1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những di tích khảo cổ học thời văn hóa óc eo hậu óc eo ở an giang

916 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 916
Dung lượng 8,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng ở cương vực đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Việt Nam, công cuộc điền dã – nghiên cứu của các học giả nước ngoài đã được biết đến với những khám phá về thời kỳ lịch sử gắn với tên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN



BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHCN CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA TRỌNG ĐIỂM

LÊ CÔNG TÂM, TS LÊ MINH VĨNH, Th.S LÊ THANH HÒA,

PHẠM THỊ NGỌC THẢO, ĐỖ NGỌC CHIẾN, NGUYỄN CÔNG CHUYÊN

(Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG-HCM);

NGUYỄN CHIỀU (Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Hà Nội);

Th.S NGUYỄN MAI HƯƠNG, NGUYỄN KIM THỦY (Viện Khảo cổ học); NGUYỄN KIÊN CHÍNH (Trung Tâm Kỹ thuật Hạt nhân Tp HCM);

Th.S VÕ TRUNG CHÁNH, Th.S ĐINH QUANG SANG

(Trường ĐHKH Tự nhiên – ĐHQG-HCM);

NGUYỄN VĂN ĐỊNH, TRẦN VĂN TƯƠI

(Liên Đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam);

TS PHAN NGỌC HÀ, TS NGUYỄN TRUNG MINH, CÙ SỸ THẮNG

(Viện Địa chất -Viện Khoa học & Công nghệ Quốc gia);

NGUYỄN MINH SANG, NGUYỄN NGỌC VÂN (Bảo tàng tỉnh An Giang)

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 2008

Trang 2

NHỮNG DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC

THỜI VĂN HÓA ÓC EO – HẬU ÓC EO

Ở AN GIANG 

Trang 3

(CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH)

“ĐỒNG BÀO NAM BỘ LÀ DÂN NƯỚC VIỆT NAM

SÔNG CÓ THỂ CẠN, NÚI CÓ THỂ MÒN, SONG CHÂN LÝ ĐÓ KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI”



Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT AN GIANG – NỀN CẢNH

PHẦN THỨ HAI GIẢN SỬ VỀ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM &

LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VẬT THỂ TRÊN ĐẤT AN GIANG 57

II.1 Quần thể cổ tích thời Cổ sử trên cánh đồng Óc Eo (huyện Thoại Sơn) 86

II.2 Quần thể cổ tích thời Cổ sử ở vùng núi Ba Thê (huyện Thoại Sơn) 132

II.3 Quần thể cổ tích thời Cổ sử ở miệt vùng ven Óc Eo – Ba Thê 163

II.4 Quần thể cổ tích thời Cổ sử ở miệt vùng Núi Sam, Thất Sơn & phụ cận 170

B1 Quần thể di tích ở các ngọn núi Tịnh Biên – Nhà Bàn (phía bắc) 176

B2 Quần thể di tích ở các khối núi Tap Campa & Phnom Babat (giữa) 178

PHẦN THỨ TƯ SƯU TẬP DI VẬT VĂN HÓA TIÊU BIỂU

I.2 Di vật văn hóa thời Tiền sử – Sơ sử sưu tầm-thám sát & khai quật

B Đồ dùng sinh hoạt vật chất, vật liệu xây dựng & di tồn hữu cơ 248

C Đồ dùng giao dịch thông thương & sinh hoạt tinh thần

Trang 5

PHẦN THỨ NĂM DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HÓA CƠ BẢN Ở AN GIANG

TRONG NỀN CẢNH NAM BỘ (VIỆT NAM) & RỘNG HƠN 456

PHẦN THỨ SÁU XÃ HỘI THỜI TIỀN SỬ & CỔ SỬ Ở AN GIANG & NAM

BỘ

Chương I Di sản văn hóa vật thể “Tiền Óc Eo” ở An Giang và Nam Bộ

A Phức hệ di tích văn hóa “Tiền Óc Eo” – diễn trình nhận thức

B Phức hệ di tích văn hóa “Tiền Óc Eo” ở An Giang & Nam Bộ

Chương II Đời sống xã hội Cổ sử thời văn hóa Óc Eo – Hậu Óc Eo

F “Nam Bộ – Đất & Người” thời Văn hóa Óc Eo & Văn minh Phù Nam 546



Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU



NAM BỘ – Vùng lãnh thổ rộng lớn và trù phú ngày nay, về cơ bản, bao gồm địa

phận 20 tỉnh – thành ở tận cùng phía nam của nước CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ

NGHĨA VIỆT NAM, với diện tích đất tự nhiên chiếm khoảng 70.970,5km² (chiếm gần

21,6% tổng diện tích cả nước) và dân số (1/4/1999) có 28.000.600 người (chiếm gần 35,6% tổng dân số cả nước) Từ thế kỷ XIX, vùng đất Nam Bộ (Việt Nam) đã được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau tiến hành điều tra và nghiên cứu Trong các khoa học xã hội và nhân văn, những hoạt động dân tộc học – nhân học đã thu được nhiều tư liệu về cuộc sống của những dân tộc khác nhau trong vùng; những hoạt động mang tính chất khảo cổ học cũng có các cống hiến nhất định khi ghi nhận sự có mặt của con người từ thời nguyên thủy đến những thế kỷ trước và sau Công Lịch

Riêng ở cương vực đồng bằng châu thổ sông Cửu Long (Việt Nam), công cuộc điền dã – nghiên cứu của các học giả nước ngoài đã được biết đến với những khám

phá về thời kỳ lịch sử gắn với tên gọi “Nền Văn hóa Óc Eo” danh giá không chỉ ở

trong nước mà còn ở tầm khu vực Đông Nam Á, với những sản phẩm vật chất có quan

hệ hữu cơ với nền Văn minh rực sáng trên phần đất Việt Nam ngày nay – một Quốc

gia cổ mà các sử gia Trung Hoa xưa vẫn phiên âm là : “Phù Nam”, “Phu Nam”,

“Bạt Nam”; theo tiếng cổ của quốc gia này vẫn ghi là “B’tu Nam”; “Bnam”, Bnum”, “Vnun” ngày nay là “Phnom” (nghĩa là “núi” hoặc “đồi” – “sơn nhạc”

hoặc “thánh sơn”), tồn tại trên vùng châu thổ Mékong khoảng đầu Công nguyên và

suy vong sau thời Trinh Quán nhà Đường (627-649)

Đối với tỉnh An Giang nói riêng, những cổ vật văn hóa Óc Eo đầu tiên được biết đến trên núi Ba Thê từ trước cả thời Linh Sơn Tự tạo dựng ở đây, do bác sĩ Pháp A.Corre phát hiện và sau đó được học giả L.Malleret phúc tra, tìm kiếm, khai quật lớn trên cả quần thể này và toàn miền Tây Sông Hậu Toàn bộ thành quả nghiên cứu ở đây cùng với hàng trăm di chỉ khác trên khắp đất Nam Bộ đã được L.Malleret công bố

trong 4 tập: “L’Archéologie du delta du Mékong” từ 1959 đến 1963 – tổng tập đại

thành về tri thức Khảo cổ học thời cổ đại ở An Giang nói riêng và cả đồng bằng châu

Những kết quả nghiên cứu về nền văn hóa Óc Eo và về vương quốc Phù Nam của các học giả nước ngoài đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Đương nhiên,

từ sau công cuộc nghiên cứu – điền dã của L.Malleret cho đến trước năm 1975, việc

khảo cứu văn hóa vật chất thời kỳ văn hóa Óc Eo – “hậu Óc Eo” ở Nam Bộ vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt vắng bóng hẳn các chương trình điền dã hệ thống “bài bản”

hơn L.Malleret và nghiên cứu tổng hợp quá trình phát sinh và phát triển văn hóa Óc

Eo ở toàn vùng này và với riêng khu vực tỉnh An Giang cũng không là ngoại lệ Tình hình đó hoàn toàn giống như chính giới khoa học nước ngoài ghi nhận về công cuộc

nghiên cứu thời kỳ tiền sử – sơ sử nơi đây: “Các cuộc khai quật ở những di chỉ vùng

châu thổ sông Mékong có thể đem lại kết quả hết sức thú vị; còn giờ đây chỉ có thể

khẳng định được rằng chúng ta còn biết rất ít về sự phát triển của các thời đại đá mới và kim khí ở một trong những vùng đất phì nhiêu nhất Đông Nam Á” [27]

Từ sau năm 1975 đến nay (2008), các nhà khảo cổ học Việt Nam thuộc nhiều cơ quan nghiên cứu chuyên môn (Viện Khảo cổ học, Viện Phát triển bền vững vùng Nam

Trang 7

Bộ, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, các Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Tp HCM và các bảo tàng Nam Bộ) khởi sự khá nhiều chương trình điền dã – nghiên cứu lịch sử văn hóa vật chất vùng đất Nam

Bộ và thu về không ít thành tựu mới Nhiều khám phá khảo cổ học đã minh định vùng đất này cũng chính là cương vực ghi nhận sự có mặt của người nguyên thủy từ thời sơ

kỳ Đá cũ, liên tục cư trú và lao động sáng tạo văn hóa từ hơn 2000 năm trước Công Nguyên, chứng nhận sự quần cư của người bản địa và tập trung hàng trăm di tích văn hóa của họ, với hàng triệu di vật khảo cổ học thuộc nhiều thời kỳ lịch sử; trong đó có các di tích tiền sử – sơ sử và cổ sử nổi tiếng Việt Nam và Đông Nam Á

Với riêng nền văn hóa Óc Eo, nhiều phát hiện mới đã mở rộng hiểu biết của

chúng ta về các dấu tích “kiểu Óc Eo” ở khắp Nam Bộ và có thể cả ở miền nam Tây

Nguyên rộng lớn Và, năm 1984, chính trên mảnh đất An Giang – Thành phố Long Xuyên nay đã được chọn làm nơi tổ chức Hội nghị khoa học toàn quốc đầu tiên về

“Văn hóa Óc Eo & các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long” và, cùng với Kỷ yếu cùng tên xuất bản liền sau đó, các công bố tiếp theo: “Văn hóa Óc Eo, những khám

phá mới” (1995) [385]; “Một số vấn đề Khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam”

(1997-2008); chương trình nghiên cứu “Khảo cổ học Nam Bộ” và “Khảo cổ học Lịch sử Việt

Nam” (1992-2002); “Art & Archaeology of Fu Nan” (2003) [313] và “Nghệ thuật Phật giáo & Hindu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X” (2006) [358]; “Vương

quốc Phù Nam, lịch sử và văn hóa” (2005) [410] và “Nước Phù Nam” (2006) [412 ]

.v.v… ; với không ít di chỉ được khám phá và nghiên cứu qua vài thế hệ học giả Việt Nam và nước ngoài nằm chính trong địa bàn tỉnh An Giang ngày nay – Óc Eo, Ba Thê, Gò Cây Thị, Giồng Đá, Gò Tư Trâm, Đá Nổi v.v…; đã cung ứng không ít tư

liệu vật chất hiếm quý – những “chứng tích không lời” nhưng căn bản phục vụ các

công cuộc nghiên cứu phục nguyên diện mạo và quá trình lịch sử văn hóa vật chất –

tinh thần của nền văn minh và quốc gia cổ có bề dầy phát triển lịch sử ít nhất 7 thế kỷ

sau Công nguyên chủ yếu ở miền châu thổ và đồng bằng duyên hải trên lãnh thổ Nam

Bộ ở Việt Nam ngày nay

Đương nhiên, dù đạt được khá nhiều kết quả rất đáng khích lệ, các công trình điền dã và nghiên cứu văn hóa Óc Eo của chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế Ví như, các

di chỉ cư trú khám phá và khai quật chưa nhiều; không ít phế tích kiến trúc cổ còn đang thảo luận ở chính chức năng căn bản của chúng trong quá vãng (điện thờ hay mộ táng); các nhân cốt tìm thấy và loại hình nhân chủng chủ đạo; có hay không tồn tại mộ đất truyền thống Nam Bộ thời Tiền sử – Sơ sử trong nhiều trầm tích Cổ sử; sự hiện diện đồ đá cổ truyền trong lòng hay bên ngoài văn hóa Óc Eo v.v…Về căn bản, Bản

đồ Khảo cổ học đồng bằng châu thổ sông Cửu Long nói chung và của tỉnh An Giang nói riêng vẫn còn nhiều vùng trắng, chưa có sự định giá đúng mức các phát hiện đã có

từ thời L.Malleret và cũng có thêm thật nhiều khám phá mới v.v… Lòng đất toàn miền và lịch sử hình thành các cộng đồng tộc người bản địa xa xưa còn tồn trữ nhiều chứng tích và còn đầy bí ẩn, vẫn tiếp tục chờ chúng ta khai đào, đưa ra ánh sáng khoa học mới và chờ giải mã thấu đáo hơn

Triển khai đề tài điền dã cơ bản và nghiên cứu tổng hợp văn hóa Óc Eo – hậu Óc

Eo ở An Giang chính là yêu cầu khoa học lớn nhằm tiếp tục nhận biết đầy đủ và chính

xác hơn về một “Vùng văn hóa” (Cultural Province) cụ thể, góp thêm cứ liệu cho

công cuộc nhận thức chung sâu sắc và toàn diện hơn bộ mặt văn hóa lịch sử xã hội của các cộng đồng người bản địa tạo hình văn hóa Cổ sử Óc Eo và Văn minh Phù Nam in

Trang 8

dấu trong thư tịch cổ ở Nam Bộ – địa bàn có vị trí quan trọng trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học xã hội & nhân văn của đất nước ta và của cả khu vực Nam Đông Dương

và Đông Nam Á

A MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài trọng điểm Đại học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh 2006 – 2008: “NHỮNG

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC THỜI VĂN HÓA ÓC EO – HẬU ÓC EO Ở AN GIANG” thuộc chương trình KH&CN: “KHÔNG GIAN VĂN HÓA ÓC EO”

(trường hợp huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) bước đầu thực hiện 3 mục tiêu:

1 Hệ thống toàn bộ tư liệu hiện biết về văn hóa Oc Eo–hậu Oc Eo trên đất An Giang

2 Xây dựng hệ thống bản đồ điện tử và số hóa dữ liệu căn bản về các di tích – di vật quan trọng thuộc văn hóa Oc Eo – hậu Oc Eo trên đất An Giang (Việt Nam)

3 Xây dựng các chương trình nghiên cứu điền dã, khai quật với toàn bộ dữ kiện phục vụ cho việc xây dựng các sưu tập nghiên cứu hiện vật mảnh cho Bảo tàng Lịch

sử văn hóa Nam Bộ của Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh (ĐHKHXH&NV-ĐHQGTPHCM) Trên cơ sở những dữ kiện này, tiến hành xây dựng các đề tài nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp cho sinh viên, luận văn cho học viên cao học và nghiên cứu sinh của Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGTPHCM

B TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài các yêu cầu khoa học đang chờ gỡ mối đã trình bày trên, chúng tôi đề xuất

đề tài này ứng đáp các yêu cầu chung mang tính thời sự cập nhật Như chúng ta cũng

đã biết, trong những thập kỷ gần đây, do những đòi hỏi ngày càng lớn của công cuộc xây dựng đất nước (công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển các khu chế xuất và các

đô thị mới, các chương trình khai thác đá xây dựng, quy hoạch đất đai phát triển các vùng trồng cây công nghiệp, các công trình thủy lợi, xây dựng mạng lưới giao thông

thủy – bộ và đê bao, các kế hoạch kiến thiết mở mang các vùng “kinh tế mới” , các

“hồ chứa nước”, các khu nuôi cá bè và vuông tôm đại trà v.v…), đã và đang làm thay

đổi bộ mặt tự nhiên (môi trường, môi sinh, cảnh quan) và xã hội toàn vùng Nam Bộ Các hoạt động xây dựng kiến thiết mới này đã làm phát lộ nhiều di tích văn hóa khảo

cổ hiếm quý và cũng đã có không ít di tồn cổ nhân bị hủy hoại hoặc “chảy máu cổ

vật” ở nhiều nơi Việc thực hiện đề tài cũng nhằm mục đích chủ động nắm biết trước

hiện trạng các di tích khảo cổ học phân bố trong từng vùng, kịp thời kiến nghị các cấp lãnh đạo bộ – ngành và các cơ quan hữu quan về giá trị và tiềm năng điền dã – nghiên cứu di sản văn hóa quý ở từng địa bàn; xây dựng các kế hoạch xử lý hoặc bảo vệ kịp thời, tiến tới xây dựng chương trình nghiên cứu chiến lược dài hơi hơn kết hợp với quy hoạch tổng thể xây dựng các khu dự trữ sinh quyển và thắng cảnh – lịch sử văn hóa và nhân văn – nghệ thuật & tín ngưỡng trong toàn vùng

Cũng trong ba thập kỷ gần đây, giới khoa học Quốc tế khai triển khá rầm rộ nhiều chương trình điền dã và nghiên cứu Khoa học xã hội và nhân văn ở khu vực sông Mékong nói chung và khu vực Nam Đông Dương nói riêng Riêng về khảo cổ học Tiền sử – Sơ sử và Cổ sử, các học giả Mỹ, Úc, Pháp, Anh, Úc, New Zeland, Ý, Nhật, Đức, Đan Mạch v.v… đã có nhiều cuộc khai quật lớn trên cao nguyên Khòrạt,

ở miền Nam Lào, ở toàn bộ Campuchia từ Angkor đến Kôngpông Chàm sát biên giới

Trang 9

Việt Nam; đã đưa đến những phát hiện “chấn động” giới khoa học Quốc tế (như các

khám phá về nông nghiệp và luyện kim sớm ở Thái Lan, các phát hiện mới về cái gọi

là “Royal Road from Angkor to Phimai” v.v…) Ở Campuchia, Khoa Khảo cổ học

mới được thiết lập tại Đại học Hoàng Gia Phnom Penh cũng cộng tác với nhiều học

giả Đức, Nhật, Mỹ tiến hành nhiều cuộc đào và nghiên cứu trên thực địa hay cả “ảnh

vệ tinh” các di tích thành đất đắp hình tròn và quần thể di sản văn hóa Thế giới

Angkor và tổ chức một số hội thảo Quốc tế chuyên đề – liên ngành ở Phnom Penh và

Những kết quả điền dã – nghiên cứu mới về văn hóa Tiền sử – Cổ sử khu vực

“Các nước tiểu vùng sông Mékong” và miền nam Đông Dương rất đáng được chúng ta quan tâm và thúc giục chúng ta cần kíp thực thi các đề tài “Điền dã cơ bản và nghiên

cứu tổng hợp văn hóa Tiền sử – Sơ sử – Lịch sử ở Nam Bộ (Việt Nam)” nói chung;

đặng có nguồn liệu khảo xét cả trung tâm văn hóa – kỹ thuật – nghệ thuật bản địa đặc

sắc này như MỘT HIỆN TƯỢNG LỊCH SỬ “VĂN HÓA ÓC EO – HẬU ÓC EO”

trên các phân vùng cơ bản nhất: trên độ cao từ 20m đến miền chân núi thấp, đồng

bằng châu thổ miền hạ lưu và vùng ven những đầm lầy “Tứ Giác Long Xuyên” trong

lãnh thổ Nam Bộ của đất nước Việt Nam ngày nay

Hiện nay, một trong những vấn đề cấp bách hàng đầu của Khảo cổ học Việt Nam

ở Nam Bộ liên quan đến công tác đào tạo – tái đào tạo năng lực điền dã và nghiên cứu chuyên ngành cho bộ môn Khảo cổ học duy nhất ở miền Nam Đội ngũ chuyên gia

hiện có ở Nam Bộ vừa yếu, vừa thiếu, không có điều kiện để “đổi mới” trong công tác

dạy và học, điền dã và nghiên cứu – hướng dẫn sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh của chính chuyên ngành này, đang đối diện với nguy cơ tụt hậu không chỉ so với trình độ khu vực và thế giới, mà ngay cả so với lực lượng cán bộ khảo cổ học phía bắc đất nước

Trước tình hình này, thật cần sự đầu tư của Nhà nước cho các đề tài lớn, không chỉ để giải quyết các yêu cầu cụ thể của công cuộc nghiên cứu lịch sử văn hóa bản địa, xây dựng bản đồ khảo cổ học của khu vực An Giang nói riêng và Nam Bộ nói chung, ứng đáp hữu hiệu các chương trình mở mang kinh tế, phát triển đô thị, giao thông và

của hoạt động du lịch văn hóa sinh thái trong vùng; mà còn góp phần trang bị “di vật

gốc” cho trưng bày các Bảo tàng ở Nam Bộ và nâng cao năng lực Bảo tàng Lịch sử –

Văn hóa, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM; góp phần xây dựng đội ngũ cán

bộ giảng dạy và nghiên cứu ở trình độ đại học và sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) trẻ yêu nghề và đủ tài kế cận xứng đáng cha anh trong công cuộc nghiên cứu Khảo cổ học và Lịch sử Dân tộc trong thế kỷ XXI

C NỘI DUNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Điền dã cơ bản: với thời gian bắt đầu từ năm 2006 đến cuối năm 2008 (theo

Quyết định của Giám đốc ĐHQG TP.HCM số 990/QĐ-ĐHQG-HCM/KHCN ngày 02 tháng 11 năm 2005)), chúng tôi tiến hành điền dã 03 đợt, tập trung vào những vùng đất quanh các dòng chảy lớn của An Giang, những khu vực gò, giồng nổi, những vùng viền chân núi thấp Mỗi địa điểm phát hiện trên các lộ trình điều tra được xác định vị trí, tình trạng, quy mô, loại hình, đặc điểm; ghi nhận các dữ kiện khoa học liên quan đến cảnh quan môi trường sinh thái, xây dựng hệ sưu tập hồ sơ khoa học thống nhất theo từng khu vực địa hình, lấy dữ liệu xây dựng bản đồ khảo cổ học điện tử vùng Nam Bộ (phần An Giang)

Trang 10

Các địa điểm được chọn lựa khai đào sau điều tra cơ bản được ưu tiên là di tích khảo cổ học Gò Tư Trâm (huyện Thoại Sơn) nhằm khảo cứu thêm về địa tầng cư trú điển hình thời văn hóa Óc Eo qua tài liệu gốm và di tích khảo cổ học Gò Cây Tung (huyện Tịnh Biên) nhằm khảo cứu rõ hơn về địa tầng để đánh giá các yếu tố vẫn được

các nhà khai quật trước đó gọi là “Tiền Óc Eo” – “Óc Eo” và “Hậu Óc Eo” và cả các

di tồn nhân cốt rất hiếm quý ở đây vẫn được các nhà khoa học xem là “cùng thời hoặc

muộn hơn di tích kiến trúc” ở đây

Nghiên cứu cơ bản và tổng hợp: Chúng tôi tổ chức hệ thống toàn bộ tư liệu

khảo cổ học hiện biết về di tồn văn hóa cổ ở An Giang, chú trọng các tài liệu đã được công bố ở trong và ngoài nước về văn hóa Óc Eo – hậu Óc Eo và các nguồn liệu

Internet về văn hóa Óc Eo và về “Vương quốc Phù Nam” nói chung Chúng tôi tiến

hành lấy các mẫu vật quan trọng từ trong địa tầng các hố đào để xét nghiệm nhằm thu thập thông tin khách quan cho việc nghiên cứu đánh giá giá trị di sản văn hóa ở những

“di tích chuẩn” (Key Sites) nêu trên

Các mẫu vật đá – gốm được phân tích thành phần thạch học và thành phần hóa học tại Khoa Địa Chất Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG Tp.HCM và tại Viện Địa chất – Viện Khoa học & Công nghệ Quốc gia ở Hà Nội Các mẫu đất được phân tích bào tử phấn hoa và các mẫu răng người Gò Cây Tung được phân tích tại Viện Khảo cổ học – Viện Khoa học Xã hội Quốc gia ở Hà Nội Các mẫu than tro được phân tích C14 tại Trung tâm Kỹ thuật Hạt nhân Tp HCM Để phục vụ cho công tác xây dựng công trình số và bản đồ khảo cổ học điện tử, chúng tôi tiến hành sử dụng dữ liệu viễn thám và sử dụng GPS định vị các di tích khảo cổ học cần nghiên cứu, lập cơ

sở dữ liệu khảo cổ học trên MapInfor; mua bản quyền các phần mềm tương thích tại Trung Tâm GIS – Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM

Các phương pháp nghiên cứu tiếp cận chuyên ngành và liên ngành được chú trọng trong các tiến trình xây dựng kế hoạch nghiên cứu cơ bản và chi tiết, thu thập,

xử lý, giải thích thông tin khảo cổ học trên hiện trường thực địa và trong phòng, các phương pháp định tính và định lượng trong phân tích thống kê, phương pháp chọn tiêu điểm khai đào và ứng dụng nghiên cứu liên ngành với các khoa học xã hội – nhân văn (Sử học, Dân tộc học, Nhân học, Văn hóa học, Việt Nam học, nghiên cứu tôn giáo và nghệ thuật v.v…); ứng dụng các khoa học tự nhiên – kỹ thuật – công nghệ trong phân tích giám định mẫu vật khảo cổ học (Phân tích các tư liệu địa chất – địa lý học; Phân tích 26 mẫu thạch học ở An Giang, 1 mẫu ở Kiên Giang, 6 mẫu ở Bến Tre và 14 mẫu

khảo cổ học Lịch sử để đối chiếu; phân tích 8 mẫu đồng thời “Tiền Oc Eo” ở Nam Bộ

và 2 mẫu kim loại ở di tích Gò Cây Tung (An Giang); phân tích thành phần hóa học

20 mẫu gốm bằng phương pháp hóa – quang phổ định lượng và bán định lượng; phân tích 20 mẫu đất ở di tích Gò Cây Tung (Tịnh Biên) và Gò Tư Trâm (Thoại Sơn) để giám định bào tử phấn hoa; phân tích 2 mẫu than tro ở di tích Gò Cây Tung để giám định tuổi tuyệt đối C14; các phương pháp ứng dụng tin học trong khảo cổ học v.v…); các phương pháp hội thảo và lấy ý kiến chuyên gia, phân tích và tổng kết kinh nghiệm, cùng các cố gắng phân tích cổ vật – cổ tích trên quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật Lịch sử - Chủ nghĩa Duy vật biện chứng nhằm tổng hợp và lý giải nguồn liệu lịch sử văn hóa vật thể – phi vật thể thời kỳ văn hóa Óc Eo – hậu Óc Eo ở Nam Bộ nói chung hữu ích cho việc xây dựng công trình bản thảo hệ thống thông tin đầy đủ nhất

về lịch sử sáng tạo văn hóa – văn minh của người An Giang từ nguyên thủy vào văn

Trang 11

minh cổ đại chính “Trên mảnh đất này” – địa bàn có vị trị tiền tiêu quan trọng của đất

nước thống nhất hôm nay và ngày mai

C CÁN BỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI & KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH

Các cán bộ chủ chốt thực hiện đề tài này bao gồm:

1 PHẠM ĐỨC MẠNH, PGS.TS, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa,

Trưởng Bộ môn Bảo tàng học & Di sản Văn hóa, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM, Chủ nhiệm đề tài, phụ trách công trình chung

2 LÊ CÔNG TÂM, Giảng viên Khảo cổ học, Trường ĐHKHXH&NV –

ĐHQG Tp.HCM, Thư ký đề tài, phụ trách xây dựng Bản đồ Khảo cổ học điện tử và số hóa công trình

3 LÊ MINH VĨNH, TS Phó Trưởng Khoa Địa lý, Giám đốc Trung tâm

GIS – Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM, Thành viên đề tài, trực tiếp tham gia xây dựng Bản đồ Khảo cổ học điện tử và số hóa công trình

4 LÊ THANH HÒA, Th.S Cán bộ Trung tâm GIS – Trường

ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM, Thành viên đề tài, trực tiếp tham gia công tác xây dựng Bản đồ Khảo cổ học điện tử và số hóa công trình

5 PHẠM THỊ NGỌC THẢO, Giảng viên Khảo cổ học, Cán bộ Bảo tàng

Lịch sử – Văn hóa, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM, Thư ký đề tài, phụ trách công tác thủ quỹ và công trình sưu tầm tư liệu tại các thư viện và trên mạng Internet liên hệ đến đề tài

6 ĐỖ NGỌC CHIẾN, Giảng viên Khảo cổ học, Cán bộ Bảo tàng Lịch sử

– Văn hóa, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM, Thành viên đề tài, trực tiếp tham gia các đợt điền dã khảo cổ học ở An Giang (điều tra – khai đào) và chỉnh lý báo cáo về di tích Gò Cây Tung (Tịnh Biên – An Giang)

7 NGUYỄN CÔNG CHUYÊN, Trợ lý giảng viên Khảo cổ học, Cán bộ

Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM, Thành viên

đề tài, trực tiếp tham gia các đợt điền dã khảo cổ học ở An Giang (điều tra – khai đào)

và chỉnh lý báo cáo về di tích Gò Tư Trâm (Thoại Sơn – An Giang)

Cán bộ thuộc các cơ quan khác phối hợp thực hiện đề tài này bao gồm:

1 NGUYỄN CHIỀU, Giảng viên Khảo cổ học, Trường ĐHKHXH&NV –

ĐHQG Hà Nội, tham gia điền dã và nghiên cứu khảo cổ học ở An Giang

2 NGUYỄN MAI HƯƠNG, Thạc sĩ Khảo cổ học, cán bộ Phòng Nghiên

cứu con người & môi trường,Viện Khảo cổ học, tham gia nghiên cứu và giám định bảo tử phấn hoa di tích Gò Cây Tung và Gò Tư Trâm (An Giang)

3 NGUYỄN KIM THỦY, Trưởng Phòng Nghiên cứu con người & môi

trường, Viện Khảo cổ học, tham gia nghiên cứu và giám định mẫu răng người ở di tích Gò Cây Tung

4 NGUYỄN KIÊN CHÍNH, Trưởng Phòng xét nghiệm C14, Trung Tâm

Kỹ thuật Hạt nhân Tp HCM, tham gia nghiên cứu, giám định mẫu than tro di tích Gò Cây Tung

5 VÕ TRUNG CHÁNH, Thạc sĩ, Giảng viên chính – Trưởng Bộ môn

Khoáng thạch, Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG Tp HCM, tham gia giám định và nghiên cứu thành phần thạch học các mẫu vật đá ở di tích Gò Cây Tung (An Giang)

Trang 12

6 ĐINH QUANG SANG, Thạc sĩ, Giảng viên Bộ môn Khoáng thạch, Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG Tp HCM, tham gia giám định và nghiên cứu thành phần thạch học các mẫu vật đá ở di tích Gò Cây Tung (An Giang)

7 NGUYỄN VĂN ĐỊNH, Giám đốc Trung tâm phân tích thí nghiệm,

Liên Đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam, tham gia giám định và nghiên cứu thành phần thạch học các mẫu vật đá ở di tích Gò Cây Tung (An Giang)

8 TRẦN VĂN TƯƠI, Tổ Trưởng, Trung tâm phân tích thí nghiệm, Liên

Đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam, tham gia giám định và nghiên cứu thành phần thạch

học các mẫu vật đá ở di tích Gò Cây Tung (An Giang)

9 LÊ THỊ HIỆP, Kỹ sư, Trung tâm phân tích thí nghiệm, Liên Đoàn Bản

đồ Địa chất Miền Nam, tham gia giám định quang phổ và nghiên cứu thành phần chất liệu các mẫu vật gốm ở di tích Gò Cây Tung (An Giang)

10 PHAN NGỌC HÀ, Tiến sĩ, Trưởng Phòng Hóa – Quang phổ, Viện Địa

chất (Viện Khoa học & Công nghệ Quốc gia) tại Hà Nội, tham gia giám định và nghiên cứu thành phần hóa học các mẫu vật kim loại và mẫu gốm ở di tích Gò Cây Tung (An Giang)

tham gia điền dã khảo cổ học ở An Giang

12 NGUYỄN NGỌC VÂN, Trưởng Phòng nghiên cứu sưu tầm, Bảo tàng

tỉnh An Giang, tham gia điền dã khảo cổ học ở An Giang

Khảo cổ học liên quan đến di sản văn hóa Tiền sử – Cổ sử ở An Giang Các hệ thống

tư liệu này, cùng bộ thư mục tham khảo, các websites, bảng thống kê, hình ảnh, giải thích thuật ngữ v.v… không chỉ nhằm phục vụ cho đề tài mà còn có sự đóng góp tích cực cho việc dạy và học các chuyên đề hữu quan, cho các công trình nghiên cứu sâu hơn về sau

sử ở An Giang Cung cấp thêm các cổ vật khai đào và khảo sát mới ở An Giang và các tài liệu nghiên cứu – giám định mới; đề xuất một số kiến giải của riêng tác giả về truyền thống văn hóa Tiền sử – Cổ sử bản địa ở An Giang nói riêng và Nam Bộ nói chung

nộp Bảo tàng tỉnh An Giang theo Luật Di sản Văn hóa (Gò Cây Tung, Gò Đề Ma – huyện Tịnh Biên, Gò Tư Trâm – huyện Thoại Sơn) Các sưu tập mảnh gốm phục vụ cho công tác trưng bày và nghiên cứu sâu hơn tại Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM (Gò Cây Tung – huyện Tịnh Biên và Gò Tư Trâm – huyện Thoại Sơn) Các báo cáo chung, báo cáo sơ bộ, báo cáo khai quật, báo cáo điều tra các đợt ở An Giang đã trình nộp cho Bảo tàng tỉnh An Giang và lưu tại Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM, cùng các thư mục và tài liệu tham khảo chung về văn hóa Óc Eo và về vương quốc Phù Nam

tàng An Giang và Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM và trên cơ sở các dữ kiện thu được, chúng tôi đã mở rộng việc xây dựng tiếp

Trang 13

hệ đề tài nghiên cứu khoa học cho sinh viên chuyên ngành, học viên cao học; góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu ở trình độ Đại học và sau Đại học của Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM, cùng các Bộ môn chuyên ngành như: Bộ môn Khảo cổ học và Bộ môn Bảo tàng học

& Di sản Văn hóa - Khoa Lịch sử, Bộ môn Văn hóa học thuộc Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM

Các cán bộ giảng viên, nghiên cứu viên, bảo tàng viên, sinh viên và học viên cao học được đào tạo nâng cao trình độ hoặc thụ hưởng trực tiếp từ thành quả nghiên cứu

và nguồn liệu của đề tài này có thể ghi nhận qua các công trình – chuyên khảo – luận văn – khóa luận đã và chưa công bố sau:

a Ngô Văn Lệ – Phạm Đức Mạnh, 2006 Họa phẩm tộc người trước thế kỷ 17

trên mảnh đất Nam Bộ (Việt Nam) – Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ –

KHXH&NV ĐHQG-HCM, số 9: 5-20

b Phạm Đức Mạnh, 2006 Phức hệ văn hóa Việt và các cộng đồng trong “Đại

Gia đình các dân tộc Việt Nam” vùng đồng bằng sông Cửu Long, định hướng nghiên cứu và khai thác giá trị nhân văn căn bản – Nam Bộ Đất & Người, NXB Trẻ, Tp

HCM, IV: 160-176

c Phạm Đức Mạnh – Đỗ Ngọc Chiến, 2006 Những di tích – di vật thuộc truyền

thống văn hóa Oc Eo ghi nhận ở An Giang – ĐBSCL: thực trạng và giải pháp để trở

thành vùng trọng điểm phát triển kinh tế giai đoạn 2006-2010, NXBĐHQGTPHCM, 2006: 91-95

d Phạm Đức Mạnh, 2006 Những trầm tích văn hóa chứa cổ vật đá thời Tiền sử –

Sơ sử ở Đồng bằng sông Cửu Long – Tập san “KHXH&NV” Trường

ĐHKHXH&NV-ĐHQGTPHCM, số 36, 9/2006: 14-26

e Phạm Đức Mạnh, 2006 The Pre- and Proto-Historic Cultural Artifact

Collections of the Southeastern Vietnam in the Context of the Asian Mainland during the 2 nd – 1 st Millenium BC – Southeast Asian Cultural Values: Exchange and

Cooperation Royan Academy of Cambodia, Siem Reap-Angkor: 122-136

f Phạm Đức Mạnh, 2007 Những trầm tích văn hóa chứa cổ vật đá thời Tiền sử –

Sơ sử ở Đồng bằng sông Cửu Long – Nam Bộ, Đất & Người NXB Trẻ, Tp.HCM, V:

5-26

g Phạm Đức Mạnh, 2007 Bảo tàng Trường ĐHKHXH&NV (ĐHQGTPHCM), từ

ý tưởng đến hiện thực – Tập san “KHXH&NV” Trường

ĐHKHXH&NV-ĐHQGTPHCM, số 39, 6/2007: 13-18

h Phạm Đức Mạnh, 2007 Khảo cổ học Việt Nam, vận hội & thành tựu sau 20

năm đổi mới – Những vấn đề KHXH&NV (chuyên đề Lịch sử), NXB

ĐHQGTPHCM, 259-271

i Phạm Đức Mạnh, 2007 The Technology of Metalurgy in the “Great Mother

River” (Low Mekong Valley) – Origin and characters – Archaeology in Vietnam –

Laos – Cambodia towards sustaible cooperation, International conference 13 December, 2007, Hanoi

j Phạm Đức Mạnh, 2008 Những trầm tích văn hóa chứa di vật đá thời Tiền sử –

Sơ sử ở đồng bằng sông Cửu Long – Khảo cổ học, số 2-2008: 45-63

k Phạm Đức Mạnh, 2008 Kỹ nghệ luyện kim nguyên sinh ở cuối nguồn “Sông

Mẹ”, cội nguồn & bản sắc – Khảo cổ học, số 3-2008: 21-31

Trang 14

l Phạm Đức Mạnh, 2008 Quan hệ giao lưu kinh tế – văn hóa giữa Nam Bộ với

nền văn hóa & các nước trong Khu vực thời Tiền sử đến Vương quốc Phù Nam –

Thực hiện nhiệm vụ của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, hệ nhánh của Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGTPHCM, 146 trang

m Phạm Đức Mạnh, 2008 Nam Bộ (Việt Nam) thời Sơ sử trong khung cảnh giao

lưu tương hỗ với Khu vực – Hội thảo Quốc tế “Việt Nam học” lần III, Hà Nội

n Phạm Đức Mạnh – Đỗ Ngọc Chiến, 2008 Những di tích – di vật thuộc truyền

thống văn hóa Oc Eo ghi nhận ở An Giang – Nam Bộ Đất & Người, NXBTp.HCM,

VI:38-45

o Phạm Đức Mạnh – Đỗ Ngọc Chiến – Nguyễn Hồng Ân, 2008 Đồ gốm Gò Cây

Tung (An Giang) sau lần đào thứ ba – tham luận Hội nghị khoa học: “Những phát

hiện mới về Khảo cổ học năm 2008”, Hà Nội

p Phạm Đức Mạnh – Đỗ Ngọc Chiến – Nguyễn Hồng Ân, 2008 Đồ đá Gò Cây

Tung (An Giang) qua đợt đào lần ba, loại hình & chất liệu – tham luận Hội nghị khoa

học: “Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2008”, Hà Nội

q Đỗ Ngọc Chiến – Phạm Thị Ngọc Thảo, 2008 Kết quả điền dã và nghiên cứu

khảo cổ học mới ở di tích Gò Cây Tung (Tịnh Biên – An Giang) – bài gửi đăng: Tập

san KHXH&NV của Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGTPHCM

r Lê Công Tâm, 2006–2008 Nghiên cứu các thiết kế căn bản cho bản đồ KT số

về di tích văn hóa Oc Eo ở An Giang - trung tâm GIS- Trường ĐHKHXH&NV –

ĐHQGTPHCM

s Đỗ Ngọc Chiến, 2007-2008 Di tích Gò Cây Tung trong bối cảnh Tiền sử – Sơ

sử ở An Giang và Nam Bộ – Luận văn Cao học chuyên ngành Khảo cổ học

t Phạm Thị Ngọc Thảo, 2006-2008 Hiện vật vàng trong văn hóa Oc Eo ở đồng

bằng sông Cửu Long – Luận văn Cao học chuyên ngành Khảo cổ học

u Vương Thu Hồng, 2006-2008 Di tích Gò Ô Chùa trong truyền thống văn hóa

Oc Eo – Luận văn Cao học chuyên ngành Khảo cổ học

v Mã Lan Xuân, 2007 Di tích văn hóa Oc Eo – Gò Cây Thị (An Giang) – Tiểu

luận Cao học chuyên ngành Văn hóa học

w Phạm Thị Thúy Nguyệt, 2007 Tìm hiểu một số vấn đề về di tích khảo cổ Cát

Tiên – Tiểu luận Cao học chuyên ngành Văn hóa học

x Trương Thành Đức, 2007 Bước đầu tìm hiểu di chỉ văn hóa Thành Mới – Tiểu

luận Cao học chuyên ngành Văn hóa học

y Mai Ngọc Diệp, 2007 Văn hóa Oc Eo (An Giang) & ảnh hưởng của văn hóa

An Độ qua một số hiện vật – Tiểu luận Cao học chuyên ngành Văn hóa học

z Bùi Hải Đăng, 2007 Tìm hiểu văn hóa Oc Eo qua các di vật đồ gốm – Tiểu

luận Cao học chuyên ngành Văn hóa học

aa Nguyễn Thị Ngọc Bích, 2007 Tìm hiểu văn hóa Oc Eo qua di tích Gò Tháp –

Tiểu luận Cao học chuyên ngành Văn hóa học

bb Lê Thị Hồng Diệp, 2007 Tìm hiểu Phòng trưng bầy cổ vật văn hóa Oc Eo tại

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TPHCM – Tiểu luận Cao học ngành Văn hóa học

cc Nguyễn Thị Hà Thanh, 2007 Bước đầu tìm hiểu một vài hiện vật nước ngoài

tìm thấy trong nền văn hóa Oc Eo – Tiểu luận Cao học ngành Văn hóa học

dd Đào Vĩnh Hợp, 2006 Điền dã khảo cổ học ở An Giang năm 2006, phát hiện

mới một số di tích kiến trúc – Khóa luận Đại học, Khảo cổ học năm IV

Trang 15

ee Hoàng Ngọc Hòa, 2006-2007 Miếu Bà Chúa Xứ – quần thể di tích Núi Sam &

những hiện vật văn hóa Oc Eo mới tìm thấy – Khóa luận Đại học, năm IV

ff Hà Thị Kim Chi, 2006 Bước đầu tìm hiểu một số hiện vật đá trong văn hóa Óc

Eo ở Bảo tàng An Giang – Khóa luận Đại học, Khảo cổ học năm IV

gg Nguyễn Thị Thu Hằng, 2006 Bước đầu nghiên cứu Chùa Xvayton ở An Giang

– Khóa luận Đại học, chuyên ban Khảo cổ học năm IV

hh Nguyễn Hải Hà, 2006-2007 Bước đầu tìm hiểu đời sống tâm linh của cư dân

cổ Nam Bộ qua những hoa văn trên hiện vật vàng thuộc truyền thống văn hóa Oc Eo

– Công trình NCKH cấp trường, chuyên ban Khảo cổ học năm III

ii Nguyễn Thị Thu Hằng, 2008 Tìm hiểu về nước Phù Nam – Tiểu luận: “Các

nền văn hóa khảo cổ và văn minh Cổ đại ở phía Nam Việt Nam” – Tiểu luận chuyên

đề: “Các nền văn hóa khảo cổ và văn minh Cổ đại ở phía Nam Việt Nam”, Hệ: “Cử

nhân tài năng” năm IV

jj Nguyễn Thị Xuân Hoa, 2008 Lược sử về Phù Nam – Tiểu luận chuyên đề:

“Các nền văn hóa khảo cổ và văn minh Cổ đại ở phía Nam Việt Nam”, Hệ: “Cử nhân

tài năng” IV

kk Lê Thị Bé Tư, 2008 Về Nhà nước Phù Nam – Tiểu luận chuyên đề: “Các nền

văn hóa khảo cổ và văn minh Cổ đại ở phía Nam Việt Nam”, Hệ: “Cử nhân tài năng”

năm IV

ll Vũ Thị Mỵ, 2008 Nước Phù Nam – Tiểu luận chuyên đề: “Các nền văn hóa

khảo cổ và văn minh Cổ đại ở phía Nam Việt Nam”, Hệ: “Cử nhân tài năng” năm IV

“Các nền văn hóa khảo cổ và văn minh Cổ đại ở phía Nam Việt Nam”, Hệ: “Cử nhân

tài năng” năm IV

E CẤU TRÚC CƠ BẢN CỦA CÔNG TRÌNH

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

PHẦN THỨ NHẤT AN GIANG –NỀN CẢNH MÔI TRƯỜNG SINH THÁI &

NHÂN VĂN

PHẦN THỨ HAI GIẢN SỬ VỀ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM & LƯỢC SỬ

NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VẬT THỂ TRÊN ĐẤT AN GIANG

Chương I Giản sử về Vương quốc Phù Nam

Chương II Lược sử nghiên cứu văn hóa vật thể ở An Giang

PHẦN THỨ BA DI TÍCH VĂN HÓA CỔ Ở AN GIANG

Chương I Các địa điểm chứa cổ tích thời Tiền sử ở An Giang

Chương II Các địa điểm chứa cổ tích thời Cổ sử ở An Giang

PHẦN THỨ TƯ SƯU TẬP DI VẬT VĂN HÓA TIÊU BIỂU THỜI TIỀN SỬ & CỔ

SỬ

Ở AN GIANG

Chương I Di vật văn hóa thời Tiền sử ở tỉnh An Giang

I.1 Di vật sưu tầm ở các địa điểm thuộc tỉnh An Giang

Trang 16

I.2 Di vật văn hóa thời Tiền sử – Sơ sử sưu tầm-thám sát & khai quật ở di chỉ cư trú –

mộ táng Gò Cây Tung 94–2007

Chương II Di vật văn hóa thời Cổ sử ở tỉnh An Giang

PHẦN THỨ NĂM DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HÓA CƠ BẢN Ở AN GIANG

TRONG NỀN CẢNH NAM BỘ (VIỆT NAM) & RỘNG HƠN

PHẦN THỨ SÁU XÃ HỘI THỜI TIỀN SỬ & CỔ SỬ Ở AN GIANG & NAM BỘ

– CUỘC SỐNG & CON NGƯỜI

ĐÔI LỜI KẾT

PHỤ LỤC

Công trình này được hoàn thành đúng hạn và đạt được một số kết quả ban đầu

để có thể đệ trình và bảo vệ trước Hội Đồng nghiệm thu đề tài hôm nay trước hết nhờ

sự nỗ lực chung của các thành viên thực thi chủ chốt, nhờ sự quan tâm định hướng và chỉ đạo sâu sát của Ban Giám hiệu và Phòng Quản lý Khoa học và đào tạo Sau Đại học của Trường ĐHKHXH&NV; Ban Khoa học & Công nghệ thuộc ĐHQG Tp.HCM; nhờ sự giúp đỡ rất tận tình của nhân dân An Giang trong những vùng Đoàn Công tác từng lưu trú điền dã và nghiên cứu khảo cổ học, sự đồng thuận và hợp tác chân tình của Sở Văn hóa – Thể thao & Du lịch và Bảo tàng tỉnh An Giang, Ủy ban Nhân dân và các Phòng Văn hóa, các Trung tâm Văn hóa và Nhà Truyền thống ở Thoại Sơn và Tịnh Biên; nhờ sự cộng tác của bạn bè và đồng nghiệp cùng thảo luận, giám định và nghiên cứu hệ thống mẫu vật từ nhiều cơ quan nghiên cứu – trường Đại học ở Hà Nội (Viện Khảo cổ học – Viện KHXH Quốc gia; Viện Địa chất – Viện Khoa học & Công nghệ Quốc gia; Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa, Bộ môn Bảo tàng học & Di sản Văn hóa, Bộ môn Khảo cổ học thuộc Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Hà Nội) và Tp Hồ Chí Minh (Trung tâm Kỹ thuật Hạt nhân; Liên Đoàn Bản

đồ Địa chất Miền Nam; Khoa Địa chất, Trường Đại học Tự nhiên; Trung tâm GIS – Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM) v.v… Chúng tôi chân thành cảm tạ tất

cả sự giúp đỡ tận tình và hiệu quả ấy

Đương nhiên, dù rất nỗ lực để đệ trình công trình trước Hội đồng đúng hạn, do nhiều nguyên nhân, mà chủ yếu do trình độ thu thập và phân tích thông tin khảo cổ học chỉ có hạn, công trình tổng hợp này hẳn còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm Chúng tôi chân thành mong quý vị lượng thứ và cũng rất chân tình đón nhận các lời phê bình

và chỉ giáo của quý vị

Thành phố Long Xuyên – Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 – 2008

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

Trang 17

PGS.TS PHẠM ĐỨC MẠNH

(Giám đốc Bảo tàng Lịch sử – Văn Hóa, Trưởng Bộ môn Bảo tàng học & Di sản Văn hóa, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Tp HCM)



Trang 18

PHẦN THỨ NHẤT

AN GIANG – NỀN CẢNH MÔI TRƯỜNG SINH THÁI & NHÂN VĂN



An Giang – miền đất trù phú bậc nhất của “Vựa lúa Cửu Long” thuộc Nam Bộ

(Việt Nam), trải dài về hướng đông dọc theo đôi dòng Hậu Giang và Tiền Giang, vốn

nổi danh từ xa xưa đến tận ngày nay là tỉnh “giàu núi” – ‘giàu cù lao”, dẫn đầu về sản lượng và năng suất lúa (hơn 2 triệu tấn/năm), về số “làng bè” và chất lượng cá nheo, về

chăn nuôi gia súc có sừng nơi đồng bằng phía bắc; cũng là tỉnh có đường biên giới với nước bạn Campuchia khá dài, với mối thông thương về lịch sử – văn hóa – kinh tế theo đường giao thông quốc tế Mekong hình thành từ lâu đời, với sự hiện diện các làng Khmer trên đất An Giang và ngược lại, các làng Việt nằm sâu trong đất bạn cổ kính từ 400-500 năm tuổi Đất và danh địa mang nhiều âm sắc Việt, Khmer, Hoa v.v… đã

nhiều đời nay đi vào sử sách (Vĩnh Thông, Cầu Sắt, Đồi Tức Dục v.v…) (H.1-2, 4)

Về mặt lịch sử, An Giang chính thức hình thành từ các Đạo do Chúa Nguyễn thành lập, sau khi Nguyễn Hữu Cảnh kinh lý đất Nam Bộ gần 6 thập kỷ (1698-1757)

Theo sách “Đại Nam nhất thống chí”, An Giang “Xưa là đất Tầm Phong Long,

năm Đinh Sửu thứ 19 (1757) đời Thế Tông, quốc vương Chân Lạp Nặc Tôn dâng đất này, đặt làm đạo Châu Đốc, vì đất ấy có nhiều chỗ bỏ hoang, đầu đời Gia Long mộ dân

đến ở, gọi là Châu Đốc Tân Cương” (H.3, 5) [798c ] Năm Mậu Thìn 1808, Gia Long đổi

Gia Định trấn thành Gia Định thành, thống quản 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Hà Tiên và Vĩnh Thanh (An Giang bấy giờ thuộc trấn Vĩnh Thanh) Năm

Nhâm Thìn 1832, Minh Mạng đổi “Ngũ trấn” thành “Lục tỉnh” gồm: Phiên An (tháng 8

năm Quý Tỵ 1833 đổi tiếp thành tỉnh Gia Định); Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long,

Hà Tiên và An Giang Từ 1832, An Giang thành lập tỉnh gồm 2 phủ, 4 huyện, với lỵ sở đặt tại Châu Đốc; đất An Giang ngày nay gần khớp địa bàn 2 huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên (Phủ Tuy Biên xưa)

Theo “Đại Nam nhất thống chí”, “Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) lấy đất này

cùng với huyện Vĩnh An tỉnh Vĩnh Long đặt làm phủ Tuy Biên và Tân Thành; đặt 4 huyện là Tây Xuyên, Phong Phú, Đông Xuyên và Vĩnh An lập tỉnh An Giang, đặt chức

An Hà Tổng đốc, thống lãnh 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên, lại đặt 2 ty Bố chánh, Án sát”

Phong Nhiêu, Phong Thạnh và lấy huyện Vĩnh Định tỉnh Vĩnh Long nhập vào tỉnh An Giang Năm Minh Mạng thứ 17 (Bính Thân 1836), vua cho đạc điền lập địa bạ cả Nam

Kỳ lục tỉnh Địa bạ An Giang lần đầu lập ngày 3 tháng 6 năm 1836, ghi nhận bấy giờ

có 2 phủ, 4 huyện, 18 tổng, 167 làng (H 5-6) Đến thời Tự Đức, sau nhiều lần tách

nhập, thêm phủ – huyện, An Giang gồm 3 phủ với 10 huyện như: Phủ Tuy Biên với các huyện Tây Xuyên, Phong Phú, Hà Dương, Hà Âm; Phủ Tân Thành với các huyện Vĩnh

An, An Xuyên, Đông Xuyên (trước1839 thuộc Tuy Biên); Phủ Ba Xuyên với các huyện

Phong Nhiêu, Vĩnh Định (Sách: “Đại Nam nhất thống chí” chỉ liệt kê 9 huyện)

Từ cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp chia “Nam Kỳ lục tỉnh” thành 4 khu vực: Sài

Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bassac (Nghị định ngày 5/1/1876 của Thống đốc Dupré), với 19 hạt (hạt đổi thành tỉnh từ Nghị định ngày 20/12/1899) Khu vực Bassac (Hậu Giang) gồm 6 hạt: Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Trà Ôn, Sóc Trăng, Rạch Giá

Trang 19

Tỉnh Hà Tiên chia 2 hạt: Hà Tiên, Rạch Giá; Tỉnh An Giang chia 5 hạt: Châu Đốc (10 tổng, 91 thôn), Long Xuyên (8 tổng, 55 thôn), Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc Năm 1917, tỉnh Châu Đốc gồm 4 quận (Châu Thành, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn), với 12 tổng,

98 xã (nhận thêm quận Hồng Ngự từ 1930) Tỉnh Long Xuyên gồm 3 quận (Châu Thành, Thốt Nốt, Chợ Mới), với 8 tổng, 58 xã Địa bàn An Giang ngày nay nằm trên 2

hạt Châu Đốc và Long Xuyên, chỉ gồm 6 quận, với 16 tổng và 146 xã (H 7-8)

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, An Giang cũng nhiều lần thay đổi địa giới và địa danh Năm 1945-1955, chính quyền ngụy phân 21 tỉnh Nam

Kỳ, tỉnh Châu Đốc gồm 5 quận: Tri Tôn, Tịnh Biên, Hồng Ngự, Tân Châu, Châu Phú với 70 xã; tỉnh Long Xuyên gồm 3 quận: Chợ Mới, Thốt Nốt, Châu Thành (sau thêm 2 quận: Núi Sập, Lấp Vò, với 47 xã) Từ năm 1956-1975, tỉnh An Giang với tỉnh lỵ Long Xuyên gồm 2 tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên cũ, gồm 8 quận: Châu Thành, Châu Phú (sau tách 13 xã lập thêm An Phú), Chợ Mới, Tân Châu, Thốt Nốt, Tịnh Biên, Tri Tôn,

Núi Sập, với 16 tổng, 96 xã (Sắc lệnh số 143/VN ngày 22/10/1957 của tổng thống ngụy

Ngô Đình Diệm); sau lại tách 2 tỉnh là Châu Đốc (5 quận, 10 tổng, 57 xã) và An Giang

(Long Xuyên cũ, với 4 quận, 6 tổng, 38 xã) (Sắc lệnh số 246/NV 8/9/1964) (H 8-9)

Với chính quyền Cách mạng, từ năm 1945, các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc thuộc

Chiến Khu 9 (Sắc lệnh thành lập các chiến khu trong toàn quốc của Hồ Chủ Tịch); từ

năm 1947, các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc đổi thành 2 tỉnh Long Châu Tiền thuộc Khu

8, với 5 quận: Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Lấp Vò, Châu Phú B (An Phú nay) và tỉnh Long Châu Hậu thuộc Khu 9, với 6 quận: Tịnh Biên, Tri Tôn, Thốt Nốt, Thoại

Sơn, Châu Phú A, Châu Thành; bao gồm 2 tỉnh lỵ Long Xuyên và Châu Đốc (Chỉ thị số

50/CT ngày 12/9/1947 của Ủy Ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ) Sau đó, hai tỉnh

Long Châu Hậu và Hà Tiên sát nhập thành tỉnh Long Châu Hà gồm 8 quận: Tịnh Biên,

Tri Tôn, Thốt Nốt, Thoại Sơn, Châu Phú A, Châu Thành, Giang Châu, Phú Quốc (Nghị

định số 58/TTg ngày 30/10/1950 của Thủ Tướng Chính Phủ); 2 tỉnh Long Châu Tiền và

Châu Đốc sát nhập thành tỉnh Long Châu Sa, với 7 huyện: Châu Thành (Sa Đéc), Lai

Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng, Tân Châu, Phú Châu, Chợ Mới (Nghị định số 173/NB51

ngày 27/6/1951 của Ủy Ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ) Tháng 10/1954, Xứ Ủy

Nam Kỳ tái lập 2 tỉnh Long Xuyên với 5 quận: Châu Thành, Chợ Mới, Lấp Vò, Thốt Nốt, Phong Thạnh Thượng và Châu Đốc với 5 quận: Tân Châu, Hồng Ngự, Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Phú Từ năm 1957, Long Xuyên và Châu Đốc hợp nhất thành tỉnh An Giang với 9 quận: Chợ Mới, Thốt Nốt, Núi Sập, Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn

Từ năm 1975 đến nay, An Giang cũng trải qua vài lần thay đổi địa danh và địa giới và kể từ ngày 1/3/1999, với Nghị định của Chính Phủ thành lập Thành phố Long

Xuyên, tỉnh An Giang là tỉnh “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” (02/10/2000)

có địa giới hành chính hiện tại nằm về cực tây nam của đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, là tỉnh biên giới có 17 xã biên giới thuộc 5 huyện – thị, phía tây

phía nam giáp tỉnh Hậu Giang và Thành phố Cần Thơ dài 44,734km, phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp dài 107,628km; Với điểm cực bắc trên vĩ độ 10˚57’(xã Khánh An, huyện An Phú), điểm cực nam trên vĩ độ 10˚12’(xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), điểm cực tây trên kinh độ 104˚46’(xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn), điểm cực đông trên

(1) Theo “Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam – Campuchia” ký ngày 27/12/1985 (Tổng cục Địa chính khảo

sát năm 1993 dài 94,8km) – “Địa chí An Giang” (2003)

Trang 20

kinh độ 105˚35’(xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới); chiều dài nhất theo hướng bắc nam là 86km, theo hướng đông tây là 87,2km An Giang có 420 tuyến địa giới hành chính cấp xã dài 1.694,463km; trong đó: 259 tuyến xã trong nội huyện dài 1.159,079km, 21 tuyến huyện dài 313,233km và 3 tuyến tỉnh dài 222,151km; được xác định bằng 461 cột mốc địa giới hành chính các cấp (39 mốc cấp tỉnh, 89 mốc cấp huyện

Theo “Tập bản đồ hành chính 64 tỉnh, thành phố Việt Nam” (Vietnam –

Administrative Atlas), tập Bản đồ tỷ lệ 1: 500.000 được thực hiện bằng công nghệ số

gần đây nhất của NXB Bản Đồ, Hà Nội, 2005, toàn tỉnh An Giang bao gồm 1 thành phố (Thành phố Long Xuyên), 1 thị xã (Thị xã Châu Đốc) và 9 huyện (An Phú, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu, Tịnh Biên, Thoại Sơn và Tri Tôn), với 140 đơn vị hành chính cơ sở (118 xã, 11 phường, 11 thị trấn), có tổng diện tích

diện tích lớn nhất là huyện Tri Tôn (598,1 km²); chiếm lượng dân lớn nhất là huyện Chợ Mới (354.100 người) và diện tích nhỏ nhất cùng lượng dân ít nhất là thị xã Châu Đốc (100,6 km² = 105.700 người), nhưng mật độ dân số lớn nhất thuộc về các thị tứ (Thành phố Long Xuyên = 106,9km² = 249.500 người, mật độ dân số 2.335 người/km²

và Thị xã Châu Đốc = 1051 người/km²) và các huyện Chợ Mới (355,7km² = 995 người/km²), Tân Châu (161,1km² = 152.500 người, mật độ dân số 947 người/km²), An

Phú (208km² = 168.600 người, mật độ dân số 810 người/km², với 5 xã “khu vực vùng

dân tộc đồng bằng” là Đa Phước, Khánh Bình, Quốc Thái, Nhơn Hội, Vĩnh Trường);

các huyện Phú Tân (307,1km² = 233.200 người, mật độ dân số 759 người/km²);Châu Phú (425,9km² = 236.000 người, mật độ dân số 554 người/km²); Châu Thành (346,8km² = 160.500 người, mật độ dân số 463 người/km²) và Thoại Sơn (458,7km² = 176.000 người, mật độ dân số 384 người/km²); trong khi mật độ dân số ít nhất thuộc về các huyện vùng biên như là Tri Tôn (112.000 người; mật độ dân số 187 người/km², với

9 xã vùng núi và 1 xã “khu vực vùng dân tộc đồng bằng” là Lương An Trà) và Tịnh

[ 904] (H.10; Bảng I)

A ĐẶC ĐIỂM NỀN KHÍ HẬU

Điều kiện địa lý và hoàn lưu khí quyển là 2 yếu tố quyết định hình thành chế độ khí hậu ở An Giang Vĩ độ địa lý của An Giang nằm gần với xích đạo, trong khoảng từ 10-11° vĩ độ Bắc, quanh năm độ cao mặt trời trên chân trời cao, thời gian chiếu sáng dài, khoảng cách giữa 2 lần mặt trời qua đỉnh đầu xa nhau nên các quá trình diễn biến nhiệt độ và lượng mưa gần khí hậu xích đạo, xuất hiện thường niên 2 lần có trị số tốc cao và 2 lần có trị số tối thấp Bởi thế, chế độ khí hậu An Giang mang đầy đủ những đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với đặc trưng cơ bản là: Một nền nhiệt độ cao và ít thay đổi quanh năm, nắng nhiều với tổng tích ôn 2574 giờ nắng/năm Một chế độ mưa phong phú và phân hóa rõ rệt theo 2 mùa gió: Gió mùa tây nam – tương ứng với mùa mưa – có nguồn gốc lục địa Á Châu nhưng mang đặc điểm mát và

ẩm nên gây ra mùa mưa Châu Á, với cả vùng lưu vực Mékong Gió mùa đông bắc thổi

Trang 21

vào An Giang – tương ứng với mùa khô – không phải xuất phát từ vùng băng tuyết vĩnh cửu cực đới lục địa Sibérie mà từ biển nhiệt đới hướng Trung Quốc nên có nhiệt

độ và độ ẩm cao hơn, không tạo rét mà chỉ hơi hanh khô, có khi nắng nóng Trong mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình hơn 100mm/tháng, chiếm 90% tổng lượng mưa hàng năm – trùng mùa nước lũ Mékong dồn về hạ lưu gây úng tổ hợp Lượng bốc hơi thấp (trung bình 85mm/tháng), độ ẩm cao nhất năm là tháng 9-10 (lượng bốc hơi nhỏ cỡ 52mm/tháng), lượng mây trung bình 6,9/tháng Trong mùa khô

từ tháng 12 – đến tháng 4, lượng mưa trung bình dưới 100mm/tháng, chỉ chiếm 10% tổng lượng mưa hàng năm, nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi lớn (trung bình 110mm/tháng), độ ẩm thấp nhất năm là tháng 6 (lượng bốc hơi tới 160mm/tháng), lượng mây trung bình 3,1/tháng

Cụ thể các thông số khí tượng thu được ở các trạm An Giang (1976-2000) như sau:

1 Long Xuyên: nhiệt độ trung bình/năm = 28,7˚C, lượng mưa trung

bình/năm = 1400,3mm, dao động trong các tháng mùa khô (tháng 12 – tháng 4) là: nhiệt độ = 21,7 – 30,4˚C, lượng mưa = 6 – 52,8mm và dao động trong các tháng mùa mưa (tháng 12 – tháng 4) là: nhiệt độ = 28,3 – 29,3˚C, lượng mưa = 105 – 260mm

2 Châu Đốc: nhiệt độ trung bình/năm = 27,3˚C, giờ nắng trung bình/năm =

2574h, lượng mưa trung bình/năm = 1401,4mm, lượng bốc hơi trung bình/năm = 1283mm, độ ẩm trung bình/năm = 81%; dao động trong các tháng mùa khô (tháng 12 – tháng 4) là: nhiệt độ = 25,5 – 29,5˚C, giờ nắng = 234 – 264h, lượng mưa = 0,7 – 75,2mm, lượng bốc hơi = 101 – 132mm, độ ẩm = 77 – 80% và dao động trong các tháng mùa mưa (tháng 12 – tháng 4) là: nhiệt độ 27,4 – 28,9˚C, giờ nắng = 180 – 217h, lượng mưa 133 – 251mm, lượng bốc hơi 93 – 108mm, độ ẩm 80 – 84%

3 Tân Châu: nhiệt độ trung bình/năm = 27,3˚C, lượng mưa trung bình/năm

= 1244,4mm, dao động trong các tháng mùa khô (tháng 12 – tháng 4) là: nhiệt độ = 25,8 – 28,8˚C, lượng mưa = 1,5 – 62,6mm và dao động trong các tháng mùa mưa (tháng 12 – tháng 4) là: nhiệt độ = 26,8 – 28,4˚C, lượng mưa = 133 – 242mm

4 Chợ Mới: lượng mưa trung bình/năm = 1368,8mm, dao động trong các

tháng mùa khô (tháng 12 – tháng 4) là: lượng mưa = 4,4 – 50,3mm và dao động trong các tháng mùa mưa (tháng 12 – tháng 4) là: lượng mưa = 109 – 305mm

5 Núi Sập: lượng mưa trung bình/năm = 1465,4mm, dao động trong các

tháng mùa khô (tháng 12 – tháng 4) là: lượng mưa = 1,7 – 43,6mm và dao động trong

B HỆ THỦY VĂN Sông Mékong – dòng sông “Mẹ” (Mè-Khóong) dài nhất

Đông Nam Á bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng quanh năm tuyết phủ ở độ cao cỡ 5000m chảy theo hướng nam qua các vùng đồi núi của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) – hình thành vùng thượng lưu chiếm 19% diện tích lưu vực; qua Miến Điện, Lào, Thái Lan xuống Kratier (Campuchia) – hình thành vùng trung lưu chiếm 57% diện tích lưu vực, nơi tiếp nhận thêm nước của nhiều phụ lưu bên tả ngạn (Nậm Thà, Nậm U, Nậm Sùng, Nậm Khan, Nậm Ngừa, Nậm Thơn, Xê Băng Phác, Xê Băng Giêng, Xê Đôn, Xê Công, Srêpốc…) và cả bên hữu ngạn (7 phụ lưu với nhánh chính Nậm Mu) rồi chảy vào lãnh thổ Việt Nam – hình thành vùng hạ lưu, tính từ đỉnh Kratier ra Biển Đông, chiếm 24% diện tích lưu vực Khi chảy đến Phnom Penh, sông Mékong nối dòng Tông

Lê Sáp – cửa ngõ của Biển Hồ và phân 2 nhánh chính vào Việt Nam về phía đông –

Trang 22

Sông Tiền (chảy qua Tân Châu, Sa Đéc, Mỹ Thuận và đổ ra biển Đông bằng 6 cửa: Tiểu, Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu) và về tây – Sông Hậu (chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ và đổ ra biển Đông bằng ba cửa: Định An, Bassac, Tranh Đề) Sông Tiền chảy theo hướng tây bắc – đông nam, đoạn qua An Giang dài khoảng 80km, với chiều rộng phía trên Vàm Nao lớn hơn 1000m (đặc biệt có chỗ rộng hơn 2000m ở phía trên cù lao Long Khánh khoảng 300m) và chiều rộng phía dưới Vàm Nao 800-1100m, độ sâu trung bình khoảng 20m (có chỗ sâu tới 45m như ở khu vực thị trấn Tân Châu) Dòng sông này cũng là ranh giới chung giữa 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp, có độ uốn khúc lớn, được chia dòng, rẽ nhánh ở nhiều vị trí bởi các cù lao (Chính Sách, Cồn Cỏ, Cái Vừng, Long Khánh, Tây, Ma, Giêng), có chế độ dòng chảy và diễn biến lòng sông phức tạp nhất nhưng cũng là nguồn cung cấp nước và phù sa lớn nhất – trục giao thông thủy quan trọng nhất với An Giang

Sông Hậu có hướng chảy song song với Sông Tiền, đoạn qua An Giang dài gần 100km, với chiều rộng phía trên Vàm Nao khoảng 500-900m và chiều rộng phía dưới Vàm Nao 800-1200m (đặc biệt có chỗ rộng tới hơn 2000m như ở đầu cù lao Mỹ Hòa Hưng), độ sâu trung bình khoảng 13m (có chỗ sâu tới 34m như ở ngã ba sông thị xã Châu Đốc, thậm chí sâu tới 45m như ở khu vực cửa đổ của sông Vàm Nao) Cũng như Sông Tiền, đoạn Sông Hậu chảy qua địa bàn An Giang có độ uốn khúc lòng sông lớn, được phân dòng rẽ nhánh nhiều chỗ bởi các cù lao (Vĩnh Trường, Khánh Hòa, Bình Thủy, Bà Hòa, Mỹ Hòa Hưng, Phó Ba, Cồn Tiên) Dòng sông này là trục giao thông thủy xuyên suốt trung tâm tỉnh An Giang từ thượng lưu về hạ lưu, là nguồn cung cấp nước và phù sa chủ yếu cho cả vùng trũng Tứ Giác Long Xuyên

Ngoài 2 dòng chính Tiền Giang và Hậu Giang, còn nhiều sông – suối – kinh – rạch tự nhiên và nhân tạo quan trọng khác đan xen trong địa phận An Giang Ví như: Sông Vàm Nao chảy ven xã Phú Mỹ (Phú Tân) và xã Kiến An (Chợ Mới) theo hướng đông bắc – tây nam, với chiều dài hơn 6km, chiều rộng trung bình khoảng 700m và độ sâu hơn 17m Đây là dòng chảy nằm gọn trong địa phận An Giang nối liền Sông Tiền với Sông Hậu mà tương truyền tự xa xưa vốn là rạch nhỏ do những đàn voi đi lại tạo thành và do nước Sông Tiền chảy xiết tạo thành sông có tác dụng làm cân bằng Nhị Hà Tiền Giang và Hậu Giang Tại xã Khánh Bình (An Phú), Sông Hậu chia dòng, nhánh hữu ngạn hẹp với độ rộng chỉ bằng ¼ dòng chính được gọi là Sông Bình Di Sông Bình

Di chảy hơn 10km đến Vĩnh Hội Đông thì gặp Sông Tà Keo và Sông Châu Đốc Bắt đầu từ ngã ba này, Sông Châu Đốc chảy dài 18km đến thị xã Châu Đốc thì nhập lưu trở lại dòng Sông Hậu Cả 2 dòng sông Bình Di và Châu Đốc có độ rộng trung bình khoảng 150m và độ sâu trung bình khoảng 7m (có chỗ sâu tới 25m như tại các khu vực

xã Khánh Bình và thị xã Châu Đốc)

Hệ thống suối và ao hồ cổ ở An Giang có không ít nơi vùng sơn địa, gắn với

nhiều tên gọi mộng mơ như “Suối Tiên”, “Suối Vàng”, “Búng Bình Thiên”, “Nguyễn

Du Đàm” v.v Ngay từ 2 thế kỷ trước, Trịnh Hoài Đức đã mô tả suối khe vùng Thất

Sơn nhiều “ví như vải treo” và “trèo sườn núi quanh quất chảy tràn” Hiện tại, một số

khe suối vẫn còn nước chảy thường niên trong cụm Núi Cấm từ độ cao hơn 700m (Suối

An Hảo, Suối Tiên, Hồ Ô Tức Xa); trong cụm Núi Dài từ độ cao hơn 500m (Suối Vàng, Ô Tà Sóc, Khe Đá); trong cụm núi Cô Tô (Suối Ô Thum, Ô Soài So)

Trong đó, Suối An Hảo dài khoảng 4,25km, diện tích lưu vực khoảng 6,31km², độ dốc của lòng suối = 6,7% và của sườn núi = 14,5%, mức độ che phủ = 35%, lưu lượng trung bình = 0,812m³/s và lớn nhất = 2,39m³/s; Suối Tiên dài khoảng 3,62km, diện tích

Trang 23

lưu vực khoảng 3,12km², độ dốc của lòng suối = 10,05% và của sườn núi = 12,9%, mức độ che phủ = 27,5%, lưu lượng trung bình = 0,333m³/s và lớn nhất = 5,23m³/s; Suối Hồ Ô Tức Xa dài khoảng 4km, diện tích lưu vực khoảng 2,8km², độ dốc của lòng suối = 27,5% và của sườn núi = 15%, mức độ che phủ = 25%, lưu lượng trung bình = 0,391m³/s và lớn nhất = 4,23m³/s; Suối Vàng dài khoảng 2km, diện tích lưu vực khoảng 2,44km², độ dốc của lòng suối = 8% và của sườn núi = 17%, mức độ che phủ = 55%, lưu lượng trung bình = 0,218m³/s và lớn nhất = 0,69m³/s; Suối Ô Tà Sóc dài khoảng 2,5km, diện tích lưu vực khoảng 4km², độ dốc của lòng suối = 6,4% và của sườn núi = 18,8%, mức độ che phủ = 55%, lưu lượng trung bình = 0,428m³/s và lớn nhất = 3,06m³/s; Suối Khe Đá dài khoảng 2,5km, diện tích lưu vực khoảng 1,62km², độ dốc của lòng suối = 11,1% và của sườn núi = 15,5%, mức độ che phủ = 45%, lưu lượng trung bình = 0,199m³/s và lớn nhất = 2,07m³/s; Suối Ô Thum dài khoảng 2,88km, diện tích lưu vực khoảng 3,61km², độ dốc của lòng suối = 7,9% và của sườn núi = 22,6%, mức độ che phủ = 27,5%, lưu lượng trung bình = 0,482m³/s và lớn nhất = 3,97m³/s; Suối Ô Soài So dài khoảng 2,25km, diện tích lưu vực khoảng 1,46km², độ dốc của lòng suối = 35% và của sườn núi = 17,5%, mức độ che phủ = 25%, lưu lượng trung bình =

cả 2 hồ này vẫn khai thác chủ yếu từ nguồn thủy sản tự nhiên Hồ Nguyễn Du ở phường Mỹ Bình (Thành phố Long Xuyên) xuất xứ từ 1 nhánh xép của Hậu Giang kéo dài gần 1500m kể từ phía dưới Tổng Đài Viễn Thông An Giang khoảng 100m xuôi về

hạ lưu, lâu ngày do phù sa bồi lấp tách dần sông chính, khiến giao lưu nước giữa Sông Hậu và nhánh xép ngày càng khó khăn dần Hiện tại, phần còn lại của nhánh xép được nạo vét sâu tới cao trình –2m, cải tạo thành hồ dài cỡ 350m, rộng hơn 50m, với diện tích mặt nước khoảng 1750m² Các hồ nhân tạo còn xây dựng ở vùng đồi núi Tri Tôn – Tịnh Biên để phòng chống cháy rừng khi hạn kiệt, phục dịch trồng rừng phủ kín đồi trọc, chống sa mạc hóa đất đồng bằng ven núi và tưới nước cho hàng trăm ha cây màu, vườm ươm và đời sống con người Ví như, hồ Soài So ngăn dòng suối Soài So thuộc cụm núi Cô Tô (huyện Tri Tôn) có diện tích mặt nước khoảng 5ha, dung tích chứa nước khoảng 400.000m³, đập cao 14m và dài 175m, cung ứng nước cho 15.000 dân khu vực thị trấn Tri Tôn Hồ Ô Tức Xa ngăn dòng suối Ô Tức Xa thuộc cụm núi Cấm (huyện Tịnh Biên) có diện tích mặt nước khoảng 10ha, dung tích chứa nước khoảng 600.000m³, đập cao 14m và dài 198m, cung ứng nước cho 20.000 dân khu vực thị trấn Chi Lăng Hồ An Hảo ngăn dòng suối nhỏ An Hảo thuộc cụm núi Cấm (huyện Tịnh Biên) có dung tích chứa nước khoảng 50.000m³ Hồ Cây Đuốc nằm giữa thung lũng của Núi Cấm và Phú Cường sâu 3,9m, dạng hình tròn với diện tích mặt nước khoảng

Trang 24

1.300m², hứng và ngăn giữ nước của các mạch nước ngầm phun lên quanh năm ở cao trình 22m, cung ứng nước cho khoảng 3000 dân quanh vùng

Hệ thống rạch tự nhiên rải rác khắp địa bàn An Giang vốn là những dấu tích còn sót lại của biển nông trong quá trình bị trầm tích phù sa sông Mékong nên thường có độ dài ngắn, độ rộng hẹp và độ sâu nông Hệ thống rạch tự nhiên này có độ dài dao động

từ vài km đến khoảng 30km, độ rộng dao động từ vài m đến khoảng 100m, độ uốn khúc quanh co khá lớn Các rạch nằm trong khu vực kẹp giữa Nhị Hà thường lấy nước từ Sông Tiền chuyển sang Sông Hậu, các rạch nằm trong khu vực hữu ngạn Sông Hậu lại lấy nước của dòng sông này chuyển sâu vào nội đồng vùng trũng Tứ Giác Long Xuyên Xưa kia rạch tự nhiên có rất nhiều, về sau một số rạch bị phù sa Sông Tiền và Sông

Hậu bồi lấp thành đồng ruộng, một số được con người cải tạo và “nắn” thẳng thành

dạng kênh đào Các rạch lớn hiện có ở An Giang gồm: rạch Cái Tàu Thượng (dài khoảng 17km, rộng khoảng 80m) và rạch Ông Chưởng (dài khoảng 20km, rộng khoảng 100m) thuộc địa phận huyện Chợ Mới, rạch Cái Đầm (dài khoảng 9km, rộng khoảng 50m), rạch Cái Tắc (dài khoảng 9km, rộng khoảng 30m) và rạch Mương Khai (dài khoảng 10km, rộng khoảng 45m) thuộc địa phận huyện Phú Tân, rạch Long Xuyên (dài khoảng 28km, rộng khoảng 100m) thuộc địa phận Thành phố Long Xuyên, rạch Mặc Cần Dưng (dài khoảng 30km, rộng khoảng 40m) và rạch Chắc Cần Đao (dài khoảng 20km, rộng khoảng 30m) thuộc địa phận huyện Châu Thành, rạch Cần Thảo (dài

khoảng 20km, rộng khoảng 30m) thuộc địa phận huyện Châu Phú) (Bảng IV)

Hệ thống rạch này có vai trò đáng kể trong chuyển tải nước, khuyếch tán triều, giao thông thủy và phân bố dân cư; mà quan trọng nhất là rạch Ông Chưởng và rạch Long Xuyên Rạch Ông Chưởng có hình dạng uốn khúc như con rồng, lấy nước Sông Tiền ngay đầu thị trấn Chợ Mới, chảy theo hướng đông bắc – tây nam trên chiều dài khoảng 20km, chia huyện Chợ Mới thành 2 khu vực phía đông và phía tây rạch, cuối cùng đổ nước vào Sông Hậu tại đỉnh cua cong của cù lao Mỹ Hòa Hưng Đây là con rạch rộng gần 100m và sâu hơn 8m, khả năng tải nước mùa lũ khoảng 800m³/s với tốc

độ trên 1m/s, vì vậy là tuyến giao thông thủy quan trọng hoạt động quanh năm và là trục tưới tiêu chính của huyện Chợ Mới, với 2 bờ bao rạch cao trình hơn 3m thành 2 tuyến giao thông bộ và mật tập dân cư hiện nay Rạch Long Xuyên là rạch tự nhiên lớn nhất An Giang khởi nguồn từ Thành phố Long Xuyên chảy theo hướng đông bắc – tây nam với độ uốn khúc quanh co như dải lụa long lanh suốt chiều dài gần 18km giữa thảm lúa mênh mông của Tứ Giác Long Xuyên, để rồi nối tiếp với kênh Thoại Hà tại ấp Đông Phú (xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn), đi qua Núi Sập, kéo dài thẳng hướng biển Tây, nối với Sông Kiên rồi đổ nước ra cửa Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang)

Hiện nay, nhân dân địa phương gọi rạch này là “kênh Rạch Giá – Long Xuyên”,

hàm chỉ cả đoạn dài gần 60km từ Sông Hậu ở cửa rạch Long Xuyên băng qua Tứ Giác Long Xuyên đổ nước vào biển Tây tại cửa Sông Kiên (Rạch Giá), với độ rộng trung bình khoảng 100m, sâu gần 8m, lưu lượng nước mùa lũ hơn 300m³/s Đây cũng là tuyến giao thông thủy quan trọng và là 1 trong những trục tưới tiêu chính của An Giang nói riêng và cả vùng Tứ Giác Long Xuyên nói chung, với Thành phố Long Xuyên ở đầu kênh, thị trấn Núi Sập ở giữa kênh và Thị xã Rạch Giá ở cuối kênh Về sau, cách cửa rạch Long Xuyên gần 2km về phía thượng lưu, nhân dân đào thêm nhánh kênh thẳng kéo dài gần 1km thì gặp rạch Long Xuyên, tạo hợp lưu lớn hơn gia tăng khả năng dẫn nước Hậu Giang vào sâu nội đồng Tứ Giác Long Xuyên Cụ thể: các hệ thống rạch lớn vùng kẹp giữa Sông Tiền – Sông Hậu thuộc huyện Chợ Mới có Rạch Cái Cầu

Trang 25

Thương (dài khoảng 17km, rộng khoảng 80m) và Rạch Ông Chưởng (dài khoảng 20km, rộng khoảng 100m), thuộc huyện Phú Tân có Rạch Cái Đầm (dài khoảng 9km, rộng khoảng 50m), Rạch Cái Tắc (dài khoảng 9km, rộng khoảng 30m), Rạch Mương Khai (dài khoảng 10km, rộng khoảng 45m); vùng hữu ngạn Sông Hậu thuộc Thành phố Long Xuyên có Rạch Long Xuyên (dài khoảng 28km, rộng khoảng 100m), thuộc huyện Châu Thành có Rạch Mặc Cần Dưng (dài khoảng 30km, rộng khoảng 40m), Rạch Chắc Cần Đao (dài khoảng 20km, rộng khoảng 30m) và thuộc huyện Châu Phú có Rạch Cần

Về hệ thống kênh đào nhân tạo, theo nghiên cứu của L.Malleret và đồng nghiệp, ngay từ thời văn hóa Óc Eo đã ghi nhận các nỗ lực đào kênh rạch chinh phục đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, với hàng trăm cây số chằng chịt ghi nhận trong nhiều

lần không ảnh (H.11-14) Các sự nghiệp đào kênh qua các thời kỳ phong kiến Triều

Nguyễn trở về sau cũng rất đáng kể, song đa phần là khơi lại nhiều dòng chảy kênh rạch tự nhiên và nhân tạo bị phù sa Nhị Hà và bùn biển lấp vùi cả Thiên niên kỷ hoang

hóa Những “Con kênh xanh xanh” nổi danh xứ này có thể điểm danh là Thoại Hà,

Vĩnh Tế, Vĩnh An, Trà Sư, Thần Nông, Vàm Xáng v.v…

Kênh Thoại Hà là dòng kênh đầu do quan trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thoại chấp chỉ vua Gia Long mùa xuân năm Mậu Dần (1818) tổ chức đào theo lạch nước cũ nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hướng tây nam ngang qua chân Núi Sập, tiếp sông Kiên rồi đổ ra biển Tây tại cửa Rạch Giá Đoạn kênh này thoạt đầu gọi là kênh Đông Xuyên – Rạch Giá, với số nhân công 1500 người đào hơn tháng được đoạn dài 12.410 tầm, rộng 20 tầm, ghe xuống qua lại thuận lợi Đào xong, Nguyễn Văn

Thoại cho vẽ “họa đồ” làm sớ tâu vua, Gia Long khen và lệnh đặt tên kênh Thoại Hà,

ban tên núi Sập là Thoại Sơn để biểu dương công trạng quan trấn thủ

Kênh Vĩnh An đào năm 1843 theo sắc Triều đình Nguyễn lấy nước Tiền Giang bổ sung cho Hậu Giang và tạo trục giao thủy nối Tân Châu – Châu Đốc, liên thông các vị trí quân sự – kinh tế chiến lược từ cửa biển Hà Tiên qua Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Đốc đến Tân Châu Kênh đào 3 năm, dài 17km, rộng 30m, sâu 6m Kênh Trà Sư đào khoảng 1830-1850 theo tương truyền, để ngăn lũ núi, thau chua rửa phèn và dẫn lũ phù sa về các cánh đồng hoang hóa Thới Sơn – Văn Giáo Kênh đào theo vết rạch nhỏ chạy dài từ cầu Trà Sư (ở ven lộ Châu Đốc đi Nhà Bàng) đến cầu sắt 13 (nằm trên lộ tẻ Mặc Cần Dưng đi Tri Tôn), với chiều dài trên 23km, rộng 10m, sâu hơn 2m Kênh Vĩnh Tế khởi

sự đào từ năm 1819 theo ý tưởng đào từ 1816 khi vua Gia Long đọc tấu và xem địa đồ Châu Đốc do Trấn thủ Vĩnh Thanh Lưu Phước Tường đắp xong thành Châu Đốc dâng

truyền rằng: “Xứ này nếu mở đường thủy thông với Hà Tiên thì hai đàng nông thong

đều lợi Trong tương lai, dân đến ở càng đông, đất mở càng rộng, sẽ thành một thị trấn

to vậy” (Chính Biên toát yếu, quyển 2, tờ 49a) Tháng 9 Năm Kỷ Mão, vua truyền Gia

Định Thành lo việc đào kênh, quan Trấn thủ Nguyễn Văn Thoại chỉ huy dân binh khởi công ngày rằm tháng chạp Kênh đào song song biên giới Việt Nam – Campuchia, bắt đầu từ bờ tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sông Giang Thành (thuộc địa phận thị

xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang nay Trong 5 năm dòng, kênh đào qua nhiều đoạn đất cứng, vô vàn trở ngại về thời tiết, khí hậu, có lúc gián đoạn, hơ 8 vạn công đào hàng chục triệu m³ đất đến năm 1824 xong, với tổng chiều dài 205 dặm (91km), rộng 7

trượng 5 thước (25m), sâu 6 thước (3m) (Nguyễn Văn Hầu, 1999) Vua Minh Mạng

mãn nguyện, sắc dựng bia bờ kênh ghi nhớ thành quả này mà hình kênh Vĩnh Tế được chạm đỉnh Cao trong Quốc bảo Cửu đỉnh đúc theo sắc năm Minh Mạng thứ 16 (1835)

Trang 26

và, theo “Đại Nam Nhất thống chí” còn ghi: “Từ đấy đường sông mới thông, việc biên

phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”

Theo sách: “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức, một người Minh

năm 18 niên hiệu Gia Long và hoàn tất vào năm đầu niên hiệu Minh Mạng 1820), với số lượng và quốc tịch chi tiết của thợ đào kênh, danh sách quan lại điều khiển công trình, độ dài và bề rộng con kênh và cả tính chất của các phần đất Đoạn giữa của kênh không phải đào vì đó là Bàu Ca-Am – một đầm bùn lầy đầy nước mặn

(1819-“dài 18 lý, rộng ½ lý, sâu 5 thước” nằm ở khoảng giữa dãy núi Tịnh Biên và phần đông

– bắc núi Bhnam Payan (Phnom Bayan) Giữa Châu Đốc và Bàu Ca-Am đất rắn nên sử dụng nhân lực Việt Nam; còn ở đầu kia – giữa sông Giang Thành và Bầu Ca-Am sử

dụng nhân lực Campuchia và tính chất của đất “nơi cứng, nơi mềm” mà Trịnh Hoài

Đức đã chép trong đoạn nói về việc sử dụng 2 loại nhân lực ấy, đã được kỹ sư thủy lộ

Trong một bản chép tay sử liệu Thái Lan về thời đại thứ hai (1809-1824) mà Gerini nghiên cứu có chép về công cuộc xây dựng thành Châu Đốc của người Việt Nam, vào chỗ con kênh chảy vào sông Bassac và có chép thêm rằng nhân lực ở đấy tổn thất khá nhiều do bệnh kiết lỵ và bệnh tả gây nên Theo tài liệu của J.Crawford cùng

phái đoàn đến Nam Kỳ 1821-1822 công bố trong: “Journal an Embassy to Siam and

Cochinchina” (London, 1830, II:440-441), một sứ thần Miến Điện bên cạnh vua Nam

Kỳ là Gibson ghi nhật ký rõ rằng trong số 22.000 nhân công đào kênh có đến 10.000

sang và cải tiến con sông cũ bị ngập bùn và tắc nghẽn, đào điều chỉnh thêm trên đất rắn một đoạn thủy đạo nối thành Châu Đốc mới xây dựng và bàu Ca-Am, tên gọi có lẽ đặt theo tên núi Cám (Bhnam Babãl – Phnom Popãt) ở phía nam Tài liệu mà Gerini sưu tầm trong biên niên sử Thái Lan của Thành phố Ayuthia có chép về cuộc chiến chống Cao Miên năm 1550, 1 hạm thuyền Siam đã tới Lovêk, sau khi vượt qua cửa sông Phuttaimac (Panday Mãs)và K.Cun Krajum (Con Kracum) Năm 1593, quân Siam công phá thành Manday Mãs, tiến tới Kamban Krasamn, chiếm cả Catumukh (Phnom Penh)

và hợp nhất cánh quân khác theo đường bộ tấn công Lovêk và sau khi hạ thủ đô, rút

Năm 1720, theo đại úy Hamilton: cảng Ponteamass trong thời gian dài là một thị trường khá quan trọng, có thuận lợi là nằm trên con sông khá sâu, lòng sông hẹp, trong mùa mưa, với gió mùa tây nam, thuyền bè có thể thông thương với sông Bansack, ngoại thương khá phồn thịnh, đến năm 1717, cảng Ponteamass bị quân Siam phá tan Năm 1720, tác giả nhìn thấy nhiều xác thuyền bị đắm và quang cảnh đổ nát… Năm

1771, vua Siam Phya Tâk hạ thành Pandãy Mãk, tiến đến Phnom Penh bằng đường thủy, rồi trở về Siam, khi trở về lúc qua kênh Thông Cin Con (có thể là kênh Jan Jamn Jum – Con Cancau) bị mắc cạn phải đắp đập để nước dâng mới đến được Panday Mãs, tức Hà Tiên Năm 1770, trong bức thư của linh mục Levavasseur nói về hành trình đế Cao Miên qua sông Bassac viết: ngày 3.5.1768, thuyền đến một con kênh dẫn đi Can-cao (tên Trung Quốc cũ chỉ Hà Tiên) Ở Mat-che-ron hoặc Mãt Jrũk (Mãt Cruk) nơi ngã ba kênh và sông Bassac, chỉ gồm 5-6 nóc nhà của người Trung Quốc và người Việt Nam Địa điểm này khá quan trọng vì từ đó có thể ra khỏi sông Lớn trên đường từ Bassac đi Can-cao (gần nửa đường Bassac đi Columpé – Phnom Penh) Người Việt

( 1 ) Sách này được Aubaret dịch ra tiếng Pháp “Histoire et description de la Basse Cochinchine”, Paris, 1863

Trang 27

Nam gọi điểm đầu con đường đất (mùa lụt đi thẳng đến Can-cao bằng thuyền) là làng Cai-chum, người Cao Miên gọi là làng Chicon-chong (Can Cum), người Hoa gọi là

phía đông sông Châu Đốc Năm 1830, Trịnh Hoài Đức chép rằng thuyền bè chỉ có thể vào rạch Phung-can-tan và mùa mưa, mùa khô rạch bị đất bùn làm tắc nghẽn Như thế,

từ giữa thế kỷ XVI đã có thể rút ngắn đường đi bể trong mùa nước lên bằng cách đi thẳng từ vịnh Thái Lan đến sông Bassac qua con kênh cũ nối liền sông Lớn với đầm Hà

Tiên Biên niên sử Thái Lan của Ayuthia gọi kênh ấy là “Khlon” (sông đào hoặc sông

thiên nhiên), nhưng Gerini (và cả J.Silvestre sau đó) không tin là sông nhân tạo [846 ]

Vào cuối thế kỷ XVIII, lầy bùn là tắc nghẽn kênh này và tàu bè không lưu trông được Theo L.Malleret (1959), việc điều chỉnh cử kênh Vĩnh Tế có lý do chiến lược và

có cả lý do liên quan tới quy hoạch thủy lợi Người ta bắt đầu đào cửa kênh ở dứơi khúc sông Châu Đốc xưa gần thành phố cổ Angar Puri (Angkor Borei), người Việt Nam nhận thấy đoạn phía đông kênh – nơi đổ vào sông nhỏ Châu Đốc thường bị bùn,

đã điều chỉnh cửa kênh về phía nam, không cho kênh chảy thẳng vào sông Bassac để tránh nước xoáy chảy xiết gây nguy hiểm cho thuyền bè, lại vẫn giữ đủ lưu lượng kéo

sông Bassac và sông Châu Đốc tạo nên vũng nước úng ngay cửa kênh và năm 1867,

dấu sự trưởng thành về kỹ thuật và kinh nghiệm thủy lợi, phù hợp với dòng nước chảy chậm của sông Châu Đốc Theo Gerini, từ thời tiền sử, sông Châu Đốc kéo dài về phía bắc có lẽ là một chi hà của sông Cửu Long và chắc là rạch Tam Lập và rạch Long-chap (ghi trên bản đồ) là những nhánh của con sông ấy, đã bị đất phù sa miều châu thổ bồi rất mạnh, khiến nước không lối thoát Gerini dẫn 2 tài liệu Ý xuất bản ở Rome của

(Cửu Long) đổ ra biển bằng 2 nhánh thiên nhiên và 2 nhánh nhân tạo, do nước xoáy khi thủy triều lên xuống và dòng nước chảy xiết ở các cửa sông nên dân phải đào kênh để điều hòa nước Như chúng ta đã thấy, ngay từ thời Phù Nam, nhân dân miền Hậu Giang

đã biết đào kênh, điển hình là kênh nối liền Angar Puri (Angkor Borei) với đô thị cổ Oc

Eo và xa hơn nữa, về phía đông nam mà người ta đã phát hiện qua các chuyến khảo sát

từ máy bay

Di tích thấy trên địa phận Việt Nam bên bờ kênh Vĩnh Tế có 3 bi ký bằng chữ

về 1 con kênh lớn bị cát bồi lấp gần hết chạy từ Angkor Borei (Angar Puri) đến Ba Thê

và vào năm 1942, ông bổ sung thêm 5 con kênh khác ở vùng này Với các kết quả viễn thám chi tiết hơn, L.Malleret đã phát giác thêm 23 con kênh khác và đã giới thiệu đại cương về các hướng chính của hệ thống dẫn thủy và tiêu thủy cổ ở đồng bằng Oc Eo, tỏa ra xung quanh đô thị Oc Eo theo các hướng khác nhau, khi thì song song, khi thì

thẳng góc với bờ vịnh Thái Lan (H.11-14) Cụ thể như:

+ Kênh 1-3: là 3 đoạn kênh tỏa ra về phía tây xung quanh Phnom Ankor và

Phnom Ankor Borei, từ bắc xuống nam do Pierre Paris định vị

+ Kênh 4: là đoạn kênh do Pierre Paris định vị có 2 khoảng trống và 2 khúc lệch

hướng từ Ankor Borei về xung quanh Ba Thê Về phía đông Bảy Núi và tới chỗ giáp với kênh Mắc Cần Dưng, đường thủy lộ này lại phân 2 theo hướng song song với trục giao thông Theo L.Malleret, kênh 4 chảy qua giữa núi Tượng và núi Ba Thê khoảng

Trang 28

vài cây số theo hướng bắc – tây bắc rồi đi lệch hẳn về phía Bảy Núi và Châu Đốc Khi đến Ba Thê, kênh này không bị gián đo ạn mà chảy men bờ góc đông bắc của vòng thành Oc Eo, ngả hẳn về phía đông nam ở giữa kênh Rạch Sỏi và kênh Long Xuyên –

Rạch Giá (đoạn này còn gọi là “Rộc Trời Xanh”), gần đến Rạch Sỏi, kênh này tiếp tục

chảy hơi lệch về phía tây về vùng di chỉ Giồng Đá Cùng với kênh số 16, đây là 1 trong

2 đường thủy lộ chủ chốt của hệ thống giao thông thủy vùng Transbassac ở phía đông cụm Bảy Núi

+ Kênh 5: là đoạn sông Châu Đốc do Pierre Paris định vị đào từ Phnom Ankor

đến khúc vòng của Mõm Con Heo (Mat Jruk) của Châu Đốc

+ Kênh 6: là kênh Vĩnh Tế, với khởi đầu từ Mõm Con Heo (Mat Jruk) – Châu

Đốc

+ Kênh 7-10: là 4 đoạn kênh tỏa từ chân phía tây Núi Sam từng được Pierre Paris

nhận diện nhưng không đánh số Trong đó, kênh số 8 trên các bản đồ gọi là Rạch Kinh

+ Kênh 11: là các đoạn kênh lớn từng được Pierre Paris nhận diện phát nguyên từ

vùng Tri Tôn, chảy từ tây sang đông Theo L.Malleret, đây có thể là kênh Mắc Cần Dưng cũ, rồi đến năm Gia Long thứ 16 (1817), được sử dụng đoạn dài để đào kênh mới

+ Kênh 12: là đường thủy lộ từ Long Xuyên lên Rạch Giá vốn có từ trước khi sửa

sang dưới triều vua Gia Long

+ Kênh 13-14: là 2 đoạn kênh từng được Pierre Paris nhận diện nằm về phía nam

kênh Mắc Cần Dưng cũ, với 1 đoạn thẳng góc với kênh Mắc Cần Dưng

+ Kênh 15: là đoạn kênh Ba Thê cũ từng được Pierre Paris nhận diện đi từ chân

núi đến thủy lộ Long Xuyên – Rạch Giá (con kênh được ghi trên các bản đồ về sau)

+ Kênh 16: là con kênh cổ chảy từ bể vào phía đông vùng Ba Thê từng được Pierre Paris nhận diện Đó là Lung Lớn hoặc Lung Giếng Đá – con “kênh trục” (canal

d’axe) của thành phố cổ Oc Eo, nối liền thành phố Oc Eo với vùng dân cư cổ Tà Kêk

(trên các bản đồ đều ghi phần nam Lung Lớn) Từ bể vào, Lung Lớn băng qua thành phố Oc Eo rồi đi hẳn về phía bắc trong chiều dài khoảng 20km rồi men bờ vùng di chỉ Giầy Mé tiến thẳng về vùng Tráp Đá Từ đây, Lung Lớn nối liền với đoạn phía đông của kênh Mắc Cần Dưng và tiến thẳng đến Sông Bassac Cùng với kênh số 4, đây là 1 trong 2 đường thủy lộ lớn và chính yếu của hệ thống giao thông thủy vùng Transbassac

ở phía đông cụm Bảy Núi

+ Kênh 17: là đoạn kênh cuối cùng từng được Pierre Paris nhận diện đi từ xóm

Nhà Thờ trên kênh Rạch Giá – Long Xuyên (vĩ độ Bắc 11°20) đến gần kênh Rạch Sói vùng Bassac, hướng về ngôi chùa nhỏ dựng nơi kênh này giáp với sông Xéo Vinh và Rạch Chông Sự

Đây là thủy lộ chạy song song với bờ biển từ Mốp Văn về (đoạn này còn gọi là lung Mốp Văn ghi trên các bản đồ) xuyên qua các con kênh 16 và 18 kéo dài cỡ 30km hướng thẳng đến Giếng Đá

+ Kênh 18: Đây là Rạch Ong Chạy, một con kênh nằm thẳng góc với một đầu

Lung Lớn chạy gần song song với bờ bể và chạy qua vùng di chỉ Tà Kêk Rạch này còn nhận rõ trên mặt đất và ghi trên bản đồ (tỷ lệ xích 1/100.000) cắt với đường kéo dài của Rộc Ô Kê gần bờ và về phía tây kênh Long Xuyên – Rạch Giá

+ Kênh 19: Đây là Lung Lạng hoặc “Đường Trâu Đi” (Phlw Krapi), một nhánh

kênh của Lung Lớn chảy về phía đông bắc và có đoạn kéo dài lên mạn đông nam Núi Chóc, có thể là đường liên lạc giữa thành phố Oc Eo với khu di chỉ Định Mỹ

Trang 29

+ Kênh 20: Đây là con kênh nằm về phía nam đình Ba Thê khoảng 300m, đối diện

với địa phận nhà điền chủ Bùi Hữu Đạt, kéo dài khoảng 10km đến tận địa phận Noblet – vùng di chỉ Định Mỹ Kênh này chảy theo hướng nam – tây nam đến bắc – đông bắc, xuyên qua kênh 21 hướng bắc nam

+ Kênh 21: Đây là Rộc Trà Kên (Rao Trà Gên) ghi trên các bản đồ, con kênh chảy

xuyên qua kênh từ Vọng Thê đến Núi Sập, ở tọa độ: 11°402 vĩ độ Bắc – 114°325 kinh

độ Đông, kéo dài lên phía bắc và ở lộ diện về phía nam bên kia kênh Long Xuyên – Rạch Giá, dài khoảng 8km

+ Kênh 22: Đây là kênh chảy qua vùng di chỉ Định Mỹ từ phía bắc – đông bắc về

nam – tây nam, nằm ven bờ vùng Tráp Đá về phía bắc (nếu kéo dài sẽ vuông góc với kênh 20 từ Ba Thê về)

+ Kênh 23-24: Đây là 2 đoạn kênh ghi trên các bản đồ (tỷ lệ xích: 1/100.000 và

1/25.000 của Sở Địa Dư) trong vành đai nước bao quanh núi Ba Thê và nếu kéo dài sẽ thẳng góc với nhau ở phía tây bắc Ba Thê Đoạn đầu là kênh 23 chảy qua phía bắc cách núi Ba Thê khoảng 1km hướng đông tây từ mỏm phía tây Núi Tượng qua con kênh Ba Thê rồi hơi ngả về phía bắc Đoạn kênh 24 chảy theo hướng bắc nam cách núi Ba Thê khoảng 3km về phía tây

Đoạn kênh 24 nhận rõ nhất về phía nam kênh Ba Thê và từ đây ngả về hướng Tà Kêk, chạy gần song song với lung Mốp Văn

+ Kênh 25: Đây là Rộc Cựa Gà, đoạn kênh tiếp xúc với kênh số 4 ở tọa độ:

11°196 vĩ độ Bắc – 114°320 kinh độ Đông

+ Kênh 26: Đây là đoạn kênh chảy từ đông sang tây dài khoảng 12km, khởi đầu từ

khu di chỉ Đá Nổi về phía tây, gần như nối liền với vùng dân cư cổ Tà Kêk

+ Kênh 27: Đây là đoạn kênh chảy từ triền đông Núi Sập hướng về Oc Eo có ghi

nhận trên bản đồ 1/25.000

+ Kênh 28: Đây là Rạch Cây Chanh, con kênh cổ khá thẳng, với dấu tích của cả

dải vỏ sò nằm ven đôi bờ

Hệ thống kênh rạch nhân tạo được Pierre Paris và Louis Mallret nhận diện trên không ảnh và kiểm chứng bước đầu trên mặt đất ghi nhận mạng lưới dẫn – tiêu thủy ở miền tây Sông Hậu, với sự đan xen các đường thủy lộ nối liền 4 vùng dân cư có tầm quan trọng đặc biệt: Oc Eo, Tà Kêk, Đá Nổi và Định Mỹ

Trong vùng quan trọng nhất – thành phố cổ rộng lớn Oc Eo, xưa kia vốn là nơi tiếp xúc các đường giao lưu thông thương trao đổ hàng hóa lớn, với cả mạng lưới các kênh phụ nối liền đô thị này với nhiều hướng: Các kênh số 19-20 nối với Núi Sập và Định Mỹ; Kênh số 16 thông ra bể và kéo dài lên Mắc Cần Dưng và sông Bassac; Kênh

số 4 liên lạc với Angkor Borei và dường như còn kéo dài đến tận vùng Giồng Đá, cùng hướng với Trăm Phố Thành phố Oc Eo còn thông với trung tâm Đá Nổi và miền Giồng

Đá, theo quan sát của L.Malleret có thể là nơi hội tụ 2 thủy lộ lớn tứ Angkor Borei tới (kênh số 4) và từ Mốp Văn đến (kênh số 17) Mạng lưới đường thủy lộ này bị biến đổi nhiều sau khi thành phố cổ Oc Eo điêu tàn và việc canh tác mới thời cận – hiện đại đòi hỏi yêu cầu tiêu thủy – dẫn thủy khác quá vãng Dù vậy, những kết quả điều tra và khai

đào trên thực địa cả vùng này ghi nhận tài năng kiềm chế sức nước của “những nhà trị

thủy” (Hydrauliciens) tài giỏi hiện hữu từ ngàn xưa [505a ]

Hệ thống kênh đào còn tiếp tục hình thành từ cuối thế kỷ XIX đến ngày nay, với các dòng chảy lớn như Kênh Thần Nông nằm dọc huyện Phú Tân nối kênh Vĩnh An đến rạch Cái Đầm (đào 6 năm từ 1882, theo thiết kế dài 25km, rộng 6m, sâu 3m); Kênh

Trang 30

Vàm Xáng đào từ 1914-1918 ở cách kênh Vĩnh An 4km về thượng lưu, nhằm tiếp nước Tiền Giang cho Hậu Giang, tạo trục thủy thay kênh Vĩnh An bị bồi lắng nối Tân Châu – Châu Đốc (ban đầu kênh dài 9km, rộng 30m, sâu 6m; ngày nay, sau sông Vàm Nao, kênh Vàm Sáng rộng hơn 100m, sâu hơn 20m, tải lũ tối đa hơn 3000m³/s = 15 lần kênh Vĩnh An = 10% lưu lượng lớn nhất của Tiền Giang qua mặt cắt Tân Châu = 36% lưu lượng lớn nhất của Hậu Giang qua mặt cắt Châu Đốc); hệ thống kênh trục Rạch Giá –

Hà Tiên với các kênh nhánh tiêu nước ra biển như Vàm Răng, Luỳnh Quỳnh, Vam Rầy, Kiên Lương và các kênh Tám Ngàn, Tri Tôn, Ba Thê, Cái Sắn, Mặt Cần Dưng (đào khơi từ 1918-1930, với vài chục triệu m³ đất), đào kênh Cần Thảo, Bốn Tổng,kênh Đào và khơi nhiều dòng chảy từ 1931-1942; đào kênh Mới nối kênh Vĩnh Tế với kênh Tám Ngàn từ 1957-1960; đào nối kênh Trà Sư với kênh Vĩnh Tế 1972; đào thêm và

nạo vét, mở rộng toàn bộ hệ thống từ 1975 đến nay v.v… (H.11-14) Theo thống kê

của Bùi Đạt Trâm (2003), sau gần 200 năm xây dựng, trong địa bàn tỉnh An Giang tính đến giữa năm 1999, hệ thống kênh đào nhân tạo dài tới 5171km, đạt mật độ 1,5km/km², năng lực giao lưu nước lớn nhất vào mùa lũ khoảng 7500m³/s và nhỏ nhất vào mùa kiệt còn 1650m³/s; trong đó: hệ thống kênh trục tạo nguồn (cấp I) có tổng chiều dài gần

C LỊCH SỬ THÀNH TẠO & PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT AN GIANG

Theo các nhà địa chất học, hàng triệu năm về trước, trong thời kỳ Cánh Tân (Pleistocène), hàng loạt các hoạt động tân kiến tạo đã làm vỏ trái đất khu vực này bị nứt

nẻ nhiều nơi Đặc trưng của những chuyển động này không gây nên sự uốn nếp mà chủ yếu tạo ra những vết đứt gẫy, sụt lún không đều và diễn ra từng bậc Hậu quả của các chuyển động này đã hình thành 2 khối nâng lớn ở Nam Trung Bộ (Việt Nam) và Campuchia mà phần đệm giữa chúng là khối sụt lún đứt gẫy gồm những vùng trũng rộng tới vài chục km, kéo dài hàng trăm km theo hướng tây bắc – đông nam đến tận Biển Đông, tạo lòng cho hệ thống sông Cửu Long hình thành và phát triển Từ đây, các vật liệu trầm tích lòng sông như sạn, sỏi, cát, bùn, sét từ thượng lưu đã được dòng nước mang xuống lấp đầy phần đáy của thung lũng, tạo nên nhóm trầm tích đáy lòng sông Sau đó là đợt biển tiến tràn ngập khắp cả vùng Nam Bộ, lấp đầy các thung lũng sông và

mở rộng trầm tích biển trong suốt thời kỳ Pleistocène kéo dài đến thời điểm 10.000 năm cách nay thì chấm dứt Sự kết thúc này trùng khớp với thời điểm biển thoái

11.000-để hoàn tất nhóm trầm tích Pleistocène mà ngày nay gọi là “phù sa cổ” Dấu tích thời

kỳ biển tiến còn để lại các bậc thềm biển cổ ở những vùng xung quanh Núi Cấm, Núi Dài, Núi Phú Cương (huyện Tịnh Biên) và kết quả biển tiến đã để lại nhóm đất trầm tích hay gặp ở vùng Vĩnh Gia, Lạc Quới Tại Long Xuyên, lớp trầm tích tuổi Pleistocène tìm thấy ở độ sâu 30-40m

Trong suốt thời kỳ hải xâm, vùng đất An Giang ngày nay bị chìm ngập trong nước biển Đến cuối thời kỳ Cánh Tân và trong suốt thời kỳ băng hà sau cùng của địa cầu (cách nay khoảng 10.000 năm), nước biển dần hạ thấp để lộ ra vùng đất rộng lớn mà đỉnh điểm của thời kỳ biển thoái này là đường bờ biển kéo sang tận nam Philippines, Indonesia; với nhiều chứng tích lưu vực sông ngòi dưới đáy sâu vịnh biển được phát hiện Các kết quả nghiên cứu về cổ sinh vật học (bào tử phấn hoa, trùng lỗ) và thạch học trầm tích dưới đáy biển Vịnh Thái Lan ở bờ biển Đông Mã Lai đã phát hiện dấu hiệu của trầm tích rừng sú vẹt và cả đầm lầy nước ngọt bị chôn vùi bên dưới lớp trầm

Trang 31

lãnh thổ rộng lớn Nam Bộ kéo đến tận bậc thềm Biển Đông chịu ảnh hưởng của quá trình xâm thực bào mòn, bề mặt phong hóa xâm thực thường gặp ở độ sâu 30-50m trong các lỗ khoan địa chất An Giang; các thung lũng sông cổ cũng được hình thành và hoạt động của sông đóng vai trò chủ yếu, mực nước biển thấp hơn khoảng 100m và đường bờ biển cổ nằm ở độ sâu 50-60m so với với mực nước ngày nay

Vào thời Toàn Tân (Holocène), cách nay khoảng 10.000 – 6000 năm, băng hà làm mực nước các đại dương dâng lên, biển dần tiến vào đồng bằng phủ những vùng địa hình thấp hình thành chế độ biển nông ven bờ Biển tiến cực đại vào giữa Holocène trên toàn đồng bằng, để lại trên các vách đá vôi Hà Tiên dấu mài mòn của sóng kho ét sâu

vào đá – những vết khuyết ngang cao độ 4-5m của các “hang chân sóng” Cả vùng lãnh

thổ An Giang khi đó đều ngập trong nước biển, ngoại trừ vùng đồi núi Tri Tôn – Tịnh Biên nổi lên như các cụm đảo Kết quả giám định tuổi tuyệt đối C14 trên các mẫu vỏ sò

mức cực đại, biển dừng một thời gian rồi từ từ rút, để lại trong vùng An Giang lớp trầm tích bùn nhão màu xám xanh mà ngày nay còn thấy hầu hết quanh vùng Núi Chóc, Ba Thê, xung quanh Núi Cô Tô, kênh Trà Sư v.v… Tầng trầm tích biển Holocène này nằm cách mặt đất hiện tại từ vài mét (thậm chí chỉ vài tấc như ở Núi Chóc, Vọng Thê, Tân Tuyến) đến hàng chục mét Cũng thời kỳ này, do ảnh hưởng quá trình hải thoái và đặc biệt là hoạt động mạnh mẽ của hệ thống đứt gẫy Tiền Giang và Hậu Giang, nhiều dòng chảy đổi dòng sang hướng đông, để lại nhiều dòng tử giang mà ngày nay gọi là

các “sông cổ” với dấu tích rất rõ qua lớp trầm tích giàu hữu cơ xen lẫn các vỉa than bùn

[ 180; 391; 620; 879; 883-885 ]

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, rừng đầm lầy phát triển mạnh, đặc biệt dọc theo các thung lũng sông cổ và vùng vịnh nông Sự dồi dào thực vật để lại những lớp than bùn khá rộng lớn ở vùng phía tây An Giang Cùng với tiến trình hải thoái, các cửa sông hình thành, phù sa bồi lấp dần những vùng đất trũng ven dòng, với nhiều nhánh sông bị cắt dòng để lại không ít đoạn sông chết vẫn còn được nhận rõ trên ảnh vệ tinh Cách nay khoảng 4000 năm, biển lùi dần nhường chỗ cho sông ngòi hoạt động, mở rộng châu thổ mạnh mẽ về phía đông nam, cả vùng Tứ Giác Long Xuyên cũng dần tiến xuống phía nam, hình thành nên các trầm tích sông – biển hỗn hợp, đặc biệt khu vực từ Sông Hậu đến vùng Tri Tôn – Tịnh Biên, mặt bằng châu thổ mênh mông dần tạo hình

từ những đầm lầy được bồi đắp và lấn dần ra biển theo hướng đông nam Và con người tiền sử cũng bắt đầu làm quen với vùng địa hình này từ đầu Thiên kỷ I BC, từ những

vùng vùng đồi núi đất đá Tri Tôn – Tịnh Biên về Núi Sập – Ba Thê v.v… (H.15-18)

D ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH – ĐỊA MẠO

Châu thổ sông Mekong có đỉnh tại Kongpong Chàm (nếu dùng 2 chỉ tiêu: nơi ảnh hưởng của thủy triều gần như không còn và là nơi bắt đầu xuất hiện dòng lũ tràn để xác định đỉnh châu thổ) nằm phía dưới Kratier 113km và cách Biển Đông 432km, được hình thành từ biển nông, do sức bồi đắp phù sa của sông Mékong tạo nên Nhưng sông Mékong còn có đỉnh tại Phnom Penh (nếu dùng chỉ tiêu sông Mékong phân dòng lần thứ nhất để xác định đỉnh châu thổ) Từ xa xưa, nhân dân ta gọi đoạn sông Mékong sau khi phân dòng là SÔNG CỬU LONG và châu thổ Mékong có đỉnh phân dòng lần thứ nhất là ĐỒNG BẰNG CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG, với diện tích khoảng 6 triệu

ha, riêng phần diện tích thuộc lãnh thổ Việt Nam chiếm tới gần 4 triệu ha Khi chưa có bàn tay con người cải tạo, khai thác, Đồng bằng Châu thổ sông Cửu Long có rất nhiều

Trang 32

đầm lầy và lòng sông chia cắt Nước lũ thường niên theo sông tràn ngập đồng bằng, bùn cát hạt thô lắng đọng lại ven sông, phù sa hạt mịn theo dòng nước bồi lắng nơi xa hơn; gần sông bồi nhiều tạo thế đất cao, xa sông bồi ít hình thành các ô trũng, ao hồ và đầm lầy tự nhiên, những vùng nước lũ chảy xiết ít bồi tụ hơn vùng chảy chậm Dần dần diện mạo châu thổ trở nên lồi lõm với các gò đất cao hẹp kéo dài và các vũng trũng thấp rộng lớn mà vết tích ngày nay còn rõ ở vùng Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười Ở An Giang, ngoài đồng bằng do phù sa sông Mékong trầm tích tạo nên, còn có vùng đồi núi Tri Tôn – Tịnh Biên, xét tổng quát ở đây 2 dạng địa hình chính là đồi núi

và đồng bằng

@ NÚI ĐỒI

Đồi núi ở An Giang là cụm núi cuối cùng của dãy Trường Sơn, mang đặc điểm địa chất có nhiều nét tương đồng với các thành tạo trầm tích và magma vùng Nam Trường Sơn Chúng gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau, phân

bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km; khởi đầu từ xã Phú Hữu (An Phú) qua

xã Vĩnh Tế (Thị xã Châu Đốc), bao trùm gần hết diện tích 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, về tận xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập (Thoại Sơn) Trên góc độ địa hình, đồi núi An Giang gồm 2 dạng chính:

+ Dạng núi cao và dốc: hình thành trong các thời kỳ tạo sơn mãnh liệt, núi cao và

có độ dốc lớn hơn 25°, các thành tạo chủ yếu có nguồn gốc magma, phần lớn đá cứng với nhiều pha tạo lập khác nhau (đá núi lửa và đá granitoit có tuổi Jura thượng, đá granite có tuổi Creta) Do độ cao và dốc lớn, tạo điều kiện cho nước mưa tập trung nhanh dồn vào các khe rãnh chảy xuống chân núi với tốc độ gia tăng hình thành các trận lũ quét Dưới tác động dòng chảy kiểu này dần dần các khe rãnh bị đào khoét sâu,

mở rộng và kéo dài từ đỉnh núi cao chạy ngoằn nghèo xuống chân núi và đổ nước vào các cánh đồng nghiêng ven núi Dạng núi cao dốc ở An Giang điển hình như các núi Cấm, Cô Tô, Dài v.v…

+ Dạng núi thấp và thoải: hình thành từ các thành tạo trầm tích và phun trào có

tuổi Trias và Creta, độ dốc nhỏ dưới 15°, độ cao thấp và ít khe suối, thậm chí một số núi có lớp thành tạo bề mặt phần lớn là đất Ở An Giang phần lớn các núi thấp nằm liền hoặc gần kề các núi lớn như Núi Nam Qui, Núi Sà Lon, Núi Đất v.v…

Về độ cao, căn cứ vào sự phân bố phần nổi của núi trên mặt bằng chung, các nhà địa chất học ghi nhận ở An Giang hình thành 6 cụm và 2 núi độc lập như sau:

+ Cụm Núi Sập: gồm 4 núi là Núi Sập (độ cao 85m và chu vi khoảng 3800m)

(H.19a), Núi Nhỏ (độ cao 76m và chu vi khoảng 2200m), Núi Bà (độ cao 55m và chu

vi khoảng 280m) và Núi Cậu (độ cao 34m và chu vi khoảng 240m) thuộc địa phận thị trấn Núi Sập (Thoại Sơn

+ Cụm Núi Ba Thê: gồm 5 núi là Núi Ba Thê (độ cao 221m và chu vi khoảng

4220m) (H.19b), Núi Nhỏ (độ cao 63m và chu vi khoảng 700m) thuộc địa phận xã

Vọng Thê, huyện Thoại Sơn và Núi Tượng (độ cao 60m và chu vi khoảng 970m), Núi Trọi (độ cao 21m và chu vi khoảng 400m) và Núi Chóc (độ cao 19m và chu vi khoảng 550m) thuộc địa phận xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn

+ Cụm Núi Phú Cường: gồm 13 núi ở huyện Tịnh Biên là Núi Phú Cường (Bạch

Hổ Sơn) (độ cao 282m và chu vi khoảng 9500m) thuộc địa phận xã An Nông; Núi Dài (Ngũ Hồ Sơn) (độ cao 265m và chu vi khoảng 8751m) thuộc địa phận xã An Phú; Núi

Rô (độ cao 149m và chu vi khoảng 2250m) thuộc địa phận xã An Cư; Núi Két (Anh Vũ Sơn) (độ cao 266m và chu vi khoảng 5250m) thuộc địa phận xã Thới Sơn; Núi Trà Sư

Trang 33

(Kỳ Lân Sơn) (độ cao 146m và chu vi khoảng 1750m) thuộc địa phận thị trấn Nhà Bàn; Núi Bà Đắt (độ cao 103m và chu vi khoảng 1075m) thuộc địa phận xã Văn Giáo; Núi Cậu (độ cao 100m và chu vi khoảng 1900m) và Núi Tà Nùng (độ cao 59m và chu vi khoảng 1450m) thuộc địa phận xã Xuân Tô; Núi Bà Vải (độ cao 146m và chu vi khoảng 1400m), Núi Đất Lớn (độ cao 120m và chu vi khoảng 2120m), Núi Đất Nhỏ (độ cao 80m và chu vi khoảng 450m), Núi Mo Tấu (độ cao 80m và chu vi khoảng 270m), Núi Chùa (độ cao 60m và chu vi cỡ 380m) thuộc địa phận xã Nhơn Hưng

+ Cụm Núi Cấm: gồm 7 núi nằm giáp địa bàn 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên,

trong huyện Tịnh Biên có: Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) (độ cao 705m và chu vi khoảng 28600m) và núi Cà Lanh (độ cao 41m và chu vi khoảng 1225m) thuộc địa phận xã An Hảo; Núi Bà Đội (độ cao 261m và chu vi khoảng 6075m) thuộc địa phận xã Tân Lợi); Núi Bà Khẹt (độ cao 129m và chu vi khoảng 1380m) thuộc địa phận xã Chi Lăng; Núi

Ba Xoài (độ cao 58m và chu vi khoảng 550m) thuộc địa phận xã An Cư; trong huyện Tri Tôn có: Núi Nam Qui (độ cao 213m và chu vi cỡ 8875m) và Núi Tà Lọt (độ cao 69m và chu vi cỡ 870m) thuộc địa phận xã Châu Lăng

+ Cụm Núi Dài: thuộc địa phận huyện Tri Tôn, gồm 4 núi: Núi Dài (Ngọa Long

Sơn) (độ cao 554m và chu vi khoảng 21625m) thuộc địa phận xã Lê Trì; Núi Tượng (Liên Hoa Sơn) (độ cao 145m và chu vi khoảng 3825m) và Núi Nước (Thủy Đài Sơn) (độ cao 54m và chu vi 1070m) thuộc địa phận xã Ba Chúc; Núi Sà Lon (độ cao 102m

và chu vi khoảng 2325m) thuộc xã Lương Phi

+ Cụm Núi Cô Tô: thuộc địa phận huyện Tri Tôn, gồm 2 núi: Núi Cô Tô (Phụng

Hoàng Sơn) (độ cao 614m và chu vi khoảng 14375m) thuộc địa phận xã Cô Tô và Núi

Tà Pạ (độ cao 102m và chu vi khoảng 10225m) thuộc địa phận xã An Tức 2 núi nằm độc lập là Núi Nổi ở Phú Hữu (An Phú) với độ cao 10m và chu vi khoảng 320m và Núi Sam (Học Lãnh Sơn) ở Vĩnh Tế (Thị xã Châu Đốc) với độ cao 228m và chu vi khoảng

5200m (Bảng V)

Mỗi cụm gồm nhiều núi liên kết hoặc đứng độc lập rời nhau, có khi mỗi núi còn tạo lập nhiều đỉnh cao độ khác nhau; ví như Núi Cấm lớn nhất có tới 6 đỉnh cao độ 142-705m, Núi Dài ở Tri Tôn (Ngọa Long Sơn) có 8 đỉnh cao độ 134-554m), Núi Dài Năm Giếng ở Tịnh Biên (Ngũ Hổ Sơn) có 5 đỉnh cao độ 148-265m), Núi Phú Cường có 5 đỉnh cao độ 153-282m, Núi Nam Qui có 3 đỉnh cao độ 172-213m, Núi Tượng có 2 đỉnh cao độ 100-145m, Núi Két có 2 đỉnh cao độ 112-266m Các cụm núi Cấm – Dài – Phú Cường – Cô Tô liền mạch trải dài kho ảng 35km, rộng khoảng 17km với diện tích gần

600km² được coi là vùng đồi núi “địa linh” Thất Sơn (Bảy Núi) chứa đựng nhiều di sản

lịch sử văn hóa – tôn giáo – nghệ thuật và huyền thoại đầy bí ẩn từng ghi dấu trong

nhiều bộ sử như: “Gia Định Thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức (viết trước 1820)

[ 897], “Đại Nam Nhất thống chí” (viết sau 1865) và các sách khác của Quốc sử quán

Cụ thể: Trong cụm Núi Sập ở thị trấn Núi Sập (huyện Thoại Sơn) gồm các núi

như: Núi Sập (Thoại Sơn, Thụy Sơn, Núi Lấp, Lạp Sơn, Lập Sơn) cao khoảng 85m, chu

vi khoảng 3800m; Núi Nhỏ cao khoảng 76m, chu vi khoảng 2200m; Núi Bà cao

khoảng 55m, chu vi khoảng 280m; Núi Cậu (Bảo Sơn) cao khoảng 34m, chu vi khoảng

240m Trong cụm núi Ba Thê ở các xã Vọng Thê và Vọng Đông (huyện Thoại Sơn)

gồm các núi như: Núi Ba Thê cao khoảng 221m, chu vi khoảng 4220m; Núi Nhỏ (Tà

Chiếu, Trà Chiếu) cao khoảng 63m, chu vi khoảng 700m; Núi Tượng (Trà Nghinh) cao

khoảng 60m, chu vi khoảng 970m; Núi Trọi cao khoảng 21m, chu vi khoảng 400m;

Trang 34

Núi Chóc cao khoảng 19m, chu vi khoảng 550m Trong cụm núi Phú Cường ở các xã

An Nông, An Phú, An Cư, Thới Sơn, Văn Giáo, Xuân Tô, Nhơn Hùng và thị trấn Nhà

Bàn (huyện Tịnh Biên) gồm các núi như: Núi Phú Cường (Bạch Hổ Sơn) cao khoảng 282m, chu vi khoảng 9500m; Núi Dài (Ngũ Hổ Sơn) cao khoảng 265m, chu vi khoảng 8751m; Núi Rô cao khoảng 149m, chu vi khoảng 2250m; Núi Két (Anh Vũ Sơn) cao khoảng 266m, chu vi khoảng 5250m; Núi Trà Sư (Kỳ Lân Sơn) cao khoảng 146m, chu

vi khoảng 1750m; Núi Bà Đất cao khoảng 103m, chu vi khoảng 1075m; Núi Cậu cao khoảng 100m, chu vi khoảng 1900m; Núi Tà Nùng cao khoảng 59m, chu vi khoảng 1450m; Núi Bà Vải cao khoảng 146m, chu vi khoảng 1400m; Núi Đất Lớn cao khoảng 120m, chu vi khoảng 2120m; Núi Đất Nhỏ cao khoảng 80m, chu vi khoảng 450m; Núi

Mo Tấu cao khoảng 80m, chu vi khoảng 270m; Núi Chùa cao khoảng 60m, chu vi khoảng 380m

Trong cụm núi Cấm thuộc các xã An Hảo, Tân Lợi, Chi Lăng, An Cư (huyện Tịnh Biên) có các núi như: Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) cao khoảng 705m, chu vi khoảng 28600m; Núi Cà Lanh cao khoảng 41m, chu vi khoảng 1225m; Núi Bà Đội cao khoảng 261m, chu vi 6075m; Núi Bà Khẹt cao khoảng 129m, chu vi khoảng 1380m; Núi Ba Xoài cao khoảng 58m, chu vi khoảng 550m và thuộc xã Châu Lăng (huyện Tri Tôn) có các núi: Núi Nam Qui cao khoảng 213m, chu vi khoảng 8875m; Núi Tà Lọt cao khoảng 69m, chu vi khoảng 870m

Trong cụm Núi Dài ở các xã Lê Trì, Ba Chúc và Lương Phi (huyện Tri Tôn) có các núi: Núi Dài (Ngọa Long Sơn) cao khoảng 554m, chu vi khoảng 21625m; Núi Tượng (Liên Hoa Sơn) cao khoảng 145m, chu vi khoảng 3825m; Núi Nước (Thủy Đài Sơn) cao khoảng 54m, chu vi khoảng 1070m; Núi Sà Lon cao khoảng 102m, chu vi khoảng 2325m

Trong cụm Núi Cô Tô ở các xã Cô Tô, An Tức (huyện Tri Tôn) có các núi: Cô Tô

(Phụng Hoàng Sơn, Tô Sơn) cao khoảng 614m, chu vi khoảng 14375m và Núi Tà Pạ

cao khoảng 102m, chu vi khoảng 10225m Ngoài ra còn 2 ngọn độc lập là Núi Nổi (xã

Phú Hữu, huyện An Phú) cao khoảng 10m, chu vi khoảng 320m và Núi Sam (Học Lãnh

Sơn) (xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc) cao khoảng 228m, chu vi khoảng 5200m (Bảng V)

[ 55 ]

@ ĐỒNG BẰNG Xét về nguồn gốc hình thành, địa hình An Giang có 2 dạng chính:

+ Đồng bằng phù sa: có nguồn gốc trầm tích lâu dài của phù sa sông Mékong Do

môi trường và điều kiện trầm tích khác nhau mà hình thành nên từ những thảm rừng tràm mênh mông, những đồng lau sậy đến các cánh đồng lũ hở, lũ kín, cồn bãi, gò, gờ,

đê sông, đầm lầy… rất phức tạp, chia cắt bởi hệ thống kênh đào, đê bao, các tuyến giao thông bộ và các khu dân cư tập trung Trên đại thể, địa hình đồng bằng phù sa An Giang có các đặc trưng cơ bản sau:

- Độ nghiêng nhỏ (dốc 0,5-1cm/km): theo 2 hướng chính từ vùng biên giới đến lộ

Cái Sắn và từ bờ sông Tiền đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang

- Độ cao khá thấp và khá bằng phẳng: với 3 cấp chính: cao hơn 3m nằm ven sông

Hậu, sông Tiền, các khu vực đất thổ cư hoặc bờ kênh đào; cao 1,5-3m, nằm ở khu giữa sông Tiền – sông Hậu thuộc các huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới; cao dưới 1,5m: phổ biến nhất ở hữu ngạn sông Hậu gồm Thành phố Long Xuyên, thị xã

Trang 35

Châu Đốc, các huyện Tho ại Sơn, Châu Thành, Châu Phú, một phần diện tích các huyện miền núi Tri Tôn, Tịnh Biên

Về hình dạng, đồng bằng phù sa An Giang có 3 dạng chính và 1 dạng phụ sau:

- Dạng cồn bãi: là các cù lao có hình dạng như chiếc thuyền úp giống cù lao Mỹ

Hòa Hưng, cù lao Tiên, Phó Ba (Long Xuyên), Ba Hòa (Châu Thành), Bình Thủy, Khánh Hòa (Châu Phú), Vĩnh Trường (An Phú) của sông Hậu và cù lao Giêng (Chợ Mới), cù lao Tây, cù lao Ma, Cái Vừng, Cồn Cỏ (Tân Châu) của sông Tiền

- Dạng lòng chảo: địa hình ở 2 bờ sông cao và thấp dần vào trong đồng, điển hình

khu giữa sông Tiền – sông Hậu, đặc biệt vùng huyện Phú Tân với 3 mặt sông bao bọc

- Dạng hơi nghiêng: tập trung phía hữu ngạn sông Hậu thuộc vùng trũng Tứ giác

Long Xuyên, địa hình cao từ bờ sông Hậu và thấp dần vào nội đồng đến tận vùng ranh giới giáp với tỉnh Kiên Giang

- Dạng gợn sóng: dạng phụ nằm trong khu vực dạng lòng chảo, được hình thành

do sự kết nối đan xen các bãi bồi ven các sông nhánh (nhân dân địa phương gọi là

“xép”) và các rạch tự nhiên đã bị phù sa sông bồi lấp Dạng địa hình này không nhiều,

tập trung ở cù lao Vĩnh Trường (An Phú), các xã Vĩnh Xương, Vĩnh Hòa (Tân Châu)

+ Đồng bằng ven núi: về nguồn gốc hình thành, đồng bằng ven núi An Giang

thuộc 2 kiểu dạng chính như sau:

- Kiểu Deluvi (sườn tích): hình thành trong quá trình phong hóa và xâm thực từ

các núi đá, sau đó được nước mưa bào mòn và rửa trôi, rồi được dòng chảy lũ theo các khe suối chuyển tải xuống các chân núi, tích tụ lâu ngày mà thành Kiểu đồng bằng này

có đặc tính là hẹp và nghiêng (từ 2˚ đến 5˚), bị chia cắt bởi các khe suối và rãnh nhỏ, cao độ 5-10m và không được bồi đắp phù sa sông hàng năm Kiểu này tập trung quanh chân các núi Cô Tô, núi Dài và núi Cấm

- Kiểu đồng bằng phù sa cổ: có nguồn gốc từ phù sa sông trong thời kỳ

Pleistocène với đặc tính có nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau Trên mỗi bậc thang khá bằng phẳng, hầu như không có độ nghiêng, chênh lệch giữa các bậc thang dao động 1-5m Kiểu này tập trung chủ yếu ở các xã An Cư và Vĩnh Trung (Tịnh Biên)

E ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT

Về đặc điểm địa chất, các thành tạo đồi núi An Giang có những nét tương đồng với vùng Nam Trường Sơn với các thành tạo trầm tích và magma Các thành tạo magma nơi đây bao gồm các loạt đá núi lửa tuổi Jura thượng; loạt đá Granitoit tuổi Jura thượng; loạt đá Granite hồng tuổi Creta; loạt đá Micro-granite tuổi Creta Loạt đá núi lửa tuổi Jura thượng lộ ra ở phía đông Núi Dài, phía tây vồ Bồ Hong của Núi Cấm, phía nam núi Phú Cường (Tà Péc), phía bắc đồi Sà Lon; thành phần chủ yếu gồm andesite

và kết dính mảnh vỡ, andesite màu xám đen, xám xanh đôi khi phối lục, đá cấu tạo dòng chảy, đôi khi cấu tạo hạt nhân lấp đầ bởi carbonate và thạch anh thứ sinh, kho áng vật phụ là apatite và ít quặng

Về thành phần thạch học, đá có hàm lượng SiO² = 57-58%, độ kiềm trung bình nhưng tăng cao dọc theo ranh giới tiếp xúc với các đá xung quanh Tại đồi thấp cạnh Phum Sà Lon có tầng cuội kết cơ sở của hệ tầng nằm ngay dưới các lớp mảnh vỡ

andesite kết dính (tuf andesite) và phủ không chỉnh hợp của “hệ tầng Dầu Tiếng”

Loạt đá Granitoit tuổi Jura thượng hình thành do các hoạt động mãnh liệt của vỏ trái đất cách nay gần 153 triệu năm ở các khối Núi Cô Tô, Núi Cấm, bao gồm 2 pha:

Trang 36

pha đầu là các nhóm đá có thành phần thạch học gồm diorite, diorite-pyrocene, pha sau gồm các loại đá granite màu xám trắng chứa nhiều mica và horblen, chứa nhiều biotite màu đen tuyền khi bị phong hóa chuyển thành mica vàng (plogopite) lấp lánh như vảy vàng xuất lộ dọc theo lòng suối Loạt đá Granite hồng tuổi Creta là các pha xâm nhập

thuộc “phức hệ Đèo Cả”: Pha 1 là đá màu phớt hồng với các ban tính lớn là

feldspath-kali, có diện lộ hẹp thành dải chiều ngang 700-800m phân bố ở sườn núi Cấm từ khu Lâm Viên đến nơi tiếp giáp bắc núi Nam Qui Pha 2 là đá có thành phần granite hồng chính phổ biến ở khu vực Núi Dài, phía tây bắc Núi Cấm, Núi Tượng và các khối núi nhỏ như Núi Két, Núi Trà Sư, Núi Ba Thê, Núi Bà Đội Pha 3 phân bố ở các núi nhỏ cô lập như Núi Sập, thành phần chủ yếu là đá granite hạt nhỏ chứa biotite, nhiều ổ feldspath-kali màu hồng Pha đá mạch gồm các mạch aplite, permatite cỡ nhỏ với bề ngang vài phân đến vài mét, phân bố xen kẹp trong các Núi Bà Đội, Bà Khẹt, riêng mạch aplite Núi Két rộng vài chục mét Loạt đá Micro-granite màu xám sáng, hạt nhỏ,

chứa khoáng vật nặng tuổi Creta thuộc “phức hệ Cà Ná”), phân bố chủ yếu ở các núi cô

lập như Núi Sam (kết quả phân tích tuổi tuyệt đối K/Ar mẫu Núi Sam cho niên đại

68-71 triệu năm cách nay), Núi Trà Sư, Núi Nổi

Các thành tạo trầm tích An Giang bao gồm các loạt trầm tích có tuổi Trias (thuộc

“hệ tầng Dầu Tiếng”); loạt trầm tích có tuổi Creta (thuộc “hệ tầng Phú Quốc”); loạt trầm tích có tuổi Pleistocène thượng nguồn gốc trầm tích biển (thuộc “hệ tầng Long

Mỹ”); loạt trầm tích có tuổi Holocène trung và thượng có nguồn gốc khác nhau; hình

thành nên các nhóm đất khác nhau Loạt trầm tích có tuổi Trias (thuộc “hệ tầng Dầu

Tiếng”) với các đá lộ ở địa hình đồi núi thấp như núi Nam Qui, Tà Pạ, Phú Cường, với

thành phần gồm: Phần dưới chủ yếu là cát kết thạch anh màu xám hoặc đỏ phân lớp dày, bột kết màu xám phớt tím gụ, đôi chỗ chứa sạn-cuội với các lớp kẹp (thấu kính) silic hay sét silic đỏ tím Phần trên là cát kết hạt vừa và thô, thành phần đa kho áng, đôi chỗ chứa cuội với các thấu kính cuột kết Ở khu vực bắc núi Nam Qui, các thành tạo hệ

tầng bị xâm nhập granite pha 2 “phức hệ Đèo Cả” xuyên cắt gây sừng hóa; ở đồi Sà Lon có cuội-sỏi kết thuộc “hệ tầng đèo Bảo Lộc” phủ bất chỉnh hợp lên.Loạt trầm tích

có tuổi Creta (thuộc “hệ tầng Phú Quốc”) xuất hiện ở Tri Tôn, phần cao Núi Nam Qui,

với thành phần chủ yếu là cát kết thạch anh, feldspath màu trắng, đôi khi phớt hồng, phân lớp trung bình đến dày, xen kẽ với các lớp cuội kết chủ yếu là thạch anh và silic Các đá của hệ tầng thường có kiến trúc kiểu lớp xiên chéo có nguồn gốc trầm tích châu thổ và lòng sông

Loạt trầm tích có tuổi Pleistocène thượng nguồn gốc trầm tích biển (thuộc “hệ

tầng Long Mỹ”) lộ ra trên mặt các bậc địa hình cao độ 5-15m vùng ven chân núi và phổ

biến vùng ven sông Hậu trong các lỗ khoan từ độ sâu 40-50m trở xuống, với 2 kiểu mặt cắt: thềm biển cổ và trầm tích biển nông ven bờ

- Kiểu mặt cắt thềm biển cổ dạng dải hẹp (chiều ngang 1-2km) viền quanh các khối núi thuộc An Cư, Thới Sơn (Tịnh Biên), thuộc dạng bậc thềm cao, với thành phần chủ yếu là cát hạt thô có độ chọn lựa kém lẫn ít bột và tảng lăn đá gốc Trầm tích màu xám sáng gắn kết khá chắc, dày từ 3-5m đến hàng chục mét, địa hình bằng phẳng, chứa nước tốt, độ nén khá cao

- Kiểu mặt cắt trầm tích biển nông ven bờ lộ trên mặt dọc kênh Vĩnh Tế từ An Phú đến Lạc Quới, thành phần trầm tích chủ yếu là bột, sét và một ít sạn sỏi phần giáp đáy Phần lộ trên mặt chịu phong hóa màu xám trắng, nâu với nhiều kết hạch laterite, phần chìm sâu màu hồng hay tím gụ, với nhiều mảnh vụn thực vật trong vài lớp sét Ở

Trang 37

các lỗ khoan, trong lớp bột màu nâu gụ có chứa vỏ sò hến Trong trầm tích “hệ tầng

Long Mỹ” dày 20-40m nằm trên bề mặt bào mòn các đá trước Cenozoic, có chứa nhiều

Foraminifera và tảo Diatome nước mặn tuổi Pleistocène muộn

Các loạt trầm tích có tuổi Holocène ở An Giang bao gồm các phân vị sau:

- Trầm tích Holocene trung có nguồn gốc trầm tích biển: lộ trên mặt dưới dạng

các dải thềm hẹp rộng từ 1-2km đến 4-5km viền quanh các khối núi Tri Tôn, Ba Thê, Núi Sập Trong các lỗ khoan, chúng có mặt phổ biến từ độ sâu 3-5m trở xuống, với 2 kiểu mặt cắt:

Kiểu thềm biển cổ dày từ 1-2m đến 4-5m, với thành phần chủ yếu là cát hạt trung – mịn lẫn bột sét, ít sỏi sạn, trầm tích màu xám sáng, phớt vàng, phần gắn trên mặt đôi chỗ bị phong hóa loang lổ vàng-đỏ-đỏ thẫm-trắng Ở Lạc Quới, trầm tích dẻo, phía trên màu nâu đất, dưới xanh lơ, hàm lượng sét bột 60-70% Ở Tri Tôn, trầm tích này phủ bất

chỉnh hợp trên loạt cát bột màu nâu vàng loang lổ trắng thuộc “hệ tầng Long Mỹ”

Kiểu trầm tích biển nông, cửa sông, vũng vịnh chỉ gặp trong các lỗ khoan từ độ sâu 2-3m và dày từ 2-3m đến hàng chục mét, trầm tích màu xám sáng, xám tối, nâu gụ, cấu tạo phân lớp mỏng và vừa, với thành phần chủ yếu gồm bột, cát, sét mịn, ít sỏi sạn

ở đáy, có chỗ như Vọng Thê tập trung thành dải vỏ sò, phong phú Foraminifera, tảo biển, bào tử phấn hoa; tuổi C14 từ thân cây hóa than sâu 20-23cm cho kết quả: 7950 ±

- Trầm tích Holocene trung có nguồn gốc trầm tích sông – biển: lộ trên mặt đồng

bằng An Giang và có quan hệ trực tiếp với các trầm tích biển tuổi Holocene giữa, thành phần chủ yếu là sét, sét bột, bột màu xám xanh đến nâu vàng, có chỗ chứa ít thạch cao tinh thể lăng trụ nhỏ, trầm tích kết cấu dẻo, dày 1-4m, cá biệt tới 10m Ở phía tây Long Xuyên trên đường đi Thoại Sơn, các lỗ khoan phát hiện ít Foraminifera, ít tảo nước lợ

và khá phong phú các phức hệ bào tử phấn hoa

- Trầm tích Holocene trung – thượng phần dưới có nguồn gốc trầm tích biển: lộ ở

Ba Chúc, Vĩnh Gia dạng địa hình đồng bằng thấp (cao độ 1,5-2m) tạo thành dải uốn lượn dài theo hướng tây bắc – tây nam, dày từ 1-2m đến 4-5m, thành phần chủ yếu gồm

sét, cát mịn, ít sỏi sạn ở đáy Các trầm tích này nằm trên bề mặt bào mòn của “hệ tầng

Long Mỹ”

- Trầm tích Holocene trung – thượng phần trên có nguồn gốc trầm tích sông –

đầm lầy: phân bố thành dải trũng thấp kéo dài theo hướng gần bắc – nam từ Núi Sam

đến Cô Tô, với bề ngang từ 4-5k đến 10km, có thấy ở cả Ba Chúc và An Ninh Bề dày phổ biến 2-3m, thành phần gồm sét, bột, mùn thực vật kém phân hủy, than bùn, tuổi khoảng 6000 năm Đây là thành tạo chứa than bùn chính ở các đầm than An Giang, địa hình lòng chảo, có ít dấu vết ruộng vườn

- Trầm tích Holocene thượng: gồm 2 dạng trầm tích sông – đầm lầy và trầm tích

sông (trầm tích phù sa mới)

Trầm tích sông – đầm lầy nằm trên trầm tích sông – đầm lầy tuổi Holocene giữa – muộn phần dưới, phân bố chủ yếu ở Vĩnh Gia, Ba Chúc, An Tức, Tà Đảnh trên độ cao địa hình 1-2m, tạo thành các dải kéo dài hướng tây bắc – đông nam, thành phần chủ yếu là than bùn, xác thực vật, rất ít sét, lấp đầy lòng sông cổ, bề dày từ 2-3m đến 6-7m,

(trầm tích phù sa mới) phân bố khá phổ biến dọc 2 bờ sông Tiền – Hậu và một số sông rạch An Giang, dải bồi tích thay đổi theo uốn khúc dòng chảy, thành phần chủ yếu bột sét và cát mịn, độ kết dính kém, độ xốp rỗng lớn, dày 1,2-4,5m Ở đôi nơi, các trầm tích

Trang 38

này nằm trên các trầm tích sông – biển hỗn hợp tuổi Holocene giữa – muộn, với nhiều kiểu khác nhau như: trầm tích đê bồi tụ tự nhiên, trầm tích bong sau đê, trầm tích đồng

F ĐẶC ĐIỂM THỔ NHƯỠNG Về đặc điểm thổ nhưỡng, qua nghiên cứu tổng

hợp để xây dựng bản đồ tài nguyên đất tổng quát, các nhà nghiên cứu ghi nhận ở An Giang có 3 nhóm đất chính: nhóm đất đồi núi, nhóm đất phù sa và nhóm đất phèn

Nhóm đất đồi núi được hình thành từ quá trình phong hóa, xâm thực của các đồi

núi đá, sau đó bị các dòng lũ mang xuống tích tụ thành những vành đai thổ nhưỡng xung quanh núi dưới dạng yếm phù sa, viên chùy, rãnh xói và đất phong hóa Đất đồi núi phân bố chủ yếu tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, một phần nhỏ Ba Thê (huyện Thoại Sơn), với tổng diện tích khoảng 29.320ha = 8,6% tổng diện tích đất An Giang Đất đồi núi có thành phần cát pha sét, chủ yếu là cát xen lẫn ít bột và sét, có nơi hàm lượng cát hơn 60% như ở An Hảo, An Cư (Tịnh Biên) v.v… Đất đồi núi trung tính, độ

pH = 6,65, hàm lượng hữu cơ rất thấp (từ 1,08% tầng mặt và 0,2% tầng dưới), đạm, lân cũng nghèo, với các kiểu loại sau:

- Đất sườn tích tại chỗ chủ yếu là đất phong hóa của đá gốc rồi trầm tích tại chỗ

dọc theo các sườn núi, độ dày tùy thuộc độ dốc nhưng không quá 5m, vật liệu kém chọn lọc gồm hỗn hợp từ đá tảng, cuội dăm đến cát Đất phong hóa vùng Núi Cấm, Núi Phú Cường, Tà Pạ, núi đất có bề dày tương đối giàu dinh dưỡng và thành phần cơ giới lớn, tỷ lệ giữa cát và sét thấp 1,25-1,8; ngược lại đất sườn tích các núi đá granitoit như Núi Cô Tô, Núi Dài Nhỏ, Núi Trà Sư, Núi Bà Đội, Núi Két thường nghèo dinh dưỡng,

tỷ lệt cát và sét 2,5-2,8, cát chiếm 68-70%

- Đất yếm phù sa chủ yếu là đất phong hóa từ các nơi được lũ mang đến tích tụ

vùng địa hình thấp, tỷ lệ sét kaolin ít, phân bố thành vành thấp chạy từ chân đồi Tức Dụp đến Ba Chúc, Lê Trì (Tri Tôn), thành phần chủ yếu là sét, sét pha, đất màu xám đen, với hàm lượng hữu cơ thường cao

- Đất thềm cao là loại đất cát phân bố quanh chân núi mà nhân dân An Giang thường gọi là “ruộng trên”, đất chủ yếu là cát mịn màu nâu xám lẫn ít thực vật, đất xốp,

độ ẩm cao, phản ứng trung tính, pH = 6-6,65, hàm lượng độc tố thấp nhưng nghèo chất hữu cơ, phân bố chủ yếu dọc theo chân Núi Dài, Núi Cấm và vành đai quanh cụm Núi Giài, Núi Két, Núi Trà Sư, thuộc địa phận Văn Giáo, Thơi Sơn, An Cư, Xuân Tô (Tịnh Biên) và Châu Lăng, Núi Tô (Tri Tôn)

- Đất dọc rãnh – khe núi gồm cát, sạn, sỏi bở rời từ trên núi do mưa kéo xuống

tích tụ theo khe rãnh mà thành các thửa ruộng bậc thang, càng xuống chân núi càng rộng, đất chủ yếu là cát, lẫn ít chất hữu cơ, phân bố ở Lương Phi, Châu Lăng, Lê Trì (thung lũng giữa Núi Cấm và Núi Dài), An Cư, Nhơn Hùng, Văn Giáo (Tịnh Biên)

Nhóm đất phù sa phân bố trong vùng cù lao giữa Sông Tiền và Sông Hậu thuộc

địa phận 4 huyện Tân Châu, Phú Tân, An Phú, Chợ Mới, Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn, một phần Long Xuyên, với diện tích 156.507ha = 21,4% tổng diện tích đất

An Giang Đây là nhóm đất chứa nhiều hữu cơ, pH thấp, ít bị bào mòn xâm thực lại luôn được bồi đắp hàng năm Dựa trên nguồn gốc và môi trường trầm tích, các nhà địa chất nhận diện thành kiểu nhóm sau:

- Kiểu đất cồn bãi: phân bố chủ yếu ven Sông Tiền, Sông Hậu và một phần nhỏ

trên Sông Vàm Nao, bao gồm các doi và cồn sông, với thành phần hạt chủ yếu là cát

Trang 39

thấp, ít chất hữu cơ, đạm và lân Trong địa phận An Giang có 8 cồn - cù lao và 5 doi trên Sông Tiền (các cồn Tào, Cỏ Găng, Béo, Cả, Én, Phước, Cũ và cù lao Giêng; các doi Vĩnh Xương, Vĩnh Hòa, Long Sơn, Chợ Vàm, Kiến An); 14 cồn – cù lao và 7 doi trên Sông Hậu (các cù lao Vĩnh Lộc, Bắc Nam, Ba, Cỏ Túc, Hà Bao, Ka Tam Bang, Bình Thủy, Thị Hòa, Ông Hổ; các cồn Khánh Bình, Phó Ba, Phó Quế, Tiên, An Thạnh; các doi Phước Hưng, Phú Hữu, Khánh An, Đa Phước, Cái Dầu, Phú Bình, Mỹ Bình) và cồn Tân Hòa (Phú Tân) trên sông Vàm Nao

- Kiểu đất phù sa xám nâu được bồi: chiếm diện tích khá lớn ở 4 huyện cù lao

Chợ Mới, Phú Tân, An Phú, Tân Châu và dải cánh đồng ven Sông Hậu thuộc Châu Phú, Châu Thành Đây là phần đất bị ngập nước hàng năm vào mùa lũ, địa hình trải rộng khá bằng phẳng, vật liệu trầm tích chủ yếu là sét, bột lẫn chất hữu cơ, lớp phù sa dày 1-2m, đất dẻo chặt, hơi chua, pH = 4, hàm lượng lân trao đổi khá thấp = 1-4 meq/100gr, tổng lượng sulfat hòa tan = 0,1-0,2%, chất hữu cơ tầng mặt = 3,8%, đạm = 0,06-0,08%, nghèo lân và kali Về thành phần cơ giới, sét = 45%, bột 49%, cát 1,4%

- Kiểu đất phù sa xám nâu ít được bồi: phân bố ở những vùng địa hình thấp

(1-1,2m), có khi trũng 0,8-1m, có nguồn gốc từ đồng lụt thấp, khá bằng phẳng, tầng mặt là lớp phù sa mới dày 30-50cm, tầng dưới là sét xám có đốm nâu vàng hay nâu đỏ, dưới 1,2-1,4m là sét xám đen ít hữu cơ Đất hơi chua, pH = 4,5, hàm lượng nhôm thấp = 2-2,2 meq/100gr, hàm lượng hữu cơ = 3,8%, sét = 41,3%, bột mịn = 36,6%, cát rất ít Kiểu này chiếm diện tích 44.525ha, có nhiều ở Ô Long Vĩ, Đào Hữu Cảnh, Thạnh Mỹ Tây (Châu Phú), Tân Lập (Tịnh Biên), Vĩnh An, Tân Phú (Châu Thành), Tây Phú, Vĩnh Nhuận, Vĩnh Phú (Thoại Sơn), phần nhỏ ở Chợ Mới và Châu Đốc

- Kiểu đất phù sa có phèn: phân bố chủ yếu ở Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn,

Tri Tôn, với diện tích 84.872ha = 24,7% tổng diện tích đất trồng An Giang, có nguồn gốc chủ yếu bưng sau đê, địa hình thấp 0,8-1m và khá bằng phẳng, tầng mặt dày 30-50cm là phù sa mới nâu tươi gồm sét pha thịt giàu dinh dưỡng, dưới là sét xám dẻo chặt, ẩm độ cao, xen nhiều đốm rỉ nâu, bên dưới là tầng sinh phèn dẻo mềm màu xám đen có nguồn gốc đầm lầy mặn thời biển tiến Holocene Đất có phản ứng hơi chua, pH

= 4,7-5,5, chất hữu cơ tầng mặt khá lớn = 5%, sét = 62,66%, bột = 35,6% Kiểu đất này chủ yếu thuộc địa hình thấp, mức độ bồi tụ yếu, tầng sinh phèn xuất hiện từ độ sâu 55-100cm

- Kiểu đất phù sa cổ: hình thành từ thời Pleistocene, chiếm diện tích 94.446ha =

27,68% tổng diện tích đất An Giang, phân bố chủ yếu ở địa hìn cao (ruộng trên) của Tri Tôn và Tịnh Biên, hình thành dãy đồng bằng quanh núi ở Núi Cấm, Núi Dài, dãy cánh đồng ven kênh Vĩnh Tế Đất màu xám trắng loang lổ đỏ nâu, dẻo chặt, thành phần sét

nơi 2,75%, tầng mặt chứa hàm lượng hữu cơ khá (1,5-2%), bên dưới của tầng sét rất ít

Nhóm đất phèn phân bố trong vùng Tứ Giác Long Xuyên trải dài từ bờ hữu Sông

Hậu đến vùng Bảy Núi, kéo dài đến ranh giới tỉnh Kiên Giang, với diện tích 239.203ha

và có độ pH rất thấp (2-3), tính acid cao do sự tích tụ muối sunfit ở môi trường đầm lầy mặn Đất phèn phân bố nhiều ở vùng tiếp giáp Kiên Giang thuộc địa phận Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần Châu Phú, được hình thành do quá trình biển tiến khoảng 6000 năm trước để lại, đặc biệt trong môi trường vũng vịnh biển nông phát triển rừng ngập mặn (đước, sú, vẹt, mắm…)

Trang 40

Dựa trên nguồn gốc hình thành và mức độ nhiễm phèn (các chỉ tiêu Al, sulfat và trị số pH, các nhà địa chất nhận diện thành kiểu nhóm sau:

- Kiểu đất phèn tiềm tàng: có nguồn gốc hình thành từ trầm tích biển thời kỳ hải

xâm Holocene, môi trường trầm tích là biển nông, cửa sông, vũng vịnh Kiểu đất này thường có ở dạng địa hình đồng bằng thấp (cao độ 1,5-2m) tạo dải uốn lượn dài theo phương tây bắc – tây nam, phân bố những nơi địa hình trũng, thoát nước kém hoặc bị ngập thường xuyên, xuất hiện chủ yếu ở địa bàn các xã Vọng Thê, Vọng Đông (Thoại Sơn), Ô Long Vĩ, Thạnh Mỹ Tây (Châu Phú), Tân Tuyến, Tà Đảnh (Tri Tôn), Tân Lợi (Tịnh Biên) Ở một số nơi (Vĩnh Phú, Thoại Giang, Tây Phú, Vọng Thê), tầng sinh phèn xuất hiện ở độ sâu 80-100cm, càng về phía tây nam tầng phèn càng gần mặt đất, đất có phản ứng rất chua, độ pH 2,5-3,5, càng sâu độ pH giảm dần, độ acid càng tăng,

lượng chất hữu cơ tầng mặt 15-28%, lân tầng mặt 1%; hầu hết đất phèn tiềm tàng có thành phần chủ yếu là sét = 40,83%, bột = 45,13%, cát mịn = 4,15%

- Kiểu đất phèn nhiều: được các nhà thổ nhưỡng xếp vào phụ nhóm Entic Sulfit

Fluraquents và Thapto Tropaqualts, thường hình thành ở địa hình trũng, trầm tích trong môi trường nước lợ, nằm trên tầng sinh phèn Kiểu này phân bố ở những thung lũng hẹp phía tây và đông Bảy Núi, hình thành vành đai gần như khép kín vùng đồi núi, bắt đầu từ kênh Vĩnh Tế qua An Nông, vòng qua thung lũng giữa Lạc Quới và núi Phú Cường đến kênh Mới, chạy dọc theo kênh Tám Ngàn nối thông qua Tri Tôn Đất có phản ứng rất chua, pH tầng mặt = 3,5, giảm nhanh xuống dưới còn 2,8-1,9, hàm lượng

và gia tăng ở tầng sâu, thành phần hạt chủ yếu là sét = 41,31%, bột = 36,68%, cát = 4,75%, ở các lớp dưới đất sa cấu sét nặng (58-60%)

- Kiểu đất phèn ít: bao gồm đất phù sa phát triển bị nhiễm phèn và đất nhiễm phèn

nặng bị rửa trôi, phân bố nơi địa hình tương đối cao, có sự bồi đắp khá nhiều của phù sa nên tầng phèn bên dưới khá dày (80-100cm), đất có tính acid, pH = 3,5-4, nhôm = 7,16

63,9%, ít bột và cát, thấm nước kém, đất dẻo, phân bố dọc chân núi Cô Tô, vùng ranh giới các huyện Tây Phú (Thoại Sơn), Tân Phú (Châu Thành), Tà Đảnh (Tri Tôn)

- Kiểu đất than bùn chứa phèn: hình thành do sự chôn vùi thảm thực vật rừng

ngập nước, đặc trưng bởi lớp than bùn dày, dưới xốp, phân bố dọc các thung lũng sông

cổ, lung, đìa ở Tri Tôn, ven các cánh rừng tràm Trà Sư, một ít có ở Lương An Trà, Tà

khoáng hóa khá thấp và nghèo nàn, nhưng độ đạm cao, thành phần cơ giới chủ yếu là chất hữu cơ phủ trực tiếp bên trên lớp phèn tiềm tàng, dày từ 70-80cm đến 1,5-2m

[ 879 ]

Để hình dung diện mạo các trầm tích chứa di tồn văn hóa Tiền sử – Cổ sử hiện thấy trên đất An Giang, trước đây nhà khảo cổ học Pháp L.Malleret cũng đã tiến hành lấy các mẫu đất thuộc trầm tích chứa di tồn văn hóa Óc Eo phân tích tại Phòng Thí

nghiệm của Sở Lúa Gạo Đông Dương cũ (Ancien Office Indochinois du Riz) ở Sài Gòn,

với ký hiệu riêng của Phòng Mẫu đất phân tích đã được loại bỏ dăm cuội và sỏi bằng sàng mắt rộng 2-5mm

do kỹ sư hóa học Maleture giám định, xác thực trên khắp bề mặt châu thổ có sự bồi đắp

Ngày đăng: 30/03/2021, 00:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w