1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyen de ung dung CNTT

15 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 193,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một hướng mới trong giảng dạy, giảng dạy bằng CNTT có thể vận dụng được trong hầu hết các bậc học và môn học như: Tiếng Anh, Ngữ Văn, Lịch Sử, GDCD… Với CNTT giáo viên có thể giới[r]

Trang 1

CHUYÊN Đ Ề :

ỨNG DỤNG CÓ HIỆU QUẢ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

VÀO BÀI DẠY PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU:

1 Tính cấp thiết của vấn đề:

Trong những năm gần đây, các thành tựu của khoa học, đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) đang dần dần trở thành công cụ hữu ích đối với tất cả các lĩnh vực trong xã hội, CNTT đã làm thay đổi khá lớn đến hình thức, nội dung các hoạt động kinh tế, văn hoá và đời sống xã hội loài người Ứng dụng của CNTT ngày càng trở nên đa dạng và phong phú Do vậy, đối với nước ta hiện đang trong giai đoạn đổi mới và hội nhập, ý nghĩa và tầm quan trọng của CNTT lại càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Đối với ngành giáo dục, việc ứng dụng CNTT lại càng có ý nghĩa đặc biệt

Đó là sự góp phần tích cực trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới nền kinh tế tri thức Điều đó càng khẳng định việc ứng dụng và phát triển tin học trong nhà trường đã và đang trở thành xu thế tất yếu

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực chủ động sáng tạo của học sinh lại càng nâng cao vai trò của CNTT trong giảng dạy Đây là một hướng mới trong giảng dạy, giảng dạy bằng CNTT có thể vận dụng được trong hầu hết các bậc học và môn học như: Tiếng Anh, Ngữ Văn, Lịch Sử, GDCD… Với CNTT giáo viên có thể giới thiệu ngữ liệu mới bằng những tình huống sinh động với tranh ảnh minh họa phong phú, cùng với sự hỗ trợ công nghệ Multimedia sẽ tạo thành một giáo án hoàn hảo giúp học sinh say mê học tập, phát huy tính chủ động tìm hiểu và khắc sâu kiến thức bài học

Ngày nay sự bùng nổ của Công nghệ thông tin (CNTT) nói riêng và khoa học công nghệ nói chung đang tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của tất cả các ngành và lĩnh vực của đời sống xã hội Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bắt kịp những thay đổi lớn của thời đại, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực phát triển cao, phải có những con người năng động, sáng tạo, tự lực, tự cường… Điều đó cho thấy giáo dục và đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng, là nền tảng cho việc hoàn thiện con người và tăng trưởng kinh tế của đất nước Đầu

tư vào chất xám sẽ là cách đầu tư hiệu quả nhất cho sự hưng thịnh của một quốc gia Vì vậy giáo

dục và đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu trong chủ trương, đường lối của Bộ GD& ĐT hết

sức quan tâm

Trên thực tế, sự phát triển của khoa học công nghệ đã và đang mở ra những khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng phương tiện CNTT vào quá trình dạy học Vài năm lại đây việc sử dụng có tính sư phạm những thành quả khoa học công nghệ đã làm thay đổi lớn đến hiệu quả của quá trình dạy học, hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện dạy học Tuy nhiên qua quá trình giảng dạy, việc sử dụng phương tiện CNTT vào quá trình dạy của tổ chúng tôi bên cạch những thành công vẫn còn nhiều hạn chế

2 Đối t ư ợng, phạm vi nghiên cứu :

- Đối tượng: Học sinh bậc THCS

- Phạm vi: Bộ môn Ngữ văn, Anh văn, Lịch Sử, GDCD trong nhà trường

3 Mục đích nghiên cứu:

Trang 2

Năm học 2009 – 2010 là năm học với chủ đề “Đổi mới quản lí, nâng cao chất l ượng giáo dục” Muốn nâng cao chất lượng đòi hỏi giáo viên mỗi phân môn phải tích cực đổi mới phương pháp phù hợp với xu thế phát triển, đặc biệt là những môn xã hội, khi vai trò của giáo dục đạo đức, nhân cách sống, ý thức bảo vệ môi trường và kĩ năng giao tiếp đang được toàn ngành giáo dục quan tâm Trong

đó ứng dụng CNTT cũng đóng góp một phần không nhỏ

4 Kế hoạch nghiên cứu:

- Tháng 8 – 2009 hình thành ý tưởng, đặt tên chuyên đề

- Tuần 1,2 tháng 9 – 2009 khào sát tiết dạy, thống nhất đặt tên chuyên đề: “Ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin vào bài dạy”

- Tuần 3 - 4 tháng 9 – 2009 khảo sát học sinh, viết dàn ý

- Tuần 1- 2 tháng 10 – 2009 tiếp tục khảo sát tiết dạy, viết đề cương

- Tuần 3 - 4 tháng 10 hoàn thành chuyên đề, triển khai – minh hoạ

- Tháng 10 đến 3 thao giảng đại trà

- Tháng 4,5 tổng kết, rút kinh nghiệm

PHẦN II: NỘI DUNG:

1 C ơ sở lí luận và thực tiễn :

a C ơ sở lí luận :

Chỉ thị số 47/2008/CT-BGDĐT của Bộ GD-ĐT về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2008-2009

có chỉ ra những việc phải làm của năm học ứng dụng CNTT:

- Đẩy mạnh một cách hợp lý việc triển khai ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy

và học ở từng cấp học.

- Tích cực chuyển sang khai thác, sử dụng và dạy học bằng phần mềm mã nguồn mở.

- Xây dựng chương trình giảng dạy CNTT theo các mô-đun kiến thức để đáp ứng nhu cầu học tập một cách mềm dẻo.

- Ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học, từng bước đổi mới phương pháp dạy học thông

qua việc thực hiện bài giảng điện tử, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử cho học tập từng môn, tăng cường giao lưu trao đổi bài soạn qua mạng; phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet

Theo tiến sĩ Quách Tuấn Ngọc, Cục trưởng cục CNTT của Bộ GD&ĐT thì : “Trong năm học

ứng dụng CNTT, cần tạo ra bước ngoặt mới về việc làm bài giảng điện tử theo công nghệ e-Learning như: cộng tác làm việc, hợp lực và chia sẻ tài nguyên dùng chung Cho nhiều thì cũng nhận được nhiều”.

“Tích hợp CNTT…sẽ làm cho chương trình đào tạo trở nên hấp dẫn hơn, gần hơn với yêu cầu dạy – học ở nhà trường phổ thông, đáp ứng được yêu cầu đổi mới của ngành giáo dục, tiếp cận được với xu thế dạy – học hiện đại của thế kỉ XXI …”

TS Đỗ Ngọc Thống từng nhấn mạnh:“Đã đến lúc nếu không muốn nói là quá muộn, cần

nghiên cứu và triển khai việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở bộ môn Ngữ văn một cách rộng rãi, đúng hướng và có hiệu quả.”

Như vậy, ứng dụng CNTT thực chất là sử dụng thành thạo các phương tiện hiện đại như máy tính, các phần mềm hỗ trợ, truy cập Internet, biết dùng E-mail để trao đổi thông tin, biết hợp tác … Tiếp xúc và làm việc với phương tiện hiện đại, giáo viên có cơ hội thay đổi tư duy, thay đổi phong cách làm việc và hình thành tính năng động, sáng tạo phù hợp với yêu cầu mới của thời đại

b C ơ sở thực tiễn :

- So sánh những gì chúng ta đang có với những yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong chỉ thị của Bộ, chúng ta còn thiếu rất nhiều

Trang 3

- Thể hiện rõ rệt nhất trong ứng dụng CNTT là xây dựng những bài giảng bằng trình chiếu Đây là vấn đề của mọi thầy cô trong trường nói chung và trong tổ chúng tôi nói riêng Ai cũng băn khoăn phải trình chiếu như thế nào để bài dạy có hiệu quả nhất? Từ chỗ chỉ dạy một số tiết trong một năm học đến phải sử dụng máy thường xuyên và sử dụng thế nào cho thành công không phải là chuyện dễ

- Sử dụng theo hướng nào cho có hiệu quả? Thật sự khó có câu trả lời thỏa đáng Chúng tôi rút kinh nghiệm qua năm học trước, từ dự giờ khảo sát, từ tham khảo một số trên giảng qua Internet.Trước đây, đa số chúng ta thường tiến hành giảng dạy theo mô hình trình chiếu một bài hoàn chỉnh Qua những bài dạy đầu, chúng tôi đã nhìn thấy những bất ổn trong quan niệm về trình chiếu và thiết kế trình chiếu Giáo viên thiết kế bài dạy theo kiểu “đóng khung kiến thức”, “đóng khung tiếp nhận” Nghĩa là toàn bộ nội dung, tiến trình dạy học đã có sẵn trong các slides và giáo viên phụ thuộc hoàn toàn vào những gì đã chuẩn bị Có giáo viên quan niệm trình chiếu để khỏi viết bảng; có giáo viên khi thiết kế bài giảng trên PowerPoint, Violet thì cố tìm những hiệu ứng “lạ”; phông nền “rực rỡ màu sắc”, chữ quá nhiều và nhỏ, trình chiếu lại nhanh khiến học sinh kéo tiếp thu bài! Ngày trước, thỉnh thoảng mới học bằng trình chiếu, h ọc sinh hứng thú vì lạ Còn bây giờ, có buổi học đế ỉnh - 4 tiết bằng máy chiếu thuộc nhiều môn học khác nhau, học sinh làm sao không mỏi mắt nếu cách dạy biến màn hình thay bảng, thay nghe - ghi bằng nhìn - chép? Chính vì vậy tổ chúng tôi thống nhất chọn chuyên đề: “Ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin vào bài dạy”

2 Thực trạng:

* Đối với môn Ngữ văn:

- Từ kết quả khảo sát trên, có thể thấy việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn theo hướng vận dụng CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại đã mang lại những hiệu quả nhất định

- Lợi ích quan trọng nhất là một số học sinh không còn sợ, không còn chán ghét môn Văn nữa Đây chính là điều kiện cần thiết để Văn chương thực thi sứ mệnh giáo dục nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh Thật vậy, nếu học sinh không thích học Văn thì làm sao các em có thể lĩnh hội những bài học về cuộc sống được ẩn chứa trong các tác phẩm văn chương?

- Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn Ngữ văn còn tồn tại không ít những hạn chế cần khắc phục:

- Như đã nói ở trên, dạy – học Ngữ văn không đơn thuần chỉ là cung cấp kiến thức, kỹ năng cần thiết mà còn dạy cách tiếp nhận tác phẩm, bồi dưỡng năng lực cảm thụ và năng lực ngôn ngữ Hoạt động này đòi hỏi người thầy phải vận dụng nhiều phương pháp, phương tiện dạy học khác nhau một cách linh hoạt, phù hợp Nếu ứng dụng CNTT không có sự chọn lọc cho đúng tính chất, nội dung, cách thức hoặc ứng dụng CNTT một cách thái quá, cả giờ dạy giáo viên chỉ click chuột và

…click chuột thì sẽ làm mất hết cảm xúc tự nhiên, làm hạn chế chất văn, chất thơ trong từng bài dạy Như vậy, hiệu quả sẽ không như mong muốn

- Hiện nay nhiều giáo viên đã cố gắng ứng dụng CNTT vào dạy học tuy nhiên trong quá trình giảng dạy vẫn còn nặng về hình thức, mang nặng tính chất trình diễn với nhiều hình ảnh, hiệu ứng rối mắt Nhiều giờ dạy giáo viên còn ôm đồm, tham lam nhồi nhét các loại thông tin, phim, ảnh làm mất thời gian nhưng hiệu quả giờ dạy không cao

- Trong tiến trình lên lớp với bài giảng điện tử, một số giáo viên thao tác quá nhanh, học sinh không kịp chép bài, ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và mức độ hiểu bài của các

em không cao Bên cạnh đa số học sinh tiếp cận nhanh chóng với phương pháp học mới này vẫn còn một số học sinh chưa thật thích nghi với phương pháp học hiện đại này, chỉ thụ động ngồi nghe, xem phim, ảnh và sôi nổi bình luận hoặc say sưa nghe thầy giáo giảng quên cả việc ghi bài Một số

Trang 4

khác gặp khó khăn trong việc ghi chép bài: không biết lựa chọn thông tin, nội dung chính để ghi vào bài học, ghi chậm hoặc không đầy đủ

* Đối với môn Anh văn:

- Ở bậc THCS, việc học tiếng Anh nói riêng là một môn học rất mới mẻ Để giúp cho các em học sinh bước đầu có những khái niệm cơ bản về môn học cũng như làm quen với một ngôn ngữ mới, đòi hỏi giáo viên phải thật khéo léo trong việc giới thiệu ngữ liệu mới, giáo viên cần phải dùng giáo cụ minh họa một cách thật chính xác

- Vì vậy, khi muốn các em làm quen với một từ vựng mới giáo viên sẽ dùng nhiều hình thức khác nhau để minh họa như sử dụng tranh, ảnh, tình huống… nhờ những các phần mềm hỗ trợ, học sinh được tiếp cận với kiến thức và hoạt động gần với thực tế hơn, thay vì hình thức tiếp thu kiến thức qua bài giảng của giáo viên như trước đây hoặc qua tham khảo sách báo Học sinh được quan sát các hình ảnh thực tế được nhiều góc độ, đoạn phim tư liệu có tính trực quan sinh động, dễ tiếp thu

- Do vậy, học sinh được lĩnh hội kiến thức nhanh hơn và vững chắc hơn Mặt khác nếu như

có sự chuẩn bị chu đáo từ phía giáo viên khi soạn giảng, học sinh có thể tiếp thu một lượng kiến thức lớn và khó trong một thời gian ngắn

- Tuy nhiên qua khảo sát tiết dạy chúng tôi củng nhận thấy được nhiều học sinh yếu chưa tiếp thu được bài do giáo viên trình chiếu nhanh, việc kết hợp giữa trình chiếu và ghi bảng chưa được tốt

* Đối với môn Lịch sử:

- Dạy học lịch sử là quá trình giúp học sinh tìm hiểu những gì đã diễn ra ở quá khứ, và mục tiêu của bộ môn lịch sử chính là việc giúp học sinh biết quá khứ, hiểu quá khứ đồng thời rút ra những bài học từ quá khứ để vận dụng vào trong cuộc sống hiện tại và tương lai Hay nói cách khác

đó cũng chính là quá trình giúp học sinh nắm kiến thức và hình thành kĩ năng, kĩ xảo và vận dụng kiến thức, kĩ năng đó vào giải quyết những vấn đề của cuộc sống Vấn đề khó khăn nhất của bộ môn lịch sử là việc tái hiện những sự kiện, những hiện tượng và nhân vật lịch sử Để biết, hiểu và vận dụng lịch sử yêu cầu các em phải tái hiện lịch sử một cách chính xác, sinh động, tránh hiện tượng hiện đại hoá lịch sử

- Nhưng làm được điều đó cũng không đơn giản, hiện nay giáo viên chủ yếu chỉ dựa vào thủ pháp trình bày miệng, tường thuật, tích cực hơn là có sự kết hợp với một số phương tiện tối thiểu như tranh ảnh, bản đồ (với số lượng không nhiều) Chính vì những lẽ đó cho nên hiệu quả của các tiết dạy vẫn chưa cao thậm chí học sinh cảm thấy không có hứng thú khi tìm hiểu bộ môn lịch sử Vậy để quá trình dạy học lịch sử đạt hiệu quả chúng ta cần có những hướng đi mới, những thủ pháp mới để kích thích khả năng nhận thức và hứng thú cho học sinh

* Đối với môn GDCD:

- Từ trước đến nay, các môn khoa học xã hội, nhất là môn GDCD rất ít sử dụng phương tiện

dạy học, chủ yếu là sách giáo khoa, phấn trắng, bảng đen… việc sử dụng băng hình, đĩa CD, máy chiếu Overhead, Projector, máy vi tính và các phương tiện dạy học hiện đại khác nhìn chung vẫn còn hạn chế, thậm chí là còn xa lạ với nhiều giáo viên

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên:

- Trước hết GDCD là môn khoa học xã hội, nội dung thiên về lý luận và mang tính trừu tượng cao, nên việc đầu tư thiết bị dạy học của môn học này còn rất hạn chế, dường như không có gì

và thực tế cũng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về sử dụng thiết bị dạy học ở môn học này

- Một số giáo viên vẫn chưa nhận thức được vai trò và tác dụng của phương tiện dạy học, chưa đầu tư suy nghĩ về cách thức sử dụng phương tiện dạy học một cách có hiệu quả Một số giáo viên vẫn còn quen với cách dạy cũ, hoặc ngại sử dụng CNTT do tốn thời gian, công sức

Trang 5

Thực tế những năm gần đây, việc đổi mới chương trình và nội dung sách giáo khoa đã được triển khai đồng bộ: từ nội dung, phương pháp, phương tiện đến kiểm tra, đánh giá Vì vậy, việc sử dụng thiết bị dạy học trong các bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội cũng như bộ môn GDCD có nhiều chuyển biến khá tích cực Nhiều giáo viên đã ứng dụng CNTT vào dạy học một cách tích cực

và có hiệu quả Với sự hỗ trợ của máy tính, Projector, những sơ đồ minh họa, tranh ảnh, băng hình… đã phục vụ thiết thực cho tiết dạy, không chỉ giúp giáo viên tiết kiệm thời gian và công sức

mà còn tăng hiệu quả đáng kể cho quá trình dạy học

- Tuy nhiên, việc dùng giáo án điện tử, sử dụng máy tính, Projector, truy cập mạng Internet phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy đối với bộ môn GDCD là chưa nhiều, đôi lúc chỉ dừng lại ở những tiết dạy thao giảng hay có người dự giờ… Phần lớn giáo viên lên lớp vẫn dùng các phương pháp dạy học (PPDH) truyền thống, chủ yếu là phương pháp thuyết trình và trình bày bài giảng bằng phấn trắng, bảng đen Nhiều giáo viên cũng đã mạnh dạn ứng dụng CNTT đổi mới phương pháp giảng dạy, song khi soạn giáo án điện tử vẫn chưa nắm được những tiêu chí cơ bản của một bài giảng điện tử Vì vậy vẫn còn tình trạng lạm dụng màu sắc, hiệu ứng, âm thanh hoặc đưa quá nhiều thông tin, phim ảnh không phù hợp làm giảm hiệu quả giờ dạy

Từ thực tế trên cho thấy sự cần thiết phải triển khai rộng rãi việc ứng dụng CNTT vào dạy học có tính đồng bộ, đúng hướng và có hiệu quả hơn

3 Giải pháp:

a Đối với môn Ngữ Văn:

- Đối với giáo viên, việc soạn bài với những ứng dụng của CNTT cũng mang lại những hiệu quả khác biệt Bản thân giáo viên phải thường xuyên cập nhật kiến thức về chuyên môn và Tin học

để tự nâng cao tay nghề Đặc biệt khi bắt tay vào soạn một bài dạy có vận dụng CNTT, giáo viên thật sự bị cuốn hút và càng làm nhiều thì càng thích thú và nảy sinh thêm nhiều ý tưởng Từ đó lòng yêu nghề và sự sáng tạo cũng được bồi đắp

- Để phục vụ cho công tác giảng dạy, kho tư liệu là điều kiện cần thiết và đặc biệt quan trọng Nhưng hiện nay ở môn học này, các đồ dùng trực quan hầu như không có, tranh ảnh minh họa trong sách giáo khoa không nhiều Chính vì vậy bản thân giáo viên phải chú trọng xây dựng thư viện tư liệu phục vụ tốt cho công tác giảng dạy

- Trước đây giáo viên xây dựng kho tư liệu bằng cách đọc, tham khảo tài liệu, sách, báo và chép lại những thông tin cần thiết vào sổ tích lũy chuyên môn

- Hiện nay việc ứng dụng CNTT giúp giáo viên xây dựng thư viện tư liệu thuận lợi, phong phú, khoa học hơn và không mất nhiều thời gian như trước đây Việc khai thác tư liệu có thể lấy từ các nguồn:

+ Khai thác thông tin, tranh, ảnh, tư liệu bài giảng từ mạng Internet

+ Khai thác từ băng hình, phim video, các phần mềm, tranh ảnh, sơ đồ, hình vẽ thông qua chức năng cung cấp thông tin của Internet

- Muốn bài học trở nên sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh do có nhiều minh họa sống động, cụ thể với phim tư liệu (Về môi trường, đề tài chiến tranh, Lão Hạc, Phong cách Hồ Chí Minh…); tranh ảnh, chân dung (Các giờ văn học sử và phần giới thiệu tác giả, tác phẩm ở bài giảng văn); khúc ngâm, bài hát (Giảng văn bài “Quê hương” - lớp 8”, “Đồng chí, Viếng Lăng Bác – lớp 9” .) hoặc các sơ đồ, bảng biểu, trò chơi ô chữ giúp hệ thống, khái quát hóa bài học trong giờ ôn tập, ngoại khoá Giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian thuyết giảng và không quá vất vả khi giới

Trang 6

thiệu, miêu tả, thể hiện những nội dung kiến thức mới Từ đó học sinh dễ tiếp thu bài học Hơn nữa bài học đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm trí học sinh

- Từ đó học sinh trở nên năng động và sáng tạo hơn Kiến thức các em tự tích lũy từ kho tư liệu khổng lồ Internet qua các giờ thực hành giúp bổ sung và khắc sâu những kiến thức từ sách giáo khoa Giáo viên không còn độc diễn, thay vào đó học sinh được tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu phong phú Bài học cũng được thiết kế linh hoạt theo đặc trưng bộ môn hoặc nội dung bài học (ví dụ phần luyện tập củng cố và các giờ ôn tập là một trò chơi ngôn ngữ mô phỏng trò chơi Ghép hoa, Trúc xanh hoặc Giải ô chữ; giờ làm văn học sinh được thực hành bằng các bài tập thuyết trình Powerpoint …) Nhờ đó giờ học không còn khô cứng và mang tính áp đặt, giáo điều

- Khai thác các đoạn phim về các tác giả văn học, các tác phẩm văn học được chuyển thể thành phim hoặc bài hát, khúc ngâm …cần thực hiện thao tác: Mở các băng hình, các đĩa CD - Rom, lựa chọn các đoạn phim có thể làm tư liệu giảng dạy, sử dụng phần mềm cắt các đoạn phim rồi lưu vào máy tính thành các file dữ liệu trong thư viện tư liệu để phục vụ giảng dạy…

- Từ các nguồn khai thác trên giáo viên sẽ lưu trữ cho mình một thư viện tư liệu phong phú,

đa dạng để phục vụ cho công tác giảng dạy Tuy nhiên cần lưu trữ thành từng file dữ liệu để dễ dàng

tìm kiếm khi sử dụng

- Các phần mềm thiết kế bài giảng điện tử thường được sử dụng trong dạy học Ngữ văn: + Phần mềm CNTT được giáo viên Ngữ văn sử dụng phổ biến nhất hiện nay là phần mềm Powerpoint Đây là phần mềm đơn giản, dễ thiết kế trình chiếu và có tác dụng tích cực, rõ nét nhất Khi giới thiệu, trình bày và khái quát nội dung bài học, mỗi slide được coi là một bộ phận cũng là một hệ thống con trong hệ thống các nội dung mà bài học cần thể hiện Ở mỗi slide, giáo viên có thể chọn hiệu ứng, đưa các tư liệu (phim, ảnh, nhạc, bài đọc tác phẩm …) làm cho bài giảng sinh động lôi cuốn hơn

+ Bên cạnh Powerpoint là phần mềm Violet, phần mềm thiết kế bài giảng điện tử của Công ty Bạch Kim, với giao diện trực quan, dễ dùng, ngôn ngữ giao tiếp hoàn toàn bằng tiếng Việt rất thuận lợi cho giáo viên Phần mềm này cũng cung cấp một hệ thống các công cụ soạn thảo giúp giáo viên soạn bài giảng nhanh chóng Trong quá trình soạn giáo án, Violet còn cung cấp sẵn nhiều mẫu bài tập chuẩn thường được sử dụng trong sách giáo khoa, sách bài tập (như bài tập trắc nghiệm, bài tập

ô chữ, bài tập kéo thả chữ/kéo thả hình ảnh …), ngoài ra Violet còn hỗ trợ nhiều module cho từng môn học giúp giáo viên tạo được những trang bài giảng chuyên nghiệp Sau khi soạn thảo xong, phần mềm cho phép xuất bài giảng ra thành một sản phẩm chạy độc lập có thể copy vào đĩa mềm, USB hoặc CD để chạy trên các máy tính khác mà không cần chương trình Violet …

- Đa dạng hóa các phương pháp dạy học:

+ Bên cạnh ứng dụng CNTT được coi là phương pháp hiện đại góp phần tích cực cho đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên cần chú ý đa dạng hóa các hình thức dạy học, phải biết kết hợp với các phương pháp dạy học khác như: nêu vấn đề, phương pháp đàm thoại, thuyết trình, làm việc theo nhóm, hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu

+ Tùy theo đặc điểm của từng chương, từng bài, tùy theo đối tượng học sinh để sử dụng các phương pháp giảng dạy thích hợp mới có thể đạt được hiệu quả cao trong dạy và học

Ví dụ 1: Khi dạy bài “Viếng Lăng Bác” - l ớp 9: giáo viên có thể trình chiếu một số hình ảnh

về lăng Bác: đoàn người, hàng tre, lăng; Chiếu một số đo n phim tư liệu về ngày Bác mất; Nghe bài

Trang 7

thơ được Trần Hồn hổ nhạc lồng trong một số hình ảnh…giúp cho học sinh hình dung, biết ơn và kính yêu Bác hơn

V í d ụ 2: Khi dạy bài “Quê hương” - Lớp 8: giáo viên cĩ thể cài bài ngâm thơ kết hợp với

hình ảnh thuyền, biển, cảnh đánh cá để gợi nhớ tình yêu quê hương, đất nước

V í d ụ 3: Khi dạy các văn bản nhật dụng, giáo viên cĩ thể cho học sinh xem một số

thước phim tư liệu liên quan đến vấn đề m ơi trường…

V í d ụ 4: Khi dạy bài “Khi con tú hú” - lớp 8, giáo viên kết hợp giảng với trình chiếu

hệ thống sơ đồ giúp học sinh nắm chắc nội dung

b Đối với mơn Anh văn:

- Xét về tâm lý, đối với các em ở lứa tuổi THCS hầu hết rất thích tìm tịi những cái mới, lạ Việc đưa vào bài giảng những tranh ảnh minh họa là rất cần thiết nhất là đối với mơn tiếng Anh Tuy nhiên, nếu giáo viên khơng cĩ sự chọn lọc trong việc sử dụng tranh minh họa rất dễ gây phản tác dụng hoặc cĩ thể dẫn đến việc mất tập trung vào nội dung bài giảng Trong thực tế, ứng dụng khi CNTT vào soạn giảng, hầu hết giáo viên đều sử dụng những tranh ảnh minh họa chủ yếu từ các nguồn ảnh tư liệu như: ảnh quét từ máy Scan, ảnh download từ Internet Chính vì vậy, rất khĩ để cĩ một hình ảnh minh họa bài giảng thích hợp về mặt sư phạm hoặc thẩm mỹ Cụ thể, những ảnh quét

từ máy Scan thường kém chất lượng hoặc khơng đủ độ tương phản cần thiết, những ảnh được

download từ internet thơng thường sẽ cĩ rất nhiều nội dung thừa hay những dịng quảng cáo; cái mà

cĩ thể ảnh hưởng rất lớn đến sự tập trung lĩnh hội kiến thức ở học sinh

… Với CNTT giáo viên cĩ thể giới thiệu ngữ liệu mới bằng những tình huống sinh động với tranh ảnh minh họa phong phú, cùng với sự hỗ trợ cơng nghệ Multimedia sẽ tạo thành một giáo án hồn

Bức tranh mùa hè

Rộn rã âm thanh

Rực rỡ màu sắc

Ngọt ngào hương vị

K H Á T V Ọ N G

Bức tranh tâm trạng

U uất, ngột ngạt Muốn đập tan xiềng gông

Đẹp, tràn đầy sức

sống, kết đọng hình

ảnh tự do

Tự do

Yêu đời, yêu tự do, gắn bó với cuộc sống, quê hương

Tiếng chim tu hú thức dậy

Trang 8

hảo giúp học sinh say mê học tập, phát huy tính chủ động tìm hiểu và khắc sâu kiến thức bài học Đồng thời hoạt động đó phải thể hiện được kiến thức trọng tâm của bài, giáo viên phải xác định đó phục vụ cho mục đích gì: rèn từ vựng, rèn cấu trúc, luyện nói hay luyện phát âm?

Đổi mới trong phương pháp giảng dạy với sự ứng dụng CNTT đã mang lại một bầu không khí học tập hứng thú trong các lớp học trong đó có môn tiếng Anh Theo chúng tôi, tiếng Anh là môn học đặc thù không chỉ đòi hỏi giao tiếp giữa thầy và trò mà bao hàm một lượng kiến thức rộng giáo viên cần phải truyền đạt Đó là những nội dung về đất nước, con người, tôn giáo, địa lí mà nếu bằng phương pháp truyền thống viết bảng hoặc tranh minh họa thì sẽ không thể khiến học sinh

“cảm” được đất nước và con người ở những vùng đất khác trên đất nước và cả trên thế giới Những tiết dạy bằng giáo án điện tử có thể được xây dựng thành một bộ phim có hình ảnh âm thanh, lồng ghép các câu hỏi kiểm tra kiến thức học sinh

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực chủ động sáng tạo của học sinh lại càng nâng cao vai trò của CNTT trong giảng dạy Với CNTT giáo viên có thể giới thiệu ngữ liệu mới bằng những tình huống sinh động với tranh ảnh minh họa phong phú, cùng với sự hỗ trợ công nghệ Multimedia sẽ tạo thành một giáo án hoàn hảo giúp học sinh say mê học tập, phát huy tính chủ động tìm hiểu và khắc sâu kiến thức bài học

Tuy nhiên cần phân biệt rõ giữa phương pháp giảng dạy và công cụ giảng dạy Nhiều người vẫn nghĩ sử dụng CNTT trong giảng dạy là đã áp dụng phương pháp giảng dạy mới Nhưng trên thực tế hoàn toàn không phải như vậy, bài giảng điện tử, giáo án điện tử (CNTT) chỉ là công cụ hỗ trợ cho phương pháp giảng dạy Trong môn Anh văn nếu giảng dạy theo phương pháp truyền thống, thầy giảng trò chép, hiệu quả chỉ khoảng 30 – 40%, nhưng nếu ứng dụng CNTT kết hợp với trao đổi, thảo luận, sinh hoạt nhóm… hiệu quả có thể đạt từ 60 – 70%

Ví dụ 1: Ở bài 5 - phần language focus – Sgk Anh văn 8, giáo viên có thể áp dụng trò chơi trên máy

chiếu “wordsquare” để ôn từ vựng:

Ví dụ 2: Ở bài 12 - phần nghe – Sgk Anh văn lớp 7, giáo viên có thể sử dụng “netwourks”

- Giáo viên yêu cầu học sinh liệt kê các tính từ liên quan đến thời tiết, mục đích của giáo viên là giới thiệu bài:

Weather

hot

Cold

fine rainy Warm

Cloudy

Sunny y

cool

Trang 9

c Đ ối với môn Lịch Sử :

Bác Hồ từng nói:

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Câu thơ là lời kêu gọi, lời răn dạy cho muôn thế hệ con cháu nước ta Thế nhưng như nhận

định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một Diễn đàn về Sử học: “ Lớp trẻ của chúng ta đã

không còn quan tâm tới lịch sử dân tộc ”

Tham dự Diễn đàn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu: "Tôi có đứa cháu “sợ” học môn Lịch sử nhưng rất thích xem các bộ phim lịch sử Trung Quốc; thuộc vanh vách tên tuổi các nhân vật thuộc về lịch sử Trung Quốc nhưng khi nói về Trần Hưng Đạo, vị tướng đời Trần của ta thì không biết

Lịch sử nước nhà không chỉ trang bị vốn kiến thức cơ bản rất cần thiết cho thế hệ trẻ mà còn góp phần hoàn thiện nhân cách, bản lĩnh con người Việt Nam

Mỗi công dân của chúng ta khi học hết cấp phổ thông, trong đầu óc sẽ hiểu biết về quá khứ dân tộc, về các giá trị mà ông cha đã đổ máu để giành giữ được Các em có được lòng tự hào dân tộc

đề có ý thức phấn đầu noi theo bước cha ông?

Điều đó có nghĩa là môn Lịch sử có trách nhiệm trang bị tri thức và truyền thống lịch sử cho công dân của đất nước, nến chúng ta cần coi trọng việc dạy, học môn học này cho kết quả đào tạo trong nhiệm vụ chuẩn bị cho lớp trẻ vào đời

Có rất nhiều trẻ con chỉ có khả năng nhớ được những gì đã quan sát được còn cái gì mà các em

không thấy, không quan sát được thì rất khó nhớ Cũng vì thế,các em xem phim lịch sử Trung Quốc thì nhớ rất rõ các nhân vật lịch sử trung Quốc còn học sử Việt Nam bằng chữ nghĩa thì lẫn lộn các

nhân vật, các sự kiện lịch sử đến nỗi các thầy cô giáo chỉ còn nước “cười ra nước mắt” Các em mang các kiến thức lẫn lộn ấy mà lớn lên và bước vào cuộc sống mà không có niềm tự hào dân tộc anh hùng, không có cả sự ham thích học tập Không có động cơ học tập, các em học chỉ để trả nợ Học xong năm nào, các kiến thức không còn đọng lại trong tiềm thức của các em Như thế, hiệu quả giáo dục của chúng ta thật uổng phí Người công dân tương lai của đất nước ta đa số đều thực dụng, mong sao lớn lên làm được nhiều tiền,bất chấp đất nước quê hương có phát triển, có thể sánh vai cùng các cường quốc năm châư được hay không?

Trong cuộc sống sôi động của đất nước và thế giới, giáo viên cần áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực, tạo ra một phong cách giảng dạy sinh động, hấp dẫn đối với lớp trẻ mới mong trẻ yêu thích môn học lịch sử vì “Một dân tộc mà giới trẻ còn thờ ơ, không “tường” được lịch sử nước nhà thì thật nguy hiểm.”

Giáo viên dạy môn Lịch sử không chỉ nắm chắc sách giáo khoa để truyền thụ lại cho học sinh mà phải có tầm hiểu biết sâu rộng hơn thế về kiến thức cũng như phương pháp luận sử học để

có thể cập nhật tri thức của mình, gắn nội dung sách giáo khoa với thời sự của sử học và cuộc sống sôi động của đất nước và thế giới, từ đó áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực, tạo ra một phong cách giảng dạy sinh động, hấp dẫn đối với lớp trẻ

Trong bài giảng, sự kiện lịch sử không chỉ là những con số cùng ngày tháng, những cái gạch

đầu dòng với dằng dặc chữ Mà thể hiện sự kiện lịch sử là một số các hình ảnh, nhân vật, những khúc phim (khúc phim về các đồ đá giúp các em dễ dàng hình dung cuộc sống của người Việt cổ; khúc phim về Huế, giúp các em dễ hiểu và dễ nhớ kiến thức cần biết

Qua tiết dạy, giáo viên cần chỉ cho các em thấy rằng đằng sau những chiến thắng, không chỉ

là những mất mát đau thương mà còn có cả lòng nhân ái, tình yêu thương chân thành và niềm tin

vào giá trị của tình người (Lý Thường Kiệt chủ động giảng hoà để mở lối thoát cho giặc).

Trang 10

Trên trang giáo án điện tử, giáo viên rất dễ dàng lập các bảng thống kê giúp học sinh nắm vững nhân vật, sự kiện, ý nghiã lịch sử của từng sự kiện.Việc này giúp trẻ học hành nhẹ nhàng , nhớ lâu ,không cần ngồi ê a học từng trang chỉ toàn là chữ

Tạo ra một phong cách giảng dạy sinh động, hấp dẫn đối với lớp trẻ mới mong trè yêu thích môn học lịch sử

Qua các lược đồ có các mũi tên xuất hiện chỉ đường tiến quân của ta, đường rút quân của địch , giúp học sinh thuật lại diễn biến các cuộc chiến dễ dàng hơn Các yêu cầu tường thuật diễn biến trận đánh không còn khó khăn đối với HS nữa, các em hào hứng tham gia vào hoạt động học tập Các em tranh nhau nói chứ không chịu ngồi nghe Có dạy mới thấy trẻ con cần tranh ảnh biết bao! Tên các trận đánh lớn trở nên dễ nhớ và còn là niềm tự hào khi HS đề cập đến ,các em chịu khó sưu tầm qua sách báo, qua internet các thông tin liên quan đến bài học và mang vào nói cho các bạn nghe

Âm thanh, hình ảnh, phim minh hoạ, văn bản …đươc kết hợp nhằm thu hút h ọc sinh Đặc biệt kênh hình được khai thác giúp việc đọc hiểu văn bản trở nên dễ dàng hơn nhiều Mỗi hình ảnh mà giáo viên đã lựa chọn không chỉ chứa đựng thông tin mà còn gợi hứng thú cho các em Học sinh xem hình ảnh vài lần trong bài giảng và nhớ luôn kiến thức cần hiểu biết

Theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật máy tính của Mỹ vào năm 1993, (tạm dịch)

“Con người lưu lại trong bộ nhớ được 20% những gì họ thấy và 30% những gì họ nghe Nhưng họ nhớ 50% những gì họ thấy và nghe; và con số này lên đến 80% nếu họ thấy và nghe sự vật, hiện tượng một cách đồng thời.” Trên cơ sở của những số liệu này và quá trình giảng dạy thực tế ở trường phổ thông chúng ta có thể thấy việc dạy học lịch sử chỉ với những phương tiện truyền thống như bảng đen, lời nói của thầy giáo và một ít phương tiện dạy học mang tính tĩnh (bản đồ, tranh ảnh,

sơ đồ) chắc chắn hiệu quả sẽ không cao, mức độ ghi nhớ của học sinh sẽ thấp và chóng quên Trong khi đó nếu học sinh được xem phim tư liệu, bản đồ, sơ đồ động (được thiết kế theo logic sự kiện), tranh ảnh với màu sắc sinh động kết hợp với lời nói của giáo viên thì khả năng ghi nhớ của các em

sẽ tăng lên Không những thế, nếu làm được điều này chúng ta sẽ tạo ra được một bầu không khí học tập sinh động, khơi gợi hứng thú học tập cho các em đồng thời khắc sâu những kiến thức mà các

em tiếp thu được Rõ ràng, việc kết hợp cùng một lúc hai hay nhiều phương tiện truyền thông sẽ giúp cho nguời học tiếp thu thông tin nhanh, chính xác và nhớ lâu hơn

Ví dụ : Để tạo bản đồ trong môn Lịch sử:

- Để tạo một bản đồ câm theo ý muốn chúng ta cần thực hiện các bước sau:

+ Khởi động phần mềm GE Sau khi khởi động chúng ta sẽ bắt gặp một quả địa cầu ảo với màu sắc gần giống với màu sắc thực tế

+ Sử dụng công cụ tự động tìm kiếm của GE để tìm đối tượng (địa danh) mà chúng ta cần tìm kiếm (ví dụ: Điện Biên Phủ, vietnam) Chúng ta di chuyển đển ô tìm kiếm sau đó gõ vào tên địa danh cụ thể Công cụ tìm kiếm tự động sẽ tự động tìm kiếm và hiển thị đối tượng chúng ta cần tìm Tiếp theo ta sử dung thanh công cụ hiển thị để phóng to, thu nhỏ hoặc dùng chuột kích đúp vào đối tượng để phóng lớn hay xoay đối tượng theo ý muốn

+ Sau khi thực hiện các bước trên chúng ta sẽ bắt gặp một bản đồ với rất nhiều thông tin Trong số những thông tin hiển thị mặc định có những thông tin không cần thiết Để ẩn các thông tin

đó bạn di chuyển đến thành Layer (lớp đối tượng) kích bỏ các tuỳ chọn trong các ô để có một bản đồ câm Nếu muốn hiển thị một vài thông tin địa lí như: tên địa danh, sông, đường giao thông ta có thể kích chọn vào các ô trong thanh Layer để hiển thị các thông tin theo ý muốn

+ Chúng ta phải lưu lại hình ảnh bản đồ mà mình cần tìm kiếm bằng cách vào thanh Menu => chọn File => save => save Image Sau khi thực hiện chúng ta sẽ có một bức ảnh của đối tượng (bức ảnh này là toàn bộ phần hiển thị nên cần được cắt gọt lại)

+ Cuối cùng bạn cần sử dụng một phầm mềm xử lí ảnh để cắt gọt một khung hình như ý Theo chúng tôi, phần mềm ACD photo Editor là phần mềm xử lí tốt và dễ sử dụng nhất

Phần còn lại là chúng ta dán vào slide và bổ sung các đối tượng theo diễn biến sự kiện, trận

Ngày đăng: 01/05/2021, 01:02

w