1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kĩ năng làm bài

17 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 49,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nghị luận văn học: Bày tỏ quan điểm cá nhân của mình về một vấn đề văn học theo một quan điểm nhất định đã được chứng minh, như: + Tác phẩm, tác giả nhận định, phân tích đơn thuần + T

Trang 1

Lí thuyết: Nghị luận văn học và nghị luận xã hội Nghị luận: Là bày tỏ quan điểm của mình về 1 vấn đề nào đó

- Nghị luận xã hội: Bày tỏ quan điểm cá nhân của mình về một vấn đề xã hội (tư tưởng

đạo lý, hiện tượng đời sống) Có 4 dạng: Vấn đề nghị luận:

+ Được đặt trong 1 câu nói, 1 câu danh ngôn,

+ Vấn đề có thể tương phản, bổ sung, tương đồng (2 câu nói)

+ Một bức tranh, bức biếm họa,

+ Trong 1 tác phẩm văn học (thơ, truyện cực ngắn, )

- Nghị luận văn học: Bày tỏ quan điểm cá nhân của mình về một vấn đề văn học theo một

quan điểm nhất định đã được chứng minh, như:

+ Tác phẩm, tác giả (nhận định, phân tích đơn thuần)

+ Trào lưu văn học;

+ Lí luận văn học

PHẦN I: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC Một số dạng bài thường xuyên gặp trong đề thi

+ Phân tích tác phẩm đơn thuần; (Đề thi THPTQG, Tuyển sinh 10)

+ Phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ/ chứng minh một vấn đề xã hội, văn học như lòng yêu nước, tinh thần đồng đội, (Đề thi THPTQG, Tuyển sinh 10)

+ Một số vấn đề văn học: trào lưu văn học (Thơ mới, ), lí luận văn học, (Olympic, HSG)

Và sau đây, chúng tôi xin trình bày về các dàn ý khái quát của từng dạng bài:

Vấn đề 1: Các bước làm bài:

*Bước 1: Tìm hiểu đề, phân tích đề:

Ở bước này, học sinh cần xác định những vấn đề như sau:

+ Dạng bài: Là nghị luận văn học, nghị luận xã hội hay bình giảng tác phẩm văn học,

+ Các thao tác lập luận:

- Thao tác lập luận chính: Xuất hiện sẵn trên đề bài và đó là hướng của học sinh để có thể khai thác đúng vấn đề nghị luận Ví dụ: Phân tích, chứng minh, bình luận, giải thích, *Lưu ý: Thao tác lập luận chính thì chỉ có duy nhất 1 thao tác mà thôi

- Thao tác lập luận: Học sinh cần có vốn kiến thức về các thao tác lập luận, phối hợp nhuần nhuyễn các thao tác để bài làm mình được hay hơn, sâu sắc và rõ hơn Thao tác lập luận luôn phải có trong các văn bản nghị luận, chính luận, Là: giải thích, phân tích, chứng minh, bàn luận, so sánh, bác bỏ (Học sinh không cần sử dụng tất cả thao tác lập luận, chỉ sử dụng những thao tác cần thiết cho bài làm của mình)

+ Phạm vi tư liệu dẫn chứng – chứng minh: Thực tế xã hội hay trong tác phẩm văn học,

*Bước 2: Lập dàn ý:

Tùy vào từng dạng bài mà có những dàn ý khác nhau, truyện và thơ – cách phân tích cũng khác nhau Các dạng đề:

*Vấn đề 2: Dàn ý khái quát, kĩ năng làm bài:

1) Phân tích tác phẩm đơn thuần:

- Đối tượng phân tích tác phẩm văn học là truyện và thơ, thường, phân tích tác phẩm đơn thuần có luận điểm là nội dung của đoạn thơ (khổ thơ), theo tính cách nhân vật hoặc theo trình tự tác phẩm (SGK)

*Chuẩn bị các bước làm bài:

+ Dạng bài: nghị luận văn học

+ Các thao tác lập luận: chính: phân tích, phụ: giải thích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ

Trang 2

+ Phạm vi tư liệu: dẫn chứng trong tác phẩm văn học để chứng minh.

*Lập dàn ý:

I Mở bài:

- Khái quát: tác giả, tác phẩm, đoạn trích,

- Trích dẫn đề: Phân tích nhân vật hay phân tích thơ?  Nếu là thơ phải trích – được phép trích ngắn gọn

II Thân bài:

1 Dẫn dắt: Nếu là truyện thì tóm tắt tác phẩm, nếu là thơ thì dẫn dắt chủ đề (thường là nghệ thuật và nội dung là chính)

2 Phân tích: Thành lập luận điểm phù hợp để phân tích, tùy theo dạng đề yêu cầu Nếu là

truyện thì phân chia luận điểm là tính cách nhân vật, trình tự thời gian, hoặc theo tác phẩm Nếu là thơ thì phân chia luận điểm theo nội dung của vấn đề nghị luận thơ

3 Tổng kết: Khẳng định, đánh giá về giá trị của tác phẩm văn học; về nhân vật; ý nghĩa nội dung và nghệ thuật tiêu biểu đặc sắc

III Kết bài:

- Khẳng định lại:

- Liên hệ bản thân:

2) Phân tích tác phẩm văn học để chứng minh/ sáng tỏ một vấn đề nào đó: xã hội, văn học,

- Ở đây, không giống như phân tích tác phẩm đơn thuần Dạng đề này đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng, phải hiểu đề và hiểu sâu sắc tác phẩm, học sinh không được phân tích đơn thuần bởi làm vậy thì giám khảo họ sẽ đánh giá không hiểu vấn đề cần bàn  Điểm không cao

*Chuẩn bị các bước làm bài:

- Dạng đề: nghị luận văn học để chứng minh/ sáng tỏ một vấn đề có xác định

- Các thao tác lập luận: chính: chứng minh  Thao tác phụ: phân tích, giải thích, bàn luận,

- Phạm vi tư liệu: đề bài cho sẵn (văn học)

*Lập dàn ý:

I Mở bài:

- Dẫn dắt chủ đề cần phân tích:

- Dẫn dắt tác phẩm văn học:

II Thân bài:

1 Dẫn dắt sơ lược: nêu ý chính của vấn đề cần bàn luận  Chỉ nói sơ qua, không phân tích

kĩ, hoặc có thể giải thích (Khoảng 5 dòng)

2 Phân tích – chứng minh:

TRONG TÁC PHẨM A

- Khái quát tác phẩm A: tác giả tác phẩm (chỉ là dẫn dắt, không phân tích sâu)

- Phân tích – chứng minh: Đặt luận điểm để phân tích bằng cách xem yêu cầu đề bài là cần làm rõ vấn đề nào? Đưa lí lẽ, rồi dẫn chứng  Đem phân tích nhưng không phân tích quá

sâu

- Chốt ý của mỗi luận điểm

TRONG TÁC PHẨM B

(Giống các bước làm của tác phẩm A)

ĐIỂM GẶP GỠ, ĐIỂM KHÁC BIỆT:

- Tìm điểm gặp gỡ  Nêu ý nghĩa

- Tìm điểm khác biệt  Nêu ý nghĩa

Trang 3

3 Khẳng định, đánh giá:

- Vấn đề bàn luận:

- Các tác phẩm đã đem đi phân tích, chứng minh:

III Kết bài:

- Khẳng định lại giá trị;

- Liên hệ bản thân:

3) Chứng minh nhận định văn học (lí luận văn học, nhận định văn học về tác giả, tác phẩm):

- Đây là dạng đề khó – không dễ - ít xảy ra ở các kì thi tập trung như Tuyển sinh 10, thi học kì, THPTQG, cho nên tỉ lệ ra rất thấp (HS không cần quá chú trọng phần này)

*Một số yêu cầu chính:

- Hiểu các nhận định văn học liên quan đến lí luận văn học, nhận định về tác giả

- Nếu đề cho sẵn tác phẩm để chứng minh – học sinh chỉ được phép lấy tác phẩm đó, không lấy tác phẩm khác được và ngược lại (Đây là phạm vi tư liệu dẫn chứng để chứng minh)

- Nếu đề cho một nhận định về tác giả, lí luận văn học – học sinh chứng minh dựa trên tác phẩm đã được đọc và học – ít nhất 2 tác phẩm để làm rõ

- Học sinh cần có kiến thức sâu về tác phẩm, bởi đề sẽ chẳng bao giờ yêu cầu phân tích cả bài – mà là chỉ lấy 1 chi tiết để làm rõ mà thôi

* Dàn ý làm bài:

I Mở bài:

- Dẫn dắt câu nói lí luận văn học, nhận định văn học,

- Trích dẫn câu nói: (Bước quan trọng)

- Dẫn dắt tác phẩm (đề cho sẵn tác phẩm thì đưa vào, không cho nghĩa là tự chọn mà tự chọn thì học sinh không cần đưa)

II Thân bài:

1 Giải thích: (Bắt buộc phải có)

- Giải thích nhận định văn học bằng nhiều cách: tách vế câu ra để giải thích hoặc giải thích

cả câu nói (nếu có thể)

- Giải thích câu nói hướng đến tác phẩm cần chứng minh:

 Rút ra luận đề, luận điểm cần phân tích – chứng minh

2 Phân tích – chứng minh: (Quan trọng – chiếm nhiều điểm nhất)

*Bàn luận:

Học sinh trả lời câu hỏi “Tại sao ?” cho luận đề  Đó là luận điểm Để trả lời một cách đúng đắn nhất – học sinh dựa vào sự hiểu biết của mình và dựa trên cơ sở các nhận định, câu nói lí luận văn học, tìm nhiều câu trả lời cho luận điểm

*Chứng minh:

Từ câu nói, học sinh tự rút ra luận điểm để chứng minh bằng các tác phẩm được yêu cầu hoặc tự chọn (tùy đề)

Tách nhận định văn học ra làm nhiều vế  Mỗi vế của nhận định văn học được xem là 1 luận điểm Học sinh sử dụng lí lẽ và dẫn chứng rồi phân tích khái quát để chứng minh cho luận điểm

3 Đánh giá:

- Đánh giá trên phương diện ý nghĩa của câu nói:

- Đánh giá tác phẩm đã phân tích:

III Kết bài:

- Khẳng định vấn đề:

Trang 4

- Rút ra suy nghĩ bản thân:

Một số lưu ý:

- Đây là dạng bài thường xảy ra trong các đề thi của Olympic (Chuyên + Không chuyên), thi đội tuyển học sinh giỏi nên khả năng ra rất thấp

- Có thể sử dụng một số nhận định văn học để làm mở bài và kết bài cho các bài thi, bài làm  Có ưu thế mạnh và đạt điểm cao Bởi các câu nhận định văn học thường khô khan và khó hiểu, học sinh làm rõ vấn đề sẽ được điểm

- Không phải học sinh nào cũng từng tiếp nhận lí luận văn học  Khi có khả năng mới dẫn dắt theo dạng lí luận văn học thế này

PHẦN II: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Kĩ năng làm bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm

1.1 Tìm hiểu chung

Đối tượng

– Là một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó được đặt ra trong TPVH

- Vấn đề xã hội có thể lấy từ hai nguồn: Tác phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà học sinh chưa được học

Mục đích chính của dạng đề nghị luận

– Dạng đề này liên quan và xuất phát từ tác phẩm văn học, nhưng tác phẩm văn học chỉ là

“cái cớ” khởi đầu

– Mục đích chính là yêu cầu người viết bàn bạc, nghị luận về một vấn đề xã hội , đạo lí,

tư tưởng, nhân sinh, hiện tượng đời sống…

+ Nghĩa là nhân vấn đề đặt ra trong TP văn học đó mà bàn luận, kiến giải

+ Trong trường hợp này, tác phẩm văn học chỉ được khai thác về giá trị nội dung tư tưởng, rút ra ý nghĩa xã hội khái quát của tác phẩm ấy Tác phẩm nào cũng có một ý nghĩa xã hội nhất định Điều quan trọng là vấn đề xã hội đó có mang tính thời sự, tính giáo dục sâu sắc,

có phù hợp với tâm lí tuổi trẻ học đường hay không

Đặc điểm

Bài viết cho dạng đề này, ở phần thân bài thường gồm hai nội dung lớn:

– Phần 1: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa vấn đề

+ Nếu đề văn nêu sẵn vấn đề xã hội rút ra từ một tác phẩm, thì người làm chỉ cần phân tích qua vấn đề đó đã được thể hiện như thế nào trong tác phẩm

+ Nếu đề văn chưa cho sẵn vấn đề xã hội, thì người viết cần đọc – hiểu, phân tích văn bản

để rút ra vấn đề xã hội và ý nghĩa của vấn đề trước khi vào phần hai

– Phần 2 (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về vấn đề xã hội đặt ra trong tác

Trang 5

phẩm văn học (câu chuyện) Khi đã có vấn đề (đề tài, chủ đề) cần bàn bạc rồi, thì mới bắt đầu làm bài nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm, nêu suy nghĩ của bản thân mình về vấn đề ấy

Tác dụng

– Giải quyết về văn loại này, học sinh có cơ hội được bộc lộ năng lực đọc- hiểu tác phẩm, những hiểu biết, những kiến thức về xã hội

1.2 Hướng dẫn cách làm bài

Bước 1: Tìm hiểu đề

– Dạng đề

– Yêu cầu nội dung (đối tượng): Xác định vấn đề cần nghị luận

– Yêu cầu thao tác lập luận

– Yêu cầu phạm vi tư liệu, dẫn chứng

Lập dàn ý

I Mở bài:

– Dẫn dắt vấn đề

– Nêu vấn đề cần nghị luận

II Thân bài:

* Bước 1: Nêu hoàn cảnh xuất hiện vấn đề có ý nghĩa xã hội, phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa vấn đề (câu chuyện)

– Nhấn mạnh, khẳng định ý nghĩa nội dung từ văn bản văn học đó

– Từ đó, khái quát chính xác vấn đề xã hội cần nghị luận

 Rút ra luận đề cần chứng minh – phân tích để làm sáng tỏ

* Bước 2: Thực hiện các thao tác nghị luận (tùy thuộc vào vấn đề nghị luận là một tư tưởng, đạo lí hay một hiện tượng đời sống HS áp dụng phương pháp làm bài cụ thể)

– Giải thích vấn đề (nếu cần thiết)

– Phân tích – chứng minh:

+ Đối với vấn đề xã hội là vấn đề tư tưởng, đạo lí : Làm rõ các biểu hiện của tư tưởng, đạo lí ở những phương diện khác nhau trong đời sống…; dùng thực tế xã hội để chứng minh Đặt câu hỏi để xác định ý: Như thế nào? Ở đâu? Bao giờ? Người thật việc thật nào?…

Trang 6

+ Đối với vấn đề xã hội là một hiện tượng đời sống: Xác định đó là hiện tượng tích cực hay tiêu cực, mô tả những biểu hiện của hiện tượng đó…

- Đặt nhiều câu hỏi “Tại sao ?” cho vấn đề nghị luận đó  Đây là luận điểm, tìm thật nhiều câu trả lời các luận điểm sao cho thuyết phục  Đây là lí lẽ, đồng thời dùng thực tế xã hội để chứng minh cho luận điểm vừa đặt ra

– Bình luận: Bình luận, chỉ ra tầm quan trọng của vấn đề xã hội hiện nay

+ Đánh giá:

Quan niệm, tư tưởng ấy đúng đắn, sâu sắc như thế nào? Ý nghĩa đối với tâm hồn, nhân cách con người? (tư tưởng, đạo lí)

Hiện tượng ấy có ảnh hưởng như thế nào đối với cuộc sống con người ?

(Cần thể hiện thái độ đồng tình, biểu dương, trân trọng trước vấn đề xã hội có ý

nghĩa tích cực; phê phán những biểu hiện sai trái, suy nghĩ, quan niệm lệch lạc so với quan niệm, tư tưởng, hiện tượng được nghị luận)

+ Mở rộng: Xem xét vấn đề ở những phương diện, góc độ khác nhau (phương pháp, góc nhìn, tính hai mặt của vấn đề nghị luận…) (Phản đề)

* Bước 3: Rút ra bài học cho bản thân

– Về nhận thức: Vấn đề xã hội đó giúp ta hiểu sâu sắc về điều gì? Rút ra được điều gì có

ý nghĩa?

– Về hành động: Xác định hành động bản thân phải làm gì? Việc làm cụ thể, thiết thực

III Kết bài:

Đánh giá ý nghĩa của vấn đề xã hội trong tác phẩm

Kĩ năng làm bài nghị luận xã hội – vấn đề được đặt trong 1 câu nói, danh ngôn,

1 Nội dung

- Vấn đề nhận thức: lí tưởng, mục đích sống, nghề nghiệp, ước mơ…

- Vấn đề về đạo đức, tâm hồn, tính cách: lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, độ lượng; tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn; thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi…

- Vấn đề về các quan hệ gia đình: tình mẫu tử, tình phụ tử, tình anh em…

- Vấn đề về các quan hệ xã hội: tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…

- Vấn đề về cách ứng xử, đối nhân xử thế của con người trong cuộc sống

1 Hình thức

- Dạng ngắn: Một câu ca dao, tục ngữ, danh ngôn, châm ngôn, câu thơ…

- Dang dài: Một bài thơ/truyện ngắn mang ý nghĩa triết lí…

2 Cách làm bài

Trang 7

I Mở bài:

- Dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận

- Nêu vấn đề cần nghị luận ra (trích dẫn)

- Phải làm gì về vấn đề đưa ra nghị luận (có tính chuyển ý)

II Thân bài:

* Bước 1: Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận (…).

Tùy theo yêu cầu đề bài có thể có những cách giải thích khác nhau:

- Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề

Giải thích nghĩa đen của từ ngữ, rồi suy luận ra nghĩa bóng, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa,

nội dung vấn đề

- Giải thích mệnh đề, hình ảnh trong câu nói, trên cơ sở đó xác định nội dung, ý nghĩa của

vấn đề mà câu nói đề cập

 Rút ra luận đề cần bàn bạc

* Lưu ý: Tránh sa vào cắt nghĩa từ ngữ ( theo nghĩa từ vựng)

* Bước 2: Phân tích và chứng minh những mặt đúng của tư tưởng, đạo lí cần bàn luận (…)

Bản chất của thao tác này là giảng giải nghĩa lí của vấn đề được đặt ra để làm sáng tỏ tới

cùng bản chất của vấn đề Phần này thực chất là trả lời câu hỏi: Tại sao? (Vì sao?) Vấn đề được

biểu hiện như thế nào? Có thể lấy những dẫn chứng nào làm sáng tỏ?

* Bước 3: Bình luận, đánh giá (bàn bạc, mở rộng, đề xuất ý kiến…):

- Đánh giá vấn đề: Nêu ý nghĩa của vấn đề, mức độ đúng – sai, đóng góp – hạn chế của vấn

đề

- Phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề đang bàn luận (…)

- Mở rộng vấn đề

* Bước 4: Rút bài học nhận thức và hành động

- Từ sự đánh giá trên, rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong học tập,

trong nhận thức cũng như trong tư tưởng, tình cảm, …( Thực chất trả lời câu hỏi: từ vấn đề bàn

luận, hiểu ra điều gì? Nhận ra vấn đề gì có ý nghĩa đối với tâm hồn, lối sống bản thân? )

- Bài học hành động - Đề xuất phương châm đúng đắn, phương hướng hành động cụ thể

( Thực chất trả lời câu hỏi: Phải làm gì? …)

III Kết bài:

- Khẳng định chung về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận ở thân bài (…)

- Lời nhắn gửi đến mọi người (…)

MỘT SỐ BÀI LÀM THAM KHẢO (NGHỊ LUẬN XÃ HỘI)

*Tư tưởng đạo lý:

Đề: “Sống là một nỗ lực liên tục để vượt thoát khỏi mọi định kiến trong mình” Hãy trình bày suy

nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên ?

Bài làm

Đã bao giờ bạn rụt rè trước đám đông chỉ vì những ánh nhìn không thân thuộc? Đã bao giờ bạn thu mình vào góc tối chỉ vì mong muốn thám hiểm những miền hoang sơ của bạn bị người ta xem là ‘phù phiếm’ và ‘không thực tế’? Cuộc sống cứ thế xoay vần, bạn cam chịu bó mình trong những giới hạn, rồi lại rập cùng một chiếc khuôn ấy lên người khác Những bản sao hàng loạt ấy cứ dần dần xuất hiện, nhân lên, tràn lan Những thành kiến cứng nhắc, những giới hạn giăng mắc khắp nơi sẽ trở thành ào cản cho bao nhiêu ước vọng của con người Xã hội này sẽ ra sao nếu tất cả chỉ bám theo một con đường mòn? Tương lai sẽ ra sao nếu đôi chân ta không dám bước theo tiếng gọi của trái tim? Băn khoăn trước thực tế đáng buồn ấy, một triết nhân đã chiêm nghiệm: “Sống là một nỗ lực liên tục để vượt thoát mọi định kiến trong mình.”

Trang 8

Từ thuở sơ khai, loài người đã luôn khao khát hướng về ánh sáng, luôn mơ về một cuộc đích thực

“Sống hay không sống, đó chính là vấn đề” – danh ngôn của nhà soạn kịch vĩ đại Shakespear đến tận ngày nay vẫn vẹn nguyên ý nghĩa, vẫn là niềm trăn trở của biết bao người Sống trên đời thật không đơn giản một chút nào Nó là cả một hành trình trải nghiệm, bứt phá, đối đầu Con người đâu phải là giống rùa rụt cổ mãi mãi vác chiếc mai trên mình; con người chính thực là loài đại bàng kiêu hãnh luôn đối mặt với sóng gió để nâng mình lên chín tầng cao Để được sống chân chính, con người phải sẵn sàng đương đầu với bao

kẻ thù bủa vây

Một trong những kẻ thù lớn nhất của con người chính là “định kiến” Nó là thứ cản trở hành trình đến thành công và hạnh phúc của bao người “Định kiến” chính là những suy nghĩ, những đánh giá một cách cảm tính về cuộc sống và con người đã hằn thành ‘nếp’, đã trở nên mặc định bên trong não bộ trước khi ta kịp nhận thêm thông tin gì liên quan đến sự vật, sự việc ấy Một con người có định kiến sẽ luôn nhìn đời dưới góc độ hạ thấp, tiêu cực, chủ quan, khô cứng, như đóng đinh chắc nịch chẳng thể đổi thay Dưới cặp mắt định kiến tất cả những quan điểm mới mẻ khác với mình hay đối lập với mình đều không thể chấp nhận được

Cần phân biệt giữa ‘chính kiến’ với ‘định kiến’ Chính kiến là suy nghĩ cá nhân, không bị ràng buộc bởi bất cứ ai; cũng là một quan điểm riêng, nhưng quan điểm ấy sẵn sàng tiếp nhận những quan điểm khác để hoàn thiện bản thân mình Nhưng định kiến thì khác Người mang định kiến sẽ răm ắp tuân theo những suy nghĩ đã trở thành khuôn mẫu Họ áp cái khuôn ấy vào bất kì ai họ tiếp xúc Chỉ cần ai đó khác cái khuôn ấy, dẫu một chút thôi là họ đã không thể chấp nhận nổi Họ bàn tán, xa lánh, gạt bỏ đi ‘kẻ khác biệt” kia Họ đóng khung lên tất cả, đồng thời cũng tự đóng khung chính mình trong một thế giới chật hẹp Việc thay đổi định kiến là vô cùng khó, bởi nó đã hằn sâu trong tiềm thức

Định kiến là thứ tiêu cực nhưng lại có sức tồn tại lâu dài bởi nó thường bám rễ vào đám đông, lại

có sức lây lan bởi nó ‘được truyền thụ mà thành’ (DaShanne Stokes) Thứ ‘truyền thụ’ ấy lại đi vào tiềm thức, chi phối cách nhìn nhận, cách suy nghĩ, thậm chí nó định hình cả con người bạn Không thể phủ nhận, luôn có một định kiến nằm trong chính mỗi chúng ta, điều khiển ta; có những lúc, định kiến ăn sâu vào cả

xã hội, làm thành cả một hệ tư tưởng chi phối loài người hằng thế kỉ Đó cũng chính là thử thách mà cuộc đời đặt ra cho loài người, chịu thua nó, ta mãi mãi quẩn quanh trong những con hẻm chật hẹp; vượt được

nó, trước mắt sẽ là trời cao biển rộng thênh thang Chính vì vậy, “Sống” là tháo bỏ những “Định kiến bên trong mình”, vượt qua định kiến bản thân, ta sẽ nỗ lực kiện toàn cuộc sống Cuộc sống tốt đẹp, sức sống mạnh mẽ, đời sống hạnh phúc, tất cả tùy vào nỗ lực vượt rào của bạn

Như đã nói, định kiến là rào cản lớn nhất của con người, có khi nó chi phối cả một xã hội qua hằng thế kỉ, khiến bao nhiêu giá trị đáng lẽ được nâng niu lại bị vùi dập, bao nhiêu chân lí bị bỏ sót, bao nhiêu cảnh khổ đau khốn cùng Còn mang định kiến, ta sẽ không thể nào mở rộng lòng ra để chấp nhận những điều mới mẻ, những quan điểm khác hay là đối lập với mình Thậm chí ta sẽ ra sứ chì chiết, tiêu diệt những quan điểm mới khi nó còn mới manh nha Còn mang định kiến ta sẽ nhìn đời, nhìn người một cánh sai lệch,

từ đó trở nên ích kỉ, nhỏ nhen

Đã có một thời, người ta khinh rẻ những người làm nghề hát xướng, coi đó là thứ rẻ rung, là

“Xương ca vô loài” Đã có một thời, số phận người phụ nữ bị buộc bởi ‘tam tòng tứ đức’, bị coi khinh, làm kiếp cò lặn lội với thân phận bèo bọt trong đêm trường tăm tối Rồi cũng một thời, giáo hội gạt phắt đi, thậm chí là xử tử, lưu đày những nhà khoa học chỉ vì họ khám phá ra một điều ngược với định kiến xưa nay, chỉ vì họ dám tuyên bố: ‘trái đất quay quanh mặt trời’

Một vị vua Phổ đã từng nói: “Lạc thú cao quý và vĩ đại nhất của con người là khám phá ra những chân lí mới, tiếp sau đó là gạt bỏ những định kiến cũ.” Định kiến là hòn đá lớn luôn luôn chắn đường, phải đẩy nó ra thì ta mới tiến bước được Hòn đá lớn ấy, tôi không thể nâng một mình, bạn không thể nâng một

Trang 9

mình, mà cả tôi và bạn đều phải cùng nâng, phải luôn luôn nỗ lực để dẹp bỏ mọi chướng ngại Quả vậy, theo từng bước tiến văn minh, xướng ca rồi đã trở thành một loại hình nghệ thuật tuyệt vời; người phụ nữ

đã và đang không ngừng chứng tỏ tài năng, vị thế của mình; và trái đất muôn đời vẫn cứ xoay quanh mặt trời mà thôi… Tất cả những bước tiến tuyệt vời ấy, sự phát triển của nhân loại ấy, chẳng phải là nhờ sự tiếp thu điều mới và loại trừ định kiến hay sao?

Sự bảo thủ của con người không chỉ vì suy nghĩ cá nhân, mà còn bởi sự kiêu ngạo và lòng tự tôn phụ trợ Thứ chất độc mang tên định kiến ấy cứ làm hoen đi đôi mắt mà đáng ra phải nhìn đời một cách sáng trong

Kẻ ấp ủ định kiến, một xã hội đầy định kiến, thì thay vì nhìn tia sáng bảy màu rực rỡ, họ chỉ nhận đúng một màu đơn điệu mà thôi Rồi những kẻ ấy, mãi mãi chỉ là con ếch ngồi trong đáy giếng, an yên với cái bầu trời nhỏ bé của mình Định kiến là sợ sự đổi thay, họ sợ mất đi cái cuộc sống bình bình đang có, họ không dám đón nhận điều gì khác hơn cái họ biết – dù điều đó là chân lí Chính điều đó đã kéo cả xã hội trì trệ và tụt dốc Một hiền triết đã chiêm nghiệm: “Cuộc sống thường không chật hẹp ở ngôi nhà, góc phố hay những con đường, mà chính trong những định kiến của con người.” - cuộc sống ấy thu hẹp trái tim, đóng kín cảnh cửa tri thức, và làm mòn cả đời người, cả đời nhân loại Tiếng thét đau khổ của Chí Phèo làm xót thấu tâm can bao người kia là do nguyên cớ gì? Vì đâu mà Nam Cao lại trở thành một nhà văn lớn? Chẳng phải vì trong cái bóng tối cuộc đời ấy, ông đã tìm ra một thứ sát nhân còn khủng khiếp hơn cường quyền và bạo lực – thứ giết người không dao – là định kiến xã hội hay sao Chí Phèo chính là nạn nhân của định kiến Cách tư duy một chiều, những tâm hồn định kiến xơ cứng kia đâu có đón nhận nổi màu sắc hồi sinh của Chí Họ dè bỉu, xa lánh, tàn nhẫn đẩy Chí ra khỏi cõi người Định kiến làng Vũ Đại vẫn xem hắn là loài quỷ dữ, họ ích kỉ muốn khư khư giữ cái xã hội của mình cho êm đềm mà mặc kệ ngoài kia một tâm hồn rỉ máu Tôi khẳng định rằng, Chí Phèo không chỉ là truyện, không chỉ là một sản phẩm của hư cấu, mà xã hội

từ thời của Nam Cao, hay còn trước đó nữa, cho đến tận bây giờ, vẫn còn tồn đọng thứ định kiến ích kỉ làm con người sẵn sàng đẩy con người ra xa như thế

“Cuộc sống đã đủ khắc nghiệt rồi, đừng đi loanh quanh khiến cuộc sống trở nên khốn khổ chỉ vì bạn

có thể làm thế, bạn không biết họ đã phải trải qua những gì” Ngày nay, vẫn nhức nhối vết thương của những cảnh đời khốn khổ khi vẫn còn đó những con người kì thị bệnh nhân bị HIV/AIDS, vẫn còn đó những bộ mặt khinh khỉnh của những ngườigiàu nhìn những người lao động nghèo, vẫn còn kia cuộc đấu tranh bình đẳng giới và vươn xa hơn, tiếng súng của cuộc chiến tranh tôn giáo, sắc tộc vẫn còn chưa nguôi Định kiến cố hữu đâu chỉ làm tổn thương người khác, nó còn làm nhức nhối cả chính bản thân mình Nelson Mandela, vị tổng thống Nam Phi cả một đời đấu tranh cho quyền của người da đen – chống lại phân biệt sắc tộc, lại lo lắng khi bước lên một chuyến bay có phi cơ trưởng là người da đen, ông đau đớn nhận ra tự bao giờ, định kiến của xã hội cũng đã thâm nhập vào ông, làm ông đã có khoảnh khắc đi ngược lại với lí tưởng cả đời mình

Quyền được yêu thương, quyền sống thật với chính mình là quyền bất khả xâm phạm của mỗi con người Vậy mà bao nhiêu trái tim khát yêu của con người lại bị xã hội vùi dập, chỉ bởi họ cảm thấy tình yêu đồng giới là ‘trái với tự nhiên’ Họ ngăn cấm, xúc phạm, kì thị những người đồng tính, đòi loại trừ tình yêu theo họ là ‘không bình thường’ ấy ra khỏi cuộc đời này – chỉ vì định kiến Định kiến ấy cũng lại làm chính những con người vốn chỉ muốn yêu thương ấy cảm thấy tự ti, xấu hổ với chính mình Họ hoặc giấu mình

đi, hoặc chìm vào sa đọa, hoặc tự sát Không ít những người con đã để lại mảnh giấy ‘Xin lỗi mẹ vì con là người đồng tính’ rồi ra đi Đau đớn lắm, khi phải xin lỗi vì đã là chính mình!

“Đàn bà con gái thì biết gì!” – Không chỉ một lần tôi nghe câu nói ấy vuột ra từ miệng người đối diện Tôi từng chứng kiến một người chị bị chồng bạo hành, nhưng sau đó chị vẫn ráng nuốt nước mắt mà sống tiếp với kẻ vũ phu ấy Khi tôi hỏi, chị chỉ cười cay đắng: “Phận con gái sinh ra đã khổ rồi, biết sao được hả em?” Chị ơi! Sao chị lại phải tự ti như thế? Tại sao chị lại phải thu mình như thế, chị ơi? Ai bảo

Trang 10

phận chị phải khổ? Ai bảo kiếp đàn bà chỉ được quẩn quanh góc bếp? Chính chị đã vô tình tự đặt định kiến lên mình Thứ định kiến ấy vẫn là một cây kim nhức nhối trong quả tim nhân loại dẫu trải qua hàng thập kỉ, dẫu con người đã khoác lên mình bộ mặt hiện đại, văn minh Thế mới biết, định kiến đáng sợ đến thế nào Cuộc chiến chống lại định kiến bên trong mình là một cuộc chiến khốc liệt đòi hòi sự ‘liên tục’ và nỗ lực không ngừng Và con đường chống lại định kiến ấy duy chỉ có một, ấy là giữ vững bản tâm, sẵn sàng

mở rộng lòng ra mà ‘đón nhận lấy mọi vang động của đời’ Phải “tìm mà hiểu” nhau, cũng như Elizabeth

và Darcy trong tiểu thuyết ‘Kiêu hãnh và định kiến’, chỉ có thể giành thời gian để tâm thấu hiểu người khác, học cách tư duy phản biện, thì mới có thể dẹp bỏ định kiến trong mình

Thay vì sẵn sàng phủ nhận, bạn hay thay đổi góc độ nhìn đi một chút, rằng ý kiến mới ấy không phải chống lại ta, đảo lộn cuộc sống của ta, mà nó giúp ta hoàn thiện mình hơn mà thôi Hãy mang đôi mắt sáng trong của trẻ thơ mà tò mò quan sát thế giới này Bạn biết đấy, đời quá rộng lớn để bạn có thể ôm chứa, vì vậy, hãy chuyển từ thái độ khẳng định sang một thái độ học hỏi và tìm những điểm hay của người khác Tầm mắt ta lúc ấy sẽ mở rộng ra nhiều lắm, ta đều từng nghe: “Đời thay đổi khi ta thay đổi”, và những hòn đá chắn đường kia không nặng đến vậy đâu

Cuộc đời sinh ra con người là một vòng tròn với định kiến hiện hữu như thứ axit ăn mòn dần sự hoàn mỹ.Vượt thoát khỏi những định kiến, ta khỏa lấp mảnh khuyết, hoàn thiện đời mình Muốn thay đổi người, trước hết hãy tự thay đổi chính mình Bạn nhấc bỏ hòn đá định kiến mà bạn đặt lên vai người khác, thì sức nặng trên đôi vai bạn cũng sẽ dẫn tiêu tan Trong cả tôi và bạn đều đang tồn tại định kiến bên

trong Ngày hôm nay, tôi đã bắt đầu hành động, còn bạn thì sao?

Nguyễn Lê Thảo Vi (10/2/2017) Đề: Một câu chuyện cuộc sống mà anh/ chị tâm đắc nhất

Bài làm Bản chất của thành công

Đã bao giờ bạn tự hỏi thành công là gì mà bao kẻ bỏ cả cuộc đời mình theo đuổi? Phải chăng, đó là kết quả hoàn hảo trong công việc, sự chính xác đến từng chi tiết? Hay đó là cách nói khác của từ thành đạt, nghĩa là có được một cuộc sống giàu sang, được mọi người nể phục? Vậy thì bạn hãy dành chút thời gian

để lặng mình suy ngẫm Cuộc sống sẽ chỉ cho bạn có những người đạt được thành công theo một cách giản

dị đến bất ngờ

Thành công là khi bố và con trai có dũng khí bước vào bếp, nấu những món ăn mẹ thích nhân ngày 8-3 Món canh có thể hơi mặn, món cá sốt đáng lẽ phải có màu đỏ sậm thì lại ngả sang màu… đen cháy Nhưng nhìn mâm cơm, mẹ vẫn cười Bởi vì hai bố con không thể thành công trên “chiến trường” bếp núc, nhưng lại thành công khi tặng mẹ “đoá hồng” của tình yêu Một món quà ý nghĩa hơn cả những món quà quý giá, hạnh phúc ấy long lanh in trong mắt mẹ

Thành công còn là hình ảnh một cậu bé bị dị tật ở chân, không bao giờ đi lại bình thường được Từ nhỏ, cậu đã nuôi ước mơ trở thành cầu thủ bóng đá Sau bao nỗ lực khổ luyện, cậu bé trở thành cầu thủ dự bị trong một đội bóng nhỏ, và chưa bao giờ được chính thức ra sân Nhưng đó không phải là thất bại Trái lại, thành công đã nở hoa khi cậu bé năm xưa, với bao nghị lực và quyết tâm, đã chiến thắng hoàn cảnh để theo đuổi ước mơ từ ngày thơ bé Thành công ấy, liệu có mấy người đạt được?

Sau mỗi mùa thi đại học, có bao “sĩ tử” buồn rầu khi biết mình trở thành “tử sĩ” Hai bảy điểm, cao thật đấy Nhưng cao mà làm gì khi NV1 lấy tới hai bảy phẩy năm? Đó thật ra không phải là thất bại, chỉ là khi thành công – bị – trì – hoãn mà thôi Cuộc sống vẫn chào đón họ với NV2, NV3 Quan trọng là họ đã nỗ lực hết sức để khẳng định mình Đó là ý nghĩa vẹn nguyên của các kỳ thi, và cũng là bản chất của thành công

Ngày đăng: 02/05/2021, 01:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w