1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu đời sống tâm linh của cư dân cổ nam bộ qua những hoa văn trên hiện vật vàng thuộc truyền thống văn hóa óc eo

157 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước đầu tìm hiểu đời sống tâm linh của cư dân cổ nam bộ qua những hoa văn trên hiện vật vàng thuộc truyền thống văn hóa óc eo
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Xã Hội
Thể loại Công trình dự thi
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 25,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ đề tài niên luận 2004–2005 của lớp Cử nhân tài năng khoa Sử, người viết chọn đề tài này để tiếp tục tập sự nghiên cứu khoa học với lý do chính sau đây: Tôi muốn tập làm q

Trang 1

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1 9

Di TÍCH CÓ CHỨA VÀNG VÀ HIỆN VẬT VÀNG ĐẶC TRƯNG TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ ÓC EO 9

I ĐÔI NÉT VỀ VƯƠNG QUỐC CỔ PHÙ NAM 9

II ĐỊA BÀN CÓ HIỆN VẬT VÀNG THUỘC TRUYỀN THỐNG ÓC EO 18

III HIỆN VẬT VÀNG TRONG VĂN HOÁ ÓC –EO 23

CHƯƠNG 2 30

HOA VĂN VÀNG THUỘC TRUYỀN THỐNG ÓC EO MANG ÂM HƯỞNG BÀLAMÔN GIÁO- PHẬT GIÁO 30

I NHỮNG HÌNH KHẮC TRÊN VÀNG MANG DẤU ẤN TÔN GIÁO BÀLAMÔN 30

II HOA VĂN VÀNG THUỘC TRUYỀN THỐNG ÓC EO MANG ÂM HƯỞNG PHẬT GIÁO 45

CHƯƠNG 3 52

VÀNG TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ – VĂN HOÁ – XÃ HỘI VÀ ĐỚI SỐNG TÂM LINH CƯ DÂN CỔ NAM BỘ, TỪ NGHỆ THUẬT ĐẾN NHỮNG MỐI QUAN HỆ RỘNG HƠN 52

I VÀNG TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ – VĂN HOÁ XÃ HỘI CƯ DÂN CỔ NAM BỘ 52

II ĐỜI SỐNG TÂM LINH CƯ DÂN CỔ NAM BỘ TỪ NGHỆ THUẬT ĐẾN NHỮNG MỐI QUAN HỆ RỘNG HƠN 65

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 82

Trang 3

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NXB : Nhà xuất bản

NPHMVKCH : Những phát hiện mới về khảo cổ học

LATLS : Luận án Tiến sĩ Lịch sử

TCKCH : Tạp chí khảo cổ h ọc

VBTLSVN : Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam

Trang 4

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Văn hoá Óc Eo là nền văn hoá cổ của vùng đất Nam bộ, là linh hồn của vương quốc Phù Nam, một thời phát triển rực rỡ, phồn thịnh nhất trong khu vực Thế nhưng, những hiểu biết về lịch sử phát triển của nền văn hoá này vẫn còn nhiều điều bí ẩn đối với chúng ta Đặc biệt là những dòng suy tư, lối sống, cách cảm cách nghĩ về thế giới xung quanh của các bậc tiền nhân thuở trước tại mảnh đất này vẫn còn “im lặng”, vẫn còn đó vô số dấu hỏi trong suốt chiều dài lịch sử Chúng ta may mắn còn lưu giữ lại bộ sưu tập hiện vật vàng mang nặng dấu ấn tôn giáo thuộc truyền thống Óc Eo bên cạnh những di vật khác Đây là cánh cửa hiếm hoi để chúng ta khám phá thế giới tâm linh huyền bí của cha ông ta ngày trước Chúng tôi đã chọn đề tài này với niềm yêu thích, say mê, bị mê hoặc trong “mê cung” của những hình hoạ hoa văn kì lạ, của những vị thần linh đang trong vũ điệu mê say bất tận với cuộc sống trần thế

Đề tài này, chúng tôi bước đầu tập thống kê những di vật vàng đã phát hiện trước năm 1975 đến nay Thông qua tư liệu sống này, chúng tôi tiếp tục giải mã những hình hoạ được chạm khắc trên những lá vàng gắn liền với di tích mà chúng được tìm thấy Với phương pháp nghiên cứu tổng hợp, liên ngành, từ việc hệ thống tư liệu chúng tôi mạnh dạn đưa ra những nhận định đánh giá bước đầu của chính mình trong quá trình tập sự nghiên cứu khoa học dưới sự dẫn dắt của PGS.TS Phạm Đức Mạnh Kết cấu của đề tài chia làm 3 chương, nội dung của 3 chương liên quan chặt chẽ với tên của đề tài và mục đích chính mà đề tài đã đề ra Ngoài ra có phần phụ lục với bản đồ, bảng thống kê, hình ảnh minh hoạ cho đề tài thêm sinh động

Những hình hoạ hoa văn trên vàng phản ánh đời sống tâm linh của cư dân cổ nơi đây rất rõ nét và chính xác Trong sự đối sánh với những di vật thuộc quần thể văn hoá Óc Eo Họ thờ vị thần chủ là Vishnu, người luôn mang đến niềm hạnh phúc, bình yên như thể vùng đất này đã luôn đem lại sự trù phú cho con người Nam bộ Vishnu luôn cứu giúp con người qua những lần hoá kiếp, thần sẽ giúp họ xoá tan sự sợ hãi của bóng đêm, sự hung dữ của vùng đất mới này, giúp họ có thêm lòng can đảm để chinh phục mảnh đất trù phú còn lắm hiểm trở Bằng chứng là theo thống kê hiện nay, di vật

Trang 5

tượng và di vật liên quan đến Shiva có 3 tiêu bản chiếm 19.51% tổng số hình vật thể Còn tượng liên quan đến Brahma thì rất hiếm thấy Còn ở vùng Cát Tiên thuộc truyền thống Óc Eo có xu hướng dung hoà giữa Vishnu và Shiva, hơi thiên về Shiva hơn một chút Họ thích Vishnu và dù ở Cát Tiên có hơi nghiên về Shiva nhưng hình ảnh của Shiva ở đây cũng hiền lành, phúc hậu, gần gũi cũng chẳng kém so với cách thể hiện vị thần Vishnu ở Nam bộ

Họ vẫn còn bảo lưu tính ngưỡng phồn thực dân gian có hình tượng Linga – Yoni họ đặc biệt chú trọng tôn vinh sự sinh sôi, nảy nở phát triển của đất trời Ở vùng ĐBSCL, mặc dù hình tượng Linga – Yoni là vật tượng trưng của thần Shiva nhưng họ lựa chọn thần chủ là Vishnu đã cho thấy tâm tính bản địa của ông cha ta luôn tỏ sáng

Ở Cát Tiên tìm thấy hình khắc Lashmi phồn thực và hình tượng người mẹ xứ sở đã qua nhiều lần sinh nở, cho thấy tín ngưỡng dân gian bản địa len lỏi, hoá thân ẩn hiện trong các vị thần Ấn giáo

Họ mô tả những cảnh đẹp của đất Nam bộ hiền hoà cổ xưa với những con vật gắn bó với cuộc sống đời thường của họ Những hình khắc đó thể hiện một lối sống mực thước, đôn hậu của con người vùng đất Nam bộ cổ xưa hơn là sự mô phỏng nguyên bản của Ấn giáo vào trong nền văn hoá của chính mình

Đây là đề tài mở và chắc chắn còn rất nhiều điều thiếu sót do trình độ còn hạn chế ở sinh viên năm 2 Nhưng chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, hỗ trợ của quí thầy cô trong khoa Sử, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp và sự cổ vũ nhiệt tình của các Ban ngành có liên quan để phát triển đề tài này ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 6

MỞ ĐẦU

I DẪN NHẬP

Văn hoá Óc Eo là một vấn đề lớn ở vùng Nam Bộ Việt Nam Người có công phát hiện, sưu tập lưu giữ các di vật thuộc văn hoá này đầu tiên là nhà khảo cổ học người pháp Malleret Sau khi đất nước thống nhất, Đảng và nhà nước ta tiếp tục dành nhiều sự quan tâm đặc biệt tìm hiểu nền văn hoá lâu đời này Đến những năm gần đây, nền văn hoá Óc Eo được các nhà khoa học Việt Nam cùng với sự cộng tác của các nhà khoa học ngoài nước trên cơ sở kế thừa thành tựu của người đi trước, tiếp tục nghiên cứu làm rõ chân dung văn hoá Óc Eo Những bí mật từng bước được khám phá, sự im lặng “ngủ quên” của nền văn hoá Óc Eo trong một thời gian khá dài nay dần “tỉnh giấc”

Văn hoá Óc Eo là linh hồn của vương quốc Phù Nam, một thời phát triển rực rỡ, phồn thịnh, đạt đến trình độ nhất định và có vị trí quan trọng trong khu vực Đông Nam

Á Sự phồn thịnh Vương quốc Phù Nam là kết quả hoà quyện giữa nền văn hoá bản địa với nền văn hoá ngoại lai, cụ thể là Ấn Độ Trong đó, đời sống tâm linh đóng vai trò cưc kì quan trọng tạo nên sức sống dẻo dai góp phần bảo lưu nền văn hóa Óc Eo bền vững vượt thời gian dù những gì chúng ta tìm thấy đã bị chôn vùi dưới đất hàng trăm năm và chúng không còn nguyên vẹn

Do đó, để góp phần tìm hiểu đề tài này, tôi xin giới thiệu một số hiện vật vàng được tìm thấy, bước đầu tìm hiểu đời sống tâm linh của cư dân cổ Nam Bộ Từ đó, làm nổi bật cá tính bản địa hóa của nền văn hóa Óc Eo Có thể nói, tìm hiểu những hoa văn trên hiện vật vàng, phác thảo đời sống xã hội của cư dân cổ Nam Bộ từ góc độ tâm linh vừa lí thú, hấp dẫn nhưng cũng đầy khó khăn, thách thức so với trình độ của sinh viên năm 2, vẫn còn đang tiếp tục hoàn thành phần học đại cương, chưa trang bị kỹ càng kiến thức chuyên ngành cũng như kiến thức liên ngành Nhưng với lòng nhiệt tình và sự dẫn dắt chu đáo của PGS.TS Phạm Đức Mạnh mọi khó khăn của vấn đề, sự

bỡ ngỡ của bản thân được đẩy lùi, người viết dần dần tiếp cận và phần nào hiểu rõ hơn

xã hôi – con người thuộc nền văn hóa Óc Eo Có lẽ, niềm say mê tập sự nghiên cứu khoa học, tình yêu đối với bộ môn khảo cổ học đang dần dần nhen nhóm trong tôi với muôn vàn điều khó hiểu sau những lần gợi ý bỏ ngỏ của PGS.TS Phạm Đức Mạnh

Trang 7

II LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn hóa Óc Eo là một vấn đề văn hoá – khoa học lớn gắn liền với đất nước con người ở vùng đồng bằng hạ lưu sông Mêkông, đồng thời nó còn có quan hệ mật thiết với lịch sử Đông Nam Á thời cổ

Đề tài “Bước đầu tìm hiểu đời sống tâm linh cư dân cổ Nam Bộ qua hoa văn trên hiện vật vàng thuộc truyền thống văn hóa Óc Eo” là mảng đề tài còn khá mới mẻ mà nhiều học giả trong và ngoài nước chưa nghiên cứu thấu đáo Trong khuôn khổ đề tài niên luận 2004–2005 của lớp Cử nhân tài năng khoa Sử, người viết chọn đề tài này để tiếp tục tập sự nghiên cứu khoa học với lý do chính sau đây:

Tôi muốn tập làm quen với công việc tập trung hệ thống về một mảng tư liệu văn hóa hấp dẫn đặc biệt của nền văn hóa nổi tiếng Óc Eo là hiện vật vàng Qua đề tài niên luận này, tôi có cơ hội trau dồi thêm những kĩ năng tập sự nghiên cứu khoa học, tập sự giải mã ý nghĩa tôn giáo qua hoa văn trên hiện vật vàng thuộc văn hoá Óc Eo Và cố gắng phác thảo đôi nét về đời sống tinh thần, xã hội và con người Óc Eo

Đến với đề tài này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự ngưỡng mộ đến những thế hệ tiền nhân đã có công khai phá mảnh đất trù phú song đầy hiểm trở Tất

cả những điều đó đã trở thành truyền thống quí báu, là di sản vô giá của quốc gia mà tuổi trẻ chúng tôi cần học tập, trân trọng, gìn giữ và phát huy

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đề tài này chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu đời sống tâm linh của cư dân Óc Eo qua những hoa văn khắc chạm trên hiện vật vàng thuộc truyền thống văn hoá Óc Eo Đối tượng chính khảo cứu của chúng tôi là những hiện vật vàng thuộc truyền thống đó

IV LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá Óc Eo Đây

là công trình nghiên cứu có tính chất cơ bản, nhưng lại gắn liền với thực tiễn cách mạng nước ta hiện nay Đề tài này chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo bởi lẽ hiện vật vàng tìm thấy thuộc văn hóa này thuộc vào loại hiếm so với khu vực và cả trên thế giới Sự thất lạc do bị đào trộm không phải là ít cho nên việc hệ thống lại các

di vật vàng là công việc không hề đơn giản

Tất cả những giá trị văn hoá đó vẫn còn sống mãi cho đến nay, đã để lại dấu ấn sâu đậm qua lối sống, cách nghĩ, phong tục tập quán đã trở thành truyền thống của

Trang 8

cư dân nơi đây Thời gian vừa qua đã có một số bài viết có đề cập đến di vật vàng thuộc văn hoá Óc Eo song các bài viết đó còn nằm rải rác trên các tạp chí khoa học chưa tập hợp lại một cách có hệ thống, có lẽ do hạn chế của điều kiện khách quan nói trên là hiện vật vàng rất hiếm trong các di tích lịch sử – khảo cổ học nói chung, trong văn hoá Óc Eo cũng vậy Vì vậy, sự hiện diện của chúng rất được sự quan tâm chú ý của các học giả và tổ chức nghiên cứu Những bài viết đăng trên tạp chí khoa học đều

là những tư liệu quí giá cho đề tài này, là nền tảng cơ bản đầu tiên để thế hệ sau tiếp tục tìm tòi, khám phá Trong quá trình sưu tập tài liệu, chúng tôi còn được biết vàng có mặt sớm nhất ở đồng bằng Nam Bộ nhưng chỉ có rất ít trong một số di tích được tìm thấy Tuy vậy, chúng ta rất may mắn xác định tuổi tuyệt đối C14 của 4 di tích có chứa vàng, mời quí vị xem phần phụ lục để rõ hơn các niên đại của những di tích này Đây

là điểm vô cùng thuận lợi để ta có thể xác định rõ nguồn gốc của hiện vật vàng phục

vụ tốt cho công tác nghiên cứu về nền văn hoá này cũng như nền văn hoá trước đó

Đó là:

Nghĩa địa Mộ Chum Hàng Gòn 9 do E.Saurin khai quật, trong đó có:

+ Đồ trang sức: gồm chuỗi vàng; 1 chóp nhỏ làm bằng kĩ thuật dát, mũi khoan thong Chúng cao 8mm, đường kính dày 8mm, đáy được viền bằng 1 vành mỏng bằng cách lộn ngược mép lá vàng đã dùng (PL VII, 6-6) Có lẽ là một vật để đeo hoặc một nửa hạt chuỗi vòng đeo cổ hay vòng tay Nhiều chóp tương tự có thể lồng tạo thành (không tìm thấy chóp tương tự trong sưu tập vàng Óc Eo hay trong một

số hạt chuỗi bằng vàng ở những Mộ Hán Bắc Trung Bộ)

+ Kim loại đồng mạ vàng: một khối tháp nhỏ đặc với một cuốn tròn tạo 2 mấu đeo, cao 45 mm (pl I, 730) là đồng mạ vàng ( kim loại mạ vàng tìm thấy bản địa nhờ khuôn đúc hoa tai ở Dầu Giây) Mời quí vị xem phần phụ lục để rõ thêm niên đại ở các di chỉ

Di chỉ Giồng Phệt (Cần Giờ Tp HCM): 5 hiện vật vàng

+ 4 hạt chuỗi vàng trong Mộ chum số 4: 1 hạt hình đốt trúc vơi 5 răng nhọn nhô ra ở 2 đoạn giữa, dài 3,1cm, d = 0,35

3 hạt trang sức hình ống dài có những đường ren nhỏ mỏng ở mạch ngoài, dài 0,5- 0,7

cm, d= 0,25cm

Trang 9

+ 1 hạt bọc vàng hình cầu trong mộ chum số 3a 

Di chỉ Giồng Cá Vồ (Tp HCM): 80 hiện vật gồm: 66 chuỗi, 1 nhẫn, 13 lá vàng dát mỏng

+ Hạt chuỗi: 66 hạt có: 13 tròn, lõi trong là sét mịn nung chín, bọc vàng ngoài rất mỏng, có lỗ xuyên dọc xỏ day, d= 0,4-0,5cm

16 hạt tròn: cuộn vàng dát mỏng, d= 0,5-0,6cm

- hạt hình trụ: cuộn vàng dát mỏng, bên ngoài để trơn khắc ren hình bông lúa, dài 0,4-2,4cm, d= 0,3cm

- hạt hình đốt trúc có 5-6 ngạnh nhô ra, có hạt tạo 2-3 đốt, dài 2-3cm(nhiều đốt)

- 2 hạt hình khối tam giác: cuộn vàng dát mỏng, cao 0,6, lỗ xuyên 2 đỉnh

Di chỉ Phú Chánh (Bình Dương) :

+ 1 nhẫn vàng chôn trong mộ số 2 ( mộ dạng chum gỗ): Nhẫn bảng rộng, 1 cm,

có hình thoi Trên bề mặt khắc chìm 2 hình thoi với các đoạn gắn nối nhau, giữa 2 hình thoi vẽ 2 ngọn lửa 2 bên tạo 2 ngấn nổi đối xứng nhau, d= 1,6x1,5cm, dày 0,8 cm Kết quả kiểm định Công ty vàng bạc đá quí Bình Dương: tuổi vàng là 96.11% (vàng 24k) trọng lượng1,329 (1 chỉ 3 phân 2 ly 9 jem)

Đến thời kì Óc Eo và hậu Óc Eo từ thế kỉ I đến thế kỉ X vàng xuất hiện nhiều hơn, ẩn dấu nhiều điều bí ẩn hàm chứa trong mỗi mảnh vàng Số lượng vàng được tìm thấy thì không hề ít nhưng những tài liệu chuyên sâu nghiên cứu về chúng một cách tập trung thì không nhiều Tuy nhiên, đó cũng là những tư liệu quí giá, là nền tảng cơ bản đầu tiên để chúng tôi thoả mãn tính hiếu kì về đời sống tâm linh của cư dân cổ vùng Nam Bộ:

Trang 10

Bùi Phát Diệm (Bảo tàng Long An), Lê Thị Liên (Viện KCH): “Khám phá mới

về một hình vẽ trên lá vàng Gò Xoài Long An” trang 779 - NPHMVKCH năm 1999 - NXB KHXH-2000

Đào Linh Côn: “Mộ táng và hiện vật vàng thuộc văn hoá Óc Eo ở di chỉ khảo

cổ học Đá Nổi (An Giang)”, KHXH 1993 số 13 trang 90

Hà Văn Tấn: “Từ minh văn trên lá vàng ở Gò Xoài (Long An) bàn thêm về pháp thân kệ” NPHKCH, Hà Nội 1993

Lê Thị Liên Viện KCH: “Chủ đề của các hiện vật vàng ở Gò Tháp (Đồng Tháp) Tạp chí khoa học những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2000, NXB KHXH, 2001

Lê Thị Liên, Nghệ thuật Phật Giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X, NXB thế giới, 2006

Nguyễn Hải Bạch: “Chữ cổ trên hiện vật vàng ở Bình Tả - Đức Hoà (Long An),” VHKCH Hà Nội 1986

Nguyễn Tiến Đông: “Bước đầu tìm hiểu một số hiện vật kim loại vật ở di tích Cát Tiên”, PHKCH,TP HCM, 2003

V PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Phạm vi nghiên cứu đề cập đến các điểm di tích có phát hiện di vật vàng ở địa bàn các tỉnh: An Giang, Tiền Giang và Lâm Đồng Vì thời gian có hạn nên việc đi thực tế chưa sâu và bài viết còn có hạn chế nhất định Đề tài niên luận này là bước đầu tập làm quen với nền văn hoá Óc Eo tuy quen thuộc mà còn nhiều lạ lẫm

VI PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

Để hoàn thành đề tài này người viết phải sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó nổi bật lên là các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp duy vật biện chứng Đây là phương pháp chung mà bất kì ngành khoa học nào sử dụng để nghiên cứu Sử dụng phương pháp này chúng ta tránh bị lạc

đề và luôn đi đúng hướng Phương pháp này sẽ là cơ sở để ta thực hiện đề tài này với các phương pháp khác một cách dễ dàng, thuận lợi hơn

Phương pháp liên nghành sử học và khảo cổ học, với phương pháp này người viết dựa trên những hiện vật mà giới các nhà khoa học khảo cổ tìm thấy để tiến hành

Trang 11

phân tích, đánh giá, kết hợp với sử học ta sẽ có cái nhìn tổng quát xuyên suốt hiện thực

xã hội và con người Óc Eo thời đó

Phương pháp ứng dụng chỉnh lý loại hình học, chỉnh lý theo qui chế

Phương pháp lôgíc Phương pháp này sẽ đóng vai trò là cầu nối liên kết các ý,, các vấn đề trong đề tài một cách hợp lý Và chúng ta có cái nhìn hệ thống, liên tục về nội dung trong đề tài

Phương pháp định lượng Đây là phương pháp thống kê, rất quan trọng trong việc trình bày những dẫn chứng cụ thể trong nghiên cứu Nhờ phương pháp này mà trở nên thuyết phục hơn

Ngoài các phương pháp nghiên cứu trên, người viết còn sử dụng thêm một số phương pháp nghiên cứu khác quan trọng: Phương pháp sưu tầm tài liệu, tham quan bảo tàng, quan sát các tranh ảnh, các bản vẽ, xây dựng bản đồ…Phương pháp phân tích, tổng hợp xử lí thông tin…Đây là những phương pháp có vai trò lớn trong quá trình sắp xếp bố cục đề tài và đưa ra đôi nét nhận định góp chung thành lời cùng các hiện vật đã vĩnh viễn “lặng câm” với đêm dài lịch sử

Trang 12

CHƯƠNG 1

Di TÍCH CÓ CHỨA VÀNG VÀ HIỆN VẬT VÀNG ĐẶC TRƯNG TRUYỀN

THỐNG VĂN HOÁ ÓC EO

I ĐÔI NÉT VỀ VƯƠNG QUỐC CỔ PHÙ NAM

Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam đã từng tồn tại 1 nền văn hóa được khắp nơi trên thế giới biết đến:

Văn hóa Óc Eo, xuất hiện từ đầu thế kỉ trước công nguyên, vương quốc Phù Nam thịnh vượng cùng với sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Óc Eo, thành quả được “thai nghén” từ nền văn hóa ấy là những di sản vô cùng quí báu, vô giá đối với quốc gia Đó là những đền tháp, giáo đường, những lễ hội, những nghi thức tín ngưỡng,

là những di vật: đồ gốm, vàng, tượng… Đó là những bằng chứng sinh động làm sống dậy quá khứ vàng son của vương quốc Phù Nam Văn hóa Óc Eo là nền văn hóa mang màu sắc tôn giáo hết sức đậm đà

Vào khoảng thế kỷ đầu Công Nguyên, những cư dân sống ở vùng hạ lưu sông MêKông đã thoát khỏi trạng thái dã man của chế độ thị tộc thời nguyên thuỷ để bước sang thời đại văn minh của xã hội có giai cấp và có nhà nước Một nhà nước đầu tiên

ra đời tại nơi đây: Nhà nước Phù Nam

Người ta được biết về nước Phù Nam nhờ vào thư tịch và bìa ký cổ Trung Hoa thuộc các thời kì lịch sử khác nhau (Tam Quốc Chí, Tấn Thư, Nam Tề Thư, Lương Thư, Tuỳ Thư, Tân Đường Thư, Thái Bình, Hoàn Vũ Ký, Thông Điển v.v ) vào thời Tam quốc (220-280) Thứ Sử Ngô ở Giao Châu Lữ Đại đã phái Khang Thái và Chu Ứng sang sứ Phù Nam Về nước, họ viết 1 số sách về Phù Nam, như: Khang Thái được dẫn trong “Thuỷ Kinh Chú”của Lịch Đạo Nguyên (cuối thế kỉ V- đầu thế kỉ VI ) nhan đề “Phù Nam truyện”, “Phù Nam ký” (quyển 177), “Thông Điển” (quyển 188);

“Sử Ký Chính Nghĩa” (quyển123) cuả Trương Thủ Tiết (phần luận về Sử Ký Tư Mã Thiên) nhan đề: “Phù Nam thổ tục”, “Phù Nam phổ tục truyện”, “Khang Thái (Khang thị) ngoại quốc truyện”

Trang 13

Chu Ứng - tác giả “Phù Nam dị vật chí” được dẫn trong “Tuỳ Thư” (quyển 33)

“Tân Đường Thư” (quyển 58)

Các tác giả khác cùng thời như Trúc Chi cũng viết “Phù Nam Ký” dẫn trong

“Thuỷ Kinh Chú”, “Thái Bình Ngự Lâm” và cả “Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục”, tiền biên, quyển 2 của sử gia Việt Nam Nguyễn về sau Tả Tư (thế kỷ III) viết một đoạn về Phù Nam suy đốn từ khi vua Rudravarman, giết anh soán ngôi khi cha chết 514 Nghĩa Tịnh, tác giả du ngoạn biển nam 671 – 695 viết về phong tục – địa

lý Phù Nam trong: “Nam Hải Ký Qui nội Pháp truyện” và “Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp cao tăng truyện”

Cụ thể, theo sử liệu ”Phù Nam” của Lê Hương, chép rằng: “Vương quốc Phù Nam ở hạ lưu sông Mê Kông phía Đông choáng cả miền Nam Việt Nam ngày nay và một phần đất Chiêm Thành Phía Bắc đến miền Trung lưu vực Sông Cửu Long thuộc đất Lào Phía Tây Bắc một phần lớn thung lũng Menam đất Thái Lan và bán đảo Malaca (Malaysia)”

Còn sử liệu Trung Hoa chép rằng: “Vương quốc Phù Nam ở phía Nam ấp phong Nhật Nam, trong một cái vịnh lớn hướng tây đại dương Phù Nam cách xa Nhật Nam hơn 3000 lý đơn vị đo lường, 1lý=400m về phía Tây Nam xứ Lâm Ấp Thủ đô cách bờ biển 500 lý: Trong nước có một con sông chảy từ hướng Tây Bắc về hướng Đông đổ ra biển, lãnh thổ sông rộng hơn 3000 lý Mặt đất thấp và bằng phẳng Khí hậu

và phong tục phần nhiều giống xứ Lâm Ấp trong xứ sản xuất vàng, bạc, đồng, kẽm, trầm hương, ngà voi, con công, chim thần chài, chim két năm sắc lông”

Từ giữa thế kỷ 19, các học giả phương Tây bắt đầu nghiên cứu thư tịch cổ về Phù Nam: Heweys de Saint Denys (1883) dịch “Văn hiến thông khảo” của Mã Đoan Lâm có đoạn về Phù Nam; mở đầu cho loạt chuyên khảo của De Rosny (1886), G Schlegol (1896), E Aymonier (1900) P Pelliot (1903)… đặt biệt các nhà văn minh nghiên cứu văn bia và các bản khắc cổ tự liên hệ đến quốc gia Phù Nam ở vùng hạ lưu sông Mê kông từ khoảng đầu công nguyên đến thế kỷ VII (bìa Võ Cạnh – thế kỷ III, bìa Prasat Pẵm Lovên ở Đồng Tháp Mười – thế kỷ V và Tà Pohm – thế kỷ VI ở Campuchia)

Trang 14

Tóm lại, qua thư tịch và bìa ký người ta phác thảo về Phù Nam (Vương tước

“Sailaraja”, “Parvatabhubala” – theo chữ Phạn, “Kurung Bnam” – theo tiếng khmer – “vua núi”) như sau:

Môn-Vương quốc Phù Nam có 13 đời vua :

Hỗn Điền – nửa sau thế kỷ 1, thời Hỗn Điền người sáng lập Phù Nam là Hỗn Điền (Kaundynia), ngoại nhân từ Ấn Độ, Mã Lai hay Nam Dương (vấn đề này còn đang tranh cãi) - người theo chỉ dẫn thần linh đến “vương quốc tương lai” chinh phục

và lấy nữ chúa bản địa là Liễu Diệp làm vợ, khai quốc triều đại vương quyền với 13 đời vua: vương triều đã mang tính chất phong kiến cát cứ: con trai đươc cấp 7 thị trấn làm thái ấp

Hỗn Bàn Huống - sinh 127 mất năm 90 tuổi

Phạm Kim Sinh - bị ám sát năm 225

Phạm Chiên 225 - 245: vua chính thức đặt ngoại giao với Vương Triều Ấn Độ Cu_Sa_Na ở lưu vực sông Hằng và đón sứ bộ nhà Ngô Trung Quốc

Phạm Trường - bị ám sát năm 245

Phạm Tầm 245 - 287

Trúc Chiên Đàn - 357 ? Thời Trúc Chiên Đàn (Thiên Trúc = Ấn Độ, Chiên Đàn = vua) đánh dấu sự cai trị của người Ấn dòng Kanisca triều Cu-sa-na gốc “Nguyệt Thị” (Yue - tche), ghi nhận quan hệ với người Ba Tư, Xa – Na - Nit qua di vật ở Óc

Eo

Kiều Trần Như (Kaundynia)

Trì Lê Đà Bạt Ma (Cri - indra varman hay Creshtha varman) – 424 - 438 (vấn

đề năm đời vua cai trị thứ 11 này vẫn còn đang tranh cãi)

Trang 15

Kiều Trần Như Đỗ Da Bạt Ma (Kaudynia Jaya Varman) – 470 - 514, dân chúng chuyên nghề buôn bán, nhưng đời sống không ổn định thường hay bị đánh phá, cướp bóc Nam Tề Thư viết: Phù Nam bắt cư dân các miền lân cận không chịu thuần phục về làm nô lệ Các thương gia được gởi đi buôn bán ở Quảng Châu Nhà vua thụ phong tước của hoàng đế Trung Hoa là An Nam Tướng Quân Phù Nam Quốc Vương Nhà sư Ấn Na Gia Tiên (Nagasena) được cử làm đặc sứ tại triều Trung Hoa 484 Khoảng năm 480, một thuộc hạ (cũng có thể là Hoàng Tử) chiếm ngôi vua Lâm Ấp Theo Tùy Thư, “nước Xích Thổ là một nhánh khác của Phù Nam” và Chân Lạp

“nguyên là một vương quốc phiên thuộc của Phù Nam”

Thời vua cuối – Lưu Đà Bạc Ma (Rudra varman) 514 - 550 là con cung phi giết thái tử Guvavarman soán ngôi Sau đó, anh em Bhavavarman và Chitasena khởi binh lật vua Phù Nam, lập nước Chân Lạp

Người Phù Nam đã bước sang thời đại văn minh mới với sự phát triển toàn diện

về mọi mặt trong kinh tế cũng như chính trị, văn hoá Họ lấy tên Thủ Đô của Vương quốc Phù Nam là: “Vyadhabara Dakmak” chữ khmer cổ là: “Đặc Mục” Có giả thiết cho là Angkor Boray có hai nghĩa là “Đặc Mục” và “ÓC EO”

Hiện nay vẫn chưa xác định rõ nhưng người cho là di tích Ba Phnom (Prei Veng – Campuchia), với các công trình, 1 bia Phạn ngữ nói về xây dựng linga tên “Adrivya hapura” nhằm tưởng niệm thần Shiva của “Vyad hapura”

Thủ đô Vyad Phapura cách bờ biển khoảng 500 lý (200 km) và người dân tập trung ở ba địa điểm chính:

Hải cảng Óc Eo ở gần núi Ba Thê (An Giang)

Thị trấn Thnol Moroy ở phía Đông Nam Rạch Giá (Kiên Giang), ngay giữa đồng chim

Thị trấn Angkor Borei thuộc tỉnh Takeo (Cao Miên) ở phía bắc Châu Đốc (An Giang)

Về hình dáng, phong tục tập quán của cư dân Phù Nam được các sách Trung Hoa mô tả và được các nhà khảo cổ học nghiên cứu chứng minh:

Người Phù Nam to lớn, nước da đen, xấu, tóc quăn, đi chân đất, tính tình mộc mạc (cốt sọ Trăm Phố – Thnat Moroy (Rạch Giá), Óc Eo, Lỗ Mô, An Giang,

Trang 16

Đồng Tháp, Cần Thơ – 5 sọ nam (1m62) - nữ (1m6) cạnh đền – từ 12 đến 20-30 tuổi: hộp sọ dài trung bình, dung tích lớn, thuộc “người bản địa” Etcnet - varsin, loại hình Indonesien gần gũi với “người Thượng Cổ” (Theo Nguyễn Quang Quyền ) Hình tượng người trên di vật Óc Eo nhiều yếu tố nhân chủng cộng cư: tóc rậm quăng, mặt tròn, mũi ngắn, tóc buông xuống bụng, lưng mang một tua rậm giống cái đuôi

Họ sống trong nhà sàn lợp lá; nhà vua cũng dựng bằng gỗ nhưng nhiều tầng Kỹ thuật kiến trúc gỗ phối thuộc vết tích Cự Thạch và kiến trúc gạch _ đá hỗn hợp kiến tạo đền đài… Suy theo bia ký, họ nói tiếng Môn – khmer; có sách vở và văn khố: chữ giống “chữ Hồ” (các dân tộc Trung Á (Sử Trung Hoa ) Văn tự dùng ở Ấn Độ thế kỷ

II - V, nhóm mới hơn giống chữ Bắc Ấn vì nét cứng hơn văn tự dùng ở Nam Ấn - Chữ Phạn và chữ khmer cổ trên bia đá là vàng Đá Nổi, Bình Tả… Di Vật Óc Eo (con dấu, trang sức, bùa vàng, thiếc mạ vàng, mã não) khắc từ câu ngắn chữ Hán, Mã Lai, La Tinh, nhưng chữ Phạn Ngữ chiếm đa số Một số con dấu, nhẫn Óc Eo: chữ Brami giống kiểu chữ Gupta hay xưa hơn

Họ sống trần truồng, xăm mình, tóc buông xuống lưng, không biết đến y phục

cả trên lẫn dưới” (Lương Thư ), Thế kỷ 3, phụ nữ có mặc tấm vải xẻ lỗ đơn sơ “kiểu Liễu Diệp” Sau này, đàn ông mang khố: “người nghèo đóng khố vải thường, con nhà quyền quý cắt khố bằng gấm” Trên tượng thần loại váy có nhiều đường xếp buộc lại bằng một thắt lưng mông

Lối sống và cách sinh hoạt của cư dân cổ Óc Eo được miêu tả như sau:

Nhà vua là người có quyền lực cao nhất, có các quan lại tả hữu phục vụ: Phạm Chiên: “cho dựng lều mát ở những nơi dạo chơi Sáng và trưa có 3 hay 4 buổi chầu Nhà vua di chuyển bằng voi (khi vua ngồi), trước mặt ông có trải 1 tấm vải, trên đặt những bình vàng và lư trầm”1 Vua có lối ngồi “thoải mái vương giả”, “khi vua ngồi,

“ông ngồi nghiêng, chân phải co lên, chân trái buông thõng xuống đất”, “Nhà vua thích đi săn” mọi người Phù Nam, nam và nữ hay dùng voi di chuyển và săn bắn

“Mỗi khi đi săn, họ đi cả tháng”, thú tiêu khiển có ghi trên điêu khắc kiến trúc Bay-on,

“Phổ biến hơn là trò chọi gà và chọi heo.”

[1]

Lê Hương, Sử liệu Phù Nam, NXB Sài Gòn, 1965, trang 81

Trang 17

Về tang lễ, người Phù Nam có 4 cách mai táng: Thuỷ - hoả - địa - điểu táng (chim rỉa xác) Khi có tang người chịu tang phải cạo cả râu, tóc

Về tình hình kinh tế – xã hội – văn hoá – nghệ thuật:

Người Phù Nam sinh sống bằng nghề nông, họ tổ chức khia thác đất hoang quy mô: “một lãnh thổ phục từ đầm lầy” (Văn bia Prasat Prẵm Lovên – Đồng Tháp Mười)

Sứ giả Trung Hoa ngạc nhiên vì sự phì nhiêu đất cát bản địa, với một loại mía cao lạ thường và một giống lúa “gieo một vụ, gặt ba năm” Dân chúng không đào giếng mà lấy nước ở các hồ – kênh rạch xã thôn công cộng (trapan) Lúa gạo là lương thực chính, với thực phẩm gồm cả thức ăn sông-biển: sò, hến, rùa, cá, gia súc, thú rừng ( heo, trâu…)

Thương nghiệp đặc biệt phát triển, vào giữa thế kỷ III – IV Phù Nam chinh phục Bắc Mã Lai khống chế nền thương mại hàng hải Đông Nam Á, kiểm soát lộ trình thuỷ – bộ giữa Ấn Độ Dương và biển Đông Vua to lớn Jayavarman (478 –514) cử thương nhân sang Quảng Châu và tăng cường buôn bán với Ấn Độ

Sinh hoạt nội thương: hàng trăm tiền bằng kim loại cắt 4 – 8 Óc Eo, Đá Nổi…

và ngoại thương, các loại dấu tiền tệ nước ngoại

Tài chính thuế khoá tổ chức phù hợp với tình hình nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp phát triển Theo Tấn Thư: thuế được đóng bằng vàng, bạc, châu ngọc, hương liệu pháp luật “thần đoán”: “Bị cáo nhịn ăn 3 hôm, phải cầm một lưỡi rìu

đỏ nung trong tay, đi 7 bước; hoặc nhúng tay vào nồi nước sôi tìm nhẫn vàng, trứng luộc – nếu bỏng là có tội Khi mất trộm, đem ít gạo khấn ở đền thờ, kẻ tình nghi ăn cơm nấu bằng gạo đó, có máu chảy trong miệng là có tội …”.2

+ Các nghề thủ công cũng phát triển cùng phát triển với nghề thương mại như đóng thuyền, khai thác, chế tác đá, xây dựng đền đài v.v Nghệ thuật làm tượng Ấn Giáo (tín ngưỡng Shiva,Vishnu mang phong cách Phnom đã ảnh hưởng nghệ thuật Ấn hậu Gúpta ở Óc Eo, Ba Thê,Vát Chơ –Rác- Rạch Giá…) và tượng phật bằng gỗ (Đá Nổi, Tháp Mười, Phong Mỹ), bằng đá (Angkor, Boray…) mang ảnh hưởng nghệ thuật Amravati hay Dvaravati và phảng đôi nét xa xăm phong cách Hy Lạp)

2

Lê Hương, Sử Liệu Phù Nam ,NXB KHXH, 1995 trang 85

Trang 18

Nghệ thuật kim hoàn cũng phát triển rực rỡ chẳng thua kém các loại hình nghệ thuật khác: Người Phù Nam “thích chạm trỗ, đúc nhẫn, vòng vàng, chén đĩa bạc; luyện kim (thoi- lá-vụn đồng, nồi đúc đồng; chì kẽm; quặng-cặn – bọt”; khuôn luyện đúc thiết bằng đá, vụn thiếc), kim hoàn (đá thử vàng, búa, dùi, thoi_vụn vàng, dụng cụ – sản phẩm vàng bạc) và trang sức kim cương – thuỷ tinh – đá quý với nghệ thuật khắc mịn trên ngọc, khảm mặt nhẫn bằng đá quý, thuỷ tinh…Những biểu hiện nghệ thuật Phù Nam mang yếu tố Ấn Độ, Trung Á, có thể cả Địa Trung Hải, với những đặc thù bản địa nhận chân với Khmer, Chân Lạp và Lâm Ấp

1 Văn hoá Óc Eo

Văn hóa Óc Eo qua lăng kính các nhà sử Trung Hoa mô tả rất rực rỡ, trù phú cả

về vật chất lẫn tinh thần Một nền văn hóa lớn mạnh về kinh tế và chính trị Rõ ràng, văn hóa Óc Eo không những tiếp thu những yếu tố phù hợp với cư dân bản địa từ các nền văn hóa bên ngoài mà còn có sự sáng tạo kì diệu, trở thành yếu tố đặc trưng vốn có của nền văn hóa bản địa Và cùng với sự lớn mạnh “bành trướng” ra bên ngoài của mình, vương quốc Phù Nam cũng mang theo nền văn hóa Óc Eo tràn đầy sinh lực gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến các vùng lân cận Tôi xin giới thiệu sơ lược về 2 di tích điển hình trong số những di tích khác thuộc truyền thống văn hoá Óc Eo, mà ở đó một thời là trung tâm kinh tế của khu vực, là bộ mặt của nền văn hoá Óc Eo Đó là: Hải cảng Óc Eo (An Giang ) và Thị Trấn Thnols Moroy (Thị Trấn Trăm Phố) thuộc Kiên Giang ngày nay

1.1 Hải cảng Óc Eo

Phù Nam (thuộc tỉnh Kiên Giang ngày nay), nơi đây chính là hải cảng lớn tại vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, lúc bấy giờ thương thuyền của ngoại quốc thường cập vào bến này để trao đổi hàng hoá Người Phù Nam gọi đây là Urkeu Sở dĩ

có tên gọi thế là để đánh dấu một thành phố bị sụp đổ vùi lấp vì địa chấn hoặc vì hồng thuỷ Người ta ước đoán hàng năm con sông Mê Kông mang ra biển từ 500 đến 1200 triệu thước phù sa và từ đấy hải cảng Óc Eo bồi thêm hàng năm là rất nhiều

Không chỉ tại vùng cảng Óc Eo tìm thấy các dấu hiệu nhận biết đặc điểm của một thành phố nhộn nhịp bị chôn vùi, “mà tại các vùng xung quanh tìm thấy rất nhiều chiếc ghe xuồng lớn có cột buồm nằm ở phía U Minh thượng, những vỏ ốc, vỏ sò nằm

Trang 19

lộ thiên rất nhiều ở vùng Rạch Giá, núi Ba Thê”3… Từng bấy nhiêu di vật được tìm thấy cũng đủ chứng minh lớp văn hoá ở từng tầng một là rất dầy, chứng minh từ lúc hình thành đến lúc bị sụp đổ là phát triển liên tục từ thấp đến cao

Ở vùng hải cảng này được biết đến với sự hiện diện của món nữ trang bằng vàng ở vùng Rạch Giá, hình dạng món nữ trang này như một sợi dây nịt kết nối các mảnh vàng với nhau.Và còn rất nhiều hiện vật tìm thấy quanh vùng cảng Óc Eo và cùng các nơi lân cận

Ở các vùng ven, xung quanh thị cảng này các nhà khảo cổ học còn tìm thấy chén, bát, lu, hủ bằng đất nung, các đồ dùng trong sản xuất nông nghiệp Họ còn tìm thấy những ngôi nhà sàn, một dạng cư trú quanh vùng ngập nước, đây là nét đặc trưng của cư dân cổ vùng sông nước Đi sâu vào tìm hiểu các di vật tại hải cảng này ta thấy nơi đây một nền văn hoá cổ Óc Eo rất đặc sắc và đầy bí ẩn Đó là:

Vết tích những căn nhà sàn bằng vật liệu nhẹ, nền vách đến thờ xây bằng gạch

và đá hoa cương Nhiều lưỡi búa bằng đá mài, nhiều đồ dùng bằng đất nung Hàng ngàn hạt chuỗi bằng thuỷ tinh và đá quý Hơn sáu mươi bảo thạch, ấn, ngọc chạm bằng nhiều loại mã não, thạch anh Có tới 100 cỗ vật bằng đồng, tượng nhỏ và búa phù bằng thiếc vài cổ vật bằng sắt Trên 1000 nữ trang bằng vàng nguyên chất Ngoài ra còn có nhiều chứng tích về gốm nhưng do trải qua một thời gian dài và thuỷ triều lên xuống thất thường nên bị vỡ, bào mòn không có hình dạng nhất định

Căn cứ vào kỹ thuật chế tạo các cổ vật và các kí hiệu trên chúng, người ta đã cho rằng văn minh Óc Eo đã phát triển trong khoảng thế kỷ III - IV Trong tổng số hiện vật tìm được có cả những loại “ du nhập”, nhất là loại cổ vật Ấn Độ có rất nhiều,

cổ vật La Mã, cổ vật Ba Tư

Chính những hiện vật “du nhập” tồn tại nơi đây chứng minh hải cảng Óc Eo thời nay, thương mại cũng rất phát triển Các hiện vật “bản địa”, cho chúng ta một thông điệp rằng: Óc Eo là trung tâm công nghệ đa dạng, phong phú với các sản phẩm làm ra ở một trình độ kỹ thuật cao, công phu Rất tiếc do tồn tại không dài lắm, trong lịch sử nên nền văn hoá Óc Eo chưa phát triển đúng tầm vóc của nó Một yếu tố rất đáng lưu ý là có thể do bị lũ lụt hoặc do sức bão kinh hoàng tàn phá làm sụp đổ toàn

3

Lê Xuân Diệm,Đào Linh Côn,Võ Sĩ Khải, Văn hóa Óc Eo những khám phá mới,

Trang 20

bộ, bằng chứng là những nhà sàn bị vùi dưới lòng đất mà ông L Malleret đã tìm thấy được Thiên tai có thể xảy ra vào cuối thế kỉ VIII, người ta tìm thấy xung quanh những nơi thấp lớp phù sa dầy 2 thước, nơi cao 60 cm Trung bình mỗi năm sông Cửu Long bồi thêm một lớp đất dày từ khoảng 0,05m đến 0,06m mỗi thế kỷ

2 Thị trấn Trăm Phố (Thnol Moroy)

Thị trấn Thnol Moroy, còn gọi là Thnol Mroy hay là thị trấn “trăm đường” (thành phố), và còn nhiều tên gọi khác Vùng này khi M Malleret tìm đến vẫn còn rất hoang vắng hiện nay thuộc tỉnh Kiên Giang, tiếp tục tìm kiếm vào tháng 4/1943 ông Lucien Bous Carde (Pháp), đã khám phá được nhóm gò đồng đắp cao trên ấy có nhiều viên gạch và mảnh chén, nồi vỡ rất giống với loại ở Óc Eo

Dọc theo một con kênh, tìm thấy nhiều đống vỏ sò trong vùng đất đã bị san bằng Hiện vật trên chứng tỏ nơi đây xưa kia là bờ biển, vô số mảnh nồi chén vỡ mang nhiều nét vẽ rất giống loại ở Óc Eo L Malleret đã tìm thấy nhiều xương cốt người cổ xưa Theo bà E.Genet - Varcin những xương người này thuộc giống người Indonesien cùng loại với người Thượng ở Việt Nam, người Kha, người Boloven ở Lào, người Penang, Bahnar, Plen ở Cao Miên, người Dayale ở Borkeo Tại vùng thị trấn này có nhiều đặc trưng rất giống vùng Óc Eo, chính các nhà nghiên cứu đã nhận xét như vậy Các nhóm người di dân vào đây tạo thành một thị trấn sầm uất, tuy chưa sánh bằng hải cảng Óc Eo nhưng xét về gốc độ văn hoá, tộc người thì nơi đây cũng hội đủ các yếu tố cấu thành một nền văn hoá Khảo sát sau năm 1981 ghi nhận 3 nhóm di tích: Gò Đền vua với kiến trúc hoa cương gạch (dạng mô gạch, mô gạch – đá) và nhà sàn xung quanh; những “liếp vườn” gần Đền Vua; kinh Chín Huệ – nơi phát hiện 5 sọ người năm 1944 Di vật thu thêm: mi cửa lớn, phù điêu đá mang hình chạm đinh ba lửa thần Shiva, Linga gỗ – đá, bàn và chày nghiền, 700 đất nung, 5 khuôn luyện đất sống, di vật hữu cơ: xương, gỗ than củi, trái cây, hạt lúa cổ, 7 cá thể người (3 lớn, 2 trẻ,

1 sọ Indonesien nhiều đặc điểm Australoid – Nguyễn Quang Quyền, 1900), 1000 xương răng, thú nuôi và thú rừng gồm: trâu, bò, chó, heo,voi, khỉ, hươu nai, chồn, rắn, rùa, chim, cá …

Tóm lại, với điều kiện tự nhiên cùng với vị trí dễ phát triển về mọi mặt, nên nơi đây từ xa xưa con người đã tạo tác nên một nền văn hoá rất độc đáo, văn hoá Óc – Eo

và tên gọi này đến nay vẫn giữ nguyên Hiện vật độc đáo này cùng với muôn vàng

Trang 21

điều mới mẻ luôn luôn hấp dẫn trí tìm tòi, thích khám phá và chinh phục của các nhà khoa học Những dấu hỏi đằng sau các hiện vật luôn luôn ám ảnh những ai yêu thích công việc khôi phục văn hoá, khôi phục những trang sử đã bị lãng quên

II ĐỊA BÀN CÓ HIỆN VẬT VÀNG THUỘC TRUYỀN THỐNG ÓC EO

Những di vật vàng các nhà khảo cổ học tìm được hầu hết tập trung ở những vùng đất gần biển, có lẽ xưa kia ở những nơi dây chính là nơi diễn ra các hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa tấp nập, sầm uất Mật độ quần cư dày nên có thể là những nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động tôn giáo, lễ hội nghi thức tín ngưỡng Hiện nay, các nhà khảo cổ học có tiến hành khai quật di tích Cát Tiên và phát hiện thêm số lượng vàng thuộc truyền thống văn hóa Óc Eo khá lớn Công việc xác định địa danh di tích văn hóa có các di vật vàng là điều cần thiết để nghiên cứu kỹ và sâu hơn nền văn hóa Óc Eo mang tính tổng quát và lôgíc nhất Vì thấy số lượng hiện vật tìm thấy nhiều nhất ở các di tích: Đá Nổi, Nền chùa, Gò Tháp, Gò Xoài, Gò Thành, Kè Một, Lưu Cừ,

Óc Eo, Cát Tiên Chúng tôi lựa chọn các sưu tập trên làm cơ sở tư liệu để hệ thống và bước đầu khảo cứu

1 Óc Eo (An Giang)

Óc Eo nằm trên cách đồng Giồng Cát – Giồng Xoài, tiếp giáp về phía đông và đông nam núi Ba Thê, nay thuộc địa phận xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn; được phát hiện vào tháng 4 - 1942, khai quật lần đầu tiên vào tháng 2 đến tháng 4 năm 1944 (Louis Malleret, 1944; George Coedes , 1947) Di tích này đã được giới thiệu ở phần trước Và ở phần này, người viết chỉ nói thêm những vấn đề xoay quanh hiện vật vàng

Di tích này tiếp tục bị phá hoại bởi những người đào tìm vàng, có thể vì nguyên nhân này mà số lượng vàng chúng tìm thấy được hiện nay tại di tích là quá ít, thậm chí là không tìm thấy gì hơn ngoài 1 nữa chiếc khuyên tai có chốt

2 Đá Nổi (An Giang)

Thuộc xã Phú Hòa, Thoại Sơn, phát hiện vào năm 1984 khi dân đào vàng đào rộng hàng chục ha xung quanh Miếu Bà Chúa Xứ dọc lũng Xẻo Mây – cuộc khai quật

1985 phát hiện di chỉ cư trú và 7 mộ táng cấu trúc trung tâm hình trụ xây gạch, thu trong 5 ngòi: 317 hiện vật vàng chạm hình người; động vật, thảo mộc, vật dụng, hình học - những biểu tượng tín ngưỡng Bà La Môn và Đạo Phật, văn tự Sanskrit; trong mộ

2 có 1 bệ thờ gồm một linga vàng gắn trên bệ đồng và một lá vàng mỏng mạ đen bị

Trang 22

Linga xuyên thủng

Ngoài ra, trên mặt còn 1 phiến đá khắc minh văn Sanskit Ngoài ra, ở đây còn nhiều dấu viết của nhiều đường cổ và còn tìm được dấu vết thuyền bè tìm trong lòng lung cổ

Cuộc khai quật năm 1985 tại di tích Đá Nổi đã cứu vãn một sưu tập hiện vật bằng vàng được đánh giá là quan trọng nhất về số lượng và cả về nội dung văn hóa trong các di tích văn hóa Óc Eo được biết từ năm 1944 đến nay

3 Nền Chùa (Kiên Giang)

Di tích cũng có tên gọi là Tã kèn có nghĩa là “ Ông Ngọc” (Louis Malleret 1959), thuộc ấp 3, xã Tân Hội , Tân Hiệp; ở vị trí cách khu di tích Óc Eo 12 km về phía Tây Nam, cách thị xã Rạch Giá 12 km về phía bắc Nơi đây có địa bàn đầm lầy, thấp trũng đường thăng cao từ 1,5 m đến 2m so với mực nước biển ở Hà Tiên; có nhiều lung lạch chạy ngoằn ngoèo

Từ sau cuộc khảo sát 1944 - 1946, di tích này được coi là thuộc văn hóa Óc Eo, thậm chí còn có vị trí như là một “tiền cảng” của “Thành phố cảng Óc Eo” Đồng thời còn cho biết “di tích Tã kev (tức nay là Nền Chùa) đã bị phá hủy và xem như đã mất hẳn đối với khoa học (Louis Malleret, 1959) Tại đây, trong các ngôi mộ chôn riêng trên gò, hoặc chôn chung trong 1 gò có diện tích rộng 2000m2, có chứa các di vật vàng

ở tại trung tâm trong một hộc hình trụ 4 cạnh, xây bằng gạch đá hoặc ghép bằng gỗ Trong lòng kênh phát hiện trang sức, con dấu tiền kim loại Kiến trúc trên gò ở đây được xem như “ kiến trúc bằng đá lớn nhất trong các kiến trúc văn hóa Óc Eo phát hiện cho đến ngày nay

4 Lưu Cừ (Trà Vinh)

Thuộc huyện Trà Cú, gồm nhiều di chỉ cư trú và kiến trúc trên Giồng Gò Cuộc khia quật năm 1986 – 1987 phát lộ nền móng cao 1,5m của kiến trúc gạch 31,2m x17,2m; với kiến trúc trung tâm 2 phần và 5 kiến trúc khối trụ vuông bên ngoài Di vật có: 4 bệ thờ và một Linga nhỏ, 1 Yoni bằng đá, 1 Linga- Yoni bằng thạch anh, 4 ly và

2 cánh tay, mảnh vai Phật Đồng, 3 lá vàng dập hình lửa và mặt trời, nhiều mảnh vàng, đồng và gốm vụn

Trang 23

5 Gò Thành (Tiền Giang)

Di tích Gò Thành thuộc xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo được biết từ 1941 (Malleret, L, 1963) Các cuộc đào 1987 - 1989 ghi nhận: di chỉ cư trú vùng trũng; 5 kiến trúc gạch (ngăn phòng hình gạch hình chữ nhật, có đường ven, đường dẫn nước);

12 kiến trúc “mộ” trên gò nổi, huyệt ốp gạch hình vuông, vách đất hay xây gạch, có hộc gạch vuông điền đầy cát và gạch vỡ Nhiều loại hình di chỉ phân bố trên một gò đất đắp rộng, có nhiều đặc điểm giống các di tích ở Trà Vinh và Vĩnh Long, đều thuộc vùng đất giồng ven biển Các niên đại C14 ở đây nằm trong khoảng từ thế kỉ 4 đến thế

kỉ 8 sau Công nguyên

Di vật có: 196 vàng (vòng đeo gắn hình lá cây, bông sen, bông mai 6 cánh, các

lá vàng vẽ voi ), 6 đồng ( 2 nhẫn với 1 đầu voi, 1 xập xõa, 1 ống nhỏ, 2 mảnh hình thang ); 22 đá; 47 đồ đất nung.4

6 Gò Tháp (Đồng Tháp)

Còn có tên Prasat Pream Loven (chùa Năm Gian) hoặc Tháp Mười , do Sylvestre phát hiện (1869 – 1878), nhiều học giả khảo cứu, thám sát (Parmentier, H.1931, Claeys, J.Y 1931, Malleret, L 1943 – 1944), phát hiện nhiều vết tích kiến trúc, tượng, điêu khắc và 9 phiến đá có văn tự cổ ghi nhận: “ Một trung tâm tôn giáo khá quan trọng (liên hệ sự kiện) Vị thái tử Gunavarman mặc dù còn trẻ tuổi đã được Rudnavarman phong cho trị vì 1 lãnh thổ sùng đạo, được chinh phục từ đầm lầy” (Coedes, G 1931) Gò Tháp là khu di tích lớn hiện biết của tỉnh Năm 1984, các di tích quan trọng của khu di tích Gò Tháp như: Gò Tháp Mười, Gò Bà Chúa Xứ, Gò Minh

Sư, các gò nhỏ hơn, và các khu ruộng trũng phía Bắc có tên Đìa Phật, Đìa Vàng Tháp

đã được khảo sát

Các cuộc khảo sát – khai quật từ 1983 - 2002 ghi nhận: các kiến trúc quy mô lớn trên các gò Bà Chúa Xứ - Linh Miếu Bà, Tháp Mười cổ tự (đền Linh Miếu Bà: 20,9 x 13,3m; cao 1,4 m, xây bẻ góc, chia ô vuông, giữa xếp gạch hình hoa thị 8 cánh)

và 2 mộ huyệt vuông giữa có hộc gạch trụ vuông (chôn theo: 107 vàng - có 1 bông hoa

4 cánh, 1 nhẫn, 1 bông tai, 1 hạt và 9 mảnh chạm hình hoa, và nhiều mảnh xé vụn, 3

 Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, Văn hoá Óc Eo những khám phá mới, NXB KHXH, HN, 1995,

tr 76-78,204,205

Trang 24

đá quý, 1 chuỗi thủy tinh); ở Minh Sư, 6 mộ khai quật 1993 có: 2 nhẫn vàng, 235 mảnh vàng, 2 chuỗi, 2 viên đá quý, 7 mảnh thủy tinh xanh, cùng vết tích cư trú vùng trũng với cọc gỗ, di vật gỗ, trái cây, vỏ dừa, lúa cổ, xương răng trâu bò nhà, chó nhà đặc biệt ở “ Đìa Phật” còn 11 tượng bằng gỗ, cùng với các di vật thu thập quanh vùng như 1 sọ gần đủ chỏm và xương thái dương, đá kiến trúc, mảnh tượng, đá có văn minh Sankrit, sản phẩm tôn giáo – nghệ thuật (đất nung hình mặt người hình thần Shiva, Vishnu, Linga, Yoni ), đồ dùng sinh hoạt (chì lưới, nồi bình có vòi )

Đây là quần thể di tích Óc Eo đầu tiên biết ở cũng bắc sông Hậu (Bassac) thời tiền Angkor dựa theo phong cách nghệ thuật kiến trúc, tượng và minh văn cổ

7 Gò Xoài (Long An)

Là di tích thuộc quần thể di tích Bình Tả (Long An) ở xã Đức Hòa Hạ (Đức Hòa), phát hiện đầu thế kỷ 20, khai quật từ 1987 cùng gò: Gò Đồn, Năm Tước, gò Sáu Huấn

Gò Xoài (Chòm Mả): H Parmentier và J.Y Claeys nói tới (1918 – 1931), L.Malleret khảo tả 1 bức tường vuông (6,7 x 6,7m; cao 30cm) lộ trên mặt đất, 1 khung cửa dựng bằng 2 cột sa thạch (1,8x0,9 x 0,38m), 1 mi cửa có rãnh khớp phiến đá cạnh (1,66 x 0,9 x 0,25m), khung cửa tạo từ 4 tảng hoa cương (trên 1,68 x 0,68 x 0,38 m; dưới: 1,68 x 0,15 x 0,38m)

Cuộc khai quật 1987 phát hiện kiến trúc đền thờ có bình đồ gạch hình vuông (15,2 x 15,15m), với 1 hố thờ vuông xây 14 lớp gạch (2,2 x 2,2 m) Trong lòng hố, giữa có trụ gồm 16 lớp gạch xếp hình chữ Vạn có hộc cát dưới chứa: 28 di vật vàng, 4 nhẫn và một mề đay vàng nạm đá quý, 1 vòng tay dập hình rắn, 1 lá vàng văn minh Phạn ngữ (21 x 4cm), 8 là vàng chạm hình voi, 1 lá vàng chạm hình rùa, 2 lá vàng cắt hình bông sen 12 cánh, 1 lá cắt hình hoa sứ 8 cánh, 2 lá chạm hình, 5 lá vàng trơn, ít vàng vụn, một số mẫu kim loại, khoáng chất, than tro và 1 mảnh gốm Óc Eo

Trang 25

Quảng Ngãi là xã địa đầu của huyện Cụm di tích ở xã Quảng Ngãi, bao gồm 7 cụm đánh dấu từ I đến VII, thứ tự tính từ phía hạ lưu sông Đồng Nai đi ngược lên theo dòng chảy, trong mỗi cụm nếu có nhiều di tích cụ thể lại phân chia ra a-b-c… Các nhà khảo cổ học sau khi khảo sát 5 cụm trong số 7 cụm đã đưa ra kết luận: ở đây có hai loại hình kiến trúc là đền tháp xây nổi (các cụm I, II) và đền mộ xây nửa chìm nửa nổi (cụm V) Đó là những kiến trúc bình đồ vuông, hình tháp vươn cao, chỉ có một cửa ở phía Đông, được xây thành cụm như các đền tháp Chămpa và Óc Eo Hiện vật thờ quan trọng trong đền tháp và đền mộ ở Cát Tiên là bộ ngẫu tượng Linga- Yoni (bằng vàng và đá quí) với kích thước từ rất nhỏ đến rất lớn thuộc loại lớn ở nước ta Bên trong đó, còn chôn theo những mảnh vàng có chạm khắc những hình tượng tôn giáo như: bò thần Nadin, ngỗng, rùa, Brahma, Shiva, Vishnu… chủ yếu thiên về Balamôn giáo

Một số nhà nghiên cứu qua so sánh các đền tháp chịu ảnh hưởng văn hoá Ấn

Độ ở vùng Nam Đông Dương, cho rằng các di tích ở Cát Tiên thuộc các thế kỷ VIII-

XI Trong quá trình tìm hiểu các hiện vật vàng liên quan đến văn hoá tôn giáo và bước đầu tiếp cận với môtíp nghệ thuật của vùng đất Nam bộ, tôi ủng hộ quan điểm của các nhà khảo cổ học cho rằng Cát Tiên thuộc truyền thống văn hoá Óc Eo là chủ yếu Các

di tích thuộc thánh địa Cát Tiên hiện nay vẫn đang được khảo sát trên diện rộng và chúng cần nhiều câu trả lời thật thoả đáng về mối quan hệ của chúng với các vùng lân cận, để chúng ta hiểu rõ hơn nguồn gốc văn hoá của vùng đất rìa cao nguyên Lâm Viên huyền bí này

Nhìn chung, ở 8 di tích có hiện vật vàng kể trên, phần nào thể hiện cuộc sống

con người trên đó Kết hợp với các loại di vật khác như kiến trúc-mộ táng, đền tháp, gốm sứ, tượng, thuyền, ta có thể suy nghĩ ngay đến một thị trấn, thị cảng sầm uất, tấp nập, giàu có đông dân Đó là một xã hội thấm đẫm màu sắc tôn giáo – tín ngưỡng Tôn giáo trở thành nguồn cảm hứng bất tận trong các đề tài văn hóa nghệ thuật ở Vương quốc Phù Nam

Việc nghiên cứu di vật vàng đặt trong tổng thể nền văn hóa Óc Eo là điều cần thiết và rất quan trọng Bởi những lá vàng tìm thấy được không phải lúc nào cũng còn nguyên vẹn và đầy đủ, chắc chắn chúng phải có mối liên hệ và đặc tính chung theo một mô típ nghệ thuật nào đó giống các hoa văn di vật

Trang 26

III HIỆN VẬT VÀNG TRONG VĂN HOÁ ÓC –EO

Di vật vàng thuộc văn hoá Óc Eo thu nhập được từ sau năm 1975 đến nay có

số lượng khá lớn, có tới gần 1000 hiện vật Phần lớn di vật bằng vàng được phát hiện trong các cuộc khai quật khảo cổ học ở các di tích Nền Chùa ( 31) Óc Eo (9), Gò Tháp

334 (có 226 hiện vật mới khai quật trong năm 1993 chưa chỉnh lý), Đá Nổi (317), Gò Xoài (26), Gò Trăm Quì (51), Kè Một (31), tôi đã cố gắng trình bày ở phần trên, trước khi đi vào mô tả và phân loại hiện vật vàng ở phần này

Việc nghiên cứu, phân tích, phân loại các di vật bằng vàng đã từng bước tiến hành có hệ thống Có lẽ, do số lượng hiện vật quá lớn, quá phức tạp, lại nằm rải rác ở các di tích chất khác nhau nên việc nghiên cứu chúng cũng có những hạn chế, có thể phân biệt ra thành hai loại: đồ trang sức bằng vàng và vàng lá

2 chiếc khuyên tai hình con đĩa có chốt bấm thu thập ở di tích Óc Eo

5 khuyên tai nhỏ được làm bằng dây vàng có tiết diện tròn uốn thành vòng tròn, phát hiện trong mộ Gò Tháp: 1 và ở Kè Một: 4 chiếc

1 bông tai hình bông hoa bốn cánh nhọn, tìm thấy trong mộ táng ở di tích Gò Thành

1 bông tai hình nút áo vuông có đính đá cẩm thạch màu xanh trên mặt trước, có móc đeo ở mặt sau, tìm thấy trong mộ táng ở Kè Một

Trang 27

1 bông tai tạo bởi một dây vàng có phân nửa diện tích tròn, phân nửa dẹt quấn vào nhau: phần tròn quấn vào thân phần dẹt kiểu quấn dây may-xo tạo thành loại khuyên tai đeo có dạng “ tòn teng”

7 chiếc nguyên và gãy ở di tích Lưu Cừ (4), Gò Xoài (2), Gò Thành (1)

Hạt chuỗi: 8 hạt tìm thấy ở khu vực kiến trúc K2 ở di tích Gò Thành

Bông chuỗi: 10 bông, thu nhập ở khu vực kiến trúc K2 ở di tích Gò Thành Bông hoa: 2 bông, phát hiện trong mộ ở di tích Gò Tháp và Đá Nổi

Loại lớn nhất có kích thước dài rộng dao động từ 5 cm trở lên chiếm số lượng rất ít, được tìm thấy chính ở di tích Đá Nổi, Gò Thành và Gò Xoài

Song song với việc đo đạc kích thước, công việc cân đo trọng lượng của hiện vật vàng cũng đã được tiến hành Nhưng đến nay người ta chưa có điều kiện thực hiện trên toàn bộ các di vật Một trong các di tích có di vật bằng vàng đã được cân đo trọng lượng cho từng cá thể phải nói đến Đá Nổi Ở di tích này, trong tổng số 312 lá vàng tìm thấy, có đến 143 lá nặng từ 0,1 phân đến 1 phân, chiếm tỉ lệ 45,61%; 96 lá vàng cân nặng từ 1,1 phân đến 2 phân chiếm 29,95%; 43 lá vàng nặng từ 2,1 phân đến 4

Trang 28

phân chiếm tỉ lệ 13,42% tổng số lá vàng hiện có và có 30 lá trọng lượng từ 4,1 phân trở lên chiếm 9,36%

Như vậy ở di tích Đá Nổi, trọng lượng phổ biến của các lá vàng là từ 0,1 phân đến 2 phân Đây cũng là trọng lượng phổ biến chung của vàng lá tìm thấy trong các di tích văn hóa Óc Eo ở vùng đồng bằng châu thổ ĐBSCL

Đặc điểm nổi bật nhất của di vật vàng văn hóa Óc Eo là những đề tài trang trí hoa văn Có rất nhiều hoa văn trên vàng đã được tìm thấy, tôi không thể kể ra hết ở đây một cách đầy đủ và chi tiết về chúng Nhưng tôi tập trung và phân tích có hệ thống những hoa văn cũng như hiện vật vàng có ý nghĩa về tôn giáo và liên quan đến đời sống con người thuộc truyền thống Óc Eo Chúng cũng là những đứa con tinh thần, được sản sinh từ nền tảng vật chất giàu có và trù phú tại mảnh đất hạ lưu sông Mêkông này Có tới 298 lá vàng có hình chạm khắc hoặc dập cắt thành nhiều hình khác nhau, được tìm thấy trong các di tích Nền Chùa (22), Gò Tháp (5), Đá Nổi (233), Gò Xoài (14), Gò Thành (22), Kè Một (13) và Gò Hàng (1), Cát Tiên (281)

3.2.1 Đề tài hình người

Gồm 44 hình: các mảnh vàng được chạm hình người, hình nhân thần, hình người thú, người chim và bàn chân người, phát hiện trong các ngôi mộ hỏa táng ở di tích Nền Chùa (4), Đá Nổi (39) và ở di tích Gò Hàng (1) gồm:

2 hình thần Vishnu chạm trên 2 lá vàng ở di tích Đá Nổi

2 hình thần Surya (hiện nay vẫn còn đang xác định) chạm trên 2 lá vàng rất mỏng tìm thấy trong mộ 85ĐN.M2 ở di tích Đá Nổi

19 hình người hoặc Nhân Thần được chạm với nhiều kiểu dáng khác nhau, gồm

7 hình người tìm thấy trong mộ 85ĐN.M2 ở di tích Đá Nổi 7 hình người chạm trên 7

lá vàng phát hiện trong 85ĐN.M3 ở di tích Đá Nổi có hình dạng khá giống nhau, cả 7 được chạm trong tư thế đứng thẳng, đầu đội mũ, nét mặt nghiêm trang, quần áo mặc

bó sát thân Một người được chạm trong tư thế đứng phát hiện trong mộ NG82.BC82 ở

di tích Nền Chùa

2 hình người ngồi chạm trên lá vàng khai quật được trong mộ ở di tích Nền Chùa và Đá Nổi Trong đó, hình người ở Nền Chùa có vẻ như con nhà phật ngồi xếp

Trang 29

bằng trên tòa sen Hình người Đá Nổi được chạm như ngồi xếp bằng trên ngọn lửa

1 hình người quỳ có dạng giống nhân sư chạm trên lá vàng tìm thấy trong mộ NC83.NC1 ở di tích Nền Chùa là một người đàn ông đang quỳ 2 chân gập vào nhau, mông sát gót chân

2 hình chạm người đàn bà phát hiện trong các ngôi mộ ở di tích Nền Chùa và

Đá Nổi

2 hình bàn chân: 1 bàn chân phải, một bàn chân trái được chạm trên hai lá vàng được tìm thấy trong mộ 85ĐN.M4 ở di tích Đá Nổi, có thể là bàn chân của thần Vishnu

8 hình người thú chạm trên lá vàng khai quật trong mộ 85ĐN.M4 là những hình người đầu lợn rừng

10 hình người chim chạm trên lá vàng phát hiện tại mộ ở di tích Đá Nổi (9) và ở

Gò Hàng (1)

3.2.2 Đề tài động vật

Có 99 hình loại vật được chạm dập trên lá vàng phát hiện trong di tích mộ táng

ở Nền Chùa (7), Gò Tháp (3), Đá Nổi (55), Gò Xoài (11) và Kè Một (5) Bao gồm cấc hình bò, voi, hươu nai, ngựa , chó sói , rùa , cá và cá sấu Mỗi hình thường được chạm khắc trên một lá vàng hoặc được chạm với các hình thể khác như: bánh xe, con ốc, bông sen Trong số này có:

38 hình bò chạm trên lá vàng phát hiện trong các ngôi mộ ở Nền Chùa (3 hình),

Gò Tháp (3 hình), Đá Nổi (31 hình) và ở Kè Một

28 hình voi chạm trên vàng phát hiện trong các di tích Gò Thành (18), Gò Xoài (8) và Kè Một (2) Hình voi được chạm trên các tư thế: chính diện (15 hình), nhìn nghiêng (9 hình) và thân trong tư thế nhìn nghiêng, đầu nhìn chính diện (4 hình) Nhìn chung, những hình chạm voi diễn tả khá hiện thực, có đầy đủ tất cả các chi tiết của cơ thể

3 hình hươu nai chạm trên lá vàng, phát hiện ở di tích Nền Chùa (1) và Đá Nổi (2)

2 hình ngựa chạm trên lá vàng trong mộ 85ĐN.M4 ở di tích Đá Nổi gồm các

Trang 30

hình là một con ngựa đang đứng và một hình chạm cảnh con ngựa mẹ cho con bú

2 hình chạm chó sói (? ) tìm thấy trong mộ 85ĐN M4 ở di tích Đá Nổi

1 hình cá sấu (Makara) có đầu lớn mõm dài phát hiện trong mộ 85ĐN M2 ở di tích Đá Nổi

13 hình con rắn được chạm dập, cắt trên vàng tìm thấy trong các di tích Nền Chùa (1), Đá Nổi ( 10), Kè Một (1) và Gò Xoài (1)

7 hình rùa chạm, dập trên vàng được phát hiện trong các di tích Nền Chùa (2),

Ngoài hoa sen và hoa súng có 14 hình các cánh hoa được chạm riêng biệt trên

14 lá vàng gồm: hoa mai, hoa trang vàng, hoa cẩm chướng, hoa thược dược, hoa actisô; 5 hình chạm các loại trái cây trên 2 lá vàng gồm một trái mãng cầu xiêm hay bình bát, 1 trái thuộc họ cau dừa, 1 trái có thể là cam hoặc sa-pô-che và một chùm với

4 trái rời có thể thuộc bòn bon hay trái dâu da; 1 hình chạm 1 cây cao có đốt, tàu lá dài

có thể là cây dừa nước hoặc cau Hình cây thuộc họ cây dừa này được chạm bên cạnh một con bò đang đứng như gặm cỏ có thể là hình ảnh của vùng ĐBSCL trong thời kì văn hóa Óc Eo

3.2.4 Đề tài các vật thể

Nhóm đề tài này có khá nhiều, tới 205 hình chạm dập trên vàng phát hiện trong các di tích văn hóa Óc Eo ở Nền Chùa ( 9 hình ), Đá Nổi ( 190 hình ), Gò Tháp ( 4 hình ), Kè Một ( 2 hình ) Bao gồm các hình con ốc, bánh xe cây gậy, biểu tượng Laksmi, đinh ba, mặt trăng khuyết, vòng tròn hay mặt trời tháp thờ hay bệ, bình

Trang 31

có vòi, hình học Và có hàng chục hình chạm không rõ ý nghĩa hoặc chưa xác định

60 hình con ốc được chạm dập trên vàng phát hiện ở di tích mộ táng Đá Nổi (59) và Gò Tháp (1)

49 hình bánh xe khắc trên vàng, gồm 48 hình tìm thấy trong mộ ở Đá Nổi, 1 trong mộ ở Gò Tháp Thường những bánh xe có từ 7 đến 11 căm Vành bánh hình tròn, đôi khi cách điệu thành hình lục giác, bát giác hoặc thành hình răng cưa Trong số này,

có 16 hình chạm riêng trên 16 lá vàng Số còn lại được chạm cùng với hình người thú, người chim, hình ốc, hình hoa sen, hình tháp

12 hình đinh ba chạm trên vàng được tìm thấy ở di tích Nền Chùa (1 hình) và

Đá Nổi (11 hình)

2 hình chạm cây gậy phát hiện trong mộ 85ĐN.M4 ở di tích Đá Nổi

6 hình chạm tháp thờ hay bệ thờ trên vàng được tìm thấy trong di tích Đá Nổi

2 hình chạm biểu tượng Lasmi có dạng giống hình ếch cách điệu nhìn từ trên xuống, phát hiện trong mộ 85N.M4 ở di tích Đá Nổi (b:v L, h1)

1 hình bình có vòi, trên miệng có hình ngọn lửa hay bông sen dạng mũ miện, chạm trên vàng phát hiện trong mộ 85N.M2 ở Đá Nổi

27 hình chạm mặt trăng khuyết trên vàng ở Đá Nổi

11 hình chạm vòng tròn hay hình mặt trời trên các lá vàng ở Đá Nổi

3.2.5 Đề tài hình học

22 hình chạm trên vàng phát hiện được trong các ngôi mộ ở di tích Nền Chùa (5) và Đá Nổi (17) Bao gồm hình chữ nhật đều là hình chạm chính chạm trên lá vàng ( 9 hình ), các hình tam giác, hình thang thường rất nhỏ được chạm xung quanh bên ngoài các hình chạm chính hoặc nằm ở rìa cạnh của các lá vàng (b.v LIh , 4-8)

5 hình chạm dây thòng lọng (Pasa) là vũ khí Yama, có dạng giống cánh hoa dầu hay hình đầu cừu nhìn từ phía sau, phát hiện trong mộ 85N.M5 (b.v.LIh , 9-12)

30 hình chạm các vật thể chưa xác định

Hình chữ viết cổ: khắc trên vàng phát hiện ở di tích Đá Nổi (31), Gò Xoài (1) Trong

đó, 5 hình chữ viết là đề tài chính, 27 chữ viết được khắc cùng với các hình người,

Trang 32

hình người thú, người chim, hình bò, hình hoa sen ( b.v LII , h 1-6)

Ngoài những hình chạm chưa xác định nói trên, còn có 22 hình chạm không rõ ràng, tìm thấy trong các di tích Gò Tháp (2), Đá Nổi (18) và Kè Một (2)

Tóm lại, phần lớn những hình vật thể được khắc chạm trên vàng đều có liên quan đến tôn giáo Ấn Độ

3.3 Đề tài trên di vật vàng thuộc truyền thống Óc Eo ở Cát Tiên

Hoa văn trên hiện vật vàng ở vùng Nam Bộ đã được thống kê tương đối đầy đủ, còn hiện vật vàng ở Cát Tiên hiện nay người ta vẫn chưa thông kê đầy đủ rõ ràng, chi tiết cho nên trong phần này người viết cố gắng đưa Cát Tiên vào phần này để người đọc dễ dàng chấp nhận thông tin hiện có về số lượng vàng ở Cát Tiên và sự hiện diện của hiện vật vàng có giá trị đối với đề tài này không bị khiếm khuyết trong quá trình phân tích

Năm 1994, các cán bộ của Viện Khảo cổ học đã đến Cát Tiên phối hợp với Bảo tàng Lâm Đồng tiến hành điều tra kỹ khu vực di tích thuộc xã Quảng Ngãi và đã xác định chắc chắn đây là một khu di tích kiến trúc đền tháp lớn gồm 7 nhóm được đánh

số từ I đến VII kể từ phía hạ nguồn sông Đạ Đờng Liên tục từ cuối năm 1994 đến

1998, bốn cuộc khai quật quy mô lớn đã được tiến hành Các di tích số Ia, IIa-b, VI, V lần lượt hiện dạng dưới lưỡi cuốc của các nhà khảo cổ học5 Các cuộc khai quật này đã đưa lên từ lòng đất các di vật thuộc nhiều chủng loại Đặc biệt trong đó một số lượng khá lớn các hiện vật kim loại quý vàng và bạc (chủ yếu là vàng) đã được phát hiện Các hiện vật này phần lớn là các lá vàng dát mỏng có hoa tiết phong phú (một số mảnh trơn không hoa văn) chứa đựng những thông tin khoa học quý báu Trong phần này người viết nêu lên số lượng và đề tài thể hiện ở di vật vàng thuộc truyền thống Óc Eo

ở thánh địa Cát Tiên có nội dung tiêu biểu, mang tính chất tôn giáo của khu di tích:

Đề tài có nội dung trang trí các vị thần, tu sĩ, hoa sen, hoa chanh, Linga-Yoni Các vật thần như: Ganesa, ngựa, Nandin, voi, rắn, rùa Các vật cầm của thần như Vaija, đinh ba, ốc xoắn Có số lượng là 190 mảnh ( tập trung ở các di tích Ia, IIa ), trong đó

có 4 hình voi và 2 hình hoa sen nở (ở tháp IIb)

Có 40 hiện vật trơn (tháp Ia), 25 mảnh trơn (tháp IIa)

5

Nguyễn Tiến Đông, Bước đầu tìm hiểu một số hiện vật kim loại vàng ở di tích Óc Eo, NPHMVKCH 2003, tr 81

Trang 33

trang sức: có 25 nhẫn và 1 hạt xuyến có lỗ xỏ dây đeo (tháp Ia)

CHƯƠNG 2 HOA VĂN VÀNG THUỘC TRUYỀN THỐNG ÓC EO MANG ÂM HƯỞNG BÀLAMÔN GIÁO- PHẬT GIÁO

“bảo tồn”, với nghĩa như vậy thần là biểu tượng cho sự sống, mang trong mình sự sống cho toàn thể vũ trụ Ngoại hình bình thường của Vishnu thường được thể hiện trong nghệ thuật Ấn Độ là nằm trên lưng rắn thần Shesha, được che chở bằng một cái tán xoè do một ngàn đầu rắn Shesha hợp thành Một bông sen mọc từ rốn thần Vishnu, một phần của cuống hoa đang chìm dưới biển vũ trụ Trên đoá hoa sen vị thần Brahma đang ngồi, cả hai vị thần đang chìm định sâu trong thiền định

Nơi Vishnu sinh ra là từ biển, nơi vị thần đã ngủ qua “đêm dài Brahma”, tức là thời kì vũ trụ chưa có sự sống

Điều phân biệt thần Vishnu với các vị thần khác là bản tính nhân từ của thần đối với con người, Vishnu còn được tôn sùng là vị thần giàu tính vị tha, giàu lòng nhân ái, người được tôn thờ với cả tấm lòng yêu mến Người ta không còn thắc mắc oán hờn như Bramma cũng như không đến nỗi sợ hãi như đối với Shiva Bởi thế, đền thờ Vishnu cũng đầy rẫy khắp Ấn Độ và người ta mệnh danh Vishnu bằng những danh hiệu vô cùng tốt đẹp như thánh của các Thánh (pavitram, pavitranam), Đạo (Môrga), Chân lí (Tattva), Từ Phụ (pitâ), Thân hữu (Suhrid), và cả hàng ngàn tên khác nữa

Trang 34

Vishnu biểu hiện phẩm tính thuần khiết (Sattra) có khuynh hướng qui tâm trái với phẩm chất tính huỷ diệt (tamas) có khuynh hướng ly tâm mà Shiva thể hiện Sattva

là nguyên nhân của mọi sự kết tụ, do đó là nguyên nhân của ánh sáng, của vật chất và đời sống Sattva thâm nhập vào hết thảy mọi sự vật và trở thành bản chất nội tại của mọi sự vật Theo kinh Brihad-Devata, danh từ Vishnu do tự căn Vishnu nghĩa là tràn lan, thấm nhập6 Hình học thường thể hiện là: vỏ ốc, đĩa tròn, bông sen và cái chuỳ

Vợ của Vishnu là Lasmi, vị nữ thần của cải và may mắn Một trong những đặc điểm khả ái của những câu chuyện thần thoại về Vishnu là bất cứ lúc nào vị thần hạ giới làm một đứa trẻ thì vợ của vị thần này Lasmi cũng sẽ có mặt ở trần gian, rồi lớn lên gặp Vishnu sinh ra Rama thì Lasmi sẽ là Sita để trở thành vợ của Rama Khi Vishnu là Krishna thì Lasmi sẽ là Rukmini

Theo thần thoại về Vishnu, trải qua 10 kiếp hoá thần (Avatara), mỗi kiếp hoá thân, lại gắn liền thần thoại về Vishnu trong kiếp hoá thân ấy, trong đó có 5 kiếp người,

4 kiếp vật, 1 kiếp nửa người nửa vật

Bốn kiếp vật:

Cá (Matsya), cứu Bramma lấy lại kinh Veda; rùa (kurma) tìm lại những châu báu đã bị mất trong trận đại hồng thuỷ Nhờ vậy, những vật quí báu nhất của thời trước được bảo tồn cho tới ngày nay

Lợn rừng (Varada) vớt trái đất khỏi bị chìm dưới đáy biển

Nhân sư (Narasinha) giết quỉ Hyranya Kasipu giúp cho prahda, con trai của quỉ vương Hyranyakashipu thoát khỏi nanh vuốt của cha y để có thể tu thành quả

Với ý nghĩa đó Vishnu là thần bảo vệ đạo pháp và người tu hành, chống lại tà giáo

Năm kiếp người:

Người lùn (Ramana), đẩy quỉ bali xuống địa ngục, biểu tượng phân biệt giữa thiện và ác

Dũng sĩ Parasurama, để chống lại đẳng cấp võ sĩ Ksatrisa- Rama- Là hình ảnh

lý tưởng của một quí tộc Ấn Độ, Krisna- hành động theo tiếng gọi của tâm linh cao cả, không vụ lợi về tình cảm lẫn trí tuệ

6

Lê Xuân Khoa, Nhập môn triết học Ấn Độ, NXB: Sài Gòn, tr 16

Trang 35

Đức phật Thích Ca yêu thương loài người, cứu vớt chúng sinh

Kiếp hoá thân thứ 10 của Vishnu ở hình thức giữa người và vật là ngựa Kankin, nghĩa đen là “ngựa trắng” Vào cuối thời kì đồ sắt, khi lịch sử nhân loại kết thúc Vishnu trở lại thế gian, cưỡi trên con ngựa trắng cùng với thanh gươm rực rỡ của mình Vishnu sẽ hủy diệt đến con quỉ cuối cùng và những con người độc ác trước khi thế giới được thiết lập trở lại

Trong Phật giáo, Kalki được so sánh với Maitreya, tức Phật Di Lặc7

Như vậy, vị thần Vishnu trong quan niệm của Ấn Độ, vừa là thần nhưng đồng thời có thể xen lẫn tính xã hội của thổ dân Aryan hoặc tiền Aryan Khi Ấn Độ giáo ra đời và phát triển có một thời kì những vị Phật được xem là hoá thân của Vishnu Ngài

đã trở thành một trong ba vị thần chính của Ấn Độ giáo và được thờ phổ biến

Qua những lần hoá kiếp đó của vị thần được mệnh danh là thần bảo hộ, ta có cảm giác Vishnu là vị thần mang hình ảnh gần gủi với cuộc sống của con người trong

xã hội hơn là mang những điều bí ẩn ở thế giới siêu nhiên Theo tôi đây là điều lí thú trong quá trình phân tích những hình họa tôn giáo liên quan đến vị thần này, để tìm ra điều bí ẩn trong cuộc sống của cư dân cổ Nam Bộ qua những di vật vàng

1.1.1 Vishnu

Hiện vật có kí hiệu 85ĐN.M4:39 và 85ĐN.M5:13 là hình nhân thần chạm trên

lá vàng ở di tích Đá Nổi Hình thần được chạm theo qui cách đứng thẳng, có đầu đội hình trụ, quấn khố dài (dhoti) Thần có 4 tay, trong đó 2 tay được nhận rõ đang cầm con ốc và cây gậy

Hiện vật có kí hiệu 9CT-GI-33: Lá vàng có kích thước 4,5cmx 3,5cm được dát mỏng Hình ảnh thần Vishnu cưỡi trên con lợn rừng ở tư thế đang chạy nhanh Thần

có bộ mặt to, mũi cao và to, miệng rộng, trên đầu quấn khăn khá cao Tay phải cầm kiếm giơ lên, tay trái cầm con ốc đưa hẳn ra phía sau Ngực và bụng nở nang, chân và đùi áp chặt vào mình con lợn rừng được thể hiện khá cách điệu, phóng đại với với cái mõm to, rộng và cái răng nanh dài Chân vươn rộng ở tư thế chạy, chân mình khá dài Vishnu là một vị thân có nhiều lần hoá kiếp phức tạp và được tôn thờ ở nhiều nơi

7

Huỳnh Thị Được, Điêu khắc Chăm và thần thoại Ấn Độ, NXB: Đà Nẵng, 2005 tr58, 59

Trang 36

trong vương quốc Phù Nam, ở vương quốc Chân Lạp và Khmer Trong nhiều lần hoá kiếp của Vishnu có một lần hoá thân hành con lợn lòi lặn xuống đáy biển giết chết quỉ

sứ để nhấc mặt đất lên khỏi vực thẳm Hình tượng con lơn lòi như là một tiêu chí để ta nhận ra vị thần này

1.1.2 Vishnu và lashmi

Đây là hình phức hợp giữa Lasmi và Vishnu, một hình ảnh khá độc đáo chưa từng thấy ở trên điêu khắc, tượng tròn, hay hình chạm trên lá vàng ở vùng Nam Bộ, ở Khmer và Chămpa Hiện vật có ký hiệu 96CT.GIa.30 thể hiện phức hợp Vishnu và Lasmi rất đặc biệt: Vishnu cưỡi lên cổ Lashmi Vishnu đội một cái mũ trụ tròn, mái tóc xõa đều sau gáy xuống vai, hoa tai chảy xuống trước ngực Có 4 cánh tay, hai tay phía trước hơi buông xuống trước ngực Lashmi Bà không có đồ đội, tóc xõa đều xuống hai bên đầu, mặt thon, mặt to, mũi nhỏ, miệng hé nở, khuôn ngược nở vừa phải, bụng nở hông rất rộng, cặp đùi to, bàn chân quay về bên trái Phía sau hình tượng này dường như có biểu tượng của một vầng trăng khuyết để ngửa như một chiếc thuyền8, hình tượng này thực sự gây cho ta một cảm giác tín ngưỡng phồn thực dân gian luôn trỗi dậy trong từng hình khắc tôn giáo BàLaMôn, sự phức hợp đó như biểu trưng ngợi

ca sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên của trời đất để sinh ra những sự sống mới

8

Nguyễn Tiến Đông, Bước đầu tìm hiểu một số hiện vật kim loại vàng ở di tích Cát Tiên, NPHMKCH 2003, tr85

Trang 37

ba biểu hiện sự sáng tạo, bảo tồn và huỷ diệt, một cây rìu biểu hiện sức mạnh tuyệt đối, một tay ra hiệu xua đuổi sự sợ hãi và một tay ban phát phước lành

Ngài cũng là chúa tể của ma quỉ lởn vởn ở các nghĩa địa và các giàn hoả thiêu, lúc đó ngài khoác một cái vòng cổ xâu các hộp sọ Shiva có nghĩa là tốt lành Ý nghĩa

đó rõ ràng không thích hợp với vị thần có bản năng phá hoại, huỷ diệt Đó là quan điểm biện chứng trong triết học phương Đông, phá hoại chỉ là hành động tất yếu để đưa đến sáng tạo Thế nhưng, khi hình tượng Shiva vào đến vùng Đông Nam Á thì có

sự hoà nhập với cộng đồng cư dân với nhau tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh sinh sống cũng khác nhau Shiva vừa được coi là vị thần phá huỷ vừa được coi là phúc thần gieo rắc và bảo vệ cuộc sống Những khí giới mà Shiva thường được sử dụng một cách hiệu nghiệm như cung (pinaka), lưỡi tầm sét (vajara), rìu (tanka), chĩa ba (trishùla)

Trong vai trò là vị thần sinh sản, Shiva được thể hiện bằng chiếc linga hoặc con

bò đực Nandin, đôi khi được thể hiên qua các vợ của thần hay đúng hơn là các dạng nữ tính của thần Shiva, gọi là các Shaki hay consort của thần Và các Yoni chính là biểu tượng của Shiva Đó là tàn tích của một sự thờ cúng phồn thực cổ

Ngài còn được gọi là Hara và kết hợp với hình dạng Vishnu để đem lại Haihara trong nghệ thuật Khmer Đạo thờ Shiva (Shaivisme, Shivaime) hiện là một trong ba hình thức thờ cúng lớn của Ấn Độ giáo hiện đại, cùng các đạo Shaiva gọi là:

“Shaiva- Siddhânta”, còn ở Cachemire, gọi là “pratyabhijnã” Shiva có 2 con: Thần chiến tranh Skanda có 6 đầu và phúc thần Ganesha, vật cưỡi của ngài là bò rừng Nandin Nơi ngài ở trong đỉnh núi truyền thuyết Kailasa trong rặng Hymalaya

1.2.2 Hình khaéc Shiva

Hình khắc Shiva trên vàng chỉ tìm thấy ở vùng Cát Tiên – Lâm Đồng, dù đây không phải là phần chính của đề tài nhưng người viết vẫn đưa vào phân tích, để tìm ra mối liên quan giữa văn hoá Óc Eo và hậu Óc Eo Hiện vật có kí hiệu 96CT.61Ia.13 lá vàng có kích thước 5cm x 4,2 (ở Cát Tiên-Lâm Đồng) Miêu tả thần Shiva nhìn nghiêng đang cưỡi trên bò Nadin Thần có khuôn mặt to, mũi cao, mắt mở to, trên đầu quấn một cái khăn không bỏ múi, hoa tai chảy xuống vai, vai rộng, bụng và ngực nở Tay phải cầm chuỗi hạt, tay trái cầm vũ khí giơ cao lên

Ở lá vàng này thể hiện một Shiva mang cả hai tính chất đó là: với tay trái vầm

vũ khí (đinh ba) giơ cao lên và tay phải cầm chuỗi hạt Mặc dù đinh ba và chuỗi

Trang 38

hạt không phải là vật cầm tiêu biểu của Shiva nhưng bò thần Nađin là tiêu chí để chúng ta nhận ra vị thần này

Hình tượng Shiva ở vùng đồng bằng sông Cửu Long về tượng và các vật liên quan chỉ có ba tiêu bản, chiếm 19.51% tổng số hình vật thể Hình khắc Shiva trên vàng

ở Nam bộ không thấy xuất hiện Điều đó, cho thấy vị thần Shiva ít được tôn thờ như Vishnu, nhưng ở Cát Tiên là di tích mà tôi cũng xếp vào truyền thống văn hoá Óc-Eo thì lại tìm được Theo nhận định đánh giá của các nhà khảo cổ học sau khi lần tìm ra khu thánh địa Cát Tiên, tại nơi đây những di vật tìm thấy có vẻ thiên về Shiva nhiều hơn ở vương quốc Phù Nam trước đó Đặc biệt là Linga bằng đá và bộ Linga bằng vàng và bạc ở di tích Ia nhưng các đặc trưng của kiến trúc lại cho thấy rất ít ảnh hưởng của văn hoá Chămpa

Hình khắc vị thần Shiva kể trên cho ta thấy không chỉ là sự miêu tả thật không chính xác theo qui cách như ở Ấn Độ hay ông Nguyễn Tiến Đông (2002) sử dụng từ

“tuỳ tiện”, “tuỳ thích” trong trang trí Theo tôi, chúng đều có dụng ý, chủ ý trong cách

mô tả trong từng đường nét trên những hình họa Thứ nhất, hình họa này có sự kế thừa qua một thời gian nhất định ở các vùng xung quanh lân cận nhất là từ vương quốc Phù Nam phát triển trong suốt 6 thế kỉ rực rỡ, toàn diện về kinh tế cũng như văn hóa – xã hội Người ta đã xác định niên đại của thánh địa Cát Tiên từ thế kỉ VIII-XI Vậy hoặc

ở Cát Tiên đã có quá trình du nhập tôn giáo từ bên ngoài vào Hoặc đã có bước phát triển nhảy vọt về tư duy tôn giáo Khả năng ở vế đầu thì không xảy ra vì các nhà khảo

cổ học chưa và không tìm thấy những dấu tích chứng tỏ là vùng Cát Tiên có một quá trình phát triển như vương quốc Phù Nam hay Chămpa Khả năng thứ hai xảy ra thì rất

có thể có một bộ phận cư dân di chuyển từ vùng Nam Bộ lên đây sinh sống sau những biến động lớn xảy ra ở thế kỉ VI đến thế kỉ VII trong vương quốc Phù Nam

Vì sao ở Cát Tiên có phần hơi nghiêng về Shiva hơn? Shiva được thể hiện trông rất hiền lành chẳng kém gì cách thể hiện thần Vishnu trên vàng hay tượng thuộc Nam

Bộ Quan sát khuôn mặt ngài, đôi mắt nhắm hoặc nhìn xuống, mày ngài thì dài và cong, miệng rộng như đang mỉm cười, khuôn mặt to tròn trông ngài rất hiền và phúc hậu, dễ gần nếu không muốn nói là trông có vẻ vui vẻ, lạc quan tiến về phía trước với vật cưỡi của thần Nhìn vóc dáng và khuôn mặt phồn thực của ngài rất khác với thần thái của hình tượng Shiva trong nghệ thuật Chămpa Có thể đinh ba mang ý nghĩa như

Trang 39

quyền năng sức mạnh của ngài, còn tay phải cầm vòng chuỗi như biểu tượng mong muốn cuối cùng của ngài là sự hoà bình, yên ổn Có lẽ, do điều kiện sinh sống, môi trường tồn tại ở vùng Cát Tiên mang hơi hướng Cao Nguyên, thiên nhiên chắc chắn sẽ không ưu đãi như vùng Nam bộ trong việc phát triển trồng lúa nước và các loại cây lương thực thực phẩm Hình tượng Shiva ở đây không giống như hình tượng Shiva ở Chămpa, có sự khác biệt trong cách thể hiện lẫn nội dung.Và rất có thể, một bộ phận dân cư khi di chuyển từ vùng Nam Bộ đến đây sau những biến động lớn ở thế kỉ VI-VII đã hình thành trong tâm thức họ sự phá huỷ dữ dội từ thiên nhiên cũng như từ phía con người trước kia Có thể, họ nghĩ đằng sau sự phá huỷ đó là bàn tay vô hình của Shiva (lúc này thương nghiệp cũng đã đi xuống tại vương quốc Phù Nam) và họ đã di

cư theo sự chỉ dẫn theo những vị thần đó như một sự hồi sinh Qua những hiện vật vàng ở di tích Cát Tiên, cho ta một thông điệp thú vị, dường như giai cấp quí tộc, tầng lớp trên vẫn sử dụng Bàlamôn giáo như tôn giáo chính để tiếp tục củng cố nền thống trị vương quyền kết hợp chặt chẽ với thần quyền

1.3 Thần Brahma

Thần Brahma là vị thần tối cao trong 3 vị nhất thể của Bàlamôn giáo, được mệnh danh là vị thần sáng tạo nhưng lại không được sùng kính, và thờ phụng như Vishnu và Shiva Hình chạm khắc về vị thần này không thấy xuất hiện trên vàng ở Nam bộ, bên cạnh đó số lượng tượng thể hiện ông ta ở đây cũng không nhiều Tượng

đá chỉ có một tượng duy nhất ở Giồng Xoài thuộc di tích Óc Eo bị vỡ chỉ còn lại đầu

và phần ngực Tượng đồng chỉ có một tượng ở khu vực Tháp Vĩnh Hưng Tượng này

bị gãy mất phần thân, chỉ còn lại phần đầu có phủ lớp patin màu xanh đen Tượng này

có niên đại muộn hơn, khoảng thế kỉ X sau công nguyên Ta chỉ thấy hình chạm về thần Brahma trên vàng của Cát Tiên, đó là hiện vật kí hiệu 96.CT.Ia.02 (hình 2, bản vẽ

5 ở phần phụ lục) là một mảnh vàng dát mỏng có hình dạng gần chữ nhật kích thước 5,1cm x 3,8cm Trên miếng vàng này thể hiện thần Brahma ở tư thế ngồi kiết già có 5 cái đầu với khuôn mặt chính nhìn thẳng, trên đầu quấn khăn hình tròn, mắt mở khá to, mũi bè, miệng ngậm vừa phải, hai hoa tai bỏ qua vai xuống trước ngực Hai bên khuôn mặt chính ở giữa mỗi bên có hai khuôn mặt nhìn nghiêng, mắt to, quấn khăn ngang trán Thần có 6 cánh tay và 6 chân Thân hình nở nang, bụng nở, đặc biệt cái dương vật thể hiện rất rõ Ở đây, vị thần này được thể hiện đầy đủ 5 cái đầu Hình ảnh này thể hiện những câu chuyện huyền thoại về ông ta, có rất nhiều cách giải thích khác

Trang 40

nhau nhưng hơn cả là trí tưởng tượng của cư dân nơi đây về hình ảnh vị thần mà họ không mấy mặn mà cho lắm

1.4 Uma

1.4.1 Ý nghĩa hình tượng:

Nữ thần Uma là vợ của thần Shiva Uma là “ánh sáng rạng rỡ” Nữ thần Devi,

vợ thần Shiva, đã thực hiện tu hành khổ hạnh bằng việc đứng trong nước cho đến khi các vị thần ban ân huệ Các tên khác của bà là Pavarti, Durga, Sati, Gauri, Chamunda

và Kali Pavarti đã tự thiêu trong lửa hiến tế để lấy lại danh dự cho chồng là Rudra, rồi được tái sinh làm Uma Được tái sinh, bà muốn làm vợ của Shiva lần nữa nhưng lúc này Shiva không chú ý đến bà Bà đã đứng thiền định một thời gian dài bằng cách đứng trong dòng sông nhiều thế kỉ Tuy vậy, Shiva cũng không chú ý đến bà, bà bèn đưa Kama, thần tình yêu đến để đưa Shiva lại gần mình Nhưng khi thần tình yêu xuất hiện thì con mắt thứ ba của Shiva vừa xuất hiện thiêu cháy cả thần tình yêu thành tro9

1.4.2 Hình khắc Uma trên vàng:

Tiêu chí để ta nhận ra nữ thần Uma trên lá vàng có kí hiệu 96CT.GI.11 là nữ thần cưỡi con trâu Nữ thần có khuôn mặt to, mũi to, mắt to, mái tóc bồng bềnh nhưng ngắn, hoa tai chảy dài xuống bộ ngực nở vừa phải Hai cánh tay thần cầm búp sen đưa sang hai bên thân mình, cặp đùi và chân kẹp lấy mình con trâu Con trâu thể hiện ở trạng thái đứng yên với 4 chân và cái đuôi ngắn, cặp sừng nhọn vểnh lên, con mắt mở

to, đầu hơi cuối xuống10

Trong thần thoại Ấn Độ kể lại vị nữ thần đã chiến thắng con quỉ dữ mình người đầu trâu có tên là Mahisa Chính vì vậy trên điêu khắc Champa hay Khmer trước thời

kỳ Ăngkor người ta thường gặp hình ảnh Uma đứng trên một cái bệ đầu trâu Nội dung được thể hiện trên lá vàng này có thể là sự biến tướng của hình ảnh trên Qua đó, ta thấy hình ảnh Uma được chạm khắc trên tấm vàng như ca ngợi sự khỏe mạnh của vị

nữ thần, là mẫu hình để mọi người hướng đến về lòng thuỷ chung, tình yêu mãnh liệt cũng như sự chịu đựng gian khổ của nữ thần dành cho chồng mình

Ngày đăng: 27/05/2021, 23:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quí Hoàng, Khu di tích Phú Chánh (Bình Dương), tư liệu và nhận thức- Một số vấn đề KCH ở MNVN, 2004 Khác
2. Bùi Phát Diệm, Khai quật di tích Gò Xoài, tư liệu BTLA Khác
3. Bùi Phát Diệm – Đào Linh Côn – Vương Thu Hồng, KCH Long An những thế kỷ đầu Công nguyên, 2001 Khác
4. Đào Linh Côn, Mộ táng trong văn hoá Óc Eo, Luận án Phó Tiến Sĩ Khoa học Lịch sử, Tp HCM, 1995 Khác
5. Genet – Varcin. E. Lesrestes osseuxdes Cent – Rues (Sud – VietNam) - BEFEO, 49 (1): 275 – 295 Khác
6. Hà Văn Tấn (chủ biên) KCH, Tập I – II. Thời đại đá và KCH lịch sử Việt Nam, HN, 1998 -2002 Khác
7. Huỳnh Thị Được, Điêu khắc Chăm và huyền thoại Ấn Độ, NXB Đà Nẵng, 2005 8. Lê Hương, Sử Liệu Phù Nam, NXB: Sài Gòn, 1965 Khác
9. Lê Xuân Diệm, Vũ Kim Lộc, Cổ vật Chăm pa, NXB: Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 1997 Khác
10. Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, VHOE những khám phá mới, NXB: KHXH – HN, 1995 Khác
11. Lê Xuân Khoa, Nhập môn triết học Ấn Độ, NXB: Sài Gòn,1965 Khác
12. Lê Trung, Trịnh Thị Hoà, VHOE và các văn hoá cổ ở ĐBSCL, NXB: Long Xuyên, 1984 Khác
13. Lê Thị Liên, Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở ĐBSCL trước TK 10, LATSLS, HN, 2003 Khác
14. Lê Thị Liên, Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở ĐBSCL trước TK X, NXB: Thế gi ới, 2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w