1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ CƯƠNG PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH đất ĐAI

44 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 412,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI docx ĐỀ CƯƠNG PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI 1 Tiêu chí của một chính sách tốt là gì? 2 2 Hãy nêu cách phân loại chính sách, cho ví dụ 2 3 Trình bày chu trình của c.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI

8 Hiểu biết của bạn về chính sách thu tiền sử dụng đất của Việt Nam 2

9 Hiểu biết của bạn về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

10 Hiểu biết của bạn về chính sách tích tụ và tập trung đất đai của Việt Nam 2

11 Hiểu biết của bạn về chính sách thu tiền thuê đất của Việt Nam 2

12 Hiểu biết của bạn về chính sách thu thuế sử dụng đất của Việt Nam 2

Trang 2

Câu 1: Tiêu chí của một chính sách tốt là gì?

Chính sách là sách lược và các chủ trương, biện pháp cụ thể để thực hiện đường lối và nhiệm vụtrong một thời kỳ lịch sử nhất định”

“Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thểquản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơhoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó

Tiêu chí của một chính sách tốt:

1 Hướng tới mục tiêu phát triển chung: mục tiêu chính sách phải cụ thể, rõ ràng và hướng tới

mục tiêu chung

2 Tạo ra động lực mạnh: Người thực hiện chính sách là nhân dân vì thế mục tiêu chính sách

phù hợp với ý nguyện của nhân dân sẽ thu hút được đông đảo nhân dân tham gia, tạo nên mộtđộng lực mạnh để thực hiện chính sách như vậy

Đã ban hành nhiều chính sách tạo ra động lực mạnh trong một giai đoạn như chính sách lưuthông hàng hoá tự do; chính sách đất đai sau đổi mới…

3 Phù hợp với tình hình thực tế: Một chính sách được ban hành phải xuất phát từ những vấn

đề nảy sinh trong thực tế và lại trở về giải quyết chính những vấn đề đó

4 Tính khả thi cao: biến những mong muốn của nhà nước và nhân dân thành hiện thực;

5 Đảm bảo tính hợp lý: là sự cân đối, hài hoà giữa mục tiêu chính sách với nguyện vọng của

đối tượng thụ hưởng trong hiện tại và tương lai;

6 Mang lại hiệu quả xã hội: Chính sách chỉ được coi là tốt khi mang lại hiệu quả cho xã hội, cả

về kinh tế, cả về xã hội Nhờ có chính sách phù hợp sản xuất lưu thông phát triển nâng cao thunhập, hạn chế những tiêu cực của xã hội

Câu 2: Hãy nêu cách phân loại chính sách, cho ví dụ.

Trang 3

● chính sách của Nhà nước (còn gọi là chính sách công);

● chính sách của các doanh nghiệp;

● chính sách của Trung ương;

● chính sách của địa phương …

e Theo thời gian hiệu lực:

+ Chính sách dài hạn (Trên 10 năm): chính sách liên quan đến đất đai, đến việc sử dụng tài

nguyên quốc gia; những chính sách liên quan đến các quyền cơ bản của con người như: quyểnbầu cử, quốc tịch, hôn thú; quyền tự do tín ngưỡng, lập hội, ngôn luận…

+ Chính sách trung hạn: là những chính sách chỉ được áp dụng trong khoảng thời gian từ 3 - 5

năm

Ví dụ: Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách

hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007 - 2010

+ Chính sách ngắn hạn (Dưới 3 năm): khoảng thời gian ngắn, có thể thay đổi hàng năm, để đối

phó với những tình huống mới (chẳng hạn như chính sách lãi suất, chính sách giá cả, chính sáchxuất nhập khẩu…)

f Theo trạng thái của chủ thể quyết định chính sách gồm có chính sách thụ động, chính sách

chủ động

+ Chính sách thụ động: Nhằm xử lý một tình huống phát sinh trong đời sống xã hội như sửa sai

một chính sách cũ; bổ sung, làm phù hợp hơn, hoặc diễn giải cho rõ nghĩa một chính sách hiệnhành khác; chi tiết hoá một chính sách đã có; xử lý một vấn đề xã hội đã xảy ra hoặc đang đượccảnh báo; đáp ứng yêu cầu của một tập thể cử tri hoặc một nhóm xã hội nào đó …

+ Chính sách chủ động: do chính quyền đưa ra khi xã hội chưa có nhu cầu cụ thể, hoặc chỉ giới

hạn ở một bộ phận rất hẹp các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu, còn đại bộ phận nhân dân vẫnchưa thấy nhu cầu và tính cấp thiết của nó

g Theo không gian tác động: chính sách đối nội, chính sách đối ngoại.

Trang 4

+ Chính sách đối nội: những chính sách được áp dụng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia để giảiquyết các vấn đề nội tại của đất nước.

+ Chính sách đối ngoại: những chính sách hướng dẫn và điều tiết các quan hệ đối ngoại với cácquốc gia, tổ chức trên thế giới

Câu 3: Trình bày chu trình của chính sách.

- Chu trình chính sách được hiểu là quá trình luân chuyển các giai đoạn từ khởi sự chính sáchđến khi xác định được hiệu quả của chính sách trong đời sống xã hội

Các giai đoạn trong chu trình chính sách

Nguyên tắc: Giai đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn tiếp theo và kết quả của giai đoạn trước là thông tin cần và đủ cho giai đoạn tiếp theo.

Xác định vấn đề chính sách: tìm kiếm mục tiêu căn bản mà chính sách cần đạt Mọi vấn đề

chính sách đều nảy sinh từ dữ kiện thực tế, thông qua ba nguồn quan trọng nhất: số liệu thống kê,các sự kiện, và các nhận định Các số liệu thống kê là nguồn thông tin quan trọng nhất do chúng

có tính khách quan và tính hệ thống

Hoạch định chính sách: đề xuất thái độ ứng xử của các chủ thể với vấn đề chính sách bằng cả

mục tiêu và biện pháp Hoạch định chính sách đúng đắn, khoa học sẽ xây dựng được chính sáchtốt, là tiền đề để chính sách đó đi vào cuộc sống và mang lại hiệu quả cao Ngược lại, hoạch địnhsai cho ra đời chính sách không phù hợp với thực tế, thiếu tính khả thi sẽ mang lại hậu quả khôngmong muốn trong quá trình quản lý

Thực thi chính sách: Đưa chính sách vào thực hiện trong đời sống

Bao gồm các hoạt động triển khai, phối hợp thực hiện, kiểm tra đôn đốc và hiệu chỉnh chính sáchcùng các biện pháp tổ chức thực thi

Đây là giai đoạn mà chính sách thực sự tác động đến xã hội, có thể tác động không mong muốn,ngoài dự đoán phân tích ban đầu

Duy trì chính sách:Là hoạt động nhằm giữ cho chính sách tồn tại và phát huy tác dụng trong đời

sống xã hội, ngay cả khi phải thay đổi các biện pháp thực hiện các mục tiêu chính sách

Đánh giá chính sách (hoặc đánh giá và cải cách): là xem xét, nhận định về giá trị các kết quả đạt

được khi ban hành và thực thi một chính sách

Đánh giá chính sách gắn với sự đánh giá những quy định pháp luật này có phù hợp và chúngđược vận hành như thế nào?

Trang 5

Đánh giá về nội dung chính sách, về quá trình thực thi, từ đó có biện pháp điều chỉnh phù hợpvới thực tế

Phát hiện mâu thuẫn: phát hiện mâu thuẫn mới nảy sinh cần được giải quyết thì chủ thể lại tiếp

tục xem xét để cho ra đời một chính sách mới

Các câu hỏi đặt ra là: vấn đề đang đặt ra là vấn đề gì? Đâu là nguyên nhân chính của vấn đề? Để

xử lý nguyên nhân đó, thì giải pháp là gì? Giải pháp được đề ra có chấp nhận được về mặt kỹthuật, cũng như về mặt chi phí hay không?

Hiện nay, các vấn đề chính sách hiện nay trong ngành ở địa bàn đang công tác là gì?

Câu 4: Phân tích mục tiêu của chính sách đất đai.

1 Chính sách đất đai phải nhằm mục tiêu khai thác đất đai có hiệu quả kinh tế cao kết hợp với bảo vệ, cải tạo và tăng cường chất lượng đất: Bởi vì, đất đai là các yếu tố vật chất quan trọng

của mọi quốc gia, mọi nền sản xuất Vì vậy, một mặt chúng vận động một cách khách quan theocác quy luật tự nhiên, kinh tế, xã hội; mặt khác chúng cần phải được điều tiết các hoạt động theocác mục tiêu của các hoạt động mà chúng tham dự, trong đó các vấn đề sử dụng đầy đủ, hợp lý

và có hiệu quả là một trong các mục đích tối cao trong nền kinh tế thị trường Những vấn đề trêntưởng chừng là các vấn đề trái ngược nhau, mâu thuẫn với nhau, nhưng thực chất là những vấn

đề đồng nhất, thống nhất với nhau

2 Chính sách đất đai phải nhằm giải phóng đất đai và các nguồn lực sản xuất khác, bảo đảm cho việc chuyển nền nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá: thể hiện qua hạn

mức, việc tích tụ, tập trung đất đai

3 Chính sách đất đai nhằm ổn định thời gian dài cho người sử dụng đất, tạo điều kiện cho người

sử dụng yên tâm đầu tư thâm canh phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội nông thôn: thể hiện qua chính sách về giao đất

4 Chính sách đất đai phải đảm bảo hài hoà lợi ích trong sử dụng ruộng đất giữa các hộ nông dân, các thành phần kinh tế và các dân tộc: thể hiện qua chính sách về hạn mức sử dụng đất

5 Chính sách đất đai nhằm mục tiêu công bằng xã hội, tạo việc làm, tăng thu nhập và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.

Câu 5: Phân tích vai trò của chính sách đất đai

● Các chính sách đất đai tác động trực tiếp tới nhiều chính sách khác, như đầu tư phát triển đô thị,

về nhà ở, kinh tế, tài chính, tác động đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế -xã hội

Trang 6

● Khi chính sách đất đai không phù hợp, sẽ kìm hãm sự phát triển Ví dụ, do chính sách đất đaikhông phù hợp có thể làm giá đất tăng cao Với giá đất quá cao làm giá thành sản phẩm cao, đầu

tư sản xuất kinh doanh không có lời, sẽ làm nhụt chí các nhà đầu tư Khi đầu tư giảm, nguồn tiềnnhàn rỗi trong dân sẽ không chảy vào sản xuất kinh doanh mà sẽ được chi vào mua đất, muanhà

● Đến lúc nào đó, thì kinh tế sẽ ngưng trệ, lâm vào khủng hoảng

● Chính sách đất đai không phù hợp gây ra nhiều khó khăn, phiền hà về thủ tục hành chính đầu tư,xây dựng; gây khó khăn cho việc giải phóng mặt bằng; tăng độ rủi ro cho việc đầu tư Nhữngkhó khăn này cũng khiến đầu tư giảm và cũng là những yếu tổ tạo ra vòng luẩn quẩn ở trên

● Chính sách đất đai không phù hợp còn dẫn đến tình trạng bất ổn về xã hội Trong nhiều năm qua,phần lớn các vụ khiếu nại và hầu hết các vụ khiếu kiện đông người là khiếu nại, khiếu kiện vềđất đai

● Những vụ tham nhũng lớn cũng liên quan tới đất đai Tình trạng bất công trong xã hội ngày mộttăng và phổ biến cũng do những bất cập trong chính sách đất đai

● Ngược lại, khi chính sách đất đai phù hợp với quy luật phát triển, có thể tăng hiệu quả sử dụngđất lên rất cao

● Ví dụ trong thời kỳ bao cấp ở miền Bắc, các hộ nông dân trong các HTXNN được sử dụng 5%ruộng đất để sản xuất nhu yếu phẩm cho gia đình Chỉ với 5% đất ấy họ đã sản xuất được lượnghàng hóa tương đương với 95% đất còn lại trong tay hợp tác xã

● Chính sách khoán sản phẩm trong nông nghiệp cũng là một chính sách quản lý và khai thác quỹđất Nhờ có chính sách khoán này, nước ta từ một nước thiếu lương thực, nay đã trở thành mộttrong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới

Câu 6: Trình bày các nguyên tắc phân tích chính sách đất đai

Trang 7

Việc tổ chức công tác phân tích phải đúng mục tiêu nghĩa là công tác phân tích phảihướng tới mục tiêu thể hiện ở việc dự liệu các điều kiện vật chất, nhân sự, môi trường cho việcphân tích chính sách.

Việc tổ chức công tác phân tích phải đúng mục tiêu nghĩa là công tác phân tích phảihướng tới mục tiêu thể hiện ở việc dự liệu các điều kiện vật chất, nhân sự, môi trường cho việcphân tích chính sách Điều này cũng có nghĩa là từ mục tiêu phân tích thì chúng ta huy động và

tổ chức sử dụng các nguồn lực một cách có kế hoạch

Tài liệu phân tích phải phù hợp với mục tiêu để định hướng thông tin theo yêu cầu phântích và để đảm bảo được hiệu quả của hoạt động này, mỗi một mục tiêu thì cần thu thập nhữngtài liệu khác nhau

Bên cạnh đó, phương pháp phân tích cũng cần thống nhất với mục tiêu thì mới làm chokết quả phân tích ở mỗi giai đoạn được đúng đắn, chính sách và như vậy sẽ làm cho toàn bộ quátrình phân tích có độ tin cậy cao

Khi tìm ra kết quả phân tích thì nó phải được sử dụng để phát triển mục tiêu

b Nguyên tắc hợp lý

Đây là nguyên tắc quan trọng vì thiếu nó thì việc phân tích chính sách khó có thể hiệuquả, nguyên tắc này yêu cầu Đây là nguyên tắc quan trọng vì thiếu nó thì việc phân tích chínhsách khó có thể hiệu quả và nguyên tắc này yêu cầu xác định mục tiêu phân tích hợp lý với điềukiện cụ thể diễn ra quá trình thực hiện chính sách cần xác định như vậy vì mục tiêu dự kiếnthường có khoảng cách với hiện thực

Lựa chọn phương pháp phân tích hợp lý để tạo quan hệ tốt với mục tiêu và kết quả vìphương pháp phân tích sẽ đưa ra kết quả hợp lý

Cung cấp nguồn lực phân tích hợp lý tạo thuận lợi cho việc phân tích chính sách Nhưngnhìn chung để đạt được nguyên tắc hợp lý thì phải đạt được các yêu cầu trên

c Nguyên tắc thích ứng

Mục tiêu chính trị bao trùm cả mục tiêu, thực thi và phân tích chính sách Kết quả phân tíchnhằm củng cố lòng tin của dân chúng vào nhà nước, làm cho quan hệ giữa nhà nước với côngdân và tổ chức ngày càng được cải thiện

d Nguyên tắc phối hợp

Khi phân tích phải biết kết hợp các kết quả phân tích để có được những thông tin tổng hợp

e Nguyên tắc hiệu quả

Trang 8

Việc đạt được mục tiêu nhưng chi phí đầu vào phải thấp, phải đề cao việc tìm kiếm các phươngpháp tối ưu để tiếp cận được kết quả nhanh nhất với chi phí hợp lý nhất

e Nguyên tắc chính trị

Vì mục tiêu chính trị luôn bao trùm mục tiêu chính sách, tổ chức thực thi chính sách phân tíchchính sách

Câu 7: Hiểu biết của bạn về chính sách giao đất của Việt Nam Đề xuất giải pháp

Trong bối cảnh hiện nay cũng như giai đoạn tới, quá trình toàn cầu hóa vẫn đang tiếp tụcdiễn ra rộng khắp và toàn diện; đặt ra nhu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện chính sách đấtđai đặc biệt là chính sách giao đất – chìa khóa của việc phát huy nguồn lực đất đai trong việcphát triển kinh tế - xã hội của nước ta Ta thấy rằng, giao đất là một trong những nội dung củacông tác quản lý nhà nước về đất đai; là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đểchuyển giao trên thực tế và quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồngdân cư sdđ

Vậy chính sách giao đất của Việt Nam được hình thành và phát triển qua các giai đoạnnhư thế nào?

Đầu tiên, vào giai đoạn trước thời kỳ đổi mới (từ năm 1968 – 1986) Sau Cách mạng

tháng Tám, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập Trong nước Việt Nam mới,các quy định về ruộng đất trước đây đều bị bãi bỏ Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắclệnh giảm tô và ra chỉ thị chia ruộng đất các đồn điền, trại ấp vắng chủ cho nông dân Năm 1953,Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Luật Cải cách ruộng đất Nhà nước chủtrương tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào trao cho dân cày Với khẩu hiệu người cày córuộng, Đảng và Nhà nước ta đã hoàn thành Cải cách ruộng đất Với chính sách này, trong xã hội

có rất nhiều các thành phần kinh tế, nhiều cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng đất Sau cải cáchruộng đất năm 1957, chính quyền cách mạng tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân nghèo,tiếp đó vào đầu những năm 60, hưởng ứng phong trào hợp tác hóa sản xuất do Đảng và Chínhphủ phát động, đại bộ phận nông dân với nhiệt huyết cách mạng luôn tin tưởng vào Đảng đãđóng góp đại bộ phận ruộng đất canh tác ( kể cả đất vườn ở nhiều địa phương ) vào hợp tác xã,

do vậy hiện trạng ruộng đất đã có nhiều thay đổi Giai đoạn này, Đảng và Nhà nước đã ban hànhhàng loạt các văn bản có liên quan đến vấn đề giao đất giao rừng như Nghị định số 38/CP ngày12/3/1968; Thông báo số 18/TB-UB ngày 23/10/1968; Quyết định số 129/CP ngày 25/5/1974;Chỉ thị số 257/TTg ngày 16/7/1975; Chỉ thị số 100/CT-TW ngày 13/01/1981; …… trong đó có

Trang 9

Chỉ thị 100 về Cải tiến công tác khoán; Chỉ thị này là là khâu đột phá mở đầu sự đổi mới đã cótác dụng ngăn chặn sự xa sút và tạo đà đi lên trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Có thể nóiChỉ thị 100 đã tạo nên thành công cho quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nôngnghiệp, là tiền để tạo niềm tin, động lực cho tiến trình đổi mới thành công cơ chế quản lý kinh tế

đất nước sau này Các chính sách giai đoạn 1968 – 1986 đã giúp cho việc sản xuất nông nghiệp

nước ta có bước phát triển; tuy nhiên đời sống nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn Những quyđịnh, chỉ thị trong thời điểm này chỉ phù hợp với việc sử dụng đất nông nghiệp với mục đích duynhất là đất trồng trọt phục vụ cho nhu cầu của con người Với mục tiêu mô hình kinh tế thịtrường trong tương lai thì cần phải có những chính sách linh hoạt, đổi mới hơn của Nhà nước vềvấn đề giao đất cho các đối tượng sử dụng đất

Tiếp theo, giai đoạn sau đổi mới ( 1986 – 15/10/1993) Năm 1986, Nhà nước Việt Nam

quyết định thực hiện đổi mới, trước hết là đổi mới về kinh tế Tháng 12 năm 1987, Quốc hội ViệtNam đã thông qua Luật Đất đai đầu tiên và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đầu tiên LuậtĐất đai năm 1987 đã được xây dựng trên nguyên tắc Nhà nước bao cấp hoàn toàn về đất đai, đấtđai không có giá trị và không có giá cả, ai cần đất thì được Nhà nước giao đất không thu tiền, aikhông cần nữa thì Nhà nước thu hồi lại Hơn nữa Luật này được ban hành sớm hơn chính sáchgiao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài nên chậm nhịp so vớinhu cầu của đổi mới

Giai đoạn này, Nhà nước có chủ trương giao đất cho hộ gia đình và cá nhân, vì vậy đã khuyếnkhích nhiều người nhận diện tích đất trống, đồi núi trọc để đầu tư vốn trồng rừng Các hộ giađình, cá nhân có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh nông, lâm kết hợp Cơ chế “Khoán 100”không thể tháo gỡ hết những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp Ngày 05-04-1988, Nghị

quyết 10/NQ- TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp được ban hành (hay còn gọi “Khoán 10”) Nghị quyết 10 đề ra cơ chế khoán mới, lần đầu tiên kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là

đơn vị kinh tế tự chủ tuy nhiên chưa đề cập quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân và việcxây dựng hợp tác xã mới

Đến giữa năm 1991, Nhà nước quyết định áp dụng mô hình kinh tế thị trường với nhiều thànhphần kinh tế có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để giải quyết nhữngbất cập, đáp ứng tình hình đổi mới, Hiến pháp 1992 ra đời trong đó quy định: "Đất đai thuộc sởhữu toàn dân" (Điều 17), "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và phápluật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả" (Điều 18)

Trang 10

Giai đoạn từ khi Luật đất đai 1993 có hiệu lực ( từ 15/10/1993) với sự ra đời của Luật

đất đai thứ 2 vào năm 1993 cùng với các quy định được cụ thể hóa tại Nghị định số 64/CP ngày27/9/1993; Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994; Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999;Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 đã có nhiều đổi mới bao gồm:

Một là, đối với đất nông nghiệp: Nhà nước giao đất của hợp tác xã nông nghiệp cho hộ gia đình,

cá nhân sử dụng ổn định với thời hạn 20 năm đối với đất sản xuất nông nghiệp trồng cây hàngnăm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối với hạn mức dưới 3 ha ở đồng bằng sông Mê Kông

và dưới 2 ha ở những nơi khác, và 50 năm đối với đất sản xuất nông nghiệp trồng cây lâu năm,đất rừng sản xuất với hạn mức dưới 10 ha ở đồng bằng và 30 ha ở vùng núi (Nghị định 64/CPngày 27/9/1993) đồng thời quy định về đối tượng được giao, nguyên tắc giao, thời hạn giao vàhạn mức đất được giao

Hai là, đối với đất lâm nghiệp: Chủ trương giao đất lâm nghiệp ổn định lâu dài cho các tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được quy định trong Luật Đất đai năm1993; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991, Nghị định số 02/CP ngày 15/1/1994 của Chínhphủ và một số văn bản dưới luật có liên quan khác đã được thể hiện bằng các quy định cụ thể vềquỹ đất giao, căn cứ để giao, thời hạn và hạn mức đất giao

Năm 1998, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai,trong đó mở rộng một số quyền cho các nhà đầu tư trong nước, ngoài các dự án đầu tư xây dựngkinh doanh nhà ở, hạ tầng khu công nghiệp, Nhà đầu tư trong nước được Nhà nước giao đất cóthu tiền sử dụng đất để thực hiện các dự án đổi đất lấy hạ tầng

Như vậy, nhìn chung ở giai đoạn này, Luật đất đai 1993 nói chung và chính sách giao đất nói

riêng có sự tiến bộ và tính khoa học hơn hẳn Luật đất đai năm 1987; đây là thành công rất cơ bản

về công tác quản lý của Nhà nước về đất đai ở nước ta trong giai đọan này Công tác giao đấtnông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nôngnghiệp theo Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ đã góp phần giúp cho nông dânyên tâm sản xuất, tang năng suất lao động, sản lượng nông nghiệp tăng Song, điều này cũng thểhiện hạn chế là làm manh mún ruộng đất

Giai đoạn từ khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực (1/7/2004) là sự ra đời của Luật đất đai

2003 đã phân định rõ ranh giới giữa quyền của chủ sở hữu đất đai đối với quyền của người sửdụng đất, nâng cao nhận thức của người sử dụng đất về nghĩa vụ của họ đối với chủ sở hữu đấtđai Luật đất đai 2003 quy định về thẩm quyền giao đất theo hướng tiếp tục phân cấp cho địa

Trang 11

phương, chính phủ không quyết định giao đất; sửa đổi hạn mức sử dụng đất nông nghiệp Nhữngsửa đổi được thể chế hóa tại Điều 5 Nghị định 198/2004/NĐ-CP; Thông tư 117/2004/TT-BTC;Nghị định 120/2010/NĐ-CP; Nghị định 181/2004/NĐ- CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 Cùngvới đó là những chính sách khoán như Nghị định 135 ngày 8 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ;Quyết định 304 ngày 23 tháng 11 năm 2005.

Giai đoạn này Nhà nước có quyền định đoạt đối với đất đai, bao gồm việc quyết định mục đích

sử dụng, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất, quyết địnhviệc giao đất, cho thuê đất, thu hồi và cấp phép cho người sử dụng; Trao quyền sử dụng đất chongười sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối

với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Cơ chế giao và khoán có những khác biệt cơ bản tuy nhiên trong cả 2 cơ chế, Nhà nước đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu, có vai trò cao nhất, thực hiện việc giao đất Mặc dù đã có những

đổi mới hơn giai đoạn trước nhưng chính sách giai đoạn này vẫn còn nhiều vướng mắc Một là,

Luật đất đai 2003 chưa có quy định giao đất nông nghiệp cho cộng đồng sử dụng theo luật tục

Hai là, tham nhũng trong quản lý đất đai vẫn luôn ở mức cao, chủ yếu trong cơ chế Nhà nước

giao đất, cho thuê đất trực tiếp cho nhà đầu tư các dự án đầu tư

Giai đoạn từ khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực (từ 1/7/2014) Theo quy định của Luật

Đất đai năm 2013, phương thức giao đất và cho thuê đất có những điểm mới là thu hẹp cáctrường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất

và cơ bản chuyển sang thuê đất Giao đất, cho thuê đất chủ yếu thông qua hình thức đấu giáquyền sử dụng đất để đảm bảo tính công khai minh bạch, đồng thời huy động được nguồn lực đấtđai cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương Điểm mới trong công tácgiao đất, cho thuê đất theo Luật đất đai 2013 còn là mở rộng quyền sử dụng đất cho người ViệtNam định cư ở nước ngoài Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều được áp dụng hình thứcgiao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để bán hoặc bán kết hợp chothuê; các trường hợp còn lại được áp dụng hình thức thuê đất trả tiền hàng năm hoặc thuê đất trảtiền một lần việc thu hồi đất cho cả thời gian thuê Chế tài mới cũng ngăn ngừa dự án chậm triểnkhai khi bổ sung chế tài xử lý theo hướng chủ đầu tư được tiếp tục được gia hạn thêm 24 tháng

và trong thời gian này chủ đầu tư phải nộp thêm một khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụngđất, tiền thuê đất trong thời gian này; sau 24 tháng được chậm tiến độ, nếu vẫn chưa đưa đất vào

Trang 12

sử dụng thì Nhà nước sẽ thu hồi đất và không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừtrường hợp do bất khả kháng.

Đối với đất nông nghiệp, Luật Đất đai 2013 đã quy định nâng thời hạn giao đất nông

nghiệp trong hạn mức cho hộ gia đình, cá nhân từ 20 năm lên 50 năm thống nhất cho các loại đấtnông nghiệp (đất trồng cây hàng năm và cây lâu năm, đất lâm nghiệp) Khuyến khích tích tụ đấtđai thông qua cơ chế góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, nhận quyền thuê đất để thuận lợicho ứng dụng khoa học và công nghệ, cơ giới hóa và phát triển sản xuất hàng hóa

Phương thức mới trong giao đất và cho thuê đất đã khắc phục được tình trạng giao đất,cho thuê đất một cách tràn lan… Tạo lập hành lang pháp lý cơ bản để kêu gọi đầu tư, thu hút đầu

tư trong và ngoài nước Quỹ đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạtầng, đô thị được mở rộng và đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay.Đặc biệt việc giao đất, cho thuê đất có thu tiền sử dụng đất đã góp phần khai thác nguồn lực củađất đai, tiết kiệm nguồn tài nguyên đất và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Có thể thấy, chính sách về giao đất từ trước đến nay đã đạt được những thành tựu nhấtđịnh đồng thời cũng có nhiều hạn chế bất cập như Việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất đã và đang được triển khai trong cả nước nhưng một số nơi tiến hành còn chậm, gâylãng phí nguồn lực; quy định giao đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất đầu thầu dự áncó

sử dụng đất chưa được nhiều địa phương nghiêm túc thực hiện;…

Vì vậy, em xin đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách giao đất như sau:

Một là, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao đất: Thứ nhất, pháp luật về giao đất phải

dựa trên nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống

nhất quản lý Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính đất đai liên quan trực tiếp trong giao

đất xác định giá đất, phát triển quỹ đất và đấu giá quyền sử dụng đất nhằm huy động nguồn lựctài chính từ đất đai phục vụ hiệu qua cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Thứ ba, pháp luật về giao đất phải đảm bảo tiết kiệm hiệu quả, trên nguyên tắc nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và bảo vệ môi trường Thứ tư, hoàn thiện và thực thi pháp luật về giao đất phải dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch, bình đẳng và đúng pháp luật Thứ năm, tiếp

tục hoàn thiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất

Trang 13

Hai là, giải pháp nâng cao trong việc áp dụng pháp luật: Thứ nhất, tăng cường việc giao

đất có thu tiền sử dụng đất thông qua hình thức đấu giá QSDĐ, theo đó hạn chế việc giao đất

không qua hình thức đấu giá và cần có một quy chế đấu giá QSDĐ công khai, minh bạch Thứ hai, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với việc giao đất để Nhà nước nắm chắc, quản chặt quỹ đất đai trên phạm vi cả nước Thứ ba, cần tiếp tục giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình,

cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nôngdân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất

Ba là, giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực thi pháp luật: Thứ nhất, thực hiện quy

hoạch sử dụng đất các cấp dài hạn, nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất Thứ hai, phát triển nhanh các tổ chức tư vấn về giá đất để định giá đất Thứ ba, tạo điều kiện, cơ chế thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, minh bạch và hiệu quả Thứ tư, tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai một cách thường xuyên, liên tục tại các cấp Thứ năm, tăng

cường công tác kiểm tra, thanh tra việc giao đất

Câu 8: Hiểu biết của bạn về chính sách thu tiền sử dụng đất của Việt Nam

Về mặt thực tiễn và pháp lý, đối với các nước đất đai thuộc sở hữu Nhà nước hoặc doNhà nước đại diện chủ sở hữu (như Việt Nam) thì Nhà nước có đủ 3 quyền: quyền chiếm hữu,quyền sử dụng và quyền định đoạt Nhà nước có thể bán/giao đất vĩnh viễn hoặc có thời hạn KhiNhà nước bán/giao đất sẽ thu về một số tiền tương ứng với giá trị tài sản của đất đai được xácđịnh phụ thuộc vào mục đích sử dụng (khả năng sinh lời) và thời gian sử dụng Đây là khoản tiền

mà người mua hoặc được giao đất phải nộp để có quyền sở hữu/quyền sử dụng đất, sau khi hoànthành nghĩa vụ tài chính thì người được giao đất có các quyền theo quy định Về bản chất, tiền sửdụng đất không mang tính chất thuế của Nhà nước mà thể hiện quyền lợi của chủ sở hữu đất Dophải trả tiền sử dụng đất nên các tổ chức, cá nhân sẽ sử dụng đất căn cứ vào nhu cầu sử dụng đấtthực tế đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động thường xuyên của mình Điều này thúc đẩy việc

sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả Do vậy, đây cũng là biện pháp tài chínhquan trọng mà Nhà nước sử dụng để quản lý việc sử dụng đất

Khái niệm “tiền sử dụng đất” mới xuất hiện lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật đất đai Việt Nam thông qua Luật đất đai 1993 Tại điều 12 Luật đất đai 1993 “ Nhà nước xác

định giá đất để thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất” Khi nhà nước giao đất để sử dụng vàomục đích khác nghĩa là không sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản Đây là

Trang 14

nghĩa vụ của người sử dụng đất; việc thu tiền sử dụng đất được thực hiện theo Nghị định số89/1994/NĐ-CP; Nghị định số 44/1996/NĐ-CP; Điều 22a Luật đất đai sửa đổi, bổ sung 1998.

Từ khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực: Tiền sử dụng đất là số tiền mà người sử dụng đất

phải trả trong trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với một diện tíchxác định tại Khoản 25 Điều 4 Luật đất đai 2003 Thu tiền sử dụng đất trong 3 trường hợp: (i)giao đất có thu tiền sử dụng đất; (ii) chuyển mục đích sử dụng đất từ đất được giao không thutiền sử dụng đất sang đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất; (iii) chuyển từ hình thứcthuê đất sang hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền Nghị định số 198/2004/NĐ-CP quyđịnh chi tiết hơn các đối tượng phải nộp tiền; tại điều 4 Nghị định này quy định căn cứ tính thutiền sử dụng đất là diện tích đất, giá đất và thời hạn sử dụng đất; tại Nghị định số17/2006/NĐ-CP sửa đổi về giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất theo mục đích sử dụng đấtđược giao đã được UBND Tỉnh quy định và công bố Chính sách về miễn, giảm tiền sử dụng đấtđược quy định tại Nghị định 44/2008/NĐ-CP Chính sách giai đoạn này còn có sự phân biệt đối

xử giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước (nhà đầu tư nước ngoài chỉ được nhànước cho thuê đất, không được giao đất kể cả tham gia vào dự án phát triển nhà ở, và nhà đầu tưnước ngoài được Nhà nước thu hồi đất đối với mọi loại dự án đầu tư)

Giai đoạn này có những quy định về ghi nợ tiền sử dụng đất, quy định tại Điều 5 Thông tư liêntịch số 14/2008/TTLT-BTC-BTNMT gồm các trường hợp được ghi nợ gồm (i) HGĐ,CN đượcchuyển mục đích sử dụng đất, được cấp GCN mà phải nộp tiền sử dụng đất; (ii) HGĐ,CN đượcNhà nước giao đất tái định cư

Từ khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực đến nay: khái niệm tiền sử dụng đất được quy

định rõ tại khoản 21 Điều 3 Luật đất đai 2013, các quy định chính sách tiền sử dụng đất hiệnhành thực hiện theo Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Nghị định số135/2016/NĐ-CP ngày 9/9/2016, Nghị định 123/2017/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sungmột số điều của các Nghị định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất; và các Thông tư hướngdẫn của Bộ Tài chính Theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, đối tượng thu tiền sửdụng đất gồm hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở; tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ởnước ngoài được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợpcho thuê; tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang nghĩa địa đểchuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng Căn cứ thu tiền sử dụng đất là diện tích đất,giá đất và thời hạn sử dụng đất Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thì người được nhà

Trang 15

nước giao đất có thu tiền sử dụng đất có các quyền: chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sửdụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất Về mặt phân cấp ngân sách, theo quy địnhcủa Luật ngân sách nhà nước, khoản thu tiền sử dụng đất (trừ thu tiền sử dụng đất gắn liền với tàisản trên đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trung ương quản lý) là khoản thu thuộc ngânsách địa phương.

Chính sách ghi nợ tiền sử dụng đất tại Nghị định 79/2019/NĐ-CP quy định về thời hạn ghi nợ

là trả nợ dần trong thời hạn 5 năm; nếu chưa thanh toán hết nợ thì rõ hai trường hợp xử lý tiền sửdụng đất Đó là những trường hợp nợ từ trước ngày 1-3-2016 (tức đến 1-3-2021 là đủ 5 năm) vàtrường hợp nợ từ ngày 1-3-2016 đến trước ngày nghị định 79 có hiệu lực Đối với những hộ giađình, cá nhân nợ tiền sử dụng trước ngày 1-3-2016, nếu thanh toán trước ngày 1-3-2021 thì đượctính theo giá đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được ghi trong "sổ đỏ".Đặc biệt, nếu trả nợ sau ngày 1-3-2021 thì giá đất được tính tại thời điểm trả nợ Đối với nhữngtrường hợp nợ từ sau ngày 1-3-2016 đến trước ngày nghị định 79 có hiệu lực (tức ngày10-12-2019) thì tiếp tục thanh toán theo giá tại thời điểm ghi nợ nhưng không quá 5 năm Trườnghợp này, quá 5 năm thì cũng tính theo giá đất tại thời điểm trả nợ

Theo đánh giá của Bộ Tài chính (2018), các chính sách thu tiền sử dụng đất trong những năm vừa qua đã từng bước được thể chế hóa theo nguyên tắc thị trường, minh bạch và bìnhđẳng giữa các thành phần kinh tế, thu hẹp sự phân biệt giữa tổ chức, cá nhân trong và ngoàinước Các thủ tục liên quan đến thu tiền sử dụng đất cơ bản được đơn giản hóa, tạo điều kiện hỗtrợ cho sản xuất kinh doanh, giúp tổ chức, cá nhân tiếp cận nguồn đất đai thuận lợi Tuy nhiênvẫn tồn tại nhiều hạn chế nhất định như (1) Giá đất để tính thu tiền sử dụng đất nếu quá cao,người dân không có tiền chi trả khoản tiền này; Tiền sử dụng đất hiện đang là "ẩn số" không đảmbảo tính minh bạch và có thể dự đoán trước khi quyết định đầu tư Tiền sử dụng đất là gánh nặngcủa cả chủ đầu tư và người tiêu dùng và đang tạo ra cơ chế "xin - cho" dẫn đến ngân sách nhànước bị thất thu do tình trạng thỏa thuận "cưa đôi, cưa ba" (2) Văn bản pháp luật liên quan đếnđất đai được ban hành khá nhiều nhưng còn bất cập vướng mắc, thiếu đồng bộ, chưa rõ ràng,chưa phù hợp với thực tiễn nên đã tạo ra những khoảng trống, kẽ hở để tổ chức, cá nhân trục lợi,dẫn đến vấn nạn tham nhũng như cho các nhà đầu tư nợ, chậm nộp tiền sử dụng đất; để đất bỏkhông lãng phí không sử dụng trong khi người dân không có đất để sản xuất

Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền sử dụng đất

Trang 16

Một là, hoàn thiện pháp luật tài chính về đất đai nói chung và pháp luật thu tiền sử dụng

đất nói riêng phải đảm bảo duy trì và phát triển nguồn thu cho ngân sách nhà nước như về thờiđiểm tính tiền sử dụng đất: Quy định về thời điểm tính thu tiền sử dụng đất trong trường hợpngười sử dụng đất được Nhà nước cho phép gia hạn thời gian sử dụng đất theo quy định tại điểm

i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 cần được hoàn thiện Bên cạnh đó cần thống nhất quyđịnh thời điểm tính thu tiền sử dụng đất đối với trường hợp công nhận quyền sử dụng đất Xóa

nợ tiền chậm nộp, tiền phạt: Nghiên cứu hoàn thiện, bổ sung thêm quy định về xóa nợ tiền chậmnộp, tiền phạt đối với tiền sử dụng đất trong trường hợp bất khả kháng vì lý do khách quan trongđiều kiện đủ căn cứ pháp luật nhằm giảm chi phí quản lý hành chính một cách hợp lý

Hai là, hoàn thiện pháp luật tài chính về đất đai và giá đất phải hướng vào việc thúc đẩy

phát triển sản xuất - kinh doanh và tăng cường công tác quản lý đất đai Với mục tiêu khuyếnkhích sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao, nhưng phải đảm bảo điều kiện, môitrường cho phát triển sản xuất - kinh doanh Chính sách thu đối với đất đai trong đó có thu tiền

sử dụng đất phải là công cụ pháp lý cho Nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát việcquản lý, sử dụng đất và các biến động về đất đai, quyền sử dụng đất giữa các tổ chức với tổ chức,giữa tổ chức với cá nhân, giữa cá nhân với nhau nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý chặt chẽ đất đai

và thị trường bất động sản

Ba là, Chấp hành nghiêm dự toán thu - chi tiền sử dụng đất; tuân thủ kế hoạch sử dụng đất

đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thu tiền sử dụng đất phải gắn với nhiệm vụ chi, tránh lãngphí nguồn lực công Sử dụng nguồn thu từ đất theo nguyên tắc ưu tiên thanh toán trả nợ xâydựng cơ bản và các dự án giải phóng mặt bằng, đầu tư tạo quỹ đất bán đấu giá, phục vụ tái định

cư, đầu tư các công trình hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường học và hạ tầng thiết yếu phục vụphát triển KT-XH Nguồn vượt thu tiền sử dụng đất chỉ bố trí cho các dự án trong kế hoạch đầu

tư công trung hạn và đảm bảo đầy đủ hồ sơ theo quy định

Ba là, Chính sách ưu đãi về đất đai: Chính sách, pháp luật hiện hành đã có quy định cụ thể

các mức ưu đãi miễn, giảm tiền sử dụng đất trong khu kinh tế, khu công nghệ cao Tuy nhiên,cần xây dựng danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, lĩnh vực khuyến khích đầu tư ápdụng riêng cho khu kinh tế, khu công nghệ cao Trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá cụ thể đối vớitừng lĩnh vực để đưa ra mức ưu đãi phù hợp, vừa đảm bảo tăng cường thu hút đầu tư nhưng cũngvừa đảm bảo được việc tăng cường sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả

Trang 17

Bốn là, hoàn thiện pháp luật tài chính về đất đai và giá đất nói chung hay thu tiền sử dụng

đất nói riêng phải phù hợp với nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việcxác định cơ chế tài chính thực hiện các mối quan hệ đất đai giữa Nhà nước với người sử dụngđất, giữa người sử dụng đất với nhau thực hiện theo cơ chế thị trường, tạo điều kiện thúc đẩyphát triển thị trường bất động sản Trên cơ sở đảm bảo quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai,chính sách, pháp luật tài chính đối với đất đai cần tiếp tục hoàn thiện phù hợp với thông lệ quốc

tế và cam kết của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; đảm bảo bình đẳng giữa các thành phầnkinh tế, giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài; mở rộng thị trường bất động sản, tạo cơ hộicho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được tiếp cận vớiđất đai một cách thuận tiện

Năm là, Quản lý chặt chẽ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các hộ gia đình, cá

nhân trên địa bàn để thu kịp thời các nguồn thu phát sinh, tránh thất thu ngân sách nhà nước Cácđịa phương cùng các ngành chức năng đẩy mạnh xử lý nợ đọng tiền sử dụng đất của một sốdoanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư bất động sản trên địa bàn Tăng cường thanh tra, kiểm tra,thanh tra chuyên đề việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước (đặc biệt là nguồn thu tiền sửdụng đất, sử dụng dự phòng ngân sách) của các địa phương, kịp thời phát hiện những tồn tại, viphạm để có biện pháp chấn chỉnh hoặc tham mưu cấp thẩm quyền biện pháp xử lý nghiêm theoquy định đối với người đứng đầu của các cơ quan, đơn vị buông lỏng quản lý để xảy ra vi phạm.Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán để xử lý dứt điểmcác vi phạm, không để tồn tại kéo dài Nguồn thu từ đất phải kiểm soát chặt chẽ, minh bạch

Câu 9: Hiểu biết của bạn về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Việt Nam

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xãhội và sự ổn định đời sống của người dân Trong quá trình phát triển đất nước theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, việc thu hồi đất để phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng vàphát triển kinh tế - xã hội là một quá trình tất yếu, tác động rất lớn đến người bị thu hồi đất Để

bù đắp cho họ một phần thiệt thòi đó, Nhà nước ta đã ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ vàtái định cư dành cho người bị thu hồi đất, từng bước hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện ngàycàng tốt hơn cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống và sản xuất Bồi thường về đất làviệc

Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất; Hỗ

Trang 18

trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời

sống, sản xuất và phát triển; Tái định cư là việc bố trí quỹ đất, quỹ nhà cho những người dân cóđất bị thu hồi khi họ không có điều kiện để chuyển về nơi ở mới, việc lập tái định cư nhằm đảmbảo cho người dân có đất bị thu hồi ổn định cuộc sống, nghề nghiệp, thu nhập…

Có thể nói, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là công việc hết sức quan trọng và cầnthiết trong việc thực hiện các dự án đầu tư, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH- HĐH đất nước

do đó việc đưa ra những quan điểm đúng đắn, lành mạnh và tạo điều kiện để công tác này pháttriển là một việc làm hết sức cần thiết

Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được hình thành vàphát triển qua từng giai đoạn

Trước khi Luật đất đai 1993 có hiệu lực (trước 15/10/1993) giai đoạn này các chính sách đất

đai chủ yếu thể hiện tinh thần đổi mới nhưng rất thận trọng, thực hiện từng bước chậm, chủ yếu

là mang tính thăm dò, thí điểm

Luật Cải cách ruộng đất (1953): nhằm thực hiện mục tiêu đánh đổ giai cấp địa chủ, phong

kiến, thủ tiêu chế độ tư hữu về ruộng đất, chia ruộng đất cho nông dân Nhà nước quyết định tịchthu toàn bộ ruộng đất và tài sản của thực dân Pháp và của đề quốc xâm lược khác, trưng thu toàn

bộ hoặc một phần đất đối với địa chủ Việt gian, phản động (Điều2, Điều 3) Trung thu ruộng đất

đối với các nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến, địa chủ thường (Mục 2, Mục 3), trưng thu hoặctrưng mua với đất chính đáng đất công hoặc nửa công nửa tư và ruộng đất của các cơ sở tôn giáo;ruộng đất vắng chủ, bỏ hoang Nhà nước tiến hành chia ruộng đất cho công dân, những nườinông dân nghèo và những người có công với đất nước

Để đáp ứng nhu cầu xây dựng của Nhà nước, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi củangười có ruộng đất, thì việc lấy ruộng đất do cơ quan phụ trách địa phương cùng những người sởquan giải quyết trên cơ sở cùng nhau thương lượng và thoả thuận quy định tại Nghị định151/TTG ngày 14/4/1959 Ruộng đất đã trưng dụng thuộc quyền sở hữu của Nhà nước ( Điều 5Nghị định 151/TTG ngày 14/4/1959)

Bồi thường cho người có đất bị trưng dụng quy định tại Điều 6 Nghị định 151/TTG ngày14/4/1959 Có hai cách bồi thường: bồi thường bằng ruộng đất, bồi thường bằng tiền Nhưng bồithường bằng ruộng đất là tốt nhất và là chủ yếu Giá bồi thường căn cứ vào sản lượng của ruộngđất đã dùng để tính thuế nông nghiệp Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp nào cũng bồithường

Trang 19

Chính sách bồi thường đối với trường hợp trung dụng đất chưa rõ nét chỉ dựa trên cơ sở cùngnhau thương lượng và thoả thuận, chưa có chính sách giá đất để tính tiền bồi thường, hỗ trợ táiđịnh cư phù hợp Chưa đảm bảo tính công bằng, minh bạch cho người dân Những người bịtrưng dụng đất chỉ được bồi thường bằng sản lượng hoa lợi của mảnh đất đó hoặc không bồithường, không được hỗ trợ sau khi trung dụng đất Luật đất đai 1987 xây dựng dựa trên nguyêntắc Nhà nước bao cấp hoàn toàn về đất đai Ai cần đất thì Nhà nước giao đất không thu tiền, aikhông cần nữa thì Nhà nước thu hồi lại Từ đó dẫn đến tình trạng xin - cho tiêu cực trong phânphối đất đai.

Chính sách đất đai của Nhà nước chỉ mới tập trung chủ yếu vào việc xử lý đối với đất nông lâm nghiệp Chưa có những điều chỉnh thích đáng đối với những bất hợp lý trong những chínhsách cũ, trong việc thay đổi quy hoạch, thay đổi kết cấu hộ nông dân trong nông thôn

-Giai đoạn từ khi Luật đất đai 1993 có hiệu lực:

Điều kiện thu hồi đất quy định tại Điều 9 Sửa đổi bổ sung Luật đất đai số 25/2001/QH10 baogồm: thu hồi đất vì lợi ích quốc phòng an ninh và thu hồi đất vì lợi ích quốc gia, lợi ích côngcộng

- Về cơ chế thu hồi đất: Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng củangười sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích côngcộng thì người bị thu hồi đất được bồi thường hoặc hỗ trợ Việc bồi thường hoặc hỗ trợ được thựchiện theo quy định của Chính phủ

- Các đối tượng được bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đíchquốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng bao gồm tổ chức, hộ gia đình, cá nhântrong nước có đất bị thu hồi (gọi chung là người bị thu hồi đất); tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổchức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất(Điều 3, Nghị định 22/1998/NĐ-CP)

- Phạm vi bồi thường thiệt hại bao gồm bồi thường thiệt hại về đất và tài sản cho toàn bộ diệntích đất thu hồi theo quy định tại Nghị định 22/1998/NĐ-CP;

- Giá đất tính tiền bồi thường: Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 quy định, người bị thu hồi đấtđược bồi thường thiệt hại về đất theo giá đất do Nhà nước quy định tại Nghị định số 87/CP ngày

17/8/1994 của Chính phủ Cụ thể quy định tại Điều 6 Nghị định này: giá đất là giá do UBND

Tỉnh ban hành

Trang 20

Sau đó, tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CPquy định người bị thu hồi đất được bồi thường thiệthại về đất theo giá đất do nhà nước quy định tại Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 nhân với hệ

số K để đảm bảo giá đất tính bồi thường phù hợp với khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượngquyền sử dụng đất ở địa phương (K là hệ số điều chỉnh với giao động từ 0.25 đến 2.7 lần) Hệ số

K được xác định theo quan hệ tỷ lệ giữa giá đất tính theo khả năng sinh lợi với giá đất do UBNDcấp tỉnh quy định Như vậy so với Nghị định số 90/CP thì giá đất để bồi thường đối với ngườidân bị thu hồi đất đã được điều chỉnh linh hoạt hơn (Hệ số K do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyđịnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn của từng dự án)

Giai đoạn từ khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực: cơ chế Nhà nước thu hồi đất được hạn chế lại,

chrỉ áp dụng cho các trường hợp sử dụng đất vì lợi ích quốc gia, công cộng, quốc phòng, an ninh

và một số dự án đầu tư phát triển kinh tế Các dự án đầu tư không thuộc trường hợp được Nhànước thu hồi đất phải thực hiện cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện

Về đối tượng được bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi: so với luật đất đai năm 1997 thì luật đất đai

năm 2003 về đối tượng được mở rộng hơn , không chỉ có tổ chức hộ gia đình cá nhân trong nước

mà còn có cộng đồng dân cư , người việt nam định cư ở nước ngoài , tổ chức cá nhân nước ngoàiđang sử dụng đất ở việt nam bị nhà nước thu hồi đất Việc mở rộng này là rất cần thiết nhằm phùhợp với thực tế sử dụng đất ở nước ta hiện nay Hơn nữa việc bồi thường , hỗ trợ và tái định cưkhi nhà nước thu hồi đất còn phù hợp với mục tiêu đảm bảo tính tương thích về pháp luật trongquá trình hội nhập kinh tế thế giới , đồng thời xóa dần sự khác biệt về quyền sử dụng đất giữangười việt nam trong nước và người việt nam định cư ở nước ngoài , động viên người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài hướng về tổ quốc

Việc bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Nghị định

194/2004/NĐ-CP như sau:Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất Nhà nước thuhồi; bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bịNhà nước thu hồi; hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và

hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất;hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tại khu tái địnhcư.Các khoản hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 17 của Nghị định số69/2009/NĐ-CP

Vấn đề tái định cư được quy định tại luật đất đai năm 2003 và nghị định số 197 / 2004 / NĐ CP

ra đời có những quy định ràng và cụ thể hơn nhằm bắt buộc các cơ quan nhà nước phải quan tâm

Trang 21

và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của những đối tượng được bố trí tái định cư Khoản 3 điều 35 quyđịnh trước khi bố trí đất ở của các hộ gia đình , cá nhân , khu tái định cư phải được xây dựng cơ

sở hạ tầng đồng bộ bảo đảm đủ điều kiện cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ

Có quy định cụ thể về việc giá đất tính giá trị bồi thường đã có sự đổi mới so với giai đoạn trước

cụ thể: Khi bồi thường bằng tiền, giá bồi thường đối với đất trong THĐ nhằm thực hiện quyhoạch là giá đất theo mục đích đang sử dụng của loại đất bị thu hồi, do UBND tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương quy định được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng năm (Khoản

4 Điều 56 LĐĐ năm 2003) Giá này còn được gọi tắt là “giá Nhà nước” và thường thấp hơnnhiều so với giá thực tế Tại điều Nghị định 69/2009/NĐ-CP xác định giá đất trong 1 số trườnghợp cụ thể tuy nhiên thực tế giá đất do Nhà nước quy định chỉ bằng 40-70% giá thị trường

Giai đoạn từ khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực đến nay:giai đoạn này tiêu chí áp dụng cơ chếNhà nước thu hồi đất được quy định phù hợp hơn so với tiêu chuẩn quốc tế: Nhà nước thu hồiđất trong trường hợp thật cần thiết Thẩm quyền xác định sự “thật cần thiết” được trao cho Quốchội, Thủ tướng Chính phủ và HĐND cấp Tỉnh cụ thể:

- Về điều kiện thu hồi: so với Luật đất đai 2003, bên cạnh việc thu hồi đất vì mục đích quốc

phòng an ninh; thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 61,Điều 62 Luật Đất đai 2013), Nhà nước bổ sung các điều khoản liên quan đến Các doanh nghiệp

có vốn đầu tư 100% nước ngoài không được hưởng lợi từ việc thu hồi đất

- Về giá đất tính tiền bồi thường, hỗ tợ tái định cư: Theo Điều 74 Luật đất đai 2013 thì trong

trường hợp tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi mà đủ điều kiện được bồi thường thì sẽ được Nhà

nước bồi thường Nếu không có đất để bồi thường thì sẽ được bồi thường bằng tiền theo “giá đất

cụ thể” của loại đất thu hồi do UBND tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất Theo

Điều 114 Luật đất đai 2013 “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể Luật Đất đai

2013 quy định, giá đất của nhà nước phải “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường”

Nguyên tắc xác định giá đất là “Theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá;Theo thời hạn sử dụng đất; Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mụcđích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá QSDĐ đối với những nơi có đấu giá QSDĐhoặc thu nhập từ việc sử dụng đất; Cùng một thời điểm, các thửa đất liền kề nhau có cùng mụcđích sử dụng, khả năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì có mức giánhư nhau” (điều 112 Luật đất đai 2013)

Trang 22

- Về các trường hợp thu hồi đất:Từ 12 trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 38 của Luật Đấtđai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 bổ sung trường hợp thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tínhmạng con người để chia thành 4 nhóm để có quy định riêng về cơ chế xử lý đất thu hồi, tài sảntrên đất thu hồi phù hợp với tính chất của từng nhóm

- Thẩm quyền thu hồi đất: Luật Đất đai năm 2013 có sửa đổi thẩm quyền thu hồi đất so với quy

định hiện hành để cải cách hành chính khi thực hiện các dự án, trong đó quy định Ủy ban nhândân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện thu hồi đối với trườnghợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất Đây là lần đầu tiêntrong Luật Đất đai có quy định UBND cấp tỉnh được ủy quyền cho UBND cấp huyện thực hiệnthu hồi đất

- Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Luật Đất đai 2013 đã luật hóa các quy định hiện hành tại

các văn bản dưới Luật Đất đai 2003 Luật không quy định phải lập, duyệt phương án bồi thườngtổng thể, đối với trường hợp đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ quyết định khung chính sách bồithường, hỗ trợ và tái định cư Đối với người dân mất đất nông nghiệp, đất ở kết hợp kinh doanhdịch vụ, UBND cấp tỉnh phải có phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm chongười dân Với những người dân bị thu hồi đất, mục tiêu an sinh phải đặt lên cao nhất

Lần đầu tiên quy định tại nguyên tắc bồi thường việc bồi thường bằng tiền được xác định theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh, đất nông nghiệp thực tế không hình thành giá chuyển nhượng trongtrường hợp giữ nguyên mục đích sử dụng, nên giá đất xác định cụ thể trùng với giá quy định tạibảng giá đất Riêng đối với đất ở, khi thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, có địa phươngthực hiện xác định lại giá đất theo giá thị trường, có địa phương vẫn dùng bảng giá để áp giá bồithường Tuy nhiên theo quy định mới, sau ngày 01/7/2014, mọi trường hợp thu hồi về đất ở sẽđều thực hiện xác định lại giá đất để thực hiện bồi thường

Trong đó một số quy định về bồi thường đối với đất ở thông thoáng hơn: Theo quy định hiệnhành việc bồi thường đất ở bằng đất chỉ thực hiện trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân thuộcđối tượng tái định cư thì này, các địa phương có điều kiện về quỹ đất được phép thực hiện bồithường đất ở bằng đất (quen gọi là đất đổi đất) Đồng thời việc thu hồi đất ở cũng được quy địnhchặt chẽ hơn, đó là việc thu hồi đất ở chỉ được phép thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ởhoặc hạ tầng khu tái định cư Quy định này tránh cho người dân bị thu hồi đất ở một cách tùytiện trong khi chưa thực hiện chu đáo việc bố trí tái định cư Trường hợp chậm bồi thường, Nhà

Ngày đăng: 25/08/2022, 20:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w