồng và gia súc, cung cấp nước cho đời sống và sản xuất Nhờ đó mà mấy thế kỷ liền nhân dân ta đã tạo được thế đứng vững chắc, ổn định đời sống dân cư làm nông nghiệp Rõ ràng việc làm đó đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển lực

Trang 20

lượng sản xuất cũng như làm tăng thêm mức thu hoạch của nhân dân thời kỳ này Đây cũng là điều kiện cơ bản để nhà Trần phát động cuộc chiến tranh nhân dân, đánh bại quân xâm lược Nguyên - Mông, bảo vệ vững chắc nền độc lập, đời sống nhân dân được bảo đảm, đưa nước Đại Việt phát triển đỉnh cao của thời kỳ phong kiến

Bên cạnh đó, thủ công nghiệp và thương nghiệp đều có sự phát triển

đáng kể Thủ công nghiệp được nhà nước quan tâm, tiếp tục xây dựng và mở

rộng các quan xưởng thủ công với nhiều ngành nghề khác nhau Có thể kể đến các ngành nghề như: nghề sản xuất đồ gốm là bộ phận quan trọng trong xưởng; nghề dệt cũng được nhà nước chú ý, đặt ngay trong cung đình; xưởng chế tạo vũ khí

Thủ công nghiệp nhân dân cũng là bộ phận quan trọng và phổ biến của tiểu thủ công Chợ, phố, lị, sở, các lộ phủ và kinh đô Thăng Long là địa điểm trao đổi sản phẩm Các nghề thiết yếu của thủ công nghiệp nhân dân thời nhà Trần là nghề đồ gốm Nổi tiếng nhất là Bát Tràng (Hà Nội), trung tâm làm gốm nổi tiếng của cả nước Vào thời nhà Trần, nghề rèn sắt đã phát triển mạnh, hình thành nhiều làng chuyên nghiệp tiêu biểu như ở phủ Diễn Châu, Nghệ An có hai làng Tùng Lâm và Hoa Chàng Nghề đúc đồng cũng có vị trí

to lớn với trung tâm đúc đồng cổ truyền thời bấy giờ là ở làng Bưởi (làng Đại Bái, Gia Lương, Bắc Ninh) Ngoài ra, nghề mộc, xây dựng, nghề làm giấy, khắc bản in, khai khoáng, … được cũng nhà Trần chú ý phát triển Sự phát triển của các ngành nghề thủ công nghiệp đã góp phần đáng kể vào nền kinh tế đất nước

Thương nghiệp, ở thời nhà Trần việc mua bán và trao đổi hàng hóa

trong nước cũng như với nước ngoài rất phát triển Hàng hóa trao đổi phong phú, đa dạng như: the, lĩnh các màu, lụa, vải, tranh bố, lược ngà, giấy, đồng, sắt, … Nhà Trần đã nhiều lần ban hành tiền tệ, đúc tiền đồng để tiện cho việc trao đổi Tiền đồng đóng vai trò làm vật ngang giá trong thương nghiệp, là

Trang 21

phương tiện lưu thông hàng hóa Quan hệ tiền tệ thâm nhập vào đời sống chính trị, tín ngưỡng Mạng lưới giao thông phát triển đã thúc đẩy việc buôn bán trong nước phát đạt, thị trường mở rộng Chợ có mặt khắp phố phường, đặc biệt là kinh đô Thăng Long với 61 phường buôn bán tấp nập trở thành trung tâm chính trị, văn hóa, đồng thời cũng là một trung tâm kinh tế lớn nhất của Đại Việt lúc đó Ngoại thương thời nhà Trần cũng khá phát triển Thương nhân, lái buôn người nước ngoài đến nước ta trao đổi và buôn bán hàng hóa khá đông Bến cảng Vân Đồn trở thành điểm giao thương quốc tế, trao đổi giữa hàng hóa Đại Việt với các nước khác ở Đông Nam Á và Đông Á

Sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp đã thúc đẩy quá trình lưu thông, trao đổi hàng hóa giữa các vùng trong cả nước, tạo điều kiện cho nước ta có dịp giao lưu, tiếp xúc rộng với nền văn hóa của nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới Điều này góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng đất nước vững mạnh về mọi mặt, làm cho nền văn minh Đại Việt trở thành một trong những nền văn minh phát triển rực rỡ nhất của dân tộc

Tóm lại, bên cạnh việc phát triển kinh tế với việc sử dụng lao động chủ yếu là nông nô, nô tỳ, thì kinh tế làng xã cũng giữ vai trò quan trọng dưới thời Trần Đó là nền kinh tế của những người nông dân kiêm thợ thủ công và thương nhân, là những đơn vị sản xuất nhỏ kết hợp với buôn bán nhỏ trong làng xã Nông nghiệp phát triển là đòn bẩy để tăng của cải trong xã hội, tạo nền tảng cho các ngành nghề thủ công và mỹ nghệ phát triển, đồng thời, thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa làng xã và các ngành nghề thủ công truyền thống ở kinh thành Thăng Long phát triển Những chính sách tiến bộ cùng với thành quả xây dựng kinh tế của Đại Việt đã tạo ra một cơ sở vật chất vững vàng cho sự tồn tại của quốc gia độc lập, góp phần nâng cao đời sống nhân dân và tăng cường sức mạnh phòng thủ của đất nước

Về chính trị - xã hội, cùng với việc phát triển kinh tế, nhà Trần cũng

ra sức củng cố và phát triển nhà nước phong kiến tập quyền Tất cả những

Trang 22

chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước đều do tôn thất nhà Trần nắm giữ Nhà nước phong kiến Đại Việt là một hệ thống chính quyền gồm bốn cấp là: triều đình trung ương; các lộ, trấn; các phủ, huyện, châu; các hương, giáp hoặc xã Triều đình trung ương là cơ quan tập trung quyền lực cao nhất trên mọi hoạt động của nhà nước, kiểm soát các địa phương thông qua

hệ thống chính quyền các cấp và pháp luật của nhà nước phong kiến Xã hội thời Trần có hai giai cấp chính là địa chủ phong kiến và nông dân Ngoài ra còn có các tầng lớp khác như thợ thủ công, thương nhân và các lao động khác Trong xã hội phân hóa thành những đẳng cấp, với ba đẳng cấp chính là đẳng cấp quý tộc, tôn thất, quan lại; đẳng cấp những người bình dân và đẳng cấp nô tỳ

Đẳng cấp quý tộc, tôn thất, quan lại trong chính quyền quân chủ đứng

đầu là vua, dưới vua là các quý tộc, quan lại, những người trong bộ máy hành chính giúp việc cho nhà nước Vua Trần đóng vai trò đặc biệt trong tập đoàn quý tộc, là người nắm quyền lực tối thượng trên mọi lĩnh vực của đất nước Giúp việc cho vua là một bộ máy tôn thất, quý tộc thuộc giới thượng lưu cầm quyền trong xã hội, có địa vị chính trị cao và sở hữu số lượng lớn các điền trang, thái ấp do được phong cấp hoặc khẩn hoang mà có Bên cạnh

đó, còn có một bộ phận tầng lớp quan liêu giúp việc trong các đơn vị hành chính của nhà nước Tầng lớp này chủ yếu là các nho sĩ và quan lại không thuộc dòng họ Trần Họ không được cấp đất đai, không có nô tỳ Như vậy có thể thấy rằng, trong nội bộ đẳng cấp thống trị này đã phân hóa thành hai tầng lớp, đó là: tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần và tầng lớp địa chủ quan liêu Hai tầng lớp này khác nhau cả về lợi ích kinh tế cũng như địa vị xã hội Đẳng cấp những người bình dân (chủ yếu là nông dân các làng xã, thợ thủ công, thương nhân và địa chủ thứ dân) Đây là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, đóng vai trò chủ đạo trong lực lượng sản xuất, nuôi sống xã hội

và gánh vác các nghĩa vụ do nhà nước quy định như nộp tô thuế, lao dịch, đi

Trang 23

lính, Ngoài ra, thợ thủ công và thương nhân cũng chiếm phần đông dân cư trong xã hội Họ là người sản xuất ra các mặt hàng tiêu dùng, đáp ứng những nhu cầu của xã hội hoặc tạo điều kiện cho sự giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các địa phương thuận lợi, góp phần thúc đẩy xã hội thời nhà Trần phát triển Đẳng cấp nô tỳ bị coi là thấp hèn nhất trong xã hội Nô tỳ có thể xuất thân từ dân nghèo phiêu tán, không có sản nghiệp phải bán mình làm nô, tội nhân bị sung làm nô hoặc tù binh Nô tỳ lại được phân thành “gia nô” tức nô

tỳ làm việc sản xuất, phục vụ các điền trang, thái ấp của gia đình quý tộc, quan lại để phân biệt với nô tỳ của nhà nước làm trong các loại ruộng đất hoặc công trình do nhà nước quản lí Chế độ nô lệ ở nước ta mang tính chất không điển hình theo kiểu nô lệ gia trưởng phương Đông, tuy nhiên về đại thể mà xét thì lực lượng nô tỳ đóng một vai trò không nhỏ trong sản xuất và

cả trong công cuộc kháng chiến cứu nước

Với việc phân hóa đẳng cấp trong kết cấu xã hội thành ba đẳng cấp là đẳng cấp quý tộc, tôn thất, quan lại; đẳng cấp những người bình dân và đẳng cấp nô tỳ đã làm xuất hiện những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội, đó là mâu thuẫn giữa quý tộc tôn thất nhà Trần với địa chủ quan liêu và giữa địa chủ quý tộc phong kiến với nông dân, nô tỳ Tuy vậy, nét đặc sắc của thời kỳ nhà Trần này là mặc dù xã hội phân chia thành những đẳng cấp khác nhau, xuất hiện các mâu thuẫn cơ bản trong xã hội, nhưng mối quan hệ giữa nhân dân

và vua quan vẫn còn gần gũi, ít nhiều có sự chan hòa thân tình và chưa có sự ngăn cách sâu sắc Nhà nước phong kiến tập quyền thời Trần do đã làm tròn nghĩa vụ của mình trong công cuộc phát triển sản xuất, bảo vệ đất nước, gần gũi và chăm lo đến đời sống của nhân dân các làng xã nên cũng nhận được những đóng góp của các làng xã này một cách đầy đủ cả về mặt tô thuế, lao dịch, binh dịch, tạo nên một quan hệ gắn bó thân thuộc Chính một kết cấu

xã hội chính trị có tính chất cân bằng ổn định đã góp phần làm cho triều Trần

có điều kiện vừa tạo nên bộ máy nhà nước vững mạnh, có khả năng chiến

Trang 24

thắng giặc ngoại xâm, vừa hòa hoãn được những mâu thuẫn xã hội bên trong, làm dịu đi những xung đột đẳng cấp, giai cấp

Về tổ chức hành chính và bộ máy quan lại, vua nắm quyền lực tối cao

quyết định tất cả Để tránh tình trạng vua còn nhỏ tuổi, nhà Trần đặt ra chế

độ Thái Thượng hoàng Các vua truyền ngôi sớm cho con nhưng vẫn trông coi chính sự Chế độ quan lại nhà Trần cũng giống như nhà Lý nhưng có quy

củ và đầy đủ hơn Các chức quan trọng yếu trong triều đều giao cho vương hầu quý tộc nắm giữ, nhằm tập trung quyền lực về dòng họ Trần Nhà Trần sắp xếp lại các đơn vị hành chính trong cả nước từ trung ương đến các địa phương theo từng cấp phủ lộ, huyện châu, hương xã Các đơn vị hành chính

ấy gồm 12 lộ, 3 phủ (phủ Thiên Trường, phủ Tân Bình, phủ Nghệ An) Dưới

lộ, phủ, có châu, huyện, xã; ở miền núi có sách, động Các cơ quan trung ương thời nhà Trần gồm có: các quán, các sảnh, cục, đài, viện Cơ quan hành chính và tư pháp ở kinh đô Thăng Long là Bình bạc ty, sau đổi là Đại an phủ

sứ, Kinh sư đại doãn Ở lộ thì có An phủ sứ, Trấn phủ, Thông phán, … Ngoài ra còn có Hà đê sứ trông coi về việc đê điều, Đồn điền sứ trông coi về đồn điền Phủ có Tri phủ, châu thì có Tri châu, Tào vận sứ, … Ở xã thì có chức Đại tư xã và Tiểu tư xã còn gọi là Đại toát và Tiểu toát Các chức quan chỉ huy quân đội ở địa phương thì có Kinh lược, Phòng ngự, Sát thủ ngự, …

Ở thời nhà Trần, mặc dù những quyền lực trong triều tập trung vào tay các vương hầu, quý tộc họ Trần, các vua Trần vẫn phải sử dụng một số quan chức không phải họ Trần, giữ chức vụ quan trọng trong triều như trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Lê Quát, … Nhà Trần tiếp tục chính sách của thời Lý là mở khoa thi để tuyển dụng những người hiền tài làm quan Nhà Trần chưa câu nệ vào tiêu chuẩn khoa bảng mà căn cứ chủ yếu vào thực tài, tinh thần đó đã được đời sau hết sức khen ngợi Vai trò của tầng lớp nho sĩ quan liêu trong bộ máy chính trị thời nhà Trần lúc đầu còn khiêm tốn, càng ngày càng gia tăng trong những

Trang 25

thời kỳ sau Nhìn chung, việc xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền vững mạnh thể hiện tập trung ở xây dựng hệ thống chính quyền, quân đội và luật pháp, phản ánh rất rõ ý thức tự chủ, tự cường cao độ của nhân dân Đại Việt

Về tổ chức quân đội, xuất phát từ tình hình nhiễu loạn cuối thời Lý, lại

phải đối phó với những cuộc tấn công của quân xâm lược Nguyên - Mông nên cùng với việc hoàn thiện bộ máy nhà nước để ổn định xã hội, củng cố chính quyền phong kiến trung ương tập quyền, nhà Trần ra sức xây dựng quân đội hùng mạnh đủ sức bảo vệ nền độc lập dân tộc Quân chủ lực nhà Trần cũng chia thành hai bộ phận như thời nhà Lý là cấm quân và quân các lộ Quân đội nhà Trần là một đội quân thiện chiến, được trang bị, tổ chức và huấn luyện tốt,

có nhiều kinh nghiệm bởi đã trải qua các cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông Lực lượng quân sự thời nhà Trần gồm các thành phần chủ yếu là: quân chủ lực của triều đình; quân của lộ phủ, châu; quân của quý tộc tôn thất và lực lượng dân binh (hương binh) trong làng, xã, động, bản

Trong chiến tranh, nhà Trần có thể tập hợp được lực lượng quân đội lớn mạnh, đông đảo chủ yếu còn do thực hiện nghĩa vụ quân sự theo chính sách

“ngụ binh ư nông” Đây là chủ trương kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và

tổ chức vũ trang sáng tạo và độc đáo của nhà Trần, vừa đảm bảo cho một nền kinh tế nông nghiệp có đủ nhân lực để phát triển, vừa luôn có một đội quân hùng hậu chiến đấu bảo vệ tổ quốc

Do đặc điểm và yêu cầu của điều kiện lịch sử nên thời nhà Trần rất coi trọng binh pháp và kỹ thuật quân sự Chất lượng binh lính được chú ý nâng cao bằng các biện pháp tuyển quân, tuyển tướng, huấn luyện binh pháp, rèn luyện tư tưởng và coi trọng võ thuật đã trở thành lối sống của trai tráng trong các tầng lớp xã hội từ quý tộc đến nô tỳ Thực tiễn cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thắng lợi là do ý chí chiến đấu bảo vệ đất nước của toàn quân, toàn dân, đồng thời cũng đã thể hiện tổ chức quân đội và chính sách xây dựng lực lượng vũ trang của nhà Trần trong thế kỷ XIII là đúng đắn

Trang 26

Về pháp luật: Hệ thống pháp luật thời nhà Trần đã có nhiều tiến bộ

đáng kể cùng với sự lớn mạnh của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền

Năm 1230, Trần Thái Tông ban hành Quốc triều thông chế quy định về tổ

chức chính quyền Sau đó, qua vài lần sửa chữa và bổ sung, nhà Trần lại ban

hành bộ Quốc triều hình luật Cơ quan luật pháp thời này cũng được tăng

cường và hoàn thiện hơn Đặc điểm của pháp luật thời nhà Trần là khẳng định và củng cố sự phân chia đẳng cấp Đại quý tộc, trước hết là hoàng gia

và vua được pháp luật bảo vệ đặc quyền, đặc lợi Với họ hàng nhà Trần, nếu phạm tội thì bị xử nhẹ hơn Luật bắt buộc các nô tỳ thích chữ vào trán mang hàm hiệu của chủ, nếu không bị coi là giặc cướp, nhẹ thì sung làm quan nô, nặng thì tù Nô tỳ không được kết hôn với quý tộc Trong xã hội, sự ảnh hưởng của Phật giáo rất sâu đậm, sự ảnh hưởng của lễ giáo Nho giáo chưa sâu sắc, ý thức về tông tộc, tông pháp trong dân gian mờ nhạt, phong tục tập quán vẫn giữ tính bản địa

Bên cạnh việc bảo vệ chế độ quân chủ trung ương tập quyền, bảo vệ những đặc quyền, đặc lợi của tầng lớp quý tộc, luật pháp nhà Trần còn đề cao quyền tư hữu tài sản của dân, đặc biệt là ruộng đất Quan hệ tiền tệ đã công khai thâm nhập pháp luật, lệ chuộc tội bằng tiền được quy định cụ thể Việc mua bán, chuyển nhượng và gán vợ con làm nô tỳ là công khai, hợp pháp Tầng lớp nô tỳ đông đảo là tầng lớp thấp hèn trong xã hội bị coi như một “vật” sở hữu của quý tộc Điểm tiến bộ hơn cả là pháp luật nhà Trần quan tâm bảo vệ sức lao động của dân mà cụ thể là việc bảo vệ sức kéo và bảo vệ các công trình thủy lợi - những yếu tố rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp

Về ngoại giao: Vấn đề lớn đặt ra cho nhà Trần là việc đối phó với mưu

đồ bành trướng của đế quốc Nguyên - Mông ở phương Bắc Ngay từ khi mới thành lập, nhà Trần đã cho sứ sang đặt mối quan hệ giao hảo với nhà Tống và triều cống theo lệ cũ Bên cạnh chủ trương hòa hiếu để giữ được sự yên bình

Trang 27

cho đất nước và nhân dân, nhà Trần vẫn thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ trong quan hệ với các nước làng giềng và trong khu vực Năm 1285, nhà Trần bắt đầu cử sứ giả sang Mông Cổ và định lệ ba năm cống một lần Nhưng do mưu đồ bành trướng của nhà nước Nguyên - Mông, mối quan hệ hai nước ngày càng căng thẳng đã bùng nổ cuộc chiến tranh xâm lược của quân Nguyên - Mông vào nửa cuối thế kỷ XIII Sau kháng chiến Nguyên - Mông thắng lợi, quan hệ Trần - Nguyên trở lại hòa hảo Nhà Trần tìm mọi cách giữ địa vị độc lập, tự chủ của mình, buộc nhà Nguyên phải kiêng nể Khi nhà Trần suy yếu thì nhà Nguyên cũng từng bước suy vong để cuối cùng bị nhân dân Trung Hoa lật đổ nên không còn điều kiện nhòm ngó nước ta nữa

Nhìn chung, những biện pháp mà nhà Trần tiến hành như trên đều xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đất nước đặt ra là phải xây dựng một nhà nước dân chủ quý tộc có sự thống nhất cao, vua tôi đồng tâm hiệp lực bảo vệ nền độc lập dân tộc Ở buổi đầu của triều đại nhà Trần, mặc dù còn tồn tại ít nhiều biến động, nhưng về cơ bản nhà Trần đã từng bước ổn định chính trị, củng cố các quan hệ về mặt pháp luật, hành chính, thiết chế bộ máy nhà nước, quân sự, ngoại giao đi vào nề nếp, quy củ, chặt chẽ hơn so với nhà Lý trước đó

Như vậy, có thể khẳng định rằng, nhà Trần luôn đặc biệt quan tâm chú

ý đến con người - nhân dân Đại Việt trong công cuộc củng cố, ổn định xã hội, phát triển kinh tế và xây dựng đất nước Ngoài ra, nền văn hóa giáo dục của nước Đại Việt thời nhà Trần cũng phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu rực rỡ, góp phần hình thành và phát triển nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời kỳ này

Về giáo dục, tiếp tục kế thừa phát triển khoa cử thời kỳ nhà Lý sang

thời kỳ nhà Trần nên việc học và thi cử đã đi vào nề nếp, quy củ Năm 1253, nhà nước cho lập Quốc học viện để đào tạo nhân tài Ở kinh đô Thăng Long

và các địa phương khác trường lớp cũng được lập nên khá nhiều Tuy nhiên,

Trang 28

số trường do nhà nước quản lý lại rất ít Năm 1256, nhà nước mới phân chia làm “kinh trạng nguyên” và “trại trạng nguyên” nhưng học ở Thanh Hóa trở vào gọi là “trại"; học trò ở Trường Yên (Ninh Bình) trở ra gọi là “kinh” Sự phân chia này chỉ kéo dài 20 năm đến năm 1275 lại hợp nhất

Ngoài các trường lớp do nhà nước tổ chức, quản lý còn có một số trường tư, đó là các trường của Chiêu Quốc vương Ích Tắc và của Chu Văn

An, những trường này đều ở Thăng Long Các trường này đều chưa có quy chế rõ ràng, việc học hết sức tùy tiện, việc đến học nghe thầy giảng là tự do

và không bắt buộc Cuối thời Trần vào năm 1397, nhà nước mới ban hành quy chế về việc giáo dục, thi cử như sau: “Nay quy chế ở kinh đã đủ mà ở châu huyện thì thiếu, làm thế nào để mở rộng đường giáo hóa cho dân? Nên lệnh cho các lộ phủ Sơn Nam, Kinh bắc, Hải Đông, đều đặt một học quan, ban cho quan điền theo thứ bậc khác nhau, phủ chu lớn thì 15 mẫu, phủ chu vừa 12 mẫu, phủ chu nhỏ 10 mẫu để chi dùng cho việc học trong phủ châu mình Lộ quan và quan đốc hy dạy bảo học trò cho thành tài nghề, cứ đến cuối năm chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình, trẫm sẽ thân hành thi chọn

và cân nhắc” [65, tr.192]

Về khoa cử, năm 1232, nhà Trần đã đặt ra học vị đầu tiên cho việc thi

cử ở nước ta gọi là Thái học sinh, được tổ chức thường xuyên 7 năm một kỳ Ngoài ra mở các kỳ thi tuyển chọn các nho sinh hay chữ vào các quán, các, sảnh, viện và mở các khoa thi tam giáo (Nho, Phật, Đạo) Năm 1247, nhà Trần bắt đầu đặt lệ lấy tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) Nội dung học và thi cử thời nhà Trần gồm một số nội dung chính trị, đạo đức của Nho giáo và Phật giáo Tuy nhiên, do thời nhà Trần, nhất là Trần Nhân Tông, Phật giáo phát triển cực thịnh nên trong nội dung giáo dục thời kỳ này triết lý đạo đức nhân sinh của Phật giáo không chỉ trở thành nền tảng đạo đức xã hội mà còn có mặt trong nội dung giáo dục khoa cử

Trang 29

Trong suốt thời gian cầm quyền, nhà Trần tổ chức được 14 khoa thi gồm các kỳ tuyển Thái học sinh, chế khóa, thi lại viện để tuyển lựa trong đám nho sĩ người tài bổ vào làm trong các quán, các, sảnh, viện và một số khác thi tam giáo, với 273 người đỗ Thái học sinh

Sự phát triển của Nho học và nền giáo dục Khoa cử thời Trần góp phần phổ cập Nho giáo trong nhân dân với các quan niệm phổ biến về tam cương, ngũ thường, trung quân Về sau, nhiều nhà Nho, nhiều tiến sĩ không ra làm quan mà ở nhà dạy học đã sản sinh ra nhiều người thầy xuất sắc, tiêu biểu là Chu Văn An Từ đây một truyền thống tôn sư trọng đạo được hình thành và bắt đầu tỏa sáng

Về văn học, vào thời nhà Trần văn học đã có sự phát triển hơn thời Lý

Lúc này lực lượng sáng tác không chỉ có nhà sư mà còn có quý tộc và nho sĩ

Do đó, chủ đề của thơ văn thời Trần không những xoay quanh những vấn đề của đạo Phật mà còn đề cập đến những vấn đề của Nho giáo, Lão giáo Đó là những sáng tác phong phú về nhiều thể loại, sâu sắc về nội dung cùng với những công trình nghiên cứu về tự nhiên và xã hội Nổi bật hơn cả là những áng thơ văn thể hiện chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của nhân dân ta trong cuộc chiến chống quân Nguyên - Mông Đặc biệt đến thời Trần, chữ nôm đã được sử dụng rộng rãi trong văn học, chứng tỏ nền văn hóa, tư tưởng có tính độc lập của dân tộc đã phát triển một cách mạnh mẽ với những áng hùng ca của Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu

Về sử học, ở thời Trần việc biên soạn những bộ sử của đất nước đã

được đẩy mạnh Nhiều bộ sử đã xuất hiện vào thời Trần như Việt sử lược, An

sử ký của Lê Văn Hưu Đặc biệt, lúc bấy giờ ở nước ta còn xuất hiện những

bộ sử chuyên ngành, dã sử và truyền thuyết của dân tộc, như tác phẩm Thiền

uyển tập anh, Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái,

Trang 30

Các ngành nghệ thuật, sân khấu, ca vũ nhạc cũng có những tiến bộ

đáng kể Nhạc cụ ở nước ta đã khá phong phú, tuồng, chèo trở thành một hình thức nghệ thuật được cả cung đình và dân gian ưa thích Ngành kiến trúc và điêu khắc đã đạt được những thành tựu quan trọng Những công trình kiến trúc nổi bật trong thời Trần có tháp Bình Sơn, chùa Phổ Minh, chứng

tỏ khả năng thiết kế và xây dựng thời nhà Trần khá cao

Như vậy, chúng ta thấy rằng xã hội Đại Việt, từ sự sụp đổ của triều Lý và thiết lập triều Trần đã trải qua một thời kỳ đầy những biến động sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặt ra cho vua tôi nhà Trần phải gánh vác nhiệm vụ lớn lao Đó là phải nêu cao ý chí, sức mạnh toàn dân để phát triển kinh tế, ổn định tình hình chính trị, xoa dịu những mâu thuẫn trong lòng xã hội lúc đó, củng cố và xây dựng đất nước Đại Việt độc lập, thống nhất Xuất phát

từ những nhiệm vụ cấp thiết đó đã làm hình thành, phát triển tư tưởng triết học Phật giáo thời nhà Trần nói chung, vấn đề nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần nói riêng, góp phần đưa triết lý đạo đức nhà Phật trở thành một trong những nền tảng đạo đức cho toàn xã hội, thiết lập hệ tư tưởng độc lập làm chỗ dựa tinh thần vững chắc cho xã hội Đại Việt

1.1.2 Sự nghiệp đoàn kết dân tộc chống giặc Nguyên - Mông với việc hình thành nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần

Nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời nhà Trần không chỉ dựa trên những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội mà còn được hình thành trên nền tảng của sự nghiệp đoàn kết toàn dân chống giặc Nguyên - Mông, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, giữ gìn và xây dựng một nước Đại Việt độc lập, thống nhất

Trải qua các triều đại, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, trên con đường đấu tranh dựng nước và giữ nước, quốc gia Đại Cồ Việt, rồi Đại Việt không ngừng được củng cố, trưởng thành vững mạnh Đặc biệt, thời nhà Trần (thế

kỷ XIII - XIV) là thời đại hùng mạnh nhất Thời kỳ huy hoàng này không

Trang 31

phải từ trên trời rơi xuống mà chính là kết quả của tinh thần, ý chí độc lập dân tộc, lòng yêu nước và đoàn kết toàn dân Đại Việt đấu tranh chống giặc xâm lược, bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước

Sự bành trướng của giặc Nguyên - Mông thế kỷ XIII đã gây cho nhân loại những tai họa kinh hoàng Vó ngựa của quân Nguyên - Mông đi đến đâu

là ở đó bị giày xéo, giết chóc tang thương, trở thành nỗi khiếp sợ của thế giới lúc bấy giờ, như một nhà thơ thời đó đã viết: “Không còn một dòng suối, một con sông nào không tràn đầy nước mắt của chúng ta, không còn một ngọn núi, một cánh đồng nào không bị quân Tác - Ta giầy xéo” [48, tr.37]

Bằng vó ngựa và cung tên cùng với bản lĩnh phi thường của người du mục, quân Nguyên - Mông đã làm chủ một vùng đất đai rộng lớn từ bờ biển Thái Bình Dương Đội quân xâm lược của chúng chưa từng thất bại, nổi tiếng với kỵ binh trăm trận trăm thắng Năm 1258, sau khi đã thôn tính gần hết Trung Quốc, quân Nguyên - Mông quyết định xâm lược Đại Việt mở rộng lãnh thổ và làm bàn đạp tấn công Nam Tống Từ năm 1258 đến năm

1288, ba lần chúng xâm lược nước ta đều mang theo đội quân đông đảo, hùng mạnh, lần sau đông hơn lần trước với âm mưu và thủ đoạn thâm độc hơn, quyết tâm xâm chiếm bằng được Đại Việt Nhưng cả ba lần xâm lược, giặc Nguyên - Mông đều thất bại trước sức mạnh của tinh thần đoàn kết, truyền thống yêu nước, ý chí độc lập tự cường của quân dân Đại Việt

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ nhất (năm 1258),

diễn ra trong 12 ngày (từ ngày 17/1 đến ngày 29/1/1258) Ngày 17/1/1258, hơn ba vạn quân Nguyên - Mông do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy tiến vào xâm lược nước ta Trần Quốc Tuấn được lệnh tiết chế đem quân ngăn giữ biên giới Quân dân triều Trần thực hiện rút lui với chiến lược “vườn không nhà trống”, làm cho quân Nguyên - Mông lúng túng mất phương hướng, khó khăn

về lương thảo và sinh lực bị tiêu hao Ngày 29/1/1258, vua Trần Thái Tông đem binh thuyền ngược sông Hồng tiến về Thăng Long Quân địch bị đánh

Trang 32

bật khỏi Kinh thành, theo đường cũ chạy về Vân Nam Trên đường tháo chạy, chúng còn bị quân chủ lực của ta phối hợp với dân binh các dân tộc thiểu số ở miền núi tập kích, đánh cho tan tác Thắng lợi của quân dân nhà Trần đã đập tan ý định thiết lập ách đô hộ đối với Đại Việt và xâm lược các nước Đông Nam Á của đế chế Nguyên - Mông

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần hai (năm 1285): Sau

khi tiêu diệt nhà Nam Tống, thôn tính toàn Trung Quốc, Hốt Tất Liệt lên làm vua lập ra triều Nguyên (năm 1271) Đây là đế quốc lớn mạnh nhất lúc bấy giờ Với thế lực đó, Hốt Tất Liệt quyết tâm xâm lược Đại Việt, âm mưu bành trướng xuống phía Nam của nhà Nguyên Đánh giá được âm mưu và hành động chuẩn bị chiến tranh của nhà Nguyên, triều Trần lãnh đạo toàn dân khẩn trương lên kế hoạch chống giặc xâm lược Đầu năm 1285, vua Trần mở Hội nghị Diên Hồng triệu các bô lão đại diện nhân dân ở các địa phương về triều đình để thống nhất quyết tâm kháng chiến và động viên toàn dân đánh giặc Khí thế “Sát thát” náo nức trong toàn quân dân nhà Trần

Đầu năm 1285, 60 vạn quân Nguyên do con trai Hốt Tất Liệt là Trấn Nam vương Thoát Hoan làm tổng chỉ huy tiến đánh nước ta Ở phía Bắc, 50 vạn quân chia làm hai hướng: hướng Bắc, đạo quân chủ lực do Thoát Hoan chỉ huy từ Quảng Tây tiến vào Lạng Sơn; hướng Tây Bắc theo sông Chảy đánh Yên Bái Ở phía Nam, 10 vạn quân Toa Đô chỉ huy từ Champa tiến ra Trước thế giặc mạnh, Trần Quốc Tuấn đã thực hiện hàng loạt các cuộc rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng và tránh thế bao vây của địch Đến giữa tháng 5 năm 1285, do thiếu lương thực, bệnh dịch hoành hành, nhuệ khí giảm

và mệt mỏi, giặc Nguyên rơi vào tình thế hết sức khó khăn Thời cơ đã đến, quân ta thực hiện cuộc phản công, mở những trận đánh quyết định chiếm đồn

A Lỗ, Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương, thừa thắng ta tiến vào giải phóng Thăng Long Ngày 10/6/1285, Thoát Hoan dẫn quân tháo chạy Trên đường chạy qua Lạng Sơn, bị các đội dân binh ta chặn đánh, Thoát Hoan phải chui

Trang 33

vào ống đồng sai binh lính khiêng chạy về Tàu Toa Đô bị rơi đầu ở Tây Kết,

Ô Mã Nhi tìm đường chạy thoát Vậy là gần 6 tháng chiến đấu, quân và dân ta

đã tiêu diệt, quét sạch 60 vạn quân xâm lược ra khỏi bờ cõi

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần 3 (1287 - 1288) diễn

ra khoảng 4 tháng (12/1287 - 4/1288) Sau thất bại năm 1285, vua Nguyên tức giận, quyết không từ bỏ kế hoạch chiếm Đại Việt Năm 1287, vua Nguyên điều động hàng chục vạn quân và hàng trăm chiến thuyền lớn do Thoát Hoan làm tổng chỉ huy tiến hành xâm lược nước ta lần thứ ba Tháng 12/1287, quân Nguyên ồ ạt tràn vào nước ta Quân bộ do Thoát Hoan trực tiếp chỉ huy đánh vào Lạng Sơn và tiến xuống phía nam, đóng tại Vạn Kiếp Đạo quân thủy do Ô Mã Nhi chỉ huy tiến vào cửa sông Bạch Đằng Phó tướng Trần Khánh Dư được giao nhiệm vụ chặn địch tại Vân Đồn nhưng thất bại, quân giặc vẫn tiếp tục tiến sâu vào sông Bạch Đằng và xuôi về Vạn Kiếp

để hợp binh cùng Thoát Hoan Sau khi củng cố lực lượng, Trần Khánh Dư cho quân mai phục đánh tan đoàn thuyền lương của giặc do Trương Văn Hổ chỉ huy tại Vân Đồn Tháng 1/1288, đợi không thấy thuyền lương đến, Thoát Hoan hạ lệnh tấn công vào Thăng Long Một lần nữa kinh thành Thăng Long

im ắng, quân Nguyên ra sức cướp phá Cũng như những lần trước, quân Nguyên gặp phải những đội dân binh chống trả nên chúng cố thủ trong thành, không dám ra ngoài để kiếm thức ăn Sau một thời gian đóng quân, chúng gặp nhiều khó khăn, đành phải rút quân

Tháng 4/1288, đoàn thuyền do Ô Mã Nhi chỉ huy rút về theo hướng sông Bạch Đằng Trên đường rút quân, chúng bị quân ta mai phục, tập kích liên tục Ô Mã Nhi đến cửa sông Bạch Đằng, bị quân ta nhử cho lọt vào trận địa mai phục Dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn, quân ta từ các phía đổ ra tấn công, toàn bộ đạo quân thủy của giặc bị tiêu diệt Ô Mã Nhi bị bắt sống Trong khi đó, Thoát Hoan dẫn quân bộ rút về theo ngả Lạng Sơn, bị quân ta chặn đánh tan tành, Thoát Hoan khó khăn lắm mới chạy thoát về nước Cuộc

Trang 34

kháng chiến chống quân Nguyên - Mông kết thúc hoàn toàn thắng lợi Đặc biệt, với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử đã chôn vùi ảo tưởng thôn tính Đại Việt và khu vực Đông Nam Á của đế chế Nguyên - Mông

Thắng lợi của nước Đại Việt ta ở thế kỷ XIII trước một đế quốc hùng mạnh Nguyên - Mông đó là kết quả của vua tôi nhà Trần đã huy động sức mạnh đoàn kết của vương triều, hoàng tộc và của toàn dân tộc, trên dưới một lòng quyết tâm chống giặc cứu nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc

Trước hết là sự đoàn kết trong nội bộ hoàng tộc, vương triều: Để có

được sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc chống giặc Nguyên - Mông trong tình hình đất nước lúc bấy giờ không phải là dễ bởi muốn đoàn kết toàn dân thì trước hết phải đoàn kết được nội bộ hoàng tộc nhà Trần Trong triều đình nhà Trần ở giai đoạn đầu mới thành lập, nội bộ hoàng tộc có nhiều mâu thuẫn xảy ra, điển hình như chuyện vua Trần Thái Tông buộc phải lấy chị dâu nên mâu thuẫn với anh ruột là An Sinh vương Trần Liễu (cha của Trần Quốc Tuấn), việc Trần Khánh Dư tư thông với Thiên Thụy công chúa (con dâu của Trần Quốc Tuấn), … Nếu cá nhân mỗi người trong hoàng tộc không khéo léo giải quyết các mâu thuẫn này thì chắc chắn đây là mối hại lớn cho đất nước Do vậy, muốn phát huy được sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, điều đầu tiên là trong nội bộ vua tôi nhà Trần phải xóa bỏ hiềm khích, mâu thuẫn cá nhân để xây dựng tình hòa hiếu làm nền tảng đoàn kết trong tầng lớp thống trị

Trong Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi nhận lại những hành động hòa giải

các mâu thuẫn nội bộ trong hoàng tộc nhà Trần Như việc của Trần Liễu trước khi mất có dặn con là Trần Quốc Tuấn: “Phải cướp ngôi nhà Trần để trả thù” [74, tr.386] đã làm cho Trần Quốc Tuấn khó đưa ra quyết định giữa hai trọng trách: hoặc trở thành bề tôi trung hoặc là người con có hiếu Trong hoàn cảnh đất nước đang rối ren vì họa ngoại xâm thì lời di chúc của cha càng làm cho Quốc Tuấn phải suy nghĩ Nhưng rồi ông đã quyết tâm đặt lợi ích của quốc

Trang 35

gia, dân tộc lên trên lợi ích của gia đình, đặt nghĩa vụ của nước lên trên nghĩa

vụ đối với nhà Phải là người yêu nước sâu sắc thì ông mới có được quyết định dứt khoát như thế trong việc giải quyết mối quan hệ giữa trung và hiếu, giữa một bên là nợ nước, một bên là thù nhà Việc Trần Quốc Tuấn tự vứt bỏ phần sắt bịt ở đầu gậy khi hầu cận vua; hay việc ông đã thẳng tay dứt tình máu

mủ với Hưng Nhượng vương Quốc Tảng (con thứ) vì có ý ủng hộ việc cướp ngôi, chủ động đến làm hòa với Trần Quang Khải, … Tất cả những việc làm

đó đều thể hiện tinh thần tận trung của Trần Quốc Tuấn đối với vua Trần, tạo được hòa khí thân mật trong nội bộ triều đình Chính cái hòa khí ấy là cơ sở để nhà Trần có thể tập hợp, liên kết mọi tầng lớp nhân dân phát huy hết năng lực của mình sẵn sàng đương đầu với giặc ngoại xâm

Cùng với việc giải quyết các mâu thuẫn nội bộ, vua Trần đã huy động sức mạnh từ tướng, quan trong triều đình đến cả giới quý tộc nhà Trần để cùng nhau lo cho việc nước, tất cả thống nhất thành một khối làm rường cột cho việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân Điều này được thể hiện trong Hội nghị Bình Than Khi quân của Trấn Nam vương Thoát Hoan (con của Hốt Tất Liệt) chuẩn bị đưa đại quân tiến vào lãnh thổ Đại Việt, lập tức tháng 10/1282, vua Trần đã tổ chức hội nghị các vương hầu tại bến Bình Than

để bàn kế sách chống giặc Nguyên xâm lược Tại Hội nghị, dù có nhiều ý kiến trái ngược nhau để đối phó giặc, nhưng cũng tại Hội nghị, “Trần Quốc Tuấn

và Trần Khánh Dư quyết xin đem quân đi phòng giữ các nơi hiểm yếu, không cho quân Mông Cổ sang nước Nam Nhân Tông ưng nghe lời ấy” [27, tr.137].Việc tổ chức Hội nghị Bình Than đã chứng minh cho sự khéo léo của vua Trần trong việc huy động tướng lĩnh nhà Trần (vốn cũng là quý tộc Trần), những người chịu trách nhiệm trước vận mệnh quốc gia để cùng nhau tham gia, hoạch định chiến lược chống giặc cứu nước Hội nghị Bình Than không thuần túy là hội nghị quân sự, mà còn là hội nghị chính trị, hội nghị tư tưởng nhằm thống nhất quyết tâm và ý chí trong cuộc kháng chiến bảo vệ đất

Trang 36

nước Tinh thần quyết chiến của quý tộc nhà Trần chính là ngọn lửa thắp sáng thêm tinh thần quyết chiến của toàn dân nước Đại Việt Tiếp đó, vua Trần lại tiến thêm một bước, phong cho Trần Quốc Tuấn chức Quốc công tiết chế (tổng chỉ huy quân đội), người mà trước sau như một vẫn kiên định với quyết tâm chống giặc đến cùng với câu nói bất hủ, khi được vua hỏi: “… Nay thế giặc như thế, hãy hàng chúng để cứu muôn dân chăng?”, Trần Quốc Tuấn đáp: “Lời bệ hạ nói ra thực là lời của bậc nhân giả Nhưng còn tông miếu xã tắc thì sao? Thần xin trước hãy chém đầu thần rồi sau lại hàng Đầu của thần còn đấy thì xã tắc ắt còn Xin bệ hạ đừng lo…” [74, tr.386]

Sự đồng thuận, đoàn kết thống nhất trong nội bộ vương triều, quý tộc nhà Trần là một trong những nguyên nhân hết sức quan trọng góp phần quyết định làm nên chiến công vẻ vang của dân tộc trước âm mưu xâm lược của giặc Nguyên - Mông Đã có không ít những kiến giải khác nhau về sức mạnh

“hào khí Đông A” của nhà Trần với ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên - Mông, song, sự hòa thuận, tinh thần đoàn kết trong nội bộ giai cấp phong kiến luôn được nhắc đến như một yếu tố then chốt bởi sức mạnh đoàn kết ấy được hình thành ngay từ “trung tâm đầu não”, “bộ chỉ huy chiến lược” của cuộc kháng chiến Đoàn kết, chung sức chung lòng là cơ sở để triều đình nhà Trần trở thành “hạt nhân đoàn kết” của toàn dân tộc

Đoàn kết giữa vương triều, tướng lĩnh với bính lính: Trong quá trình

dựng nước và giữ nước, nhất là trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, quân đội luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Do vậy, các tướng lĩnh nhà Trần đều quan tâm đến sự hòa thuận, đồng cam cộng khổ giữa tướng lĩnh và binh sĩ trong nội bộ quân đội Có xây dựng tốt đoàn kết, gắn bó trong nội bộ thì quân đội mới có khả năng chiến đấu đánh bại các thế lực xâm lược, nhất là giặc Nguyên - Mông, giữ vững chủ quyền lãnh thổ

Trước vận nước lâm nguy, nhà vua trực tiếp cầm quân ra trận, đặt ra mục tiêu chiến đấu cho binh sĩ nhưng đó là áp lực, khó thành công bởi giữa

Trang 37

chủ tướng và binh sĩ chưa có tiếng nói chung, không tạo được mối liên kết trong chiến đấu Vì vậy, Trần Quốc Tuấn với uy thế của người lãnh đạo đã bày tỏ tâm tư của mình với các binh sĩ rất chân thành Đó là sự căm thù giặc đến nỗi: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm” [74, tr.391] Chính sự chân thành này của ông đã thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa chủ tướng và binh sĩ Ở đây có sự đồng cảm, đồng lòng giữa những người yêu nước với nhau quyết tâm vì một mục tiêu

chung là đánh đuổi bằng được giặc xâm lăng

Nhận thức được vấn đề quyền lợi là điều cơ bản thôi thúc tinh thần chiến đấu của binh sĩ và là cơ sở thắt chặt thêm mối liên hệ giữa binh sĩ và triều đình, vua Trần đã phân tích một cách sâu sắc mối quan hệ chặt chẽ giữa quyền lợi cá nhân, gia đình và quyền lợi của quốc gia, dân tộc Khi đất nước

có họa ngoại xâm, nếu không đoàn kết lại, không biết chiến đấu vì mục tiêu chung thì quyền lợi riêng của mỗi người cũng không còn, bởi mất nước là mất tất cả Ông viết: “Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi

mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị

kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng

có được chăng?” [74, tr.391-392]

Như vậy, nếu mất nước, nếu nhà tan thì quyền lợi chung của dân tộc và của mọi tầng lớp nhân dân đều bị ảnh hưởng Muốn bảo vệ trọn vẹn quyền lợi của mình thì chỉ có cách xả thân đánh giặc Nếu đánh thắng giặc thì “… chẳng những thái ấp của ta mãi mãi bền vững mà bổng lộc các ngươi cũng

Trang 38

suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường niệm, mà

vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu của ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn

để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?”[74, tr.392]

Ở đây, Trần Quốc Tuấn đã kích thích tinh thần xả thân vì đất nước của binh sĩ, nhân dân, đồng thời cũng chỉ cho họ thấy rằng cuộc chiến đấu này không chỉ thuần túy là nhằm bảo vệ quyền lợi, bảo vệ miếu đường, thái ấp, bổng lộc của tông tộc, của vương hầu, của tướng lĩnh mà cũng là bảo vệ mồ

mả tổ tiên, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, của binh lính Vì vậy, tham gia cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước là tham gia cuộc chiến bảo vệ quyền lợi của chính mình Trần Quốc Tuấn đã “xem trọng tình yêu thương khăng khít giữa chủ tướng và tướng sĩ, giữa tướng sĩ với binh lính, khiến trên dưới một lòng như cha con ruột thịt” [76, tr.142], tạo nên sự gắn bó, đoàn kết chặt chẽ giữa tướng lĩnh và binh lính, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông

Không chỉ vua quan triều Trần, binh sĩ và nhân dân cùng đoàn kết chống giặc mà đến cả những thanh niên mải suy nghĩ việc nước đến nỗi giáo đâm thủng cả chân mà không biết, thiếu nhi thì bóp nát cả quả cam trong tay

vì giận, do không được dự bàn việc nước, … Vậy đã thấy rõ, khi đất nước đứng trước nạn ngoại xâm, từ vua quan đến thần dân, từ tướng lĩnh đến quân

sĩ, từ người già đến trẻ nhỏ, … tất cả đều đồng lòng quyết tâm chống giặc cứu nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc

Về đoàn kết nhân dân đánh giặc cứu nước: Vai trò của quần chúng

nhân dân là vô cùng to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước nên ngay trong giai đoạn đầu nhà Trần đã quan tâm chăm lo đến đời sống vật

Trang 39

chất và tinh thần cho nhân dân thông qua hàng loạt các chính sách kinh tế (thúc đẩy phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, chú trọng xây dựng hệ thống đê điều, thủy lợi và miễn giảm thuế cho nhân dân địa phương bị thiên tai, mất mùa, … ) và từng bước quan tâm đến quyền lợi chính trị của nhân dân (thực hiện chế độ khoa cử để chọn người tài, …) Với những chính sách

ấy có tác động tích cực đến đời sống của nhân dân, có ý nghĩa to lớn động viên nhân dân, củng cố đoàn kết toàn dân, tăng cường sức mạnh cả về nhân lực, vật lực góp phần bảo vệ và xây dựng đất nước Sức mạnh đoàn kết toàn dân còn có ý nghĩa đặc biệt, quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm Trần Quốc Tuấn đã khẳng định, để giữ nước thì ý chí của dân chúng chính là thành trì vững chắc nhất bằng tư tưởng “chúng chí thành thành” (tức là ý chí của người người gộp lại vững chắc như bức thành không thể đánh đổ) Vì vậy, sau khi giải quyết được mâu thuẫn trong nội bộ vương triều, tạo được sự đồng thuận, đoàn kết trong vương triều, quý tộc và binh lính, vương triều Trần tỏ rõ quyết tâm phát động và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống giặc xâm lược cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát động cuộc chiến tranh nhân dân chống giặc cứu nước

Năm 1285, khi quân Thoát Hoan đã áp sát biên giới Đại Việt, vua Trần liền tổ chức hội nghị Diên Hồng, mời các bô lão, những bậc cao niên được làng xã kính trọng, đại diện của nhân dân khắp nơi trong cả nước về triều để bàn hỏi về việc đánh giặc Tại Hội nghị Diên Hồng, khi nhà vua hỏi nên hòa hay đánh?, Các phụ lão đều nói là “đánh”, muôn người cùng lời như một.Thật ra, khi đã đạt được sự thống nhất trong nội bộ triều đình thì nhà Trần có thể dễ dàng đi đến quyết định là có nên đánh hay không chứ không cần thăm

dò ý kiến của nhân dân Nhưng nếu làm như thế thì triều đình sẽ không hiểu

rõ được lòng yêu nước của nhân dân, không kích thích được lòng hăng hái của toàn dân trong đánh giặc giữ nước Sử thần Ngô Sĩ Liên đã nhận xét: Thánh Tông muốn làm thế để xét lòng yêu nước của nhân dân và để nhân

Trang 40

dân nghe lời dụ hỏi mà cảm kích hăng hái lên thôi Như vậy, việc tổ chức Hội nghị này của vương triều Trần không ngoài mục đích là tạo mối quan hệ gần gũi, gắn bó hơn giữa triều đình và nhân dân, làm cho người dân ý thức được trách nhiệm của mình khi đất nước có họa ngoại xâm Làm cho nhân dân hiểu rằng sự nghiệp chiến đấu bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng của tất cả mọi người.Và đây là dịp để họ đền ơn, thể hiện trách nhiệm của mình với non sông đất nước Giáo sư Sử học Trần Văn Giàu nhận xét:

“Quyết tâm của bô lão “quyết chiến!” là lời hứa hẹn, lời thề quyết chiến của nhân dân đối với triều đình, cũng là lời hứa của triều đình muốn qua các bô lão truyền vào nhân dân cả nước” [19, tr.242] Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm cũng khẳng định: “Hòa hay chiến?” cùng tiếng trả lời “Quyết chiến!” ở Hội nghị Diên Hồng ngày xưa chính là một trong những biểu hiện sơ khai của sự kết hợp giữa tinh thần cứu nước và ý thức dân chủ của nhân dân ta”, “không nghi ngờ gì nữa, cuộc chiến tranh vệ quốc thế kỷ XIII là cuộc kháng chiến toàn dân, một cuộc chiến tranh nhân dân theo cách nói của Engels, “một cuộc chiến tranh nhân dân để bảo tồn dân tộc” [48, tr.322] Việc tổ chức Hội nghị Diên Hồng một lần nữa minh chứng cho sự khéo léo đến tài tình của vua Trần trong việc tạo sự đồng thuận trong toàn dân, đồng thời phát động

toàn dân quyết tâm cùng triều đình đánh giặc cứu nước

Mặc dù tư tưởng xã hội thời kỳ này có sự ảnh hưởng của Nho giáo ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ, những quy tắc về “cương thường” thấm nhuần trong tư tưởng của những người đứng đầu đất nước, nhưng ở đây hình ảnh vua quan và nhân dân cùng ngồi bên nhau bàn việc trọng đại là đánh giặc cứu nước Ở thời điểm cấp bách của cả nước, vua quan nhà Trần đã không xét đến quan hệ “cương thường”, “chính danh” mà chỉ chú ý đến vấn đề làm thế nào để có được lòng dân, xây dựng được khối đoàn kết dân tộc Chính tư tưởng thân dân đã góp phần giúp cho nhà Trần đạt được mục tiêu lớn nhất của mình là giữ vững được độc lập nước nhà Hội nghị Diên Hồng biểu hiện

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2001), Hán Việt từ điển, Nxb. Khoa học xã hội 2. Báo Nhân dân, 5/2008, số 19261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội 2. Báo Nhân dân
Năm: 2001
3. Nguyễn Thị Phương Chi (2002), “Vài nét về tình hình điền trang thời Trần”, Nghiên cứu lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về tình hình điền trang thời Trần
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Chi
Năm: 2002
4. Doãn Chính (2012), “Tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng Sĩ”, Tạp chí Triết học, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng Sĩ
Tác giả: Doãn Chính
Năm: 2012
5. Doãn Chính (Chủ biên, 2013), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước tới đầu thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước tới đầu thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
6. Doãn Chính - Trương Văn Chung (Chủ biên, 2008), Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
7. Doãn Chính - Bùi Huy Du (2013), “Triết lý nhân sinh trong triết học Phật giáo thời Trần”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý nhân sinh trong triết học Phật giáo thời Trần
Tác giả: Doãn Chính - Bùi Huy Du
Năm: 2013
8. Doãn Chính - Nguyễn Ngọc Phượng (2009), “Tư tưởng triết học của Trần Thái Tông”, Tạp chí Triết học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học của Trần Thái Tông
Tác giả: Doãn Chính - Nguyễn Ngọc Phượng
Năm: 2009
9. Nguyễn Trọng Chuẩn (Chủ biên, 2006), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
10. Trương Văn Chung (1998), Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần
Tác giả: Trương Văn Chung
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
11. Bùi Huy Du (2012), Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông - đặc điểm và giá trị lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông - đặc điểm và giá trị lịch sử
Tác giả: Bùi Huy Du
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2012
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16. Đỗ Hương Giang (2010), Triết học Phật giáo thời Trần, Luận án Tiến sĩ Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Phật giáo thời Trần
Tác giả: Đỗ Hương Giang
Năm: 2010
17. Trần Văn Giáp (1968), Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII, Tuệ Sĩ dịch, Ban Tu thư Đại học Vạn Hạnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII
Tác giả: Trần Văn Giáp
Năm: 1968
18. Trần Văn Giàu (1988), Triết học và Tư tưởng, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học và Tư tưởng
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb. Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1988
19. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb. Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1993
20. Nguyễn Hùng Hậu (1994), “Những tiền đề hình thành triết học Trần Thái Tông”, Nội san nghiên cứu Phật học, số 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tiền đề hình thành triết học Trần Thái Tông
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Năm: 1994
21. Nguyễn Hùng Hậu (1995), “Triết học Phật giáo Trần Thái Tông”, Nội san nghiên cứu Phật học, số 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Phật giáo Trần Thái Tông
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Năm: 1995
22. Nguyễn Hùng Hậu (1995), “Triết học Thiền của Tuệ Trung Thượng Sĩ”, Nội san nghiên cứu Phật học, số 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Thiền của Tuệ Trung Thượng Sĩ
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Năm: 1995
23. Nguyễn Hùng Hậu (1995), “Tìm hiểu tư tưởng triết học Thiền Trần Nhân Tông”, Triết học, số 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tư tưởng triết học Thiền Trần Nhân Tông
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w