1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nu SKKN 18 19

31 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Phương Pháp Giải Bài Toán Bằng Cách Lập Phương Trình
Tác giả Đào Thị Nữ
Trường học THCS Lê Đình Chinh
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Năm xuất bản 2018-2019
Thành phố Krông Ana
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 678,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • III. Các giải pháp đã tiến hành 6

    • IV. Tính mới của giải pháp 17

  • PHẦN THỨ III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 26

    • I. Kết luận 26

    • II. Kiến nghị 26

Nội dung

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Cơ sở lí luận của vấn đề

Mục tiêu của ngành giáo dục là đào tạo thế hệ con người mới phát triển toàn diện về phẩm chất, đạo đức, năng lực và trí tuệ để đáp ứng yêu cầu thực tiễn Để đạt được điều này, giáo viên cần áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại và liên tục nâng cao trình độ bản thân, nhằm khuyến khích sự chủ động, sáng tạo và tích cực của học sinh, đặc biệt trong môn Toán.

Tính tích cực học tập là trạng thái tâm lý và hành động của người học, thể hiện mong muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập Đây là phẩm chất quan trọng, thể hiện qua tình cảm và ý chí quyết tâm trong việc giải quyết các vấn đề học tập để tiếp thu tri thức và kỹ năng mới.

Môn Toán hấp dẫn bởi sự thông thái tiềm ẩn và cần được truyền tải một cách sinh động Giáo viên Toán có trách nhiệm giúp học sinh nhận ra vẻ đẹp và ý nghĩa của các khái niệm toán học Nếu không, học sinh sẽ cảm thấy Toán học khô khan và thiếu động lực học tập.

Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ học sinh vượt qua khó khăn trong học tập và tìm ra phương pháp giải quyết các bài toán khó Đây cũng là mối bận tâm lớn của tôi khi giảng dạy cho các em.

Chương trình học môn Toán rất phong phú, đặc biệt là kiến thức về phương trình, mà học sinh thường xuyên gặp phải từ đơn giản đến phức tạp Đến lớp 8, học sinh phải giải các bài toán có lời giải bằng cách lập phương trình, yêu cầu liên hệ với các môn học khác và thực tiễn, dẫn đến nhiều khó khăn Nhiều em gặp khó khăn trong việc giải quyết dạng toán này, điều này luôn là mối trăn trở của tôi trong quá trình giảng dạy “Lập phương trình đối với một bài toán cho trước là biện pháp cơ bản để áp dụng toán học vào khoa học tự nhiên và kỹ thuật Không có phương trình thì không có toán học, nó như phương tiện nhận thức tự nhiên” (P.X.Alêkxanđơp).

Dựa trên kinh nghiệm và nghiên cứu cá nhân, tôi đã phát triển một số phương pháp hiệu quả để giải quyết bài toán thông qua việc lập phương trình.

Thực trạng của vấn đề

Trường THCS Lê Đình Chinh nổi bật với nền tảng giáo dục lâu đời và đội ngũ giáo viên có chuyên môn vững vàng Các thầy cô không chỉ nhiệt tình trong giảng dạy mà còn luôn nỗ lực tìm tòi, nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ để mang đến chất lượng giáo dục tốt nhất cho học sinh.

Trường vừa đạt chuẩn quốc gia cấp độ 1, nhờ đó cơ sở vật chất ngày càng được cải thiện tích cực, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu dạy và học của thầy trò.

Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi chuyên đề và thao giảng, khuyến khích giáo viên đóng góp ý kiến lẫn nhau nhằm cải thiện chất lượng tiết dạy.

Phòng Giáo dục huyện tổ chức định kỳ các chuyên đề nhằm trao đổi công tác chuyên môn giữa các cụm giáo dục, tạo cơ hội cho giáo viên chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy Hoạt động này góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy trong các trường.

Học sinh của trường chủ yếu là con em nông dân ở Quảng Nam, mang trong mình tính cách hiền lành, ngoan ngoãn và chăm chỉ Dù điều kiện gia đình còn khó khăn, các em luôn nỗ lực vượt qua thử thách để tiến bộ trong học tập Phụ huynh cũng tích cực phối hợp với giáo viên trong việc quản lý và giáo dục học sinh.

Mặc dù trường đã có những cải thiện nhất định, nhưng vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn Cơ sở vật chất tuy được đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của học sinh Đội ngũ giáo viên trẻ còn thiếu kinh nghiệm giảng dạy Hầu hết học sinh đến từ gia đình lao động chân tay, điều này hạn chế thời gian học tập của các em, vì ngoài giờ học, các em còn phải phụ giúp gia đình Nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn, dẫn đến một số học sinh phải đi làm thêm để kiếm tiền, gây ra thách thức trong việc khuyến khích các em đến lớp.

Trong năm học 2018-2019, tôi được phân công giảng dạy môn Toán lớp 8 Ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến hành điều tra và sát hạch về hứng thú học tập cũng như kết quả học tập môn Toán của học sinh ở ba lớp 8A1, 8A2, và 8A3 thông qua phiếu điều tra và bài kiểm tra 90 phút với hình thức trắc nghiệm và tự luận Kết quả thu được sẽ giúp đánh giá tình hình học tập của học sinh.

- Về hứng thú học tập:

Tổng số HS Yêu thích Không yêu thích

94 Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ

- Về kết quả học tập:

Tổng số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu

Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ

Kết quả học tập của học sinh trong bộ môn quan trọng này chưa đạt yêu cầu, với 69,2% học sinh thể hiện sự thụ động trong việc tiếp thu kiến thức và giải bài tập Nhiều học sinh không tích cực tham gia phát biểu trong giờ học, dẫn đến tình trạng giáo viên phải giảng bài một mình, trong khi phần lớn học sinh chỉ ngồi chép bài Do đó, việc tìm kiếm và áp dụng phương pháp giảng dạy mới để cải thiện tình hình này là điều tôi luôn trăn trở.

Các giải pháp đã tiến hành

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh gặp nhiều khó khăn do cả yếu tố chủ quan và khách quan Để giải quyết những vấn đề này, giáo viên cần theo sát từng bước tiến của học sinh Hiểu được tâm lý ngại khó của các em, tôi đã phân chia bài tập thành các dạng cụ thể và cấp độ phù hợp với từng đối tượng học sinh, đồng thời tạo ra sự hứng thú cho các em học sinh khá giỏi.

Để nâng cao hiệu quả học tập, giáo viên có thể khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động nhóm, cặp đôi hoặc thi đua giữa các tổ Những hình thức này không chỉ tạo ra không khí thoải mái mà còn kích thích sự tự giác, chủ động và sáng tạo của học sinh Đồng thời, việc làm việc cùng nhau cũng giúp các em hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập.

Tôi luôn chú trọng quan sát và hướng dẫn các em trong việc trình bày bài giải, sửa lỗi trực tiếp khi giải quyết bài toán Điều này không chỉ giúp các em ghi nhớ và hiểu sâu hơn về nội dung bài toán mà còn khuyến khích các em suy nghĩ tích cực, không nản lòng khi gặp khó khăn Qua đó, tôi cũng nhận diện được những thách thức mà các em phải đối mặt, từ đó rút ra kinh nghiệm quý báu trong quá trình giảng dạy.

Sau khi hoàn thành việc giải bài toán bằng cách lập phương trình, tôi sử dụng phương pháp trò chuyện gợi mở để thu thập thêm thông tin và phân loại đối tượng học sinh trong việc giải toán.

Mặc dù áp dụng phương pháp mới và tích cực, việc kế thừa các phương pháp truyền thống là điều cần thiết Cần phải kết hợp và bổ sung các phương pháp này để phù hợp với tình hình thực tế và từng đối tượng học sinh Dưới đây là một số giải pháp mà tôi đã thực hiện.

Giải pháp 1 Hướng dẫn học sinh nghiên cứu đề bài.

Mỗi dạng bài tập yêu cầu giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề bài để nắm bắt thông tin cần thiết Học sinh cần xác định các đại lượng đã cho và đại lượng cần tìm, đồng thời đặt ẩn phù hợp với đơn vị và điều kiện hợp lý Để giải quyết bài toán, cần áp dụng các công thức liên quan.

Giải pháp2 Quy định tiến trình chung để giải bài toán bằng cách lập phương trình.

Mỗi học sinh đều có khả năng tư duy riêng, nhưng để giải quyết các bài toán lập phương trình, cần có một trình tự thống nhất Điều này giúp học sinh rèn luyện cách trình bày bài toán một cách logic và khoa học.

* Bước 1: Chọn ẩn số ( ghi rõ đơn vị ) và đặt điều kiện cho ẩn;

* Bước 2: Biểu diễn các đại lượng chưa biết theo ẩn và các đại lượng đã biết;

* Bước 3: Lập phương trình biểu thị mối quan hệ giữa các đại lượng.

* Bước 4: Giải phương trình, chọn nghiệm và kết luận.

Trong quá trình giải toán, bước đầu tiên là vô cùng quan trọng, vì nó quyết định tính chính xác của bài giải Học sinh cần xác định dạng bài tập để lựa chọn ẩn phù hợp, đồng thời xác định đơn vị và điều kiện của ẩn phải phản ánh đúng thực tế cuộc sống Việc tìm ra mối quan hệ giữa các đại lượng khác sẽ giúp lập ra phương trình chính xác.

Ngoài ra, sau khi tìm được nghiệm của phương trình, phải đối chiếu với điều kiện xác định ở bước 1 rồi mới đi tới kết luận của bài toán.

Một người đi xe máy từ A đến B với vận tốc 40 km/h Khi trở về, người đó đi với vận tốc 30 km/h, dẫn đến thời gian trở về lâu hơn thời gian đi là 45 phút Từ đó, chúng ta cần tính quãng đường AB.

Bước 1: Gọi x (km) là quãng đường AB ( x > 0)

Bước 3: Vì thời gian về nhiều hơn thời gian đi là 45 phút 3

4giờ nên ta có phương trình: 30 x

Vậy quãng đường AB là: 90 km

Giải pháp 3 Phân loại từng dạng bài tập cho học sinh

Tùy thuộc vào từng dạng bài tập, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cách giải quyết phù hợp, giúp các em chủ động và tự tin khi gặp các bài toán khác nhau Điều này không chỉ tạo sự hứng thú cho học sinh mà còn giúp các em hiểu rõ hơn về các phương pháp giải quyết khác nhau cho từng dạng toán cụ thể.

* Dạng 1: Dạng toán về chuyển động:

Trong chương trình toán lớp 8, học sinh sẽ tiếp xúc với nhiều bài toán chuyển động, bao gồm các bài toán về chuyển động cùng chiều, ngược chiều trên cùng một quãng đường, cũng như chuyển động xuôi dòng và ngược dòng nước.

Để giải quyết các bài toán chuyển động, học sinh cần nắm vững kiến thức và công thức liên quan Cụ thể, trong bài toán chuyển động, mối liên hệ giữa quãng đường, thời gian và vận tốc được thể hiện qua công thức s = v.t, từ đó có thể suy ra v = s/t và t = s/v Đối với bài toán chuyển động xuôi dòng và ngược dòng, cần hiểu rõ rằng vận tốc xuôi dòng được tính bằng vxuôi = vThực + v dòng nước, trong khi vận tốc ngược dòng là vngược = vThực - v dòng nước.

Từ đó mới có thể suy luận để lập ra được phương trình phù hợp.

Để giải bài toán về khoảng cách giữa hai bến A và B, ta biết rằng ca nô xuôi dòng từ A đến B mất 6 giờ và ngược dòng từ B về A mất 7 giờ Với vận tốc của dòng nước là 2 km/h, ta có thể tính được khoảng cách giữa hai bến này.

Để giải quyết các bài toán về chuyển động, giáo viên nên hướng dẫn học sinh lập bảng hoặc vẽ sơ đồ thể hiện mối liên hệ giữa các đại lượng Phương pháp này giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc tìm ra hướng giải quyết cho bài toán.

Nếu x (km/h) là vận tốc của ca nô (với x > 2), ta có thể thiết lập mối quan hệ giữa quảng đường, vận tốc và thời gian Bảng tóm tắt dưới đây sẽ minh họa rõ ràng vận tốc khi đi xuôi dòng và ngược dòng nước.

Qua bảng tóm tắt ta dễ dàng lập ra được phương trình: 6(x+2) = 7(x-2). Giải:

Gọi x (km/h) là vận tốc của ca nô ( x > 2).

Vận tốc khi ca nô đi xuôi dòng nước là: x+2 (km/h)

Quảng đường ca nô đi khi xuôi dòng là: 6(x+2) (km)

Vận tốc khi ca nô đi ngược dòng nước là: x - 2 (km/h)

Quảng đường ca nô đi khi ngược dòng là: 7(x - 2) (km)

Vì quảng đường khi đi và về giống nhau nên ta có phương trình:

Tính mới của giải pháp

Phương pháp giải bài toán bằng cách lập phương trình giúp giáo viên hướng dẫn học sinh trình bày bài toán và phát triển kỹ năng lập phương trình từ các bài tập cụ thể, đồng thời theo dõi sự tiến bộ của học sinh một cách sát sao.

Các dạng bài tập được phân loại rõ ràng và kèm theo ví dụ minh họa cụ thể, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận Mặc dù chưa đầy đủ, nhưng hầu hết các bài toán đều là những dạng thường gặp trong quá trình học và ôn thi học sinh giỏi Nội dung đã được hướng dẫn chi tiết, giúp các em nắm vững kiến thức và chủ động hơn trong việc lập và giải phương trình.

Mỗi dạng bài tập đều có các bài toán liên quan giúp học sinh tự rèn luyện và nắm vững kiến thức Tuy nhiên, giáo viên cần kiểm tra và đánh giá kịp thời để khắc phục sai sót của học sinh, từ đó giúp các em rút kinh nghiệm và tránh mắc lỗi trong những lần giải bài tập sau.

V Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm

Qua việc trực tiếp vận dụng sáng kiến này vào công tác giảng dạy, tôi đã đạt được một số hiệu quả cụ thể như sau:

Để đảm bảo hiệu quả trong giảng dạy, nội dung bài học cần đầy đủ, khách quan và phù hợp với tiêu chuẩn kiến thức đã đặt ra Bài dạy nên được trình bày một cách nhẹ nhàng, dễ hiểu, giúp học sinh tiếp thu và ghi nhớ kiến thức một cách tự nhiên, không tạo cảm giác áp lực trong lớp học.

Các em đã chủ động hơn trong việc nắm kiến thức bài học, mạnh dạn, tự giác lên bảng sửa bài tập.

Khả năng tự tin, chủ động và sáng tạo của học sinh được nâng cao qua nhiều năm giảng dạy, giúp các em nhận thức rõ vai trò cá nhân trong tập thể và làm chủ kiến thức tốt hơn Tính chủ động trong việc nắm bắt nội dung bài học và giải quyết các bài toán liên quan cũng được cải thiện, với nhiều em tự mình tìm ra giải pháp cho các vấn đề Hơn nữa, những học sinh khá giỏi còn chủ động tìm kiếm các bài toán nâng cao, từ đó củng cố kiến thức và tạo nền tảng vững chắc cho việc học các kiến thức phức tạp hơn trong chương trình lớp sau.

9, cũng như sẽ giúp giáo viên truyền thụ kiến thức dễ dàng hơn.

Bài vận dụng của học sinh sau khi học về dạng toán về công việc làm chung, làm riêng, năng suất lao động, tỉ lệ chia phần.

Bài vận dụng của học sinh vào việc giải bài tập tương tự ở dạng toán liên quan đến các môn học khác ( Môn hình học)

Bài tập của một em học sinh giỏi tự giác tìm thêm bài tập nâng cao để mở rộng kiến thức

Áp dụng các phương pháp giảng dạy mới đã tạo ra không khí lớp học Toán sôi nổi, thu hút sự chú ý của học sinh, giúp giờ học trở nên nhẹ nhàng, hào hứng và sinh động hơn, từ đó tránh được cảm giác nhàm chán và buồn ngủ mà các em thường gặp phải trong các tiết học trước.

Không khí lớp học trở nên thoải mái, các em tự tin hơn trong giờ học

Khi học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, việc áp dụng vào các tiết học sau sẽ trở nên dễ dàng hơn, giúp tránh tình trạng thụ động Giải quyết những khó khăn ban đầu tạo hứng thú cho học sinh với môn Toán, biến nó thành một môn học thú vị và dễ tiếp thu Điều này không chỉ mang lại hiệu quả lâu dài cho các tiết học tương tự sau này mà còn giúp học sinh tự tin khẳng định bản thân và phấn đấu tích cực hơn trong quá trình học.

Kết quả khách quan của sáng kiến này được đánh giá thông qua số liệu thu thập từ cuộc khảo sát về hứng thú học tập và kết quả học tập của học sinh lớp 8A1, 8A2, 8A3 trong năm học 2018 – 2019, so với các lớp 8A1, 8A2, 8A3, 8A4 trong năm học 2017-2018 mà tôi đã dạy trước đó, được thể hiện rõ qua bảng số liệu.

Bảng tổng hợp kết quả điều tra :

Nội dung điều tra Năm học

Có quyết tâm tìm hiểu phương pháp giải và mong muốn bản thân tự giải được bài toán bằng cách lập phương trình

Biết giải phương trình đưa được về dạng ax + b = 0 và có thể lập được phương trình từ đề bài toán 45(34.1%) 53(56.4%)

Không thuộc các công thức về sự liên quan tỉ lệ thuận , tỉ lệ nghịch ; về diện tích hoặc chu vi của các hình vuông , hình chữ nhật

Không biết cách sắp xếp các bước trong quá trình giải toán bằng cách lập phương trình 67(50.1%) 15(16%)

Có thể lập được phương trình , nhưng không hiểu và không biết hướng giải đó đúng hay sai 65(49.2%) 45(47.9%)

Có thể lập được phương trình , có hiểu nhưng không dám khẳng định là chắc chắn đúng 40(30.3%) 55(58.5%)

Có thể tự giải một bài toán dạng tương tự như dạng đã học 40(30.3%) 62(66%)

Tổng hợp các mối liên hệ giữa các đại lượng trong đề bài, lập phương trình và hiểu rõ nội dung của bài toán là bước quan trọng Việc giải thích và tự giải bài toán thông qua lập phương trình sẽ giúp người học nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết.

Mặc dù kết quả hiện tại chưa đạt yêu cầu như mong đợi, tôi vẫn có niềm tin rằng nếu chúng ta nỗ lực tìm kiếm các giải pháp tối ưu trong giảng dạy, tỉ lệ học sinh khá, giỏi sẽ tăng lên, trong khi tỉ lệ học sinh yếu kém sẽ giảm xuống Quan trọng hơn, các em sẽ luôn đón nhận chúng tôi trong mỗi giờ học.

PHẦN III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

Quá trình giảng dạy cho tôi thấy rằng việc giải bài toán thông qua lập phương trình rất quan trọng Nó không chỉ giúp học sinh rèn luyện tư duy logic và sáng tạo, mà còn nâng cao khả năng trình bày vấn đề, phát triển tư duy cao và khả năng tích hợp liên môn với các môn học khác.

Khi giải dạng toán này, giáo viên cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đọc kỹ đề bài và hiểu rõ mối quan hệ giữa các đại lượng để lập phương trình chính xác Trong chuyên đề này, các dạng toán chủ yếu liên quan đến phương trình bậc nhất, kiến thức cần thiết cho học sinh lớp 8 Khi lên lớp 9, học sinh sẽ tiếp cận với phương trình bậc hai và hệ phương trình, do đó, giáo viên cần hướng dẫn cụ thể về yêu cầu trong lời giải và các bước trình bày, tạo nền tảng vững chắc cho các em trong quá trình học tập sau này.

Giáo viên cần đặc biệt quan tâm đến học sinh yếu kém để bù đắp những thiếu sót trong kiến thức của các em Điều này yêu cầu sự đam mê nghề nghiệp, tình yêu thương trẻ em, kiến thức vững chắc và phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Giáo viên bộ môn cần có kiến thức vững vàng và nắm rõ trọng tâm bài học để tạo ra những bài soạn chất lượng Họ nên nghiên cứu kỹ nội dung, chuẩn bị các câu hỏi gợi mở nhằm kích thích hứng thú cho học sinh Đồng thời, giáo viên cũng cần chú trọng đến sự đa dạng trong lớp học, đảm bảo mọi học sinh đều được quan tâm để tránh tình trạng chán nản do không theo kịp kiến thức bài học.

Giáo viên cần phải tận tâm và kiên nhẫn trong công tác giảng dạy, vì giáo dục là một quá trình dài hạn Hàng tháng, giáo viên nên theo dõi và phân loại từng học sinh để kịp thời có những biện pháp hỗ trợ cho những em chưa tiến bộ.

Kết luận

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy việc giải bài toán thông qua lập phương trình đóng vai trò quan trọng Nó không chỉ giúp học sinh rèn luyện tư duy logic mà còn phát triển khả năng sáng tạo, kỹ năng trình bày, tư duy phản biện và khả năng tích hợp kiến thức liên môn với các môn học khác.

Khi giải dạng toán này, giáo viên cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đọc kỹ đề bài và hiểu rõ các mối quan hệ giữa các đại lượng để lập phương trình chính xác Các dạng toán trong chuyên đề này chủ yếu là phương trình bậc nhất, phù hợp với kiến thức môn Toán lớp 8 Khi học sinh tiến lên lớp 9, các em sẽ giải bài toán bằng phương trình và hệ phương trình, với các quy tắc thực hiện tương tự Tuy nhiên, kiến thức sẽ nâng cao hơn với các phương trình bậc hai hoặc hệ phương trình, do đó giáo viên cần hướng dẫn học sinh về yêu cầu trong lời giải và các bước trình bày để tạo nền tảng cho việc học sau này.

Giáo viên cần chú trọng đến học sinh yếu kém bằng cách bù đắp những lỗ hổng kiến thức cho các em Điều này yêu cầu giáo viên phải có lòng yêu nghề, yêu trẻ, kiến thức vững vàng và phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Kiến nghị

Giáo viên bộ môn cần có kiến thức vững vàng và nắm rõ trọng tâm bài học để đầu tư vào việc soạn giảng Họ nên nghiên cứu kỹ nội dung bài học, chuẩn bị các câu hỏi gợi mở nhằm kích thích sự hứng thú của học sinh Đồng thời, giáo viên cần chú trọng đến sự đa dạng của đối tượng học sinh trong lớp, đảm bảo rằng mọi em đều có thể theo kịp nội dung kiến thức, từ đó tránh tình trạng chán nản cho những học sinh không theo kịp.

Giáo viên cần kiên trì và tận tâm trong giảng dạy, vì giáo dục là một quá trình dài hạn Hàng tháng, họ phải theo dõi và phân loại học sinh để kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy cho những em chưa tiến bộ.

Để nâng cao hiệu quả học tập, cần hướng dẫn học sinh cách học và chuẩn bị bài tập tại nhà một cách hiệu quả Việc thường xuyên kiểm tra và đánh giá quá trình học của học sinh, cả trên lớp và tại nhà, là rất quan trọng nhằm ngăn chặn tình trạng quên kiến thức do thời gian học trên lớp bị giới hạn.

Để hỗ trợ học sinh yếu kém, không chỉ cần sự can thiệp của giáo viên bộ môn mà còn cần sự phối hợp chặt chẽ từ giáo viên chủ nhiệm trong việc nhắc nhở và uốn nắn các em.

- Quan tâm chỉ đạo chuyên môn kịp thời.

- Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho giáo viên trong các tiết dạy.

- Tạo môi trường học tập thân thiện để học sinh tích cực học tập.

- Luôn quan tâm, nhắc nhở con em mình về vấn đề học tập khi ở nhà.

Thường xuyên kiểm tra bài vở của học sinh và chủ động liên hệ với giáo viên bộ môn cũng như giáo viên chủ nhiệm để nắm bắt tình hình học tập và kết quả trên lớp, từ đó kịp thời động viên và nhắc nhở các em.

- Tạo mọi điều kiện tốt nhất về không gian và thời gian, đảm bảo việc học ở nhà của các em.

Người viết sáng kiến Đào Thị NữNHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

Ngày đăng: 02/05/2021, 22:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w