1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở việt nam

73 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở các cấp độ khác nhau, chẳng hạn như một số khóa luận tố

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

RA NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

LÊ ĐỨC HIỀN

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

RA NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn này do chính tác giả nghiên cứu và

dung này b ất kỳ ở đâu Các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận

Tác giả

Lê Đức Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình th ực hiện luận văn, tác giả cũng đã nhận được sự giúp đỡ

Và cu ối cùng, tác giả cũng bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đến các đồng

đỡ, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả

Lê Đức Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA

1.2.1 Phân biệt đầu tư trực tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài với đầu tư

1.2.2 Phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với đầu tư gián tiếp ra

1.4 Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của pháp luật về đầu tư trực

2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước

Trang 6

2.2.1 Quy định về chủ thể đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 25

2.2.6 Quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi tiến hành

3.1.1 Những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện pháp luật về

3.1.2 Những hạn chế, khó khăn cần khắc phục trong hoạt động đầu tư

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện

3.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra

3.2.2 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đầu

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ngày nay các quốc gia trên thế giới đang tham gia vào quá trình toàn cầu hóa một cách sâu rộng, quá trình này giúp tất cả các quốc gia ngày càng có mối quan hệ mật thiết với nhau về kinh tế, chính trị, xã hội Các quốc gia phát triển

và các quốc gia đang phát triển đều phải nắm bắt được quy luật này để tìm ra cho mình một đối sách phù hợp cho sự phát triển của nền kinh tế qua đó khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế Trong xu thế của tự do hóa và toàn cầu hóa kinh tế đó thì dòng vốn đầu tư gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp đều rất quan trọng và đang vận động dưới nhiều hình thức khác nhau Vì đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (đầu tư trực tiếp ra nước ngoài) giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, chia sẻ được rủi ro, nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguyên nhiên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển, tránh các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tăng cường được khoa học kĩ thuật điều thật sự quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xu hướng đầu tư này chính là việc tận dụng được sức mạnh ưu thế riêng có của quốc gia mình từ đó tạo được bản sắc riêng khẳng định vị thế vững chắc của mình tại các quốc gia nhận đầu tư Mặt khác chính sự lớn mạnh không ngừng của kết cấu nền kinh tế và quy mô các doanh nghiệp cùng sự thông thoáng trong các quan hệ hợp tác liên doanh nên đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trở thành một thực tế khách quan Nhận thức được tầm quan trọng đó thời gian qua nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này

Với mong muốn tìm hiểu về hoạt động này đồng thời đóng góp một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài để hoạt động này có thêm những điều kiện thuận lợi

Trang 8

tiếp tục phát huy vai trò của mình trong việc đưa nền kinh tế Việt Nam đi lên

nên tôi quyết định chọn đề tài “Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở

luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu pháp luật trong lĩnh vực đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài ở các cấp độ khác nhau, chẳng hạn như một số khóa

luận tốt nghiệp đại học hoặc cao học: “Tìm hiểu các quy định của Luật Đầu tư

tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội - 2012; “Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước

Thị Phương - Luận văn thạc sĩ luật học - 2013; “Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra

n ước ngoài ở Việt Nam - Lý luận, thực trạng và giải pháp” - Vũ Thị Thu Hương

- Khoá luận tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội - 2010; “Pháp luật về đầu tư trực

ti ếp ra nước ngoài ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” - Trương

Quang Anh - Khoá luận tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội - 2012;… Hay có thể kể đến các công trình nghiên cứu được công bố trên một số tạp chí khoa học như:

giả Nguyên Minh Phong trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 1 năm 2017; “Chính

sách đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt

Nội, Kinh tế và Kinh doanh, tập 31, số 4 năm 2015; “Đầu tư trực tiếp nước

ngoài - nh ững thành tựu và vấn đề đặt ra” của tác giả Ngô Hồng Nhung trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 11 năm 2016…

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trước đây đều là các nghiên cứu

về pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư

2005 đã hết hiệu lực pháp lý hoặc là các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp ra

Trang 9

nước ngoài theo quy định hiện hành nhưng ở quy mô nhỏ là các bài viết khoa học trên các tạp chí mà chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và toàn diện về pháp luật về đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung làm rõ các vấn đề lý luận, thực trạng

pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam chủ yếu được quy định tại Luật đầu tư 2014

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được thực hiện trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Trên cơ sở nền tảng đó đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh luật học…

5 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

ở Việt Nam Để trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 03 chương như sau:

Trang 10

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam

- Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam và một số kiến nghị

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

RA NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI1.1 Bản chất pháp lý đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Trong những năm gần đây, bên cạnh việc các nhà đầu tư nước ngoài gia tăng đầu tư vào Việt Nam thì hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam cũng ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế Trong đó, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là đầu tư trực tiếp Từ khi hoạt động đầu tư ra nước ngoài xuất hiện ở Việt Nam cho đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài

Theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 22/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 04 năm 1999 quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt

Nam, “Đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam là việc doanh nghiệp

Vi ệt Nam đưa vốn bằng tiền, tài sản khác ra nước ngoài để đầu tư trực tiếp ở

n ước ngoài theo quy định của Nghị định này” Tại Khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư

2005 thì quy định như sau: “Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn

b ằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành

ho ạt động đầu tư” Sau đó, để làm rõ hơn quy định tại Luật Đầu tư 2005 thì

Nghị định số 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09 ngày 08 năm 2006 quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã quy định cụ thể hơn như sau: “Đầu tư

tr ực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để

th ực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở

n ước ngoài” Mới đây nhất, Nghị định số 83/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày

Trang 12

25 tháng 09 năm 2015 quy định về đầu tư ra nước ngoài đã quy định: “Đầu tư ra

n ước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn; hoặc thanh toán mua một phần hoặc

toàn b ộ cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý

ho ạt động đầu tư đó”

Từ các định nghĩa nêu trên có thể hiểu khái quát hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một hình thức đầu tư quốc tế mà nhà đầu tư bỏ vốn để xây dựng hoặc mua một phần, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trở thành chủ sở hữu từng phần hoặc toàn bộ cơ sở đó và trực tiếp tham gia quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của đối tượng

mà họ bỏ vốn đầu tư

Từ định nghĩa về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã nêu ở trên, có thể rút ra một số đặc điểm pháp lý của hoạt động đầu tư này như sau:

- V ề chủ thể của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Chủ thể của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chủ yếu là các nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức kinh tế không phân biệt nhà đầu tư là doanh nghiệp hay nhà đầu tư không là doanh nghiệp, không phân biệt nhà đầu tư có nguồn gốc vốn đầu tư trong nước hay nhà đầu tư có nguồn gốc vốn đầu tư nước ngoài

- V ề hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Đây là hình thức đẩu tư trực tiếp thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ tại nước nhận đầu tư mà ở đó, nhà đầu tư trực tiếp nắm quyền quản lý mọi hoạt động của dự án mà mình đầu tư

- V ề nguồn vốn của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Hoạt động đầu tư này được thực hiện bằng nguồn vốn của chính nhà đầu tư

do họ tự quyết định và chịu trách nhiệm về các quyết định này Nguồn vốn của

Trang 13

nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có thể là tiền, tài sản hoặc máy móc, công nghệ…

- M ục đích của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Giống các hoạt động đầu tư khác, mục đích trước tiên của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận Đây luôn là mục tiêu cao nhất mà các chủ đầu tư hướng tới Ngoài ra còn do các mục đích khác hoặc đi kèm như

mở rộng thị trường, tận dụng nguồn nhân công giá rẻ và tài nguyên phục vụ sản xuất tại chỗ dồi dào…

Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ đảm bảo quyền kiểm soát, quản

lý của nhà đầu tư đối với dự án đầu tư của mình Nhà đầu tư sẽ hoàn toàn chủ động trong việc tìm hiểu, lựa chọn thị trường, xây dựng dự án, thực hiện dự án

và hưởng lợi nhuận từ dự án

- V ề mối quan hệ giữa nhà đầu tư và nước nhận đầu tư

Đây là mối quan hệ hợp tác bình đẳng, đôi bên cùng có lợi Trong mối quan

hệ này, nhà đầu tư sẽ mở rộng được thị trường, có lợi nhuận lớn, tận dụng được nguồn nhân công giá rẻ tại chỗ, được hưởng ưu đãi thuế… còn nước tiếp nhận đầu tư sẽ nhận được các công nghệ tiên tiến mà nhà đầu tư chuyển giao cùng với kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh…

1.2 Phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với một số hoạt động đầu tư khá

1.2.1 Phân biệt đầu tư trực tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam

- V ề chủ thể đầu tư:

Chủ thể của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chủ yếu là các nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức kinh tế không phân biệt nhà đầu tư là doanh nghiệp

Trang 14

hay nhà đầu tư không là doanh nghiệp, không phân biệt nhà đầu tư có nguồn gốc vốn đầu tư trong nước hay nhà đầu tư có nguồn gốc vốn đầu tư nước ngoài Đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, chủ thể của hoạt động này là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

- V ề địa điểm thực hiện hoạt động đầu tư

Hoạt động đầu tư trực tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam, tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới Trong khi đó, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam chỉ được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam

- V ề nguồn vốn đầu tư:

Nguồn vốn của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đều có thể là tiền, tài sản hoặc máy móc, công nghệ… Tuy nhiên, nguồn gốc của vốn và dòng tiền di chuyển của 2 hoạt động đầu tư này có sự khác biệt hoàn toàn

Nguồn vốn của hoạt động đầu tư trực tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài xuất phát từ Việt Nam và được dịch chuyển sang nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện đầu tư Còn nguồn vốn của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam xuất phát từ nước đầu tư và được dịch chuyển vào Việt Nam Về cơ bản thì dòng vốn di chuyển của 2 hoạt động này là trái ngược nhau

1.2.2 Phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

- V ề chủ thể của hoạt động đầu tư:

Khác với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có chủ thể chủ yếu là các nhà đầu

tư là cá nhân, tổ chức kinh tế không phân biệt nhà đầu tư là doanh nghiệp hay

Trang 15

nhà đầu tư không là doanh nghiệp, không phân biệt nhà đầu tư có nguồn gốc vốn đầu tư trong nước hay nhà đầu tư có nguồn gốc vốn đầu tư nước ngoài, hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thường được thực hiện bởi các tổ chức kinh

tế xã hội, các tổ chức quốc tế và bởi nguồn vốn của chính phủ các nước như quỹ của IMF, WTO, UNESCO, WHO… dưới dạng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA

- V ề nguồn vốn đầu tư:

Nguồn vốn của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có thể có vốn là tiền, tài sản hoặc máy móc, công nghệ… Trong khi đó, nguồn vốn cho hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài chỉ có thể là tiền Nếu là vốn của Chính phủ, các tổ chức quốc tế thì còn đi kèm Theo đó là điều kiện về lãi suất và các

ưu đãi kèm theo

- V ề hình thức của hoạt động đầu tư

Đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nhà đầu tư trực tiếp bỏ vốn để thực hiện đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý mọi hoạt động đầu tư của

dự án đầu tư

Đối với hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, nhà đầu tư thông qua việc mua bán cổ phần, cổ phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư hoặc đầu tư thông qua các hình thức viện trợ

và tài trợ

- V ề tính chất của hoạt động đầu tư

Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ đảm bảo quyền kiểm soát, quản

lý của nhà đầu tư đối với dự án đầu tư của mình Nhà đầu tư vừa là người bỏ vốn, vừa là người trực tiếp quản lý điều hành việc sử dụng vốn của mình và có quyền tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp Do đó nhà đầu tư đặc biệt quan

Trang 16

tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của họ Hay nói cách khác, quyền sở hữu và quyền sử dụng gắn liền với nhà đầu tư

Hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài chỉ đơn thuần là hoạt động bỏ vốn, đầu tư vốn vào doanh nghiệp thông qua việc mua bán chứng khoán hoặc những tài sản có giá khác, nhà đầu tư không có quyền tham dự vào hoạt động của công ty Lợi nhuận thu được từ việc chia cổ tức hoặc việc bán chứng khoán thu chênh lệch Tuy nhiên, nếu nắm giữ một số cổ phần nhất định, đầu tư gián tiếp ra nước ngoài sẽ trở thành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và nhà đầu tư có quyền ra quyết định với công ty họ đang bỏ vốn

1.3 Vai trò của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.3.1 Đối với nước đầu tư ra nước ngoài

- Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ kéo theo những hoạt động liên quan như việc chuyển dịch một số lượng nhất định lao động trong nước ra nước ngoài, chuyển giao công nghệ, dịch chuyển hàng hoá… từ đó giải quyết một số khó khăn trong nước như dư thừa lao động, bão hoà về các sản phẩm trong nước và sự thiếu cạnh tranh trong đầu tư trong nước…

- Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, mà sản phẩm đặc trưng, mang thương hiệu quốc gia sẽ có mặt tại nước nhận đầu tư và dần gây dựng tiếng tăm trên thị trường thế giới Qua đó sẽ tạo nên danh tiếng, nâng cao tên tuổi cho quốc gia trên thị trường quốc tế, giúp củng cố vai trò chính trị và vị thế kinh tế của quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các quốc gia thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Ví dụ điển hình cho trường hợp này là Nhật Bản, Hàn Quốc nổi tiếng trên thị trường quốc tế với các doanh nghiệp như Samsung, Sony, Toyota, Hyundai, LG…

Trang 17

- Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các quốc gia sẽ có thêm nguồn nguyên liệu, nhiên liệu… phục vụ cho sự phát triển kinh tế trong nước Ví dụ: Tập đoàn dầu khí Việt Nam đầu tư hoạt động khai thác dầu mỏ tại các nước trên thế giới sẽ tạo nguồn cung cấp cho nhà máy lọc dầu Dung Quất khi mà khả năng khai thác dầu trong nước có xu hướng giảm sút [25]

- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thành công cũng sẽ tác động ngược lại nền kinh tế trong nước theo hướng thúc đẩy công cuộc cải tổ nền kinh tế về thể chế chính sách, về thuế, về thủ tục hành chính, về hệ thống thông tin đối ngoại

và cả về chính sách điều hành vĩ mô

- Ngoài ra, các quốc gia còn thu được thêm một lượng lớn ngoại tệ nhờ việc đóng thuế hoặc hoạt động tái đầu tư của các nhà đầu tư có hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.3.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư

- Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mà nguồn thu ngân sách của nước tiếp nhận đầu tư tăng lên đáng kể thông qua việc thu các loại thuế (thuế đất, thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế doanh nghiệp…) Qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư của nước nhận đầu tư

- Xuất phát từ việc nguồn vốn đầu tư có thể là máy móc, công nghệ, nguyên liệu, quyền sở hữu trí tuệ, bằng sáng chế… mà nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp thu các công nghệ hiện đại, máy móc và quy trình sản xuất tiên tiến từ hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đồng thời, nước tiếp nhận đầu tư còn nhận được các kinh nghiệm, phương thức quản lý tiên tiến để nâng cao hiệu quả quản lý cho nền kinh tế trong nước

- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài góp phần quan trọng vào xuất khẩu Bằng việc tiếp nhận đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài mà lượng hàng hoá sản

Trang 18

xuất để xuất khẩu của nước tiếp nhận đầu tư sẽ của tăng lên nhanh chóng Ví dụ tại Việt Nam, trước năm 2001, xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô Từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở 10 thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 [1] Đồng thời, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu của nước tiếp nhận đầu tư

- Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động của nước tiếp nhận đầu tư

1.3.3 Đối với nhà đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

- Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trường, thâm nhập sâu vào thị trường thế giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Bằng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, doanh nghiệp sẽ dễ dàng đưa sản phẩm tới nước nhận đầu tư mà không vướng phải hàng rào thuế quan và hàng rào bảo hộ phi thuế quan như khi xuất khẩu sản phẩm, nhờ đó sản phẩm của doanh nghiệp có sức cạnh tranh lớn hơn và tiêu thụ tốt hơn tại nước nhận đầu tư

- Đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp có điều kiện phân tán rủi ro kinh doanh, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong khi tinh hình thế giới đầy biến động về kinh tế - chính trị như hiện nay

- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hơn đầu tư trong nước Các nhà đầu tư luôn tính toán và tận dụng lợi thế của mình

và các ưu đãi của nước nhận đầu tư để đầu tư vào nơi có tỉ suất lợi nhuận lớn nhất

- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các nhà đầu tư khắc phục những khó khăn, thiếu thốn khi đầu tư trong nước như thiếu hụt lao động có tay nghề;

Trang 19

thiếu hụt tài nguyên, nguyên liệu sản xuất; thiếu hụt máy móc, công nghệ phù hợp sản xuất, kinh doanh…

1.4 Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Vì bản chất là hoạt động đầu tư xuyên quốc gia nên khung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bao gồm hệ thống pháp luật của nước đầu tư và hệ thống pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng chịu sự điều chỉnh của các hiệp định song phương và đa phương cũng như các điều ước quốc tế mà các quốc gia ký kết với nhau Khung pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam cũng không ngoại lệ, nó được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật

mà trước hết phải kể đến là Hiến Pháp và Luật Đầu tư trực tiếp quy định về hoạt động này Cùng với đó là các đạo luật có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Chứng khoán, Luật Các tổ chức tín dụng… và các văn bản dưới luật có liên quan khác Ngoài ra, khung pháp luật về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam còn bao gồm các điều ước quốc tế, các hiệp định song phương hoặc đa phương về đầu tư mà Việt Nam đã ký kết như: Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ; Hiệp định Đầu tư trong khuôn khổ Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Ấn Độ; Công ước về "tổ chức

b ảo đảm đầu tư đa biên"…

Như vậy, có thể hiểu ở mức độ khái quát rằng pháp luật về đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài là tổng thể những quy định pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức

và quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mà nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bao gồm các quy định về những vấn đề sau:

Trang 20

- Quy định về chủ thể đầu tư

Đây là các quy định về các cá nhân, tổ chức thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

- Quy định về điều kiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Để được đầu tư ra nước ngoài thì nhà đầu tư phải đáp ứng được các điều kiện cụ thể do nhà nước đưa ra để đảm bảo tính khả thi của dự án đầu tư, đảm bảo lợi ích của quốc gia…

- Quy định về thủ tục đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Đây là các thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài; thủ tục cấp, điểu chỉnh và chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài; thủ tục triển khai dự án đầu tư

- Quy định về hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài rất đa dạng để doanh nghiệp lựa chọn nhưng còn phụ thuộc vào quy định của nước tiếp nhận đầu tư Về cơ bản, pháp luật các nước đều quy định các hình thức đầu tư trực tiếp như liên doanh, độc doanh, hợp doanh hoặc thực hiện hoạt động sáp nhật và mua lại doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư

- Quy định về lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Theo pháp luật Việt Nam thì doanh nghiệp được đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế quốc dân trừ các dự

án gây phương hại đến bí mật, an ninh, quốc phòng, lịch sử, văn hoá, thuần phong mỹ tục của Việt Nam Ngoài ra, việc doanh nghiệp có thể đầu tư vào lĩnh vực nào còn phụ thuộc vào quy định pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư

- Quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư trực

ti ếp ra nước ngoài

Trang 21

Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam quy định thống nhất về quyền và nghĩa vụ đối với các chủ thể khi tham gia vào mối quan hệ pháp luật này Dù là nhà đầu tư ra nước ngoài hay đầu tư nước ngoài vào Việt Nam hay đầu tư trong nước thì đều có quyền và nghĩa vụ giống nhau

- Quy định về quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Đây là các quy định về trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước trong hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.5 Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của một số nước trên thế giới

1.5.1 Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Thái Lan

Những năm gần đây, các doanh nghiệp lớn của Thái Lan như Central Group, BJC, Charoen Pokphand Group, Siam Cement Group… đang không ngừng đầu tư trực tiếp ra các nước trên thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Nam

Á trong đó có Việt Nam Điều này một phần là nhờ pháp luật về đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài của Thái Lan luôn được khuyến khích và đẩy mạnh từ hàng chục năm nay

Theo quy định mới, doanh nghiệp Thái Lan có tài sản khoảng 5 tỉ Baht (146,3 triệu USD) trở lên được quyền đầu tư vào các tài sản ở nước ngoài Mỗi công ty có quyền đầu tư ra nước ngoài tối đa 50 triệu USD mà không phải xin phép, nếu muốn đầu tư vượt quá số tiền đó, doanh nghiệp phải xin ngân hàng trung ương phê chuẩn Trước đây, Thái Lan chỉ cho phép một số doanh nghiệp và tổ chức được đầu tư ra nước ngoài Cá nhân chỉ có thể đầu tư qua công ty môi giới hoặc quỹ đầu tư, doanh nghiệp muốn đầu tư ra nước ngoài đều phải xin phép ngân hàng trung ương và được xem xét theo từng trường hợp cụ thể [17, tr.21]

Trang 22

Bên cạnh đó, Thái Lan cũng ngày càng tăng thêm các ưu đãi về thuế cho các dự án đầu tư ra nước ngoài và các công ty mẹ đóng tại Thái Lan (gọi là Regional Operating Headquarters hay ROH), nhằm chủ động hội nhập và khai thác các cơ hội đầu tư quốc tế, củng cố sức cạnh tranh và vị thế nền kinh tế Thái Lan trong Cộng đồng kinh tế chung ASEAN (AEC) và toàn cầu Theo đó, nếu các ROH nắm giữ ít nhất 25% vốn tại các công ty con ở nước ngoài và tiến hành các dịch vụ hỗ trợ (như quản lý, nghiên cứu thị trường, mua sắm, marketing, chuyển giao công nghệ), có trên 50% doanh thu từ các hoạt động đầu tư ra nước ngoài thì sẽ được hưởng thuế suất thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10% đối với lợi nhuận từ kinh doanh, tiền bản quyền, lãi và được miễn thuế đối với tiền cổ tức thu được từ nước ngoài

Chính phủ Thái Lan cũng thực thi chính sách thúc đẩy ngành dịch vụ và giải trí có tiềm năng ra nước ngoài như phim hoạt hình, nhạc và phần mềm

1.5.2 Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc

Trước năm 1978, Trung Quốc thực hiện chính sách kiểm soát chặt chẽ hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Sau năm 1978, các quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã có phần được nới lỏng hơn nhờ việc Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách mở cửa Đến năm 1988, Trung

Quốc đã phê chuẩn “công ước bảo đảm cơ cấu đầu tư nhiều bên” Đến năm

1992, Trung Quốc quyết định đẩy mạnh cải cách kinh tế và hội nhập toàn cầu, đặc biệt là cải cách doanh nghiệp nhà nước để hình thành các tập đoàn lớn kinh

tế lớn đã đưa đến chính sách khuyến khích tích cực hơn đối với hoạt động đầu tư

trực tiếp ra nước ngoài Cũng trong năm này, Trung Quốc phê chuẩn “công ước

gi ải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia” Năm 2001, việc Trung Quốc

gia nhập WTO đòi hỏi phải mở cửa dần thị trường và đối mặt với áp lực cạnh tranh gia tăng Do đó, Trung Quốc giảm bớt bảo hộ trong nước và các doanh nghiệp buộc phải tìm kiếm thị trường mới ở nước ngoài Trong bối cảnh đó,

Trang 23

chiến lược “đi ra ngoài” của Trung Quốc đã được đưa ra và một số quy định

pháp lý được ban hành nhằm hỗ trợ cho hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Trong những năm gần đây, Trung Quốc tiếp tục cho đẩy mạnh chiến lược “đi ra

ngoài” Văn kiện Đại hội Đảng Trung Quốc cũng đã nêu rõ vấn đề “thu hút

vào” và “đi ra ngoài một cách hợp lý” [8]

Trung Quốc có một cơ chế quản lý rất chặt chẽ và khoa học thông qua cải cách thể chế đầu tư của Quốc Vụ Viện và các văn bản pháp luật điều chỉnh vấn

đề này như: “Biện pháp quản lý tạm thời về việc thẩm tra, phê chuẩn các công

v ới các công trình đầu tư ra nước ngoài trọng điểm”; “Biện pháp quản lý ngoại

h ối trong đầu tư ra nước ngoài”…

Bên cạnh đó, Bộ Thương mại Trung Quốc cũng ban hành và sửa đổi nhiều văn bản trong quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như:

“Bi ện pháp kết hợp kiểm tra hàng năm đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp ra

n ước ngoài tạm thời”; “Thông tư về việc sử dụng dấu chuyên dụng và giấy

ch ứng nhận kiểm tra hàng năm đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước

ngoài”; “Thông t ư về việc thành lập trung tâm thông tin cho doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài”…

Ngoài ra, Bộ Thương mại Trung Quốc cũng phối hợp với Bộ Ngoại giao

nước này đưa ra “Hướng dẫn đầu tiên đối với đầu tư vào các ngành công nghiệp

ở nước ngoài” vào tháng 7 năm 2004 và “Danh mục hướng dẫn đầu tư ra nước

của các doanh nghiệp trong các ngành được khuyến khích vào thị trường mục tiêu để phát huy năng lực cạnh tranh và lợi thế so sánh của các doanh nghiệp Trung Quốc [27, tr.30-38]

Có thể thấy các văn bản trên đã phần nào đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Nhớ các văn bản pháp

Trang 24

luật này, Trung Quốc đã tạo ra môi trường thuận lợi thúc đẩy các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Năm 2009, các doanh nghiệp nhà nước đầu tư ra nước ngoài 38,2 tỷ USD, chiếm 67,6% tổng vốn đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài của Trung Quốc Tổng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cộng dồn của Trung Quốc đến cuối năm 2009 tăng lên 245,75 tỷ USD [29] Đến cuối năm 2013, Trung Quốc có khoảng 25.400 doanh nghiệp đầu tư vào 184 quốc gia

và vùng lãnh thổ trên thế giới với tổng vốn 107,8 tỷ USD; năm 2014 con số này tăng lên 120 tỷ USD [30]

1.5.3 Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc

Theo số liệu của Ngân hàng Korea Exim Bank, Hàn Quốc, tổng số vốn FDI của Hàn Quốc ra nước ngoài các năm 2013, 2014 lần lượt là 35,59 tỷ USD và 35,04 tỷ USD Tính đến hết quý II/2015, tổng vốn FDI của Hàn Quốc đạt khoảng 417,5 tỷ USD thông qua hơn 61 nghìn dự án, trong đó vốn giải ngân khoảng 291,9 tỷ USD (tỷ lệ vốn giải ngân khoảng 70%) Nửa đầu năm 2015, tổng vốn FDI Hàn Quốc ra nước ngoài đạt 17,45 tỷ USD, dự báo cả năm sẽ đạt mức tương đương với năm trước Theo Báo cáo đầu tư toàn cầu 2015 của Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển, Hàn Quốc đứng thứ 13 trong số 20 nền kinh tế có mức đầu tư nước ngoài lớn nhất trên thế giới trong năm 2013 và 2014 [3]

Những kết quả trên có được là nhờ những sự thay đổi chính sách pháp luật

về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc từ những năm 70 của thế kỷ trước Năm 1968, Hàn Quốc có điều lệ về đầu tư ra nước ngoài nhưng vốn đầu

tư ra nước ngoài vẫn rất thấp Đến năm 1975, nhận thấy những sự thiếu hiệu quả trong pháp luật về đầu tư ra nước ngoài, Hàn Quốc đã liên tục có những sửa đổi các thể chế liên quan đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như: Nới lỏng các hạn chế về vốn đầu tư ra nước ngoài cho các nhà đầu tư; Uỷ quyền phê chuẩn và quản lý các hoạt động đầu tư ra nước ngoài, đứng đầu là Thống đốc đầu tư ra

Trang 25

nước ngoài; Bãi bỏ các điều luật, điều lệ gây hạn chế đầu tư ra nước ngoài; Đề ra các biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài… Đến nay, Hàn Quốc đang thực hiện chính sách mở cửa đầu tư ra nước ngoài theo lộ trình và chỉ thực hiện chính sách tự do hóa đầu tư ra nước ngoài khi nền kinh tế đã có thặng dư về cán cân thanh toán, có dự trữ ngoại tệ cao, tiềm lực của nền kinh tế nói chung và của doanh nghiệp Hàn Quốc đã đủ mạnh và có nhu cầu mở rộng phạm vi hoạt động ra bên ngoài Hiện tại, Hàn Quốc đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ cấp phép đầu

tư ra nước ngoài [22]

Bằng việc nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và có những chính sách pháp luật thông thoáng mà các doanh nghiệp Hàn Quốc có thêm động lực to lớn thúc đẩy các hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Trang 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Có thể thấy, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã được hình thành và phát triển từ rất lâu trên thế giới đồng thời đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới Chương 1 Luận văn đã làm rõ được một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như bản chất pháp lý của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, phân biệt được hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với một số hoạt động đầu tư khác; chỉ ra và phân tích được vai trò của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; đồng thời một số vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng được làm rõ như khái nhiệm và những nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài hay cũng giới thiệu được pháp luật của một số nước trên thế giới về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đây chính là nền tảng lý luận làm tiền đề để Luận văn triển khai các nội dung ở các chương tiếp theo

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

RA NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam

Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tại Việt Nam kể từ khi ra đời đến nay đã trải qua nhiều lần sửa đổi cho phù hợp với quy định của quốc tế và thực tiễn phát triển của đất nước Kể từ đó đến nay, pháp luật về đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài tại Việt Nam có thể chia làm 3 giai đoạn lớn như sau: (i) Giai đoạn trước năm 2005; (ii) Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014; (iii) Giai đoạn từ năm 2014 đến nay

2.1.1 Giai đoạn trước năm 2005

Những năm đầu thập niên chín mươi của thế kỷ XX chứng kiến sự chuyển mình to lớn của nền kinh tế khi lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng dần qua các năm Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tăng cao cả về số lượng lẫn quy mô sản xuất khiến cho lượng quota xuất khẩu không đáp ứng được khả năng sản xuất Cùng với đó là chính sách đóng cửa rừng và cấm khai thác gần bờ để bảo vệ tài nguyên môi trường được nhà nước ban hành

đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp trong nước Nhằm giảm tải những ảnh hưởng xấu từ thị trường trong nước và tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, một số doanh nghiệp đã chuyển mục tiêu mở rộng hoạt động đầu tư sang các quốc gia láng giềng như Lào, Campuchia… Trước tình hình đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14 tháng 04 năm 1999 của Chính phủ quy định về đầu tư

ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam để hướng dẫn và quản lý hoạt động đầu tư này của các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 28

Bên cạnh đó, các Bộ, ngành liên quan cũng hành nhiều văn bản hướng dẫn Nghị định 22/1999/NĐ-CP bao gồm Thông tư số 05/2001/TT-BKH ngày 30 tháng 08 năm 2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam; Thông tư số 97/2002/TT-BTC ngày 24 tháng 10 năm 2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài và các văn bản hướng dẫn khác đã trở thành dấu mốc quan trọng trong việc hình thành khung pháp lý đầu tiên cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài và đạt được nhiều hiệu quả Tuy nhiên, thực tế cho thấy các văn bản pháp luật vẫn bộc lộ nhiều thiếu sót dẫn đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn như:

- Nhiều quy định trọng Nghị định số 22/1999/NĐ-CP còn thiếu cụ thể, thiếu đồng bộ và nhất quán; Nhiều điều khoản không bao quát được hết sự đa dạng của các hình thức đầu tư;

- Thủ tục đầu tư ra nước ngoài còn phức tạp, rườm rà; Thủ tục điều chỉnh giấy phép đầu tư còn chưa cụ thể, rõ ràng;

- Nhiều quy định can thiệp quá sâu vào hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp;

- Không có cơ chế rõ ràng, minh bạch để kiểm soát hoạt động đầu tư, dẫn đến thông tin về tình hình đầu tư ra nước ngoài hầu như không được cập nhật;

- Chưa có cơ chế phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các Bộ, ngành có liên quan, đặc biệt là trong khâu quản lý dự án đầu tư…

- Chưa có các quy định nhằm hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mạnh dạn tiến hành đầu tư [4]

Trang 29

2.1.2 Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014

Nhận thấy những thiếu sót trong các quy định về hoạt động đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài tại Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn liên quan, Quốc hội đã dành hẳn một chương (Chương VIII) trong Luật Đầu tư 2005 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2006) để quy định về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Ngay sau đó, Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng được ban hành nhằm hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư 2005

Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thời kỳ này đã kế thừa và phát huy có chọn lọc những điểm tích cực đồng thời khắc phục những hạn chế của các quy định pháp luật trước đó nhằm mở rộng và gia tăng quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp Nghị định 78/2006/NĐ-CP còn quy định các nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bao gồm cả doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài cũng đều có quyền đầu tư ra nước ngoài Nghị định này cũng đã quy định rõ về trách nhiệm, mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước và nhà đầu tư… Cùng với đó, một loạt văn bản hướng dẫn hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng đã được Bộ, ngành liên quan ban hành trong thời kỳ này như: Thông tư số 10/2006/TT-NHNN ngày 21 tháng 12 năm 2006 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn việc tổ chức tín dụng cho khách hàng vay để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; Thông tư số 11/2010/TT-BTC ngày 19 tháng 01 năm 2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu

tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài; Thông tư số 104/2011/TT-BTC ngày 12 tháng 07 năm 2011 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 11/2010/TT-BTC ngày 19 tháng 01 năm 2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài; và các văn bản liên quan khác

Trang 30

Đặc biệt vào ngày 20 tháng 02 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ra Quyết định số 236/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Thúc đẩy đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài” Quyết định này được coi là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm tăng cường hơn nữa các hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong thời kỳ này

Có thể thấy, các quy định được ban hành trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam Tuy nhiên, trước thực tiễn phát triển của nền kinh tế trong nước và trên thế giới, sau gần 10 năm đưa vào thực hiện thì các quy định này cũng đã bộc lộ những thiếu sót, hạn chế nhất định như:

- Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chưa bao quát được đầy đủ hoạt động đầu tư vốn ở nước ngoài không thực hiện trên cơ sở dự án đầu tư và/hoặc không thành lập pháp nhân ở nước ngoài;

- Quy định về việc ghi nhận tổng vốn đầu tư trong Giấy chứng nhận đầu

tư và áp dụng thủ tục đăng ký hoặc thẩm tra dự án đầu tư tùy thuộc vào quy mô

dự án đầu tư cũng không rõ ràng về mục tiêu quản lý của nhà nước (tức là quản

lý vốn đầu tư chuyển ra nước ngoài hay quản lý toàn bộ vốn thực hiện dự án ở nước ngoài) Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các cơ quan quản lý bởi nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp không chỉ là nguồn vốn chuyển ra nước ngoài mà còn được huy động ở nước ngoài (trong đó một số dự án huy động vốn chủ yếu ở nước ngoài) Nguồn vốn này thuộc trách nhiệm của nhà đầu tư và chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư

2.1.3 Giai đoạn từ năm 2014 đến nay

Năm 2014, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư năm 2014, Luật này có hiệu lực từ ngày 26 tháng 11 năm 2014 nhằm thay thế cho Luật Đầu tư năm 2005 đã bộc lộ nhiều hạn chế Luật Đầu tư 2014 vẫn dành hẳn một chương quy định về

Trang 31

hoạt động đầu tư ra nước ngoài (Chương V) với những thay đổi tích cực về khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; bổ sung các hoạt động đầu tư ra nước ngoài được khuyến khích; Áp dụng thủ tục đăng ký vốn đầu tư ra nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền quản lý ngoại hối… Những nội dung sửa đổi, bổ sung trong Luật Đầu tư 2014 về hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm đảm bảo việc quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài sẽ chủ yếu tập trung vào việc kiểm soát nguồn vốn đầu tư chuyển ra nước ngoài nhằm đảm bảo để doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn chuyển ra nước ngoài một cách hợp pháp, phù hợp với lĩnh vực khuyến khích đầu tư theo quy định của pháp luật

Để hướng dẫn các quy định về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong Luật Đầu tư 2014, Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn như: Nghị định số 83/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng

09 năm 2015 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài; Thông tư

số 09/2015/TT-BKHĐT ngày 23 tháng 10 năm 2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành mẫu văn bản thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài; Thông tư số 12/2016/TT-NHNN ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài; và các văn bản liên quan khác

Những quy định được ban hành trong giai đoạn này là một dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện cơ sở pháp lý về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam

2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

ở Việt Nam

2.2.1 Quy định về chủ thể đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Giai đoạn trước năm 2005, pháp luật quy định chủ thể của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chỉ là các doanh nghiệp Việt Nam, cụ thể gồm: doanh

Trang 32

nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp nhà nước; hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã; doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp Quy định đó đã hạn chế một số lượng lớn nhà đầu tư là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đồng thời cũng tạo

ra sự phân biệt đối xử, sự bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư và các loại hình doanh nghiệp đang cùng tồn tại

Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014, Nghị định 78/2006/NĐ-CP đã mở rộng hơn đối tượng là chủ thể của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài gồm:

- Tổ chức kinh tế thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo quy định tại Luật Hợp tác xã;

- Tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng;

- Hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật, cá nhân mang quốc tịch Việt Nam;

- Các tổ chức khác thực hiện đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam

Có thể thấy, Nghị định 78/2006/NĐ-CP vẫn còn quy định một cách chung chung và còn phải dẫn chiếu quay trở lại Luật Đầu tư 2005

Hiện nay, quy định về các chủ thể của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tại Nghị định 83/2015/NĐ-CP về cơ bản cũng không có gì thay đổi so với quy định trong Nghị định 78/2006/NĐ-CP nhưng đã được quy định một cách đầy đủ và trực tiếp hơn Điều này đảm bảo mục đích là một văn bản hướng dẫn của Nghị định 83/2015/NĐ-CP đồng thời tạo điều kiện dễ dàng cho các nhà đầu

tư mới dễ dàng nắm bắt quy định pháp luật để tham gia hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Trang 33

Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định 83/2015/NĐ-CP, nhà đầu tư tại Việt Nam được phép đầu tư ra nước ngoài gồm:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp;

- Doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp;

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật Đầu

tư nước ngoài chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư;

- Doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp;

- Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã;

- Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;

- Hộ kinh doanh, cá nhân Việt Nam;

Như vậy, chủ thể của quan hệ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài hiện nay là tất

cả các nhà đầu tư tại Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, không phân biệt nhà đầu tư là doanh nghiệp hay không phải doanh nghiệp, không phân biệt nhà đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài hay trong nước

2.2.2 Quy định về hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Khác với Luật Đầu tư 2005, Luật Đầu tư 2014 đã có quy định cụ thể về hình thức đầu tư ra nước ngoài ngay trong Chương V về đầu tư ra nước ngoài Theo đó, các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bao gồm:

- Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư;

Trang 34

- Thực hiện hợp đồng BCC ở nước ngoài;

- Mua lại một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản lý và thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại nước ngoài;

- Các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư

Về cơ bản thì nội dung các quy định về hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong Luật Đầu tư năm 2014 không khác gì so với quy định trong Luật Đầu tư 2005 nhưng về hình thức xây dựng pháp luật của Luật Đầu tư 2014 đã có bước phát triển đáng kể khi quy định một cách cụ thể nhất các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Từ đó có thể thấy được sự quan trọng của hoạt động đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài trong nền kinh tế của nước ta và sự coi trọng của nhà nước đối với hoạt động đầu tư trong thời kỳ hiện nay

2.2.3 Quy định về lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Luật Đầu tư 2014 không quy định cụ thể về các lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mà có các quy định gián tiếp về vấn đề này

Theo đó, doanh nghiệp có thể tự do lựa chọn ngành, nghề kinh doanh ngoại trừ các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh để thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh theo Luật Đầu tư

Trang 35

hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Nhóm I có nguồn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục 3 của Luật Đầu

tư 2014;

- Kinh doanh mại dâm;

- Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người;

- Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người

Ngoài ra, một số lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cần có một số điều kiện, thủ tục đặc biệt như:

- Dự án thuộc lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyền hình, viễn thông có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 400 tỷ đồng Việt Nam trở lên cần được Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài;

- Các lĩnh vực cần tài liệu xác nhận địa điểm thực hiện dự án đầu tư bao gồm:

• Dự án đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất, chế biến, chế tạo;

• Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản, cơ sở hạ tầng

So với Luật Đầu tư 2005, quy định về lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo luật mới đã bỏ quy định về các lĩnh vực khuyến khích đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài và quy định về lĩnh vực cấm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với

Trang 36

những dự án gây phương hại đến an ninh quốc gia, quốc phòng, lịch sử, văn hoá thuần phong mỹ tục của Việt Nam Việc bỏ các quy định như vậy nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và thể hiện sự khuyến khích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của nhà nước trong mọi lĩnh vực trừ các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh Qua đó thể hiện mong muốn ngày càng đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của nhà nước Việt Nam

2.2.4 Quy định về điều kiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Theo Luật Đầu tư 2005, để được đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nhà đầu tư phải tuân thủ các điều kiện sau:

- Có dự án đầu tư ra nước ngoài;

- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam;

- Được cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư Nghị định 78/2006/NĐ-CP có bổ sung thêm một điều kiện là “Tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước đối với các trường hợp sử dụng vốn nhà nước để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài” nhưng về cơ bản điều kiện này vẫn có nội dung thống nhất và tương đồng với quy định của Luật Đầu tư 2005 Nhìn vào các quy định này có thể thấy nhiều điểm hạn chế, thiếu tính thực tế như quy định “Có dự án đầu tư ra nước ngoài” vì trên thực tế có dự

án đầu tư ra nước ngoài thì nhà đầu tư mới xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư nên quy định như vậy là thừa Hay như việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam là một khái niệm rất khó và trên thực tế là cả một quá trình dài được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện dự án đầu tư từ khi xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho đến khi chuyển vốn đầu tư, đưa dự án đi vào hoạt động… vì thế điều kiện này khó có tính khả thi để thực hiện và khó có một thước đo chuẩn trên thực tế

Ngày đăng: 02/09/2018, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w