1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp nhận saint exupéry ở việt nam

62 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 507,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh các bài viết giữa các nhà phê bình văn học, đối chiếu giữa các bản dịch với nhau, người viết có thể phát hiện ra các khía cạnh tiếp nhận khác nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC & NGÔN NGỮ



CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2013

TIẾP NHẬN SAINT-EXUPÉRY Ở VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Đinh Phan Huy Khóa 2011-2015

Thành viên: Bùi Trọng Thùy Linh Khóa 2011-2015

Người hướng dẫn: Giáo sư – Tiến sĩ Huỳnh Như Phương

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: SAINT-EXUPÉRY VÀ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN 5

1 Saint-Exupéry – cuộc đời và tác phẩm 5

1.1 Ảnh hưởng của cuộc đời và nghề nghiệp đến sự nghiệp sáng tác 5

1.2 Tiếp nhận của người viết về các tác phẩm của Saint-Exupéry 9

2 Vài nét về lý thuyết tiếp nhận 13

2.1 Tác giả văn học 14

2.2 Tác phẩm văn học 15

2.3 Người đọc 16

2.4 Mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm đối với người đọc .17

3 Tiếp nhận Saint – Exupéry ở Việt Nam – một trở ngại 20

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN SAINT – EXUPÉRY 24

1 Thời kỳ trước năm 1975 24

1.1 Giai đoạn 1900 – 1930 24

1.2 Giai đoạn 1930-1954 28

1.3 Giai đoạn 1955-1975 29

2 Thời kỳ từ sau năm 1975 đến nay 35

2.1 Giai đoạn 1975-1985 .35

2.2 Giai đoạn từ 1986 đến nay 36

CHƯƠNG 3: SỰ TIẾP NHẬN SAINT-EXUPÉRY QUA NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VĂN HỌC 40

1 Qua các tạp chí văn học 40

2 Qua các nhà nghiên cứu phê bình 45

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 3

Riêng tại Việt Nam, các tác phẩm chính của ông hầu hết đã được chuyển

dịch và đã hiện diện suốt gần nửa thế kỷ qua như : Hoàng tử bé, Cõi người ta,

Chuyến thư miền Nam, Bay đêm góp phần nuôi dưỡng biết bao thế hệ độc giả

yêu mến tiểu thuyết, yêu mến văn học Pháp Nhiều bản dịch cũng góp phần làm nên tên tuổi cho một số dịch giả như Bùi Giáng, Trần Thiện Đạo, Nguyễn Thành Long…Các dịch phẩm này đều được tái bản đều đặn những năm gần đây, bên cạnh đó cũng có những bài viết nghiên cứu về tác giả, tác phẩm Điều

đó chẳng những chứng tỏ được sức sống bền bỉ nơi các tác phẩm của Exupéry với thời gian, mà còn chứng tỏ nó có một chỗ đứng nhất định trong lòng độc giả ngày nay, giữa những biến đổi nhiều mặt về quan niệm sống và giá trị đạo đức văn hóa

Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy, việc tiếp nhận ông qua các dịch phẩm

và các nghiên cứu phê bình nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế, khiến cho độc giả Việt Nam chưa có được một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về Saint-Exupéry Bên cạnh đó, với mong muốn trình bày một cách rõ ràng về tình hình tiếp nhận Saint-Exupéry tại Việt Nam, tổng hợp một cách khách quan và chân thực những những mặt tích cực cũng như những mặt hạn chế trong việc tiếp nhận, chúng tôi đã chọn thực hiện đề tài này Thiết nghĩ, đây cũng là một việc

Trang 4

làm cần thiết cho việc nghiên cứu và tiếp nhận tác phẩm của ông ở Việt Nam sau này

2 Mục đích nghiên cứu

Dựa vào tình hình thực tiễn nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến

đề tài, công trình tiến hành tìm hiểu về mức độ và quá trình tiếp nhận Exupéry tại Việt Nam, đồng thời góp phần giúp cho quá trình tiếp nhận Saint-Exupéry ở Việt Nam được sâu sắc hơn

Saint-3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, phân tích và so sánh các tác phẩm dịch thuật qua các giai đoạn Thứ hai, đánh giá các công trình nghiên cứu, bài phê bình về Saint-Exupéry của các nhà phê bình văn học ở Việt Nam

Thứ ba, nêu lên sự tiếp nhận, đánh giá riêng của bản thân về các tác phẩm của Saint-Exupéry và các vấn đề xoay quanh Saint-Exupéry

Thứ tư, đề ra các phương hướng tiếp nhận mới cho độc giả Việt Nam

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

Để tiến hành nghiên cứu, người viết đã dựa trên những nền tảng sau:

 Những lý thuyết về mối quan hệ giữa người đọc, người viết, nhà phê bình trong lý luận văn học

 Các văn bản dịch thuật và các bài viết, bài phê bình về tác giả Saint-Exupéry tại Việt Nam

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

 Phương pháp phân tích: người viết đã tìm kiếm các bài viết về cuộc đời, thân thế, nghề nghiệp và bản dịch các tác phẩm của tác giả Saint-Exupéry từ những thế hệ đi trước, đọc-hiểu để làm nguồn tài liệu quý báu cho các trang viết trong nghiên cứu này

 Phương pháp tổng hợp: phương pháp này giúp người viết thu thập được những thông tin cần thiết cho nghiên cứu từ các nguồn tài liệu, từ

đó, xây dựng được các luận điểm, luận cứ nhằm hướng đến mục tiêu của nghiên cứu

Trang 5

 Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh các bài viết giữa các nhà phê bình văn học, đối chiếu giữa các bản dịch với nhau, người viết có thể phát hiện ra các khía cạnh tiếp nhận khác nhau hay đánh giá mức độ tiếp nhận về tác giả Saint-Exupéry

5 Phạm vi đề tài

Vì đề tài nghiên cứu hướng tới các đối tượng là người đọc, các nhà nghiên cứu, phê bình ở Việt Nam nên phạm vi của đề tài cũng chỉ xoay quanh các nhận định, đánh giá của các nhà lý luận và độc giả trong nước

Bên cạnh đó, vì lý do hạn chế của tài liệu tham khảo nên người viết sẽ tập trung khai thác ba trong bốn tác phẩm được xem là làm nên tên tuổi cho Saint-

Exupéry: Hoàng tử bé, Bay đêm, Cõi người ta, Chuyến thư miền Nam và các

nhà phê bình cũng như dịch giả mà người viết tìm hiểu được

Tuy phạm vi nghiên cứu có hạn hẹp, tầm nhìn chưa bao quát, nhưng người viết hi vọng rằng việc nghiên cứu có tính chất bước đầu này có thể làm tiền đề và cơ sở cho những nghiên cứu về sau

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: kế thừa mối quan hệ giữa người viết và người đọc trong lý thuyết tiếp nhận để nói lên tình hình tiếp nhận và cải thiện phương thức tiếp nhận của công chúng Việt Nam đối với Saint-Exupéry

Ý nghĩa thực tiễn: giới thiệu đến rộng rãi công chúng Việt Nam một tác giả Pháp có tên tuổi thế kỷ XX

7 Kết cấu đề tài:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài sẽ gồm những phần chính như sau: Chương 1: Saint-Exupéry và lý thuyết tiếp nhận

1 Saint-Exupéry – cuộc đời và tác phẩm

1.1 Ảnh hưởng của cuộc đời và nghề nghiệp đến sự nghiệp sáng tác 1.2 Tiếp nhận của người viết về các tác phẩm của Saint-Exupéry 1.2.2 Tư tưởng của tác giả

1.2.3 Văn phong của Saint-Exupéry

Trang 6

2 Vài nét về lý thuyết tiếp nhận

1 Giai đoạn trước 1975

2 Giai đoạn từ 1975 đến nay

Trang 7

CHƯƠNG 1: SAINT-EXUPÉRY VÀ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN

Vào thế kỷ thứ XX, có một nhà văn nổi tiếng phương Tây mà hầu hết các tác phẩm của ông có sức hút mạnh mẽ đối với miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, đặc biệt là tầng lớp sinh viên Văn chương của ông nhẹ nhàng mà sâu sắc Nó mang đến cho người đọc một chân trời mới, chân trời của không gian và một tình yêu vô tận với cuộc sống, với con người Lời văn cô đọng mà tràn đầy ý nghĩa, được sử dụng như một phương tiện trích dẫn và trở thành châm ngôn sống cho nhiều thế hệ Làm được điều đó, chỉ có thể là nhà văn phi công Pháp Antoine Marie Roger de Saint-Exupéry

1 Saint-Exupéry – cuộc đời và tác phẩm

1.1 Ảnh hưởng của cuộc đời và nghề nghiệp đến sự nghiệp sáng tác

Antoine Marie Roger de Saint-Exupéry chào đời tại một thành phố là nơi giao thoa giữa hai dòng sông Saône và Rhône miền Đông Nam nước Pháp tên gọi là Lyon

Saint-Exupéry có một tuổi thơ thiếu thốn tình cảm gia đình Ông mất cha

từ năm lên bốn tuổi, sống với mẹ cùng các chị gái và một người em trai Nhưng không phải vì thế mà Saint-Exupéry để cho chính mình trở nên khép kín hay mang những suy nghĩ chán ghét, muốn từ bỏ Được sự yêu thương và bảo bọc của những thành viên còn lại trong gia đình, Saint-Exupéry sớm bộc lộ tình yêu với nghệ thuật ngay từ những ngày còn rất bé

Saint-Exupéry đam mê hội họa và thơ ca Ông đã từng viết một bài thơ tặng người thầy dạy tiếng Pháp của mình Nhưng cũng bởi yêu thích máy bay

và cách vận hành của nó, ông đã sáng tác nên những câu thơ đầu tiên trong văn học có liên quan đến ngành hàng không:

Đôi cánh rung rinh nhẹ gió chiều Động cơ êm ái vỗ hồn xiêu

Trang 8

Nắng vàng lướt nhẹ bay qua cửa [1]

Tính tình hoạt bát, hiếu động, ông cũng say sưa tìm tòi, học hỏi các môn khoa học tự nhiên, để mắt đến các phát minh và sáng chế trong toán học cũng như vật lý Saint-Exupéry cũng đã rất nhiều lần phá rối gia đình bằng những hình vẽ máy bay, tàu bay khiến các chị gái cảm thấy bị làm phiền và đánh thức

mẹ giữa đêm khuya chỉ để đọc cho bà nghe những bài thơ do chính mình sáng tác

Saint-Exupéry thích vẽ và rất hay vẽ Nhưng dường như mọi người trong gia đình ông không thích thú mấy với công việc này Ông đã thổ lộ phần nào điều đó trong tác phẩm văn chương của mình: “Người lớn bèn khuyên tôi nên gác sang một bên các bức vẽ trăn kín và trăn hở và nên chú tâm học địa lý, sử, toán và văn Tôi đã bỏ dở như thế đó, vào năm lên sáu, một sự nghiệp hội họa tuyệt vời” [2] Con đường học vấn của Saint-Exupéry tuy có nhiều lận đận, không mấy suôn sẻ nhưng ông vẫn đỗ được tú tài Năm 1921, ông làm quen với máy bay và tập tành lái nhờ công tác tại một xưởng sửa chữa máy bay Mùa xuân năm 1926, Saint-Exupéry gia nhập Công ty Hàng không Pháp quốc Từ đây, sự nghiệp hàng không của ông chính thức bắt đầu và phát triển ngày một tốt đẹp hơn về sau

Saint-Exupéry được phân công thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt là tiếp nhận những chuyến bay thư từ vùng Toulouse đến Casablanca và từ Dakar đi Casablanca Ông tham gia chuyến bay cùng với đoàn người tiên phong mà sau này một trong số họ là những người bạn, người đồng nghiệp rất mực thân thiết và đáng quý trọng đối với ông: Vacher, Mermoz, Estienne, Guillaumet, Lescrivain

Với mỗi lần bay, Saint-Exupéry luôn hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình Tuy nhiên, không phải việc gì cũng dễ dàng Từ khi trở thành phi công, ông đã trải qua đến năm lần bị tai nạn Chuyến bay từ New York đến

Trang 9

Guatemala là tai nạn trầm trọng nhất trong cuộc đời phi công của ông Đó cũng

là chuyến bay sinh tử, để lại những chấn thương mà đến cuối đời, Exupéry cũng không bao giờ có thể bình phục hẳn

Saint-Với ngần ấy những thành công cũng như những biến cố trong nghề nghiệp, nhà văn Pháp có tên tuổi Saint-Exupéry đã đủ mạnh mẽ để thổi hồn cho

những tiểu thuyết phiêu lưu của mình như Chuyến thư miền Nam (1928), Bay

đêm (1931), Cõi người ta (1939),…Ông đã gửi gắm vào trong ấy những ghi

chép, những câu chuyện, những suy nghiệm của chính mình trên mỗi chặng đường bay

Trong tác phẩm Cõi người ta, ông đã kể về trách nhiệm đưa thư liên lạc

giữa các vùng Toulouse-Dakar, sang Châu Phi hay Tây Ban Nha cùng với những người đồng sự của mình; kể về cách thức đọc bản đồ, dấu hiệu để nhận biết một vùng nào đó mà không bị đánh lừa hay việc điều chỉnh đường bay, góc bay, độ cao phù hợp với thời tiết, địa hình, thời gian ngày và đêm Đó là những công việc ông vẫn thường làm mỗi khi chạm tay mình vào tay lái máy bay Nhà văn cũng tái hiện lại những việc có thật mà ông thấy hằng ngày: bệnh tật, thiếu thốn và cả những đau thương, mất mát khi một người bạn, người đồng nghiệp ra đi “…rằng tiếng “không” kia, là tuyệt đối tiếng không; rằng không, là không những Lécrivain đã không hạ cánh xuống Casablanca, mà cũng không bao giờ anh sẽ còn hạ cánh xuống bất cứ một nơi nào nữa” [1]

Trên không trung bao la, những nguy hiểm dường như luôn chực chờ Người phi cơ phải là những con người thép, luôn trong tư thế sẵn sàng để trong từng phút, từng giây đều có thể đương đầu với hiểm nguy “…trời mây đen kịt tối sầm, núi rừng trùng điệp trước mắt phi công cùng theo nhau cuồn cuộn trôi trong một màu mực đen ngòm…” [2] Không chỉ có giông bão, người lái máy bay còn phải lèo lái cánh máy bay qua những vách đá hiểm trở, đối phó với sương mù và tuyết lạnh, những lần trục trặc máy móc “nhiều lúc tự nhiên phát

Trang 10

động cơ đột ngột vỡ toang, lảng xoảng phá liệt hệt như tiếng chén dĩa bể” [1] Đôi khi, chẳng mấy chốc, người phi cơ bỗng rơi vào cái ranh giới giữa sự sống

và cái chết trong những lần nổ hoặc rơi máy bay Và sau những đấu tranh, vật lộn với cái chết, họ lại vui sướng vì đã thoát nạn và bảo toàn được tánh mạng cho chính mình

Tất cả những điều đó đã được miêu tả và kể lại rất sinh động và chân thật trên từng trang sách của Saint-Exupéry, để lại một dấu ấn nghề nghiệp rất đậm nét của người viết Nhưng cái đáng sợ mang đầy ám ảnh nhất của những người phi công chưa hẳn là những điều như trên mà chính là những hiểm nguy trên sa mạc rát bỏng Họ lạc lối trên sa mạc và không thể tìm được đường về Họ “đi sáu mươi cây số, hầu như không một ngụm nước vào mồm” [2] “Mắt hoa đầu choáng” trong những cuộc chạy lang thang tìm kiếm nguồn nước nhưng họ chẳng thấy gì ngoài những ảo ảnh, những gì hiện ra bằng chính ước muốn và chờ mong của họ “Cái khát hoành hành, cháy bỏng suốt thâm tâm” [3] Họ đã sống mười chín giờ không uống nước trong sa mạc để rồi nâng niu và quý trọng từng giọt mật của một trái cam bé mọn Sự khắc nghiệt của sa mạc cũng thật ghê người Nó khiến người ta có thể uống bất kì thứ gì bắt gặp được trên đường, kể cả “bùn hôi” và chỉ mong được chết đi để sớm giải thoát

Rõ ràng, chúng ta có thể thấy, cuộc đời và nghề nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp sáng tác và văn chương của nhà văn, nhà phi công nổi tiếng người Pháp – Saint-Exupéry Văn trước hết là cuộc đời Nghệ thuật trước hết là

để giãi bày tâm tư, để thổ lộ nỗi lòng, để nhà văn có thể giao cảm với đời Vì thế nên đọc Saint-Exupéry, chúng ta phần nào hiểu được về đời sống, những khía cạnh nhỏ nhoi, hay những ham muốn không thể thỏa mãn được của một con người Hơn nữa, vì tính chất công việc của một phi công là không bao giờ đứng yên nên khi đọc tiểu thuyết của Saint-Exupéry, chúng ta được tiếp cận với một thể loại phiêu lưu đậm chất chiêm nghiệm sâu xa Bởi vì trên mỗi vùng đất

Trang 11

ông ghé qua, ở mỗi nơi ông lưu giữ lại dấu chân của mình, có vết tích của những suy tư về con người, về thân phận, thậm chí về gió, cát, biển và cả những vì sao xa

1.2 Tiếp nhận của người viết về các tác phẩm của Saint-Exupéry

1.2.2 Tư tưởng của tác giả

Phần lớn các tác phẩm của nhà văn người Pháp Saint-Exupéry thuộc thể loại tiểu thuyết phiêu lưu Nhưng dù là viết theo phong cách ấy, văn chương của ông cũng không lôi kéo độc giả của mình bằng cốt truyện ly kỷ hay những tình tiết hấp dẫn như các tiểu thuyết phiêu lưu thường gặp Tạo nên nét độc đáo riêng, Saint-Exupéry làm say đắm người đọc của mình bằng những triết lý sống sâu xa, những suy ngẫm về cuộc đời Tư tưởng ấy được thể hiện nổi bật qua hai

tác phẩm chính: Hoàng tử bé và Cõi người ta

Với Hoàng tử bé, cứ ngỡ đâu rằng đó chỉ là một câu chuyện dành cho trẻ

con với những chi tiết trong sáng, lời nói ngây ngô, được minh họa bằng những hình ảnh sinh động, đầy màu sắc Nhưng một khi đã tiếp cận với quyển sách nhỏ, mỏng manh ấy, chúng ta dường như được trưởng thành dần lên qua từng trang sách và nhận ra rằng đó không chỉ đơn thuần là câu chuyện kể cho trẻ em

mà còn là “cuộc phiêu lưu của con người đi tìm bản ngã của mình” [1]

Trên sa mạc hoang vu, cậu Hoàng con đã đi qua sáu tiểu hành tinh và Trái Đất Cậu đi tìm bạn, rất nhiều bạn và cậu cũng cần tìm hiểu về mọi thứ trên thế giới Trên mỗi hành tinh đi qua, cậu gặp mỗi con người khác nhau Với tất cả những con người ấy, đa số cậu đều kết luận rằng họ là những con người kỳ quái

và kỳ quoặc Bởi vì đó là những kẻ khoác lác, thích được ca tụng, những con người có tài nhưng độc đoán, những người chỉ biết tiêu tốn thời gian cho những việc vô bổ hay những con người luôn toan tính chỉ nhằm tìm kiếm lợi nhuận cho chính mình Tất cả họ chỉ làm cho Trái Đất trở nên nhàm chán và vô vị

1

Trần Thiện Đạo (2002), Cửa sổ văn chương, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, tr

214-227

Trang 12

“Cái hành tinh này buồn cười thật! Nó khô khốc, nhọn hoắt và mặn chát” [1]

và những con người trên đấy hoàn toàn không thích hợp cho cậu kết bạn

Nhà vua, nhà địa lý, bợm nhậu, nhà kinh doanh,…, họ cũng lại là những người lớn Mà người lớn thì không bao giờ có thể hiểu được bức tranh về con trăn hở và trăn kín Trong hành trình bận rộn của mình, họ luôn cho mình là quan trọng nhất, “ta là một người đứng đắn, ta rất chính xác” [2] Họ luôn gạt trẻ con sang một bên để rong ruổi theo những tất bật của mình

Người lớn, đó là những con người với quá nhiều kinh nghiệm và hiểu biết

Vì thế họ trở nên chai sạn và để hiểu được trẻ con là một công việc không mấy

dễ dàng Người ta vẫn thường vô tình bỏ qua những suy nghĩ của trẻ con vì cho rằng chúng quá ngây thơ và non nót để có thể nói lên được điều gì Thế nhưng, những đứa trẻ là những sinh vật giàu tình cảm nhất Mỗi đứa trẻ con là một hình tinh khác nhau, không ai giống ai để mỗi chúng ta tìm và hiểu Đằng sau những ý nghĩ ngây dại ấy của trẻ con lại ẩn giấu những thứ tình tình cảm dễ thương Dễ thương theo một cách rất con trẻ

Những người lớn không biết tưởng tượng Bởi vì đó vốn là công việc của những đứa trẻ Chúng luôn thấy những cái mà người lớn không thấy: một con voi trong bụng một con trăn kín, một con cừu bên trong một cái hộp và cả hạt mầm của những cây bao báp

Mầm cây bao báp, chúng không đơn giản là những hạt giống con khi lớn lên sẽ trở thành những gốc cây đại thụ Cây bao báp là một loại cây mà “chỉ cần chậm trễ một chút là sẽ không bao giờ có thể diệt trừ được nữa Nó che phủ

cả hành tinh Nó cắm rễ sâu vào lòng đất Và nếu hành tinh quá nhỏ, và nếu bọn bao báp thật nhiều, chúng sẽ làm nó vỡ tan tành” [3]

Con người thường như thế Họ chẳng bao giờ nhìn nhận những vấn đề nhỏ bé cho đến khi chúng biến thành những hiểm họa Cũng như người ta chả

Trang 13

bao giờ chịu giải quyết công việc trong ngày cho đến khi chúng chất thành một núi công việc Hay, người ta cũng không ngừng xả rác và khí thải cho đến khi phát hiện ra rằng tầng ozôn sắp sửa bị hủy hoại Mọi chuyện lớn đều bắt nguồn

từ những nguyên nhân bé tẹo Nhưng chẳng mấy ai lại để ý đến cây bao báp khi chúng còn là hạt, nhất là những gã lười

Con người khi lớn lên cũng lãng quên nhiều thứ Đó chính là thiết lập những mối quan hệ Một trong những mối quan hệ làm cho cuộc sống thêm thi

vị đó chính là tình bạn Tình bạn khiến ta không còn cô đơn và lẻ loi Tình bạn làm cho người ta trở nên đặc biệt và có ý nghĩa hơn với những người khác

“Nhưng nếu cậu thuần dưỡng tớ, đời tớ sẽ rực nắng Tớ sẽ nhận ra một bước chân khác hẳn mọi bước chân khác” [1]

Nhưng loài người rất lạ kì Họ không muốn thuần dưỡng hay cảm hóa ai

để có một mối quan hệ đúng nghĩa hay một tình bạn chân thật Thế nên, đến cuối cùng, con người vẫn hoàn cô độc Con người thường “mua những vật làm sẵn ở các nhà buôn Nhưng vì không ở đâu có nhà buôn những người bạn, nên con người không có bạn nữa” [2]

Hoàng tử bé là nhân vật đến từ một hành tinh xa xôi Nhưng thực chất nó lại là tưởng tượng của chính tác giả về cái ngã của mình Tuy từ đầu truyện Hoàng tử bé và tác giả được giới thiệu rằng đến sa mạc này từ hai nơi khác nhau nhưng thực tế thì hai nơi ấy là một Hoàng tử bé chính là hiện thân cho tuổi thơ của tác giả – một Saint-Exupéry bé bỏng Cậu Hoàng con thông qua hành trình đi tìm bạn của mình đã nói lên nỗi cô đơn và những trải nghiệm về người, về đời cho chính tác giả

Cũng lại là bối cảnh của một sa mạc hoang vắng, nóng như lửa đốt, kẻ nắm trong tay mình vận mệnh của những kẻ lạc lối, nhưng với “Cõi người ta”, nhà văn người Pháp Saint-Exupéry không chỉ nói lên những triết lý về con người mà còn nêu lên những tư tưởng mới mẻ qua những sự vật: gió, cát và những vì tinh tú

Trang 14

Giữa vũ trụ bao la, nhà phi công – nhà văn thấy mình trở nên trơ trọi và lung lạc Ông cố theo đuổi một vì sao, một tinh cầu gần gũi và quen thuộc

“Chúng tôi cảm thấy lạc lõng chìm ngập trong khoảng rộng liên hành tinh, chơi vơi giữa hàng trăm tinh cầu xa hút” [1] Nhưng có lẽ những lạc lõng ấy chẳng bằng với những phút giây thất lạc giữa bãi cát vàng sa mạc, không tìm được nước uống và chẳng nhìn thấy gì ngoài những ảo ảnh

Nhà văn đã nhìn thấy một hòn đá đen sì mà ngỡ một người đang hoa tay, múa chân, mún đánh thức gã Bédouin đang ngủ say thì gã bỗng hóa thành một thân cây đen thui, thấy cả đoàn người du hành không có thực đang tiến bước đằng kia Mọi thứ đang xảy ra đều là ảo giác “Thế thì chẳng ra mọi sự ở đời chả có chi là thật…” [2]

Từng câu, từng chữ của Saint-Exupéry dường như đều khiến người ta phải dừng lại suy nghĩ Quả thật thế, không phải mọi thứ ở đời đều là thật Những gì

ta có thể nhìn thấy chưa chắc là cái ta nên tin vào Nét đẹp của một cô gái mà ta thấy được đôi lúc không tỉ lệ thuận với tính cách bên trong mà cô ta có Những

gì ta có được trong hiện tại, chưa hẳn cũng sẽ có ở tương lai

Con người bình sinh cũng thường hay quên đi giá trị của những thứ cực kì quan trọng xung quanh mình Vì chúng luôn ở ngay trước mắt ta nên trong một phút giây ta vô tình lãng quên chúng Chỉ cho đến khi mất đi rồi, người ta mới ước ao có lại được và quý trọng những thứ khác nhỏ bé hơn Nước cũng thế Chỉ có lạc vào sa mạc, người ta mới thấy được tầm quan trọng của những giọt nước bé nhỏ “Nước không cần thiết cho sự sống: ngươi là sự sống” [3] Những

ai bị cái khát hoành hành nơi sa mạc hành hạ đến nước bọt cũng khô cạn mới thấy được rằng nước “là của cải to lớn nhất thế gian, và cũng mong manh lãng đãng nhất, ngươi thanh khiết thế nào ở giữa dạ trái đất của chúng ta” [4]

Trang 15

1.2.3 Văn phong của Saint-Exupéry

Văn chương của Saint-Exupéry mượt mà với lời văn trữ tình, giàu tình cảm Giọng văn men theo mạch tình cảm mang chất thâm trầm, từ tốn khiến người đọc dễ dàng tiếp cận với những chiêm nghiệm của nhà văn đồng thời cũng buộc trí não người đọc phải trăn trở qua từng câu văn cùng tác giả

Saint-Exupéry cũng rất biết sáng tạo trong cách kể Ông đã mượn những hình ảnh rất biểu trưng để nói lên những ngụ ý của mình về thế giới xung quanh như hình tượng cây bao báp, chân dung của sáu con người trên sáu tiểu hành tinh, hình tượng cậu Hoàng con, hình ảnh ngôi sao,…

Không gây tò mò bởi những chi tiết hấp dẫn như cái vốn dĩ cần có trong mỗi tiểu thuyết phiêu lưu, nhưng Saint-Exupéry đã rất khéo léo trong việc đan xen các triết lý, suy nghiệm của mình vào trong từng câu chuyện dù là ở dạng

bề nổi hay ẩn giấu sau lớp ngôn từ nhẹ nhàng, giàu hình ảnh

2 Vài nét về lý thuyết tiếp nhận

Tìm hiểu về quá trình tiếp nhận Saint-Exupéry, chúng tôi sẽ ứng dụng lý thuyết tiếp nhận nhằm làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu Trước hết, chúng ta cùng tìm hiểu sơ lược về lý thuyết tiếp nhận và một số khái niệm liên quan

Lý thuyết tiếp nhận là một môn khoa học nằm trong lý luận văn học, tập trung nghiên cứu về vị trí vai trò và mối liên hệ giữa người đọc - chủ thể tiếp nhận đối với đời sống văn học, cụ thể là tác phẩm văn học Tiếp nhận văn học xuất hiện cùng lúc với sáng tạo văn học Nếu sáng tác văn học là hoạt động chủ yếu thuộc về nhà văn thì tiếp nhận văn học lại là hoạt dộng đặc thù của người đọc, cả hai quá trình đều thông qua chủ thể trung gian là tác phẩm Tuy nhiên, mãi đến những năm 60 cuả thế kỷ XX, với những nhà nghiên cứu thuộc trường phái Konstanz như Hans Robert Jauss, Wolfgang Iser…lý thuyết về tiếp nhận mới được đặt thành vấn đề và bắt đầu được nghiên cứu một cách có hệ thống Thật ra như đã nói tiếp nhận văn học không tách rời sáng tác văn học, sự xuất hiện của ý thức tiếp nhận bắt đầu cùng lúc với ý thức văn học, như vậy

Trang 16

tiếp nhận văn học đã ra đời từ rất sớm và hình thành nên những quan điểm trong lý thuyết tiếp nhận truyền thống như tri âm và ký thác, lý thuyết truyền thống chủ yếu chỉ quan tâm tới “sự gặp gỡ của hai chủ thể cá nhân của tác giả

và người đọc, của hai “thế giới nội tâm”, của ý thức (và vô thức) tác giả với ý thức (và vô thức) người đọc…gọi đó là lý luận tiếp cận “bên trong”, nặng về mặt tâm lý, thiên hướng chủ quan, không đáng tin cậy” [1] Trước những vấn đề cần phải bổ sung trong lý thuyết tiếp nhận này, các nhà lý luận như H R Jauss

đã mở rộng thêm cho nó về bình diện xã hội học và văn hóa lịch sử, hình thành nên lý thuyết tiếp nhận hiện đại, ý nghĩa của nó là giải thích rõ được hoạt động tiếp nhận và từ đó cho thấy số phận lịch sử của tác phẩm

Lý thuyết hiện đại nhấn mạnh đến vai trò của người đọc như là trung tâm của quá tình tiếp nhận văn học trong tiến trình lịch sử, khảo sát “sự phản xạ và hồi ứng của độc giả” đối với một văn bản nghệ thuật Lý thuyết này đã góp phần quan trọng trong việc soi tỏ cho thấy nhiều “vấn đề mà lý luận văn học cổ điển trước đây chỉ mới đụng chạm đến chứ chưa giải quyết triệt để” [2]

Nhằm hiểu rõ hơn bản chất của lý thuyết tiếp nhận chúng ta cùng tìm hiểu

về những khái niệm cơ bản như tác giả văn học (nhà văn), tác phẩm văn học và người đọc, bên cạnh đó cũng xem xét tìm hiểu về mối liên hệ giữa người viết với người đọc và tác phẩm với người đọc

2.1 Tác giả văn học

Theo Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa tác giả văn học “là những người làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, tác phẩm văn học Về thực chất, tác giả văn học là người làm ra cái mới, người sáng tạo ra các giá trị văn học mới” [3] Vậy hiểu theo nghĩa đơn giản nhất tác giả văn học hay còn có

Trang 17

thể gọi là nhà văn, là người trực tiếp sáng tạo ra văn bản nghệ thuật, là chủ thể của quá trình sáng tạo văn học.Và để sáng tạo nên tác phẩm văn học, nhà văn phải vận dụng toàn bộ kinh ngiệm sống cũng như tài năng sáng tạo của mình

2.2 Tác phẩm văn học

Khái niệm thứ hai cũng quen thuộc và gắn liền với hoạt động sáng tác của nhà văn đó là tác phẩm văn học Cần phân biệt giữa khái niệm văn bản nghệ thuật với tác phẩm nghệ thuật hay còn gọi là tác phẩm văn học Văn bản nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, hàm chứa trong đó giá trị tinh hoa nghệ thuật mà tác giả muốn truyền đạt, giá trị của tác phẩm bao gồm giá trị

về nhận thức, giá trị về tư tưởng tình cảm, giá trị về thẩm mỹ, nó được biểu lộ qua nhiều hình thức như truyền khẩu hay dưới dạng văn tự, có thể được viết bằng văn vần hay văn xuôi Còn trong lý thuyết tiếp nhận, tác phẩm văn học được xem như là “văn bản nghệ thuật của nhà văn trong sự tiếp nhận của người đọc Ý nghĩa của nó được mở ra không cùng nhờ tính tích cực, sáng tạo của người đọc Lý thuyết tiếp nhận khẳng định tác phẩm là một quá trình” [1] Là một quá trình nghĩa là tác phẩm tồn tại qua nhiều giai đoạn, từ ý tưởng, tưởng tượng, văn bản – sự khách thể hóa ý tưởng bằng hệ thống ký hiệu cụ thể cho đến sự cảm thụ của người đọc Nhưng với lý thuyết tiếp nhận, “quá trình” chủ yếu lại được tập trung nghiên cứu chính là sự tiếp nhận của người đọc đối với tác phẩm sau khi nó được hoàn thành Như vậy, rõ ràng tác phẩm không được xem như một sản phẩm vật thể bất biến hay một đối tượng cụ thể xác định như văn bản, nhưng qua sự tiếp nhận của người đọc nó mặc lấy một “đời sống”, một “số phận”, nó trở nên một cuộc đối thoại về mặt nội dung và hình thức của chính nó ”Tác phẩm không chứa đựng những giá trị và ý nghĩa cố định mà luôn luôn biến đổi trong cuộc đối thoại không ngừng nghỉ giữa văn bản và những thế hệ độc giả kế tiếp” [2] Vì được xem là một quá trình, một cuộc đối thoại nên “bất cứ tác phẩm nào cũng không phải là một sự thật “được vật chất

Trang 18

hóa” hoàn bị và đông cứng trong tính trọn vẹn của nó Nó là tổng thể của các quá trình khác nhau – một hệ thống trong đó thường xuyên diễn ra những biến đổi đa dạng đã được chỉnh lý” [1]

2.3 Người đọc

Qua hai khái niệm trên về tác giả và tác phẩm, phần nào đã làm nổi bật vai trò của khái niệm thứ ba, cũng chính là vấn đề trung tâm của nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận hiện đại: khái niệm về người đọc

Người đọc tức cá nhân hay chủ thể tiếp nhận văn bản nghệ thuật của nhà văn và góp phần vào việc đồng sáng tạo, cũng như cung cấp cho tác phẩm văn học một số phận lịch sử Vai trò của người đọc rất quan trọng trong toàn bộ quá trình hoạt động văn học từ sáng tác cho đến tiếp nhận, vì nếu không có người đọc, “văn bản chỉ tồn tại ở khía cạnh vật thể, không thể tham gia được vào đời sống ý thức xã hội như một nhân tố tích cực” [2] Và tùy vào các mối liên hệ cũng như đăc tính riêng mà các nhà lý luận thường phân loại người đọc ra làm

ba loại đó là: người đọc thực tế bao gồm người đọc bình dân chiếm số lượng đông nhất và người đọc có trình độ chuyên môn cao (các nhà văn, nhà phê bình, nghiên cứu lịch sử văn học), ngoài ra còn có một loại người đọc nữa nằm giữa hai loại người đọc này, họ có sự đào luyện nhất định trong môi trường tri thức thích bàn luận về văn chương nhưng lại không xem văn học là một phần tất yếu của cuộc sống, họ dễ thỏa mãn với phạm vi hiểu biết ít được mở rộng của mình Loại thứ hai là người đọc tiềm ẩn, “được nghĩ ra hay hư cấu ra, bao hàm trong bản thân văn bản (chứa trong tác phẩm), một mặt nó là sự tràn ra ngoài bằng tưởng tượng của tác giả về người đọc, mặt khác, nó là hình mẫu được chỉ định cho sự đọc, là người đọc chuẩn mực cung cấp cho người đọc thực tế” [3] Loại người đọc thứ ba là người đọc lý tưởng hay còn gọi là người đọc trong giả định,

Grim (1989), Khái luận nghiên cứu tiếp nhận, trong sách Tập văn dịch về lý thuyết

tiếp nhận, Trần đình Sử dịch, Nxb Tam Liên Trung Quốc, tr 171

Trang 19

“trong ý hướng phản ánh sự chờ đợi của tác giả đối với người đọc của mình” [1] Vì là hình tượng lý tưởng về độc giả được chờ đợi của nhà văn, nên loại người đọc này thường không đồng nhất với người đọc trong thực tế Tuy nhiên

họ lại được thấm đẫm vào trong từng trang tác phẩm cùa người viết, vì hướng đến họ là nhà văn đang hướng đến mục tiêu phấn đấu cho cả nền văn học đồng thời cũng là để nâng cao trình độ chung của độc giả

2.4 Mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm đối với người đọc

Trước hết, về cơ bản mà nói mối quan hệ giữa tác giả với người tiếp nhận

là mối quan hệ giữa người nói và người nghe, giữa người viết và người đọc, giữa người trình bày và người cảm thụ, chia sẻ Nhưng trong lý thuyết tiếp nhận, qua các khái niệm như “người đọc tiềm ẩn”, “người đọc lý tưởng”,

“người đọc chuyên môn” hay “bình dân”…đã mang lại cho người đọc một tư thế mới, tích cực, chủ động và sáng tạo hơn trong mối liên hệ với tác giả và tác phẩm Thật vậy, mỗi một loại người đọc như đã trình bày, đều có sức ảnh hưởng và chi phối nhất định đến nhà văn, chính họ ngay từ lúc tác giả bắt đầu sáng tác đã âm thầm tác động đến khuynh hướng sáng tác của nhà văn, như thể người đọc trở thành hiện thân của những nhu cầu xã hội mà nhà văn phải thỏa mãn Vì tác giả trước khi đặt bút viết, bao giờ cũng phải nghĩ mình viết cho ai,

ai sẽ đọc rồi mới quyết định viết cái gì và viết như thế nào, ngay cả khi đó là viết cho chính mình, thì cái “mình” ở đây cũng đã tồn tại một cách khách quan trong tư tưởng của nhà văn rồi Thế nên, “trong mọi trường hợp khi nói tới người đọc, nhà văn đều cảm thấy họ “yêu cầu”, “đòi hỏi”, “tin cậy”, “hứng thú”, “phê bình”, “dè bỉu”, “hồi hộp”, “mong chờ” Còn nhà văn thì “đáp ứng”,

“lý giải”, “tác động”, “lôi cuốn”, “thuyết phục”, “giúp đỡ”, “truyền đạt”, “phơi bày”, “cho thấy”…[2] Giải thích cho vấn đề này Lê Ngọc Trà đã viết: “Vì tác phẩm văn học gắn với công chúng, không có công chúng sẽ khó mà hình dung

Trang 20

ra văn học, bởi vì tác phẩm văn học không phải chỉ là một cuốn sách, một cuốn băng cát xét ghi lại nỗi lòng tác giả mà còn là những ý nghĩa, những hình ảnh hiện lên trong đầu người đọc, người nghe” [1]

“Một tác phẩm đã hoàn thành chưa nhất thiết là đã hoàn tất” (Baudelaire) [2] Câu nói trên nhằm nhấn mạnh đến vai trò đồng sáng tạo của người đọc trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học Mặc dù vấn đề này vẫn còn đang trong vòng luận bàn, nhưng chúng ta vẫn thấy được phần nào tính đúng đắn của

nó Trước hết, nói người đọc đồng sáng tạo không có nghĩa là đánh đồng quá trình sáng tạo của nhà văn với quá trình tiếp nhận của độc giả làm một, hoặc là nói đến “vai trò tham gia sáng tạo ra văn bản” như người biên tập, người hiệu đính, nhưng là “sáng tạo ra hiệu quả của văn bản” [3] từ phía người đọc do sự cảm thụ văn học của họ Tuy nhiên, để có thể gọi là đồng sáng tạo, người đọc phải có một nền tảng nhất định, biết chữ là để đọc, nhưng không phải cứ sự đọc nào cũng là tiếp nhận văn học mà ở đây đòi hỏi người đọc phải có một vốn sống phong phú và những khinh ngiệm nghệ thuật nhất định Kinh nghiệm nghệ thuật lại cần được mở rộng và trau dồi không ngừng, vì thế mới có ý kiến cho rằng chỉ khi người đọc là nhà biên tập, người nhuận sắc, là người dịch, người vẽ minh họa, người chuyển thể… thì mới có thể gọi là đồng sáng tạo, những nhà lý luận này theo quan điểm của nhà nghiên cứu Xô Viết M Khrapchenco khi cho rằng đồng sáng tạo “chỉ là một ẩn dụ thi vị hơn là một khái niệm được luận chứng về mặt khoa học” [4], ông giải thích là do “quá trình sáng tạo ra các giá trị nghệ thuật và cảm thụ những giá trị ấy là những quá trình không đồng nhất” [5]

Trang 21

Nhưng như đã giải thích ở trên sáng tạo của người đọc là “sáng tạo trong tiếp nhận, sáng tạo trên nền của một sáng tạo khác nhằm mục đích hiểu, thưởng thức, lý giải, bình giá tác phẩm, khai thác từ tác phẩm những giá trị tinh thần có ích cho mình và cho đời sống ý thức xã hội, và bằng cách đó, làm cho tác phẩm thực sự sống một cuộc sống đầy ý nghĩa” [1] Người đọc “phát hiện trong văn bản và từ văn bản một thế giới khác, những con người khác Người đọc sống trong thế giới tưởng tượng của mình, xây dựng cho mình thông qua tác phẩm, một xứ sở riêng, người đọc “hóa thân” và “nhập cuộc” với những cảm xúc riêng, những kỷ niệm, ký ức và khát vọng riêng” [2] Và bằng những hoạt động cảm thụ nghệ thuật của chính mình, họ “làm phát lộ những hàm ngôn, những

ẩn ý tiềm tại trong “mạch lạc” của nó, làm dậy lên tiếng nói của những khoảng lặng, tìm ra logic của những kết nối bất ngờ…, ở cấp độ cao hơn, người đọc phát hiện ra những ý nghĩa mới của tác phẩm cùng những mối liên hệ chỉnh thể tương ứng với chúng Sự phát hiện này nhiều khi làm sửng sốt chính người đẻ

ra tác phẩm” [3] Đây chính là thể hiện của vai trò sáng tạo tích cực và chủ động của người đọc đối với tác phẩm văn học Nhưng cũng cần lưu ý, khẳng định vai trò này không có nghĩa là làm cho tác phẩm mất đi tính khách quan của mình, hay xem tác phẩm giống như một chiếc bình không để người đọc tùy

ý đổ vào đó thứ nước mà mình muốn Mức độ sáng tạo của người đọc không là

vô hạn, giới hạn của nó nằm trong phạm vi của những yếu tố vật chất và tinh thần xác định làm nên văn bản, vì trước khi người đọc được gọi là “đồng sáng tạo” thì họ phải là người có năng lực đồng cảm với sáng tác của nhà văn Nhà văn, nhà ký hiệu học U Eco đã khẳng định: “Văn bản là có hạn và cố định, dù

nó có thể cho phép một số lượng lớn những diễn giải (nhưng nó không biện hộ cho tất cả những diễn giải có thể có)” [4] Vì thế, trong lý thuyết tiếp nhận, đồng sáng tạo của người đọc “chỉ nên được hiểu là hoạt động cùng sản xuất sản

Trang 22

phẩm tinh thần với tác giả, hoàn thành chu trình sản xuất mà tác giả đã bắt đầu,

và chủ yếu đó là nói sự đồng thể nghiệm, đồng cảm, cùng biểu diễn để làm sống động cái điều nhà văn muốn nói” [1]

Tóm lại, thông qua mối quan hệ giữa người đọc với tác giả và tác phẩm đã cho thấy đời sống của tác phẩm không dừng lại, không đứng im nhưng luôn vận động, phát triển và sẽ không bao giờ đồng nhất với chính văn bản như lúc ban đầu trong thế giới tưởng tượng của tác phẩm Trải qua không gian và thời gian tất cả đã làm nên tính lâu bền của một tác phẩm, cho nó sự tồn tại trong lòng độc giả các thế hệ Và “qua sự tiếp nhận đó, các thế hệ người đọc đã thổi sức sống của thời đại mình vào tác phẩm, phát hiện lại, khám phá lại, làm cho

nó không bao giờ già cũ mà luôn luôn mới mẻ” [2]

3 Tiếp nhận Saint – Exupéry ở Việt Nam – một trở ngại

Tiếp nhận một tác phẩm văn học nước ngoài đồng nghĩa với việc tiếp cận với một nền văn hóa mới, một dân tộc mới Người đọc, từ những câu chuyện, những địa danh, những tập tục, có thể hiểu hơn về con người và tư duy của một quốc gia Tuy nhiên, không phải một đất nước nào khi tiếp nhận văn chương của một đất nước khác cũng đều thu được những lợi ích như trên nếu như các quốc gia ấy không cùng chung những tư tưởng về thời đại và thị hiếu thẩm mỹ của người đọc

Vào đầu thế kỉ XX, văn học phương Tây bắt đầu manh nha ở Việt Nam Tuy nhiên, việc tiếp nhận thơ, đặc biệt là tiểu thuyết Pháp còn nhiều khó khăn Loại tiểu thuyết phổ biến trong khoảng hai mươi năm đầu thế kỉ XX là tiểu

thuyết viết theo lối Tàu: Hoàng Tố Anh hàm oan, Kim Anh lệ sử, Hà hương

phong nguyệt,…Một trong những nguyên nhân sâu xa là do văn học nước nhà

thời kì này vẫn mang nặng tính cách thuộc địa Nội dung chủ yếu của văn chương thời này ở Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần nhân đạo Văn học như một thứ vũ khí nêu cao tinh thần yêu nước, chống giặc, khích lệ lòng

Trang 23

tự cường, tự hào dân tộc Thông qua ngòi viết, các nhà văn cũng xót thương cho thân phận con người nô lệ thời buổi bị áp bức, bóc lột, rơi lệ cho những thân phận đàn bà bạc bẽo, bị rẻ rúng hay nói như Nguyễn Du là “tài hoa bạc mệnh”

Trong khi đó, văn học Pháp nổi lên với các tác giả Banzac, Huygo,…Nội dung tư tưởng của văn học Pháp mở ra một chân trời mới: phản ánh đời sống hiện thực, xã hội, đi sâu khai thác nội tâm của cá nhân, con người Chính sự khác nhau về thời đại và tư tưởng ấy đã làm nên sự tách biệt, khó hòa nhập của văn học Pháp với văn học Việt Nam Tuy nhiên, lịch sử văn học có ghi nhận, xu hướng viết theo kiểu phương Tây đã khai sinh ra cuốn Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản Nhưng tác phẩm này lại không được đánh giá cao và tiếp nối Như vậy, tư duy tiểu thuyết phương Tây xa lạ với dân

Victo-ta tới mức nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Ngọc trên báo Nhật tân 1993 đã thẳng

thắn bảo rằng: “Truyện tây hầu như là kẻ thù của dân ta” [1]

Mặc dầu vậy, tiểu thuyết Pháp về sau có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn chương Việt Nam Nhưng do người Việt Nam vẫn chưa có cách tiếp nhận một cách khoa học nên đến thế kỷ XX mà ta vẫn viết theo lối tiểu thuyết của thế kỷ XIX

Tuy nhiên lý do chính của những khó khăn trong việc tiếp nhận văn học Pháp chính là ở hoạt động tiếp nhận của người Việt Nam Hoạt động ấy, ngoài việc đòi hỏi người đọc phải cảm nhận được cốt truyện, các tình tiết của truyện, thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của truyện, liên hệ các lát cắt của truyện để liên hệ, đánh giá về tư tưởng của tác giả, ý nghĩa của nội dung và vị trí của tác phẩm, còn yêu cầu tính tích cực, chủ động của người tiếp nhận Tức là, người đọc phải tinh tế trong việc kết nối các sự kiện, hình tượng, nhân vật với nhau để nắm bắt được mạch truyện và thấu suốt được tâm ý của tác giả

Văn chương phương Tây là văn chương của tư duy khái niệm và hình tượng Người viết luôn để những khoảng trống giữa các tình tiết và nhân vật đề

người đọc suy ngẫm Ví như đọc truyện Hoàng Tử Bé, người đọc cần hiểu

1

Vương Trí Nhàn, Nhà phê bình, Nxb Hội Nhà Văn, tr.51

Trang 24

được hình tượng cây baobap tượng trưng cho điều gì, những con người trên những hành tinh mà cậu Hoàng con gặp được nói lên điều gì và cuộc gặp gỡ giữa cậu và con cáo biểu trưng cho điều gì Chỉ có thể hiểu được chừng ấy những chi tiết, độc giả mới hiểu được hành trình đi tìm bạn trên sa mạc hoang vắng và rát bỏng của hoàng tử bé

Tuy nhiên, người Việt Nam vẫn còn chưa quen với kiểu tư duy và cách thể hiện tư tưởng theo lối này trong tiểu thuyết Vì vậy, khi đọc tiểu thuyết Pháp, độc giả Việt Nam khó có thể tiếp thu hoặc chỉ tiếp thu được một phần nhỏ về giá trị nội dung cũng như giá trị tư tưởng của các tác phẩm lớn, kinh điển Đó

là lý do mà hoạt động tiếp nhận nền văn học Pháp ở Việt Nam trở thành một trở ngại lớn

Tiểu kết

Như vậy, người đọc và tác giả có sự tác động qua lại thông qua tác phẩm Khi viết, tác giả chịu sự tác động của thị hiếu, gu văn chương, thậm chí là tuổi tác, giới tính và tầng lớp xã hội của độc giả để biết mình nên viết như thế nào Tuy nhiên, quá trình sáng tác đến đây chưa phải là hết Còn người đọc, khi tiếp nhận tác phẩm, họ đồng thời sáng tác lại văn bản lần thứ hai Bởi thông qua những tư duy, lối đọc tích cực, họ biết kết nối các hình ảnh mà nhà văn gầy dựng, liên tưởng phong phú và tạo ra những cách hiểu khác hay hơn, vượt thoát

ra ngoài cách hiểu vốn có của tác phẩm Độc giả của nhiều thế hệ sau vẫn cứ thế tiếp nối tác phẩm theo cách ấy Vì thế mà quá trình tiếp nhận có thể cứ kéo dài cho đến hàng thế kỉ sau hay mãi mãi

Tuy không phải là loại người đọc có chuyên môn cao, chỉ thuộc dạng người đọc bình dân nhưng thông qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã có một vài nhận định về tác phẩm của nhà văn này một cách chủ quan

Các tiểu thuyết của Saint-Exupéry đa phần ảnh hưởng những đặc điểm của nghề nghiệp Do đó, thể loại tiểu thuyết của ông là tiểu thuyết phiêu lưu Trên mỗi chặng đường bay mà ông trải qua, Saint-Exupéry thường bộc lộ những suy tư, trăn trở và chiêm nghiệm của mình về cuộc đời nói chung và con người nói riêng, về thiên nhiên, sinh vật và về tất cả những gì lọt vào tầm mắt ông Đó là tư tưởng chủ đạo trong hầu hết các tác phẩm mà ông viết

Trang 25

Văn phong của Saint-Exupéry cũng mượt mà, trữ tình, đầy vẻ thâm trầm, phù hợp với chất triết lý Ông cũng tinh tế và biết chọn lọc trong việc xây dựng các hình tượng nghệ thuật nhằm truyền tải những ngụ ý và bài học sâu sắc của mình

Mặc dù vậy, không phải bất cứ ai ở Việt Nam cũng có thể tiếp nhận những điều cơ bản nói ở trên trong các tác phẩm của nhà văn người Pháp Saint-Exupéry Có hai lý do để khẳng định điều này Một là, thị hiếu về văn chương của người Việt chưa bắt kịp với lối tư duy hình tượng và khái niệm như lối viết của các nhà văn phương Tây Hai là, quay ngược thời gian lịch sử văn học, trở

về thời kì đầu của thế kỉ XX, người Việt Nam vẫn còn mang nặng tư tưởng phong kiến trong văn chương Thế nên, việc tiếp nhận các tác phẩm mang chất phương Tây hóa như thế này vẫn còn khá lạ lẫm

Trang 26

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN SAINT – EXUPÉRY

Nói đến quá trình tiếp nhận Saint-Exupéry trước hết phải nói đến quá trình tiếp nhận các tác phẩm của ông qua các dịch phẩm, vì đó là con đường, là kênh tiếp nhận dễ dàng nhất giữa độc giả Việt với các tác phẩm của Saint-Exupéry

Có thể nói các tác phẩm của Saint-Exupéry đã hiện diện tại Việt Nam được gần hai phần ba thế kỷ, nó như một chứng nhân sống động đã cùng đất nước Việt Nam trải qua bao cuộc thăng trầm Để có thể dễ dàng tìm hiểu quá trình dịch thuật Saint-Exupéry, từ đó tìm hiểu quá trình tiếp nhận của độc giả Việt Nam

về ông, chúng tôi sẽ dựa vào quá trình phát triển của văn học dịch thuật ở hai thời kỳ: trước năm 1975 và sau năm 1975, trong mỗi thời kỳ lại chia thành nhiều giai đoạn nhỏ Đồng thời, chúng tôi cũng dựa vào những mốc lịch sử quan trọng để lý giải những đặc điểm của từng giai đoạn tiếp nhận này

1 Thời kỳ trước năm 1975

Trong thời kỳ này văn học việt Nam do ảnh hưởng của những biến cố lịch

sử quan trọng, đã có nhiều biến đổi sâu sắc, cụ thể là chuyển từ nền văn học cận đại sang nền văn học hiện đại với những thành tựu to lớn, đây là cả một thời kỳ văn học đầy sôi động và phức tạp, với sự phân hóa sâu sắc trong các khuynh hướng sáng tác cũng như quan điểm nghệ thuật Văn học dịch với tư cách là một bộ phận của văn học việt Nam cũng có những bước biến đổi rất thăng trầm

1.1 Giai đoạn 1900 – 1930

Đây là thời kỳ đất nước bắt đầu trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, tình hình xã hội lúc bấy giờ rất rối ren và phức tạp Xã hội phân hóa thành nhiều giai tầng, chủ yếu là tầng lớp thống trị và bị trị Nhằm phục vụ cho mục đích khai thác thuộc địa làm giàu cho chính quốc, cũng như muốn đồng hóa người Việt về mặt văn hóa, chính quyền Pháp đã cho xây dựng nhiều công ty, xưởng thợ, trường học…tại các đô thị lớn Bắt đầu bãi bỏ các quy chế giáo dục

và thi cử theo lối Nho gia (1919) để thiết lập hệ thống giáo dục mới theo kiểu Pháp với ba bậc tiểu học, trung học, đại học thống nhất cho cả ba miền (1917)

Trang 27

Tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ Trong cuốn hồi ký của mình, Vũ Ngọc Phan có kể lại chương trình học trong các trường trung học Tây và trung học Pháp –Việt quy định như sau: “Tiếng Pháp

là tiếng mẹ đẻ, tiếng Anh là sinh ngữ được xếp hàng đầu, còn tiếng Việt bị liệt vào tiếng ngoại quốc với các sinh ngữ Ý, Đức, Tây Ban Nha” [1]

Đây cũng là thời kỳ quá trình hiện đại hóa văn học bắt đầu Nó gắn liền với quá trình hiện đại hóa toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Việt Nam thời kỳ này, văn học việt Nam dần dần từ giã những ảnh hưởng của văn học Trung Quốc chuyển sang chịu ảnh hưởng của văn học Pháp Mở đường cho quá trình hiện đại hóa văn học này chính là văn học dịch và phỏng dịch, Phạm Xuân Thạch đã viết: “Trong bước sơ khởi của nền văn học hiện đại bằng chữ quốc ngữ, văn học dịch đã giữ vai trò thay thế những sáng tác thuần Việt

để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của lớp công chúng mới ở đô thị đồng thời là chất xúc tác cần thiết kích thích sáng tạo nơi những nhà văn Việt buổi đầu” [2]

Các tác phẩm văn học nước ngoài phương Tây bắt đầu được chuyển dịch

ở nhiều thể loại như: tiểu thuyết chương hồi, ký sự, du ký, kịch cổ điển phương Tây, truyện ngắn, tiểu thuyết phương Tây, các giá trị văn học mới lạ này được tiếp thu mạnh mẽ bên cạnh những giá trị văn học cũ, các giá trị văn học cũ tuy vẫn còn được giữ gìn nhưng cũng cho thấy sức ảnh hưởng ngày càng thu hẹp Một số bộ tiểu thuyết lớn của phương Tây được chuyển ngữ sang tiếng Việt đầu thế kỷ Tuy nhiên, do những khó khăn và hạn chế về mặt ngôn ngữ, phải đợi đến khoảng những năm 1913-1915 chúng ta mới có những bản dịch văn học phương Tây đích thực bao gồm truyện ngắn và một số tiểu thuyết dài Mặc dầu vậy, con số những tác phẩm này cũng còn rất hạn chế, có thể kể ra như:

GilBlas de Santilane (Lesage), Têlêmác phiêu lưu ký (Fénélon), Mai nương Lệ

Trang 28

cốt (Manon Lescaut Abbé Prévost), Quylive du ký (Les voyages de Guilliver-

Swift), Ba người lính ngự lâm (A Dumas), Miếng da lừa (H de Balzac),

Những kẻ khốn nạn (V Huygo) với những dịch giả “thuộc thế hệ trí thức tân

học đầu tiên như: Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Tố ” [1]

Nhưng phần lớn các tiểu thuyết được dịch chủ yếu thuộc về văn học châu

Âu thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX với đại diện “cổ điển nhất” là Fénelon (thế kỷ XVII) và những gương mặt “hiện đại” nhất bao gồm A Dumas, H de Balzac, V Huygo [2] Cũng theo Phạm Xuân Thạch những bản dịch các tác

phẩm Miếng da lừa (H de Balzac) hay Những kẻ khốn nạn (V Huygo) được

xem như những nỗ lực tiếp cận với những kết cấu tiểu thuyết phức tạp và hiện đại của thế kỷ XIX - XX Đây cũng là giai đoạn hai tác phẩm của Saint-

Exupéry được xuất bản ở Pháp: Người phi công (L'Aviateur, 1926) và Chuyến

thư miền Nam (Courrier Sud, 1929), sau năm 1930 là tác phẩm dành giải

Fémina: Bay đêm (Vol de Nuit, 1931) Vậy một câu hỏi đặt ra là liệu các tác phẩm của ông đã đến được với độc giả Việt Nam trong giai đoạn này chưa? Hiện tại vẫn chưa có tài liệu nào nói đến vấn đề này, nhưng dựa trên sự tiếp nhận chung của thế hệ độc giả văn học trong giai đoạn này, chúng ta vẫn có thể đưa ra một ý kiến phỏng đoán là chưa, dựa trên những cơ sở sau: Thứ nhất, đó

là do văn học dịch chỉ mới bắt đầu tiếp cận với các thể loại văn học mới của phương Tây như tiểu thuyết và truyện ngắn vào những năm đầu thế kỷ XIX, nên như Phạm Xuân Thạch đã khẳng định “Do những khó khăn về ngôn ngữ, phải đến khoảng những năm 1913-1915, chúng ta mới có những bản dịch văn học phương Tây đích thực bao gồm truyện ngắn và một số tiểu thuyết dài” [3] Trần Đình Hựu cũng cho rằng phần đông các tri thức tân học thời bấy giờ vẫn

“không đủ độ sâu và độ đúng của lý luận…để kế thừa truyền thống và tiếp thu

Trang 29

ảnh hưởng của văn học nước ngoài một cách hợp lý và sáng tạo” [1] Vì thế, số lượng tác phẩm dịch còn ít, chủ yếu là những tác phẩm kinh điển và của những tác gia lớn thế kỷ XIX, trong khi đó các tác phẩm của Saint-Exupéry lại được xếp vào số những tác gia nổi tiếng của đầu thế kỷ XX [2] và nhất là vì “trong ba mươi năm đầu thế kỷ, dịch thuật là kênh giao tiếp quan trọng nhất giữa văn học phương Tây và văn học Việt Nam” [3] chứ không phải là việc đọc trực tiếp các tác phẩm bằng nguyên bản, vì thế phần lớn độc giả Việt Nam tiếp xúc với văn học nước ngoài là qua các dịch phẩm nên chắc chắn ít có ai đủ điều kiện đọc trực tiếp các nguyên tác của ông bằng tiếng Pháp Chỉ đến sau năm 1930, với

sự trưởng thành của một thế hệ người Việt được đào tạo trong nhà trường Pháp – Việt (thế hệ đồng thời với những nhà văn sáng tác trong giai đoạn 1932- 1945), quá trình giao tiếp với văn học nước ngoài cụ thể là văn học Pháp mới được tiến hành chủ yếu thông qua con đường tiếp xúc trực tiếp với nguyên tác, văn học dịch mới từng bước nhường lại văn đàn cho những sáng tác thuần Việt” [4] Như vậy, chỉ có thể là từ năm 1930 trở đi, các tác phẩm của Saint-Exupéry mới có thể đến được với độc giả Việt Nam, nhưng vẫn chỉ bằng con đường đọc trực tiếp nguyên tác chứ chưa phải bằng con đường dịch thuật, vì thời kỳ đó vẫn chưa có tác phẩm nào của ông được dịch Lý do thứ hai để ta có thể khẳng định sự thiếu vắng của Saint-Exupéry ở Việt Nam trong giai đoạn này là vì đây là buổi giao thời của văn học Việt Nam, các yếu tố văn học cũ, văn học Trung đại vẫn còn khá đậm nét Những tư tưởng cũ đã phần nào ăn sâu trong tiềm thức của thế hệ độc giả không dễ dàng bị thay thế bởi những tư tưởng mới, nói như Phạm Xuân Thạch “sự thâm nhập của một số hình thức tiểu thuyết phương Tây vào thực tế văn học Việt nam bắt buộc phải qua một thứ

1

Trần Đình Hượu - Lê Chí Dũng (1988), Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900

– 1930, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, tr 337

2

Theo Đoàn Tử Huyến, (2011), 108 nhà văn thế kỷ XX-XXI, Nxb Lao động Trung

tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội

3

Phạm Xuân Thạch, Bđd, tr 6

4

Theo Phạm Xuân Thạch, Bđd, tr 6

Trang 30

“phin lọc” [1] Trong khi đó tiểu thuyết của Saint-Exupéry được xếp vào hạng tiểu thuyết mới thời bấy giờ, một loại tiểu thuyết hành động pha trộn với những yếu tố lãng mạn truyền thống nên sẽ rất khó có thể là lựa chọn cho những dịch giả của thời buổi giao thoa văn học đó

Tóm lại, trong thời kỳ văn học cận đại 1900-1930, văn học dịch thuật của nước ta đã có những bước phát triển mới về đối tượng và thể loại, tuy chưa thật

sự đặc sắc nhưng cũng đã góp phẩn mở đường cho những giá trị văn học mới tiếp nhận vào Việt Nam Mặc dù Saint-Exupéry và các tác phẩm vẫn chưa được tiếp nhận tại Việt Nam trong giai đoạn văn học này nhưng với những bước tiến mạnh mẽ của quá trình hiện đại hóa văn học, văn học dịch giai đoạn này đã trở thành bước chuẩn bị quan trọng cho sự tiếp nhận ông sau này

1.2 Giai đoạn 1930-1954

Sau năm 1930, nền văn học Việt Nam chuyển sang thời kỳ văn học hiện đại, các giá trị văn học nước ngoài được tiếp thu một cách nhuần nhuyễn, xuất hiện cả một đội ngũ tri thức hùng hậu được đào tạo theo chương trình Pháp – Việt, thời kỳ này nền văn học Việt Nam có những sự chuyển biến phân hóa phức tạp, thậm chí cả đấu tranh giữa các khuynh hướng và tư tưởng sáng tác khác nhau, văn học dịch trong những năm 30-45 “vẫn tiếp tục phát triển, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người, số lượng tác phẩm dịch tăng đáng kể, thông qua hoạt động này văn học Việt Nam đã tiếp thu được nhiều thành tựu của tư tưởng cũ cũng như nước ngoài để làm phong phú thêm các hình thức nghệ thuật cho mình, cũng như những tư tưởng nghệ thuật tiến

bộ, tích cực” [2] Đến năm 1945, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, đã

mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam, đất nước độc lập chấm dứt hơn tám mươi năm nô lệ dưới ách xâm lược thực dân Pháp và tay sai phong kiến, nhưng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời ngay lập tức đã phải

1

Theo Phạm Xuân Thạch, Bđd, tr 8

2

Nguyễn Phạm Hùng (1999), Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX), Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội, tr 212

Trang 31

đối mặt với biết bao nhiêu khó khăn từ thù trong giặc ngoài Văn học thời kỳ này là nền văn học cách mạng, văn học phục vụ kháng chiến, mang tính dân tộc

và đại chúng sâu sắc, mang đậm tính sử thi và anh hùng ca Mọi hoạt động văn học chủ yếu hướng về sáng tác để phục vụ cách mạng nên văn học dịch thời kỳ này không có bước phát triển nào đáng kể: “do ảnh hưởng của thời cuộc và tình hình đất nước chưa ổn định, nên sáng tác được đẩy lên chính yếu, số sách dịch xem chừng quá ít so với số sáng tác Hàng ngũ các dịch giả cũng không đông Suốt chín năm (45-54) chỉ có sáu tác phẩm nước ngoài được dịch và in thành sách” [1] Một nguyên nhân khác nữa là do người đọc được tiếng Pháp còn nhiều và vì nhu cầu thích tìm đọc những tác phẩm mới mình chưa biết nên

“trong số mười tác phẩm dịch thì đã có đến bảy tác phẩm người đọc Việt Nam

đã đọc từ lâu qua nguyên bản tiếng Pháp hoặc bản dịch ra tiếng Pháp” [2] Trong những năm 1930 đến năm 1945, các tác phẩm lớn của Saint-Exupéry lần

lượt được xuất bản tại Pháp: Cõi người ta (Terre des Hommes, 1939), Phi công

thời chiến (Pilote de Guerre, 1942), Thư gửi một con tin (Lettre à un Otage,

1943), Hoàng tử bé (Le Petit Prince, 1943) Ngày 31 tháng 7 năm 1944, ông

mất tích trong một phi vụ và được cho là đã tử nạn, bốn năm sau tác phẩm

Thành trì (Citadelle, 1948, viết năm 1936) của ông được xuất bản Như vậy có

thể khẳng định trong giai đoạn này, các tác phẩm của ông có thể đã được tiếp nhận ở Việt Nam thông qua một bộ phận tri thức có khả năng đọc được tiếng Pháp Nhưng để có thể đưa những tác phẩm của ông đến được gần hơn với đại

đa số người đọc bình thường lúc bấy giờ thì còn phải tiếp tục đợi cho đến giai đoạn sau (1955-1975) những tác phẩm đó mới bắt đầu được chuyển dịch

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. André Maurois, Antonie de Saint-Exupéry, Huỳnh Phan Anh dịch, http://quandodo.com/4rum/showthread.php?t=2114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antonie de Saint-Exupéry
2. Trần Thiện Đạo, (2003), Cửa sổ văn chương thế giới, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 214-227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cửa sổ văn chương thế giới
Tác giả: Trần Thiện Đạo
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
3. Hồ Thế Hà, Nghĩ về sáng tạo và tiếp nhận văn học hiện nay, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về sáng tạo và tiếp nhận văn học hiện nay
4. Đặng Thị Hạnh, (2005), Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XX - tập 3, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XX - tập 3
Tác giả: Đặng Thị Hạnh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
5. Nguyễn Văn Hạnh – Huỳnh Như Phương (1995), Lý luận văn học- Vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học- Vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh – Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
6. Vũ Hạnh – Nguyễn Ngọc Phan (2008), Văn học thời kỳ 1945-1975 ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Tổng Hợp Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thời kỳ 1945-1975 ở thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Vũ Hạnh – Nguyễn Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Tổng Hợp Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2008
7. Đoàn Tử Huyến, (2011), 108 nhà văn thế kỷ XX-XXI, NXB Lao động Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 108 nhà văn thế kỷ XX-XXI
Tác giả: Đoàn Tử Huyến
Nhà XB: NXB Lao động Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2011
8. Nguyễn Phạm Hùng (1999), Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX)
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
9. Nguyễn Vy Khanh, Văn Học Miền Nam Tự Do 1954-1975 10. http://www.hocxa.com/VanHoc/TacGia/VanHocMienNam54-75_NguyenVyKhanh.php Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Học Miền Nam Tự Do 1954-1975
11. Kharapchenko (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb Tác Phẩm Mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học
Tác giả: Kharapchenko
Nhà XB: Nxb Tác Phẩm Mới
Năm: 1978
12. Thụy Khuê, Văn học miền Nam, tháng 10/2007, Paris http://thuykhue.free.fr/stt/v/VanHocMienNam.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học miền Nam
13. Luc Estang, (2009), Saint-Exupéry cuộc đời và tác phẩm, Châu Văn Thuận dịch, NXB Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saint-Exupéry cuộc đời và tác phẩm
Tác giả: Luc Estang
Nhà XB: NXB Thời đại
Năm: 2009
14. Nguyễn Hiến Lê, “Vấn đề dịch văn”, Tạp chí Bách Khoa, số 7, ngày 15/4/1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dịch văn”, "Tạp chí Bách Khoa
15. Nguyễn Hiến Lê (1993), Hồi Ký, Nxb Văn Học, Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi Ký
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 1993
16. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2009), Ngữ văn 12 tập 1, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12 tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
17. Nguyễn Văn Lục, 20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 http://elib.quancoconline.com/ui/viewcontent.aspx?g=118440 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
19. Mai Kim Ngọc, “Saint Exupéry và huyền thoại Hoàng tử bé...”, Du ký Lyon 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saint Exupéry và huyền thoại Hoàng tử bé...”
21. Hoàng Nhân, (1990), Văn học Pháp- tập 2 (Thế kỷ XIX - XX ), NXB Khoa học Xã hội, NXB Mũi Cà Mau, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Pháp- tập 2 (Thế kỷ XIX - XX )
Tác giả: Hoàng Nhân
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1990
22. Vũ Ngọc Phan (2008), Vũ Ngọc Phan tuyển tập. Tập IV. Bút ký, hồi ký và những trang viết khác, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Ngọc Phan tuyển tập. Tập IV. Bút ký, hồi ký và những trang viết khác
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
23. Huỳnh Như Phương (2010), Lý luận văn học (nhập môn), NXB Đại học Quốc Gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học (nhập môn)
Tác giả: Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia TP.HCM
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w