1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương phân tích VBCTĐ

8 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

í nghĩa của bi kịch Vũ Như Tụ Qua tấn bi kịch của người nghệ sĩ thiờn tài Vũ Như Tụ, Nguyễn Huy Tưởng gợi những suy nghĩ sõu sắc về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với hoạt động sỏng tạo

Trang 1

TIẾT 1 VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI- (Trớch Vũ Như Tụ - Nguyễn Huy Tưởng)

I Tỡm hiểu chung

1 Vài nột về tỏc giả (1912-1960)

2 Tỏc phẩm “Vũ Như Tụ”

2.1 Vị trớ: Vũ Như Tụ (1941), tỏc phẩm đầu tay của một nhà văn chưa đầy 30 tuổi- một tỏc phẩm lớn

của văn học nước nhà, cú chiều sõu nội dung tầng tầng lớp lớp và sự hoàn chỉnh về hỡnh thức nghệ thuật

2.2 Thể loại

2.3 Túm tắt : SGK.

3 Trớch đoạn

3.1 Vị trớ: Hồi 5, hồi cuối của vở kịch.

3.2 Kết cấu: gồm 9 lớp

II Đọc hiểu văn bản

1 Tỡm hiểu cỏc xung đột kịch trong đoạn trớch

1.1 Mõu thuẫn thứ nhất

- Nhõn dõn lao động khốn khổ lầm than >< hụn quõn bạo chỳa cựng cỏc phe

cỏnh của chỳng

1.2 Mõu thuẫn thứ hai

Nghệ thuật cao siờu, thuần tuý >< lợi ớch trực tiếp, thiết thực của nhõn dõn

1.3 Nhận xột về mâu thuẫn, xung đột kịch

2 Phõn tớch nhõn vật Vũ Như Tụ

2.1 Tớnh cỏch

- Vũ Như Tụ là một kiến trỳc sư thiờn tài

- Là người khỏt khao, say mờ sỏng tạo “cỏi đẹp”

- Vũ Như Tụ cũn là một nghệ sĩ cú nhõn cỏch:

+ Cú hoài bóo lớn, cú lớ tưởng nghệ thuật cao cả gắn liền với tinh thần dõn tộc

+ Cú dũng khớ: là một nghệ sĩ chõn chớnh, gắn bú với nhõn dõn, cho nờn mặc dự bị Lờ Tương Dực doạ giết, Vũ Như Tụ vẫn ngang nhiờn chửi mắng tờn hụn quõn và kiờn quyết từ chối xõy Cửu Trựng Đài Dự hiểm nguy và cỏi chết đó ở ngay trước mặt, ụng vẫn bỡnh thản, sống chết với CTĐ

+ Cú tõm hồn trong sạch, khụng màng danh lợi (khi được vua ban thưởng vàng bạc, lụa là, ụng

đó đem chia hết cho thợ)

- Thế nhưng, đi tận cựng niềm đam mờ khao khỏt, Vũ Như Tụ đó phải đối mặt với bi kịch đau

đớn của đời mỡnh Muốn người Nam được ngẩng mặt mà cuối cựng lại trở thành kẻ thự của dõn; muốn

cú đài Cửu trựng (tượng trưng cho sự bền vững) thỡ trong phỳt chốc, cả cụng trỡnh tan thành mõy khúi

2.2 Bi kịch của Vũ Như Tụ:

+ Là một nghệ sĩ chõn chớnh muốn khẳng định tài năng, muốn tụ điểm cho đất nước và làm đẹp cho đời, nhưng đó phải chết một cỏch oan nghiệt, cả cụng trỡnh nghệ thuật bị thiờu thành tro bụi

+ Lầm lạc và ảo tưởng trong suy nghĩ và hành động…

- Vũ chỉ đứng trờn lập trường của người nghệ sĩ mà khụng đứng trờn lập trường của nhõn

dõn, trờn lập trường cỏi Đẹp mà khụng đứng trờn lập trường cỏi Thiện

2.3 Nguyờn nhõn bi kịch

- Mõu thuẫn giữa khỏt vọng cao cả của người nghệ sĩ với cỏch thực hiện khỏt vọng ấy:

- Mõu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siờu thuần tuý của muụn đời với lợi ớch thiết thực, trực tiếp của quần chỳng nhõn dõn:

- Mõu thuẫn giữa khỏt vọng và hoàn cảnh xó hội chưa cho phộp Trong hoàn cảnh khụng thớch hợp, cỏi

đẹp thành ra phự phiếm, cao siờu

2.4 í nghĩa của bi kịch Vũ Như Tụ

Qua tấn bi kịch của người nghệ sĩ thiờn tài Vũ Như Tụ, Nguyễn Huy Tưởng gợi những suy nghĩ sõu sắc

về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với hoạt động sỏng tạo nghệ thuật và thực tế đời sống nhõn dõn Vấn

đề tỏc giả đặt ra ngày ấy, giờ đõy bước sang thiờn niờn kỉ mới vẫn cũn nguyờn giỏ trị

Trang 2

TIẾT 2

3 Phân tích nhân vật Đan Thiềm

- Nếu Vũ Như Tô là người nghệ sĩ đam mê sáng tạo cái đẹp thì Đan Thiềm là người đam mê cái tài, ở đây là tài sáng tạo ra cái đẹp:

+ Vì có tấm lòng liên tài nên lúc Vũ Như Tô mới bị bắt, ông nhờ Đan Thiềm “mách đường chạy trốn”, nàng đã khuyên ông ở lại, thuyết phục ông nhân cơ hội này, mượn uy quyền và tiền bạc của Lê

Tương Dực để thực hiện được hoài bão xây dựng cho đất nước một công trình nghệ thuật đồ sộ, vĩnh cửu

+ Vì đam mê tài năng mà nàng luôn khích lệ Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài, sẵn sàng

quên mình để bảo vệ cái tài ấy Với nét tính cách ấy, Đan Thiềm xứng đáng là tri âm, tri kỉ của Vũ Như Tô

- Ở hồi cuối, cả Vũ Như Tô và Đan Thiềm đều lâm vào trạng thái khủng hoảng với một nỗi đau chung: sự “vỡ mộng” thê thảm Nhưng diễn biến tâm trạng của họ có chiều hướng vận động và

biểu hiện khác nhau

Diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài đã

làm sâu sắc hơn tính cách bi kịch của mỗi nhân vật, đồng thời cũng góp phần làm nổi bật chủ đề của tác phẩm

4 Một số nét đặc sắc về nghệ thuật

4.1 Chỉ là một trích đoạn nhưng đoạn kịch này cũng có kết cấu như một vở kịch: có thắt nút

(mâu thuẫn), xung đột, cao trào và mở nút Với cả vở kịch, đoạn trích này là phần cao trào, rồi giải quyết mâu thuẫn lớn nhất của cả vở kịch Không khí, nhịp điệu của sự việc được diễn tả theo chiều tăng tiến mức độ dồn dập đã thể hiện được tính chất gay gắt của mâu thuẫn và dần đẩy xung đột kịch lên cao trào Cửu Trùng Đài và Vũ Như Tô là cái nút của mâu thuẫn Xung đột đã được giải quyết bằng sự ra đi vĩnh viễn của cả hai

4.2 Ngôn ngữ kịch

- Bằng một ngôn ngữ kịch có tính tổng hợp rất cao (kể, miêu tả, bộc lộ…), nhà văn đã đồng thời khắc họa tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt hành động, xung đột kịch rất thành công, tạo nên một bức tranh đời sống bi kịch hoành tráng trong nhịp điệu bão tố của nó

4.3 Cách khai thác vận dụng sử liệu

Ở đây, để góp phần làm nên cái khung cảnh và không khí bi tráng của lịch sử, tác giả đã đặt

hành động kịch vào trong “một cung cấm”, nhiều nhân vật kịch là những nhân vật lịch sử Nhiều tên đất tên người gắn với triều Lê… Đúng như lời chú thích sân khấu của tác giả: Sự việc trong vở kịch xảy ra ở Thăng Long trong khoảng thời gian từ năm 1516 đến năm 1517, dưới triều Lê Tương Dực

5 Chủ đề và định hướng tư tưởng của vở kịch

- Một mặt, trên quan điểm nhân dân, vở kịch lên án bạo chúa tham quan, đồng tình với việc dân chúng nổi dậy trừ diệt chúng; nhưng mặt khác, trên tinh thần nhân văn, vở kịch đã ca ngợi những

nhân cách nghệ sĩ chân chính và tài hoa như Vũ Như Tô, những tấm lòng yêu quý nghệ thuật đến mức quên mình như Đan Thiềm

- Đây là chủ đề được thể hiện chủ yếu qua mâu thuẫn thứ hai của vở kịch: mâu thuẫn giữa niềm khát khao hiến dâng tất cả cho nghệ thuật của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng với lợi ich trực tiếp và thiết thực của đời sống nhân dân

- Đoạn trích nói riêng và vở kịch nói chung đã để lại giá trị nhân văn sâu sắc rằng: “Không có cái đẹp tách rời cái chân cái thiện Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ mang cái đẹp thuần tuý, nó phải có mục đích chân chính là phục vụ nhân dân, phục vụ cuộc đời “Văn chương không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời, cuộc đời là nơi xuất phát và là nơi đi tới của văn chương” Người

nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại cho muôn đời, nhưng cũng biết xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa khát vọng đó với điều kiện thực tế cuộc sống với đòi hỏi của muôn

dân” Một vấn đề đặt ra nữa là “Xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài năng, vun đắp tài năng, quý trọng nâng niu những giá trị nghệ thuật đích thực”.

5 Ý nghĩa phần cuối của lời đề tựa

Trang 3

- Lời đề tựa vở kịch Vũ Như Tô do chính Nguyễn Huy Tưởng viết ngày tháng 2 năm 1942, sau khoảng một năm viết xong tác phẩm “Than ôi! Đan Thiềm!”

- Tựa là thành phần nằm ngoài văn bản của một tác phẩm, được viết ở đầu sách hoặc sau tiêu đề của mỗi chương trong cuốn sách nhằm hướng người đọc vào ý đồ nghệ thuật của tác giả hoặc tư tưởng của tác phẩm

- Qua lời đề tựa trên, Nguyễn Huy Tưởng đã chân thành bộc lộ nỗi băn khoăn của mình: Lẽ phải thuộc

về Vũ Như Tô hay những kẻ giết Vũ Như Tô? Và ông thú nhận “ta chẳng biết”, tức là không thể đưa ra một lời giải đáp thoả đáng Qua vở kịch, có thể thấy chân lí không hoàn toàn thuộc về phía nào: việc mất Cửu Trùng Đài vừa nên mừng, vừa nên tiếc Đồng thời, nhà văn khẳng định: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”, tức là vì cảm phục “tài trời”, nhạy cảm với bi kịch của những tài năng siêu việt

TIẾT 3

LUYỆN TẬP

Đề 1 (Câu 5/10 điểm; 7/10 điểm hoặc- 10/10 điểm dành cho đề kiểm tra trên lớp)

Trình bày cảm nghĩ về bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô trong "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài"

A Mở bài

Trong xã hội cũ, người nghệ sĩ thiên tài có lý tưởng cao đẹp thường lâm vào cảnh ngộ không giải quyết được một cách đúng đắn vấn đề sáng tạo nghệ thuật cho ai và để làm gì Đó cũng chính là bi kịch của

Vũ Như Tô trong vở kịch cùng tên của Nguyễn Huy Tưởng

B Thân bài

I Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm

1 Tác giả Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) xuất thân trong một gia đình nhà nho của đất Bắc Ninh xưa, nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội Từng gắn bó với phong trào cách mạng trong các tổ chức văn hoá văn nghệ do Đảng lãnh đạo từ rất sớm, Nguyễn Huy Tưởng có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử

để xây dựng tác phẩm có quy mô lớn, dựng lên những bức tranh, những hình tượng hoành tráng về lịch

sử bi hùng của dân tộc Ông là một nhà viết kịch tài ba Văn phong của ông vừa giản dị, trong sáng, vừa thâm trầm sâu sắc khi đặt ra những vấn đề có tầm triết lý

2 “Vũ Như Tô” là vở kịch lịch sử có qui mô hoành tráng xuất sắc của Nguyễn Huy Tưởng và của nền kịch Việt Nam hiện đại Tác phẩm được sáng tác vào năm 1941, dựa trên một sự kiện lịch sử xảy ra ở kinh thành Thăng Long vào thời hậu Lê Tác phẩm gồm 5 hồi Đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” là hồi 5, hồi cuối của vở kịch Trong đoạn trích được học gây ấn tượng sâu sắc nhất là nhân vật Vũ Như Tô

II Trình bày cảm nghĩ về bi kịch nhân vật Vũ Như Tô

1 Định nghĩa bi kịch

Hiểu theo nghĩa thông thường là nỗi đau khổ vò xé dai dẳng không có cách nào giải thoát Nhưng theo

từ điển văn học, bi kịch chỉ xảy ra khi có mâu thuẫn giữa khát vọng, hoài bão, lí tưởng của cá nhân với thực tại Thực tại chưa đủ điều kiện cho cá nhân thực hiện khát vọng, lý tưởng của mình nên rơi vào thất bại, thậm chí dẫn đến cái chết thảm thương

2 Những nét chính trong bi kịch Vũ Như Tô

a Hiểu như định nghĩa nói trên, chúng ta thấy bi kịch của Vũ Như Tô là bi kịch của người nghệ sĩ có

tài và có hoài bão lớn, nhưng không giải quyết được mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và đời sống, đặc biệt là không giải được một cách đúng đắn vấn đề sáng tạo nghệ thuật cho ai và để làm gì

b Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân của niềm khao khát say mê sáng tạo cái đẹp,

“là người ngàn năm dễ có một có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”

c Vũ Như Tô là một nghệ sĩ lớn có nhân cách cao đẹp, có hoài bão lớn lao, có tư tưởng, lý tưởng nghệ

thuật cao cả, ông muốn xây dựng một toà lâu đài vĩ đại “bền như trăng sao” để cho “dân ta nghìn thu

Trang 4

còn hãnh diện” ; muốn xây dựng một công trình kiến trúc vĩ đại, tuyệt mĩ, tô điểm cho non sông đất nước Ông mong muốn cho người đời biết những khát vọng cao đẹp của ông Đó là ông chỉ có một hoài bão muốn tô điểm cho đất nước, đem hết tài năng ra xây cho nòi giống một toà lâu đài hoa lệ,thách cả những công trình trước sau, tranh tinh xảo với hoá công “để ta xây một Cửu Trùng Đài, dựng một kì công muôn thuở, vài năm nữa Cửu Trùng Đài hoàn thành, cao cả huy hoàng, giữa cõi trần lao lực có một cảnh Bồng Lai Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài” Hồn ông để cả nơi đấy Nhìn một cách đơn giản thì mục đích và nguyện vọng của Vũ Như Tô là hết sức cao đẹp Nó xuất phát từ thiên chức của người nghệ sĩ, từ lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Vũ Như Tô vô cùng say mê với mơ ước của mình

d Nhưng Vũ Như Tô nào có hiểu được sâu xa, trên thực tế, Cửu Trùng Đài đã xây dựng bằng mồ hôi

xương máu của nhân dân và nếu được hoàn thành thì nó cũng chỉ là nơi ăn chơi xa xỉ, sa đoạ của vua chúa, giống như công trình kiến trúc “Vạn Niên” của triều đình Nguyễn sau này : “Vạn niên là vạn niên nào? Thành xây xương lính, hào đào máu dân” Như vậy, Vũ Như Tô đã sai lầm khi lợi dụng quyền lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình.Chỉ đứng trên lập trường nghệ sĩ thuần tuý nên đã vô hình chung, trở thành kẻ đối nghịch với nhân dân, gây đau khổ cho nhân dân

e Nhân dân căm giận bạo chúa, đồng thời cũng oán trách, nguyền rủa, thậm chí là oán hận kiến trúc

sư đầy tài năng Vũ Như Tô và cuối cùng đã giết chết cả tên hôn quan bạo chúa Lê Tương Dực lẫn Vũ Như Tô, đốt cháy cả Cửu Trùng Đài.Vũ Như Tô đúng là một nhân vật bi kịch Ông không thể nào trả lời câu hỏi “xây dựng Cửu Trùng Đài là đúng hay sai, là có công hay có tội? ” Là một nghệ sĩ đầy tài năng

và giàu sáng tạo, Vũ Như Tô muốn khẳng định tài năng của mình, muốn tô điểm cho đất nước, muốn làm đẹp cho đời, nhưng khát vọng nghệ thuật và đam mê sáng tạo của ông đã đặt lầm nơi lạc chốn, lạc điệu với thời thế, xa rời thực tế, nên đã phải trả giá bằng chính sinh mệnh của bản thân và của cả công trình thấm đẫm mồ hôi tâm não của mình.Thật đau đớn thay, bi kịch thay cho đến khi cuộc nổi loạn nổ

ra, Đan Thiềm mặt cắt không còn hột máu, hốt hoảng đến báo cho Vũ Như Tô, nếu không chạy trốn thì ông sẽ bị giết, nhưng Vũ Như Tô vẫn không chịu đi và vẫn day dứt một câu hỏi: “Tôi có tội gì? Tôi làm

gì nên tội? Làm gì phải trốn?” Và vẫn hi vọng thuyết phục được An Hoà Hầu, một kẻ cầm đầu một phe nổi loạn, song sự thực đã diễn ra một cách phũ phàng tàn nhẫn, không như ảo tưởng của Vũ Như Tô Khi tất cả chỉ là ảo vọng Đan Thiềm và ông bị bắt, Cửu Trùng Đài bị thiêu huỷ thì ông mới bừng tỉnh, ngửa mặt lên trời mà cất lên tiếng than ai oán tuỵệt vọng “Đốt thực rồi! Ôi Đảng ác! Trời ơi! Phú cho ta cái tài để làm gì Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài! Thôi thế là hết! Dẫn ta đến pháp trường” Trong tiếng kêu than ấy, tiếng “Đan Thiềm, mộng lớn Cửu Trùng Đài” dồn dập vang lên hoà nhập vào nhau thành khúc ca bi tráng, ai oán, đầy tiếc thương Đó chính là âm hưởng chủ đạo của đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”

3 Phát biểu cảm nghĩ

3.1 Thương người nghệ sĩ có tài có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát sáng tạo, sẵn sàng hi sinh tất cả

cho cái đẹp nhưng xa rời thực tế, mà phải trả giá đắt bằng cả sinh mệnh và cả công trình nghệ thuật đầy tâm huyết sáng tạo cuả mình

3.2 Hiểu được rằng không có cái đẹp tách rời cái chân cái thiện Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ

mang cái đẹp thuần tuý, nó phải có mục đích chân chính là phục vụ nhân dân, phục vụ cuộc đời “Văn chương không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời, cuộc đời là nơi xuất phát và là nơi đi tới của văn chương” Người nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại cho muôn đời, nhưng cũng biết xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa khát vọng đó với điều kiện thực tế cuộc sống với đòi hỏi của muôn dân

3.3 Rút ra bài học nhận thức: xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài năng, vun đắp tài

năng, quý trọng nâng niu những giá trị nghệ thuật đích thực

C Kết luận

Qua tấn bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng gợi những suy nghĩ sâu sắc

về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với hoạt động sáng tạo nghệ thuật và thực tế đời sống nhân dân Vì vậy vấn đề tác giả đặt ra ngày ấy, giờ đây bước sang thiên niên kỉ mới, nó vẫn còn nguyên giá trị

Trang 5

TIẾT 3

LUYỆN TẬP

Đề 1: Trình bày cảm nghĩ về bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô trong "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài"

Gợi ý về đáp án phần cảm nghĩ

1 Thương người nghệ sĩ có tài có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát sáng tạo, sẵn sàng hi sinh tất cả

cho cái đẹp nhưng xa rời thực tế, mà phải trả giá đắt bằng cả sinh mệnh và cả công trình nghệ thuật đầy tâm huyết sáng tạo cuả mình

2 Hiểu được rằng không có cái đẹp tách rời cái chân cái thiện Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ

mang cái đẹp thuần tuý, nó phải có mục đích chân chính là phục vụ nhân dân, phục vụ cuộc đời “Văn chương không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời, cuộc đời là nơi xuất phát và là nơi đi tới của văn chương” Người nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại cho muôn đời, nhưng cũng biết xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa khát vọng đó với điều kiện thực tế cuộc sống với đòi hỏi của muôn dân

3 Rút ra bài học nhận thức: xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài năng, vun đắp tài

năng, quý trọng nâng niu những giá trị nghệ thuật đích thực

Đề 2- (câu 5 điểm dành cho đề thi Đại học hoặc 12 điểm- dành cho đề thi học sinh giỏi)

- "Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa".

(Đời thừa - Nam Cao)

- "Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!".

(Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng)

Nỗi day dứt của Hộ và tiếng kêu đau đớn tuyệt vọng của Vũ Như Tô gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì

về tấn bi kịch của người nghệ sỹ trong xã hội cũ? Những vấn đề nào đã được đặt ra qua tấn bi kịch của họ?

Gợi ý về đáp án:

m

I Yêu cầu chung: nắm vững kỹ năng làm bài văn nghị luận văn học (dạng đề đối sánh) Bố cục

hợp lí, lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo Diễn đạt, hành văn trong sáng, lời văn đẹp, ấn tượng

II Định hướng làm bài và biểu điểm

1 Giới thiệu khái quát vấn đề: Kịch Vũ Như Tô được viết năm 1941 Truyện ngắn Đời thừa

được Nam Cao sáng tác năm 1943 Mặc dù khai thác hai đề tài khác nhau, viết bằng hai thể loại

khác nhau, nhưng tư tưởng của họ đã gặp nhau ở nhiều điểm: mối quan tâm đến số phận của

người nghệ sỹ tài năng; những suy tư về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời; vấn đề phẩm

chất của người nghệ sỹ Tất cả đều được thể hiện qua tấn bi kịch của hai nhân vật: Vũ Như Tô

và Hộ

2 Triển khai vấn đề

2.1 Phân tích tấn bi kịch của hai nhân vật

2.1.1 Giống nhau

2.1.1.1 Địa vị: mặc dù sống ở hai thời đại cách xa nhau, song cả hai đều là nghệ sỹ: Vũ Như Tô

là một kiến trúc sư, còn Hộ là một nhà văn

2.1.1.2 Phẩm chất

- Là người nghệ sỹ, ở họ đều cháy bỏng một niềm đam mê nghệ thuật

+ Vũ Như Tô: khao khát điểm tô đất nước, đem hết tài ra xây cho đất nước một tòa đài hoa lệ,

"thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công"

0.5đ

5,0 đ

Trang 6

+ Hộ: ấp ủ một hoài bão: viết được một tác phẩm "làm mờ hết những tác phẩm cùng ra một thời”.“Tác phẩm ấy sẽ ăn giải Nobel và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu”.

- Ở góc độ con người, họ đều là những nhân cách đáng trọng:

+ Vũ Như Tô: có phẩm chất của một đấng trượng phu ở nhân cách cứng cỏi, thái độ coi thường danh lợi

+ Hộ: một người giàu lòng nhân ái, vị tha

2.1.1.3 Số phận: qua tiếng kêu đau đớn của Vũ Như Tô “Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? và nỗi day dứt của Hộ “Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa” Người đọc có thể nhận ra: Họ đều lâm vào bi kịch đổ vỡ lý tưởng, bi

kịch phải sống một cuộc đời thừa

2.1.1.4 Nguyên nhân dẫn đến tấn bi kịch của hai nhân vật: đều dựa trên cơ sở mâu thuẫn giữa một bên là niềm khát khao sáng tạo, khát khao khẳng định tài năng, khẳng định ý nghĩa sự tồn tại của cá nhân với một bên là hoàn cảnh, điều kiện sống không cho phép họ thực hiện khát vọng của mình

2.1.1.5 Diễn biến mâu thuẫn:

* Hộ:

- Trước khi gặp Từ, Hộ chưa có bi kịch vì lúc ấy Hộ chỉ có một mình “Đói rét không có nghĩa lí gì đối với gã trẻ tuổi say mê lí tưởng”.

- Mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh từ khi Hộ ghép cuộc đời mình vào cuộc đời Từ, bởi từ đó Hộ có

cả một gia đình để chăm lo Để làm tròn bổn phận một người chồng, một người cha, Hộ phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng Hắn phải viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc Cuộc sống cơm áo không cho phép Hộ đầu tư công sức vào nghệ thuật Hộ

phải “viết để sống”, lấy văn chương làm kế mưu sinh Cách viết đó không đáp ứng, thậm chí đi

ngược lại yêu cầu của nghệ thuật chân chính “Văn chương không cần… chưa có” Ý thức được điều đó, Hộ vô cùng đau khổ “Chao ôi! Hắn đã viết những gì? một người thừa”.

* Vũ Như Tô:

- Mâu thuẫn dẫn đến bi kịch: đó là mâu thuẫn giữa niềm khát khao sáng tạo, quan niệm nghệ thuật cao siêu thuần tuý với lợi ích trực tiếp, thiết thực của đời sống nhân dân

- Mâu thuẫn nảy sinh từ khi Vũ Như Tô nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm, quyết định xây Cửu Trùng Đài (Lí do: sưu thuế tăng, thợ giỏi bị bắt bớ, người bị tai nạn, bị chết nhiều vô kể…)

- Mâu thuẫn được thể hiện:

+ Qua những lời oán thán của nhân dân “Vua xa xỉ là vì ông, công khố hao hụt là vì ông, dân gian lầm than là vì ông, man di oán giận là vì ông, thần dân trách móc là vì ông…”.

+ Lời kết tội của bọn nội giám: việc sinh ra quân phản loạn trong triều cũng là vì Vũ Như Tô

- Diễn biến của mâu thuẫn:

+ Năm lớp kịch đầu: mâu thuẫn giữa Vũ Như Tô, thợ thuyền và nhân dân chưa bị đặt vào thế đối đầu trực tiếp Nó chỉ mới thể hiện gián tiếp qua lời của các nhân vật trung gian: Đan Thiềm, bọn nội giám…

+ Kịch tính được đẩy lên từ lớp kịch thứ 6 (khi quân khởi loạn kéo vào nơi Vũ Như Tô làm việc, gươm giáo sáng loà) Và càng căng thẳng hơn ở lớp kịch 7,8 khi quân khởi loạn xúc phạm

Vũ Như Tô, Đan Thiềm, truy bắt lũ cung nữ, cuối cùng bắt trói cả Đan Thiềm và Vũ Như Tô + Mâu thuẫn được giải quyết ở lớp kịch thứ 9 với hai sự việc:

Nhân dân đốt phá Cửu Trùng Đài

Vũ Như Tô bị giải ra pháp trường

* Thái độ của nhà văn trước tấn bi kịch của hai nhân vật:

- Nam Cao: thấy rõ nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Hộ là do xã hội thực dân phong kiến Qua tấn bi kịch của Hộ, Nam Cao lên án xã hội thực dân phong kiến đã bóp chết ước mơ, tước đi ý nghĩa sự sống chân chính của con người

- Nguyễn Huy Tưởng: không giải thích được “Than ôi! Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như

Trang 7

Tô phải? Ta chẳng biết Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm!”.

- Trong cái nhìn của chúng ta hôm nay thì cả Vũ Như Tô và Đan Thiềm đều có cái phải và cái

không phải:

+ Những kẻ giết Vũ Như Tô:

Phải: ở chỗ đã không đồng tình với việc xây Cửu Trùng Đài.

Không phải: ở hành động phá một công trình nghệ thuật to lớn; giết một nhân tài kiệt xuất.

+ Vũ Như Tô:

Phải ở hoài bão, ước mơ, khát vọng

Không phải: ở con đường thực hiện lý tưởng (mượn uy quyền, tiền bạc của bạo chúa); ở lòng

đam mê nghệ thuật một cách mù quáng (thứ nghệ thuật Vũ Như Tô đam mê là thứ nghệ thuật

cao siêu thuần tuý, nó xa rời thậm chí đối lập với cuộc sống của nhân dân lúc bấy giờ)

2.1.2 Khác nhau: ở kết cục của mỗi số phận

- Tấn bi kịch của Hộ tuy đau đớn, dai dẳng và thầm lặng ( sau bi kịch đời thừa, Hộ lâm tiếp vào

bi kịch thứ 2: một con người vốn tôn thờ lẽ sống tình thương, cuối cùng lại vi phạm chính lẽ

sống đó, trở thành một kẻ vũ phu, tàn nhẫn) Nhưng Hộ còn được sống (sống thừa) Kết cục

không đến nỗi quá bi đát

- Còn Vũ Như Tô:

+ Không thực hiện yêu cầu của Lê Tương Dực -> bị giết, bị tru di cửu tộc (chết vào tay Lê

Tương Dực)

+ Thực hiện yêu cầu của Lê Tương Dực -> Chết vào tay quân khởi loạn và nhân dân

=> Đằng nào cũng bế tắc! Người nghệ sỹ thiên tài này rơi vào cảnh cùng đường tuyệt lộ (chỉ có

một con đường chết)

2.2 Những vấn đề đặt ra qua tấn bi kịch của hai nhân vật

- Số phận của những nghệ sỹ tài năng trong xã hội cũ (xã hội ấy không có đất dụng võ, đất sống

cho những người tài Đây có lẽ cũng là tâm sự sâu kín của hai người nghệ sỹ Nguyễn Huy

Tưởng và Nam Cao)

- Cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ nghệ thuật – cuộc đời:

+ Đặt cuộc đời lên trên nghệ thuật -> Người nghệ sỹ phải sống một cuộc sống thừa

+ Đặt nghệ thuật lên trên cuộc đời -> Người nghệ sỹ có thể sẽ đánh mất nhiều thứ quý giá

khác (nhân phẩm - Hộ, thậm chí phải chết như Vũ Như Tô)

- Vấn đề phẩm chất nghệ sỹ:

+ Chữ tài phải đi liền với chữ tâm (không thể nói Vũ Như Tô có một cái tâm và một cái trí sáng

suốt khi mượn uy quyền tiền bạc của bạo chúa để thoả mãn khát vọng nghệ thuật của mình)

+ Cái đẹp phải đi liền với cái thiện thì mới là cái đẹp đáng được tôn thờ

3 Kết luận

Cả hai tác phẩm đều rất xuất sắc

- Không chỉ đặt ra những vấn đề của đời sống mà còn rút ra những bài học có ý nghĩa sâu

sắc cho những người làm nghệ thuật Đồng thời được viết bởi những ngòi bút tài hoa, điêu

luyện

- Thể hiện sự thức tỉnh sâu sắc ý thức cá nhân của tầng lớp trí thức đương thời

0.5 đ

Ngày đăng: 02/05/2021, 01:39

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w