1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khu di tích bình tả trong văn hóa óc eo

152 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 9,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên những vùng sinh thái khác nhau những cư dân này có những đặc điểm khác nhau về lối sống, thể hiện trên các di tích và di vật khảo cổ học tạo nên tính chất đa dạng trong thống nhất t

Trang 1

KHOA LỊCH SỬ

VÕ THỊ HUỲNH NHƯ

KHU DI TÍCH BÌNH TẢ TRONG VĂN HÓA ÓC EO

Chuyên ngành: Khảo cổ học

Mã số: 66.22.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐẶNG VĂN THẮNG

TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 8 NĂM 2014

Trang 2

KHOA LỊCH SỬ

VÕ THỊ HUỲNH NHƯ

KHU DI TÍCH BÌNH TẢ TRONG VĂN HÓA ÓC EO

Chuyên ngành: Khảo cổ học

Mã số: 66.22.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐẶNG VĂN THẮNG

TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 8 NĂM 2014

Trang 3

DẪN NHẬP

1.Lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu 1

2.Giả thuyết nghiên cứu 3

3.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5.Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 7

6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn, đóng góp của luận văn 8

7.Bố cục của Luận văn 9

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHU DI TÍCH BÌNH TẢ 1.1 Điều kiện tự nhiên 11

1.1.1 Lịch sử phát triển địa chất 11

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 16

1.2 Qúa trình phát hiện và nghiên cứu 23

1.2.1.Giai đoạn trước năm 1975 23

1.2.2.Giai đoạn sau năm 1975 24

CHƯƠNG 2: DI TÍCH VÀ DI VẬT Ở KHU DI TÍCH BÌNH TẢ 2.1.Di tích 27

2.1.1 Di tích kiến trúc 27

2.1.1.1 Tháp Gò Xoài 27

2.1.1.2 Đền Gò Đồn 33

2.1.1.3 Đền Năm Tước 41

2.1.1.4 Các di tích kiến trúc khác 42

2.1.2 Các di tích cư trú 44

2.2 Di vật 45

2.2.1 Các hiện vật tìm thấy trong di tích Gò Xoài 45

2.2.2 Các hiện vật tìm thấy trong di tích Gò Đồn 65

CHƯƠNG 3 KHU DI TÍCH BÌNH TẢ - NHỮNG NHẬN THỨC MỚI 3.1 Niên đại khu di tích Bình Tả 73

3.2 Cư dân cổ Bình Tả 76

3.2.1 Cư trú 76

Trang 4

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 5

PHỤ LỤC BẢN ĐỒ 104

BẢN VẼ 106

BẢN DẬP 124

BẢN ẢNH 125

Trang 5

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu

Từ sau năm 1975, nghiên cứu về văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long trở thành một nhiệm vụ trọng yếu của khảo cổ học Việt Nam Những phát hiện mới đã làm cho số lượng di tích và di vật tăng gấp nhiều lần trước đây, liên tục bổ sung những tri thức mới, nhờ đó mà diện mạo văn hoá Óc Eo ngày càng rõ nét

Với không gian cư trú rộng lớn, từ lưu vực sông Hậu, sông Tiền đến lưu vực Vàm Cỏ - Đồng Nai, cư dân văn hóa Óc Eo đã thích ứng với hoàn cảnh, tạo lập cuộc sống ổn định và phát triển nền văn hoá đặc sắc của mình Trên những vùng sinh thái khác nhau những cư dân này có những đặc điểm khác nhau về lối sống, thể hiện trên các di tích và di vật khảo cổ học tạo nên tính chất đa dạng trong thống nhất trong văn hóa Óc Eo Căn cứ vào các điều kiện sinh thái và các đặc trưng văn hóa,

có thể chia không gian của văn hóa Óc Eo trên lãnh thổ Việt Nam thành các tiểu vùng: tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, ven biển Tây Nam (vùng Bạc Liêu-

Cà Mau), hạ lưu sông Tiền, Đông Nam bộ và khu vực rừng ngập mặn ven biển Đông Nam bộ

Trong số các tiểu vùng này, vùng Tứ giác Long Xuyên với cảng, Đô thị cổ

Óc Eo là nơi thu hút các nhà nghiên cứu nhất, với nhiều công trình nghiên cứu với các quy mô từ đề tài cấp nhà nước đến các đề tài nghiên cứu cấp trường, khu vực này trong văn hóa Óc Eo phần nào đã được làm rõ Những năm gần đây, các nhà khoa học chú ý nhiều đến khu vực Đồng Tháp Mười với khu di tích có quy mô rất rộng lớn - khu Gò Tháp Nơi đây được xem như là một trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, tôn giáo lớn thứ hai trong vương quốc Phù Nam – cơ sở vật chất của văn hóa Óc Eo, sau khu vực Óc Eo – Ba Thê Còn các khu vực khác như: vùng ven biển Tây Nam (vùng Bạc Liêu- Cà Mau), hạ lưu sông Tiền, Đông Nam bộ và khu vực rừng ngập mặn ven biển Đông Nam bộ hình như đã rất lâu rồi không thấy một công trình lớn nghiên cứu riêng biệt về các di tích trong các vùng này Nhất là khu vực

Đông Nam Bộ, một khu vực tạo nên các đặc trưng văn hóa Óc Eo ở vùng cao, vừa

Trang 6

thống nhất, vừa có điểm mới lạ so với các đặc điểm truyền thống của văn hóa Óc

Eo Trong đó có một khu vực khá đặc biệt, là một khu vực mà về điều kiện sinh thái

là khu vực chuyển tiếp giữa hai hệ sinh thái miền Tây và miền Đông Nam Bộ; về lịch sử văn hóa, được xem là một trong những con đường hình thành nên văn hóa

Óc Eo; khu vực đó thuộc địa bàn tỉnh Long An ngày nay Do đó bỏ qua khu vực này

sẽ là một lỗ hổng thật sự trong khi nghiên cứu văn hóa Óc Eo, một khu vực vừa có những đặc điểm của văn hóa Óc Eo khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, vừa có những đặc trưng văn hóa Óc Eo ở vùng cao

Đó là xét ở việc phân vùng văn hóa theo không gian Nếu xét theo thời gian, hiện nay giữa các giai đoạn phát triển của văn hóa Óc Eo, giai đoạn Óc Eo điển hình (TK IV – VI công nguyên) là giai đoạn được ưu tiên nghiên cứu, đó cũng là điều hợp lý bởi vì giai đoạn này đã để lại những thành tựu rực rỡ của nó qua số lượng lớn các di tích và di vật Thế nhưng, giai đoạn muộn hơn, giai đoạn Hậu Óc Eo, khi mà

sự kết thúc của văn hóa Óc Eo vẫn còn nhiều bí ẩn, cũng là một giai đoạn có nhiều vấn đề cần làm rõ khi viết lịch sử vùng đất Nam Bộ ngày nay

Sự giao thoa giữa hai vấn đề về không gian và thời gian trong khi nghiên cứu văn hóa Óc Eo như đã trình bày ở trên nằm tại khu vực tỉnh Long An ngày nay Và khu vực có mật độ di tích nhiều và thời gian kéo dài nhất, thích hợp làm đối tượng nghiên cứu nhất chính là khu di tích Bình Tả

Bình Tả có những dấu tích kiến trúc “vừa lạ vừa quen”, có nhiều hiện vật với loại hình, làm bằng nhiều chất liệu khác nhau (đá, gốm, vàng,…) là những nguồn tư liệu quý cần được khai thác

Tuy nhiên, do yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước: nhiều khu công nghiệp ra đời, xây dựng mạng lưới giao thông, phát triển cụm dân

cư đang từng ngày ảnh hưởng xấu đến các di tích này

Về mặt chủ quan, trong khi đi khảo sát thực tế cho đề tài Các trung tâm tôn

giáo thuộc văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ (PGS.TS Đặng Văn Thắng làm chủ nhiệm),

riêng tác giả đã có ấn tượng sâu sắc với khu di tích này Với hướng nghiên cứu lâu dài là giai đoạn tiền – sơ sử ở Nam Bộ và mong muốn đóng góp một phần cho quê

Trang 7

hương Long An, tác giả chọn thực hiện đề tài “Khu di tích Bình Tả (Long An)

trong văn hóa Óc Eo” làm đề tài luận văn cao học của mình

Mục tiêu của đề tài: - Xác định vai trò, tính chất và tầm quan trọng của khu

di tích trong văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam và trong mối quan hệ giao lưu

mở rộng với các trung tâm khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và vùng lân cận, giai đoạn thế kỷ khoảng thế kỷ IV AD đến thế kỷ XII AD

Nội dung nghiên cứu

- Hệ thống toàn bộ tư liệu hiện biết về di vật và di tích của khu di tích Bình

Tả

- Nhận định tính chất, đặc trưng của khu di tích Bình Tả

- Phác họa đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của cư dân cổ khu vực Bình Tả nói riêng và các cư dân sông ở khu vực vùng sinh thái chuyển tiếp Đông – Tây Nam

Bộ nói chung

2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết : khu di tích Bình Tả bao gồm các di tích kiến trúc tôn giáo và các

di tích cư trú; Bình Tả là một trung tâm tôn giáo – văn hóa quan trọng trong đời sống cư dân trong vùng và có vị trí quan trọng trong văn hóa Óc Eo, là một khu di tích tiêu biểu của văn hóa Óc Eo ở vùng cao, tồn tại từ giai đoạn Óc Eo phát triển

cho đến Hậu Óc Eo

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Giai đoạn trước năm 1975

Lịch sử - văn hóa vùng đất Nam Bộ nói chung, văn hóa Óc Eo nói riêng là đối tượng được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Từ giữa thế kỷ XIX, các giáo sĩ, thương gia, sĩ quan và viên chức Pháp đã thu lượm nhiều cổ vật ở Sài Gòn, Biên Hòa, Bình Dương, Tây Ninh… Các sưu tập cổ vật này từng được trưng bày tại Hội chợ Quốc tế Paris 1889 và hiện được lưu giữ trên nhiều bảo tàng ở Pháp (Louvre, Guimet, L’Homeme, Toulouse,…) và ở Việt Nam

Sau đó nhiều kết quả nghiên cứu của các học giả nước ngoài về lịch sử - văn

hóa Nam Bộ được công bố như:L’Art Khmèr Primitif (H Parmentier, 1927); Nghệ

Trang 8

thuật Đông Dương(B P Groslier, 1962); Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông (G Coedès 1944)…Công trình nghiên cứu công phu và đồ sộ nhất của các

học giả nước ngoài về khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tôn giáo trong văn hóa Óc Eo nói riêng đem lại những hiểu biết quan trọng về vùng đất Nam

Bộ là bộ sách 4 tập của L Malleret mang tên Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu

Long (L' Archéologie du Delta du Mékong) Tác phẩm là tập hợp toàn bộ các kết

quả điền dã, đào thám sát và khai quật từ năm 1937 – 1944 ở một số địa điểm như:

Gò Cây Thị, Gò Óc Eo, Giồng Cát…thuộc khu di tích Óc Eo ở núi Ba Thê, đồng thời cũng tổng hợp các phát hiện và nghiên cứu trước đó về hàng trăm địa điểm khác ở miền tây sông Hậu (Tranbassac), hạ lưu sông Tiền và Đông Nam Bộ (Cisbassac)

Cụm di tích Bình Tả là một cụm phế tích kiến trúc, gồm ba di tích lớn: Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước và 14 di tích khác đã được khảo sát là có vết tích văn hóa Bình Tả nằm trong một quần thể di tích từ thời tiền sử cho đến sơ sử phân bố dọc theo các trục lộ cổ, con sông cổ và hệ thống sông Vàm Cỏ thuộc khu vực phù sa

cổ Đức Hòa Vì vậy, từ đầu thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học Pháp đã quan tâm nghiên cứu và khảo sát khu vực này: L Malleret, M Colani, P.Levy, H Parmentier, J.Y.Claeys,… Những phát hiện trong khu vực đã được L Malleret hệ thống hóa và

liệt kê 70 di tích và di vật từ thời kỳ đá mới cho đến thời cận đại, đề cập trong L’

Archéologie du delta du Mekong tập 4 (1963)

Giai đoạn sau năm 1975.

Sau hơn 30 năm bị gián đoạn do chiến tranh, từ sau 1975 đến nay, các nhà khảo cổ học Việt Nam thuộc nhiều cơ quan chuyên môn (Viện Khảo cổ học, Viện Khoa học Xã hội, các Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ở Hà Nội và

TP Hồ Chí Minh và các Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội và TP.HCM), khởi sự các chương trình điền dã - nghiên cứu lịch sử văn hóa vật chất vùng đất Nam Bộ còn hết sức mới mẻ này Trong những năm đầu, công việc chủ yếu tập trung vào việc sưu tập tưu liệu, chỉnh lý hồ sơ các di vật do người Pháp phát hiện Từ năm 1978 đến năm 1981 bắt đầu có các cuộc khảo sát nhằm kiểm chứng hiện trường, đặt ra

Trang 9

các kế hoạch và mục tiêu nghiên cứu lâu dài trên qui mô lớn Từ những năm 1983 – 1992 các cuộc khai quật trên qui mô lớn được triển khai, trước hết là ở những di tích trọng điểm đã được người Pháp nói đến Công cuộc khảo sát, điều tra và nhiều cuộc khai quật được tiếp tục tiến hành một cách toàn diện trên các vùng trọng điểm thuộc tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp và Long An

Trên cơ sở kết quả các cuộc khai quật, một số ấn phẩm đã ra đời như: Văn

hoá Óc Eo và các văn hoá cổ ở đồng bằng sông Cửu Long (1984); Văn hóa và dân

cư đồng bằng sông Cửu Long (1990); Văn hoá Óc Eo những khám phá mới (1995); Một số vấn đề về khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam (1997, 2004, 2008, 2011), Khảo cổ học lịch sử Việt Nam, tập II (2002); Văn hóa đồng bằng Nam Bộ - di tích kiến trúc cổ (2002); Vương quốc Phù Nam - lịch sử và văn hoá (2005); Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ thứ X (2006); Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam(2008),… Những ấn phẩm này phần lớn là

sự tiếp tục phác thảo một cách nhìn khái quát về văn hoá Óc Eo và vương quốc Phù Nam trên cơ sở các kết quả khai quật và thư tịch Trung Quốc hoặc là những công bố

tư liệu khai quật dưới dạng tư liệu thô

Riêng ở khu vực tỉnh Long An, trong 2 năm 1986 – 1987, Sở Văn hóa Thông tin Long An đã phối hợp với Viện Khoa học xã hội tại Tp Hồ Chí Minh (nay là Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ) tiến hành khảo sát và đã phát hiện hàng trăm

di tích Óc Eo trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó khu vực huyện Đức Hòa có hơn 60 di tích tiền sử, sơ sử và vài trăm bàu cổ lớn nhỏ Các di tích ấy chia thành nhiều cụm liên kết với nhau trên các trục lộ cổ bắt đầu từ cụm Núi Đất, bến Cây Xoài (xã An Ninh), cụm Bến Đò (xã Lộc Giang), cụm ngã tư Sò Đo (thị trấn Hậu Nghĩa), cụm Giồng Ngang (xã Hòa Khánh Đông và Hòa Khánh Tây), cụm Thô Mô (xã Hòa Khánh Nam), cụm thị trấn Đức Hòa, cụm Đồng Săn Đá – Xóm Tháp (xã Đức Lập Thượng) cụm Giồng Lốt (xã Đức Hòa Thượng), cụm Giồng Lớn (xã Mỹ Hạnh Nam) Trên trục sông Vàm Cỏ Đông cũng bắt nguồn từ Lộc Giang, bến Cây Xoài, Núi Đất (xã An Ninh), cụm Rạch Nhum, Rạch Heo (xã Tân Phú, xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ), cụm Gò Xoài (xã Hựu Thạnh) Trên trục vùng bung Đức

Trang 10

Hòa, Trảng Bàng (Tây Ninh), Củ Chi (TP Hồ Chí Minh), cụm Rừng Mũi, xóm Bào Công (xã Tân Mỹ), cụm Lục Viên (xã Đức Lập Hạ), cụm Vọng Hòa, Rừng Đình (xã Mỹ Hạnh Bắc) Tất cả 14 cụm di tích, nằm trên các trục lộ cổ, trục sông, trục lung bưng đều tựu trung đi vào khu di tích Bình Tả (xã Đức Hòa Hạ)

Trong cụm di tích Bình Tả, các nhà khảo cổ đã tiến hành thám sát 1 di tích (Gò Sáu Huấn) và khai quật 3 di tích (Gò Đồn, Gò Năm Tước, Gò Xoài)

Những di vật, di tích trong cụm di tích Bình Tả được tổng kết trong các báo

cáo khai quật, hồ sơ di tích, in trong Những Phát hiện mới về khảo cổ học, sau đó

được đưa vào một số tài liệu nghiên cứu chung về văn hóa Óc Eo và vương quốc

Phù Nam Trong Khảo cổ học Long An, những thế kỷ đầu công nguyên (Sở văn hóa

Thông tin Long An, Bảo Tàng Long An, 2001), các di tích trong cụm di tích cũng như một số di vật quan trọng của các di tích được thống kê và mô tả rõ ràng cũng như đề cập một số kết luận ban đầu về tính chất của cụm di tích Khu di tích cũng

được đề cập đến trong Luận án Tiến sỹ “ Các di tích văn hóa Óc Eo ở Long An” của

Bùi Phát Diệm dưới góc độ mô tả là chủ yếu Một di vật đặc biệt tìm thấy trong di tích Gò Xoài là mảnh vàng lá có chứa minh văn tiết lộ tính chất của di tích nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khảo cổ học và minh văn học, cuối cùng được đúc

kết thành trong bài viết của GS Hà Văn Tấn, Từ minh văn trên lá vàng ở Gò Xoài

(Long An) bàn thêm về pháp thân kệ, (In trong Theo dấu các văn hóa cổ ,1997)

Ngoài ra còn có một số công trình đã công bố có đề cập đến di tích và di vật Bình

Tả như là:

- Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, Văn hóa Óc Eo những

khám phá mới (1995)

- Võ Sĩ Khải, Văn hóa đồng bằng Nam Bộ (di tích kiến trúc cổ)(2002)

- Lê Thị Liên, Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đông bằng sông

Cửu Long trước thế kỷ X (2006)

- Lâm Quang Thùy Nhiên, Luận án Tiến sĩ Tượng cổ bằng đá ở đồng

bằng Nam Bộ (2005)

Trang 11

Tuy nhiên hiện chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể lấy khu di tích này làm đối tượng nghiên cứu chính Xác định quy mô tính chất của cụm di tích cũng như vị trí của nó trong văn hóa Óc Eo

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các di tích và di vật trong cụm di tích Bình Tả dựa trên các kết quả báo cáo khai quật, thám sát trước đây cũng như những chuyến khảo sát mà học viên sẽ thực hiện trong quá trình thực hiện đề tài Phạm vi nghiên cứu chính giới hạn trong không gian là khu vực cụm di tích Bình Tả thuộc ấp Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, các di tích trong khu vực lân cận mà thuộc cùng một thời kỳ Trong quá trình nghiên cứu

có so sánh đối chiếu với khu vực rộng hơn là không gian văn hóa Óc Eo và thời gian kéo từ khi văn hóa Óc Eo hình thành đến khi kết thúc, khái niệm văn hóa Óc

Eo ở đây bao gồm cả các giai đoạn tiền và hậu Óc Eo (khoảng thế kỷ II BC đến thế

kỷ XII AD)

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Tất cả những phương pháp sử dụng trong đề tài đều được dựa trên phương pháp luận là phương pháp biện chứng duy vật và duy vật lịch sử Khảo cứu những đối tượng nghiên cứu (ở dây là các phế tích kiến trúc, di vật) trong mối quan hệ với nhau và với điều kiện xung quanh, trong mối quan hệ không gian và thời gian

Là một đề tài khoa học chuyên ngành khảo cổ học, phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp điền dã khảo cổ học, thu thập tư liệu tại hiện trường Tuy nhiên do quy mô các di tích khá lớn tác giả không có điều kiện tiến hành khai quật, chỉ có thể khảo sát lại các di tích nhất là các di tích còn chưa được khai quật, kết hợp với các kết quả từ các báo cáo khai quật đã có Tuy nhiên tác giả không chỉ dừng lại ở giai đoạn đầu của điền dã khảo cổ học mà muốn phát triển luận văn theo khảo cổ học hiện đại – khảo cổ học thiên về giải thích các hiện tượng, hiện vật bằng các phương pháp của khảo cổ học lịch sử, khảo cổ học tôn giáo, khảo cổ học kiến trúc

Trang 12

Đề tài hệ thống lại những tư liệu của những nhà nghiên cứu trước đây, các công trình đã công bố, các báo cáo khai quật, các thông báo khoa học, các luận văn,

đề tài nghiên cứu về cụm di tích cũng như các di tích có mối liên hệ với cụm di tích đang xét Trên cơ sở đó bằng các phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích tổng hợp,… xử lý những thông tin có được làm cơ sở cho những luận điểm đưa ra trong

đề tài nhằm làm cho đề tài có tính khoa học và thuyết phục hơn

Ngoài ra tác giả còn sử dụng nhiều phương pháp liên ngành: tôn giáo học, sử học, biểu tượng học để soi sáng những vấn đề về niên đại, tính chất di tích và đặc trưng văn hóa – xã hội liên quan đến cụm di tích

Nguồn tài liệu để nghiên cứu trước hết là các công trình, bài viết, báo cáo khoa học đã công bố trên các ấn phẩm chuyên ngành khảo cổ học hoặc liên quan, các báo cáo khai quật lưu tại các cơ quan nghiên cứu, bảo tàng Nhưng quan trọng nhất là nguồn tài liệu trực tiếp gồm các di vật khảo cổ lưu giữ ở Bảo Tàng Long An, các hiện vật thu thập được trong quá trình điền dã, thám sát tại hiện trường di tích, các mẫu vật giám định Ngoài ra, tác giả còn khai thác thông tin trên mạng Internet, chủ yếu là thông tin về điều kiện tự nhiên, dân cư qua trang website chính thức của tỉnh Long An,…

Một số bản ảnh, bản vẽ hiện vật sử dụng trong Luận văn do tác giả thực hiện Ngoài ra, tác giả cũng có kế thừa những bản ảnh, bản vẽ hiện vật của các nhà khai quật trước để minh họa cho Luận văn của mình

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn, đóng góp của luận văn

Việc thực hiện đề tài nghiên cứu này mang lại nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn, nhất là trong giai đoạn hiện nay

- Xác định tính chất, đặc điểm vị trí và vai trò của khu di tích Bình Tả, nhằm cung cấp thêm những dữ liệu khoa học, góp phần làm rõ hơn các đặc trưng cũng

như sự hiểu biết chung về văn hoá Óc Eo (nhất là vấn đề “hậu Óc Eo”) trong bối

cảnh Đồng bằng sông Cửu Long, Nam bộ Việt Nam và các khu vực lân cận

Trang 13

- Nâng cao nhận thức khoa học của chính bản thân tác giả về nội hàm văn hoá cổ khu vực Nam Bộ Tạo cơ sở để hiểu rộng hơn về các di sản văn hoá Tiền -

Sơ sử ở khu vực Đông Nam Á đất liền và hải đảo

- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những người có quan tâm đến văn hoá khảo cổ trên địa bàn tỉnh Long An

- Về mặt thực tiễn, Luận văn có thể là nền tảng khoa học cho việc trùng tu, tu

bổ các di tích thuộc khu di tích Bình Tả, tránh tình trạng làm hư hỏng hoặc phá hủy các giá trị của di tích khi trùng tu như hiện trạng trùng tu tôn tạo hiện nay

7 Bố cục luận văn:

Ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn với tên

đề tài là Khu di tích Bình Tả trong văn hóa Óc Eo gồm 3 chương có bố cục như

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

1.2 Qúa trình phát hiện và nghiên cứu

1.2.1.Giai đoạn trước năm 1975

1.2.2.Giai đoạn sau năm 1975

Trang 14

2.2.1 Các hiện vật tìm thấy trong di tích Gò Xoài

2.2.2 Các hiện vật tìm thấy trong di tích Gò Đồn

CHƯƠNG 3 KHU DI TÍCH BÌNH TẢ - NHỮNG NHẬN THỨC MỚI

3.1 Niên đại khu di tích Bình Tả

3.2 Cư dân cổ Bình Tả

3.2.1.Cư trú

3.2.2.Kinh

3.2.3 Văn hóa – Xã hội

3.3 Khu di tích Bình Tả trong không gian văn hóa cổ ở Nam Bộ

Trang 15

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

KHU DI TÍCH BÌNH TẢ 1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Lịch sử phát triển địa chất:

Khu vực có di tích được nghiên cứu trong đề tài nằm ở vị trí chuyển tiếp, vừa nằm trong khu vực địa lý đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm ở rìa vùng đất cao Đông Nam Bộ, quá trình kiến tạo và phát triển của vùng đất này thể hiện rõ điều

này

Paleozoi muộn (cổ sinh muộn), cách ngày nay khoảng 240 triệu năm, Long

An và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày nay đều là biển, mà dấu tích để lại rõ nhất là một nhóm đá vôi (trầm tích đá vôi) ở vùng Tây Ninh và phía bắc Long An

(tức là thuộc vào thượng lưu sông Vàm Cỏ Đông sau này) [74:122]

Mezozoi (Trung Sinh), 185 triệu năm BP, biển tiến và lùi ngay sau đó, vùng

đồng bằng châu thổ vẫn gần như nằm hoàn toàn trong nước, khu vực sông Vàm Cỏ Đông và Đông Nam Bộ là vùng biển nông; bằng chứng là những nhóm cát kết và phiến sét ở Đông Nam Bộ Sau đó biển lại tiến, vùng này trở thành khu vực ven biển giàu sinh vật; người ta đã tìm thấy nhiều hóa thạch cúc đá, hào và các loại nhuyễn thể khác [74:122]

Kainozoi ( Tân Sinh), 170 triệu năm BP; đây là giai đoạn mài mòn mãnh

liệt các rặng núi, do đó một lượng vật liệu khổng lồ đã được mang đến vùng núi thấp hơn, chính là vùng Tây Ninh và Long An ngày nay Cuối giai đoạn Kainozoi, các hoạt động tân kiến tạo không ngừng, làm cho đất nứt nẻ ở nhiều nơi, tạo nên những vết nứt gãy, sụt lún, gây nên sự chênh lệch giữa những lớp đất đá, hình thành nên hai khối đất cao trong vùng là Đông Nam Bộ và Campuchia, giữa hai khối là một vùng trũng và sụt lớn [74:122]

Kỷ Đệ Tứ, (Đại Nhân Sinh), đồng bằng Nam Bộ (cả Đông Nam Bộ), đã

chịu tác động của nhiều hoạt động địa chất: quá trình biển tiến biển thoái, các hoạt động tân kiến tạo và chuyển động hiện đại, núi lửa phun trào, phong hóa, các hoạt

Trang 16

động bào mòn và tích tụ,…đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp nhất đến sự hình thành và phát triển của khu vực là hoạt động tiến thoái của biển Những hoạt động này tương tác, chi phối lẫn nhau để tạo nên diện mạo như ngày nay của khu vực

Theo nghiên cứu của PGS.Nguyễn Địch Vĩ và Đinh Văn Thuận, trong kỷ Đệ

Tứ, cổ địa lý vùng Đồng bằng Nam Bộ, khu vực lưu vực sông Vàm Cỏ Đông – một

bộ phận của vùng Nam Bộ biển đổi theo bốn thời kỳ [90:11-27]

- Thời kỳ Pleistocen sớm

- Thời kỳ Pleistocen giữa

- Thời kỳ Pleisocen muộn

- Thời kỳ Holocen

Trong đó:

Thời kỳ Pleistocen sớm

Đợt biển tiến vào Pliocen tương ứng với thời kỳ gian băng Dunai – Gunz, tạo

ra một lớp trầm tích có nguồn gốc biển và ven biển ở khu vực Đông Nam châu Á nói chung và khu vực Nam Bộ Việt Nam nói riêng Vào thời kỳ Pleistocen sớm xảy

ra quá trình biển thoái rộng khắp đồng bằng Nam bộ, biển rút ra xa so với đồng bằng hiện tại, đường bờ biển được xác định ở vị trí 1110Đ, tương đương với độ sâu

2000 – 2500m hiện tại Giai đoạn này các dòng sông đã hình thành và hệ thống các lòng sông này cùng với các lạch triều của nó tạo thành một mạng lới lòng dẫn phân

bố khắp ở khu vực Biển Đông

Hoạt động ở đồng bằng Nam Bộ chủ yếu là hoạt động bóc mòn và phong hóa, trầm tích hình thành trong giai đoạn này là những vật liệu bời rời chứa nhiều than nâu, tectit, nhiều hạt laterit, nhiều cát, sỏi, sạn

Bề mặt địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, điều này thể hiện

rõ những tác dụng của việc tạo thành hai vùng đất cao ở thời Kainozoi

Cuối giai đoạn Pleistocen sớm, thời kỳ gián băng Gunz – Mindel, biển tiến vào đất liền, đường bờ biển cổ giai đoạn này có thể ở vị trí xấp xỉ hoặc sâu hơn đường bờ biển hiện tại một chút Khu vực Tây Nam Bộ trở thành bồn tích tụ trầm tích, khu vực Đông Nam Bộ hình thành thềm tích tụ của hệ thống sông Đồng Nai

Trang 17

với độ cao 40 – 70m tạo nên dạng địa hình uốn lượn với độ chênh cao và độ dốc sườn không lớn Như vậy ngay từ cuối Pleistocen sớm, Đông Nam Bộ và Tây Nam

Bộ đã được phân biệt với hai chế độ lắng đọng trầm tích khác nhau

Thời kỳ Pleistocen giữa

Đầu Pleistocen giữa xảy ra một dợt biển tiến tương ứng với băng hà Mindel, mực nước biển hạ thấp dần, đường bờ biển lùi ra đến vị trí độ sâu từ 1000 đến 1500m nước hiện tại

Các hoạt động bóc mòn và rửa trôi tiếp tục hoạt động mạnh mẽ Mạng lới sông Đồng Nai và sông Mê Kông tạo ra một trường trầm tích hạt thô chiếm ưu thế gồm cát, sạn, sỏi với độ chọn lọc và độ mài mòn trung bình

Sau đợt biển thoái trên là một đợt biển tiến lớn, đường bờ biển tiến vào sâu trong vùng đồng bằng, tạo thành các trầm tích có nguồn gốc của sông ven biển, bãi triều ven biển và bãi nông ven bờ Khu vực Quảng Biên - Trảng Bom – Đồng Nai chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển, trong khi khu vực Cần Thơ đến Cà Mau là biển thực thụ Khu vực chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ như Long An (theo sơ đồ cổ địa lý thời kỳ Pleistocen giữa của PGS Nguyễn Địch Vĩ, Đinh Văn Thuận) là một vùng đầm lầy ven biển ở khu vực cửa sông Soài Rạp – hạ lưu sông Vàm Cỏ Đông, vùng đồng bằng bồi tích tiếp theo và cuối cùng là vùng bồi tích – lũ tích tiếp giáp với vùng Đông Nam Bộ và là vùng thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông Như vậy cả vùng cao Đức Hòa trong giai đoạn này là một vùng đầm lầy ven biển

Thời kỳ Pleistocen muộn

Giai đoạn đầu thời kỳ này là đợt băng hà Riss hoạt động trên khắp trái đất Tại vùng đồng bằng Nam Bộ, giai đoạn này hoạt động phong hóa và rửa trôi

là hai quá trình chủ yếu; bờ biển lùi xa đến độ sâu 400 – 500m so với hiện tại Sau đợt biển lùi này là một quá trình biển tiến, đường bờ biển tiến cực đại đến trung tâm vùng Tây Nam Bộ và vùng duyên hải của Đông Nam Bộ

Cũng trong thời kỳ này các thành tạo trầm tích aluvi phân bố trong khu vực giữa sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông tạo nên bề mặt thềm cao 5 – 15m, bị chia

Trang 18

cắt bởi hệ thống sông suối hiện tại; lớp trầm tích này là tập cát xám có lẫn ít bột hoặc sạn sõi, không có câu tạo phân lớp

Sau giai đoạn biển tiến này là đợt lùi xa của biển trong đợt băng hà Wrum (18000- 70000)

Thời kỳ Holocen

Biển tiến Holocen sớm – giữa

Vào đầu Holocen đường bờ biển cổ ở độ sâu 20 – 30m so với mực nước hiện tại Khoảng nửa sau của Holocen sớm biển bắt đầu tiến vào đồng bằng và đến Holocen giữa ( 4000- 6000 năm) thì đạt đến cực đại tạo lên các lớp trầm tích biển ở khu vực sông Hậu và san bằng các địa hình phân cắt của lục địa cuối Pleistocen đầu Holocen Ở Đông Nam Bộ biển tiến tới tận Tây Bắc thành phố Hồ Chí Minh, vùng Hóc Môn, và phía Đông đến tận Cát Lái; vì vậy ta có thể suy đoán biển ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực trung lưu sông Vàm Cỏ Đông Biển tiến phân hóa đồng bằng thành nhiều vùng có đặc điểm khác nhau: vùng biển nông, biển nông ven bờ, đầm lầy ven biển và lục địa bóc mòn Vùng Đông Bắc của Đông Nam Bộ phát triển kiểu địa hình lục địa bóc mòn, trong khi ở vùng Đồng Tháp Mười thượng, thượng và trung thung lũng sông Vàm Cỏ Đông, Bắc và Đông Bắc Kiến Lương là sự hình thành dạng đầm lầy ven biển với sự phát triển nhanh chóng và phong phú thực vật nhiệt đới

Giai đoạn Holocen muộn

Biển bắt đầu rút khỏi đồng bằng, để lại nhiều khu vực đầm lầy rộng lớn và lưu vực sông Vàm Cỏ Đông là một trong những khu vực đó Biển rút đi để lại dạng địa hình như ngày nay chúng ta thấy

Sau đợt biển lùi này có thể có một đợt biển tiến khác nhưng quy mô nhỏ hơn,

vì vậy không ảnh hưởng nhiều đến khu vực Đức Hòa

Trong giai đoạn Holocen các trầm tích tạo nên dạng địa hình ngày nay của vùng Nam Bộ nói chung và ở Long An nói riêng đã hình thành Ở khu vực Long

An, mà cụ thể ở khu vực Đức Hòa ven sông Vàm Cỏ Đông, bao gồm những dạng chính sau:

Trang 19

Trầm tích đầm lầy – biển

Trầm tích này nằm giữa các đê tự nhiên, hoặc giữa các đê tự nhiên và thềm phù sa cổ, hoặc giữa các trũng thấp của thềm này; đây thường là những khu vực nước lợ, gồm những trũng to nhỏ không đều, bị ngập lụt nhiều

Trầm tích này thể hiện tính axit rõ ràng do tỉ lệ cao các chất sunfit và hữu cơ Chất Sunfit hình thành do những điều kiện đặc biệt của quá trình trầm tích: điều kiện kị khí, sự ngập lụt thường xuyên trong nước lợ, giàu thực vật nhóm rừng ngập mặn, sự có mặt của các vi khuẩn khử Sunfat và tốc độ trầm tích chậm Sunfit trong quá trình tích tụ, đồng thời thực hiện quá trình oxi hóa các chất trong đất tạo thành muối Sunfat và axit Sunfuric, làm cho đất nhiễm axit (nhiễm phèn)

Cấu tạo của lớp trầm tích này như sau:

 Trên hết là lớp sét xám đen hoặc trắng, dày khoảng 0- 40cm, đất ẩm, giàu xác thực vật đã phân giải hoặc bán phân giải

 Lớp sét nâu xám, ẩm, lẫn nhiều phèn màu vàng và dấu vết thực vật, ở

độ sâu 40- 90cm

 Dưới 90cm sét xám xanh và rất ẩm

Nhìn chung vật liệu trầm tích phân bố từ mịn đến cực mịn, từ bùn đến sét

Ở Đồng Tháp Mười, trầm tích này vừa lộ ra trên mặt, hoặc nằm dưới trầm tích không axit khác [74: 126]

Trầm tích sông (những dãy phù sa chạy dọc theo hai bên sông) phân bố ở khu vực từ Bến Lức đến Đức Hòa

Các vật liệu trong nước khi tràn qua bờ, phần thô sẽ được giữ lại tạo thành trầm tích phù sa gần bờ còn vật liệu mịn được đưa vào nơi thấp để cùng góp phần hình thành nhóm trầm tích đầm lầy Vì vậy trầm tích loại này dày nhất ở khu vực hai bên sông và mỏng dần khi đi xa Độ cao của trầm tích này ở khu vực ven sông Vàm Cỏ Đông khoảng 1m (ngày nay) [74:128]

Trầm tích đồng bằng ven biển

Trang 20

Ở Long An có cả hai loại trầm tích đồng bằng ven biển cao và thấp nhưng ở khu vực sông Vàm Cỏ Đông chỉ có một loại trầm tích đồng bằng thấp ven biển; chủ

yếu là ở khu vực Cần Giuộc, Cần Đước, dọc theo sông Vàm Cỏ Đông

Đặc trưng của dạng trầm tích này là vật liệu chủ yếu là sét bùn xám xanh, giàu vỏ sinh vật; phân bố gần các con rạch lớn chiệu ảnh hưởng của triều hoặc trong các khu dày đặc các rạch nhỏ, dễ bị ngập triều [74: 128]

Trầm tích dòng sông cổ

Những đoạn sông dài bị bỏ rơi khi dòng sông đổi dòng, chỉ còn nhận được những vật liệu mịn hạt do lũ lụt mang lại Các hạt vật liệu này dần dà lấp đầy lòng sông làm cho sông không còn khả năng hoạt động

Trầm tích có hai lớp chính : lớp trên là vật liệu mịn hạt như bùn, sét; bên dưới là lớp cát sét nâu hoặc xám

Hình ảnh những dòng sông cổ này rất phổ biến ở Long An đặc biệt là những nơi có trầm tích đầm lầy như Tân Thạnh, Đức Huệ [74:129]

Trầm tích Proluvi

Trầm tích hình thành dọc theo chân các đời trầm tích Pleistocen muộn Thực

ra đây là các “quạt” phù sa Các sông, suối nhỏ xâm thực và mang các vật liệu từ vùng đất cao xuống phủ lên các lớp trầm tích ở vùng thấp hơn trong dòng chảy của

nó Các “quạt” phù sa được hình thành như vậy và không ngừng mở rộng về phía trước và tỏa ra hai bên làm khối lượng trầm tích ngày càng lớn

Vật liệu chủ yếu của trầm tích là bùn cát hoặc sét cát

Trầm tích này có thể tìm thấy ở vùng Đức Hòa, nhất là khu vực tiếp xúc với vùng trũng Lê Minh Xuân [74: 129]

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

1.1.2.1 Đặc điểm thổ nhưỡng

Ở Long An có 4 nhóm đất chính là : đất xám, đất phù sa, đất phèn và đất mặn Trong đó khu vực Đức Hòa vốn là vùng đất xám

Trang 21

Đất xám, phát triển trên nền phù sa cổ, nằm cao hơn 2 – 6m so với mực nước biển, chiếm phần lớn diện tích lưu vực sông; ngày nay chủ yếu thuộc 2 huyện Đức Hòa và Đức Huệ

Đất có màu xám tro, nhạt vì màu bị rữa trôi, ít giữ được nước mưa Đất có phản ứng chua, nghèo chất dinh dưỡng, thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu kém

Từ khu vực Đức Huệ đến Đức Hòa, đất xám phân bố thành dạng địa hình

“sống trâu” chạy theo hướng tây bắc – đông nam, mà đường sống là một hành lang

từ Tây Ninh cập theo tỉnh lộ 10 xuống Bàu Trai và thẳng xuống thị trấn Đức Hòa ( đều thuộc huyện Đức Hòa ngày nay) Từ hành lang này, địa hình thấp dần về hai phía, ở khu vực phía đông hình thành nên vùng trũng Lê Minh Xuân tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh [74; 115]

1.1.2.2 Khí hậu:

Khu vực Bình Tả được xét tới trong đề tài có đặc điểm khí hậu của cả tỉnh Long An, và những đặc điểm của khí hậu Nam Bộ nói chung Những đặc điểm này nhìn chung là không có sự khác biệt lớn sau hàng ngàn năm từ khoảng 4000-5000BP đến nay

Về lưu lượng nước dự trữ trong vùng Mùa lũ, vùng hạ lưu, do ảnh hưởng của sông Cửu Long, giúp thoát nước một phần cho sông Cửu Long, vì vậy xảy ra hiện tượng ngập nước ở các vùng ven cả sông Vàm Cỏ Đông Mùa khô, lượng nước

ít, nước chảy xuôi dòng với lưu lượng 60m3/giây

Sông ngòi ở Long An có chế độ thủy triều là bán nhật triều, thấy rõ ở vùng cửa sông Soài Rạp Càng đi ngược lên thượng nguồn, triều càng thay đổi phức tạp

và có xu hướng ngày càng giảm Sông rạch có hai con nước, nhưng chế độ nước lớn ròng không xảy ra cùng lúc với triều biển mà chậm hơn với độ hai lần lớn, ròng không bằng nhau

Nhiệt độ trong khu vực Đức Hòa giống với các khu vực khác ở Nam Bộ Đó

là khí hậu nhiệt đới gió mùa xích đạo, nóng ẩm, nhiệt độ cao, ít biến động Nhiệt độ trung bình trong năm là 27,80C, lớn nhất là 28,70C, nhỏ nhất là 25,90C Tháng nóng nhất trong năm là tháng tư (28,7), và tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng một(25,0)

Trang 22

Nhiệt độ trong năm luôn ở mức cao hơn 270C suốt 11 tháng, nhiệt độ tăng dần từ tháng Ba, và giảm nhẹ dần vào tháng mười một, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ giữa các tháng chênh lệch không quá 2,50C Biên độ nhiệt độ trong năm khoảng 2-30C, điều này có nghĩa là ở khu vực này không có sự phân mùa theo nhiệt độ

Nhiệt độ trái đất trong Thế Holocence không có sự chênh lệch nhiều, vì vậy, dựa vào những kết quả đo đạc nhiệt độ ngày nay ta có thể suy đoán nhiệt độ trong khu vực này từ 6000 BP đến nay vẫn có tính chất tưong tự Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ cao gần như quanh năm Đây là điều kiện tốt để con người có thể duy trì sự sống dựa vào nguồn động vật - thực vật phong phú nơi đây, bởi vì có

lẽ là một quy luật, khi trái đất bắt đầu vào thời kỳ gián băng cuối cùng thì con người mới biết đến việc thuần dưỡng cây trồng, sau đó là vật nuôi, và cũng không phải ngẫu nhiên mà các trung tâm phát sinh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới: Tây Á, Trung Mỹ (Mexico), Đông Nam Á, ) đều là những khu vực có nhiệt độ tương đối cao

Vì vậy có thế nói, điều kiện nhiệt độ ở khu vực đang xét vài ngàn năm trước

đã tạo những điều kiện thuận lợi cho sự định cư lâu dài của cư dân

Độ ẩm Do ảnh hưởng của vùng vĩ độ thấp, xung quanh khu vực xích đạo, phạm vi hoặc động của gió Mậu Dịch (còn gọi gió Tín Phong hay gió mùa Tây Nam), thổi qua vịnh Thái Lan mang vào cho Miền Nam (và cả lưu vực sông Vàm

Cỏ Đông) một lương mưa dồi dào, vì vậy độ ẩm ở khu vực này rất lớn Mặc khác do nhiệt độ trong năm luôn cao và không qua chênh lệch giữa các tháng, vì vậy độ ẩm trong năm không chênh lệch lớn

Khu vực Nam Bộ nói chung và khu vực Long An nói riêng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các hoạt đông gió mùa

Gió mùa Đông Bắc, bắc nguồn từ vùng Siberia ( Nga), là một vùng có nhiệt

độ rất thấp, thổi theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, khi thổi qua Trung Quốc, chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu lục địa nên lạnh và khô, khi đi vào Việt Nam, luồn gió đi qua vịnh Bắc Bộ và vùng biển Miền Trung, được khí hậu đại dương làm cho

Trang 23

biến tính, gây mưa nhẹ và nhiệt độ được nâng lên Nhưng do hình thành từ vùng xa, khi đến Việt Nam lại bị biến tính, gió mùa Đông Bắc chỉ ảnh hưởng mạnh đến khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ, phía Nam cũng có ảnh hưởng do hoạt động của luồn gió này nhưng mức độ ảnh hưởng không cao Gió mùa Đông Bắc hoạt động từ tháng 10 đến tháng 4 nhưng thời gian ảnh hưởng đến khu vực Miền Nam thường ngắn hơn, (thường từ giữa tháng 11 mới bắt đầu cảm thấy hơi lạnh thổi từ hướng đông bắc, và đến khoảng giữa tháng 3 là khí hậu trở lại nắng nóng ) [74:108]

Gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh khu vực hay bên xích đạo, (hoạt động theo chu kỳ ổn định, lai giúp cho các thuyền bè đi lại dễ dàng hơn nên còn gọi là gió Tín Phong, hay gió Mậu Dịch) Gió thổi theo hướng Tây Nam, trước khi vào Miền Nam, đi qua vùng biển Began và vịnh Thái Lan nên mang theo lượng mưa lớn, gây nên lượng mưa lớn và kéo dài

Giữa chu kỳ hoạt động của hai loại gió này là một giai đoạn chuyển tiếp ngắn

và không ổn định

Lượng mưa trung bình trong năm lớn, khoảng 1530mm/năm, phân bố thành hai thời kỳ Từ tháng năm đến tháng mười chiếm hơn 85% lượng mưa cả năm Từ tháng một đến tháng tư lượng mưa được phân bố là 15% tổng lượng mưa cả năm Mưa nhiều nhất trong năm tập trung vào thánh chín và tháng mười; mưa ít nhất vào các tháng một, hai, ba

Biên trình mưa các tháng trong năm có hai cực đại vào tháng mười và tháng sáu, hai cực tiểu vào tháng hai và tháng bảy Mức dao động giữa những tháng có lượng mưa nhỏ hơn 1000mm lớn hơn nhiều so với những tháng có lượng mưa trên 1000mm

Lượng mưa phân bố đồng đều trên các vùng trong toàn tỉnh Long An, từ

1400 – 1500mm; riêng ở vùng Hiệp Hòa, lượng mưa trung bình nhiều năm là 1650mm, cao hơn các vùng khác 150 – 200mm

Mùa mưa thường bắt đầu từ các huyện ở tây bắc tỉnh Long An, khu vực vùng

hạ sẽ có mưa muộn hơn Ngược lại mùa khô bắt đầu từ khu vực đông nam và hướng dần lên các vùng phía tây bắc Như vậy nghĩa là khu vực Bình Tả nằm trong khu

Trang 24

vực mưa sớm và khô muộn hơn các vùng khác, điều này làm cho độ ẩm khu vực này có phần cao hơn

Trong mùa mưa thỉnh thoảng có những thời kỳ hạn xen kẻ, có mức độ dài ngắn khác nhau, thường xảy ra vào tháng bảy và tháng tám, làm cho mùa mưa ở đây

đỡ khắc nghiệt hơn [74: 108 - 109]

Nắng và bốc hơi

Độ dài ngày trong năm thay đổi không đáng kể Độ chiếu sáng cực đại trong

tất cả các tháng đều có khả năng vượt quá 10 – 11h trong ngày

Độ chiếu sáng thực tế lớn nhất rơi vào các ngày trong các tháng mùa khô (khoảng 8 – 9h), ít nhất trong ngày thuộc các tháng mùa mưa (5 – 6h) Bình quân số

giờ nắng trong ngày là 7h

Nhiệt độ và bức xạ khá ổn định, phân bố đồng đều, phạm vi dao động không lớn Biên độ nhiệt trong ngày trên dưới 100C

Độ bốc hơi thay đổi theo mùa; vào mùa nắng độ bốc hơi cao hơn các tháng trong mùa mưa Theo kết quả đo được ở trạm Hiệp Hòa, độ bốc hơi bình quân là 108mm/tháng; tháng có độ bốc hơi cao nhất là tháng Ba - 117,8mm (năm 1973, tính kết quả trong 10 năm 1964 - 1974), nhỏ nhất vào tháng Mười – 68,2mm (năm 1964) [74:109]

1.1.2.3.Hệ động – thực vật

a) Thực vật

Quần thể thực vật trên khu vực phù sa cổ

Trên các vùng đất cao, ít hoặc không bị ngập nước như các vùng phù sa cổ ở vùng thượng và trung Long An và trên các đê tự nhiên ven sông rạch là các khu rừng dày nhiệt đới nữa rụng lá, gồm nhiều tầng cây thân gỗ cao từ 8- 30m như các loài: dầu rái, sao đen, sao xanh, bằng làng, trôm, lòng mức,…

Những dấu vết của quần thể thực vật xưa là các chòm sao, dầu, lòng mức quanh các đình chùa và đất thổ cư ở Mộc Hóa, Đức Hòa, Đức Huệ Thành phần thực vật hoang dại khác cũng còn lưu lại như các cây bụi đinh, bời lời, dứa gai, sim, mua, mọc rãi rác khắp nơi

Trang 25

Ngày nay đất trong khu vực hầu hết đều được phủ đầy các loại cây trồng: lúa, cây ăn trái, hoa màu,…

Quần thề thực vật ven sông, rạch:

Phân bố trên các dãy đất hẹp, mỏng ven đôi bờ sông rạch từ thượng nguồn đến hạ nguồn sông Vàm Cỏ Đông, vì vậy loại thực vật rất đa dạng và có sự thay đổi

từ cửa biển lên thượng nguồn

 Vùng gần cửa biển ( Cần Đước, Cần Giuộc) là vùng nước lợ và nước mặn: mắm, vẹt, đước, bần, mọc xen lẫn với dừa nước, quao nước, cóc kèn, lác nước,…

 Cao hơn một ít có các loại cây giá chà là, bụi chàm, ngọc nữ không gai, lứt, sơn cúc, ráng dại,…

 Đi sâu vào nội địa: bần, bình bát, dứa gai, tràm gối, trâm sơ, gừa,… dọc ven sông còn xen lẫn các loại cây mù u, tra, nhàu, dây choại, mây nước,…

 Nơi nước ngọt: cà na, chiếc, gáo, cà dăm, nỗ, lăng,…

Quần thề thực vật ven các sông lớn

Đó là các vùng phù sa màu mỡ, chiếm lĩnh vùng đất này là các loại cây: lác nước, lác hến, lác chiếu (cói) ráng, gạc nai, bồn bồn, lúa trời, cỏ mồm, đưng, để,… Quần thể thực vật vùng bưng trũng: chiếm ưu thế nhất là cây tràm, kế đến là các trảng lau, sậy, đưng, bàng, lúa ma,… loại thực vật này có tác dụng giảm bớt dòng chảy trong mùa lũ và lớp hữu cơ che bẹn trên, giữ độ ẩm cho đất, nhờ đó,mà mực độ phèn được hạn chế; kế đến là các loại sen, súng, các loại ràng ràng, điên điển, rau muống, rau dừa, lục bình và các loại bèo

Trang 26

Vùng phù sa cổ, các gò, giồng tự nhiên, đê tự nhiên ven sông rạch, với các khu rừng nhiệt đới nguyên thủy là nơi cư trú của các loại động vật có vú cỡ lớn: voi,

tê giác, hổ, trâu rừng, heo rừng hoặc cỡ vừa như hươu, chỉ, chồn, hoãng, giộc, rái cá,… Những sự thay đổi lớn về thảm thực vật đã dẫn đến sự thay đổi lớn về giới động vật Động vật lớn bỏ đi hoặc tiêu diệt hết, các động vật nhỏ như chuột, dơi đến chiếm lĩnh vùng này

Có hơn 120 loài cá nước ngọt ( cá đồng và cá sông), các loài tôm nước ngọt (tép bạc, tép bò, tôm càng lửa, càng xanh,…); nơi cửa sông là cá bống, cá vược, cá đối, cá úc vàng, cua, tôm thẻ, tôm sú, tôm đất,…

Ngoài ra còn các loại chim, cò, ong, sinh sống trong vùng làn nên sự đa dạng trong đời sống của giới động vật

Đặc tính của kỷ Holocen là khí hậu ấm áp và ít thay đổi, vì vậy có thể nói rằng ở khu vực sông Vàm Cỏ Đông, vài ngàn năm trước khi con người đến đây, khai hoang định cư, sinh sống trong điều kiện khí hậu tương tự như ngày nay Vì khí hậu là yếu tố quyết định các điều kiện tự nhiên khác, nên sự ổn về khí hậu cũng đảm bảo luôn sự ổn định và mặt thổ nhưỡng, và đặc biệt khí hậu có tác dụng quyết định đối với sự ổn định của giới sinh vật Vì vậy những con người đầu tiên này cũng sinh sống trong một môi trường gần giống với những yếu tố địa lý đã được miêu tả như trên Tuy nhiên, môi trường không thể là một thực thể bất biến, và con người cũng là một tác nhân quan trọng gây ra sự biến đổi đó Thông qua lao động, con người tác động vào môi trường để lấy những yếu tố cần thiết đồng thời cũng làm biến đổi môi trường theo hướng phục vụ cho cuộc sống của họ Trong khu vực Long An nói chung và sông Vàm Cỏ Đông nói riêng ngoài sự nóng dần lên trong xu thế chung của toàn cầu, và những hậu quả kéo theo của nó, còn có sự bạc màu, xói mòn của đất đai do hoạt động trồng trọt của cư dân, và dễ thấy nhất là sự mất đi hoặc giảm bớt của các loài động- thực vật quý hiếm Vì vậy có thể kết luận con người cổ trên lưu vực sông Vàm Cỏ Đông đã sống trong điều kiện khí hậu nhiệt đới

ẩm gió mùa, với nhiệt độ thấp hơn, đất đai màu mỡ hơn, hệ động - thực vật phong

Trang 27

phú và đa dạng hơn Đó là những điều kiện khá thuận lợi cho cuộc sống của con người thời bấy giờ

1.2 Qúa trình phát hiện và nghiên cứu

1.2.1.Giai đoạn trước năm 1975

Cụm di tích khảo cổ học Bình Tả là một cụm phế tích kiến trúc, gồm ba di tích lớn: Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước và 14 di tích khác đã được khảo sát là có vết tích văn hóa Cụm di tích này có tên là Bình Tả, vì nó tọa lạc trên ấp Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ Vào thời Gia long vùng này thuộc thôn Đức Hòa, tổng Hưng Long, trấn Phiên An [24: 37]

Khu vực có di tích nằm trên thềm phù sa cổ của triền đồng bằng miền Đông Nam Bộ và là thềm bậc I của hệ thống sông Cửu Long – Đồng Nai, có tuổi Pleistoxen muộn (Q III – 10000 cách ngày nay), có độ cao trung bình so với mực nước biển là 3m [1: 4]

Cụm di tích Bình Tả nằm trong một quần thể di tích từ thời tiền sử cho đến

sơ sử phân bố dọc theo các trục lộ cổ, con sông cổ và hệ thống sông Vàm Cỏ thuộc khu vực phù sa cổ Đức Hòa Vì vậy, từ đầu thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học Pháp đã quan tâm nghiên cứu và khảo sát khu vực này: L Malleret, M Colani, P.Levy, H Parmentier, J.Y.Claeys,… Những phát hiện trong khu vực đã được L Malleret hệ thống hóa và liệt kê 70 di tích và di vật từ thời ký đá mới cho đến thời cận đại, trong

đó những di tích tại Bình Tả đã được ghi nhận như sau:

1 Chòm Mả (sau này được biết đến với tên gọi Gò Xoài) Được H Parmentier và J.Y.Claeys đề cập tới trên Bản tin của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (BEFEO: Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient) vào các năm 1918 (BEFEO, XVIII, tr.63) và 1931 (BEFEO, XXXI, tr 612) Theo L Malleret, tại gò này đã xuất lộ phần nền và móng của một kiến trúc hình vuông (6,70m x 6,70m)

Về phía Đông, kiến trúc còn có một khung cửa dựng bằng 2 cột đá sa thạch (1,80m

x 0,90m x 0,38m) và một mi cửa đá rơi bên cạnh (1,66m x 0,90m x 0,25m) có đường rãnh khớp với đường gờ của 2 cột đá [19: 89]

Trang 28

1 Linh Nguyên Tự: Năm 1927, Jean Bouchot đã tìm được và đưa về Bảo tàng Sài Gòn một Mukha-linga và một Yoni bằng đá [1:10]

2 Cái Tháp,năm 1931, J.Y.Claeys đã phát hiện dấu vết của một kiến trúc cổ

và đã tiến hành khai quật ngay trong năm đó Kết quả khai quật làm xuất lộ một

“phòng” bên trong, sâu khoảng 4,00m và 2 cột trụ bằng sa thạch màu đỏ tím, tiết

diện hình tròn, có hoa văn trang trí dày đặc Hai cột cửa này sau đó được đưa vào Bảo tàng J,Y,Claeys đã cho biết đây là một ngôi đền cổ thuộc giai đoạn tiền Angko, niên đại thế kỷ VII – VIII sau Công Nguyên” [19: 89] Năm 1963, khi Malleret đến đây cũng đã ghi nhận ở đây có một kiến trúc có bình diện vuông, mỗi cạnh khoảng 6,00m, bức tường còn lại cao khoảng 2,00m, có cửa giả ở 3 phía, trừ vách Đông mở lối đi vào

3 Tháp Lấp (Tháp Lớn) (sau có tên là Gò Đồn) Năm 1931, J.Y.Claeys đã tiến hành đào thám sát ở đây [1:10] L.Malleret cho biết đây là một di tích kiến trúc nằm trên 2 gò đất, nằm theo hướng Đông – Tây, cao khoảng 2,00m so với mặt ruộng xung quanh; trên đường trục của 2 gò này, về phía Đông, có một bàu nước cổ

đã lấp một nửa, có tên là Bàu Sao; về phía Tây, trên đỉnh gò, lộ ra bên bờ hố đào một tấm đan hình chữ nhật, giống như mi cửa có đường gờ (1,50m x 0,78m x 0,30m), dưới chân gò có một mảnh Yoni [19: 92]

4 Gò Bù Lời: Khi được phát hiện là một mô đất, bên cạnh có một bàu nước

cổ Trên mặt mô đất có 3 tấm đan bằng đá và một khối sa thạch dạng vuông cùng nhiều gạch cỡ lớn [1: 10]

1.2.2.Giai đoạn sau năm 1975

Trong 2 năm 1986 – 1987, Sở Văn hóa Thông tin Long An đã phối hợp với Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ) tiến hành khảo sát và đã phát hiện hàng trăm di tích Óc Eo trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó khu vực huyện Đức Hòa có hơn 60 di tích tiền sử, sơ sử và vài trăm bàu cổ lớn nhỏ Các di tích ấy chia thành nhiều cụm liên kết với nhau trên các trục lộ cổ bắt đầu từ cụm Núi Đất, bến Cây Xoài (xã An Ninh), cụm Bến Đò (xã Lộc Giang), cụm ngã tư Sò Đo (thị trấn Hậu Nghĩa), cụm Giồng Ngang (xã Hòa

Trang 29

Khánh Đông và Hòa Khánh Tây), cụm Thô Mô (xã Hòa Khánh Nam), cụm thị trấn Đức Hòa, cụm Đồng Săn Đá – Xóm Tháp (xã Đức Lập Thượng) cụm Giồng Lốt (xã Đức Hòa Thượng), cụm Giồng Lớn (xã Mỹ Hạnh Nam) Trên trục sông Vàm Cỏ Đông cũng bắt nguồn từ Lộc Giang, bến Cây Xoài, Núi Đất (xã An Ninh), cụm Rạch Nhum, Rạch Heo (xã Tân Phú, xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ), cụm Gò Xoài (xã Hựu Thạnh) Trên trục vùng bung Đức Hòa, Trảng Bàng (Tây Ninh), Củ Chi (TP Hồ Chí Minh), cụm Rừng Mũi, xóm Bào Công (xã Tân Mỹ), cụm Lục Viên (xã Đức Lập Hạ), cụm Vọng Hòa, Rừng Đình (xã Mỹ Hạnh Bắc) Tất cả 14 cụm di tích, nằm trên các trục lộ cổ, trục sông, trục lung bưng đều tựu trung đi vào khu di tích Bình Tả (xã Đức Hòa Hạ) [1: 11-12]

Trong cụm di tích Bình Tả, các nhà khảo cổ đã tiến hành thám sát 1 di tích (Gò Sáu Huấn) và khai quật 4 di tích (Gò Tháp, Gò Đồn, Gò Năm Tước, Gò Xoài)

Gò Sáu Huấn: khi tiến hành khảo sát di tích đã tìm thấy trên mặt gò một số gạch vụn màu hồng nhạt; ở phần đỉnh gò có đường hào sâu khoảng 1,00m, dài 6,00m trên vách lộ ra nhiều gạch cỡ lớn; phía Đông gò là một bàu nước hình tròn,

đã cạn [19: 88]

Gò Tháp : được khai quật từ 28/2/1987 đến 3/31987 và 3/6/1987 đến 10/6/1987 Kết quả đã tìm thấy ở trên thửa ruộng sát chân gò phía Bắc có những đường móng gạch rộng 1,80m, và 4 ụ gạch ở góc Đông (0,80 x 0,80 x 0,30 m) xây cách đều nhau, nằm sát bên chân móng gạch Đặc biệt có nhiều mảnh gốm và vòi bình dạng Óc Eo cùng với những vết tro được tìm thấy ở gần đìa nước, sát chân móng kiến trúc và một mi cửa bằng sa thạch có chạm trổ hoa văn thực vật[1:12; 19: 89]

Gò Xoài: được khai quật từ 3/3/1987 đến 30/8/1987 Là một kiến trúc đền thờ lớn bằng gạch nung, dạng vuông 15,20m x 15,15m Ở trung tâm có một hố thờ hình vuông Trong hố thờ đã phát hiện 26 hiện vật vàng, 6 viên đá quý, một mảnh gốm mịn Óc Eo và một số mảnh vụn kim loại [1:12; 19:89-92]

Trang 30

Gò Năm Tước: được khai quật từ 11/5/1987 đến 18/6/1987 Di tích là một nền kiến trúc dài 17,2m, rộng1,0m Kiến trúc bẻ góc nhiều lần đối xứng qua trục Đông – Tây, trổ cửa ở phía Đông với tam quan hình bán nguyệt [1:13; 19: 95-96]

Gò Đồn: được khai quật từ 1/9/1987 đến 30/10/1987 Là một ngôi đền lớn xây bằng gạch và đá Laterit, phần trung tâm có dạng vuông 11,60m x 11,20m, vỉa gạch ngoài phần trung tâm còn kéo dài theo chiều Nam – Bắc là 60m, theo chiều Đông – Tây 78,5m, với nhiều công trình kiến trúc phụ [1:13; 19: 92-95]

Trang 31

CHƯƠNG 2

DI TÍCH VÀ DI VẬT Ở KHU DI TÍCH BÌNH TẢ 2.1.Di tích

2.1.1 Di tích kiến trúc

2.1.1.1 Tháp Gò Xoài

Khi di tích này được khai quật vào năm 1987,các nhà khảo cổ đã phát hiện được kiến trúc bằng gạch với bình đồ gần vuông mỗi cạnh dài khoảng 15,40m Di tích với kiến trúc gạch hầu như bị phá huỷ hoàn toàn chỉ còn lại một phần gạch lát nền ít ỏi ở Đông Bắc và Đông Nam Bên ngoài tháp có hàng gạch cao, còn lại bốn lớp gạch, cạnh phía Đông tường biên được nới rộng ra khoảng 2,4m Toàn bộ kiến trúc như bẻ góc vuông ba lần Ở cạnh phía Tây được ngắt quãng, ở vị trí hai đầu ngắt được xây rộng ra khoảng 1m, ở vị trí cách khoảng 2/3 chiều ngang của nền tháp theo hướng Đông Tây là một cấu trúc vuông, các cạnh này dài 2,2m x 2,2m Các lớp gạch được xây theo kiểu hai viên nằm ngang và hai viên nằm dọc xen kẻ nhau dày đến 14 lớp, tạo thành vách thẳng đứng ăn sâu xuống dưới Tiếp theo lớp gạch này là một cấu trúc dạng “giếng vuông”, bốn vách được xây bằng đá, mỗi cạnh dài 1,5m tiếp theo phần ở phía trên

Ở vị trí chính giữa hố này là một trụ vuông, được xây bằng gạch Các viên gạch được xếp theo gồm 16 lớp ở độ sâu 0,63m cách mặt đất Mỗi lớp gạch gồm có

bốn viên xây theo kiểu đối đầu nhau kiểu “chữ vạn”với 4 cạnh theo đúng 4 hướng

Đông, Tây, Nam, Bắc Lớp gạch cuối cùng của trụ gạch này ăn tới lớp sét đen dày 0,3-0,1m dài 0,7m (Đông – Tây) rộng 0,5m (Bắc – Nam) Phía dưới nền sét có hộc cát trắng Hộc cát này càng xuống sâu thì càng nhỏ lại, lớp trên từ 0,7m x 0,5m cách một đoạn khoảng 0,25 thì thu nhỏ lại còn 0,3m x 0,3m và hộc này tiếp giáp với tầng sinh thổ [Bản vẽ 3, bản ảnh 1] Trong lớp cát trắng này có 26 hiện vật vàng Gồm có:

 1 lá vàng lớn, kíchthước 21,0cm x 4,0cm,được gấp lại làm bốn, có khắc những hàng chữ thuộc hệ thống văn tự và ngôn ngữ cổ có xuất xứ từ Ấn Độ

Trang 32

 8 lá vàng chạm hình voi, có hình chữ nhật với chiều dài 2,9cm - 3,3cm, rộng 2,6cm - 3,0cm

Stupa là từ dùng để chỉ Tháp trong Phật giáo, đó là một kiến trúc gồm nhiều tòa cao, nhiều tầng, dưới lớn trên nhỏ, dùng để thờ xá lợi của Phật hoặc các nhà thành đạo : Bồ Tát, Duyên Giác, La Hán; hoặc thờ di cốt của vị thượng tọa hoặc của

nhà vua Trong Niết Bàn kinh, quyển 41, có ghi lời dạy về quy mô xây tháp: “tháp

để thờ xá lợi của Phật thì cất 13 tầng, tháp thờ Bình-chi-Phật thì cất 11 tầng, tháp của La Hán cất 4 tầng, tháp của các vị Chuyển luân vương thì không được xây tầng…” [8: 319]

Một bảo tháp stupa (từ tiếng Phạn: तूप, Pāli: थुप "thūpa", nghĩa đen có nghĩa

là "đống") là một cấu trúc giống như ngọn núi có chứa dấu tích Phật giáo, điển hình

là hài cốt của Đức Phật, được sử dụng bởi Phật tử như là một nơi thờ phượng Tháp

là di tích tôn giáo lâu đời nhất của Phật giáo và ban đầu chỉ là một gò đất đơn giản bùn hoặc đất sét bao gồm các di tích của Đức Phật

Trong Phật giáo, stupa là một đại diện biểu tượng của sự giác ngộ hay sự hoàn thiện của trí tuệ và lòng từ bi của Đức Phật Trong thời cổ đại, bảo tháp là mái

Trang 33

vòm hình di tích thánh thiện cấu trúc và hình thức cổ xưa nhất của kiến trúc Phật giáo cổ xưa Theo truyền thuyết Ashoka đã cho xây dựng đến 84 nghìn bảo tháp để tưởng nhớ lại những sự kiện khác nhau trong cuộc đời Đức Phật Dần dần các bảo tháp được dựng lên để tưởng nhớ các sự kiện như là sự giác ngộ của Đức Phật, các phép lạ, sự nhập diệt hoặc thậm chí một dấu chân và xây nhà để cất giữ các kinh sách thánh điển, “pháp thân” của Phật Một số bảo tháp chỉ vỏn vẹn là những đồ thờ

cúng, như các đồ vật bằng đá cứng trong các sảnh đường Chaitya [15: 46]

Truyền thuyết kể rằng Đức Phật đã cắt tóc và móng tay của mình đưa cho hai thương nhân là Trapusa và Ballika, những người cung cấp mật ong và bánh ngọt cho Ngài và yêu cầu họ xây dựng một bảo tháp để cất giữ chúng Ngài đã chỉ ra hình thức của bảo tháp bằng cách gấp chiếc áo choàng của mình bốn lần để đại diện cho bốn bước hình thành cơ sở Phía trên, Ngài ông đặt úp chiếc bát dùng để khuất thực của mình để đại diện cho các mái vòm, phía trên cùng là cây gậy chống của Đức Phật làm thành phần chóp tháp Do đó, cho đến ngày nay, hình thức cơ bản của bảo tháp vẫn giữ được cấu trúc mái vòm Những quy định, hình ảnh và ý nghĩa của stupa được ghi lại đầy đủ trong Kinh Saddharmapundarika, còn được gọi là Kinh

Pháp Hoa

Cấu trúc của bảo tháp thực tế đã trải qua những thay đổi khác nhau qua nhiều thế kỷ Các bảo tháp sớm là những gò đơn giản bằng đất hoặc đất sét, nhưng, theo thời gian, chúng trở nên dần dần lớn hơn và phức tạp hơn so với cấu trúc hình vòm trước đây Các yếu tố khác đã dần dần được thêm vào cho đến khi bảo tháp đạt được của hình thức "cổ điển", bao gồm: một cấu trúc lớn được bao quanh bởi 1 vedika (hàng rào, dường như bắt nguồn từ các hàng rào xung quanh làng có từ thời

Vệ Đà) có thể đi vào bằng bốn cửa (torana) trổ ra bốn hướng Các phần chính của cấu trúc mái vòm hình bán cầu lớn (Anda) gồm một nền vuông phẳng (harmika), trung tâm có một lan can (vasti) mà từ đó có một trục treo lên một loạt các lọng (cattravali) Một số học giả cho rằng lan can này xuất phát từ tập tục bao bọc cây thiêng bằng một hàng rào, cũng kỷ niệm sự giác ngộ của Đức Phật dưới gốc cây Bồ

Đề Hàng rào lan can và lọng có quan hệ rất lớn với hoàng gia (vua và các hoàng tử

Trang 34

thường được mô tả được che chở bởi dù che trong nghệ thuật châu Á), nhưng những trục này, không may, có xu hướng thu hút sét, dẫn đến sự hủy diệt của rất nhiều di tích tưởng niệm trong suốt lịch sử

Các cuộc khai quật sâu vào bên trong bảo tháp cho thấy bên trong đôi lúc là những hoa văn biểu thị điềm lành kiết tường hoặc thần bí như bánh xe hoặc hình chữ vạn Tất cả những thứ đó hoàn toàn bị che khuất nhưng lại kích ứng quyền năng cốt lõi thiêng liêng từ bản chất của bảo tháp giống như một đàn tràng (mandala) [15: 87]

Hình dạng của bảo tháp đại diện cho Đức Phật, đội vương miện và ngồi trong tư thế thiền định trên một ngai vàng sư tử Vương miện là các dù lọng; đầu Ngài là phần hình vuông harmika tại chân dù lòng; cơ thể là phần tháp hình cầu; bốn cầu thang và nền là ngai vàng và chân của Ngài

Dựa vào hình dạng và chức năng có thể chia bảo tháp thành các dạng

 Bảo tháp chứa di tích còn lại của Đức Phật, các đệ tử của ông, những người giác ngộ Phật giáo (xương, tóc, tinh thể, răng…)

 Bảo tháp chứa các vật dụng Đức Phật hay các đệ tử của ôngđã sử dụng, (như bát, áo choàng, hoặc kinh điển Phật giáo thiêng liêng )

 Bảo tháp kỷ niệm: để kỷ niệm sự kiện tốt lành hoặc những sự kiện có

ý nghĩa trong cuộc đời của Đức Phật và các môn đệ

 Bảo tháp tượng trưng: tượng trưng cho các khía cạnh của khái niệm triết lýPhật giáo

 Bảo tháp cúng dường: để kỷ niệm chuyến thăm của các sư thầy hoặc chức sắc , những người ủng hộ Phật giáo

Các bảo tháp sau đó phát triển thành các ngôi chùa Phật giáo truyền bá sang các nướcchâu Á khác Nói chung, bảo tháp được sử dụng cho một cấu trúc Phật giáo ở Ấn Độ hay Đông Nam Á và chùa ở Đông Nam Á có thể xem là một

Mô hình Stupa có thể xuất phát từ mô hình mộ thủ lĩnh và Đức Phật cũng được xem như thủ lĩnh của những tín đồ Phật giáo, vì vậy mà mộ của Ngài được xây

Trang 35

dựng ở nhiều nơi để tỏ lòng tôn kính; về sau đối tượng được mở rộng, không chỉ Đức Phật mà còn có vị Bồ Tát, La Hán,

Mô hình mà ngày nay người ta vẫn gọi là “ tháp” với cấu trúc vuông nhiều tầng mái mãi sau này mới có Việc khi nào và tại sao các stupa hình bán cầu lại chuyển thành dạng stupa vuông sao này vẫn còn đang được nghiên cứu

Stupa được ghi chép trong Phật học từ điển là lấy mô hình từ Trung Quốc

TS Inchang Kim của Khoa Mỹ Thuật, Đại học Tổng hợp Mokpo, Seoul, Hàn Quốc đã đi tìm lại dấu vết của tháp nhiều tầng mái, đã đưa ra giả thuyết: Cho đến

trước thế kỷ V sau Công nguyên loại tháp nhiều tầng mái không hề có chức năng tôn

giáo, giai đoạn này chỉ có thể là một stupa dạng bán cầu nếu là bất kỳ một nền

móng kiến trúc nào có chứa thánh tích bên trong Từ giữa thế kỷ V đến cuối thế kỷ

VII, tháp nhiều tầng mái là sự kết hợp của điện thờ và một stupa thu nhỏ trên nóc

Từ sau thế kỷ VIII tháp trở thành một mô hình tháp trừu tượng với hộp thánh tích

đặt bên dưới mặt nền Mô hình tháp này phổ biến khắp các nước theo Phật giáo Bắc

Tông (tháp Nhạn ở Nghệ An là một mô hình dạng này) Từ thế kỷ IX tháp bắt đầu

chứa tro cốt, xá lị của các vị sư và thường được đặt bên ngoài đền [36: 101]

Trong khi đó ở miền Nam, vẫn chưa thấy nghiên cứu về sự chuyển biến của các dạng stupa Phật giáo

Di tích Gò Xoài có bình đồ vuông, nhưng xét vào giai đoạn thế kỷ VI-VII, ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc ở Óc Eo không phải là rất sâu đậm, vì vậy khó có thể nói mô hình Gò Xoài được xây dựng theo mô hình tháp Trung Quốc, cũng như không thể dùng tất cả những mô tả trong Từ điển Phật học để hình dung về mô hình

Gò Xoài; có thể bình đồ vuông của Gò Xoài chính là sự ảnh hưởng của một kiểu kiến trúc truyền thống trong văn hoá Óc Eo Điều này hoàn toàn có khả năng, bởi vì

sự ảnh hưởng của Ấn Độ ở Đông Nam Á nói chung tuy hết sức lớn nhưng mà cái truyền thống của cư dân cũng có một sức sống rất mãnh liệt

“ …trong bài viết dành cho Tập San Lịch sử thế giới Coedès đã miêu tả nên văn minh cổ của Campuchia như một kiến trức thượng tầng, đặt lên trên một hạ tầng bản xứ (…)Bosch đã miêu tả nền văn hóa cổ Hinđu – Indonexia như là sản phẩm

Trang 36

của sự thụ thai “chất sống” của xã hội Indonexia bằng tinh thần Ấn Độ và giải thích rằng một sự sống mới đã được tạo thành và sẽ phát triển thành một sinh vật độc lập” [26: 46]

Thậm chí “Về kiến trúc, Parmentier đã đưa ra ý kiến có cân nhắc nói rằng“nếu tước

bỏ đi các thánh tượng và bản khắc, thì nền kiến trúc này (kiến trúc Đông Nam Á-

người dẫn) khác hẳn các nguyên mẫu Ấn Độ của nó đến mức mối liên quan giữa

chúng tuyệt nhiên không cón rõ ràng nữa” [26: 47]

Về loại hình stupa hay tháp ở Đông Nam Á, dù là có nguồn gốc từ Ấn Độ, nhưng so ra nó càng mang nhiều yếu tố “biến tấu” hơn Cùng với sự truyền bá của Đạo Phật ở Đông Nam Á, các tháp Phật giáo cũng xuất hiện ngày càng nhiều hơn Tuy nhiên hiện tại có rất hiếm các kiến trúc được xác định là kiến trúc tháp Phật giáo ở Đông Nam Á được xây dựng từ những thế kỷ V – VI, mặc dù nhiều tài liệu

đã ghi nhận sự phổ biến và tôn sùng Phật giáo trong cộng đồng cư dân cổ nơi đây Nhiều ngôi bảo tháp nổi tiếng ở khu vực Đông Nam Á như Shewhsandaw (Myanmar, XI A.D), Shewdagon (Myanmar, XIX A.D), Wat Mahathat (Thái Lan, XIV A.D), bao gồm cả Borobudur (Indonesia, VIII A.D) đều có niên đại muộn so với các kiến trúc thuộc văn hóa Óc Eo Qua lịch sử, những chức năng, hình dáng kiến trúc của những bảo tháp này hầu như không còn liên hệ nhiều với ngôi bảo tháp nguyên thủy ở Ấn Độ Ngày nay, dùng để gọi ngôi bảo tháp ở các nước Nam

và Đông Nam Á có nhiều từ khác nhau: Chaitya ở Nepal, Candi - Indonesia và Malaysia, Chedi – Thai Lan, Dagoba/Chaitiya - Sri Lanka, Chedey – Cambodia,

That – Lao, Zedi /Pahto – Myanmar Tháp Phật giáo nguyên thủy có chức năng như

là một đài tưởng niệm, tôn vinh Đức Phật và Phật pháp, nhưng ở Đông Nam Á, ngoài chức năng này nó trở thành nơi có chức năng như “chùa” ở Myanmar, Sri Lanka Riêng trên vùng đất Nam Bộ ngày nay, ở những ngôi chùa của người Khmer, Tháp trở thành nơi chôn cất các vị tăng, ni, những người có đóng góp lớn cho chùa, những Phật tử cúng dường nhiều cho chùa, còn chức năng chôn theo những Xá lợi, Pháp bảo của nhà Phật cũng như tiến hành nghi lễ thuộc về các chính

điện “chaitya” Trường hợp các hang đá ở Anjata hay Ellura, các tịnh xá Vihara là

Trang 37

nơi cư ngụ của các vị sư tăng, chánh diện Chaitya là nơi hành lễ, bên trong chánh điện có bảo tháp Stupa như một đài tưởng niệm Đức Phật, trong đó bảo tháp là trung tâm của toàn thể kiến trúc; các ngôi tháp ở chùa Khmer lại được dời ra ngoài

khuôn viên chánh điện và không còn là trung tâm của khối công trình nữa

Như vậy trong lịch sử, bảo tháp có thể đứng một mình hoặc là bộ phận trung tâm trong một cụm kiến trúc mặc dù vị trí trung tâm này có thể dần bị thay thế Trở lại tháp Gò Xoài, đó là một kiến trúc đứng riêng lẻ Tuy nhiên do chỉ còn lại phần nền kiến trúc, chúng ta không biết được là phần kiến trúc này có cửa ra vào hay không, đều này rất quan trọng Nếu tháp được xây bịt kín, vậy bản thân ngôi tháp là đối tượng được cúng bái, hành lễ Nếu tháp có cửa ra vào, thì những vật được thờ trong tháp mới là đối tượng chiêm bái Thư tịch cổ Trung Quốc đã từng ghi nhận việc vua Phù Nam chọn nhiều cống vật tượng trưng cho Đạo Phật như: tượng Phật,

xá lị Phật,…dâng cho hoàng đế Trung Quốc, cử các vị cao tăng sang Trung Quốc để dịch kinh Phật Khảo cổ học cũng đã tìm thấy nhiều hiện vật mang nội dung Phật giáo: tượng Phật, Bồ Tát, lá vàng,…Đó đều là những bằng chứng cho sự phát triển của Đạo Phật trong không gian phân bố của văn hóa Óc Eo, thế nhưng hiện tại vẫn chưa xác định được một công trình kiến trúc nào là một công trình Phật giáo với chức năng cụ thể của nó

2.1.1.2 Đền Gò Đồn

Gò Đồn nằm cách Gò Xoài khoảng 200m về phía Đông Năm 1931 J.Y.Claeys

đã đào thám sát di tích này Từ tháng 2/1987 đến 1988, Bảo tàng Long An tiến hành khai quật di tích Gò Đồn Kết quả đã làm phát lộ một kiến trúc cổ có chiều dài Đông – Tây là 78,5m, có bố cục tương đối nguyên vẹn, phân bố theo trật tự từ Đông

sang Tây dùng làm nơi thờ cúng thần Shiva [Bản vẽ 1, bản ảnh 210]

Đầu tiên về hướng Đông là một nền gạch rộng 5m x 7m, có đường móng gồm

3 lớp gạch và 4 trụ gạch nằm đối xứng qua trung tuyến, mỗi trụ cao 0,50m Tiếp sau con đường gạch về phía Tây là một con đường thẳng lát gạch dẫn đến đền thờ phụ (gopura) dài 21m, rộng 1,50m; móng của con đường này dày 4 lớp gạch, bên trên là

Trang 38

lớp đất sét pha cát dày 0,70m nối liền với lớp đất tự nhiên ở hai bên mà không có lớp vách ngăn; bên trên lớp đất sét pha cát là mặt đường lát gạch

Đền thờ phụ là một kiến trúc gạch, có diện tích rộng 4,80m x 5,70m hình gần vuông, bẻ góc nhiều lần, xây theo lối giật vào từ dưới lên, thành hình chóp tháp, có những đường gờ ở các cạnh và trong các cột giả Tường gạch còn lại cao 1,60m, gồm 20 lớp gạch xây từ dưới đáy lên

Từ đền thờ phụ, có hai bờ tường gạch còn cao 2,00m, dày 0,50m, chạy thẳng

về hai phía theo hai hướng Bắc và Nam; mỗi bên dài 30m ròi bẻ góc về hướng Tây dài 60m, tạo thành khuôn viên hình vuông, bao lấy toàn bộ kiến trúc đền thờ phụ và

cả đền thờ chính ở hướng Tây Mặt phía Đông của các bờ tường Nam - Bắc có các cột giả, cách quảng đều nhau Tại góc Tây của khuôn viên, nơi tiếp giáp giữa hai bờ gạch là một kiến trúc có bình diện vuông, diện tích 2,50m x 2,50m, càng lên cao càng giật vào trong, tạo nên những đường gờ song song như lượn sóng

Từ đền thờ phụ, đi về phía Tây khoảng 8m, có các kiến trúc phụ nhỏ kéo dài từ trung tuyến ra đến tường ngoài Tiếp về hướng Tây khoảng 10m là bậc tam cấp của một kiến trúc phụ khác, có mặt nền hình vuông chỉ còn nền móng Có thể xem kiến trúc này là một mandapa (có cột ngay lối vào đền chính, nó có thể là nơi duy nhất nằm ngay trục thẳng với hố thờ, hoặc là nơi đầu tiên trong số nhiều kiến trúc như thế trước đền thờ), nối liền với đền thờ chính ở phía Tây Bậc tam cấp dưới được lót bằng các vỉa gạch và phiến sa thạch màu tím, có kích thước 1,15m x 0,65m x 0,20m

Tiếp tục đi về phía Tây, tiếp giáp với sân trước của đền thờ chính, gồm nền gạch có diện tích 16m x 16m, và nhiều trụ gạch cao khoảng 1,00m, diện tích mặt khoảng 1,00m2 nằm đồi xứng qua đường đi vào đền Ngoài ra ở hai bên nền gạch còn có hai nền gạch nối dài đến phần trung tâm, tạo thành khuôn viên hành chữ nhật bao quanh kiến trúc phụ và cả sân đền

Ngay tại sân trước của đền chính có một tam cấp lát bằng gạch và một tấm sa thạch màu đỏ tím (1,27m x 0,50m x 0,18m) Đền chính là một kiến trúc bằng đá ong (laterite) chồng lên nhau thành hình vuông với nhiều lần bẻ góc, diện tích bề mặt

Trang 39

11,50m x 10,50m Các phiến đá ong có kích thước 0,25 m x 0,40m x 0,60m Phần phía Tây của đền thờ chính cao hơn, ở khoảng giữa có một chỗ được đục sâu vào rồi ốp gạch thành hình vuông, có vẻ như là một bệ thờ Tại đây còn phát hiện một

mi cửa bằng đá diệp thạch có lỗ mộng và các đường gờ nổi, nằm trên mặt đá ong, kích thước 2,00m x 0,67m x 0,33m

Nền móng của toàn bộ đền thờ chính là một nền cát mịn, dày khoảng 1,50m Trong quá trình khai quật không có thấy đá laterite và gạch vụn ở xung quanh hay ở trên phần di tích này, do vậy rất có thể đây là phần kiến trúc bên trên của đền thờ chính

Ở trung tâm của đền thờ chính là hố thờ có bình diện hình vuông, mỗi cạnh rộng 2,30m, sâu 3,00m Chung quanh hố thờ có một lớp gạch lát ngay trên mặt lớp

đá ong Sát vạch Bắc của hố thờ là một máng dẫn nước thiêng (somasutra) Nó gồm hai phiến diệp thạch tiếp nối nhau, đặt nằm ngang trên mặt lớp đá laterite, và cách

đó 1,00m, tại vách Bắc của đền thờ chính có một phiến diệp thạch (dài 1,3m , rộng 0,45m) nằm chếch từ mặt trên lớp laterite xuống đến gần móng kiến trúc, nghiêng

về phía Bắc khoảng 300, một phiến diệp thạch khác (dài 1,70m, rộng 0,44m) kê bên dưới, nối tiếp phiến trên, nghiêng khoảng 150, cả bốn phiến diệp thạch đều có rãnh chính giữa Tuy nằm cách quảng, nhưng các đường rãnh đều nằm trên một trục thẳng theo hướng Bắc – Nam

Hố thờ có bốn vách tường xây bằng gạch, tạo thành bình diện hình vuông 2,15m x 2,15m, sâu 3,00m Trong lòng hố lấp đầy các lớp gạch vỡ; đến độ sâu 2,00m trở xuống, có sét trắng, lẫn gạch vụn, kế tiếp là lớp sỏi lẫn gạch vụn; cuối cùng là lớp cát dày 0,40m tiếp giáp mặt đáy hố thờ Đáy hố là lớp sét trắng lẫn lộn những viên sỏi nhỏ, được nện chặt, tựa như nền gạch phẳng

Có thể nói tóm lại, kiến trúc Gò Đồn gồm có tháp cổng (Gopura) ở phía trước,

kế đến là điện thờ bò thần Nandin, đại sảnh nhiều cột (Mandapa), cổng lớn

(Ardharmandapa) ngay trước điện thờ chính và chính điện (Garbhagriha) Trong

đó điện thờ Nandin là nơi thờ bò thần Nandin con vật cưỡi của thần Shiva, hai bên điện thờ này thường có đặt những bức tượng voi, điều trùng hợp là ở Gò Đồn đã tìm

Trang 40

được một mảnh vòi voi bằng đá, không thấy phần đầu và thân tượng nên không thể xác định đây là tượng voi hay là tượng vị thần Ganesha; Ganesha là vị thần có đầu voi, là con của thần Shiva cũng thường được tìm thấy trong các đền thờ thần Shiva Trong lịch sử kiến trúc khu vực Nam Á và Đông Nam Á, loại hình kiến trúc

này có lẽ xuất hiện sớm nhất ở Ấn Độ trong cái mà các nhà nghiên cứu gọi là phong

cách kiến trúc Chalukya (thế kỷ VI đến thế kỷ VIII)

Từ thế kỷ thứ V, các ngôi đền bằng đá dạng phôi thay để cúng dường cho các thần Hindu giáo đã bắt đầu xuất hiện ở Bắc Ấn Độ và vùng Decan với những bằng chứng đã tìm được tại ngôi đền Dashavatara, được dâng cúng cho thần Vishnu, ngôi đền đầu tiên ở miền Bắc Ấn có phần tháp, mặc dù chưa hoàn chỉnh Kiến trúc có bình đồ phức tạp, kết hợp nhiều bộ phận như thế này trong Hindu giáo xuất hiện ở

Ấn Độ từ đầu thế kỷ thứ V – thời kỳ hậu Gupta với ngôi đền số 17 ở Sanchi Đó là một kiến trúc bằng đá đơn giản có bình đồ hình vuông, phía trước có một cánh cổng chịu lực bằng bộ cột trụ

Trong khi đó ở Nam Ấn, người Chalukya cũng cho xây dựng những ngôi đền được cho là sớm nhất trên cơ sở tiếp thu và cải tiến các kiến trúc chaitya (đại điện)

và vihara (tịnh xá) của Phật giáo cùng với những công trình cắt vào đá đồ sộ Đền Ladkhan (425-450) được xem là ngôi đền phong cách Chalukya cổ nhất với các đại

sảnh nhiều cột có mái che, gọi là mandapa (vốn nguyên thủy không có mái che),

cổng ra vào, điện thờ bên trong với máy nhà dốc 2 tầng và một tháp vuông – Shikhara – vốn được xây thêm vào, bên trong có bệ thờ linga – linh vật tiêu biểu của Shiva [15: 161 – 163].Những đặc trưng cơ bản của phong cách kiến trúc này cũng dần được hình thành, đó là đại sảnh nhiều cột và phần tháp vuông nhô lên cao

Đại sảnh nhiều cột mandapa“biểu thị trạng thái thứ nhì, hay tinh thể (Subtle body)

của hiện tượng dẫn xuất ba mặt (threeflod emanation) của chư thần”; bản thân số

lượng cột trong đại sảnh cũng là một sự thể hiện sự tôn kính của những người xây

dựng với ngôi đền và vị thần chủ “những hình thức huyền bí của tượng số học hay

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Đào Linh Côn, Lê Xuân Diệm (2010), Giá trị văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam bộ(qua tư liệu hiện có), đề tài khoa học cấp bộ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam bộ(qua tư liệu hiện có)
Tác giả: Đào Linh Côn, Lê Xuân Diệm
Năm: 2010
15. Roy C .Craven (2005), Mỹ thuật Ấn Độ, Nguyễn Tuấn, Huỳnh Ngọc Trảng dịch, Nxb. Mỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật Ấn Độ
Tác giả: Roy C. Craven
Nhà XB: Nxb. Mỹ Thuật
Năm: 2005
16. Nguy ễn Mạnh Cường (2001), Hộp xá lị trong lòng tháp Nhạn, Khảo cổ học, số 3 - 2001, tr. 43-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hộp xá lị trong lòng tháp Nhạn
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: Khảo cổ học
Năm: 2001
17. Trần Đức Cường( 2008), Vùng đất Nam Bộ thời kỳ vương quốc Phù Nam, Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam Kỷ yếu hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo (1944-2004), Nxb. Thế giới, tr. 323 - 327 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam Kỷ yếu hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 60 năm pháthiện văn hóa Óc Eo (1944-2004)
Nhà XB: Nxb. Thế giới
18. Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải (1995), Văn hóa Óc Eo những khám phá mới, Nxb. Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Óc Eo những khám phá mới
Tác giả: Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1995
19. Bùi Phát Diệm, Đào Linh Côn, Vương Thu Hồng (2001), Khảo cổ học Long An, những thế kỷ đầu công nguyên, Sở văn hóa Thông tin Long An, Bảo Tàng Long An, Long An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cổ học Long An, những thế kỷ đầu công nguyên
Tác giả: Bùi Phát Diệm, Đào Linh Côn, Vương Thu Hồng
Năm: 2001
20. Bùi Phát Diệm (2003), Di tích văn hóa Óc Eo ở Long An, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích văn hóa Óc Eo ở Long An
Tác giả: Bùi Phát Diệm
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ
Năm: 2003
21. Lê Xuân Diệm (2008), Ba mươi năm khám phá và nghiên cứu văn hóa Óc Eo,Một số vấn đề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 303 - 335 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba mươi năm khám phá và nghiên cứu văn hóa Óc Eo
Tác giả: Lê Xuân Diệm
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2008
22. Trần Anh Dũng, Bùi Văn Liêm, Nguyễn Đăng Cường (1994), Báo Cáo khai quật di chỉ Gò Cao Su, Tư liệu Bảo tàng Long An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Cáo khai quật di chỉ Gò Cao Su
Tác giả: Trần Anh Dũng, Bùi Văn Liêm, Nguyễn Đăng Cường
Nhà XB: Tư liệu Bảo tàng Long An
Năm: 1994
23. Nguy ễn Tiến Đông, Phạm Như Hồ (1995), Dấu tích kiến trúc cổ bằng gạch ở ấp Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng (Tây Ninh), Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1994, tr. 416-417 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1994
Tác giả: Nguyễn Tiến Đông, Phạm Như Hồ
Năm: 1995
24. Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định Thành thông chí, tập Trung, dịch giả Tu trai Nguy ễn Tạo, Nha Văn hóa Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định Thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Năm: 1972
25. HuỳnhThị Được (2005), Điêu khắc Chăm và Thần thoại Ấn Độ, Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điêu khắc Chăm và Thần thoại Ấn Độ
Tác giả: HuỳnhThị Được
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2005
27. Bùi Chí Hoàng (2008), Diện mạo khu di tích Cát Tiên qua tài liệu Khảo cổ học, Khảo cổ học, số 6 - 2008, tr. 47 – 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo khu di tích Cát Tiên qua tài liệu Khảo cổ học
Tác giả: Bùi Chí Hoàng
Nhà XB: Khảo cổ học
Năm: 2008
28. Phạm Như Hồ, Nguyễn Tiến Đông (1995), Khai quật khu phế tích tháp cổ dưới chân tháp Bình Thạnh (Tây Ninh), Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1994, tr. 414 – 416 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1994
Tác giả: Phạm Như Hồ, Nguyễn Tiến Đông
Năm: 1995
29. Phạm Như Hồ (1996), Tháp Bình Thạnh (Tây Ninh) trong bối cảnh tháp cổ Nam Bộ, Tạp chí Khảo cổ học số 4, tr. 67-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháp Bình Thạnh (Tây Ninh) trong bối cảnh tháp cổ Nam Bộ
Tác giả: Phạm Như Hồ
Nhà XB: Tạp chí Khảo cổ học
Năm: 1996
30. Vương Thu Hồng (1991), Niên đại C14 của 4 di tích khảo cổ học Gò Sao, Gò Sáu Huân, Bàu Công và Lập Điền (Đức Hòa, tỉnh Long An), Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1990, tr. 245-246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1990
Tác giả: Vương Thu Hồng
Năm: 1991
31. Vương Thu Hồng (1995), Báo cáo niên đại C14 của hai di chiếc cọc gỗ ở Bến Cây Xoài và Gò Bảy Liếp, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1994, tr. 431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1994
Tác giả: Vương Thu Hồng
Năm: 1995
32. Vương Thu Hồng, Đào Linh Côn (1996), Đề Tài “Đánh giá hiện trạng và hệ thống hóa các di tích khảo cổ học trên địa bàn tỉnh Long An”, Tư liệu Bảo tàng Long An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề Tài “Đánh giá hiện trạng và hệ thống hóa các di tích khảo cổ học trên địa bàn tỉnh Long An”
Tác giả: Vương Thu Hồng, Đào Linh Côn
Nhà XB: Tư liệu Bảo tàng Long An
Năm: 1996
33. Vương Thu Hồng (2005), Niên đại C14 một số di chỉ khảo cổ học ở tỉnh Long An, Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2004, Nxb. Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2004
Tác giả: Vương Thu Hồng
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2005
34. Vũ Văn Huyến (1995), Pho tượng Visnu mới phát hiện ở Bình Thạnh (Tây Ninh), Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1994, tr. 424 – 425 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1994
Tác giả: Vũ Văn Huyến
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN