Các di tích được xếp vào giai đoạn Tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ là những di tích tìm được ở Tây Nam Bộ, có một số tính chất, đặc điểm còn có thể tìm thấy trong các di tích thuộc văn hóa Óc Eo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHCN CẤP TRỌNG ĐIỂM ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TÊN ĐỀ TÀI: NHỮNG DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC
THỜI TIỀN ÓC EO Ở TÂY NAM BỘ
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS ĐẶNG VĂN THẮNG
Mã đề tài: B2006 – 18b – 03TĐ
Thời gian thực hiện: 2006 – 2008
TS Phí Ngọc Tuyến (như trên)
CN Lê Công Tâm (như trên)
CN Nguyễn Thị Hà (như trên)
CN Võ Thị Ánh Tuyết (như trên)
CN Hà Thị Kim Chi (như trên) PGS.TS Nguyễn Lân Cường (Viện Khảo cổ học) Văn Ngọc Bích (Bảo tàng Long An)
Nguyễn Phương Thảo (như trên) Trần Thị Kim Quý (như trên) Nguyễn Ngọc Vân (Bảo tàng An Giang) Huỳnh Long Phát (như trên)
Nguyễn Kiên Chính (Trung tâm Hạt nhân TP.HCM) Sinh viên chuyên ngành Khảo cổ học
niên khóa 2004 – 2008 và 2005 – 2009
Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 12/ 2009
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN THỨ NHẤT: 5
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN TÂY NAM BỘ 5
PHẦN THỨ HAI: 16
CÁC DI TÍCH TIỀN ÓC EO Ở TÂY NAM BỘ 16
Chương 1 16
QUÁ TRÌNH PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU 16
Chương 2 26
DI TÍCH VÀ DI VẬT 26
2.1.Các di tích được khai quật trước khi thực hiện đề tài 26
2.2.Các di tích khai quật từ đề tài 51
Chương 3 257
DI CỐT NGƯỜI CỔ 257
3.1 Di cốt người cổ An Sơn 257
3.2 Di cốt người cổ Gò Ô Chùa 325
Chương 4 415
TIỀN ÓC EO Ở TÂY NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH KHU VỰC 415
4.1 Tiền Óc Eo qua các di tích Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt (TP Hồ Chí Minh), Giồng Lớn ? 417
4.2 Tiền Óc Eo qua di tích Gò Cao Su, Gò Ô Chùa (Long An) 418
4.3 Tiền Óc Eo qua di tích Gò Cây Tung (An Giang) 419
4.4 Tiền Óc Eo qua di tích Giồng Nổi (Bến Tre) 420
Phần thứ ba 421
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG 421
Chương 5 421
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 421
5.1 Hoạt động nông nghiệp 422
5.2 Hoạt động thủ công nghiệp 428
5.3 Hoạt động trao đổi buôn bán 444
Chương 6 447
ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN 447
6.1 Đời sống văn hóa vật chất 447
6.2 Đời sống văn hóa tinh thần 465
KẾT LUẬN 472
TÀI LIỆU THAM KHẢO 476 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Từ thế kỷ 19, vùng Nam Bộ Việt Nam đã được nhiều người quan tâm tìm hiểu thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn Riêng về khảo cổ học, ngay từ giữa thế kỷ 19, các giáo sĩ, thương gia, sĩ quan và viên chức Pháp đã thu lượm nhiều cổ vật ở Sài Gòn, Biên Hòa, Bình Dương, Tây Ninh… Sau này 2 nhà địa chất người Pháp là Eumanuel Saurin và Henri Fontaine đã
có nhiều công trình công bố về những hiện vật tìm được ở Nam Bộ Các sưu tập cổ vật này từng được trưng bày tại Hội chợ Quốc tế Paris 1889 và lưu giữ ở nhiều bảo tàng ở Pháp và ở Việt Nam
Riêng khu vực Tây Nam Bộ, công cuộc nghiên cứu của các học giả nước ngoài
đã được biết đến với những khám phá về văn hoá Óc Eo, mà những di sản vật chất có quan hệ hữu cơ với văn minh Phù Nam ở Việt Nam - một quốc gia cổ mà có thời kỳ phần đất mở rộng từ vùng châu thổ Mê Kông ra Mê Nam và vùng hải đảo khoảng đầu Công nguyên và suy vong sau thời Trinh Quán nhà Đường (627 – 649) Đặc biệt là những nghiên cứu của học giả người Pháp Louis Malleret đã đem lại những hiểu biết quan trọng Từ năm 1937, ông đã tiến hành khảo sát nhiều di tích và di vật Đến năm
1944, trong cuộc khai quật khu di tích Óc Eo ở núi Ba Thê, ông đã tiến hành đào thám sát và khai quật một số địa điểm (Gò Cây Thị, Gò Óc Eo, Giồng Cát…) để tìm hiểu tầng văn hoá Toàn bộ thành quả nghiên cứu của ông đã được công bố trong bộ bốn
tập: "Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long" (L' Archéologie du Delta du Mékong)
xuất bản từ năm 1959 đến năm 1963
Những nghiên cứu về văn hoá Óc Eo, về vương quốc Phù Nam của các học giả nước ngoài đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, đặc biệt là công trình nghiên cứu của L Malleret, nhưng việc nghiên cứu những di tích Tiền Óc Eo không được quan tâm Louis Malleret, trong công trình của mình, có giới thiệu đôi nét về di tích
An Sơn và di tích Rạch Núi của tỉnh Long An, sau đó H Fontaine và Hoàng Thị Thân
Trang 4vai hay tứ giác, tìm thấy ở Óc Eo và các địa điểm như Đá Nổi, Núi Sập… nhưng không nói rõ hiện vật vật này thuộc văn hóa Óc Eo hay Tiền Óc Eo Gần đây nhà khảo
cổ học người Đức Andreas Reinecke có tiến hành 3 đợt khai quật di tích Gò Ô Chùa (Long An) vào các năm 2005 và 2006, những cuộc khai quật này đã được công bố trên tạp chí Khảo cổ học
Từ sau 1975 đến nay, các nhà khảo cổ học người Việt Nam thuộc nhiều cơ quan chuyên môn (Viện Khảo cổ học, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ, các Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và các Bảo tàng lịch sử ở Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh), khởi sự các chương trình điền dã - nghiên cứu lịch sử văn hóa vật chất vùng đất Nam Bộ còn hết sức mới mẻ này Nhiều di tích cũ được kiểm tra lại, nhiều di tích mới được phát hiện và nghiên cứu
Các di tích được xếp vào giai đoạn Tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ là những di tích tìm được ở Tây Nam Bộ, có một số tính chất, đặc điểm còn có thể tìm thấy trong các
di tích thuộc văn hóa Óc Eo và có niên đại trước nền văn hóa Óc Eo Những di tích thuộc giai đoạn Tiền Óc Eo là những di tích có niên đại từ Công nguyên trở về trước thuộc thời kim khí, trước khi hội tụ hình thành nền Văn hóa Óc Eo Cho đến nay, đã tìm được các di tích ở Tây Nam Bộ thuộc giai đoạn Tiền Óc Eo như: An Sơn, Lộc Giang, Rạch Núi, Gò Cao Su, Gò Ô Chùa, Động Canh Nông (Long An), Gò Tư Trăm,
Gò Cây Tung (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp)…
Nhìn chung, tuy đã tiến hành nghiên cứu hơn 30 năm và đã khai quật 12 địa điểm thời Tiền Óc Eo, nhưng các địa điểm này do nhiều nhà khảo cổ học thuộc nhiều
cơ quan khác nhau chủ trì khai quật và cho đến nay các tài liệu này gần như chưa được công bố đầy đủ Cần hệ thống hóa toàn bộ tư liệu hiện vật đã khai quật, thám sát thêm một vài di tích, đặc biệt chọn khai quật 3 di tích quan trọng, trên cơ sở đó nhận ra những con đường tiến lên nền văn hóa Óc Eo (hiện nay có người đã nêu ra 4 con đường từ Đồng Nai, từ Cần Giờ, từ Giồng Nổi và từ Gò Cây Tung), tìm ra mối liên hệ trong khu vực cũng như tìm hiểu đời sống kinh tế xã hội của cư dân Tiền Óc Eo
Triển khai đề tài nghiên cứu khoa học “Những di tích khảo cổ học thời Tiền Óc
Eo ở Tây Nam Bộ” rõ ràng là một yêu cầu khoa học lớn nhằm tiếp tục nhận biết đầy đủ
Trang 5nền văn hóa Óc Eo và văn minh Phù Nam nổi tiếng có vị trí quan trọng trong công cuộc nghiên cứu khoa học xã hội & nhân văn của đất nước Việt Nam và của cả khu vực Đông Nam Á, đồng thời còn có ý nhĩa thực tiễn, là niềm tự hào của những cư dân Nam Bộ hiện nay nói riêng và của cả nước nói chung
Trang 6ABSTRACT
This research has been executed for two years from 2006 to 2008
We systemized all documents of the previous excavations and excavated three important archaeological sites: Go O Chua (Long An province), Go Tu Tram and Go Cay Tung (An Giang province)
We have issued our results in some bulletins, theses, annual new archaeological discoveries books etc… while executing this programe
Up to now, we have finished the summary report of the research including the original text with 359 pages and the appendix with 332 pages
The research presented in this paper is divided into three major parts:
Part one: Overview of the Southwest of Vietnam
Part two: The Pre – Oc Eo culture sites in the Southwest of Vietnam
Chapter 1: The process of exploring and researching Chapter 2: Vestiges and artifacts
Chapter 3: Human Remains Chapter 4: Pre – Oc Eo in Southwest of Vietnam in the context Part three: The economic activities and organization in life of human beings
Chapter 5: The economic activities Chapter 6: Tangible and Intangible culture of people
Trang 7PHẦN THỨ NHẤT:
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN TÂY NAM BỘ
Tây Nam Bộ bao gồm 13 tỉnh – thành ở tận cùng phía nam của Tổ quốc Việt Nam, có diện tích 40.604,79 km2 Phần đất nằm về phía tả ngạn sông Tiền bao gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang và phần đất chủ yếu của tỉnh Đông Tháp; phần đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu bao gồm các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, một phần đất của tỉnh Đồng Tháp và một phần đất của tỉnh An Giang; phần đất nằm về phía hữu ngạn sông Hậu bao gồm Thành phố Cần Thơ và các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang và Kiên Giang
Nam Bộ đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài với nhiều hoạt động kiến tạo khác nhau Riêng giai đoạn Tân kiến tạo diễn ra trong Tân sinh đại, từ 65 triệu năm đến nay, là một giai đoạn rất quan trọng đối với Việt Nam cũng như thế giới, vì các đặc điểm tự nhiên hiện nay được hình thành trong giai đoạn này Có thể nhận ra 6 chu
kỳ chính, mỗi chu kỳ mở đầu bằng một pha nâng mạnh, khiến cho sông ngòi trẻ lại, chảy xiết, xâm thực, phá hủy bán bình nguyên trước đó và kết thúc bằng một pha yên tĩnh, sông ngòi mở rộng thung lũng, hạ thấp địa hình, tạo nên một bán bình nguyên mới thấp hơn và trẻ tuổi hơn bán bình nguyên cũ Trong sáu chu kỳ tạo sơn Himalaya, chu kỳ có tác động mạnh nhất đối với Nam Bộ là chu kỳ V, xảy ra trong thời kỳ
Pleistocene thuộc thời kỳ sớm – giữa kỷ đệ tứ (QI – II) cách đây 2 triệu năm, khi mà khối núi cực Nam Trung Bộ bị lôi cuốn trong hoạt động nâng lên cùng với sự nâng lên của sơn khối Campuchia và sự sụp võng bù trừ giữa hai sơn khối đó là đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng là hiện tượng phun trào đất đỏ bazan ở miền Đông Nam Bộ làm thành những thảm rất dày Các hoạt động nâng sụt kèm theo phun trào bazan, trong phạm vi tương đối rộng ở Đắk Lắk và Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Phước) và rãi rác thành những khối nhỏ ở Lao Bảo, Vĩnh Linh, Tây Hiếu và thành các cù lao ở thềm lục địa như đảo Cồn Cỏ, đảo Lý Sơn, đảo Phú Quý Các trầm tích QI – II là phù sa
Trang 8cát lẫn sỏi cuội Một chỉ thị rất điển hình của phù sa cổ chu kỳ V là sự hình thành lớp
đá ong laterit Chu kỳ VI bắt đầu vào Pleistocene muộn (QIII) kéo dài cho đến ngày nay với cường độ yếu Các trầm tích QIII chủ yếu là cát, sạn, màu nâu xám, vàng xám loang lổ Tại các châu thổ, trầm tích QIII (tầng Vĩnh Phúc, tầng Mộc Hóa) gồm cát, sét bột và sét, nham tướng vũng-vịnh, biển ven, trên đó có bồi tích sông đồng bằng, hồ đầm Các bậc thềm QIII cao khoảng 10-20 m Trầm tích Holocene (QIV) có thành phần chủ yếu là bột, sét, xen ít cát, đặc trưng cho biển tiến Flandrian vào thời tan băng của băng hà thứ tư, cách đây khoảng 17 – 10.000 năm Biển tiến mạnh, ồ ạt, rồi rút từ từ Các đợt ngưng nghỉ được đánh dấu bằng các thềm biển cát trắng QIV1 – 2 cao 4 – 5m (Quảng Ngãi, Cam Ranh ) Trầm tích mới nhất là các thành tạo tam giác châu hiện đại (tầng Thái Bình, Tầng Duyên hải Nam Bộ) bao gồm cát, bột bùn sét Ven biển là các thềm biển QIV3 cao 2m thường có cát vàng1 Đợt biển tiến gần đây nhất, theo Fotaine và Delibrias, xảy ra vào thời kỳ Holocene, đạt đến cực đại 4 – 5 m cách đây gần 6000 năm Sau đó biển rút từ từ xuống 3m, rồi 2m và nước biển dừng lại ở mức này trong suốt một thời gian dài cách đây khoảng 4000 năm2
Theo Lê Bá Thảo, đồng bằng châu thổ sông Cửu Long được thành tạo nhờ quá trình bồi đắp của phù sa sông Cửu Long Sông Cửu Long dài 4220 Km, là một trong những con sông dài trên thế giới Sông Cửu Long bắt nguồn từ những đỉnh núi quanh năm phủ đầy băng tuyết của cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc, Lào,
Campuchia và vào Việt Nam chia thành hai sông, sông Tiền và sông Hậu rồi chảy ra biển bằng chín cửa Xưa kia sông Cửu Long chảy qua miền Đông Nam Bộ đem phù sa bồi tụ nên vùng đất này Chỉ khi miền Đông Nam Bộ được nâng lên thì sông Cửu Long mới chảy dịch xuống phía Nam Đầu Holocene, cách đây khoảng 11.170 năm, biển tiến Flandrian tràn vào vùng châu thổ Nam Bộ, đạt đến cực đại 4 – 5m trên mực nước biển hiện đại, sau đó lui dần lúc đầu ở độ cao 3m, dừng lại lâu hơn ở độ cao 2m rồi mới có vị trí mực nước như hiện nay Lần thứ nhất, khi mực nước biển hạ thấp từ
độ cao 4m cách đây chừng 6000 năm, biển để lại dấu vết dưới dạng những vỏ sò ốc còn quan sát được ở Long Xuyên Lần mực nước biển hạ thấp thứ hai từ độ cao 2m
Trang 9cách đây khoảng 4000 năm, còn nhận ra được thông qua các bãi sò ốc ở Cai Lậy và trên thành các hốc sóng vỗ ven sông đồi núi ở Hà Tiên, Kiên Lương và Thất Sơn Biển cũng để lại những xác sò ốc trong trầm tích Holocene, hoặc lẫn lộn trong phù sa mới hoặc trên các giồng cát (các cồn cát duyên hải) ở ven biển Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng1
Theo các nhà địa chất học, chỉ tính riêng thời kỳ Holocene, ở Nam Bộ có 4 đợt biển tiến và 3 đợt biển thoái
Biển tiến Holocene I: từ 4850 đến 1650 BC, với 3 đỉnh cao 4m (năm
3900 BC), 3m (năm 2950 BC), 2m (năm 2350 BC) Biển tràn vào các vùng trũng thấp, đem trầm tích biển vào đến tận vùng Đồng Tháp Mười
Biển thoái Holocene I: từ 1650 đến 1150 BC, mực nước thấp -0,8m (năm
1400 BC) Đây là giai đoạn hệ sinh thái rừng ngập nặm ven biển được hình thành trên lớp trầm tích biển để lại (phù sa mới – trầm tích Holocene)
Biển tiến Holocene II: từ 1150 đến 850 BC, đỉnh cao 0,3m (năm 950 BC)
Biển thoái Holocene II: từ 850 đến 200 BC, với mực nước thấp nhất -1m (năm 550 BC) Đây là giai đoạn người cổ Đồng Nai bắt đầu tiến xuống chiếm lĩnh các vùng đất thấp – ven biển như Cái Lăng, Cái Vạn, Bưng Bạc, Bưng Thơm, Giồng Phệt, Gồng Cá Vồ, An Sơn, Rạch Núi…
Biển tiến Holocene III: từ 200 đến 50 BC, đỉnh cao 0,4m (năm 50 BC)
Biển thoái holocene III: từ 50 BC đến 550 AD, với mực nước thấp nhất khoảng -0,5m (năm 200AD)
Biển tiến Holocene IV: từ 550 đến 1.150 AD, với mực nước trung bình 0,8m (năm 650 AD) Đợt biển tiến này có lẽ là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sự suy vong của văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam
Từ 1150 đến 1950 AD, mực nước biển ổn định, dao động ở mức ± 1m
Trang 10Các giai đoạn biển thoái đã để lai nơi các bờ biển cổ hàng loạt giồng cát hình cánh cung, trong đó tiêu biểu là 2 loại giồng:
- Động Cát - Gò Tháp – Bắc Bung (niên đại C14 của hệ tầng trầm tích biển Holocene sớm ở khu vực kênh Phước Xuyên thuộc huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, lấy từ vỏ sò ở độ sâu 3,5m, được xác định khoảng 5680 ± 100 năm cách này nay)
- Cai Lậy – Nhị Quý – Tân Hiệp – Khánh Hậu và loạt giồng cát chìm từ Tân An đến Bình Chánh để bắt đầu hình thành các cảnh quan hiện đại của Đồng Tháp Mười (niên đại C14 của trầm tích giồng Cát ở Cai Lậy tỉnh Tiền Giang, lấy từ vỏ sò ở
độ sâu 0,50m được xác định 4540 ± 110 năm cách ngày nay; niên đại C14 của trầm tích biển – đầm lầy ở Khánh Hậu thuộc Tân An, Long An, lấy từ mẫu than bùn ở cao độ 0,90m so với mực nước biển hiện tại được xác định khoảng 2700 ± 120 năm cách ngày nay)1
Châu thổ sông Cửu long ở Nam Bộ có diện tích lên đến 39.952km2 (so với 15.000km2 của châu thổ Bắc Bộ) bao gồm phần thượng châu thổ và hạ châu thổ Phần thượng châu thổ nằm nối tiếp ngang với thung lũng phù sa và có những gờ sông – quen gọi là “giồng”- làm chứng cho sự lắng đọng vật liệu vào mùa nước lũ vượt bờ Phần lớn bề mặt thượng châu thổ có những vùng trũng rộng lớn, nông và khó tháo nước Các vùng trũng thường được giới hạn bởi những giồng của sông Tiền và sông Hậu, hoặc bởi giồng của sông Tiền và các bậc thềm phù sa cổ ở phía bắc, hoặc là bởi các giồng của sông Hậu và bộ phận phù sa mới bồi của “đồng bằng rìa” ở phía nam Phần lớn các vùng trũng đều trở thành đồng lầy, mùa mưa ngập sâu nước, nhưng mùa khô chỉ còn những vụng nước tù phân bố rãi rác, mọc đầy cỏ lác, cỏ năng, chẳng hạn như ở Đồng Tháp Mười Phần hạ châu thổ được tính từ nơi hai sông Tiền và sông Hậu bắt đầu chia nhánh, bao gồm không những phần đất nổi nằm tiếp giáp với biển, mà cả phần châu thổ ngầm nữa Ở đây, giồng hai bờ sông đã hạ thấp đến mức khó nhận thấy được, nhưng các cồn cát duyên hải cao đến 5m Trên bề mặt đồng bằng thấp vào khoảng 1 – 2m, còn có những khu vực trũng sót thấp hơn 1m, ngập nước vào mùa
1
Vương Thu Hồng (2008), Di tích Gò Ô Chùa (Vĩnh Hưng – Long An), Luận văn Thạc sĩ sử học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
Trang 11mưa Nhưng ven các cửa sông và bờ biển do tác động bồi đắp của thủy triều và sóng, lại có những dải đất cát cao đến hơn 2m Đồng bằng hạ châu thổ thường xuyên chịu tác động của thủy triều và sóng biển: mực nước trong các cửa sông lên xuống rất nhanh, lòng sông hoạt động như một lạch triều khổng lồ và những lưỡi nước mặn từ đó ngấm dần vào trong đất1
Tây Nam Bộ là một phần của châu thổ tự nhiên rộng lớn, thấp, độ cao trung bình khoảng 2m và đỉnh có thể lên tận Nông Pênh Vào mùa nước lũ, nước sông Cửu Long vẫn tràn bờ và làm ngập nhiều vùng Vùng bị ngập sâu nhất trên 3m nước từ Châu Đốc chạy ngang sang đến Mộc Hóa Vùng bị ngập vừa, mức nước khoảng 2 - 3m
là vùng đất An Giang, Đồng Tháp, Long An (vùng Mộc Hóa…) Vùng ngập ít, từ 1 – 2m là vùng đất Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang, Long An Vùng coi như không ngập nước là ở phía nam Giồng Riềng (Kiên Giang), Ô Môn (Cần Thơ), Thành phố Vĩnh Long, Thành phố Mỹ Tho, thị xã Tân An2
Về khí hậu, Tây Nam Bộ có hai mùa, mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 26 - 270C Tổng nhiệt độ toàn năm vào khoảng 9.500 -
10.0000C, là những giá trị cao nhất toàn quốc Qua các tháng nhiệt độ biến thiên rất ít Chênh lệch giữa nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất và lạnh nhất vào khoảng 3 - 40C Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình vào khoảng 25 - 260C Nhiệt độ tối thấp trung bình tháng này vào khoảng 21 - 220C Thời kỳ nóng nhất là ba tháng III, IV, V, trong đó tháng IV là tháng cực đại của nhiệt độ Nhiệt độ trung bình tháng IV vào khoảng 28 - 290C và tối cao trung bình vào khoảng 34 - 350C Riêng vùng ven biển, nhiệt độ tối cao trung bình không quá 32 - 330C Dao động ngày đêm của nhiệt độ khá mạnh Biên độ ngày trung bình vào khoảng 7 - 80C và giảm xuống 6 -
70C ở ven biển Thời kỳ nhiệt độ dao động ngày đêm mạnh nhất là các tháng giữa mùa khô, từ tháng I đến tháng IV, biên độ đạt tới 8 - 100C và 6 - 80C ở ven biển Khu vực trung tâm bao gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang và Bạc Liêu tương đối ít mưa, lượng mưa trung bình năm vào khoảng 1400 – 1500mm Số ngày mưa cũng ít, hàng năm chỉ có
Trang 12
chừng 100 – 110 ngày mưa Đặc biệt ở Đồng Tháp cả năm chỉ có 80 – 90 ngày mưa Khu vực cực tây gồm tỉnh Cà Mau và tỉnh Kiên Giang mưa khá nhiều, lượng mưa trung bình vào khoảng 2000 – 2200mm, số ngày mưa 120 – 150 ngày Mùa mưa ở Tây Nam Bộ là từ tháng V đến tháng XI, kéo dài 7 tháng Khu vực cực tây (Cà Mau, Kiên Giang) mưa bắt đầu sớm, vào tháng IV và vẫn kết thúc vào tháng XI Trong biến trình mùa mưa có hai cực đại, cực đại chính vào tháng IX, cực đại phụ vào tháng VII Lượng mưa trung bình tháng IX đạt tới 300 – 400mm ở những khu vực nhiều mưa,
200 – 250mm ở những khu vực ít mưa Thời kỳ ít mưa (mùa khô) kéo dài 5 tháng, từ tháng XII đến tháng IV Trừ tháng đầu và cuối mùa (tháng XII và tháng IV) có lượng mưa trên dưới 50mm, còn lại 3 tháng kia là những tháng ít mưa điển hình Mỗi tháng trung bình chỉ quan sát được 1 – 3 ngày mưa Gió mùa đông, hướng thịnh hành là hướng đông bắc Mùa hạ, hướng thịnh hành là hướng tây nam hoặc tây Tây Nam Bộ ít gặp bão Thời kỳ bão hoạt động đến muộn, chủ yếu là vào khoảng tháng XI và tháng XII Vài tháng đầu mùa hạ (tháng IV, tháng V) cũng có khả năng bị bão Bão có sức gió yếu, đồng thời gây ra mưa không dữ dội như ở Bắc Bộ và Trung Bộ1
Về thủy văn, Tây Nam Bộ chịu tác động của hai hệ thống sông: hệ thống sông Đồng Nai - Vàm Cỏ và hệ thống sông Cửu Long Hệ thống sông Đồng Nai - Vàm Cỏ
là một hệ thống kép, vì hai con sông Đồng Nai và Vàm Cỏ chỉ gặp nhau ở cửa Soài Rạp và được nối với nhau bằng những kênh nhân tạo Hệ thống sông Đồng Nai – Vàm
Cỏ lớn thứ ba trong nước, sau hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Cửu Long Chiều dài chính sông Đồng Nai là 635km và diện tích toàn lưu vực là 44.100km2 Chiều dài sông Vàm Cỏ 256km và diện tích lưu vực là 12.800km2 Hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ có tổng lượng nước 32,8 tỷ m3/ năm, tương ứng với lớp dòng chảy 814mm Lượng phù sa cũng không nhiều, tổng lượng vào khoảng 3,36 triệu tấn/ năm, ứng với
độ đục bình quân khoảng 200 g/m3 Thủy chế sông Đồng Nai cũng đơn giản, vì chỉ có một mùa lũ (tháng VII – XI) và một mùa cạn (tháng XII – VI) Do cửa sông có dạng vịnh nên thủy triều tác động mạnh, nhất là trên các sông Vàm Cỏ và sông Sài Gòn Vào mùa kiệt, thủy triều ảnh hưởng đến thác Trị An trên sông Đồng Nai, đến Thuận Nghĩa trên sông Bé, đến Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, đến tận biên giới Campuchia
Trang 13trên các sông Vàm Cỏ Hệ thống sông Cửu Long là hệ thống lớn nhất Đông Dương, diện tích lưu vực tới 795.000km2, trong đó phần thuộc Việt Nam là 68.725km2, chiếm 8,64% Chiều dài dòng chính tới 4500km, nhưng phần ở Việt Nam chỉ có 230km, chiếm 5,1% Sông Cửu Long bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, ở độ cao 5000m, về đến Nông Pênh chia làm ba nhánh, nhánh đặc biệt là dòng sông Tông Lê Sáp chảy vào Biển Hồ và hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang chảy vào Việt Nam và đổ ra Biển Đông qua 9 cửa Hai sông Tiền Giang và Hậu Giang đã nhận nước của toàn hệ thống sông Mê Công, với tổng lượng dòng chảy hết sức phong phú, lên tới 507 tỷ m3/ năm, chiếm 60,4% tổng lượng nước của tất cả các sông ngòi Việt Nam Khi mới vào Nam
Bộ, lượng nước Tiền Giang tại Tân Châu chiếm gần 80%, còn phần của Hậu Giang tại Châu Đốc chỉ có hơn 20% Nhưng khi Tiền Giang chia nước cho Hậu Giang qua sông Vàm Nao thì lượng nước hai sông tương đương nhau Lượng nước của Tiền Giang tại
Mỹ Thuận còn 50,52% và lượng nước của Hậu Giang tại Cần Thơ lên 49,48% Tổng lượng phù sa của sông cũng lớn, tới 70 triệu tấn/ năm, tuy độ đục bình quân nhiều năm không cao, khoảng 100 – 150 g/ m3 Sông Cửu Long đổ ra Biển Đông qua 9 cửa, 6 cửa trên sông Tiền (Tiểu, Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu) và 3 cửa trên sông Hậu (Định An, Bát Xắc và Tranh Đề) Thủy chế sông Mê Công đơn giản và điều hòa, nước sông lên từ từ trong mùa lũ dài 5 – 6 tháng (VII – XI hoặc XII), đỉnh lũ là tháng IX hoặc X, với lượng nước khoảng 80% tổng lượng năm, sau đó rút dần dần Mùa cạn dài 6 – 7 tháng (XII hoặc I đến tháng VI), chiếm 20% tổng lượng năm, tháng III hoặc tháng IV là tháng kiệt nhất Điều đáng chú ý là sông Cửu Long chịu tác động mạnh của thủy triều, nhất là từ phía các cửa sông chính truyền lên, cho nên thường chảy thay đổi chiều, tùy theo tương quan lực lượng giữa thủy triều và dòng nước sông
Ở Tây Nam Bộ ngoài sông Tiền và sông Hậu còn có rất nhiều sông, nhưng không có sông lớn Đó là các sông: Cái Lớn, Cái Bé, Ông Đốc, Bảy Hạp, Cửa Lớn, Gành Hào,
Mỹ Thạnh, Mang Thít…Các sông nối với nhau rất chằng chịt, chảy ra cả Biển Đông
và vịnh Thái Lan Do chế độ nước chịu ảnh hưởng rất mạnh của biển (bán nhật triều),
mà sông chảy từ đông sang tây hay từ tây sang đông hoàn toàn theo nhiệp điệu thủy triều, nên giao thông rất thuận lợi1
Trang 14Về thổ nhưỡng, tổng diện tích tự nhiên của Tây Nam Bộ là gần 4 triệu hecta, có chừng 1 triệu hecta đất phù sa ngọt ven sông (chiếm 23%), đất phèn và phèn mặn khoảng 1.800.000 hecta (chiếm 47%), còn lại là đất mặn khoảng 700.000 hecta (chiếm 17%) Đất phù sa chạy thành một dải dọc hai sông Tiền và sông Hậu, là đất trẻ và phì nhiêu nhất trong đồng bằng Tùy theo sự biến đổi của địa hình từ nơi ở gần sông đến
xa sông, có thể phân biệt ra đất phù sa ven sông, đất phù sa ở các giồng, đất phù sa xa sông bị nhập lụt tương đối nhiều và đất phù sa xa sông bị ngập lụt quá nhiều Đất phèn chiếm diện tích rộng nhất ở Tây Nam Bộ, phân bố thành vùng tập trung Đất phèn nặng nhất có ở Đồng Tháp Mười và Hà Tiên, đất phèn nhẹ ở vùng trũng tây Hậu Giang và lát đát ở một số khu vực khác Điều kiện cần thiết để hình thành đất phèn là
có một nguồn cung cấp lưu huỳnh trong khu vực, là các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh được hình thành từ xác thực vật như sú vẹt, tràm… Các hợp chất này bị phân hủy trong môi trường yếm khí tạo nên các sunfua, gặp không khí bị oxy hóa thành các sunfat và axit sunfuric Vì vậy khi nói đấn đất phèn là nói đến độ chua của đất, độ chua này là do phèn nhôm và phèn sắt thủy phân mà thành Đất mặn phân bố thành một dải chạy men theo rìa phía đông của Tây Nam Bộ, kéo dài từ đông nam tỉnh Long An cho đến Cà Mau cũng như ven biển Phú Quốc Căn cứ vào nồng độ muối và phản ứng của dung dịch, có thể chia đất mặn thành 4 loại: đất mặn sú vẹt, đất mặn nhiều, đất mặn trung bình và đất mặn ít Ngoài ba loại đất chính chiếm diện tích lớn nhất ở Tây Nam
Bộ, còn có thể gặp đất than bùn rải rác ở rừng U Minh, đất xám bạc màu ở một số nơi như phía tây bắc tỉnh Long An, phía tây tỉnh Đồng Tháp và ở khu vực Bảy Núi tỉnh An Giang và đất xói mòn trơ sỏi đá ở gần thị xã Hà Tiên, vùng Bảy Núi và ở đảo Phú Quốc, đất cát biển trên các cồn cát duyên hải1
Về thực vật, có thể tham khảo công trình “Gia Định Thành thông chí” của
Trịnh Hoài Đức được hoàn thành vào thời Gia Long (1802 – 1819) Trong công trình
của mình, Trịnh Hoài Đức cho rằng “thuộc loại mộc còn rất nhiều, đây chỉ biên chép
những thứ cây kỳ dị và cây thường dùng, còn những thứ gỗ thô tạp không cần biên vào”2 Theo Trịnh Hoài Đức, loại mộc có thể ghi nhận 26 loại sau: Sao mộc (cây sao –
Trang 15có 4 thứ: sao xanh, sao vàng, sao chân tôm và sao đá, dùng làm ghe thuyền nhà cửa là
đệ nhất), vạn cổ mộc (cây gõ – dùng làm cột rường và ván là thượng phẩm), cây thiết
tú (dùng làm rui mè, cột trụ và chèo), cây bàn lân (dùng làm mè, cột trụ và chèo), cây hồng du (cây xoai – cành nhỏ dùng làm khí cụ cày bừa, lúc lớn dùng làm cây ép mía
và neo ghe), cây hoàng đàn (chôn dưới đất không mục, dùng làm quan quách rất tốt), cây hồng (dùng làm bàn ghế, rương tủ), cây trai (dùng làm quan quách và khí giới), cây giáp (đốt làm than để nấu đồng sắt), cây dầu (dùng làm ghe chèo khí vật Thân cây
có dầu, người ta đục 2, 3 lỗ nơi gần gốc cây, rồi đốt lửa vào nước nhựa chảy ra thành dầu gọi là dầu mãnh hỏa, tục danh là dầu rái, dùng để trét ghe thuyền, làm đèn đuốc được nhiều việc lợi), sơn cảm lãm (cây bùi hay cây trám ở núi – có dầu trong thân cây rươm rướm chảy ra thành khối gọi là mộc thán, khối ấy ở dưới đất lâu năm mà đặc dẻo
là tốt, thứ này trộn với dầu rái để trét ghe và làm đèn đuốc rất lợi), cây bời lời (vỏ cây
và lá có chất nhớt dẻo lắm, hòa trộn với tam hòa thổ - vôi cát và đất – xây mả rất tốt), cây hoàng trường (dùng làm rương tủ rất tốt), cây thiết tuyền (cây muồng – dùng làm rường cột), cây ấu (chỉ tạp dụng), cây cà dổi (loại gỗ tạp), cây sam (dùng nấu dầu và làm lịch thanh), nam chử (cây gió – vỏ dùng làm giấy), cây miên (có 3 loại: sơn miên – cây gạo, mộc miên – cây gòn, miên hoa – bông vải, đều dùng làm vải), cây đồng (dùng làm cột buồm và sào dăng buồm), cây nha đồng (dùng khắc con dấu và bản in sách rất tốt), cây thủy mai (tục gọi mù u, quả tròn ép ra nhựa xanh là thứ thuốc cần thiết để trị đao thương, cây dùng làm vật dụng trong ghe thuyền như cái xà cong và tay lái cong), da (cây dừa – quả già non đều dùng được, thịt trong quả già dùng nấu dầu xức tóc, nấu đồ ăn và thắp đèn Xơ dừa, vỏ dừa dùng đánh giây neo, sọ dừa chạm trổ làm chén đĩa ve bình, cưa làm muỗng, gáo, có thứ sọ nhỏ bằng trứng gà mà hơi dẹp dùng làm bình đựng hỏa dược và gáo nhỏ uống nước), thiết tông (cây móc - dùng làm cột nhà, gác phòng và xẻ ra làm đối liễn rất thú, lại dùng làm đồn lũy có gai nhọn và cứng Tông trúc dùng làm rẻ quạt, giá trướng, hoặc dùi cho rỗng ruột làm ống đồng thổi chim Quì tông có gai, cây cao lớn như cây dừa, dùng làm trụ cầu và cán lưới, bối
đa mộc (cây thốt nốt hay cây lá buôn – cành lớn dùng làm tên bắn cung, cành nhỏ
dùng đánh giây, lá già bện thành phên để che mưa gió, lá non che ra làm buồm), đằng
Trang 16(mây - ở đảo Phú Quốc có long đằng, mình tròn 3 tấc, dùng làm dây cột buồm và chẻ đan cái hộc dùng đong lường lúa gạo)1
Về động vật, qua khai quật hai di tích An Sơn và Rạch Núi (Long An), tìm được khá nhiều xương răng động vật mà theo giám định của Lê Trung Khá thì có những loại sau: khỉ, vọc, chó nhà, mèo rừng, báo vàng, báo gấm, rái cá, chồn, tê giác, lợn rừng, lợn nhà, bò rừng, hươu, hoẵng, cheo, cá sấu, rùa…2 Gần đây, khai quật Giồng Nổi (Bến Tre), cũng tìm được khá nhiều xương răng động vật mà theo giám định của Vũ Thế Long thì có những loại sau: lợn rừng và lợn nhà, rùa, ba ba, khỉ, voọc, hươu, rái cá, hổ, mèo, chó, chuột, cá sấu, kỳ đà, trăn, rắn, chim, cá nước ngọt và
cá nước mặn3 Trong “Gia Định Thành thông chí”, Trịnh Hoài Đức có ghi chép những
loài động vật như sau: thú có 24 loại: tê (muông tê), tượng (con voi), hùng (con gấu),
hổ (hùm, cọp), báo (beo), ngưu (trâu), mã (ngựa), dương (dê), hoàng ngưu (bò), mi (nai), lộc (hươu), chương (cheo), sơn ngưu (trâu núi), sơn mã (ngựa núi), linh dương (dê núi), sơn trư (heo rừng), dã hồ (con chồn), thố (con thỏ), lại (con rái), viên (con vượn), hầu (con khỉ), bạch mi hầu (khỉ mi trắng), hắc hầu (khỉ đen), tinh tinh (con đười ươi); chim có 44 loại: chim trĩ (cẩm kê, diêu trĩ), khổng tước (con công), huyền hạc (hạc đen), anh võ (chim anh võ), tần cát liễu (chim nhồng), phỉ thúy (chim ó), yến (chim yến), bạch nhàn (chim nhàn trắng), ưng (chim bà cắt), diên (chim diều hâu), hoàng oanh (chim vàng anh), giá cô (chim đa đa), hỷ tước, tích linh (chim nắt nước, chim dâu giâu), phù (vịt nước), lộ (chim cò), sơn kê (gà rừng), thủy kê (gà nước), am thuần (chim cút), thủy âu (chim âu), lư tư (chim chuồng chuộc), gia cáp (chim bồ câu), thổ cáp (cu đất), thanh cáp (cu xanh), tước (chim sẻ), báo triều điểu (chim bịp), lão ông điểu (chim ông già), bồ nông, hải nga (con ngỗng biển), thốc thu (chim sói đầu), trác mộc điểm (chim gõ kiến), trúc kê (chim te vẹt vẹt hay te hoạch hoạch), hỏa kê (gốc ở Tây dương), tiêm áp (vịt xiêm), như (chim nghịch), lục anh võ (chim két), thố điểu (chim thố), chi thước (chim ác là), ngư thước (chim cưởng), luyện thước (chim khách), linh thước (chim sáo), phục điểu (chim cú), hiêu điểu (chim mèo), kiêu (chim heo); cá biển có 24 loại: tượng ngư (cá voi), đao ngư (cá đao), giao sa (xà như, cá xà), bạch
1 Trịnh Hoài Đức (1972), Sđd, tr.47-54
2 Lê Trung Khá (1978), Báo cáo sơ bộ về các di cốt động vật ở hai di chỉ khảo cổ học An Sơn và Rạch Núi (Long An), Những phát hiện khảo
cổ học ở miền Nam, Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, tr.140-141
Trang 17điểu ngư, biết ngư (cá bợt), cá hồng, thu ngư (cá thu), liên ngư (cá ngừ), mặc ngư (con mực), nhuyễn ngư, cá bài đàn, dự ngư (cá rựa), mạt ngư (cá bẹ), y đái ngư, kê tỳ ngư, hải phạn ngư (cá cơm), ngân tai ngư (cá bạc má), thử đầu ngư, chùy ngư, hải đồn lạp ngư, sông ngư (cá sòng), lão ông ngư, hải mã, thủy mẫu (sạ ngư, con sứa); cá sông có
32 loại: thu ngư, phấn điểu ngư, mai ngư, đao ngư, hồ sa ngư, giang phạm ngư, giang
kê tỳ ngư, lý ngư (cá gáy), lô ngư (cá vượt), bào ngư, bạch lô ngư (cá hanh), thiên ngư, tra ngư (cá tra), lăng ngư (cá dìa, cá lăng), lô hoa ngư (cá bông lau), phúc giác ngư, úc ngư (cá úc, tục xưng là thủy sâm), giác ngư (cá trê), xuy sa ngư (cá bống), thỉ bội ngư,
xử ngư, đối ngư (giang thanh đình, cá chuồn sông), ngưu thiệt ngư (cá lưỡi trâu), ban tai ngư, văn ngư, ma ngư (cá mè), phường ngư, kiềm ngư (cá kiềm), lệ ngư (cá chình), kiềm đầu ngư, tiền ngư, phương ngư; cá ao hồ có 8 loại: hoa lê ngư (cá tràu bông, cá lóc bông), lê ngư (cá tràu, cá lóc), quá sơn ngư (cá rô), giác ngư (cá trê), điệp ngư, di thu ngư, hoa mạn ngư (con lịch), hoàng thiện (con lươn); ngoài ra còn có cua biển, cua đồng, con sam, cá sấu…1
Trang 18PHẦN THỨ HAI:
CÁC DI TÍCH TIỀN ÓC EO Ở TÂY NAM BỘ
Chương 1 QUÁ TRÌNH PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU
Giai đoạn trước năm 1975:
Đề cập đến vùng đất Tây Nam Bộ thời cổ ít ai không biết đến nền văn hóa rất nổi tiếng- Văn hóa Óc Eo (thế kỷ I đến đầu thế kỷ VII AD) Văn hóa Óc Eo có niên đại sau công nguyên, là nền văn hóa rất phong phú, đa dạng và nổi bật so với các nền văn hóa khác ở Đông Nam Á thời cổ Nhắc đến văn hóa Óc Eo không thể không nói đến Louis Malleret, người đã đặt tên di tích Óc Eo và bỏ nhiều công sức nghiên cứu về
nền văn hóa này Trong bộ sách 4 tập Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long
(L’Archéologie du Delta du Mékong) của Louis Malleret, tập II trình bày Văn minh
vật chất Óc Eo (La Civilisation Matérielle D’ Oc Eo) có giới thiệu 4 chiếc rìu có vai
(hache) trong đó có 1 chiếc tìm được ở di tích Óc Eo, 1 chiếc ở di tích Hòn Chông và 2 chiếc ở di tích Núi Sập, và 3 chiếc rìu tứ giác (herminette) trong đó có 1 chiếc ở di tích
Đá Nổi, 1 chiếc ở di tích Núi Sam và 1 chiếc ở di tích Núi Sập1; còn trong tập IV giới
thiệu vùng Cisbassac (Le Cisbassac: vùng từ sông Hậu trở lên Đồng Nai), Malleret có
cho biết vào năm 1938, Fraisse phó tỉnh trưởng Chợ Lớn lúc đó có báo cho Malleret việc tìm được rìu đá và nhiều mảnh gốm ở di tích An Sơn thuộc xóm An Sơn, làng Lộc Giang, tổng Câu An Thượng , tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc xã An Ninh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) và Malleret cùng Paul Lévy đã đến An Sơn đào một số hố thám sát2 Cũng trong năm 1938, Malleret cùng với Fraisse tham quan di tích Rạch Núi thuộc xóm Rạch Núi, làng Đông Thành, tổng Phước Điền Hạ, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An) Sau đó Malleret cùng đi với Madeleine Colani (1866-1943), rồi lại đi với Paul Lévy đào thám sát, thu lượm được
Trang 19p.94-một số hiện vật ở di tích Rạch Núi1 …Năm 1971, H Fontaine đến di tích Rạch Núi điều tra và thu được một số mảnh gốm và 5 công cụ đá mài2
L Malleret cũng đến khảo sát di tích Lộc Giang và công bố từ năm 1963, lúc đó
di tích thuộc ấp Lộc Chánh, làng Lộc Giang, tổng Câu An Thượng, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc ấp Lộc An, xã Lộc Giang, huyện Đức Hoà; nằm sát tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông, thuộc vùng phù sa cổ Đức Hoà, Đức Huệ, Long An)
Như vậy là từ trước năm 1975, vấn đề giai đoạn Tiền Óc Eo ở miền Tây Nam
Bộ đã được các nhà khảo cổ học người Pháp chú ý đến những phát hiện đầu tiên của mình, đặc biệt là Louis Malleret
Giai đoạn sau năm 1975
Phải đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu về di tích Tiền Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ mới thật sự được thực hiện một cách có hệ thống
và quy củ
Sau năm 1975, bên cạnh việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo ở Tây Nam Bộ, các nhà khảo cổ học cũng đã chú ý đến những di tích sớm hơn văn hóa Óc Eo Năm 1984 trong hội nghị về văn hóa Óc Eo tổ chức tại Long Xuyên (An Giang), Giáo sư Hà Văn
Tấn đã nêu vấn đề “thành thị Óc Eo không phải đã mọc lên trên một vùng hoang vắng
không dân cư, mà khu vực này đã là một điểm tụ cư từ rất sớm, ít ra là từ hậu kỳ đá mới hay sơ kỳ thời đại lim khí…văn minh thành thị Óc Eo dầu đã xuất hiện như một bước nhảy vọt thì cơ bản vẫn là sự tiếp nối các bước phát triển văn hóa đã có từ sớm ở khu vực này”3; còn Phó giáo sư Lê Xuân Diệm cho rằng “Thật rõ ràng, trong văn hóa
Óc Eo đã có một số loại hình di tích, di vật của văn hóa truyền thống Đồng
Nai…Những loại hình ấy khá phổ biến trong sinh hoạt, trong các ngành nghề thủ công
và cả trong lối sống Bởi lẽ đó, có thể nghĩ rằng văn hóa Óc Eo được tạo dựng nên ở
Trang 20vùng châu thổ thấp trũng sông Cửu Long, trên thực tế, là nhờ một phần quan trọng ở những nỗ lực sáng tạo của chủ nhân văn hóa Đồng Nai”.1
Cũng sau năm 1975, những cuộc thám sát, khai quật các di tích sớm hơn Óc Eo
đã thu được một số kết quả đáng kể
Trong hai năm 1977, 1978, các nhà khảo cổ học Viện Khoa học xã hội tại Hồ Chí Minh (nay là Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ) và Ty Văn hoá Thông tin tỉnh Long An (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An) đã phối hợp điều tra lại và khai quật lần đầu tiên di tích An Sơn, thuộc ấp Sơn Lợi (xã An Ninh Tây - Đức Hoà – Long An)
Tháng 4 năm 1978, Phạm Quang Sơn và Bùi Xuân Long thuộc Viện Khoa học
Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh và Trần Trọng Nghĩa thuộc Ty Văn hóa Thông tin tỉnh Long An tiến hành khai quật di tích Rạch Núi và cho di tích thuộc thời đại đồng thau, có niên đại sớm nhất khoảng 3000 năm trước đây Niên đại C14 2400 ± 100 cách ngày nay, chỉ niên đại muộn của di tích.2
Di tích Gò Tháp, thuộc địa phận ấp Tháp Mười, xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã được biết đến từ những năm cuối thế kỷ 19 (Sylvestre 1869 – 1878) Nhưng đến năm 1984, di tích này mới được khảo sát toàn diện và khai quật lần đầu tiên đã cho kết quả niên đại trước Óc Eo: Những kết quả phân tích C14 mẫu gỗ
ở độ sâu 4m, trong lòng Gò Minh Sư có niên đại: 2480 ± 40BP = 530 năm trước Công nguyên và hai mẫu than ở độ sâu 2,15m trong tầng văn hóa dưới di chỉ mộ cổ Óc Eo
có niên đại 2350 ± 40BP = 400 năm trước Công nguyên và 2250 ± 40BP = 300 năm trước Công nguyên3
Năm 1986, Bảo tàng Long An đã tiến hành cuộc khảo sát đầu tiên tại địa điểm
Gò Ô Chùa, tiếp theo những năm sau đó Bảo tàng Long An phối hợp với Viện KHXH vùng Nam Bộ bước đầu khảo sát và nghiên cứu địa điểm này
1
Lê Xuân Diệm (1984), Về các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long, Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long, Sở
Văn hóa và Thông tin An Giang xuất bản, tr.55
2
Phạm Quang Sơn (1978), Khai quật khảo cổ học di chỉ Rạch Núi (cần Giuộc-Long An), ), Những phát hiện Khảo cổ học ở miền Nam, Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh, tr 97-130
Trang 21Đầu năm 1988, di tích Lộc Giang (thuộc ấp Lộc An, xã Lộc Giang, huyện Đức Hoà, Đức Huệ; Long An) đã được Lê Trung Khá khai quật
Vào những năm 1988 – 1989, các nhà khảo cổ tiếp tục phát hiện được di tích
Gò Cao Su (Gò Chùa) thuộc ấp Nhơn Hòa, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
Năm 1998, Trung tâm nghiên cứu Khảo cổ học Viện KHXH tại Tp HCM phối hợp với Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp khai quật khu Linh Sơn Nam, kết quả thu được với mẫu than LS2/2 WK 6340 lấy ở độ sâu khoảng 2,00m đem phân tích niên đại bằng phương pháp C14 cũng cho kết quả 1900±50 năm cách ngày nay Từ những kết quả trên cho thấy rõ trong khu di tích Ba Thê-Óc Eo đã tồn tại những di tích ở vào giai đoạn sớm trước Văn hoá Óc Eo hoặc ở giai đoạn khởi đầu của văn hoá đó Ngoài ra, trong phạm vi kiến trúc Linh Sơn (Ba Thê), còn phát hiện được những mộ chum, bên trong có chôn theo một số hạt chuỗi bằng vàng, bằng mã não có những mối lên hệ với các di tích, di vật của mộ chum Văn hoá Sa Huỳnh, mộ chum ở Cần Giờ (Tp Hồ Chí Minh) và cũng có những hạt chuỗi rất giống của Văn hoá Óc Eo Từ đó cho thấy mộ chum ở Linh Sơn hẳn thuộc giai đoạn chuyển tiếp từ thời tiền sử sang thời sơ sử Kiến trúc đá - gạch Linh Sơn Nam được xây dựng trên một lớp văn hoá mộ chum có niên đại thế kỷ I sau Công nguyên Đây là phát hiện mới liên hệ với di tồn Văn hoá tiền Óc
Eo ở đồng bằng Nam Bộ trong khoảng thời gian từ thế kỷ III trước Công Nguyên đến thế kỷ I sau Công nguyên 1 Năm 1993, kết quả phân tích niên đại bằng phương pháp
C14 của mẫu than lấy ở độ sâu 1,60m trong lòng kiến trúc Linh Sơn Nam có niên đại vào khoảng 1800±50 năm cách nay
Ở giai đoạn từ sau năm 1990, nhờ chương trình nghiên cứu khảo cổ học Trường
Sa – Tây Nguyên – Nam Bộ của nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt và Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, Khảo cổ học miền Nam Việt Nam có điều kiện tiếp tục nghiên cứu mạnh mẽ hơn, bên cạnh việc tiếp tục nghiên cứu của các cơ quan ban ngành phía Nam còn có thêm sự hợp tác với các Viện Khảo cổ học Việt Nam cùng các đơn vị trong và ngoài nước Nhờ vậy, các điều tra, thám sát, khai quật và nghiên cứu về các
Trang 22di tích Óc Eo và tiền Óc Eo trên địa bàn các tỉnh phía Nam được triển khai mạnh mẽ
và rộng rãi hơn
Cuối năm 1993, Quang Văn cậy, Ngô Thế Phong thuộc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Nguyễn Văn Thành thuộc Bảo tàng Long An tổ chức khai quật di tích Lộc Giang Về niên đại, những người trực tiếp khai quật cho rằng, di tích Lộc Giang có hai thời kỳ: thời kỳ đầu, có niên đại khoảng hậu kỳ đá mới đầu thời đại kim khí, kéo dài khoảng một thiên niên kỷ, thời kỳ thứ hai, có niên đại khoảng nửa đầu Công nguyên
Cuối năm 1993 và đầu năm 1994, Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng An Giang tiến hành khai quật di tích Gò Cây Tung thuộc ấp Thới Thuận, xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang lần thứ nhất từ ngày 25/12/1993 đến 05/02/1994, chủ yếu là khai quật phần di tích kiến trúc trên đỉnh gò
Trong các năm 1993-1995, cán bộ Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng Long An khảo sát, thám sát và khai quật tại di tích Gò Cao Su Theo những người khai quật di tích Gò Cao Su có niên đại bắt đầu từ khoảng 500 năm tr.CN và có thể kéo dài đến đầu Công nguyên1
Năm 1995, Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng An Giang tiến hành khai quật di tích Gò Cây Tung lần thứ hai từ 11/03/1995 đến 11/04/1995, khai quật phần di tích ở sườn gò với diện tích khai quật hố 1 có 52 m2 và hố 2 có 25 m2
Tháng 2 năm 1997, di tích An Sơn được khai quật lần thứ hai dưới sự chủ trì của Bùi Phát Diệm, ngoài ra còn có sự tham gia của nhiều nhà khoa học thuộc Bảo tàng Long An, Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khảo cổ học
Hà Nội và một số nhà khoa học đến từ Nhật Bản Tháng 4-5, năm 1997, địa điểm Gò
Ô Chùa được Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam và bảo tàng Long An phối hợp khai quật lần đầu tiên
Năm 2002, trung tâm nghiên cứu khảo cổ học - Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ (nay là Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ) phối hợp với Trường Viễn
1
Trần Anh Dũng, Bùi Văn Liêm, Nguyễn Đăng Cường và Vương Thu Hồng (1996), Khai quật di chỉ khảo cổ học Gò Cao Su (Long
An), Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1995, Nxb.Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.220-222 và Trần Anh Dũng, Bùi Văn Liêm và Nguyễn Đăng Cường (1994), Báo cáo khai quật địa điểm Gò Cao Su (ấp Nhơn Hòa I, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long
Trang 23Đông Bác Cổ (Cộng hoà Pháp) và Bảo tàng An Giang tiến hành khai quật lần thứ nhất
di tích Gò Tư Trăm (Trâm) thuộc Ấp Trung Sơn, thị trấn Óc Eo, xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Trong các năm gần đây, đặc biệt liên tiếp từ 2003 – 2006, có rất nhiều cuộc khai quật, nghiên cứu về các di tích Tiền Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ Qua đó các kết quả nghiên cứu cũng được công bố trên các thông báo, tạp chí chuyên ngành
Năm 2003, Nguyễn Mạnh Thắng, Nguyễn Quốc Hữu, Hà Thị Hương Giang thuộc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Vương Thu Hồng, Văn Ngọc Bích, Nguyễn Tấn Quốc, Đỗ Thị Lan thuộc Bảo tàng Long An đã tiến hành khai quật di tích Rạch Núi lần thứ hai, những người trực tiếp khai quật xếp di tích Rạch Núi vào giai đoạn Hậu kỳ đá mới – Sơ kỳ kim khí, có niên đại từ 3500 – 2500 cách ngày nay 1 Cũng trong năm này, di tích Giồng Nổi thuộc ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre được phát hiện Cũng trong năm này, vào tháng 5 năm 2003, di tích Gò Ô Chùa được khai quật lần II dưới sự phối hợp của Sở văn hoá thông tin Long An, Bảo tàng Long
An, Trường Đại học KHXH&NV- Đại học Quốc gia Hà Nội cùng với Viện khảo cổ học Chung và So Sánh - Cộng hoà Liên bang Đức
Năm 2004, 2005, Bảo tàng Long An phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu khảo
cổ học, viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, do TS Phạm Quang Sơn làm trưởng đoàn đã tiến hành khai quật di tích An Sơn lần thứ 3
Năm 2005, trung tâm nghiên cứu Khảo cổ học - Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ (nay là Viện phát triển bền vững) phối hợp với Trường Đại học Sophia Nhật Bản và Bảo tàng An Giang tiến hành khai quật lần thứ hai di tích Gò Tư Trăm
Trong hai năm 2005, 2006, các cơ quan như Sở văn hoá thông tin Long An, Bảo
tàng Long An, Trường Đại học KHXH&NV- Đại học Quốc gia Hà Nội cùng với Viện khảo cổ học các nền văn hoá bên ngoài Châu Âu thuộc Viện khảo cổ học Quốc gia Cộng hoà Liên bang Đức tiếp tục cuộc khai quật lần III và lần IV di tích Gò Ô Chùa
Trang 24
Liên tiếp trong ba năm 2004 – 2006, Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng Bến Tre tiến hành khai quật 3 lần tại di tích Giông Nổi Theo những người trưc tiếp khai quật thì di tích Giồng Nổi có niên đại sơ kỳ đồ sắt, ở vào khoảng 2500 BP cho đến đầu công nguyên, niên đại C14 của di tích Giông Nổi là 2220 ± 50 BP, 2290 ± 65
BP và 2310 ± 70 BP 1 Những người khai quật đã cho rằng đây cũng là một minh chứng nữa về một con đường tiến lên Óc Eo
Vậy là từ sau năm 1975 đến nay, Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí minh (nay là Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ) đã cùng với các cơ quan khoa học trong và ngoài nước, đặc biệt là Viện Khảo cổ học Việt Nam và các Bảo tàng ở các tỉnh phía Nam đã tiến hành khảo sát, thám sát và khai quật rất nhiều địa điểm thuộc giai đoạn Tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ và cũng nhận thức rõ hơn những con đường tiền Óc Eo tiến lên Óc Eo
Kết quả của những nghiên cứu trên có thể tìm hiểu những công trình đề cập đến
các di tích Tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ đã công bố như: Những phát hiện Khảo cổ học
ở miền Nam (1978) ; Khảo cổ Đồng Nai (1991); Một số vấn đề Khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam (1997, 2008); Khảo cổ học tiền sử và sơ sử Thành phố Hồ Chí Minh
(1998); Khảo cổ học Long An những thế kỷ đầu Công nguyên (2001); Văn hóa đồng
Bằng Nam Bộ - di tích kiến trúc cổ ( ); Văn hoá Óc Eo và các văn hoá cổ đồng bằng sông Cửu Long (1984); Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long (1990) Gần
đây khi hệ thống lại những nghiên cứu của khảo cổ học “Đóng góp vào việc nghiên
cứu văn hóa Nam Bộ”, PGS.TS Tống Trung Tín có trình bày về 4 con đường tiến tới
văn hóa Óc Eo: Tiền Óc Eo qua các di tích Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt (TP Hồ Chí Minh); Tiền Óc Eo qua di tích Gò Cao Su, Gò Ô Chùa (Long An); tiền Óc Eo qua di tích Gò Cây Tung (An Giang); Tiền Óc Eo qua di tích Giồng Nổi (Bến Tre) 2 Trong
Những phát hiện Khảo cổ học ở miền Nam, cũng có các bài viết đề cập đến vấn đề tiền
Óc Eo, “Gốm trong các di tích khảo cổ học giai đoạn “tiền Óc Eo” ở Nam Bộ” của
TS Nguyễn Thị Hậu và “thời kỳ tiền Óc Eo ở Nam Bộ” của Võ Sĩ Khải
Trang 25Riêng các di tích khảo cổ học Tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ tuy có khai quật 12 địa điểm: An Sơn, Rạch Núi, Lộc Giang, Gò Cao Su, Gò Ô Chùa, Cổ Sơn Tự, Lò Gạch (Long An); Gò Tháp (Đồng Tháp); Giồng Nổi (Bến Tre); Nhơn Thành (Cần Thơ); Gò Cây Tung, Gò Tư Trăm (An Giang), nhưng ngoài các báo cáo khai quật của các di tích và các bài viết đăng trên các thông báo hay tạp chí chuyên ngành thì cho đến nay vẫn còn nhiều cuộc khai quật chưa được công bố Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
trong “Thông báo khoa học” có công bố di tích Lộc Giang thuộc tỉnh Long An, di tích
Gò Ô Chùa thuộc tỉnh Long An; tạp chí Khảo cổ học công bố Khai quật di tích Giồng
Nổi (Bến Tre), còn các di tích khác đã được Viện Khảo cổ học khai quật như Gò Cây Tung thuộc tỉnh An Giang, Gò Cao Su thuộc tỉnh Long An và Giồng Nổi thuộc tỉnh Bến Tre hay Trung Tâm Nghiên cứu Khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ khai quật di tích Gò Tư Trăm… chỉ được thông báo ngắn trong Những Phát hiện mới về khảo cổ học hàng năm của Viện Khảo cổ học Và cho đến nay cũng vẫn chưa có công trình, luận án, luận văn nào đi sâu nghiên cứu về giai đoạn giai đoạn Tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ
Kết quả khai quật các di tích khảo cổ học tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ cho chỉ số niên đại của văn hoá tiền Óc Eo: Một số di tích ở tỉnh Long An đã có niên đại C14 như
di tích An Sơn, 2 mẫu than ở độ sâu 4m cho niên đại 2775 ± 60 BP (cách ngày nay) và
2885 ± 60 BP; ở di tích Rạch Núi, mẫu ở độ sâu 2m cho niên đại 2400 ± 100 BP; ở di tích Lộc Giang, mẫu than gỗ ở độ sâu 2,25m trong tầng văn hóa sớm nhất cho niên đại
3950 ± 75 BP và mẫu ở độ sâu 0,8m nơi tiếp xúc giữa tầng văn hóa tiền sử với tầng đất
có sự xáo trộn giữa gốm tiền sử và gốm Óc Eo cho niên đại 1490 ± 50 BP; ở di tích
Rạch Rừng, mẫu cọc gỗ ở độ sâu 1,7m cho niên đại 2780 ± 40 BP và mẫu mảnh gỗ và
than dích vào chiếc xương sọ người MH1 ở độ sâu 1,7m cho niên đại 2800 ± 45 BP; ở
di tích Gò Cao Su, mẫu than gỗ thu ở độ sâu 1,15m trong lớp văn hóa sớm nhất cho
niên đại 3370 ± 80BP và mẫu thu ở độ sâu 0,5m trong lớp văn hóa chứa nhiều gốm cho niên đại 2650 ± 70BP 1 Riêng di tích Gò Ô Chùa có 4 niên đại C14, ba mẫu do Trung tâm Kỹ thuật hạt nhân Thành phố Hồ Chí Minh phân tích cho niên đại 1900 ± 60BP, 1986 ± 60BP và 1900 ± 150BP, một mẫu than do Phòng thí nghiệm trường Đại
Trang 26
học Canberra (Australia) phân tích cho niên đại 2420 ± 70 BP Những nhà khảo cổ học
trực tiếp khai quật cũng đoán định niên đại như Lê Xuân Diệm cho di tích An Sơn có niên đại khoảng 4000 năm cách ngày nay; Phạm Quang Sơn cho di tích Rạch Núi có
niên đại sớm nhất khoảng 3.000 năm cách ngày nay; Quang Văn Cậy, Ngô Thế Phong
và Nguyễn Văn Thành cho niên đại di tích Lộc Giang có hai thời kỳ: thời kỳ đầu có
niên đại khoảng hậu kỳ đá mới đầu thời đại kim khí, thời kỳ thứ hai có niên đại khoảng nửa đầu công nguyên thuộc văn hóa Óc Eo
Ngoài ra, ở tầng dưới của các di tích văn hoá Óc Eo, qua khai quật và nghiên cứu, phân tích mẫu gỗ, than lấy từ lớp sâu nhất của tầng văn hoá đã cho những chỉ số niên đại C14 rất sớm (trước Công nguyên), niên đại của văn hoá tiền Óc Eo cho thấy các di chỉ này đã có các cư dân tiền Óc Eo:
Trong hố thám sát Gò Cây Da (OE 83 – GDTS) trên cánh đồng Óc Eo, tầng văn
hoá dày đến 3,30m Ở độ sâu 2,20m đã gặp nhiều mảnh gốm và hạt cườm, nhiều mẫu than khá lớn Một vật bằng kim loại hình lục giác dẹt, đường kính 2,5cm, từ 2,80m đến 3,30m vẫn còn những mảnh gốm, có một đoạn cây gỗ cắm đứng, có thể là chân cột dài 0,6m, đường kính gần 0,20m, một hố đất đen rộng 0,15m, sâu 0,20m, trong hố có chứa mảnh xương và răng của loài trâu bò hoặc nai Đây có thể là dấu vết của quá trình cư trú, sinh hoạt của con người trước khi có sự đắp phủ lên thành gò cao Mẫu than ở lớp sâu của tầng văn hoá cho niên đại 2120 ± 50BP =170 ± 50 trước Công nguyên1
Di chỉ Gò Hàng thuộc địa phận xã Vĩnh Đại, huyện Vĩnh Hưng (nay là Tân
Hưng) Đây là di chỉ cư trú lớn có dấu tích các hoạt động thủ công làm đồ gốm, làm đồ kim hoàn-đá quý Tổng thể di vật ở đây thuộc Văn hoá Óc Eo Một mẫu vật lấy từ một chiếc cối và gỗ ở độ sâu 2,50m trong lòng di tích có chỉ số niên đại C14 là 1970 ± 60 năm cách ngày nay, tương ứng với niên đại sớm của Văn hoá Óc Eo 2 Như vậy, Gò Hàng bao gồm hai giai đoạn phát triển từ tiền Óc Eo sang Óc Eo
1
Võ Sĩ Khải, 2008, Thời kỳ tiền Óc Eo ở Nam Bộ, MSVĐKCH, tr 354
Trang 27Niên đại các di tích khảo cổ học giai đoạn tiền Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ
Trang 28Đông, cách bờ sông 28m về phía đông
Di tích được biết đến với những phát hiện về các cổ vật từ nhân dân địa phương
và nghiên cứu của Louis Mallerete cùng Paul Levy vào năm 1938, lúc này di tích An Sơn thuộc ấp An Sơn, làng Lộc Giang, tổng Câu An Thượng, tỉnh Chợ Lớn Tai đây hai ông đã đào hai hố thám sát Hố một sâu 2m, tìm được một số mảnh gốm vỡ, một số rìu không vai; hố hai tìm được gạch kích thước lớn cùng một cái trục lăn bằng sa thạch tròn đã đưa về Bảo tàng Sài Gòn1 Sau cuộc đào thăm dò của Louis Mallerete và Paul Levy, suốt thời gian dài sau đó cho đến năm 1971, Henri Fontaine cho biết di tích An Sơn không có nhà khoa học nào đến thăm viếng2
Tuy nhiên, phải đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu về di tích An Sơn mới thật sự được thực hiện một cách có hệ thống và quy củ Năm 1977, hai năm sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng, các nhà khảo cổ học Viện Khoa học xã hội tại Hồ Chí Minh (nay là Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ) và Ty Văn hoá Thông tin tỉnh Long An (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An) đã phối hợp điều tra lại di tích
Từ 14 tháng 2 đến 14 tháng 3 năm 1978, đoàn cán bộ của Viện khoa học Xã hội gồm có Lê Xuân Diệm, Phạm Quang Sơn và cán bộ Bảo tồn Bảo tàng tỉnh Long An là
1
Louis Mallerete (1963), Sđd, tr 94 – 95
Trang 29Trần Trọng Nghĩa đã tiến hành khai quật lần đầu tiên di tích An Sơn Tổng diện tích khai quật là 144m2 được chia làm hai khu vực:
Khu trên đồi đào một hố có kí hiệu ASH.2, kích thước 9 x 6m = 54m2 có hướng chính nam bắc và ở vào vị trí phía đông bắc của gò đất; tầng văn hoá dày từ 4,2 – 4,5m có thể chia thành ba lớp tính từ mặt đất hiện nay xuống đất cái:
- Lớp 1: dày trung bình từ 0,5 – 0,8 m có màu nâu sẫm, khá rắn chắc và khô
- Lớp 2: là lớp đất dày nhất trong tầng văn hoá trung bình từ 3 – 3,1m với 3 màu đất chính là nâu, nâu đượm hồng và vàng cấu trúc phức tạp với nhiều bếp than tro nằm chồng chất, cắt phá lẫn nhau với nhiều màu sắc Chúng có xu thế nằm dốc về mạn góc đông bắc của hố khai quật Lớp đất văn hóa có nhiều bếp than này có thể chia làm
2 lớp nhỏ ngăn cách nhau bởi 1 lớp đất màu nâu vàng tơi mịn dày 0,4 – 0,6m
- Lớp 3: dày trung bình từ 0,5 – 0,8m, có màu nâu nhạt, tơi xốp Đây là lớp đất nằm ở độ sâu nhất và sát ngay trên đất cái
Loại đất cái trong hố khai quật có màu xám, thuộc loại sét pha cát mịn vừa phải
Khu dưới ruộng ở phía đông gò đào hai hố có kí hiệu ASH.1, kích thước 5
x 10m = 50m2 và ASH.3 kích thước 4 x 10m = 40m2, giữa hai hố có một bờ khống chế rộng 1m Cả hai hố đều có hướng chính nam - bắc và ở gần sát phía đông chân gò Lớp đất văn hoá ở hai hố gần tương tự nhau Độ sâu tối đa của tầng văn hoá là 1,5m Ngoại trừ lớp đất màu nâu sẫm, giống như lớp đất trên cùng của khu vực trên gò, thấy xuất lộ
ở vách phái đông và 1 phần góc đông bắc của H1 Phần độ sâu còn lại đều thuộc lớp đất văn hoá giống như lớp giữa ở H2 và cũng gặp hiện tượng các bếp than tro nắm chồng lên nhau với nhiều màu sắc phong phú, xu thế của các tầng than tro này cao về phía tây nam và thoải thấp dần về phía đông và đông bắc Bên dưới tầng này là loại đất cái, với thành phần vật chất là loại đất sét cát giống như khu trên gò1
1
Lê Xuân Diệm (1978a), Khai quật An Sơn (Đức Hoà-Long An), Những phát hiện Khảo cổ học ở miền Nam, Viện Khoa học Xã hội
Trang 30Từ đó các nhà khai quật cho rằng về cấu trúc văn hóa cũng như đặc trưng tính
tụ trong những hố đào 2 khu vực di tích trên (tuy khác nhau về độ sâu) cơ bản là thống nhất và có thể cùng thuộc 1 phạm vi cư trú cổ
Trong tầng văn hoá của các hố khai quật đã phát hiện:
- Bếp than tro với các đặc trưng:
* Kích thước trên bề mặt khá lớn cũng vì thế mà các nhà khai quật không phát hiện được 1 cái bếp trọn vẹn
* Có độ dày lớn gồm nhiều tầng than tro với đủ loại màu sắc nằm chồng chéo, cắt phá tạo nên một hiện tượng phức tạp không thể phân tách rạch ròi từng lớp một
* Trong các tầng than tro chứa đựng nhiều xương răng động vật, vỏ nhuyễn thể, mảnh gốm và cả những hiện vật, di cốt người
- Ba ngôi mộ (đều ở hố 1) ký hiệu 78ASH1: M1, M2, M3 có chôn theo đồ tùy táng
- Trên 500 hiện vật là công cụ lao động, đồ trang sức bằng các chất liệu đá, xương sừng, vỏ sò ốc… Đặc biệt có những vật dụng hằng ngày bằng gốm và đất nung chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong tầng văn hoá và cả trong mộ Những loại đồ gốm và đất nung còn nhận biết được hình dạng là các kiểu bình, kiểu nồi, bát bồng, bát nhỏ, chén, dọi se sợi, đạn tròn và mảnh gốm tròn Ngoài ra còn có hàng vạn chục mảnh gốm vỡ
và một số kiềng ba chân nằm lẫn trong tầng văn hoá…
Theo những người khai quật, địa điểm khảo cổ học An Sơn là một khu di tích lớn, gồm hai tính chất rõ rệt: cư trú và mộ táng, dựa trên 500 hiện vật các loại và hàng chục vạn mảnh đồ gốm, các bếp than tro, những di tích một huyệt đất còn bảo tồn khá tốt di cốt của người chết, di cốt của hơn 20 giống loài động vật khác nhau… Căn cứ vào đồ gốm, họ cho rằng An Sơn là di tích cư trú của con người qua nhiều thế kỷ Ở đây, ngoài hoạt động nông nghiệp, người cổ An Sơn còn phát triển các nghề thủ công khác trong đó nghề làm đồ gốm phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống đã phát triển và trở thành một nghề cổ truyền
Trang 31- Đồ đá: trên 500 hiện vật chiếm số lượng nhiều nhất là rìu, bàn mài, ngoài ra còn có 2 mảnh vòng tay
- Về loại hình đồ gốm phổ biến với:
* Miệng: phổ biến nhất là loại loe xiên (thẳng hoặc hơi lõm) với thành miệng rộng vừa phải
* Thân: phổ biến loại hình cầu, có bụng tròn hoặc hơi dài Loãi xiên thẳng hầu như không thấy
* Đáy: phổ biến lạo lồi tròn, loại nhọn, bằng gần như không có
* Chân đế: phổ biến loại loe choãi cao, loại chân đế thấp rất ít
- Công cụ, đồ trang sức bằng xương sừng, vỏ nhuyễn thể, vỏ ốc,…rất phong phú, đặc biệt là 6 lưỡi câu bằng sừng
Nhìn chung theo các nhà khai quật thì loại hình gốm phổ biến là nồi miệng loe, bụng hình cầu, đáy tròn và hai loại gốm có kiểu dáng độc đáo khác đó là bát có dáng hình nón, miệng loe, bụng thu, đáy nhọn tròn, phần miệng có gờ nổi lên ở phía trong
và có gắng một dải đai hình răng cưa, xương mỏng cùng với loại bình có dáng thon, cao, miệng hơi loe, cổ hình trụ tròn và tương đối ngắn, vai hẹp hơi xuôi, thân thon hơi thu về phía dưới, đáy tròn hơi lồi, có văn thừng trang trí từ thân xuống đến đáy, vai và
cổ được miết bóng, không có hoa văn, xương mỏng; có thể được dùng như đồ thờ hoặc đồ chôn theo người chết; và loại đồ gốm được gọi là kiềng ba chân
Về tính chất văn hoá của di tích An Sơn: dựa vào những tư liệu hiện vật mới phát hiện cho thấy An Sơn thuộc diện hình văn hoá vùng Đông Nam Bộ
Về niên đại: di tích được xếp vào giai đoạn sơ kỳ thời đại kim khí, có niên đại
4000 năm trước đây 1
Tháng 2 năm 1997, di tích An Sơn được khai quật lần thứ hai, dưới sự chủ trì của Bùi Phát Diệm, có sự tham gia của nhiều nhà khoa học thuộc Bảo tàng Long An, Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khảo cổ học Hà Nội và một
số nhà khoa học đến từ Nhật Bản Trong đợt này, một hố khai quật (H1) đã được triển
Trang 32khai ở khu vực phía đông của đỉnh gò có diện tích 4 x 8m = 32m2 theo đúng hướng bắc nam, cách hố khai quật 2 của năm 1978 là 40m về phía đông Hai hố thám sát (TS1, TS2) có diện tích là 1 x 1m = 1m2, cách nhau 2m, nằm ở phía nam hố khai quật
và cách hố khai quật 2m, đồng thời mở lại hố 2 của đợt khai quật 1978 ở trên đỉnh gò Một hố thám sát thứ ba có diện tích là 2 x 2m = 4m2 nằm cách vách đông hố 1 là 1m Địa tầng khai quật sâu hơn 4m, được chia thành 3 lớp lớn (Layer units) hay 28 lớp nhỏ (Layers) dựa vào cấu tạo thổ nhưỡng
Theo thống kê của những người khai quật: có đến hàng trăm kilôgam gốm bao gồm hai dạng nguyên liệu gốm pha cát và gốm pha bã thực vật, được tìm thấy trong tầng văn hoá cùng nhiều công cụ lao động bằng đá, chủ yếu là rìu có vai, công cụ xương và tàn tích động thực vật, nhuyễn thể
Từ kết quả khai quật An Sơn lần 2, so sánh với kết quả khai quật ở Lộc Giang, Rạch Núi, Cổ Sơn Tự, Dinh Ông , các tác giả đã chỉ ra một mô hình cư trú đặc trưng cho tiền sử lưu vực sông Vàm Cỏ Đó là việc cư trú trên những lớp nền cứng có nguồn gốc sét sông được gia cố liên tục, có dấu hiệu đốt cháy và tạo nền có chủ đích, nên các
di tích thường có địa tầng rất dày và thay đổi màu sắc liên tục bằng các lớp nền mỏng; qua đó có thể thấy An Sơn nằm trong giai đoạn tiền sử với Rạch Núi, Lộc Giang (Long An) và Bình Đa (Đồng Nai)1
Dựa vào việc khai quật tỉ mỉ theo lớp địa tầng của di tích An Sơn, những người khai quật đã đưa ra một số nhận xét về sự chuyển biến của các loại hình đồ gốm và đồ
đá trong suốt thiên kỷ thứ II trước công nguyên
Có bốn giai đoạn phát triển và mỗi giai đoạn phát triển có các loại hình đồ gốm tiêu biểu:
1.Chân đế mâm bồng:
Giai đoạn 1: chân đế choãi thẳng, hoa văn trang trí đặc trưng là khắc vạch kết hợp chấm dải Các đường khắc vạch là đường cong mềm hình sóng nước hoặc các đường gấp khúc Nhiều tiêu bản được tô thổ hoàng theo băng khắc vạch
1
Nishimura Masanari, Bùi Phát Diệm, Vương Thu Hồng và Nguyễn Kim Dung (1998), Khai quật An Sơn (Đức Hòa, Long An) lần
thứ hai (tháng 3-1997), Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1997, Nxb.Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.246-249
Trang 33Giai đoạn 2: chân đế cao choãi nằm, trang trí khắc vạch các băng song song, kết hợp chấm dải, đặc biệt có những tiêu bản ở mặt dưới chân đế cũng có băng hoa văn
Giai đoạn 3: chân đế cao thẳng, ít choãi, trang trí các băng khắc vạch song song kết hợp ấn răng lược chéo nhau, phần đáy của chân đế kéo thẳng thành hình đĩa
Giai đoạn 4: chân đế thấp dần, choãi thẳng, trang trí băng khắc vạch nhưng kết hợp với các băng ấn răng lược thô, chéo nhau
2 Nồi miệng khum đáy tròn:
Giai đoạn 1: Nồi gốm có kích thước lớn, chất liệu dày, gốm mềm Miệng khum trang trí văn thừng nhưng phần sát miệng vuốt thẳng không trang trí văn thừng Ở sát miệng có những đường chìm song song
Giai đoạn 2: nồi gốm có kích thước lớn, cũng trang trí văn thừng, miệng khum vào trong Chất liệu gốm này thuộc gốm xốp pha thực vật
Từ giai đoạn 3 loại hình này không còn nữa
3 Bình vò có hoa văn trên vai:
Giai đoạn 1: vai tròn, miệng loe, văn thừng mịn ở phần giữa của vai Hoa văn khắc vạch hình chữ S trong băng kẻ song song trên nền thừng Chưa xuất hiện loại vai gãy
Giai đoạn 2: chủ yếu là vai gãy, sâu lòng, có trang trí văn thừng mịn nhưng toàn
bộ phần vai được miết bóng và trang trí một băng khắc vạch nhiều đường sóng nước trên nền thừng rộng, băng khắc vạch trên nền thừng hẹp Có khi trang trí đường song song trên nền thừng của phần dưới chỗ gãy
Giai đoạn 3: vai gãy vẫn chiếm tỷ lệ chủ đạo Xuất hiện loại trung gian giữa vai gãy và vai tròn Băng trang trí trên vai chủ yếu là các đường ấn răng lược hình chéo nhau dích dắc hay đường ấn răng lược hình sóng nước So với giai đoạn trước nông lòng đi Có khi có trang trí đường song song trên nền thừng của phần dưới chỗ gãy
Giai đoạn 4: rất ít tư liệu để biết được hình dạng của nó nhưng có khả năng chủ yếu là loại vai tròn và dạng trung gian
Trang 344 Bát đĩa ấn rô đê trên mép miệng
Giai đoạn 1 không xuất hiện
Giai đoạn 2: bát đĩa sâu lòng có trang trí văn thừng trên toàn thân Phần miệng được lật ra ngoài và trên mép miệng có ấn bằng bàn đập cuốn thừng Gốm dày hơn giai đoạn sau
Giai đoạn 3: Gốm mỏng hơn giai đoạn trước Giai đoạn này bao gồm mấy loại biến đổi dần dần từ lớp dưới đến lớp trên:
+ Loại hình lớp dưới: hình dạng chủ yếu là nông lòng, phần mép miệng đắp thêm ngã phẳng, các đường cong rô đê (gợn sóng), kích thước lớn được ấn bằng mép bàn đập cuốn thừng
+ Loại hình lớp trên: kích thước thu nhỏ dần và sâu lòng hơn như bát, phần mép miệng trang trí ấn răng cưa, có những tiêu bản đường răng cưa rất nhỏ phần gắn thêm trên mép miệng không ngã phẳng mà cong đều theo dáng loe của bát
Giai đoạn 4 loại hình này không tồn tại nữa
5 Đồ đá
Giai đoạn 1: chưa thấy rìu đá
Giai đoạn 2: chủ yếu là rìu có vai (loại A4, A5, A6) Loại A4 vai nhọn lưỡi xòe Loại A5 vai xuôi, lưỡi bằng Loại A6 có vai hơi nhọn Còn rìu không vai thì chỉ có loại hình đục và 1 chiếc loại B6 đốc nhọn, lưỡi xòe rộng
Giai đoạn 3: có 3 loại rìu có vai (loại A1, A2, A3) và rìu không vai thuộc loại đục Loại A1 kích thước to nhất, thân dài, lưỡi cong, hình như cái cuốc Loại A2 có vai ngang, thân thẳng và dày, tất cả đều mất phần lưỡi Loại A3 nhỏ và mỏng
Giai đoạn 4: rìu có vai hầu như không còn tồn tại, chủ yếu là rìu không vai với hai loại hình (B1, B2) Loại B1 rìu tứ giác, lưỡi cong, thân dày Loại B2 rìu không vai, lưỡi xòe rộng, thân mỏng
Dựa trên sự chuyển biến mang tính liên tục của các loại hình hiện vật ở An Sơn, nhưng đáng lưu ý là sự tồn tại của các loại hình chủ đạo từ lớp dưới lên trên đã cho
Trang 35thấy môi sinh và kinh tế của người An Sơn hầu như thay đổi không đáng kể Dựa trên kết quả C14 khoảng 3.900BP và 3.400BP từ lớp thuộc gia đoạn 2 và 3, nên những người khai quật dự đoán di tích An Sơn tồn tại khoảng 1.000 năm1
Từ 16 tháng 12 năm 2004 đến ngày 22 tháng 01 năm 2005, di tích An Sơn được khai quật lần 3 do Bảo tàng Long An phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu khảo cổ học, viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, do TS Phạm Quang Sơn làm trưởng đoàn Trong hai tuần lễ đầu, còn có 14 sinh viên năm thứ 3 chuyên ngành Khảo cổ học, Khoa Lịch sử, Trường Đại học KHXH&NV – Đại học Quốc gia TP.HCM tham gia làm việc trên công trường Trong đợt này có ba hố khai quật ( Kí hiệu 04ASH1, kích thước 6x4m; 04ASH2, kích thước 8x12m và 04ASH3, kích thước 17x10m) và năm hố thám sát được thực hiện trên phạm vi phía đông và Đông Nam của gò với tổng diện tích là 313m2 Tầng văn hoá trong các hố khai quật và thám sát không hoàn toàn đồng nhất và có diễn biến khá phức tạp Tuy vậy dựa vào những tư liệu có được nhất là của
hố 1 và hố 3 cũng như những công bố trước đây có thể phân chia tầng văn hoá thành bốn lớp cơ bản tính từ lớp dưới lên:
- Lớp 4: là lớp dưới cùng, nằm ngay trên lớp sinh thổ cát sét xám, màu nâu nhạt, hơi xám vàng chứa nhiều di vật văn hoá Lớp này được xác định là lớp cư trú
- Lớp 3: nằm trên lớp 4, được cấu tạo bằng vô số lớp mỏng (có thể có 20 đến 30 lớp tùy chỗ), cũng là tích tụ xốp, bở rời nhưng rất khác nhau về màu sắc (đen, xám, trắng, vàng, hồng, đỏ,…) Đáng chú ý là trong những lớp có tích tụ than tro màu đen thường có nhiều vỏ sò ốc, xương thú và mảnh đồ gốm vỡ Các lớp này thường xếp chồng lên nhau, có khi đứt chân, không bằng phẳng mà thường dốc tạo thành những
gò cao hay đống nhỏ phân bố rải rác trong tầng văn hoá (hay trên bề mặt sinh thổ)
- Lớp 2: là lớp đất tương đối đồng nhất, màu nâu nhạt hay màu nâu hồng, bở rời, chứa nhiều hiện vật văn hoá như công cụ đá, các mảnh gốm, xương răng thú, vỏ sò ốc… Theo những người khai quật, lớp đất này có thể đã được hình thành trong quá trình cư trú của cư dân cổ An Sơn
Trang 36
- Lớp 1: nằm trên cùng, là đất thịt, màu nâu sẫm hay nâu đen, dẻo, khi khô lại rất cứng chắc Trong lớp này có rất ít công cụ đá và xương răng thú nhưng lại ken dày đặc các mảnh gốm bở, nhiều màu sắc (đỏ, hồng, trắng, đen,…) thuộc những đồ đựng
có kích thước lớn Lớp đất này cũng là tích tụ trong quá trình cư trú
Phía trên lớp 1 là lớp đất canh tác hiện đại
Trong đợt khai quật này đã phát hiện được 20 mộ táng (H1 có 1 mộ, H2 có 2
mộ và H3 có 17 mộ) và nhiều đồ tùy táng, những gò đất với lớp đất cứng, mềm và than tro xen kẽ; nền đất và những lỗ chôn cột…
Về hiện vật, trong đợt khai quật lần ba này đã thu được một khối lượng lớn công cụ bằng đá, công cụ và đồ trang sức bằng xương, xương răng thú và vỏ sò ốc, hàng chục ngàn mảnh gốm cùng nhiều tiêu bản đồ đựng bằng gốm còn nguyên vẹn
- Công cụ bằng đá: gồm 1029 tiêu bản, tập trung chủ yếu ở H3 làm bằng loại đá cứng, ít bị phong hoá, chiếm số lượng nhiều nhất là rìu, đục, dao đá, bàn mài,…
- Công cụ và đồ trang sức bằng xương, sừng và vỏ nhuyễn thể rất phong phú, đặc biệt là 1 mũi dáo và 6 lưỡi câu bằng sừng
- Đồ gốm thu được 194.347 mảnh không kể các đồ đựng còn nguyên vẹn hoặc
có thể xác định được hình dạng như loại nồi, bát bồng, lọ, bình, tô, đĩa, âu,…cà ràng, gốm ghè tròn, bi gốm,… Trong đó chiếm số lượng lớn là các mảnh vỡ của loại hình nồi với miệng loe xiên, thân hình cầu, đáy hình cầu
Trong các hố khai quật có thể nói hố 3 là hố có diện tích lớn nhất, đồng thời nó cung cấp nhiều thông tin, giá trị về các loại hình di tích đặc biệt như các gò, mộ táng… cung cấp một số hiện vật quý giá chưa từng thấy trong các di tích khác: một ngọn giáo bằng sừng, một chiếc âu có trang trí hoa văn và có lỗ buộc dây ở đế được cho là dùng
để đội đầu
Theo những người khai quật, đợt khai quật An Sơn lần này đã cung cấp nhiều
tư liệu cho công tác nghiên cứu Lần đầu tiên có thể xác định tại đây đã có nhiều loại hình di tích khác nhau như khu cư trú, công xưởng làm gốm mà theo nhận định ban đầu đó là nơi chuyên sản xuất nồi, nghĩa địa Về khung niên đại của di tích, đợt khai
Trang 37quật này đã củng cố cho quan điểm do Nguyễn Kim Dung và Nishimura Masanari đưa
ra trước đây Tuy nhiên nó không chỉ bó hẹp trong khoảng bó hẹp từ 4000 – 3000 năm cách ngày nay mà còn có thể muộn hơn đến 2700 năm thậm chí 2500 năm trước đây1
Như vậy trải qua ba lần khai quật di tích An Sơn, nhiều thông tin mới được thu thập đã làm sáng rõ dần niên đại và tính chất của di tích
Nếu như ở các đợt khai quật trước chỉ nhận thấy khung niên đại của An Sơn trong khoảng 4000 – 3000 cách ngày nay thì đợt khai quật An Sơn lần 3 đã cung cấp những dữ liệu mới cho phép kéo dài thời gian tồn tại muộn nhất của di tích là 2500 cách nay Trong gần hai thiên niên kỷ tồn tại, nơi đây không chỉ là khu vực cư trú - mộ táng (như nhận định từ năm 1978), mà còn là một nơi sản xuất, đặc biệt là sản xuất đồ gốm với quy mô khá lớn Bằng chứng là rất nhiều di vật gốm nguyên vẹn, độc đáo cùng hàng trăm ngàn mảnh gốm các loại phân bố liên tục từ lớp sớm đến lớp muộn Tuy nhiên loại hình đồ gốm nào là sản phẩm đặc trưng, chủ đạo trong sản xuất ở An Sơn cũng như đặc điểm của chúng vẫn chưa được đề cập rõ ràng Đây là một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, nó không những có ý nghĩa trong việc nghiên cứu thời kỳ tiền
sử ở khu vực Vàm Cỏ Đông – Đông Nam Bộ mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu giai đoạn tiền sử ở khu vực bán đảo Đông Dương và cả Đông Nam Á
2.1.2.Di tích Lộc Giang
Di tích Lộc Giang, thuộc ấp Lộc An, xã Lộc Giang, huyện Đức Hoà; nằm sát tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông, thuộc vùng phù sa cổ Đức Hoà, Đức Huệ, Long An, cao hơn mực nước sông từ 5-7m, có diện tích khoảng 11.000m2
Di tích Lộc Giang đã được L Malleret đến khảo sát, lúc đó di tích thuộc ấp Lộc Chánh, làng Lộc Giang, tổng Câu An Thượng, tỉnh Chợ Lớn và công bố từ năm 19632 Ngày 16 tháng 3 năm 1978, sau khi kết thúc khai quật An Sơn, Lê Xuân Diệm cùng đoàn khai quật đã đến khảo sát di tích Lộc Chánh Tại đây, đoàn đã thu lượm được 41 hiện vật đá, trong đó có 22 rìu - cuốc (18 chiếc dạng tứ giác và 4 chiếc có vai), 6 chiếc đục, 1chày nghiền, 11 mảnh bàn mài và 1 mảnh đá đa diện và một số mảnh gốm Về
1
Phạm Quang Sơn (2006), Báo cáo khai quật di chỉ khảo cổ học An Sơn (xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) – năm
Trang 38niên đại, di tích Lộc Giang có niên đại muộn hơn di tích An Sơn và có phần gần với di tích Dốc Chùa, ước khoảng 3000-3500 cách ngày nay1
Đầu năm 1988, di tích đã được Lê Trung Khá khai quật 20m2
Cuối năm 1993, Quang Văn cậy, Ngô Thế Phong thuộc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Nguyễn Văn Thành thuộc Bảo tàng Long An tổ chức khai quật di tích Lộc Giang Diện tích khai quật 45m2 chia làm hai hố: hố H1 với diện tích 3 x 5 = 15m2, tầng văn hóa dày trung bình 2m, chỗ sâu nhất dày 2,10m, ở sườn phía đông gò; hố H2
ở gần chân gò nên tầng văn hóa mỏng hơn, dày trung bình 1,40-1,60m, cách H1 15m
có diên tích 5 x 6m = 30m2
Địa tầng H1 có thể chia thành 5 lớp, tính từ trên xuống:
-Lớp I: lớp mặt, dày từ 20-30cm, cũng có thể gọi là lớp canh tác, thuộc loại đất
phù sa bạc màu khá cứng chắc, màu nâu nhạt Trong lớp nàythấy mảnh gốm tiền sử, công cụ và mảnh công cụ đá nằm lẫn với một ít gốm kiểu Óc Eo và di vật đương đại
-Lóp II: đây là lớp văn hóa bị xáo trộn, dày trung bình 30-35cm, nhưng cũng có
chỗ sâu 1m như ở góc Đông Nam Ở góc này lớp xáo trông hình lòng chảo, đào sâu xuống 1,3m tìm thấy cung hàm dưới của ột sọ người Lóp này cũng có kết cấu đất phù
sa sét, mền và tơi hơn lớp trên Trong lớp này chứa nhiều mảnh gốm tiền sử, chủ yếu
có chất liệu sét pha cát, màu đỏ gạch, lẫn với các hiện vật gốm thuộc văn hóa Óc Eo
Có khả năng hiện tượng xáo trộn này là kết quả hoạt động (san, đào) của cư dân Óc Eo trên tầng văn hóa mà người tiền sử để lại
-Lóp III: dày khoảng 40+50cm, thuộc loại đất phù sa màu nâu nhạt, tương đối
dẻo và xen rất nhiều mảnh gốm, một số công cụ đá Nhìn chung, các mảnh gốm ở lớp này tương đối lớn hơn so với lớp trên Gốm chủ yếu thuộc hai loại: Loại gốm đỏ, xương chắc, thường có miệng loe gãy, thành mép dày, thân trang trí văn chải, khắc vạch đơn giản hoặc những đường vạch trên nền chải; loại thứ hai có chất liệu thô xốp hơn, xương gốm đen, bề mặt có một lớp áo mịn màu hồng, màu vàng hoặc đỏ nhạt nhưng thường không được bào quản tốt
1
Lê Xuân Diệm (1978c), Phát hiện di chỉ khảo cổ Lộc Chánh (Đức Hoà-Long An), Những phát hiện Khảo cổ học ở miền Nam, Viện
Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh, tr 143-154
Trang 39-Lớp IV: dày tương đương lớp trên Nét nổi bật ở lớp 4 là có những vỉa đất màu
đen, hồng cánh sen, đỏ gạch xẫm, vàng, dày từ 5-10cm Những vỉa đất này thấy xuất hiện ở độ sâu 1,2-1,3cm và thường không phủ hết mặt hố khai quật Những người khai quật nêu giả thiết đó là những lớp đất gia cố, nhằm nâng cao mặt nền cư trú
-Lớp V: lớp sâu nhất, dày trên dưới 20cm, có kết cấu phù sa sông, màu nâu sẫm,
chứa nhiều than vụn, gốm đỏ chắc và gốm thô xương đen giảm hẳn trong lớp này, thay vào đó là sự tăng dần của loại gốm mịn, xương nâu, mặt được miết láng, đôi khi
tô màu Các mảnh gốm mịn thường được trang trí khắc vạch-in chấm Đây là loại gốm sớm nhất của di tích Lộc Giang
Sinh thổ là loại đất cát màu xám nhạt, có nguồn gốc phù sa sông Trên mặt sinh thổ còn thấy nhiều lỗ cọc, đường kính trung bình 10-15cm, ăn sâu xuống 20-30cm, mà theo những người khai quật là lỗ cọc kiến trúc cư trú, hoặc sàn cư trú
Dựa vào trật tự địa tầng và diễn biến hiện vật của cả hai hố khai quật, những người trực tiếp khai quật đã cho di tích Lộc Giang trải qua 3 giai đoạn phát triển văn hóa:
Giai đoạn văn hóa I
Đây là giai đoạn sớm nhất của di tích Lộc Giang Giai đoạn này được thể hiện qua lớp 5 của H1 và lớp 4 của H2, với độ dày trung bình trên dưới 30cm Đặc trưng của lớp này là gốm mịn có xương màu nâu sẫm, khá cứng, bề mặt được miết láng, đôi khi có tô màu đỏ thường ở phần vai Hoa văn chủ yếu là khắc vạch kết hợp với in chấm, tạo thành những băng ở phần trụ các bát bồng, phần chân đế mâm bồng, với các họa tiết răng cưa, hình yên ngựa, hình vòng cung xen kẻ nhau
Giai đoạn văn hóa II
Gồm các lớp 4 và 3 ở H 1 và lớp 3 ở H 2 Đặc trưng giai đoạn này là sự xuất hiện nhiều loại gốm có màu đỏ gạch, văn chải hoặc khắc vạch đơn giản, văn vạch trên nền chải; loại thứ hai là gốm xốp xương đen, mặt ngoài phủ lớp áo màu sáng (hồng, vàng ) Loại gốm màu đỏ gạch ít ở lớp dưới, với vành miệng mỏng, gờ mép không rõ, nhưng ở giai đoạn văn hóa II tỷ lệ ưu thế và càng lên trên vành miệng càng dày, gờ
Trang 40mép nổi rõ Gốm xương đen thường đi với loại miệng đứng hoặc hơi loe và đại bộ phận phủ văn thừng, dấu nặng tay để lại rất rõ
Giai đoạn văn hóa III
Giai đoạn này bị xáo trộn nhiều, đại diện bởi lớp 2 của cả H 1 và H 2.Hiện vật trong giai đoạn này là các loại gốm kiểu Óc Eo như bình có vòi, gốm trắng tô màu đỏ, gốm màu đỏ gạch có xương đất được luyện kỹ, mảnh tượng sa thạch Bên cạnh vẫn thấy mảnh gốm, công cụ đá của giai đoạn văn hóa II, mà theo những người khai quật
là do có sự xáo trộn Những người trực tiếp khai quật cho rằng, sau giai đoạn văn hóa
II, di tích Lộc Giang bị bỏ (abandon) một thời gian dài, tuy không thể hiện trên địa tầng, sau đó cư dân Óc Eo mới tới đây định cư
Về hiện vật, đợt khai quật này tìm được hơn 100 công cụ đá trong đó có 30 chiếc thuộc loại tứ giác, công cụ có vai tìm được rất ít, chỉ có 3 chiếc, 1 mảnh tượng đá
có lẽ là mảnh đầu của tượng Phật; 11.598 mảnh gốm thuộc gốm xương đỏ, gốm thô xốp xương đen, gốm mịn xương nâu, gốm Óc Eo
Về niên đại, những người trực tiếp khai quật cho rằng, di tích Lộc Giang có hai thời kỳ: thời kỳ đầu, có niên đại khoảng hậu kỳ đá mới đầu thời đại kim khí, kéo dài khoảng một thiên niên kỷ, với hai giai đoạn kế tiếp nhau Giai đoạn đầu đặc trưng bởi tập hợp gốm mịn miết láng, hoa văn khắc vạch - in chấm đẹp Loại xương gốm đen đã xuất hiện trong thời kỳ này, có kết cấu xương chắc hơn và lớp áo dày hơn giai đoạn sau Giai đoạn hai đặc trưng bằng tập hợp gốm xương đỏ văn chải, văn khắc vạch – in chấm đơn giản cộng tồn với gốm xương đen văn thừng; thời kỳ thứ hai, có niên đại khoảng nửa đầu công nguyên Di vật tìm thấy thuộc văn hóa Óc Eo, gồm gốm xương trắng chiếm ưu thế, thứ đến gốm xương màu đỏ gạch và gốm có độ nung gần sành Niên đại C14 là 3950 ± 70 BP phân tích từ mẫu than sát sinh thổ và 1490 ± 50 BP, lấy
từ chỗ ngăn cách giữa lớp xáo trộn và lớp chứa gốm đỏ (giai đoạn II thời kỳ đầu) 1
1
Quang Văn Cậy, Ngô Thế Phong và Nguyễn Văn Thành (1997), Di Chỉ Lộc Giang (Long An), Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam