Mục đích nghiên cứu
Để phát huy vai trò của giáo viên trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, cần định hướng việc học và hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức chuyên môn vào giải quyết vấn đề, từ đó nâng cao năng lực tự học của học sinh Việc cải thiện chất lượng các tiết học thông qua việc áp dụng bài tập sẽ giúp học sinh phát triển kỹ năng và kỹ xảo cần thiết khi giải quyết các dạng bài tập vật lý, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục môn vật lý lớp 7.
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Cơ sở lý luận
Bài tập là phương thức hữu hiệu để củng cố và mở rộng kiến thức
Vật lý là môn học lý thuyết với các kiến thức trừu tượng, do đó việc hiểu rõ các khái niệm, định luật và hiện tượng vật lý là rất quan trọng để nắm bắt kiến thức chuyên môn.
Mỗi khái niệm và định luật Vật lý được thể hiện rõ ràng qua các hiện tượng hàng ngày, và bài tập là cách ghi chép lại những hiện tượng đó Khi giải bài tập, học sinh áp dụng kiến thức trừu tượng để hiểu bản chất của các hiện tượng vật lý đã học, từ đó nhận diện sự đa dạng của chúng trong thực tế Việc này không chỉ giúp rèn luyện kỹ năng quan sát và phân tích mà còn làm cho môn Vật lý trở nên hấp dẫn hơn, giảm bớt sự e dè và nhàm chán của học sinh Bài tập là phương pháp hiệu quả để khắc họa kiến thức một cách đơn giản.
Bài tập giúp rèn luyện kỹ năng tự vận dụng kiến thức chuyên môn vào giải quyết các vấn đề thực tế, tự đánh giá và kiểm tra kiến thức
Khi tiếp cận bài tập, học sinh cần tự phân tích dữ liệu và ôn lại kiến thức đã học để xây dựng lập luận giải quyết tình huống Bài tập không chỉ giúp rèn luyện kỹ năng áp dụng kiến thức chuyên môn vào thực tế mà còn phát triển khả năng tự học, tự kiểm tra và đánh giá bản thân Qua đó, học sinh hình thành đức tính tự tìm tòi, học hỏi và phát triển kỹ xảo khi làm việc với các bài tập trong môn Vật lý và các môn học khác.
Bài tập là phương tiện tốt nhất để kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh
Sự đa dạng trong các bài tập, bao gồm trắc nghiệm, tự luận, áp dụng công thức và suy luận logic, giúp giáo viên đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh Điều này không chỉ cho phép phân loại học sinh mà còn hỗ trợ giáo viên trong việc áp dụng phương pháp giảng dạy phù hợp, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục.
Thực trạng vấn đề
Trong giảng dạy, có một thực tế đang diễn ra đó là phần lớn học sinh chỉ
Học sinh thường gặp khó khăn trong việc hệ thống hóa các khái niệm, định luật và đại lượng vật lý, cũng như các công thức tính toán trong mỗi bài học Việc "học vẹt" mà không hiểu rõ bản chất của kiến thức lý thuyết dẫn đến sự lộn xộn và khó khăn khi giải bài tập Để vượt qua trở ngại này, việc tổ chức và hệ thống hóa kiến thức một cách khoa học là rất cần thiết.
Sự đa dạng của các hiện tượng vật lý và các dạng bài tập là một rào cản lớn mà học sinh cần vượt qua để thành công trong môn Vật lý 7 Dù nắm vững lý thuyết, nếu không biết cách đọc, phân tích đề bài, học sinh sẽ gặp khó khăn trong việc giải các bài tập suy luận Điều này dẫn đến việc áp dụng phương pháp giải và công thức một cách máy móc, trong khi nhiều em còn chưa biết cách trình bày bài giải một cách hợp lý, chỉ chú trọng đến đáp án cuối cùng.
Thời gian học vật lý tại trường học thường bị hạn chế, chủ yếu tập trung vào lý thuyết và các khái niệm trừu tượng Điều này khiến học sinh chưa có đủ cơ hội rèn luyện với các dạng bài tập và chưa nắm vững các phương pháp giải Kết quả là, phần lớn học sinh gặp khó khăn trong việc áp dụng kiến thức vào thực tế.
“học suông” các lý thuyết mà thiếu đi kỹ năng làm bài tập, không đáp ứng được yêu cầu của môn Vật lý.
Học sinh tại trường THCS Lê Đình Chinh gặp nhiều khó khăn trong quá trình học tập, điều này được thể hiện rõ qua chất lượng bài làm của các em Kết quả khảo sát cuối học kỳ 1 năm học 2017 – 2018 ở các lớp 7 cho thấy sự khác biệt trong khả năng làm bài tập ở các mức độ khác nhau.
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu - kém
Để nâng cao chất lượng bài làm của học sinh, không chỉ cần trang bị kiến thức cơ bản mà giáo viên cũng cần áp dụng phương pháp giảng dạy phù hợp cho từng đối tượng học sinh Điều này giúp học sinh tiếp cận nhiều dạng bài tập khác nhau và được định hướng, hướng dẫn cách giải quyết bài tập một cách chính xác, có trình tự, và hiệu quả.
Giải pháp thực hiện
Giới thiệu một số phương pháp dạy học tích cực
Dạy học tích cực (DHTC) là phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh DHTC nhấn mạnh mối quan hệ giữa dạy và học, đặt học sinh làm trung tâm trong các hoạt động giáo dục, đồng thời chú trọng rèn luyện phương pháp tự học và học tập hợp tác.
Một số phương pháp dạy học tích cực bao gồm phương pháp vấn đáp, hoạt động nhóm, đóng vai, đặt và giải quyết vấn đề, cùng với phương pháp động não Bài viết này sẽ tập trung giới thiệu những phương pháp dạy học tích cực phù hợp cho học sinh lớp 7 tại trường THCS Lê Đình Chinh.
1.1 Phương pháp hoạt động nhóm Ở phương pháp hoạt động nhóm, lớp học được chia thành các nhóm, mỗi nhóm từ 4-6 người, mỗi lớp không quá 6 nhóm để đảm bảo việc hoạt động nhóm đạt được kết quả cao nhất Việc chia nhóm cần được thực hiện phù hợp với nội dung, yêu cầu của bài học và có thể thay đổi theo từng bài học khác nhau.
Nhóm tự bầu chọn nhóm trưởng, và các thành viên tích cực thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công Trong quá trình hoạt động, họ phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành công việc Kết quả hoạt động của từng thành viên sẽ góp phần vào thành tích chung của nhóm, từ đó ảnh hưởng đến kết quả học tập của cả lớp.
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành như sau:
* Làm việc chung cả lớp :
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài
Phương pháp hoạt động nhóm khuyến khích các thành viên chia sẻ băn khoăn và kinh nghiệm, từ đó xây dựng nhận thức mới Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức, cần tránh sự ỷ lại vào một thành viên nào đó, đảm bảo tất cả đều có cơ hội hoạt động và đóng góp vào kết quả chung của nhóm.
1.2 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
Phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh phát hiện, đặt ra và tự giải quyết các vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc sống cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường như sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề;
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra
+ Đề xuất cách giải quyết;
+ Lập kế hoạch giải quyết;
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết.
+ Thảo luận kết quả và đánh giá;
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
+ Đề xuất vấn đề mới.
- Các mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề.
Các mức Đặt vấn đề Nêu giả thuyết Lập kế hoạch Giải quyết vấn đề
1 Giáo viên Giáo viên Giáo viên Học sinh Giáo viên
2 Giáo viên Giáo viên Học sinh Học sinh Giáo viên +
Học sinh Học sinh Học sinh Học sinh Giáo viên +
4 Học sinh Học sinh Học sinh Học sinh Giáo viên +
Vấn đáp là một phương pháp dạy học tích cực, trong đó giáo viên đặt câu hỏi để học sinh trả lời hoặc tranh luận với nhau và với giáo viên, giúp học sinh tiếp thu nội dung bài học hiệu quả Dựa vào tính chất của hoạt động nhận thức, các loại phương pháp vấn đáp được phân loại khác nhau.
Vấn đáp tái hiện là phương pháp giáo dục trong đó giáo viên đặt câu hỏi yêu cầu học sinh hồi tưởng lại kiến thức đã học và trả lời dựa vào trí nhớ mà không cần phải suy luận Biện pháp này thường được áp dụng để tạo mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới được giảng dạy.
Vấn đáp giải thích và minh họa là phương pháp giáo dục hiệu quả, giúp làm rõ một đề tài thông qua việc giáo viên đặt ra các câu hỏi và cung cấp ví dụ cụ thể Phương pháp này không chỉ giúp học sinh dễ hiểu mà còn dễ nhớ hơn, đặc biệt khi được hỗ trợ bởi các phương tiện nghe nhìn.
Vấn đáp tìm tòi là phương pháp giáo dục hiệu quả, trong đó giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi hợp lý để hướng dẫn học sinh khám phá bản chất của sự vật và quy luật của hiện tượng Phương pháp này không chỉ kích thích sự ham muốn hiểu biết của học sinh mà còn tạo cơ hội cho sự trao đổi ý kiến, bao gồm cả tranh luận giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với nhau, nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể.
Hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là một phương pháp ghi chép hiệu quả, tận dụng khả năng ghi nhớ và sự nhạy cảm của não bộ đối với hình ảnh và màu sắc Phương pháp này giúp con người dễ dàng nắm bắt các vấn đề, nội dung và liên kết những thông tin đơn lẻ Bằng cách trình bày ý tưởng và nội dung qua hình ảnh, sơ đồ tư duy hỗ trợ bộ não trong việc nhận diện và ghi nhớ thông tin một cách dễ dàng hơn.
* Nhận biết ánh sáng – nguồn sáng và vật sáng
- Mắt chỉ có thể nhận biết được ánh sáng khi có ánh sáng truyền vào mắt ta.
- Chúng ta chỉ nhìn thấy vật khi có ánh sáng từ vật đó truyền vào mắt ta
- Nguồn sáng là vật tự phát ra ánh sáng Vật sáng bao gồm nguồn sáng và vật hắt lại ánh sáng chiếu vào nó
- Định luật truyền thẳng ánh sáng: Trong môi trường trong suốt và đồng tính, ánh sáng truyền đi theo đường thẳng.
- Đường truyền của ánh sáng được biểu diễn bằng một đường thẳng có mũi tên chỉ hướng gọi là tia sáng.
- Chùm sáng song song là chùm sáng gồm các tia sáng không giao nhau trên đường truyền của chúng
- Chùm sáng hội tụ là chùm sáng gồm các tia sáng giao nhau trên đường truyền của chúng
- Chùm sáng phân kì là chùm sáng gồm các tia sáng loe rộng ra trên đường truyền của chúng
* Định luật truyền thẳng của ánh sáng
- Bóng tối nằm phía sau vật cản, không nhận được ánh sáng từ nguồn sáng truyền tới.
- Bóng nửa tối nằm phía sau vật cản, không nhận được ánh sáng từ một phần của nguồn sáng
- Nhật thực toàn phần (hay một phần) quan sát được ở chỗ có bóng tối (hay bóng nửa tối) của mặt trăng trên trái đất
- Nguyệt thực xảy ra khi mặt trăng bị Trái đất che khuất không được mặt trời chiếu sáng.
* Định luật phản xạ ánh sáng
Sự phản xạ ánh sáng là hiện tượng khi tia sáng chiếu tới mặt gương phẳng sẽ bị hắt lại theo một hướng xác định Tia sáng bị hắt lại được gọi là tia phản xạ.
- Định luật phản xạ ánh sáng:
+ Tia phản xạ nằm trong cùng mặt phẳng chứa tia tới và pháp tuyến của gương ở điểm tới.
+ Góc phản xạ luôn bằng góc tới
* Ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng
- Ảnh ảo tạo bởi gương phẳng không hứng được trên màn và có độ lớn bằng vật
- Điểm sáng và ảnh của nó tạo bởi gương phẳng cách gương một khoảng bằng nhau.
- Các tia sáng từ điểm sáng S cho tia phản xạ có đường kéo dài đi qua ảnh ảo S’
- Ánh sáng đến gương cầu lồi phản xạ tuân theo định luật phản xạ ánh sáng
- Ảnh tạo bởi gương cầu lồi nhỏ hơn vật
- Vùng nhìn thấy của gương cầu lồi rộng hơn vùng nhìn thấy của gương phẳng.
- Ảnh ảo tạo bởi gương cầu lõm lớn hơn vật
Gương cầu lõm có khả năng biến đổi chùm tia tới song song thành chùm tia hội tụ tại một điểm trước gương Ngược lại, nó cũng có thể chuyển đổi chùm tia tới phân kỳ thành chùm tia phản xạ song song.
- Các vật phát ra âm gọi là nguồn âm
- Các nguồn âm đều dao động
- Tần số là số dao động trong một giây Đơn vị của tần số là 1/s gọi là Héc (Hz)
Tần số dao động (Hz) = Số dao động / thời gian (s)
- Âm phát ra càng cao (bổng) khi tần số dao động càng lớn
- Âm phát ra càng thấp (trầm) khi tần số dao động càng nhỏ
- Biên độ dao động là độ lệch lớn nhất của thước so với vị trí cân bằng ban đầu.
- Biên độ dao động càng lớn âm phát ra càng to.
- Độ to của âm được đo bằng đơn vị Đêxiben (dB)
- Chất rắn, chất lỏng và chất khí là các môi trường có thể truyền âm
- Chân không không thể truyền được âm
- Nói chung vận tốc truyền âm trong chất rắn lớn hơn chất lỏng, trong chất lỏng lớn hơn trong chất khí
* Phản xạ âm – tiếng vang
- Âm truyền gặp màn chắn đều bị phản xạ nhiều hay ít Tiếng vang là âm phản xạ được nghe cách âm trực tiếp ít nhất 1/15 giây.
- Các vật mềm, có bề mặt gồ ghề phản xạ âm kém Các vật cứng, có bề mặt nhẵn bóng, phản xạ âm tốt (hấp thụ âm kém)
- Giả sử: Gọi s là quãng đường truyền âm, t là thời gian truyền âm, v là vận tốc truyền âm, ta có: v = s/t (m/s)
- Ô nhiễm tiếng ồn xảy ra khi tiếng ồn to, kéo dài gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống của con người.
- Để chống ô nhiễm tiếng ồn cần làm giảm độ to của tiếng ồn phát ra, ngăn chặn đường truyền âm làm cho âm lệch theo hướng khác.
Để giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn, người ta sử dụng nhiều loại vật liệu cách âm như bông, vải, xốp, gạch, gỗ và bê tông Những vật liệu này giúp làm giảm âm thanh truyền đến tai, tạo ra môi trường yên tĩnh hơn.
* Sự nhiễm điện do cọ xát
- Có thể làm nhiễm điện nhiều vật bằng cách cọ xát
- Vật bị nhiễm điện (mang điện tích) có khả năng hút các vật khác hay làm sáng bóng đèn bút thử điện
- Có hai loại điện tích: điện tích dương và điện tích âm Các vật nhiễm điện cùng loại thì đẩy nhau, khác loại thì hút nhau
- Nguyên tử gồm hạt nhân mang điện tích dương và các electron mang điện tích âm chuyển động xung quanh hạt nhân
- Một vật nhiễm điện âm nếu nhận thêm electron, nhiễm điện dương nếu mất bớt electron
- Dòng điện là dòng các điện tích dịch chuyển có hướng
- Nguồn điện cung cấp dòng điện lâu dài Mỗi nguồn điện đều có hai cực
- Dòng điện chạy trong mạch kín bao gồm các thiết bị điện được nối liền với hai cực của nguồn điện bằng dây điện.
* Chất dẫn điện và chất cách điện dòng điện trong kim loại
- Chất dẫn điện là chất cho dòng điện đi qua: Kim loại, nước,
- Chất cách điện là chất không cho dòng điện đi qua: cao su, thủy tinh, nhựa,
- Dòng điện trong kim loại là dòng các electron tự do dịch chuyển có hướng
* Sơ đồ mạch điện – chiều dòng điện
- Mạch điện được mô tả bằng sơ đồ và từ sơ đồ có thể lắp mạch điện tương ứng
+ Nguồn điện gồm hai pin mắc liên tiếp:
- Chiều dòng điện là chiều từ cực dương, qua dây dẫn và các dụng cụ điện đến cực âm của nguồn điện.
- Chiều quy ước của dòng điện với chiều dịch chuyển có hướng của êlectrôn tự do trong dây dẫn kim loại là ngược nhau.
* Tác dụng nhiệt và tác dụng phát sáng của dòng điện
- Dòng điện đi qua một vật dẫn thông thường, đều làm cho vật dẫn nóng lên Nếu vật dẫn nóng lên tới nhiệt độ cao thì phát sáng.
- Dòng điện có thể làm sáng bóng đèn bút thử điện và đi ốt phát quang mặc dù các đèn này chưa nóng đến nhiệt độ cao.
* Tác dụng từ, tác dụng hóa học và tác dụng sinh lí
- Dòng điện có tác dụng từ vì nó có khả năng làm quay kim nam châm và hút các vụn sắt, thép…
Dòng điện có tác dụng hóa học rõ rệt, ví dụ như khi dòng điện đi qua dung dịch muối, nó sẽ tạo ra lớp đồng bám trên thỏi than nối với cực âm.
- Dòng điện có tác dụng sinh lí khi đi qua cơ thể người và động vật
Ampe kế đo lường cường độ dòng điện, với số chỉ trên thiết bị phản ánh mức độ mạnh yếu của dòng điện Cường độ dòng điện được ký hiệu là chữ I.
- Đơn vị đo cường độ dòng điện: ampe (A)
- Đo cường độ dòng điện bằng ampe kế.
* Lưu ý: Chốt (+) được nối với cực (+) của nguồn điện Không được mắc trực tiếp hai cực của nguồn điện vào hai chốt của ampe kế.
- Nguồn điện tạo ra giữa hai cực của nó một hiệu điện thế.
+ Kí hiệu của hiệu điện thế: U
- Hiệu điện thế được đo bằng vôn kế Vôn kế được mắc song song với nguồn điện, dụng cụ điện Chốt (+) được nối với cực (+) của nguồn điện
- Số vôn ghi trên mỗi nguồn điện là giá trị hiệu điện thế giữa hai cực của nó khi chưa mắc vào mạch.
* Hiệu điện thế giữa hai đầu dụng cụ điện
- Hiệu điện thế giữa hai đầu bóng đèn tạo ra dòng điện chạy qua bóng đèn đó.
- Hiệu điện thế giữa hai đầu bóng đèn càng lớn thì dòng điện chạy qua bóng đèn có cường độ dòng điện càng lớn.
- Số vôn ghi trên mỗi dụng cụ điện cho biết hiệu điện thế định mức để dụng cụ đó hoạt động bình thường
- Trong đoạn mạch mắc nối tiếp, cường độ dòng điện bằng nhau tại các vị trí khác nhau của mạch: I = I1 = I2
- Đối với đoạn mạch gồm 2 bóng đèn mắc nối tiếp, hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch bằng tổng các hiệu điện thế trên mỗi bóng đèn: U13 = U12 + U23
- Hiệu điện thế giữa hai đầu các đèn mắc song song bằng nhau và bằng hiệu điện thế giữa hai điểm nối chung: U12 = U34 = UMN
- Cường độ dòng điện trong mạch chính bằng tổng các cường độ mạch điện mạch rẽ : I = I1 + I2
* An toàn khi sử dụng điện
1 Chỉ làm TN với các nguồn điện có hiệu điện thế dưới 40V.
2 Phải sử dụng các dây dẫn có vỏ bọc cách điện.
3 Không được tự mình tiếp xúc với mạng điện dân dụng và các thiết bị điện nếu chưa biết rõ cách sử dụng.
4 Khi có người bị điện giật thì không được chạm vào người đó mà phải tìm cách ngắt ngay công tắc điện và gọi người cấp cứu.
Phân loại bài tập vật lý
Bài tập vật lý có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, như mức độ khó, phương tiện giải, mục đích và cách cho dữ liệu Tuy nhiên, đối với bài tập vật lý lớp 7, chúng thường được phân loại chủ yếu theo hai kiểu cơ bản.
3.1 Phân loại theo mức độ
Dựa vào mức độ, bài tập vật lý có thể được phân loại như sau:
Phân loại bài tập theo mức độ
Là những bài tập cơ bản, đơn giản, chỉ đề cập đến một vài phép tính đơn giản
Là bài tập khi giải cần phải vận dụng nhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều kiến thức
Là dạng bài tập học sinh có sự vận dụng kiến thức, sáng tạo ra cách giải.
3.2 Phân loại theo phương tiện giải
Phân loại bài tập theo phương tiện giải
Là những bài tập khi giải học sinh chỉ cần thực hiện các phép tính đơn giản, hoặc tính nhẩm
Là bài tập khi giải cần phải thực hiện một loại các phép tính để cho ra một kết quả định lượng
Là bài tập đòi hỏi học sinh phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị
Là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải lý thuyết để tìm ra số liệu cần thiết cho việc giải
Trình tự giải bài một bài tập Vật Lý
Thông thường đối với một bài tập Vật Lý, trình tự giải phải trải qua 4 bước sau:
Bước đầu tiên trong quá trình giải bài tập là đọc và tìm hiểu kĩ đề bài Học sinh cần chú ý xác định ý nghĩa của các thuật ngữ và dữ liệu có trong đề, từ đó biết được cần tìm cái gì Đối với những bài tập yêu cầu áp dụng công thức tính toán, việc sử dụng các kí hiệu vật lý để tóm tắt nội dung đề và quy đổi các đại lượng một cách thống nhất là rất quan trọng.
Khi cần thiết, việc vẽ hình để thể hiện nội dung của đề bài là rất quan trọng, giúp làm rõ các dữ liệu đã cho và dữ liệu cần tìm.
Bước 2: Phân tích, xác định mối liên hệ cơ bản giữa các dữ liệu đưa ra và các dữ liệu cần tìm
Phân loại dạng bài tập đưa ra: định lượng hay định tính? Bài tập thí nghiệm hay đồ thị?
Phân tích đề bài giúp làm rõ hiện tượng được nêu, đồng thời xác định các đại lượng vật lý liên quan Việc hệ thống hóa kiến thức và đối chiếu các dữ liệu sẽ giúp tìm ra mối liên hệ giữa thông tin đã cho và dữ liệu cần tìm kiếm.
Khi không có mối liên hệ trực tiếp giữa dữ liệu đã cho và dữ liệu cần tìm, cần sử dụng các đại lượng trung gian có liên quan đến dữ liệu này để xác định mối quan hệ.
Lên dự kiến các bước giải, trình bày bài tập.
Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải, rút ra kết quả cần tìm
Để thực hiện các bước giải dự kiến, cần tuân thủ đúng trình tự đã đề ra ở bước 2 Từ những liên hệ đã thiết lập, tiếp tục phân tích và tính toán để tìm ra kết quả cần thiết Đối với bài tập định lượng, học sinh nên hình thành thói quen giải bài bằng chữ và chỉ thay thế các giá trị bằng số ở biểu thức cuối cùng Cần chú ý cẩn thận với các con số và phép tính để đảm bảo kết quả có ý nghĩa.
Bước 4: Kiểm tra và biện luận kết quả là giai đoạn quan trọng trong quá trình phân tích Tại đây, bạn cần xác nhận tính chính xác của kết quả cuối cùng, đảm bảo rằng chúng phù hợp với yêu cầu của đề bài cũng như thực tế Nếu phát hiện bất kỳ kết quả nào không phù hợp, hãy loại bỏ chúng để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của công việc.
Kiểm tra lại các bước giải, độ chính xác của các con số.
Có thể dùng phương pháp suy luận để tìm cách giải khác ngắn hơn, đơn giản hơn.
Giải bài tập vật lý không nhất thiết phải tuân theo quy trình cứng nhắc, đặc biệt là ở các bước 2 và 3 Việc rập khuôn có thể làm giảm tính sáng tạo và hiệu quả của bài giải, dẫn đến sự dài dòng không cần thiết.
Giới thiệu một số bài tập cơ bản trong chương trình Vật lý 7 và hướng dẫn giải
Bài 1: Tại sao ta không nhìn thấy các vật trong tủ đóng kín?
- Xác định dạng bài tập: Bài tập định tính, giải thích hiện tượng
- Đọc kĩ đề bài, xác định dữ liệu đề cho: Tủ bị đóng kín, các vật trong tủ không nhìn thấy được
- Xác định dữ liệu cần tìm: Vì sao các vật trong tủ bị đóng kín lại không nhìn thấy được?
Để hệ thống hóa lại kiến thức, học sinh có thể sử dụng các câu hỏi như: "Điều kiện để nhìn thấy được một vật là gì?" Câu trả lời cho câu hỏi này là ánh sáng từ vật đó phải truyền vào mắt.
+ Nguồn sáng là vật tự phát ra ánh sáng Vật sáng bao gồm nguồn sáng và vật hắt lại ánh sáng chiếu vào nó
- Hướng dẫn học sinh liên kết các kiến thức đã có bằng có câu hỏi:
+ Các vật ở trong tủ là nguồn sáng hay vật sáng? – Chủ yếu là các vật sáng
+ Tủ đang ở trong trạng thái nào? – Bị đóng kín -> không có ánh sáng lọt vào -> Các vật không được chiếu sáng nên không còn là vật sáng
+ Có ánh sáng từ vật đó truyền đến mắt không? – Không
- Giải: Vì tủ bị đóng kín nên ánh sáng từ các vật trong tủ không thể truyền đến mắt nên ta không nhìn thấy được các vật.
Bài 2: Cho 3 cái kim Hãy cắm 3 cái kim thẳng đứng trên mặt một tờ giấy để trên mặt bàn Dùng mắt ngắm để điều chỉnh cho chúng đứng thẳng hàng (không được dùng thước thẳng) Nói rõ ngắm như thế nào là được và giải thích vì sao lại làm như thế?.
- Trước tiền cần xác định cho học sinh đây là dạng bài tập định tính, giải thích hiện tượng và kèm theo đó là thí nghiệm.
- Xác định dữ liệu cho, dữ liệu cần tìm: Đề cho 3 cái kim, yêu cầu hãy
Khi nào ta nhìn thấy được ba cái kim và khi nào thì không? Ta nhìn thấy ba cái kim khi có ánh sáng từ chúng truyền đến mắt, và không nhìn thấy khi thiếu ánh sáng Nếu các cây kim thẳng hàng, chỉ có cây kim đầu tiên được nhìn thấy, trong khi cây kim thứ hai và thứ ba không thể thấy được.
Để chứng minh rằng đường truyền của ánh sáng từ cây kim thứ hai và thứ ba đến mắt bị che khuất, cần đặt cây kim thứ nhất trên đường thẳng nối giữa cây kim thứ hai, thứ ba và mắt.
- Gợi ý học sinh cách cắm kim và giải thích:
Đầu tiên, cắm cây kim số (1) thẳng đứng trên tấm bìa, đảm bảo nó nằm trong khoảng từ mắt ngắm đến nguồn sáng Tiếp theo, cắm cây kim số (2) sao cho mắt ngắm của nó bị che khuất bởi cây kim số (1) Cuối cùng, cắm cây kim số (3) sao cho mắt ngắm của nó che khuất cả cây kim số (1) và (2), từ đó ba cây kim sẽ thẳng hàng.
Ánh sáng di chuyển theo đường thẳng, vì vậy nếu kim thứ nhất nằm trên cùng một đường thẳng với kim thứ hai và thứ ba, ánh sáng từ kim thứ hai và thứ ba sẽ không đến được mắt Do đó, mắt sẽ không nhìn thấy kim thứ hai và thứ ba.
Bài 3: Hãy nêu cách vẽ ảnh của một điểm sáng S tạo bởi gương phẳng
- Đọc kĩ đề bài, tìm dữ liệu và yêu cầu của đề bài: Bài yêu cầu nêu các cách vẽ ảnh của một điểm sáng.
- Nhớ lại những kiến thức chuyên môn liên quan
+ Ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng ko hứng được trên màn chắn, gọi là ảnh ảo
+ Độ lớn của ảnh ảo tạo bởi gương phẳng bằng độ lớn của vật
+ Điểm sáng và ảnh của nó tạo bởi gương phẳng cách gương một khoảng bằng nhau
+ Các tia sáng từ điểm sáng S tới gương phẳng cho tia phản xạ có đường kéo dài đi qua ảnh ảo S’
- Dựa vào những kiến thức đã học ta có 2 cách vẽ ảnh ảo S’ của điểm sáng S.
Cách 1: Vận dụng tính chất ảnh ảo S’ luôn đối xứng với điểm sáng S qua gương phẳng
Cách 2: Áp dụng định luật phản xạ ánh sáng
- Hướng dẫn học sinh vẽ ảnh ảo S’
Bài 4: Nếu nghe thấy tiếng sét sau 3 giây kể từ khi nhìn thấy chớp, các em có thể biết được khoảng cách từ nơi mình đến chỗ sét đánh là bao nhiêu không?
- Xác định đại lượng cần tìm: Khoảng cách từ nơi mình đến chổ sét đánh là bao xa?
- Xác định được vận tốc truyền âm trong không khí là 340 m/s
Khi nhìn thấy chớp, tiếng sét sẽ đến sau khoảng 3 giây, được biểu diễn qua công thức: t = t’ + 3, trong đó t là thời gian tiếng sét đến tai và t’ là thời gian tia chớp truyền đến mắt.
- Ta tìm mối liên hệ giữa các đại lượng đã cho Xác định công thức tính quãng đường và thời gian truyền âm: s = vt và t = s/v
- Từ đó xác định được thời gian tiếng sét truyền đến tai: t = s/v (s là quãng đường truyền âm, v là vận tốc truyền âm trong không khí)
- Thời gian tia chớp truyền đến mắt của chúng ta: t’ = s/v’ (v’ là vận tốc ánh sáng v’ = 3000000000 m/s)
- Từ đó ta có biểu thức: t = t’ + 3 hay s/v = s/v’ + 3
- Thay giá trị bằng số của các đại lượng : s/340 = s/3000000000 + 3
- vậy khoảng cách từ nơi người đứng đến chỗ sét đánh là ≈ 1020 m.
Bài 5: Một người đứng cách bức tường 17m và gọi to Hỏi người ấy có nghe được tiếng vang của mình vọng lại ko? Cho vận tốc truyền âm trong không khí là 340 m/s.
Để xác định liệu người đứng cách tường 17m có nghe được tiếng vang hay không, cần tính toán thời gian âm thanh truyền từ người đến tường và quay lại Với vận tốc truyền âm trong không khí là 340m/s, thời gian âm thanh đi và về là 2 lần khoảng cách chia cho vận tốc Tính toán này sẽ cho biết người đó có nghe được tiếng vang hay không.
Âm vang sẽ được nghe thấy khi âm phản xạ từ tường đến tai chậm hơn âm trực tiếp ít nhất 1/15 giây.
- Như vậy cần phải xác định được thời gian truyền âm trực tiếp và thời gian âm phản xạ đến tai.
- Từ đây xác định công thức tính thời gian truyền âm dựa vào các dữ liệu đã cho.
- Nếu gọi t là thời gian truyền âm trực tiếp đến tai thì: t ≈ 0 (s)
- Gọi t’ là thời gian truyền âm phản xạ thì t được xác định như sau: t’ = l/v
- Từ đây thay giá trị bằng số của các đại lượng: t’ = 2.17/340 = 0,1 = 1/10 s
- Ta thấy: t ≈ 0, t’ = 1/10 s, mà 1/10 > 1/15 giây Vậy lúc này người đó có thể nghe được tiếng vang của mình vọng lại.
Bài 6: Quan sát dưới gầm các ô – tô chở xăng bao giờ ta cũng thấy có một dây xích sắt Một đầu của dây xích này được nối với vỏ thùng chứa xăng, dầu kia được thả lê trên mặt đường Hãy cho biết dây xích này được sử dụng như thế để làm gì? Tại sao?
- Đọc và tìm hiểu kĩ đề bài Xác định được đây là dạng bài tập định tính, giải thích hiện tượng.
- Tiếp theo xác định yêu cầu của đề bài: mục đích sử dụng dây xích? Tại sao lại làm như vậy?
- Phân tích hiện tượng: Giáo viên có thể gợi ý bằng các câu hỏi sau:
+ Ô – tô đang chở xăng, là các chất dễ cháy khi tiếp xúc với nhiệt độ cao, với lửa, sự phóng điện.
+ Dây xích được lắp đặt trên xe ở vị trí nào? => Thùng xe và thả lê xuống mặt đường
Khi ô tô di chuyển, có thể xảy ra hiện tượng cọ xát giữa xăng và bồn chứa, cũng như giữa ô tô và không khí Sự cọ xát này có thể làm nhiễm điện các phần khác nhau của ô tô, dẫn đến nguy cơ phát sinh tia lửa, gây cháy nổ xăng.
Dây xích sắt có đặc điểm là chất dẫn điện, giúp truyền tải các điện tích do cọ xát từ ô tô xuống đất, đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụng.
Để đảm bảo an toàn khi ô tô hoạt động, học sinh cần trình bày hoàn chỉnh lời giải về việc sử dụng dây xích sắt nhằm tránh cháy nổ xăng Khi ô tô di chuyển, sự cọ xát giữa ô tô và không khí, cũng như giữa xăng trong bồn và bồn chứa, có thể gây ra hiện tượng nhiễm điện Nếu sự nhiễm điện này mạnh, sẽ có nguy cơ phát sinh tia lửa điện, dẫn đến cháy nổ xăng Dây xích sắt, với khả năng dẫn điện, giúp chuyển các điện tích từ ô tô xuống đất, từ đó loại bỏ nguy cơ nhiễm điện mạnh.
Tính mới của giải pháp
Bài viết đã chỉ ra những khó khăn chính mà học sinh gặp phải khi giải bài tập, đồng thời hệ thống hóa kiến thức cơ bản của môn vật lý lớp 7 một cách khoa học, đơn giản và dễ hiểu.
Sơ đồ tư duy giúp hệ thống hóa kiến thức cơ bản trong vật lý 7, tận dụng khả năng ghi nhớ hình ảnh để ghi nhớ chi tiết và phân tích vấn đề thành các nhánh liên kết Nhờ vào sơ đồ tư duy, học sinh có thể dễ dàng và nhanh chóng tiếp cận dữ liệu, từ đó tạo nền tảng vững chắc để giải quyết các bài toán và hiện tượng vật lý.
Hiệu quả của sáng kiến
Hệ thống hóa và củng cố kiến thức chuyên môn là điều cần thiết để nắm vững lý thuyết vật lý Việc sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh hiểu rõ hơn các khái niệm trừu tượng Kết hợp với việc thực hiện đúng trình tự giải bài toán, nhiều học sinh đã có khả năng giải linh hoạt các bài tập cơ bản trong chương trình vật lý lớp 7.
Sau khi tiến hành khảo sát với nhiều bài tập khác nhau dành cho học sinh lớp 7, kết quả thu được cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc định hướng giải bài tập.
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu - kém
Qua khảo sát và đối chiếu, kết quả các bài làm ở điểm trung bình giảm,khá giỏi tăng lên.
Phần thứ ba: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kiến nghị
Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Vật lý ở trường THCS thường có thời gian học hạn chế, đặc biệt là cho việc thực hành bài tập, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Do đó, cần giảm thời gian học lý thuyết với các khái niệm trừu tượng và tăng cường thời gian cho học sinh tự nghiên cứu, áp dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Vì thế, qua bài viết này tôi mạnh dạn đề xuất những ý kiến sau:
Giáo viên cần được tạo điều kiện để chủ động hơn trong việc xây dựng chương trình giảng dạy, từ đó nâng cao vai trò của họ trong việc định hướng và hướng dẫn học sinh Điều này khuyến khích học sinh tự tìm kiếm kiến thức mới và áp dụng vào việc giải quyết các tình huống thực tế.
Cần tạo điều kiện cho giáo viên tham gia nhiều chuyên đề đổi mới phương pháp giảng dạy, nhằm trao đổi và học hỏi kinh nghiệm, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy môn Vật lý cũng như cải thiện chất lượng giáo dục toàn diện.
Do thời gian hạn chế trong việc nghiên cứu và viết bài, cũng như nhận thức của học sinh tại địa phương và năng lực cá nhân còn nhiều hạn chế, bài viết không thể tránh khỏi một số thiếu sót Rất mong nhận được sự trao đổi và góp ý từ các đồng nghiệp để tôi có thể hoàn thiện bài viết này hơn.
Xin trân trọng cảm ơn /.
Quảng Điền, ngày 02 tháng 05 năm 2019