1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thay đổi chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học ở việt nam sau năm 1986 (1986 1996) luận văn ths văn học 60 22

116 930 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng trong giai đoạn này, việc “cởi trói” trong tư duy của thế hệ các nhà phê bình lý luận, tiếp nhận lý thuyết từ phương Tây vào Việt Nam đã tạo nên bầu không khí tranh luận, trao đổi s

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu……… 3

1 Lý do chọn đề tài……… 3

2 Lịch sử vấn đề……… 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 11

4 Phương pháp nghiên cứu……… 12

5 Cấu trúc của luận văn……… 13

Chương 1: VẤN ĐỀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN TRONG LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI ………

14 1.1 Nghiên cứu tác phẩm văn học từ quan niệm truyền thống……… 15

1.1.1 Mối quan hệ giữa văn bản văn học và hiện thực……… 15

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn bản văn học và tác giả……… 18

1.2 Tác phẩm văn học nhìn từ quan niệm của lý thuyết tiếp nhận hiện đại………

20 1.2.1 Văn bản văn học – tác phẩm văn học trong lý thuyết tiếp nhận hiện đại………

21 1.2.2 Vai trò của người đọc trong lý thuyết tiếp nhận hiện đại ……… 25

1.3 Tiểu kết……… 31

Chương 2: NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA SỰ THAY ĐỔI CHUẨN MỰC THẨM MĨ TRONG TIẾP NHẬN VĂN HỌC SAU NĂM 1986…………

34 2.1 Những đặc điểm của một nền văn học mang âm hưởng sử thi trước năm 1986……….………

35 2.1.1 Văn học gắn bó với vận mệnh chung của đất nước……… 36

2.1.2 Quan niệm về con người – anh hùng lý tưởng……… 41

2.1.3 Quan niệm trong sáng tác và tiếp nhận văn học cách mạng……… 42

2.2 Yếu tố chuẩn thẩm mĩ mới trong sáng tác và lý luận phê bình văn học sau năm 1986………

46 2.2.1 Sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ trên bình diện văn xuôi tiêu biểu 47 2.2.2 Quan niệm mới trong tư duy lý luận phê bình văn học ……… 57

2.2.2.1 Mối quan hệ giữa nhà văn – bạn đọc……… 58

Trang 3

2.2.2.2 Mối quan hệ giữa văn học và hiện thưc – Văn học và chính trị 60 2.2.2.3 Sự đa dạng, đa chiều trong tiếp nhận văn học……… 64

2.3 Tiểu kết……… 67 Chương 3: VAI TRÒ CỦA CHUẨN THẨM MĨ MỚI TRONG TIẾP

NHẬN VĂN HỌC SAU NĂM 1986………

70

3.1.Chuẩn thẩm mĩ mới trong sáng tác và tiếp nhận văn học……… 70

3.1.1 Những tranh luận xung quanh các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp 72

3.1.2 Những tranh luận xung quanh các sáng tác của Phạm Thị Hoài …

3.1.3 Tranh luận xung quanh “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh……

3.2 Những khả năng và giới hạn của chuẩn mực thẩm mĩ mới trong tiếp nhận văn học ………

3.2.1 Chuẩn thẩm mĩ mới trong tiếp nhận văn học………

3.2.3.1 Từ giới hạn của “cộng đồng diễn giải”……… 92

3.2.3.2 Đến giới hạn chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học…… 96

Kết luận……… 103

Tài liệu tham khảo……… 106

Bài báo liên quan đến Đề tài

Phụ lục

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tác phẩm văn học là sản phẩm sáng tạo của nhà văn và người đọc

Lý luận văn học ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của người đọc Việc khẳng định vai trò của văn bản, người đọc trước vai trò của tác giả chính là sự thay đổi trong tư duy lý luận văn học Nghiên cứu tác phẩm văn học thực chất là chúng ta nghiên cứu và khám phá mối quan hệ giữa văn bản và người đọc Vì vậy, tiếp nhận văn học chính là hoạt động sáng tạo, trong đó vai trò đặc biệt quan trọng là người đọc hay còn gọi là chủ thể tiếp nhận được đề cao

Tìm hiểu mối quan hệ giữa văn bản và người đọc là tìm hiểu quá trình tạo nghĩa của văn bản thông qua người đọc Quá trình này khẳng định và xác lập vị trí của người đọc trong phương thức tồn tại tác phẩm văn học Như vậy, văn bản văn học khác tác phẩm văn học khi nó chưa thiết lập được đời sống riêng thông qua người đọc Không có một tác phẩm văn học nếu như không có người đọc Chủ thể tiếp nhận chính là yếu tố quan trọng để hình thành giá trị tác phẩm

Giai đoạn 10 năm (1986 - 1996) đánh dấu chặng đường đổi mới, phát triển của văn học Việt Nam đương đại đồng thời cũng đánh dấu những sự thay đổi về nhiều mặt (đội ngũ người viết, số lượng tác phẩm, thể tài, bút pháp, công chúng…) Trong đó phải kể đến sự thay đổi chuẩn mực thẩm mỹ trong tiếp nhận văn học

Có thể nói, năm 1986 với chủ trương đổi mới toàn diện đời sống văn nghệ do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng đã tạo ra những thay đổi mạnh mẽ đời sống văn nghệ Việt Nam Trên văn đàn văn học Việt Nam đã xuất hiện nhiều cây bút trẻ với phong cách mới mẻ, cùng nhiều thể loại phong phú, đa dạng Sự đổi mới về nhận thức, tư tưởng và phong cách viết của các tác giả đã tạo nên những tác phẩm có giá trị, tạo bầu

Trang 5

không khí sôi nổi trên văn đàn Cũng trong giai đoạn này, việc “cởi trói” trong tư duy của thế hệ các nhà phê bình lý luận, tiếp nhận lý thuyết từ phương Tây vào Việt Nam đã tạo nên bầu không khí tranh luận, trao đổi sôi nổi cùng đội ngũ lý luận phê bình nghiên cứu hùng hậu như: Phong

Lê, Trần Đình Sử, Trương Đăng Dung, Đỗ Văn Khang, Đoàn Đức Phương, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Ngọc Thiện, Bùi Việt Thắng… Sự đổi mới về nhận thức, tư tưởng nghệ thuật khiến cho mọi vấn đề trong cuộc sống được phản ánh trong cái nhìn đa diện, nhiều chiều, tiếp nhận cuộc sống trên bình diện thế sự - đời tư thể hiện trong nhiều khía cạnh của đời sống cá nhân Sự “cởi trói” trong tư duy, nhận thức của người sáng tác đã tạo nên sự thay đổi lớn về chức năng văn học, quan niệm văn học, mối quan hệ giữa văn học và chính trị, mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc, cũng như về bút pháp và cá tính sáng tạo của nhà văn Sự tìm tòi đổi mới về nội dung phản ánh, hình thức thể hiện, tự do trong sáng tạo cũng là căn nguyên dẫn đến những cuộc tranh luận, trao đổi sôi nổi trên báo và tạp chí trong giai đoạn này như: Báo Văn nghệ, tạp chí Nghiên cứu Văn học, Tạp chí Sông Hương, báo Văn nghệ Quân Đội.v.v…

Không khí đổi mới văn học còn thể hiện ở việc, người tiếp nhận đã làm tròn sứ mệnh của mình trong việc đọc, tiếp nhận, phản hồi tác phẩm văn học qua các diễn đàn văn học Đây chính là giai đoạn thể hiện sự thay đổi chuẩn mực thẩm mỹ trong hoạt động tiếp nhận văn học, nhất là sau năm 1986 Bởi lẽ, các giá trị về thẩm mỹ đã thay đổi và tác động trực tiếp tới người sáng tác và người tiếp nhận, dẫn đến những thay đổi trong sáng tác và tiếp nhận văn học Trong chu trình đời sống văn học: Đời sống – nhà văn – văn bản – người đọc, người đọc có vị trí quan trọng Chính vì

lẽ đó, việc nghiên cứu hoạt động tiếp nhận văn học sẽ làm rõ những thay đổi về chuẩn mực thẩm mỹ của văn học Việt Nam sau năm 1986, đồng thời cho thấy vai trò, vị trí của chủ thể tiếp nhận trong việc làm hình

Trang 6

thành chuẩn mực thẩm mỹ mới trong tiếp nhận văn học và hoạt động sáng tạo văn học

Như vậy, với đường lối mới, nhận thức mới, đời sống văn học Việt Nam đã có nhiều thay đổi, góp phần mở rộng, nâng cao trình độ thưởng thức nghệ thuật của công chúng, đặc biệt là sự thay đổi chuẩn mực thẩm

mỹ nhìn từ hoạt động tiếp nhận văn học… Để tìm hiểu những chuẩn mực thẩm mỹ trong hoạt động tiếp nhận văn học thay đổi như thế nào, chúng

ta cần áp dụng lý thuyết về người đọc, tiếp nhận văn học trong lý thuyết tiếp nhận hiện đại để khám phá các vấn đề của Văn học Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến năm 1996

Đứng trước thực tế đó, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận

văn này là: Sự thay đổi chuẩn mực thẩm mỹ trong hoạt động tiếp nhận văn học ở Việt Nam sau năm 1986 (1986 – 1996)

2 Lịch sử vấn đề

a Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Tác phẩm văn học nhìn từ mối quan hệ người đọc và cvvăn bản văn học là một trong những vấn đề thu hút sự chú ý của lý luận văn học hiện đại những thập niên giữa thế kỷ XX Trong công trình “Tác phẩm văn học”1

(1931) của nhà nghiên cứu Roman Ingarden người Balan, ông

đã vận dụng Hiện tượng học để lí giải các giá trị văn học đồng thời đưa ra những khám phá mới về tác phẩm văn học trong mối quan hệ với người đọc Ông quan niệm tác phẩm văn học chịu sự tác động có ý thức của người đọc Người đọc chính là người sẽ lấp đầy “những khoảng trống” trong văn bản văn học để trở thành một tác phẩm văn học Tác giả gọi việc đọc của người đọc chính là sự “cụ thể hóa” văn bản văn học Việc

“cụ thể hóa” ở mối người đọc luôn có sự khác nhau Roman Ingarden là người đã có những phát hiện mới về tác phẩm văn học từ việc vận dụng

1

Roman Ingaden (2001), Tác phẩm văn học, Trương Đăng Dung giới thiệu và dịch, Văn học nước ngoài số 3, tr155 - 188

Trang 7

Hiện tượng luận (phenomenology) vào công trình nghiên cứu Tuy nhiên công trình nghiên cứu của ông mới chỉ dừng lại là quan điểm có tính phương pháp luận

Năm 1960 công trình “Chân lí và phương pháp”2

của Hans Georg Gadamer nhà triết học người Đức dựa trên quan điểm Tường giải học (Hermeneutics) đã đi vào nghiên cứu và khám phá sâu sắc mối quan hệ văn bản và người đọc Theo đó, văn bản nghệ thuật được soi xét và khám phá trong cấu trúc của ngôn từ động và còn được đặt trong mối quan hệ với chủ thể tiếp nhận Hans Georg Gadamer đã đặt ra nhiều câu hỏi với đại ý rằng: nghĩa của văn bản thể hiện qua cái gì? Vai trò của sự chú ý của nhà văn trong nghĩa này là gì? Có thể hiểu được những tác phẩm mà

về mặt lịch sử và văn hóa là xa lạ đối với người đọc? Có thể hiểu sự khách quan hay mọi sự hiểu đều lệ thuộc vào tình thế lịch sử cụ thể Tiếp theo là sự xuất hiện của Hans Robert Jauss và W Iser là hai đại diện tiểu biểu cho Mỹ học tiếp nhận (Receptive ethetics) đã đưa ra quan điểm của

mình qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu “Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học”( H R Jauss 1970)3

, “Kết cấu vẫy gọi, Hoạt động đọc” (W.Iser) Các nhà nghiên cứu đã đưa ra những hướng nghiên cứu khám phá mới về mối quan hệ tương tác giữa văn bản

và người đọc Theo nghiên cứu, người đọc giữ vị trí và vai trò quan trọng trong sự tồn tại của tác phẩm văn học mà tác phẩm văn học lại được hình thành là nhờ sự tồn tại của văn bản văn học Mặt khác, văn bản văn học lại tồn tại như một “kết cấu vẫy gọi” còn người đọc luôn sẵn có “tầm đón đợi” (Cách dịch của Trương Đăng Dung) thể hiện bằng hành động đọc lấp đầy “những khoảng trống” văn bản Như vậy, chỉ khi có hành động đọc thì văn bản văn học mới hình thành thành tác phẩm văn học Vai trò

Trang 8

của người đọc được đề cao và coi như là nhân tố quan trọng để quyết định đến sự tồn tại của tác phẩm văn học cũng như xác lập những giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn học Tư tưởng học thuật và những khám phá tìm tòi mới mẻ của H.R Jauss và W Iser đã mở ra một hệ hình mới cho

lý luận văn học, đó là xác lập một lý thuyết văn bản mới trên sự kế thừa

và phát triển của Tường giải học, trong đó coi người đọc là trung tâm của tác phẩm văn học… Tiếp theo đó là sự góp mặt của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều trường phái lý luận khác nhau về vấn đề tác phẩm văn học, người đọc – chủ thể tiếp nhận, tiêu biểu là các tác giả: J Derrida, R Barthes, M.B Khraptrenko, Foucault, Umberto…Có thể nói rằng: Mỗi tác giả đều có những quan điểm và có những lí giải khác nhau về vấn đề tác phẩm văn học, người đọc và sự tiếp nhận thẩm mĩ qua từng thời kỳ, từng giai đoạn Việc đặt tác phẩm văn học trong mối quan hệ với người đọc là một hướng nghiên cứu có chủ đích liên quan đến vấn đề chủ thể tiếp nhận trong tiếp nhận văn học Quá trình từ hiện thực cuộc sống đến chủ thể sáng tạo, từ khách thể văn bản đến chủ thể tiếp nhận là quá trình vận động không ngừng, ở đó tác phẩm văn học không phải là sản phẩm

cố định, mà là quá trình

Có thể nói, điểm qua một số công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài mà người viết tiếp cận gián tiếp qua các bài viết, bài dịch trên sách và tạp chí và các công trình còn sơ lược, chưa được cụ thể Mặt khác, đây là mảng lý luận còn mới ở Việt Nam, tư liệu còn hạn hẹp nên những vấn đề chúng tôi nêu trong bài viết chưa được đầy đủ và mang tầm khái quát khoa học

b Tình hình nghiên cứu trong nước

Vấn đề tiếp nhận văn học được coi là một mảng lớn, là vấn đề quan trọng của lý luận văn học Nhiều công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu phương Tây đã có ảnh hưởng và tác động không nhỏ đến các nhà nghiên cứu trong nước Vấn đề tiếp nhận văn học được nhiều nhà nghiên

Trang 9

cứu quan tâm, thu hút sự chú ý của dư luận được đăng tải trên báo chí, qua các diễn đàn văn học nghệ thuật

Vào những năm 70 của thế kỷ XX, vấn đề tiếp nhận văn học xuất hiện qua nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu thu hút sự quan tâm chú ý của dư luận Năm 1971, Tạp chí Văn học số 4 có đăng bài của Nguyễn

Văn Hạnh: “Ý kiến của Lênin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống”

Bài viết đã đặt ra yêu cầu đối với nhà nghiên cứu về việc chú ý đến phản ứng của người đọc dựa trên quan điểm thực tiễn trong nhận thức lý luận

của Lênin Trong bài viết ông đã nhấn mạnh “Giá trị của một tác phẩm thực ra không phải chỉ đóng khung trong phạm vi sáng tác mà còn lan rộng đến phạm vi “thưởng thức” Như vậy, nhà nghiên cứu tập trung vào

vấn đề nghiên cứu tác phẩm văn học theo quan điểm mỹ học tiếp nhận của xã hội học chứ chưa phân tích đi sâu vào vấn đề tiếp nhận mỹ học Năm 1972, trong tập tiểu luận phê bình “Đi tìm tác phẩm văn chương”, Huỳnh Phan Anh đã khẳng định “Người đọc chính là chủ thể của tác phẩm Người đọc không chỉ là kẻ thưởng ngoạn, không chỉ làm công việc

ca ngợi, người đọc còn là kẻ sáng tạo vô danh…độc giả là kẻ, bằng chính tác phẩm của mình mang đến cho tác phẩm một ý nghĩa” [2] Năm 1980,

GS Hoàng Trinh có đề cập đến vấn đề tiếp nhận trong văn học, nhưng với tư cách là đối tượng của văn học so sánh chứ chưa coi vấn đề tiếp nhận văn học là hướng nghiên cứu trong nghiên cứu phê bình, lý luận văn học riêng biệt Năm 1985, trên tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội tháng

11 năm 1985 có đăng bài của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân “Tiếp

nhận “mỹ học tiếp nhận” như thế nào” Đây là lần đầu tiên lý thuyết về

“Mỹ học tiếp nhận” của trường phái Konstanz (Đức) được dịch và giới thiệu ở Việt Nam Bài viết này đã đưa ra những nhận định, cách nhìn có

cơ sở khoa học vững chắc trong hướng nghiên cứu về “mỹ học tiếp nhận”, đặt tiền đề, định hướng cho nghiên cứu tiếp nhận văn học ở Việt Nam

Trang 10

Năm 1986, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng của văn học Việt Nam trong đó có Lý luận văn học Nghiên cứu hoạt động tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ góc độ lý luận văn học đã được nhiều nhà nghiên cứu

quan tâm Năm 1986, Tạp chí nghiên cứu Văn học số 4 đăng bài “Giao tiếp trong văn học” của GS Hoàng Trinh và “Nghiên cứu sự tiếp nhận của văn chương trên quan điểm liên ngành” của Nguyễn Văn Dân, bước

đầu đã thể hiện sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với vấn đề tiếp nhận văn học Việt Nam từ góc độ nghiên cứu lý luận văn học, để từ đó phát triển nó trở thành một hướng nghiên cứu tích cực trong việc đánh giá

vị trí quan trọng của công chúng trong chu trình đời sống văn học…Cùng năm đó, Tạp chí Văn nghệ số 13 (26.03.1986) đăng bài của đồng chí Hà

Xuân Trường về “Lý luận phê bình văn học nghệ thuật” và bài “Trò chuyện về một vấn đề của văn học hiện nay” Văn nghệ số 19, ngày

10.05.1986

Tiếp nối quá trình nghiên cứu về vấn đề tiếp nhận văn học, đến thập niên 90 của thế kỷ XX, vấn đề tiếp nhận văn học được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Trên tinh thần đổi mới văn nghệ của Đảng sau năm 1986, vấn đề đổi mới văn học soi chiếu trên bình diện tiếp nhận văn học ở nhiều góc độ và khía cạnh riêng biệt, các nghiên cứu chú trọng đến vấn đề công chúng, tiếp nhận – nhiều bài viết có tính chất đánh giá gợi mở về vấn đề tiếp nhận văn học một hướng nghiên cứu mới trong Xã hội học Văn học

Năm 1990 trong bài “Tiếp nhận văn học một số vấn đề thời sự” đăng

trên tạp chí Văn nghệ số 28 (7.1990) đã chú ý đến phẩm chất của chủ thể tiếp nhận Tác giả Nguyễn Thanh Hùng nhấn mạnh đến quá trình biển đổi chủ thể tiếp nhận thành chủ thể của văn học Lý thuyết tiếp nhận văn học tập trung vào việc sử dụng văn bản nghệ thuật cho hiệu quả [64] Bàn về vấn đề tiếp nhận trong mối quan hệ văn học và hiện thực chính là mối quan hệ tác động qua lại giữa nhà văn và bạn đọc “Sự tiếp nhận tác phẩm không phải là sự tiếp nhận một lần là xong và cũng không ổn định Nó

Trang 11

thay đổi, có khi thay đổi ở ngay trong một chủ thể tiếp nhận với những lần đọc tác phẩm khác nhau” [50; tr214]

Công trình của Nguyễn Văn Dân “Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận” [11] và “Phương pháp luận nghiên cứu văn học” nhà nghiên cứu

đã giới thiệu bài “Lý luận tiếp nhận văn học với sự tiếp nhận văn học nghệ thuật thế giới ở Việt Nam hiện nay” [8; tr 21] đề cập đến lý thuyết

“Mỹ học tiếp nhận” của trường phái Konstanz (Đức) đứng đầu là là H.R Jauss Bên cạnh đó nhà nghiên cứu cũng chú ý đến tầm văn hóa của công chúng trong tiếp nhận văn học Theo nhà nghiên cứu, trong tiếp nhận có

“tầm đón nhận” của độc giả là sự tập hợp các quy chuẩn thẩm mĩ trong sự tiếp nhận của công chúng văn học Theo quan điểm của nhà nghiên cứu này: Đứng ở cơ cấu xã hội để xét đến giới công chúng tiếp nhận với nhiều thành phần khác nhau: Giai cấp, địa vị xã hội, nghề nghiệp, tuổi tác, trình

độ văn hóa… công chúng - người tiếp nhận cũng là người chịu ảnh hưởng

từ những tác động chế độ chính trị, điều kiện xã hội, không gian văn hóa…

Vấn đề chủ thể tiếp nhận đến những năm cuối của thập niên 90 đã được nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung giới thiệu một cách có hệ thống qua công trình “Từ văn bản đến tác phẩm văn học” (1998), đặt ra vấn đề

“Ấn tượng thẩm mĩ di động giữa hai cực (tác phẩm và người đọc) cho nên sự thay đổi của một trong hai cực đó đều làm hình thành giá trị thẩm

mĩ khác nhau Đặc biệt ở cực chủ thể tiếp nhận nơi mà thế giới tâm linh luôn có những biến động bất thường, mang yếu tố chốc lát, vì thế khả năng biến thể của các giá trị thẩm mĩ liên quan đến một tác phẩm là rất lớn” [18; tr40] Trương Đăng Dung đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa văn bản văn học và tác phẩm văn học thông qua sự “cụ thể hóa” của người đọc Việc tiếp cận tác phẩm văn học từ văn bản thông qua sự tiếp nhận của người đọc cho thấy tác phẩm văn học luôn trong xu thế vận động, không phải là sản phẩm cố định mà là cả “quá trình” Điều đặc biệt

Trang 12

trong các công trình nghiên cứu của Trương Đăng Dung chính là đối tượng nghiên cứu luôn được soi sáng và vận động trên nền tảng tư duy lý luận văn học, triết học và mỹ học Có thể nói, các công trình của các nhà nghiên cứu về vấn đề trong tiếp nhận văn học là những gợi ý, định hướng cho chúng tôi khi thực hiện đề tài

Đại hội Đảng VI - 1986 với chủ trương “cởi trói” đổi mới toàn diện đời sống văn nghệ Giai đoạn từ 1986 đến năm 1996 có thể coi là giai đoạn đổi mới quyết liệt nhất, cởi mở nhất, tự do nhất của đời sống văn nghệ Việt Nam với các cây bút xuất sắc trong nhiều thể loại, đa diện trong các vấn đề phản ánh Với những thành tựu và giá trị nổi bật của văn học giai đoạn này, chúng tôi lựa chọn phạm vi thời gian nghiên cứu từ

1986 đến năm 1996 chặng đường 10 năm đổi mới và phát triển của văn học Việt Nam Bên cạnh đó, chặng đường này cũng đánh dấu những bước chuyển biến thay đổi trong quan niệm thẩm mỹ về văn học, quan niệm về sáng tác, các cuộc tranh luận văn chương, phê bình đánh giá của công chúng đối với giai đoạn văn học qua các bài viết trên sách, báo, tạp chí Với hướng nghiên cứu mới về hoạt động tiếp nhận văn học nhìn từ lý thuyết tiếp nhận hiện đại, người viết mong muốn góp phần tìm hiểu một cách có hệ thống: Sự thay đổi chuẩn mực thẩm mỹ trong tiếp nhận văn học ở Việt Nam sau năm 1986 (1986 – 1996)

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Vấn đề tiếp nhận văn học là vấn đề quan trọng của lý thuyết tiếp nhận hiện đại Ứng dụng lý thuyết này vào nghiên cứu những vấn đề của tiếp nhận văn học từ 1986 đến 1996 là sự lựa chọn phù hợp Tìm hiểu sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ chính là tìm hiểu các vấn đề của đời sống văn học sau đổi mới soi chiếu trên bình diện của tiếp nhận văn học, từ đó khám phá và khẳng định vai trò của chủ thể tiếp nhận trong tiếp nhận hiện đại

Vấn đề chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm, tìm hiểu, khám phá của các nhà lý luận phê

Trang 13

bình và nghiên cứu văn học Sử dụng khái niệm chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học, người viết muốn giới thuyết ở mức độ đọc, với các nhân tố tạo lập nên sự tiếp nhận của chủ thể tiếp nhận Không có một chuẩn mực thẩm mĩ bất biến trong tiếp nhận văn học, mà chuẩn mực thẩm mĩ luôn đặt trong xu thế vận động và thay đổi không ngừng cho phù hợp với xu thế của thời đại và của chủ thể tiếp nhận

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chuẩn mực thẩm mỹ và sự thay

đổi chuẩn mực thẩm mỹ trong hoạt động tiếp nhận văn chương ở Việt Nam giai đoạn 10 năm đầu đổi mới

Đối tượng khảo sát: Đề tài tập trung vào khảo sát hoạt động phê

bình văn học, tranh luận văn học của các nhà nghiên cứu và những phản hồi của bạn đọc về các tác phẩm văn xuôi tiêu biểu giai đoạn mười năm đầu đổi mới được đăng tải trên báo chí chủ yếu là trên tờ báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam và tạp chí Nghiên cứu văn học

Tư liệu tham khảo: Đầu mục báo và tạp chí trong nước từ năm

1986 - 1996: Báo Văn nghệ, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, tạp chí Sông Hương và các bài viết, công trình của các nhà nghiên cứu trong nước: Hoàng Trinh, Lê Ngọc Trà, Lại Nguyên Ân, Hoàng Ngọc Hiến, Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn Dân, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Văn Nam, Đoàn Đức Phương, Nguyễn Đăng Điệp,… và tài liệu dịch nước ngoài

Số liệu khảo sát: Đề tài có tham khảo số liệu điều tra về vấn đề đọc

sách văn học trong những năm gần đây của tác giả Tôn Thảo Miên đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Bộ CT 091212 “Tác động của văn học nghệ thuật đến việc hình thành lối sống và nhân cách của con người Việt Nam hiện nay” và một số bài viết về vấn đề tiếp nhận văn học thông qua đọc

sách văn học, từ đó đánh giá được mức độ quan tâm của độc giả về các vấn đề của văn học, vai trò của văn học trong cuộc sống cũng như khẳng định được vị thế của độc giả trong đời sống văn học hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

Luận văn nghiên cứu về sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học nên người viết luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu trong khoa học văn học:

- Phương pháp đối chiếu so sánh

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp khảo sát, thống kê

Bên cạnh đó, người viết cũng sử dụng một số phương pháp của triết học hiện tượng luận Phương pháp của khoa học liên ngành: lý thuyết cấu trúc – kí hiệu học

Để tìm hiểu rõ hơn về thực tiễn tiếp nhận văn học, về những thay đổi chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận, trong khuôn khổ luận văn cho phép, chúng tôi ứng dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học vào nghiên cứu vấn đề tiếp nhận trong chặng đường mười năm đổi mới của văn học Việt Nam (1986 - 1996), tìm ra những thay đổi quan trọng của chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học Từ đó người viết khám phá và khẳng định vai trò của chủ thể tiếp nhận qua sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ của văn học Việt Nam sau đổi mới, cũng như khẳng định được khuynh hướng nghiên cứu mới trong nghiên cứu về Xã hội học Văn học ở Việt Nam, đó

là hướng nghiên cứu về người đọc, công chúng văn học

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Vấn đề chủ thể tiếp nhận trong lý thuyết tiếp nhận văn học hiện đại

Chương 2: Những tiền đề của sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học sau năm 1986

Chương 3: Vai trò của chuẩn thẩm mĩ mới trong tiếp nhận văn học sau năm 1986

Trang 15

Chương 1: VẤN ĐỀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN TRONG LÝ THUYẾT

TIẾP NHẬN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

Tác phẩm văn học đã trở thành vấn đề trung tâm của tư duy lý luận văn học Vậy tác phẩm văn học được hình thành như thế nào? Lý giải về vấn đề này, trong lý luận văn học đã có cách nhìn nhận, khám phá, lí giải khác nhau về tác phẩm văn học đặt trong hành trình từ tư duy lý luận truyền thống đến hiện đại Nếu trước đó, lý luận văn học quan tâm đến tác giả, chủ thể sáng tạo đặt trong mối quan hệ với tác phẩm thì lý thuyết tiếp nhận hiện đại lại nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng là mối quan hệ văn bản – người đọc trong phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, từ

đó chỉ ra sự khác biệt giữa văn bản văn học và tác phẩm văn học Từ những sự lí giải và so sánh đó để khẳng định vai trò quan trọng của người đọc trong việc hình thành các giá trị của văn học

1.1 Nghiên cứu Tác phẩm văn học từ quan niệm truyền thống

1.1.1 Mối quan hệ giữa văn bản văn học và hiện thực

Vấn đề văn học và hiện thực đặt trong mối quan hệ mật thiết với nhau đã được triết gia Hy Lạp cổ đại Socrat (469 – 399 TCN) đưa ra trong thuyết “mô phỏng”, con người là trung tâm của mọi sự chú ý Tiếp theo đó là sự xuất hiện của Aristote (384 – 322 TCN) khi ông đưa ra những bàn luận về nghệ thuật, quan niệm về thi pháp học với thuyết “mô phỏng”, “bắt chước” Theo Aristote mọi sáng tạo nghệ thuật chính là sự

mô phỏng, trong đó có mô phỏng tự nhiên và sau đó là mô phỏng nghệ

thuật, phản ánh hiện thực “Sự mô phỏng vốn sẵn có ở con người và con người khác giống vật ở chỗ học có tài mô phỏng, nhờ có mô phỏng đó mà

họ thu nhận được những kiến thức đầu tiên ” [1; tr187] Như vậy, nghệ

thuật có mối liên quan đến con người Con người trở thành trung tâm của nghệ thuật Thông qua sự “thanh lọc” nghệ thuật làm cho con người đẹp hơn, cao thượng hơn, thoát khỏi những dục vọng tầm thường và xấu xa

“Sự mô phỏng đó nhờ vào ngôn ngữ - ngôn ngữ này trong mỗi phần có sự

Trang 16

trau chuốt khác nhau, bằng hành động chứ không phải bằng câu chuyện

kể, bi kịch qua cách khêu gợi nên sự xót thương và sợ hãi, thực hiện sự thanh lọc các cảm xúc tương tự” [1; tr190] Chính từ những luận thuyết

này của Aristote đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà văn cổ đại

và lịch sử phát triển của tư duy lý luận văn học Sự “khuôn mẫu” định sẵn trong sáng tạo thơ ca với tác phẩm chính là dấu ấn của hệ thống thi pháp được coi là quy phạm mẫu mực trong việc sáng tạo thơ ca Các quan điểm nghệ thuật này của Aristote đã có ảnh hưởng sâu sắc không chỉ cùng thời mà còn được kế thừa và phát triển đến thời Phục Hưng, chủ nghĩa cổ điển thế kỷ XVII, thời kỳ Khai Sáng thế kỷ XVIII Tư tưởng của Aristote được coi là nền tảng cơ bản cho sự phát triển của Mỹ học và Lý luận văn học Tuy nhiên, chính từ quan niệm của Aristote về nghệ thuật sáng tạo

đã bị thu hẹp lại ở góc độ tác giả với tư cách là chủ thể sáng tạo và cả cho người đọc

Từ những nguyên tắc “mô phỏng”, “bắt chước” của Aristote là tiền thân của lý thuyết phản ánh, vấn đề văn học và hiện thực đặt trong mối quan hệ với nhau đã được xác lập Bước sang thế kỷ XIX, vấn đề văn học

và hiện thực được chú ý, quan tâm và khám phá với Chủ nghĩa hiện thực

và nguyên tắc văn học phản ánh chân thực cuộc sống “Tái hiện sự thật thực tại cuộc sống một cách chân thực và mạnh mẽ là hạnh phúc cao quý nhất của nhà văn ngày cả khi sự thật ấy không phù hợp với những thiện cảm riêng của nhà văn” [55; tr539] Yếu tố hiện thực chiếm giữ vai trò

quan trọng chi phối trực tiếp đến việc sáng tạo văn học, nhà văn trở thành người thư ký trung thành của thời đại Nếu như lấy yếu tố hiện thực khách quan, hiện thực được phản ánh làm quy chuẩn để đánh giá tác phẩm và tác phẩm văn học luôn đặt trong sự soi chiếu với hiện thực khách quan thì khi có sự đồng nhất giữa hiện thực khách quan và hiện thực văn học, tác phẩm văn học đã trở thành “công cụ” phản ánh, nhận thức

Trang 17

Một trường phái phê bình văn học “văn hóa – lịch sử” xuất hiện nửa sau thế kỷ XIX với người đứng đầu là nhà phê bình văn học, nhà sử học người Pháp, H Taine (1828 – 1893) Nhà phê bình đã đặt tác phẩm trong mối quan hệ với hiện thực khách quan Đó là cách soi chiếu vào tác phẩm văn học từ môi trường, chủng tộc và thời đại gắn với đạo đức, tâm

lí thời đại Theo quan điểm của nhà nghiên cứu này, tác phẩm văn học là

“đài tưởng niệm” ghi dấu ấn của thời đại, là sản phẩm của hoàn cảnh văn hóa – lịch sử cụ thể Vì vậy để tìm hiểu tác phẩm văn học cần phải “phục chế lại trạng thái, tinh thần và đạo đức” của thời đại mà tại thời điểm tác phẩm đó ra đời

Từ những tiền đề lý luận được kế thừa – phát triển của Aristote đến phương pháp luận của Marx, Engels, Lênin, mối quan hệ văn học hiện thực đã trở thành “xương sống” của hệ thống lý luận mácxit Mỹ học mácxit đã phát triển tiếp mối quan hệ văn học và hiện thực trên cơ sở của triết học duy vật biện chứng giữa cơ sở kinh tế xã hội và thượng tầng kiến trúc Mô hình lý thuyết phản ánh vẫn được các nhà lý luận mácxit như G Lukács, C.Caudwell, R Garaudy, E Fischer tiếp tục nghiên cứu và khẳng định Sự thống nhất trong tư tưởng của các nhà lý luận chính là việc khẳng định tác phẩm văn học luôn tồn tại trong các hoạt động phản ánh, của mối quan hệ giữa đời sống xã hội với văn học

Có thể nói, Tác phẩm văn học là kết quả của quá trình phản ánh, là hình ảnh tái hiện của thế giới khách quan, với những “mô phỏng tự nhiên” bằng những thủ pháp nghệ thuật Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, tác phẩm văn học – hiện thực cuộc sống luôn tồn tại và song hành cùng nhau Yếu tố hiện thực là yếu tố chính quyết định đến sự ra đời của tác phẩm văn học bên cạnh yếu tố xuất xứ và nguyên nhân Vì vậy, tác phẩm văn học sẽ không có giá trị nếu như không phản ánh được hiện thực với những sự thật của cuộc sống Vấn đề hiện thực xã hội chính là

Trang 18

vấn đề chính cần tìm hiểu và nhận thức trong nghiên cứu về tác phẩm văn học

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn bản văn học và tác giả

Thế kỷ XIX, tư duy văn học phương Tây đề cập chủ yếu đến mối quan hệ tác phẩm văn học và hiện thực cuộc sống Phản ánh hiện thực là tiêu chí để đánh giá sự thành công của tác phẩm Song hành cùng mối quan hệ tác phẩm và hiện thực, mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và tác giả lại trở thành mối quan hệ truyền thống trong tư duy văn học Phương Đông Tác phẩm văn học được quan niệm là nơi chuyển tải kí thác tâm

sự, giãi bày tư tưởng, tình cảm – cảm xúc của nhà văn Như vậy, tác giả chính là người giữ vai trò chủ đạo trong hành trình hình thành tác phẩm văn học: Cuộc sống – Tác giả - Tác phẩm

Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và tác giả được thể hiện rõ qua các quan niệm “thi dĩ ngôn chí” thời chiến quốc, tiếp đó là quan niệm văn học Tống Nho “văn dĩ tải đạo” đã có sự ảnh hưởng sâu sắc đến thế hệ các nhà văn phong kiến Nếu như giai đoạn trước đó, nhà văn được coi là người thư ký trung thành của thời đại thì đến giai đoạn sau này, nhà văn trở thành chủ thể sáng tác tác phẩm văn học Tác phẩm là “con đẻ” là sản phẩm tinh thần của nhà văn Vì lẽ đó, sự tồn tại cũng như giá trị của tác phẩm là do nhà văn quyết định Hiện thực cuộc sống chuyển tải vào tác phẩm được nhìn qua lăng kính chủ quan của nhà văn Vì vậy mà dấu ấn

cá nhân, dấu ấn tác qua tác phẩm được thể hiện rất rõ nét Theo đó, tác phẩm trở thành “phát ngôn” của nhà văn, bộc lộ cái “Tôi” đầy cá tính qua tác phẩm văn học

Trong nghiên cứu văn học, vấn đề ảnh hưởng của tác giả đến sáng tác văn học được phát hiện vào thế kỷ XIX Người nghiên cứu văn học từ phương pháp Phê bình tiểu sử là nhà phê bình văn học người Pháp Sainte Beuve (1804 – 1869), đã đưa ra những nghiên cứu về tác phẩm văn học nhìn từ góc độ chủ thể sáng tạo là nhà văn với yếu tố quan trọng là tiểu sử

Trang 19

tác giả, lịch sử tác động…Cũng theo nhà nghiên cứu này, tác phẩm chính

là “chìa khóa” để tìm hiểu và khám phá thế giới tâm hồn của người nghệ

Như vậy, nghiên cứu tác phẩm văn học trong mối quan hệ với tác giả, lý luận văn học đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nhà văn trong quyết định giá trị của tác phẩm cũng như sự hình thành tác phẩm văn học Bên cạnh đó, tác phẩm văn học trở thành tiếng nói chuyển tải tư tưởng, tình cảm của nhà văn Nhà văn trở thành người sáng tạo tác phẩm văn học và “tự cho mình quyền” được khẳng định ý nghĩa, sự tồn tại của tác phẩm Rõ ràng, xét trong mối quan hệ tác phẩm văn học và tác giả, thì tác giả chính là chủ thể sáng tạo, có vai trò vừa sáng tạo vừa thưởng thức tác phẩm của mình và được quyền quyết định sự tồn tại của tác phẩm Với quyền uy đặc biệt này của tác giả, tư duy văn học truyền thống đã bỏ qua một khâu quan trọng đó tiếp nhận văn học, trong đó vai trò của người đọc chưa được chú ý, quan tâm và có những nghiên cứu đầy đủ, hệ thống trong mối quan hệ với tác phẩm văn học Người đọc trở thành người đọc

“thụ động”, khám phá những ý nghĩa có sẵn trong tác phẩm văn học mà thôi

Tác phẩm văn học từ quan niệm truyền thống về mối quan hệ hiện thực và tác giả chưa được coi là đối tượng nghiên cứu độc lập mà nó chịu

sự ảnh hưởng của hiện thực và tác giả Do vậy, nghiên cứu văn học chủ yếu căn cứ vào những thông tin hiện thực được phản ánh, về thời đại, cá nhân tác giả với nhiều yếu tố nội tại để đánh giá vai trò, vị trí của tác phẩm Mối quan hệ với hiện thực và tác giả là quan hệ nhân quả, thông qua những dữ kiện cuộc sống và chủ thể sáng tạo là nhà văn Tác phẩm văn học trở thành “công cụ” để khám phá hiện thực và tìm hiểu về đời sống, tư tưởng, tình cảm của nhà văn Chính vì lẽ đó, khi tìm hiểu về tác phẩm văn học chủ yếu là tìm hiểu về nội dung tư tưởng được chuyển tải qua tác phẩm, còn những vấn đề thuộc về hình thức nghệ thuật không

Trang 20

mấy được chú ý đến Các hình thức nghệ thuật trở thành phương tiện, chất liệu để nhà văn chuyển tải ý tưởng của mình Người đọc chỉ tìm hiểu được những vấn đề mà nhà văn muốn chuyển tải qua tác phẩm, chứ người đọc chưa hiểu được, những giá trị và ý nghĩa mà tác phẩm muốn gửi đến các thế hệ người đọc Vấn đề chủ thể sáng tạo trong nghiên cứu tác phẩm

ở tư duy văn học truyền thống được coi là trung tâm, tuy nhiên tìm hiểu tác phẩm sẽ không hoàn chỉnh nếu chỉ một chiều phiến diện bỏ qua vai trò tiếp nhận của người đọc

Nghiên cứu tác phẩm văn học trong mối quan hệ với hiện thực và tác giả cũng được ứng dụng vào nghiên cứu đời sống văn học Việt Nam: Tác giả - Tác phẩm – Người đọc Quan niệm thuận chiều này đã tồn tại trong một thời gian dài và và cũng có những tầm ảnh hưởng nhất định đến việc nghiên cứu văn học, giảng dạy, học tập, trở thành một thói quen nếp nghĩ cho đến ngày nay vẫn chưa có “thỏa hiệp” thỏa đáng Vai trò của tác giả, các vấn đề liên quan đến tác giả vẫn được coi là những nhân

tố tác động trực tiếp đến quá trình nghiên cứu và phân tích, đánh giá về tác phẩm văn học Tuy nhiên, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của văn học, trước những yêu cầu đổi mới của lý luận văn học, những quan niệm truyền thống về tác phẩm văn học đã bộc lộ nhiều hạn chế nhất định nên cần có một hệ thống quan niệm mới ra đời, tiếp nối cái cũ, bổ sung và khám phá về tác phẩm văn học nhìn từ góc độ văn bản văn học và người đọc Mối quan hệ giữa văn bản văn học và người đọc làm nên tác phẩm văn học đích thực đưa đến một cách lý giải mới về sự hình thành tác phẩm văn học không chỉ từ hiện thực phản ánh, bản thân tác giả mà còn

là sự tiếp nhận của người đọc, nhằm “giải mã” văn bản văn học trên hành trình đến với sự hình thành tác phẩm văn học

1.2 Tác phẩm văn học nhìn từ quan niệm của lý thuyết tiếp nhận hiện đại

Trang 21

1.2.1 Văn bản văn học – tác phẩm văn học trong lý thuyết tiếp nhận hiện đại

Lý thuyết tiếp nhận văn học đang trở thành một trong những xu hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam trong những năm gần đây Các nhà nghiên cứu như Hoàng Trinh, Trần Đình Sử, Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn Dân, Phương Lựu, Nguyễn Lai,… đã giới thiệu lý thuyết tiếp nhận và đưa vào nghiên cứu ở Việt Nam Các nhà nghiên cứu đã ứng dụng lý thuyết tiếp nhận vào nghiên cứu và có những cách nhìn nhận đánh giá mới về các quan niệm văn bản, tác phẩm, và người đọc trở thành trung tâm của sự nghiên cứu Thuật ngữ chủ thể tiếp nhận chưa có trong

từ điển thuật ngữ văn học nhưng đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa vào ứng dụng trong nghiên cứu của lý thuyết tiếp nhận, và xuất hiện cùng với thuật ngữ chủ thể thẩm mỹ, hay tiếp nhận thẩm mỹ Nhà nghiên cứu

Phương Lựu trong bài Mười trường phái phê bình văn học phương Tây hiện đại đã chỉ ra rằng: “Xét về mặt chủ thể tiếp nhận, sự cụ thể hóa cũng

là tất yếu Bởi vì sự hưởng thụ thẩm mĩ bao giờ cũng mang tính chất cụ thể toàn vẹn Gặp những điểm chưa xác định, người đọc hoặc là suy tưởng từ những điểm đã xác định trong tác phẩm để bổ sung hoặc tưởng tượng thêm theo ý hướng của mình, tất nhiên hai mặt này không tách rời nhau Nhưng dù suy nghĩ hay tưởng tượng thêm cũng không tách rời với kinh nghiệm quá khứ và tâm thế đương thời của người đọc cụ thể” [54; Tr100] Sử dụng thuật ngữ chủ thể tiếp nhận, nhà lí luận Trương Đăng

Dung đã nhấn mạnh “Một tác phẩm văn học được gọi là tác phẩm văn học với điều kiện của nó chỉ có giá trị văn học Nhưng giá trị văn học nếu

có chỉ hình thành trong quá trình đọc và sau khi đọc mà thôi Vậy quá trình từ văn bản đến tác phẩm diễn ra như thế nào? Thực chất giá trị của tác phẩm là gì? Có thể đánh giá được tác phẩm văn học không? Việc nghiên cứu văn bản văn học trong mối liên hệ với chủ thể tiếp nhận sẽ giúp ra trả lời một cách khoa học cho những câu hỏi đó” [18; tr24] Chủ

Trang 22

thể tiếp nhận và khách thể luôn được đặt trong mối quan hệ qua lại với

nhau Mối quan hệ này thực chất là “Sự gặp gỡ giữa người đọc và tác phẩm là sự gặp gỡ giữa chủ thể tiếp nhận và khách thể văn học Mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể được nhiều nhà lý luận gọi là sự phản ánh” [18; tr34] Khi giải thích về chủ thể thẩm mĩ, chủ thể tiếp nhận cũng

được lý giải qua sự phân tích đánh giá giá trị thẩm mĩ của văn học

Theo Từ điển văn học (bộ mới), tiếp nhận thẩm mĩ cùng tham dự

và sáng tạo với chủ thể tiếp nhận “Một dạng thức hoạt động thẩm mĩ được thực hiện ở việc tiếp nhận (thưởng thức, cảm thụ) tác phẩm nghệ thuật với tư cách một giá trị thẩm mĩ; sự tiếp nhận này luôn đi kèm với tình cảm (trải nghiệm) thẩm mĩ Tiếp nhận thẩm mĩ không phải là sự tái hiện giản đơn những tác phẩm nghệ thuật trong ý thức, mà là một quá trình phức tạp, quá trình cùng tham dự và cùng sáng tạo của chủ thể tiếp

nhận” [36; tr1715] Cùng bàn về vấn đề này, nhà nghiên cứu Lại Nguyên

Ân giải thích “Tiếp nhận thẩm mĩ không phải là sự tái hiện giản đơn tác phẩm nghệ thuật trong ý thức, mà là một quá trình phức tạp: Quá trình cùng tham dự và cùng sáng tạo của chủ thể tiếp nhận” [35; tr205] Nhà

nghiên cứu Huỳnh Vân cho rằng: “Sự tiếp nhận tác phẩm… có khi thay đổi ngay ở một chủ thể tiếp nhận với những lần đọc tác phẩm khác nhau”

[50; tr214] Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ấn chỉ ra “giãn cách thẩm mĩ”

có mặt giữa tác phẩm và chủ thể tiếp nhận, vì vậy mà yêu cầu đối với chủ thể tiếp nhận bao giờ cũng cần phải có “tâm thế thẩm mĩ” để cảm nhận tác phẩm văn học

Thế kỷ XX, lý luận văn học đã có một quá trình vận động từ nhà văn người sáng tạo đến với người đọc – chủ thể tiếp nhận Sự kiện quan trọng đầu tiên đó là việc phát hiện ra văn bản với một vai trò mới trong việc hình thành tác phẩm văn học Nghiên cứu tác phẩm văn học không chỉ dừng lại ở sự liên hệ từ cuộc sống, người sáng tạo mà đã tập trung vào văn bản văn học với những chất liệu và thủ pháp hình thức, những yếu tố

Trang 23

hình thức cấu thành nên tác phẩm văn học Nhiều trường phái nghiên cứu văn học ở phương Tây đã ra đời như: Chủ nghĩa hình thức Nga, Chủ nghĩa cấu trúc, trường phái phê bình mới Anh – Mỹ Theo đó, các nhà nghiên cứu Phương Tây đã xây dựng quan niệm mới về tác phẩm văn học Tác phẩm văn học được quan niệm độc lập với chủ thể sáng tạo và đồng nhất với văn bản Khám phá tác phẩm văn học là khám phá về văn bản với những hình thức riêng như ngôn ngữ, cấu trúc và những thủ pháp quan trọng tạo nên sự hình thành của tác phẩm văn học Sự ảnh hưởng của các trường phái nghiên cứu này đã chỉ ra những điểm khác biệt giữa văn bản và tác phẩm

Ở Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX vấn đề tiếp nhận văn học đã được giới thiệu vào Việt Nam Trong chuyên luận “Tác phẩm văn học như là quá trình” của Trương Đăng Dung, nhà nghiên cứu cho rằng:

“Văn bản văn học, sản phẩm cuối cùng của sự sáng tạo nghệ thuật tưởng như đã hoàn thành khi nhà văn đặt dấu chấm hết… nhưng thực ra đó chỉ

là bước đầu tiên quan trọng để nó trở thành tác phẩm văn học” (tr23) và

nhà văn khi sáng tạo văn bản, coi văn bản như là cái để biểu đạt, một hệ

thống tạo nghĩa “Văn bản văn học là tập hợp các ký hiệu ngôn ngữ, có đời sống riêng, có năng lực ngữ nghĩa riêng và tồn tại độc lập với tác giả

của nó” [91; tr57] Trên hành trình từ Văn bản – đến tác phẩm là hành

trình của sự “giải mã” các ký hiệu đã được “mã hóa” Bởi văn bản luôn

có khả năng tạo nghĩa Tác phẩm văn học với “lớp lớp câu chữ phi vật thể, ẩn chứa nhiều nghĩa khác nhau, luôn biến động và không thể khoanh vùng, tác phẩm văn học có phương thức tồn tại riêng, thông qua người

đọc” [23; tr311] Như vậy, chỉ khi có người đọc thì văn bản – sự sáng tạo

của nhà văn mới trở thành tác phẩm văn học thực thụ Sự có mặt của người đọc trở thành “sợi dây” gắn kết, tạo lập tầm quan trọng của tác phẩm trong chu trình đời sống văn học bên cạnh yếu tố tác giả Khám phá văn bản từ phương diện cấu trúc bên trong chúng ta thấy có ba yếu tố

Trang 24

luôn gắn kết cùng nhau: Đó là cái biểu đạt, cái được biểu đạt và nghĩa Văn bản khi thông qua việc đọc và thưởng thức thì khi đó việc “tạo nghĩa” cho văn bản sẽ hướng đến một kết cấu hoàn chỉnh của tác phẩm văn học Như vậy, nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung đề cập đến Derrida với giải cấu trúc, các ký hiệu ngôn ngữ luôn được coi là “ngôn từ động”, nó không “có sự ổn định về nghĩa” mà sự ổn định ấy luôn bị phá

vỡ bởi người đọc Như vậy văn bản chỉ trở thành tác phẩm khi có người đọc xuất hiện Sự giải mã văn bản của người đọc phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm thẩm mĩ, vốn văn hóa hiểu biết của mỗi người Mỗi văn bản không chỉ tồn tại với một nghĩa duy nhất mà ngoài ý đồ sáng tạo của nhà văn, mỗi văn bản lại được “tạo nghĩa” riêng với người đọc khác nhau Nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung cho rằng: “Chúng ta không thể xem tác phẩm văn học là vật thể đã xong xuôi, tồn tại như cái bàn, cái cặp, nhưng không thể xem nó như là vật hoàn toàn lý tưởng, thuộc về ý niệm Tác phẩm văn học là bộ phận của một quá trình đặc biệt mà cái quyết định sự tồn tại chất lượng của nó còn phụ thuộc ở nhiều yếu tố ngoài nó” (tr640) Như vậy theo Trương Đăng Dung: Từ văn bản đến tác phẩm là quá trình tác động tương hỗ với nhau thông qua văn bản và thông qua sự tiếp nhận của người đọc, trong đó văn bản là sự giao tiếp với người đọc là quan hệ đối thoại Người đọc chính là người “đồng sáng tạo” cũng tác giả Quá trình từ văn bản – người đọc – tác phẩm luôn diễn ra mạnh mẽ

từ ý thức tiếp nhận đa chiều của độc giả

Trong lý thuyết tiếp nhận hiện đại, nhận thức về văn bản không đồng nhất với tác phẩm văn học Bởi lẽ, văn bản tồn tại ở một giai đoạn nhất định, nó là những điều kiện khách quan ban đầu cho sự tồn tại tác phẩm văn học Vì vậy mà tác phẩm văn học là một “hiện tượng động” mở

ra nhiều tầng, nhiều nghĩa nhờ sự tiếp nhận đa chiều của độc giả Nhiều nhà nghiên cứu gọi đó là “Sơ đồ chứa đựng nhiều điểm không xác định” (Thuật ngữ của R Ingarden), H.R Jauss gọi đó là “đề án tiếp nhận” và

Trang 25

W Iser cho là “kết cấu vẫy gọi” và “mã nghệ thuật” thuật ngữ của M Markov… còn R.Ingarden nhấn mạnh đến sự “dang dở’ của tác phẩm văn học luôn đòi hỏi sự bổ sung vì vậy mà tác phẩm không bao giờ có giới hạn cuối cùng là văn bản, nó luôn mở ra nhiều tầng nghĩa mới nhờ vào sự

“cụ thể hóa” văn bản của người đọc Việc cụ thể hóa văn bản khi trở thành tác phẩm phụ thuộc vào trình độ của người đọc Như vậy, giữa văn bản và tác phẩm có sự khác nhau về nguyên tắc Văn bản và tác phẩm không “trùng khít” lên nhau, chỉ có tác phẩm văn học khi có người đọc, tiếp nhận văn bản Trong mối quan hệ, tác giả - tác phẩm - người đọc cho thể thấy rằng: Tác giả là người phát ngôn, những phát ngôn đó ghi lại bằng kí hiệu văn bản, với sự mã hóa của ngôn ngữ, khi người đọc giải mã các “mã văn bản đó” khi đó văn bản trở thành tác phẩm văn học Có thể nói, quan niệm về tác phẩm văn học trong lý thuyết tiếp nhận hiện đại là chỉ ra mối quan hệ giữa tác phẩm và độc giả, đề cao sự sáng tạo của người đọc, chứ không chỉ quan tâm đến mối quan hệ tác giả - tác phẩm như trước

Bàn về vấn đề nhà văn – văn bản – tác phẩm – người đọc, nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm đã nhấn mạnh đến tác phẩm văn học trong tất cả các khâu từ phát ngôn của tác giả - diễn ngôn của tác phẩm – tiếp nhận diễn ngôn của độc giả Có như vậy, khi nghiên cứu về người đọc, về

sự tiếp nhận tác phẩm mới có cái nhìn toàn diện hơn và chắc chắn hơn Còn tác giả Đặng Anh Đào “Theo tôi nhận xét thì ngay R Ingarden cũng gọi sự đọc là sự cụ thể hóa tác phẩm tồn tại dưới dạng văn bản Như vậy ông này cũng không loại bỏ sự đồng nhất giữa văn bản và tác phẩm để cho rằng chỉ đi vào sự đọc thì văn bản mới trở thành tác phẩm văn học”

[28; tr10, 17]

Như vậy, mối quan hệ giữa văn bản và tác phẩm luôn được nhiều nhà lý luận và nghiên cứu quan tâm Từ văn bản đến tác phẩm là một quá

Trang 26

trình và người đọc là sự “kết nối” quan trọng trên hành trình quan trọng

đó

1.2.2 Vai trò của người đọc trong lý thuyết tiếp nhận hiện đại

Trong hoạt động văn học, việc phát hiện về người đọc là một phát hiện quan trọng của lý luận văn học thế kỷ XX Những đề xuất đầu tiên

về người đọc có thể tìm thấy ở cuối thế kỷ XIX trong các chương trình của G Lanson Vấn đề người đọc hình thành cùng với hiện tượng luận (vì hiện tượng luận chú ý đến vai trò của chủ thể tiếp nhận) đặc biệt là tường giải học, nó được định hình với mỹ học tiếp nhận Nhận thức cơ bản của

nó là không thể nói đến văn học mà không nói đến người đọc, người đọc theo cách này hay cách khác tác động đến văn học

Tiếp nhận văn học và sáng tác văn học luôn song hành cùng nhau Khi có sự xuất hiện về ý thức sáng tác tác phẩm văn học là cùng lúc ý thức về sự đọc, về sự tiếp nhận của công chúng cũng được hình thành Trong tiếp nhận văn học, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân chia ra làm hai loại: Đó là lý luận tiếp nhận truyền thống và lý luận tiếp nhận hiện đại Trong lý luận tiếp nhận truyền thống nhà nghiên cứu lưu ý đến vấn

đề tiếp nhận trong hai phạm vi: Tri âm và ký thác Tri âm ở đây chính là một nhiệm vụ của tiếp nhận, là cảm và hiểu tác phẩm với nội dung cuộc sống được phản ánh thông qua tác phẩm Theo quan niệm này, tác phẩm chỉ được tiếp nhận hoàn toàn khi có người đọc… thông thường người đọc vẫn hiểu được điều tác giả nói ở một mức độ nào đó, bởi nếu không, sự giao tiếp văn học, đồng cảm nghệ thuật đã không xảy ra Trong khát vọng

giao tiếp này người đọc tìm tới “dụng ý, tâm sự, tấm lòng” của tác giả”

[11; tr11] Khi lý thuyết tiếp nhận hiện đại đã chỉ ra mối dây liên hệ hết

sức mật thiết, đó chính là sự gặp gỡ giữa văn bản văn học – tác phẩm văn học, công chúng - người đồng sáng tạo Nhiều lý thuyết mới, nhiều quan niệm, thuật ngữ mới về vấn đề chủ thể thẩm mĩ được đề cập đến trong đó

có thuật ngữ của Jauss tạm dịch là “tầm đón nhận” hay “mỹ học tiếp

Trang 27

nhận” (cách dịch của Nguyễn Văn Dân) Đó là một cách tiếp nhận tác phẩm dưới một hệ hình mới, một phương thức mới của các nhà nghiên cứu thuộc nhiều trường phái khác nhau đến từ Đức, Italya, Mỹ…

“Với tư cách là chủ thể tiếp nhận đối với bất cứ loại tác phẩm văn học nào, người đọc không bao giờ là một tờ giấy trắng thụ động trước bất kỳ sự khắc họa nào, mà họ vốn có một “tầm đón nhận” được hình thành một cách tổng hợp bởi nhiều yếu tố Trước hết là do thực tiễn cuộc sống và sự giáo dưỡng văn hóa đã hình thành nên ở người đọc từ thế giới quan đến nhân sinh quan, từ thái độ chính trị đến khuynh hướng tình cảm

và hứng thú thẩm mĩ rồi nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính” [54; tr349]

Người đọc bộc lộc những khám phá, sáng tạo của mình ở việc “cụ thể hóa” các cấu trúc, ký hiệu trong tác phẩm, tìm ra những ẩn ý sâu xa mà tác giả muốn chuyển tải qua tác phẩm Không chỉ vậy, sự phát hiện ý nghĩa mới của tác phẩm nằm ngoài những ý tưởng của nhà văn giúp cho người đọc trở thành người khẳng định giá trị tác phẩm và là người quyết

định cho số phận của tác phẩm Sự phát hiện này làm “sửng sốt chính người đẻ ra tác phẩm, vẫn có giá trị và không dễ gì bác bỏ Cấp độ sáng tạo này trong hoạt động tiếp nhận chính là yếu tố then chốt tạo nên sức sống trường cửu của tác phẩm văn học, của hình tượng văn học” [73;

tr163]

Tiếp nhận văn học đòi hỏi người đọc tri giác, cảm thụ tác phẩm, đồng thời đưa hình tượng nghệ thuật đó vào cuộc sống, để trải nghiệm, để đồng cảm, để sáng tạo và rút ra cho bản thân những bài học, những tình cảm tích cực, khi đó người tiếp nhận đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình, và trở thành “người đọc lý tưởng” Trong tiếp nhận văn học luôn hình thành một nhóm người đọc, đó là người đọc đặc biệt chính là các nhà lý luận phê bình và nhà nghiên cứu Vì vậy, khi nghiên cứu về tiếp nhận văn học trong lý luận văn học chúng ta không thể bỏ qua nhóm người đọc đặc biệt này Như vậy, “Tiếp nhận văn học đòi hỏi sự tham

Trang 28

gia của toàn bộ nhân cách con người - tri giác, cảm giác, tưởng tượng, liên tưởng, suy luận, bộc lộ cá tính thị hiếu và lập trường xã hội…Chính

vì vậy khái niệm tiếp nhận bao quát hơn và bao hàm nhiều khái niệm cảm

thụ, thưởng thức, lý giải đồng cảm…” [56; tr 223]

Trong đời sống văn học, người đọc giữ vai trò tiếp nhận, đánh giá phản hồi về tác phẩm, vì vậy mà nhà văn luôn tìm tòi sáng tạo, tạo sự trao đổi giữa tác giả - công chúng - phản hồi Sợi dây liên kết đó đã tạo nên giá trị tiếp nhận trong hoạt động sáng tạo văn học của nhà văn Bởi gốc rễ của vấn đề chính là ý tưởng sáng tạo của người nghệ sĩ được viết ra dưới dạng văn bản và văn bản đó được tiếp nhận và trở thành tác phẩm văn học thực thụ Như vậy, độc giả chính là người hoàn tất đưa tác phẩm (có giá trị tinh thần) vào đời sống ý thức xã hội

Người đọc được coi là yếu tố bên trong của tác phẩm, góp phần khẳng định giá trị, tầm quan trọng và ý nghĩa tồn tại của tác phẩm đó Thực tế cho thấy, người đọc khi đọc, đánh giá, thẩm bình tác phẩm, họ được bộc lộ những cá tính riêng, xúc cảm thẩm mỹ riêng cho nên giá trị của tác phẩm về một mặt nào đó được mở rộng với nhiều trường nghĩa, nhiều lớp nghĩa theo cách hiểu, cách cảm khác nhau của mỗi người Vì

người đọc cũng là người chịu ảnh hưởng rất nhiều của các yếu tố: Nguồn gốc văn hóa, vấn đề tâm lý, giới tính, phân hóa các nhóm xã hội có khuynh hướng thẩm mỹ khác nhau, có lịch sử văn hóa khác nhau…Sự

khác nhau giữa các nhóm người đọc từ các yếu tố trên sẽ tạo ra thế hệ người đọc khác nhau với cách nhìn đa dạng, nhiều chiều các giá trị đích thực của tác phẩm văn học nghệ thuật Chính vì có “người đọc” mà tác phẩm đã thu hút được dư luận, cộng đồng xã hội cũng như thu hút được giới nghiên cứu, phê bình lý luận quan tâm Đó chính là sự đổi mới trong cách tiếp cận văn bản nghệ thuật Sự xuất hiện của người đọc đã khiến cho tác phẩm văn học không chỉ giữ “độc tôn một cách đọc” mà tác phẩm luôn có nhiều cách tiếp cận nhiều chiều từ nhiều góc độ khác nhau như:

Trang 29

Từ chiều kích văn hóa, lịch sử, quốc gia, dân tộc… để từ đó các vấn đề còn ẩn dấu, sự phong phú trong thông điệp nghệ thuật được lần lượt hé

mở, khơi gợi những giá trị cao đẹp mà nhà văn muốn chuyển tải qua tác phẩm văn học Do vậy, lý luận về tiếp nhận văn học ngày càng được các nhà nghiên cứu trau dồi và hoàn thiện hơn Sự thành công của một tác phẩm, sự phát triển của một nền văn học luôn chịu ảnh hưởng nhiều từ công chúng, bạn đọc Người đọc được đặt vào vị trí trung tâm “tiêu thụ” sản phẩm còn người viết được đặt ở vị trí “sản xuất” sáng tạo ra văn bản Trong thời đại các phương tiện thông tin đại chúng phát triển mạnh mẽ, người đọc có nhiều phương cách tiếp cận thông tin qua: Sách, báo, truyền hình, mạng internet nhanh nhạy và cập nhật hàng giờ Sự phản hồi ấy góp phần đẩy nhanh sự tiếp nhận tác phẩm và phản hồi của dư luận về tác phẩm tạo nên những hiệu ứng nhất định trong sự ra đời và “số mệnh” của tác phẩm văn học

Song song cùng với hoạt động sáng tạo của nhà văn, hoạt động sáng tạo của người đọc cũng được khẳng định Nhà ngữ văn Nga,

Pôtépnhia cho rằng: “Chúng ta có thể hiểu được tác phẩm thi ca chừng

nào chúng ta tham gia vào việc sáng tạo nó” [70] Tư duy lý luận văn học

tiền hiện đại chú ý đến vai trò của hiện thực, vấn đề người đọc chưa được quan tâm nhiều Nhà văn là trung tâm của lý luận văn học, sự sáng tạo văn học là “độc quyền” của nhà văn thì đến lý luận hiện đại, người đọc trở thành “đồng sáng tạo” với nhà văn và là nhân tố không thể thiếu trong

quá trình sáng tạo văn học [73; T162] Trong tiếp nhận, có hai nhóm

người đọc được nhấn mạnh đến, đó là người đọc đơn thuần và người đọc đặc biệt Người đọc đặc biệt chính là nhà nghiên cứu phê bình không những đại diện cho giới công chúng mà còn đại diện cho cả giới sáng tác Nhà phê bình chính là người kết nối giữa độc giả và nhà văn góp phần định hướng cho người đọc trong việc tìm, tiếp nhận các tác phẩm nghệ thuật Mặt khác, nhà phê bình là người mở lối cho tác phẩm của nhà văn

Trang 30

đến gần hơn với độc giả Chính vì vậy, nhà phê bình chính là người nhận trách nhiệm to lớn trước xã hội, anh phải là người có cảm xúc, có năng lực, tri thức, văn hóa, có tầm hiểu biết rộng lớn… Có như thế, nhà phê bình mới có đủ “tầm” để đánh giá, để nhận định tác phẩm, định hướng sáng tác, cũng như dẫn dắt và định hướng cho người đọc đến với giá trị đích thực của văn học

Trong tiếp nhận, những phát hiện mới về tác phẩm của người đọc xuất phát từ nhiều nguyên nhân Trước hết, ở mỗi thời kỳ văn học khác nhau, việc tiếp nhận văn học lại có sự khác nhau ở các nhóm người đọc

Sự phân hóa về thành phần xã hội của người đọc cũng có một tác động không nhỏ đến văn học và ngược lại văn học cũng có một tác động lớn đến người đọc thuộc những thành phần khác nhau Về mặt cơ cấu xã hội, trong giới công chúng tiếp nhận có nhiều thành phần giai cấp khác nhau, địa vị xã hội, nghề nghiệp, tuổi tác, trình độ văn hóa dẫn đến “tầm đón nhận” cũng có sự khác nhau khá lớn Vì vậy, chúng ta hiểu được vì sao, cùng một tác phẩm văn học nhưng ở mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh lại được công chúng đón nhận, đánh giá khác nhau Điều này còn liên quan đến cả thị hiếu thẩm mỹ của mỗi nhóm người đọc Trong đó có vấn đề về “kinh nghiệm thẩm mĩ”, giới tính, lứa tuổi, trình độ, thời đại lịch sử Tuy nhiên, công chúng trong một xã hội có tầm văn hóa chung, chi phối rất nhiều đến vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học và cả trong sáng tác văn học

Có thể nói, mỗi tác phẩm văn học đều có đời sống lịch sử, xã hội, văn hóa và số phận cá nhân riêng Trong mỗi thời điểm lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa khác nhau, nhà văn phải chú tâm sáng tạo và luôn luôn tâm niệm phải sáng tác vì ai? Cho ai? Vì điều gì? Khi đó, sự sáng tạo của nhà văn được xác định rõ: Sáng tạo văn học hướng đến công chúng, vì công chúng Công chúng trở thành người định hướng, thúc đẩy nhà văn sáng tạo nên các tác phẩm có giá trị Chính người đọc cùng với nhà văn tạo nên những khuynh hướng văn học, các trào lưu văn học làm phong

Trang 31

phú thêm đời sống văn học Như vậy, người đọc liệu có thể được coi là người “quyết định số phận” tác phẩm? Phải chăng nhờ có người đọc mà

tác phẩm văn học mới có thể tồn tại và có số phận riêng? Bởi lẽ: “Trên cả

ba bình diện, trong thực tế, trong ý thức tác giả và trong tác phẩm, người đọc đều là yếu tố nội tại của quá trình sáng tạo văn học” [56; tr 234]

Thực tế văn học Việt Nam cho thấy: Sau đổi mới 1986, văn học có nhiều thay đổi trong chính sách của Đảng về văn hóa Sự đổi mới đã dẫn đến những thay đổi trong quan niệm sáng tác của nhà văn Việc đổi mới bút pháp, phong cách, khuynh hướng sáng tạo của các nghệ sĩ đã góp phần mở rộng, nâng cao trình độ thưởng thức của công chúng Những vấn

đề về nguyên lý của văn học (phương pháp hiện thực tác tác, văn học và chính trị, hiện thực xã hội chủ nghĩa), hay sự “độc tôn” một cách đọc đã được đổi mới trên tinh thần “tự do, cởi mở” hơn Nhà văn có quyền tự do lựa chọn bút pháp, tự do lựa chọn cách thức thể hiện, tìm tòi những cái mới khi biểu đạt tư tưởng cá nhân, từ đó mở rộng biên độ sáng tạo với nhiều tác phẩm xuất sắc và tư tưởng nghệ thuật cao Từ sau đổi mới, nhiều trào lưu tư tưởng mới, chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại

đã ảnh hưởng đến đời sống nghệ thuật đương đại, kích thích nhà văn sáng tạo và nâng cao hơn trình độ thưởng thức nghệ thuật của công chúng Cả chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận đã tạo nên mối quan hệ khăng khít,

bổ trợ lẫn nhau Vì vậy, người đọc thẩm bình, đánh giá tác phẩm văn học

từ nhiều biên độ khác nhau tạo nên số phận riêng cho từng tác phẩm cũng như tạo lập được vị thế quan trọng của nhà văn trên diễn đàn văn học nghệ thuật

1.3 Tiểu kết

Như những gì chúng tôi đã trình bày ở phần trên, lý thuyết tiếp nhận từ tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại đã thể hiện bước phát triển mới của mỹ học tiếp nhận so với tường giải học Theo đó, tư duy lý luận tiền hiện đại quan tâm đến tác giả, đề cao vai trò của hiện thực thì tư duy

Trang 32

lý luận hiện đại chỉ ra sự khác biệt giữa văn bản và tác phẩm văn học, vai trò của người đọc được chú ý đến và đề cao trong sự hình thành và tồn tại của tác phẩm văn học Tuy mỗi quan niệm về vấn đề văn bản, tác phẩm, người đọc thuộc nhiều trường phái khác nhau còn có chỗ chưa thống nhất nhưng lại là những đóng góp quan trọng của lý luận phê bình văn học thế

kỷ XX Đó là sự chuyển đổi vai trò từ chủ thể sáng tạo sang chủ thể tiếp nhận

Từ góc độ thông tin, văn học nghệ thuật là một hình thái giao tiếp của con người Từ góc độ lý luận văn học, chủ thể sáng tác là tác giả và chủ thể tiếp nhận là người đọc đóng vai trò quan trọng và chúng ta cần có cách đánh giá và nhìn nhận vừa cụ thể vừa bao quát Ở Việt Nam, trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế, sự xâm lấn của văn hóa nghe nhìn,

sự xuất hiện ồ ạt của nhiều lý thuyết tiếp nhận từ Phương Tây cùng với các nhà sáng tác, nhà quản lý, nhà xuất bản, văn học đã đặt ra yêu cầu nghiên cứu về tiếp nhận văn học ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Những vấn đề về tiếp nhận văn học như: Hội thảo, tọa đàm, trao đổi, tranh luận, phê bình đánh giá, dịch thuật…cùng với các thuật ngữ, các khái niệm cơ bản của “mỹ học tiếp nhận” thông qua lý thuyết tiếp nhận từ nước ngoài: “Người đọc, tầm đón nhận, khoảng cách thẩm mỹ, ngưỡng tiếp nhận, phản tiếp nhận…” đã đặt ra nhiều vấn đề cơ bản của lý luận còn bỏ ngỏ Mặt khác, trong lý thuyết tiếp nhận, khi nghiên cứu về người đọc, người nghiên cứu phải ý thức rằng: Mỗi độc giả đều có chuẩn mực

về thẩm mỹ riêng, mỗi thời kỳ chuẩn mực thẩm mĩ luôn có sự thay đổi dẫn đến những thay đổi trong vai trò của chủ thể tiếp nhận Điều này thể hiện rõ qua sự tiếp nhận của độc giả với các sáng tác văn học Người đọc phải có “tầm văn hóa, kiến thức sâu rộng” và luôn nâng cao trình độ thưởng thức của mình

Lý luận về tiếp nhận văn học đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề của đời sống lịch sử văn học, tác phẩm văn học Cùng với lý luận về sáng

Trang 33

tác, lý luận tiếp nhận khẳng định vai trò của người tiếp nhận đối với sự hình thành các giá trị văn chương Từ những thành tựu của lý thuyết tiếp nhận hiện đại ở các nước Phương Tây chúng tôi áp dụng vào nghiên cứu

sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ trong hoạt động tiếp nhận văn học ở Việt Nam

từ năm 1986 đến 1996 Từ đó, người viết muốn tìm hiểu sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ trong tiếp nhận thể hiện ở những chiều cạnh nào? sự tồn tại của tác phẩm văn học cũng như chủ thể tiếp nhận trong lịch sử tiếp nhận văn học Bởi từ sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ trong tiếp nhận sẽ dẫn đến những thay đổi trong sáng tác, làm thay đổi cả diện mạo của một nền văn học: Giai đoạn mười năm đầu đổi mới

Trang 34

Chương 2: NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA SỰ THAY ĐỔI CHUẨN MỰC THẨM MĨ TRONG TIẾP NHẬN VĂN HỌC VIỆT NAM

SAU NĂM 1986

Trước hết chúng ta thấy trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam qua nhiều giai đoạn luôn có sự vận động và thay đổi Từ khi văn học viết hình thành, đến văn học trung đại, cận hiện đại, đương đại, mỗi giai đoạn đều có những thay đổi phù hợp với yêu cầu của thời đại Tuy nhiên, chưa có vấn đề đặt ra trong nghiên cứu ở khía cạnh thay đổi chuẩn thẩm

mĩ từ lý thuyết tiếp nhận Mặc dù trước đó đã có sự vận động thay đổi trong phòng trào Thơ Mới, chuẩn thẩm mĩ đã có sự tiếp nhận và thay đổi Chính vì vậy, với đề tài luận văn này, chúng tôi chọn chặng đường mười năm sau đổi mới 1986 để nghiên cứu sự thay đổi chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học

Từ thực tế, văn học không phải đợi đến năm 1986 mới có sự thay đổi, mà trước đó văn học luôn trong xu thế vận động, phát triển và đổi mới trong từng giai đoạn khác nhau Từ văn học cổ đại, trung đại đến văn học hiện đại đều có dấu ấn của sự vận động và thay đổi nhưng trong khuôn khổ của đề tài luận văn, chúng tôi chỉ chọn mười năm đầu đổi mới, khoanh vùng giới hạn một số tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của một số tác giả giai đoạn này Vì trong mười năm đầu đổi mới được coi là then chốt của cả quá trình vận động văn học với dấu ấn quan trọng, trong sự nỗ lực

“chuyển giao” và thay đổi để đạt được nhiều thành tựu của văn học Việt Nam hiện đại Luận văn muốn làm rõ tiền đề của sự thay đổi chuẩn thẩm

mĩ văn học trước đổi mới 1986 không ngoài mục đích thấy được bản chất của sự phát triển nhìn từ sáng tác, qua đó làm rõ và nổi bật sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ từ góc độ tiếp nhận đó diễn ra như thế nào

Năm 1986, thông qua cương lĩnh của Đảng trong Đại hội VI về vấn

đề văn hóa nghệ thuật, trong đó đổi mới văn học nghệ thuật là dấu mốc đánh dấu sự đổi mới quan trọng Sự đổi mới toàn diện trên lĩnh vực văn

Trang 35

học nghệ thuật đó có tác động đến sự thay đổi trong quan niệm sáng tác văn chương, thay đổi tư duy về nghệ thuật của đội ngũ các nhà sáng tác,

lý luận phê bình và công chúng Điều này tạo nên bầu không khí trao đổi, tranh luận sôi nổi trên diễn đàn văn học nghệ thuật giai đoạn này Đặc biệt, đây cũng là thời kỳ xảy ra nhiều cuộc tranh luận văn học, xoay quanh nhiều vấn đề “nóng” của văn học Trong đó có vấn đề thuộc về sáng tác, có vấn đề thuộc về lý luận phê bình và cả vấn đề thuộc về khuynh hướng tiếp nhận văn học của công chúng… Sự đổi mới mạnh mẽ trên phương diện nội dung và hình thức đã làm nên bức tranh đời sống văn học sinh động qua các sáng tác văn học trong giai đoạn 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1996) Từ đây, các tiền đề văn học trước đổi mới được xác lập và tạo nền tảng quan trọng cho công cuộc đổi mới sau năm 1986 Trong khuôn khổ bài luận văn, người viết xin nêu một số những đặc điểm nổi bật của văn học giai đoạn 1945 – 1975, nền văn học mang âm hưởng

sử thi có ý nghĩa như tiền đề quan trọng cho sự đổi mới văn học Việt Nam sau năm 1986

2.1 Những đặc điểm của một nền văn học mang âm hưởng sử thi trước năm 1986

Năm 1943 trong “Đề cương văn hóa Việt Nam” của Đảng cộng

sản Đông Dương do đồng chí Trường Chinh chắp bút, Đảng ta đã đề ra những quan điểm đúng đắn và kịp thời trong việc xây dựng và phát triển văn hóa trong đó có: Chủ nghĩa tả thực, chống lại chủ nghĩa lãng mạn tượng trưng Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra cho văn học nghệ thuật một hướng đi mới Trên cơ sở tư tưởng và chiến lược trong bản đề cương của Đảng, ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử văn học có sự thay đổi phù hợp với điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945 - 1975), văn học trở thành “vũ khí” chiến đấu, mỗi nhà văn là một chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ Các sáng tác văn học thời kỳ này phản ánh chân thực cuộc

Trang 36

sống chiến đấu của toàn dân, với những vấn đề chung, vấn đề lớn lao của dân tộc: Chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chặng đường văn học kháng chiến Hình ảnh con người trong văn học giai đoạn này là con người thuộc tầng lớp công - nông - binh, họ thuộc về lịch sử, thuộc về cộng đồng và thuộc về những chiến công Cái “Tôi” cá thể được đặt trong cái “Ta” cộng đồng với phẩm chất anh dũng, kiên cường, sống và chiến đấu cho lý tưởng cách mạng Họ còn là những người tiếp nhận văn học theo một định hướng tư tưởng chính trị rõ ràng

Đó là một nền văn học mà có sự tập trung cao độ về đề tài, chủ đề tư tưởng, về nhiệm vụ, phương pháp sáng tác, vì sự nghiệp chung, vì cái

“Ta”, vì dân tộc Với người nghệ sĩ, những sáng tác của họ bị chi phối bởi

phương pháp sáng tác xã hội chủ nghĩa, họ trở thành “Người thư ký trung thành của thời đại” Vì vậy, văn học phải có tính chiến đấu, văn học phục

vụ cho sự nghiệp giải phóng của toàn dân tộc, văn học mang âm hưởng lạc quan cách mạng, mang “nội dung xã hội và tính chất dân tộc” Vì vậy,

từ chiều cạnh sáng tác và lý luận phê bình giai đoạn 1945 – 1975, những đặc điểm nào của nền văn học mang tính sử thi được coi là tiền đề của sự đổi mới văn học Việt Nam sau năm 1986?

2.1.1 Văn học gắn bó với vận mệnh chung của đất nước

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã mở ra một chặng đường phát triển mới trong lịch sử của dân tộc Việt Nam - lịch sử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Từ đây, đất nước ta được độc lập tự do nhưng đồng thời cũng đứng trước rất nhiều khó khăn thách thức to lớn: Ngay sau khi độc lập, đất nước ta lại tiến hành cuộc kháng chiến đánh đuổi thực

dân Pháp kéo dài suốt 9 năm với khẩu hiệu “kháng chiến hóa văn hóa – văn hóa hóa kháng chiến” của Hồ Chí Minh, và hơn 30 năm kháng chiến

chống Mỹ cứu nước Văn học bước sang một giai đoạn mới theo xu hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam chủ

trương Văn học phục vụ cho cuộc kháng chiến, nhà văn trở thành “người

Trang 37

thư ký trung thành” tích cực phản ánh, động viên, nêu cao tinh thần yêu

nước, kháng chiến cứu nước của toàn dân tộc Nền văn học 1945 – 1975

là nền văn học mang âm hưởng sử thi là giai đoạn phát triển mạnh mẽ và rực rỡ nhất của bản anh hùng ca cách mạng

Có thể nói, văn học giai đoạn 1945 – 1975 gắn bó chặt chẽ với cuộc kháng chiến, phản ánh chân thực đời sống cách mạng Từ phong

trào Thơ Mới bộc lộ cái đẹp, tâm trạng của con người riêng lẻ “ta là một,

là riêng, là thứ nhất” thơ mở rộng biên độ, lan tới khoảng rộng bao la là

không khí sục sôi đánh giặc của toàn dân tộc Đó là tâm trạng phơi phới,

tràn ngập niềm tin chiến thắng của mỗi con người đất Việt Cái “tôi” cá nhân cô đơn, lạc lõng đổi chỗ cho cái “ta” phấp phới niềm tin, niềm vui

cùng sống và chiến đấu với dân tộc Nhà thơ không còn ẩn náu trong

những “tinh cầu giá lạnh” mà được soi tỏa bởi sức nóng của “mặt trời chân lý” Văn học giai đoạn này mang khuynh hướng sử thi cùng với sự

đổi mới về nội dung phản ánh và hình thức thể hiện, trở thành món ăn tinh thần cho toàn dân tộc Nó bồi đắp niềm tin cách mạng, bồi đắp ý chí

và lòng quyết tâm của dân tộc sống và chiến đấu vì lý tưởng cao cả: Giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước Đây cũng là giai đoạn văn học có sự

gắn kết giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại của sự sáng tạo, vận

động theo hướng dân tộc hóa, đại chúng hóa Văn học giáo dục tinh thần

yêu nước, động viên toàn dân tộc, kháng chiến bảo vệ tổ quốc, là cơ sở đặt nền móng cho sự phát triển văn học cách mạng trong những giai đoạn tiếp theo Mặt khác, trong cuộc kháng chiến cứu nước, văn học nghệ thuật

là lĩnh vực nghệ thuật chịu tác động trực tiếp nên việc thay đổi nhận thức trong tư tưởng của người nghệ sĩ là rất quan trọng Điều này bắt nguồn từ những nguyên nhân cụ thể: Đó là bối cảnh nền kinh tế nước ta còn nghèo, chậm phát triển, giao lưu văn hóa không được mở rộng chỉ bó hẹp trong ảnh hưởng của các nước Xã hội chủ nghĩa là Trung Quốc và Liên Xô Cùng với đó là cả đất nước cùng “ra trận” kháng chiến chống hai đế quốc

Trang 38

hùng mạnh là Pháp và Mĩ Chính vì vậy, văn học nghệ thuật tập trung vào các vấn đề chung của thời đại, vấn đề vận mệnh chung của đất nước với

đề tài chính là tổ quốc và xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa anh hùng cách

mạng Việt Nam trong văn học chống Mỹ là đặc điểm nổi bật với chiến công oanh liệt hào hùng của anh bộ đội, của những con người lao động bình thường “Lý giải chủ nghĩa anh hùng cách mạng từ góc độ tinh thần bất khuất tinh thần quật khởi có tính chất truyền thống, như sáng tác của Anh Đức, Phan Tứ, Nguyễn Sáng, Nguyễn Vũ…tức là các sáng tác miền Nam về đề tài chống Mỹ Còn các sáng tác từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, khi lý giải chủ nghĩa anh hùng cách mạng thì tìm nguyên nhân ở chế độ

xã hội tốt đẹp, ở phẩm chất của con người mới trong sáng tác của Nguyễn Khải, Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu… nhưng ở trong

thơ cảm hứng lịch sử vẫn mạnh mẽ hơn trong văn xuôi” [93; tr20] Văn

học kháng chiến chống Mỹ phản ánh hiện thực cuộc kháng chiến làm nên

“Nền văn học của ta có một sự tập trung cao độ về đề tài, về chủ đề tư

tưởng, về nhiệm vụ và cả về phương pháp sáng tác” [93; tr22] Đó là giai

đoạn văn học kết hợp giữa hai khuynh hướng sử thi và khuynh hướng lãng mạn Đề tài nổi bật là những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và mang hơi

thở của cuộc sống cách mạng: Tổ quốc và những chiến công Các tác

phẩm văn xuôi kháng chiến tiêu biểu với Một lần tới thủ đô, trận Phố Ràng của Trần Đăng, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Rừng Xà Nu của Nguyễn Trung Thành… Thể loại thơ cũng

phát triển với thể tài về cuộc kháng chiến trường kỳ mang âm hưởng hào

hùng của toàn dân tộc với các tác giả: Tố Hữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm… Các sáng tác đặt trong hoàn

cảnh chiến tranh nên không gian nghệ thuật là không gian cộng đồng rộng lớn, phản ánh hiện thực khốc liệt của chiến tranh Từ không gian rộng mở đó, con người được khẳng định mình, trưởng thành hơn, hình

Trang 39

ảnh người anh hùng lý tưởng trở thành hình ảnh cao đẹp Không gian chiến trường rộng lớn là không gian lý tưởng và phổ biến nhất trong các

tác phẩm: Cao điểm cuối cùng, Dấu chân người lính, Bên kia biên giới, Sao Mai, Chiến sĩ… Đó còn là không gian gắn với cảnh sắc thiên nhiên

hùng vĩ, hình ảnh người lính, người chiến sĩ hiện hữu hòa nhập cùng với

sự bao la rộng lớn của thiên nhiên đất trời Với các tác phẩm “Cửa biển,

Vỡ bờ”, sự xuất hiện không gian rộng lớn cùng sự góp mặt của của số đông những con người thuộc nhiều tầng lớp khác nhau đã tạo nên hình ảnh đẹp, sống động Không gian ấy còn là không gian rộng lớn trong

“Rừng Xà Nu” của Nguyễn Trung Thành, là sự hào hùng của cả dân tộc đứng lên làm cách mạng trong “Đất nước đứng lên” Có thể nói, không gian nghệ thuật trong các tác phẩm giai đoạn 1945 -1975 là không gian công cộng rộng mở, dung chứa tầm vóc lớn lao, đồng thời nó còn là thủ pháp nghệ thuật đắc dụng làm nổi bật hình ảnh người anh hùng cách mạng trong không gian chiến trường rộng lớn và khốc liệt Tuy nhiên, không gian sử thi rộng lớn này khiến cho các nhân vật luôn được khám phá ở môi trường xã hội, trong không gian công cộng Chính vì lẽ đó mà bạn đọc ít thấy hình ảnh con người với những xúc cảm tình cảm riêng tư, với những khoảnh khắc yên tĩnh, những khám phá ở chiều sâu nội tâm Không gian gia đình ít được nhắc đến, nếu có nhắc đến rất mờ nhạt, nó chỉ làm điểm nhấn để làm nổi bật không gian công cộng trong tác phẩm Mặt khác, các nhà văn khi viết tác phẩm mang đậm tính sử thi nên bị “bó hẹp” trong môi trường công cộng rộng lớn mà chưa có sự soi chiếu ở góc

độ không gian cuộc sống gia đình với những biến cố để tạo nên “cá tính riêng” cho nhân vật của mình

Thời gian nghệ thuật trong văn học 1945 - 1975 gắn với hiện thực

cách mạng của toàn dân tộc nên thời gian chủ yếu là thời gian của lịch sử

- sự kiện, nó tồn tại độc lập với ý thức của người kể chuyện Trong đó thời gian cá nhân và thời gian lịch sử đan cài vào nhau Đó là việc mà nhà

Trang 40

văn đặt con người trong mối tương quan với lịch sử dân tộc, gắn số phận con người với từng giai đoạn của lịch sử đất nước Vì vậy, thời gian nghệ thuật là thời gian thuận chiều, thời gian của thực tại, thời gian của cuộc chiến đấu toàn dân tộc đặt trong nhiệm vụ chính trị quan trọng Từ đó, thời gian nghệ thuật luôn trong chiều vận động đối sánh với nhau, giữa

cái cũ và mới, quá khứ và hiện tại Sự đối sánh đó thể hiện trong Xung đột, Bão biển, đất mặn, Gia đình má Bảy, Sống mãi với thủ đô… Bên

cạnh đó, thời gian nghệ thuật còn là thời gian của sự thử thách và cả những niềm tin và hi vọng Mở đầu tác phẩm là sự ngợi ca chiến công, kết thúc tác phẩm bao giờ cũng là tương lai tươi sáng, hứa hẹn nhiều chiến công hiển hách Thời gian khó khăn, gian khổ thử thách người anh hùng để họ vượt qua khó khăn Chính thời gian cũng tạo nên những người anh hùng có ý chí và nghi lực Đó là thời gian thử thách sự thủy chung tình yêu đôi lứa trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt Thời gian nghệ thuật trong văn học Việt Nam 1945 – 1975 theo trật tự thời gian tuyến tính, thuận chiều giữa quá khứ - hiện tại - tương lai Thời gian phi tuyến tính còn mờ nhạt trong các tác phẩm văn học giai đoạn này Chúng ta không phủ nhận những đặc điểm nổi bật của thời gian nghệ thuật trong nền văn học sử thi 1945 – 1975, nhưng thời gian nghệ thuật của tác phẩm đặt trong bối cảnh chiến tranh khiến cho nhân vật chưa thể hiện những suy nghĩ riêng tư, những xúc cảm của riêng mình trước sự khốc liệt của chiến tranh

Như vậy, với nội dung phản ánh đề tài, cùng với thời gian và không gian nghệ thuật, văn học 1945 – 1975 mang đậm dấu ấn sử thi với chiến công hào hùng, với chủ nghĩa anh hùng cách mạng Mặt khác, văn học với giọng điệu ngợi ca, hào sảng đã tạo nên hào khí cách mạng sôi động trên khắp cả nước từ Bắc chí Nam, thu hút mọi thành phần xã hội, mọi lứa tuổi tham gia Tuy nhiên, nhìn từ thành tựu của đề tài chúng ta

còn thấy những hạn chế của văn học giai đoạn này: Văn học trở thành

Ngày đăng: 19/12/2015, 08:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lại Nguyên Ân (1988), Đọc văn phải khác với đọc sử, Tạp chí Văn học, số 29- 30văn, Đại học Sƣ phạm Hà Nội, tr2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc văn phải khác với đọc sử
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1988
4. Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, Nxb. Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2003
5. Nguyễn Văn Bổng (1988), Một trường hợp đang bàn cãi: Xung quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, số 36,37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trường hợp đang bàn cãi: Xung quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Bổng
Năm: 1988
6. Nguyễn Minh Châu (1987), Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, số 45 – 50, tr2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
8. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb, Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2004
9. Nguyễn Văn Dân (1986), Nghiên cứu sự tiếp nhận của văn chương trên quan điểm liên ngành, Tạp chí nghiên cứu văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tiếp nhận của văn chương trên quan điểm liên ngành
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 1986
10. Nguyễn Văn Dân (1998), Văn học so sánh, NXb KHXH. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 1998
11. Nguyễn Văn Dân (1991), Văn học nghệ thuật và tiếp nhận, Viện Thông tin khoa học xã hội Hà Nội, H, tr21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nghệ thuật và tiếp nhận
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 1991
12. Nguyễn Văn Dân (1985), Tiếp nhận “mỹ học tiếp nhận” như thế nào”, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp nhận “mỹ học tiếp nhận” như thế nào
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 1985
13. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008), Xã hội học, Nxb. Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2008
14. Vũ Thị Kim Dung (2007), Về các chuẩn mực đánh giá, giá trị thẩm mĩ, Tạp chí Triết học, 20/10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các chuẩn mực đánh giá, giá trị thẩm mĩ
Tác giả: Vũ Thị Kim Dung
Năm: 2007
15. Trương Đăng Dung (1990) chủ biên, Các vấn đề của khoa học văn học (1990), Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề của khoa học văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung (1990) chủ biên, Các vấn đề của khoa học văn học
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1990
16. Trương Đăng Dung (1990), Về đặc trưng của phản ánh nghệ thuật trong mỹ học Ch.cốttoen và G. Lucát, sách văn học và hiện thực, Nxb. KHXH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc trưng của phản ánh nghệ thuật trong mỹ học Ch.cốttoen và G. Lucát, sách văn học và hiện thực
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb. KHXH Hà Nội
Năm: 1990
17. Trương Đăng Dung (1998), Văn học và hiện thực, NXb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và hiện thực
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 1998
18. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, NXb KHXH. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 1998
19. Trương Đăng Dung dịch (1998) G. Lukas, Đặc trưng mỹ học, tạp chí văn học nước ngoài số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng mỹ học
20. Trương Đăng Dung (2001), Hai mô hình nghệ thuật trên một vấn đề, trong sách Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, Nxb, Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai mô hình nghệ thuật trên một vấn đề, trong sách Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2001
21. Trương Đăng Dung (2002), Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, Tạp chí VH số 7 – 8/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2002
22. Trương Đăng Dung (2003), Những giới hạn của lịch sử văn học, Tạp chí nghiên cứu Văn học 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giới hạn của lịch sử văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2003
23. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb, Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Đổi mới phương diện nghệ thuật - Sự thay đổi chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học ở việt nam sau năm 1986 (1986 1996)   luận văn ths  văn học  60 22
Bảng 2.1 Đổi mới phương diện nghệ thuật (Trang 53)
Bảng 3.1: Một số bài viết xung quanh truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp - Sự thay đổi chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học ở việt nam sau năm 1986 (1986 1996)   luận văn ths  văn học  60 22
Bảng 3.1 Một số bài viết xung quanh truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (Trang 74)
Bảng 3.2: Mức độ đọc sách văn học [112] - Sự thay đổi chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học ở việt nam sau năm 1986 (1986 1996)   luận văn ths  văn học  60 22
Bảng 3.2 Mức độ đọc sách văn học [112] (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w