Cuối cùng, trong phần phụ lục của công trình, người viết đã trích dịch và giới thiệu một số tài liệu của lý luận văn học nước ngoài tìm hiểu về lý thuyết tiếp nhận để giúp người đọc đề t
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA
LẦN THỨ XIV NĂM 2012
TÊN CÔNG TRÌNH:
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VĂN
HỌC Ở VIỆT NAM TỪ SAU 1986
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: Xã hội và Nhân văn CHUYÊN NGÀNH: Văn học
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Kim Loan (CN) Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Huỳnh Như Phương
Mã số công trình: ………
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
5 Giới hạn của đề tài 8
6 Đóng góp mới của đề tài 9
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 9
8 Kết cấu của đề tài 9
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN XOAY QUANH 11
LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN 11
1 Tiếp nhận văn học và các khái niệm cơ bản 11
1.1 Tác giả 11
1.2 Tác phẩm 14
1.3 Người đọc 16
1.4 Tiếp nhận văn học 17
2 Những tiền đề cho việc du nhập lý thuyết tiếp nhận phương Tây vào Việt Nam 19
2.1 Người đọc trong lý luận văn học truyền thống 20
2.2 Tình hình nghiên cứu về vấn đề người đọc ở Việt Nam trước năm 1986 24
2.3 Vị trí của lý thuyết tiếp nhận trong đời sống lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX 33
2.4 Nhu cầu đổi mới lý luận phê bình văn học 36
CHƯƠNG 2: NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VĂN HỌC Ở VIỆT NAM TỪ SAU NĂM 1986 - THỰC TẾ 41
VÀ NHẬN ĐỊNH 41
1 Những vấn đề nổi bật của lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam 41
1.1 Mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm và người đọc 41
1.2 Mỹ học tiếp nhận 53
1.3 Phê bình văn học – hình thức tiếp nhận đặc biệt 60
Trang 31.4 Những đổi mới trong quan niệm về văn học từ ảnh hưởng của lý thuyết
tiếp nhận 68
2 Lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam từ sau 1986 – nhìn lại một chặng đường phát triển 71
CHƯƠNG 3: LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN Ở VIỆT NAM – NHỮNG ẢNH HƯỞNG VÀ TRIỂN VỌNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC 75
1 Nghiên cứu văn học ở Việt Nam dưới ánh sáng của lý thuyết tiếp nhận 75
1.1 Nghiên cứu văn học nước ngoài 75
1.2 Nghiên cứu văn học Việt Nam 78
1.3 Lý thuyết tiếp nhận và sự mở rộng phạm vi nghiên cứu văn học 81
2 Lý thuyết tiếp nhận và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường 84
2.1 Vấn đề biên soạn giáo trình lý luận văn học ở Việt Nam sau 1986 84
2.2 Sự thay đổi phương thức giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà trường trung học phổ thông 95
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 108
Trang 4TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Với mục tiêu tìm hiểu, khái quát và đánh giá tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ sau năm 1986, người viết đã thực hiện công trình này dựa trên những nguồn tài liệu thu thập được từ quá trình khảo sát Với chương một, người viết đi từ việc thống nhất khái niệm, dựng lại bức tranh những tiền đề và nguyên nhân dẫn đến việc du nhập và phát triển lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam Từ đó, trong chương hai, chương quan trọng nhất của đề tài, người viết triển khai tổng thuật bốn nội dung, bốn vấn đề trọng tâm mà giới nghiên cứu Việt Nam quan tâm khi tìm hiểu
lý thuyết tiếp nhận Ngoài việc dẫn ra những ý kiến được đa số học giả đồng tình, người viết còn tiến hành so sánh sự khác biệt trong nghiên cứu, trong quan điểm và cách tư duy giữa các học giả Từ những gì thu được trong chương hai, người viết cũng tiến tới khẳng định lý thuyết tiếp nhận là khuynh hướng nghiên cứu đang rất phát triển
ở Việt Nam với một đội ngũ nghiên cứu uy tín, nhiều kinh nghiệm; với nhiều công trình nghiên cứu, dịch thuật đa dạng, chất lượng Sự phát triển của lý thuyết tiếp nhận
ở Việt Nam cùng với những hướng ứng dụng được mở rộng dựa trên nền tảng của hệ thống lý thuyết này được người viết giới thiệu qua chương ba Ảnh hưởng của lý thuyết tiếp nhận không chỉ phát huy qua việc nghiên cứu văn học nước ngoài, văn học Việt Nam, mà còn qua việc tìm hiểu thị hiếu văn học, và đặc biệt là qua sự thay đổi trong phương thức giảng dạy văn học Chính những hướng ứng dụng rộng mở này đã chứng minh thế mạnh và khả năng giải quyết những vấn đề trong nghiên cứu văn học đang tồn tại
Từ những kết quả nghiên cứu như trên, người viết có thể đưa ra những kết luận quan trọng, trong đó, người viết muốn nhấn mạnh sự phát triển, vai trò và ảnh hưởng của lý thuyết tiếp nhận trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay Đây cũng chính là tiền đề để từ đó người viết đặt ra nhu cầu đưa lý thuyết tiếp nhận vào chương trình giảng dạy cho học sinh sinh viên Việt Nam như là một nội dung quan trọng của
lý luận văn học, chứ không chỉ đơn giản là một vấn đề, một bài học thêm
Cuối cùng, trong phần phụ lục của công trình, người viết đã trích dịch và giới thiệu một số tài liệu của lý luận văn học nước ngoài tìm hiểu về lý thuyết tiếp nhận để giúp người đọc đề tài có thêm những cơ sở để hiểu và so sánh những gì giới nghiên cứu Việt Nam làm được
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, dù giới nghiên cứu lý luận phê bình đã có nhiều nỗ lực trong việc tìm hiểu và giới thiệu những lý thuyết văn học từ nước ngoài, đặc biệt
là lý thuyết phương Tây vào nước ta, nhưng nhìn chung, sự phát triển của lý luận phê bình văn học Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thể theo kịp những bước đi của thế giới Việc tìm hiểu, dịch thuật và giới thiệu những lý thuyết văn học ở nước ngoài vào nước ta, một mặt cho thấy nỗ lực của giới nghiên cứu Việt Nam trong việc thay đổi bộ mặt của nền học thuật nước nhà; mặt khác, nó lại chứng minh sự non trẻ của một nền lý luận phê bình chỉ thật sự manh nha từ đầu thế kỷ XX Bên cạnh đó, không phải bất cứ lý thuyết văn học nước ngoài nào vào Việt Nam cũng ngay lập tức được đón nhận và được phổ biến rộng rãi Đó là chưa kể trường hợp có nhiều lý thuyết, dù
đã quá quen thuộc trên thế giới, khi đến Việt Nam lại hoàn toàn mới mẻ, do đó, khi đánh giá chúng, còn có nhiều điều chưa thật thỏa đáng Những công trình nghiên cứu, tìm hiểu một lý thuyết văn học cụ thể chúng ta đã có nhiều Nhưng một công trình đánh giá lại toàn bộ những gì chúng ta đã làm được thì còn quá ít ỏi Chính thực tiễn nêu trên của nền nghiên cứu lý luận phê bình văn học ở Việt Nam đã thúc đẩy người viết thực hiện đề tài này Đó là yêu cầu bức thiết của việc thực hiện một công trình nghiên cứu toàn diện những ưu nhược điểm trong việc tiếp nhận một lý thuyết văn học
ở Việt Nam
Bên cạnh đó, nhìn lại quá trình phát triển của nền lý luận phê bình văn học Việt Nam, ta có thể nhận thấy, ở giai đoạn hiện nay, vấn đề trung tâm mà giới nghiên cứu chú ý đã dịch chuyển sang một hướng khác Trước đây, trong giai đoạn văn học kháng chiến, những gì nhà nghiên cứu quan tâm là sự phản ánh hiện thực theo quan điểm của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Khi đó, những khái niệm như tính Đảng, tính nhân dân, tính giai cấp, đấu tranh xã hội chi phối cách nhìn nhận và đánh giá văn học Hiện nay, cùng với công cuộc đổi mới, văn học ngày càng được dân chủ hóa Tiêu chuẩn đánh giá một tác phẩm văn học không còn bị bó hẹp trong khuôn khổ của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mà đã mở rộng, cho phép nhà văn cũng như người đọc tự tìm lấy cho mình những giới hạn phản ánh sâu rộng, đa dạng và phức tạp hơn
Sự thay đổi theo hướng dân chủ hóa này không chỉ xuất hiện trong quá trình sáng tác
Trang 6mà còn ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận văn học Những vấn đề như tính đối thoại trong tác phẩm văn học, tiểu thuyết đa thanh, tầm quan trọng của người đọc vừa là hệ quả của một thời kỳ dân chủ và tiến bộ, vừa chịu ảnh hưởng từ những lý thuyết văn học nước ngoài Lý thuyết tiếp nhận văn học bắt đầu xuất hiện và ngày càng thể hiện
ưu điểm của nó trong đời sống nghiên cứu lý luận phê bình văn học nước ta Các học giả ở Việt Nam say sưa tìm hiểu lý thuyết tiếp nhận văn học vừa để theo kịp tình hình nghiên cứu lý luận trên thế giới, vừa như tìm được một lý thuyết phù hợp với thực tiễn đời sống văn học Việt Nam Trước năm 1986, những vấn đề liên quan đến tiếp nhận văn học đã được đề cập đến Tuy nhiên, chỉ từ giai đoạn đổi mới, tiếp nhận văn học mới thật sự phát triển rộng rãi Đã có nhiều nhà nghiên cứu với nhiều công trình và bài viết khác nhau tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận văn học Tuy nhiên, để một lý thuyết văn học có thể thật sự phát triển sâu sắc và bền vững, ngoài việc giới thiệu, dịch thuật, tìm hiểu nó, chúng ta còn cần có một công trình đánh giá lại những gì giới nghiên cứu đã làm được trong suốt mấy chục năm gần đây Và đây chính là lý do thứ hai thúc đẩy người viết thực hiện đề tài này
Ngoài ra, tìm hiểu tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam còn có nghĩa là tìm hiểu đời sống vận động và phát triển của nền lý luận phê bình văn học Việt Nam ở một phương diện cụ thể Nghiên cứu này sẽ trả lời những câu hỏi như: Chúng ta đã làm được những gì? Chúng ta còn thiếu sót những gì? Chúng ta cần chú ý điều gì? Chúng ta có thể đi được đến đâu? Và câu hỏi khác cũng quan trọng không kém: lý thuyết tiếp nhận văn học đóng vai trò như thế nào đối với sự phát triển của lý luận phê bình văn học Việt Nam? Công trình này còn đi tìm lời giải đáp cho vấn đề khi vào đến Việt Nam, lý thuyết tiếp nhận của lý luận văn học phương Tây hiện đại đã được tiếp thu và có những biến đổi, những quan niệm khác nhau như thế nào?
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Khi tiến hành thực hiện đề tài, người viết đã thu thập và tìm hiểu những tư liệu nghiên cứu về lý thuyết tiếp nhận văn học nói riêng và tình hình nghiên cứu lý luận phê bình văn học ở Việt Nam nói chung Tuy nhiên, do phần tài liệu về lý thuyết tiếp nhận văn học nằm trong nội dung chính của đề tài nên người viết sẽ không đề cập đến
ở đây mà chỉ tập trung giới thiệu những tài liệu còn lại
Trước hết, về những công trình nghiên cứu có tính chất tổng thuật, đánh giá về tìm hiểu lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam nói chung, sau quá trình tập trung tư
Trang 7liệu, người viết nhận thấy hiện nay chúng ta còn thiếu hẳn những công trình như thế này
Tiếp đến, đối với những công trình, bài viết có tính chất tổng kết, đánh giá về tình hình nghiên cứu lý luận phê bình văn học ở Việt Nam nói chung, ta có thể kể đến một vài công trình, bài viết tiêu biểu như sau:
Về những công trình tóm tắt, giới thiệu một cách hệ thống những lý thuyết văn
học ở phương Tây vào nước ta, có thể kể đến nhà nghiên cứu Phương Lựu với Mười trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây đương đại (NXB Giáo dục, 1999)
và sau đó được sửa chữa, bổ sung với Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ
XX (NXB Văn học – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2001) Trong hai công
trình này, Phương Lựu đã tập trung tìm hiểu, giới thiệu khái niệm, điều kiện hình thành và những đặc điểm chính của các trường phái quan trọng ở phương Tây là: chủ nghĩa duy ý chí, trường phái văn hóa – lịch sử, văn học so sánh, thuyết chuyển cảm, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa trực giác, chủ nghĩa hình thức, ngữ nghĩa học, phê bình mới, phân tâm học, tâm phân học, mỹ học phân tích, chủ nghĩa thực dụng, hiện tượng luận, chủ nghĩa hiện sinh, ký hiệu học, thuyết hoàn hình, chủ nghĩa cấu trúc, giải thích học, mỹ học tiếp nhận, xã hội học văn học, phê bình xã hội – chính trị Dù chỉ dừng lại
ở việc giới thiệu, chưa thể đi sâu tìm hiểu từng trường phái, nhưng có thể thấy công trình của Phương Lựu đã giới thiệu một cách đa dạng và phong phú những trường phái lý luận phê bình quan trọng nhất ở phương Tây thế kỷ XX
Ngoài những công trình giới thiệu như trên của Phương Lựu, ở Việt Nam còn xuất hiện nhiều công trình dịch thuật có giá trị, góp phần giới thiệu các trường phái, lý thuyết, phương pháp phê bình văn học vào Việt Nam Trong số đó có thể kể đến Đỗ
Lai Thúy với Sự đỏng đảnh của phương pháp (NXB Văn hóa Thông tin – Tạp chí
Văn hóa Nghệ thuật, 2004) Trong công trình này, bên cạnh một bài viết mang tính chất tổng kết về quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng văn học phương Tây, Đỗ Lai Thúy đã dịch và giới thiệu đến độc giả Việt Nam các lý thuyết và phương pháp như phương pháp tiểu sử học, trường phái văn hóa lịch sử, trường phái thần thoại học, tiến hóa luận văn học, lý thuyết phân tích văn hóa, trường phái lịch sử tinh thần, chủ nghĩa hình thức Nga, Phê bình mới, thi pháp học cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh, nhân học tưởng tượng, tự sự học, xã hội học cấu trúc, chủ nghĩa hậu cấu trúc, mỹ học tiếp nhận Bên cạnh việc dịch thuật, Đỗ Lai Thúy còn chú ý giới thiệu gương mặt đại diện tiêu biểu của từng trường phái, từng lý thuyết và phương pháp Từ đó, bộ mặt tư tưởng văn
Trang 8học châu Âu hiện lên một cách rõ nét và đa dạng Có thể nói, Đỗ Lai Thúy là một trong những dịch giả có uy tín hàng đầu trong việc dịch thuật và giới thiệu những lý thuyết nước ngoài vào Việt Nam
Chúng ta còn có công trình dịch thuật Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ 20 của Đào Tuấn Ảnh,
Trần Hồng Vân và Lại Nguyên Ân (NXB Đại học Quốc gia, 2003) Trong công trình này, các nhà nghiên cứu đã dịch những thuật ngữ quan trọng của các trường phái như Phê bình mới, mỹ học tiếp nhận, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu cấu trúc, trần thuật học, giải thích học, các trường phái hiện tượng học, phê bình thần thoại học, chủ nghĩa
hậu hiện đại Hoặc công trình dịch thuật Lý luận – phê bình văn học thế giới thế kỷ
XX do Lộc Phương Thủy chủ biên (NXB Giáo dục, 2007) cũng tuyển chọn, dịch và
giới thiệu những bài viết quan trọng của các tác giả uy tín trên thế giới về các trường phái, trào lưu quan trọng trong thế kỷ XX
Như vậy, qua một số công trình kể trên, ta có thể thấy sự quan tâm của giới nghiên cứu học thuật nước nhà đối với những trường phái, những lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học trên thế giới Mặc dù những gì được giới thiệu trong các công trình trên chưa hẳn đã có mặt hoàn toàn trong đời sống văn học Việt Nam mà mới chỉ tồn tại trên lý thuyết, tuy nhiên, nó đã giải quyết phần nào vấn đề
“đói” lý luận, “nghèo nàn” lý thuyết của văn học Việt Nam
Khi đánh giá, nhận xét về đời sống nghiên cứu lý luận phê bình ở Việt Nam, một vấn đề các học giả không thể bỏ qua là sự tiếp nhận các lý thuyết phương Tây vào nước ta Những công trình dịch thuật, giới thiệu nêu trên chỉ mới là những hiện tượng
cụ thể, cái mà các nhà nghiên cứu quan tâm hơn nữa là những ảnh hưởng của các trường phái, lý thuyết ấy ở Việt Nam Về vấn đề này, có thể nói, ở ta có một số bài
viết như Tác động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam của Lộc Phương Thủy (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1-2005) hay bài viết Nửa thế
kỷ giới thiệu những tư tưởng mỹ học và lý luận văn học nước ngoài ở Việt Nam của
Trịnh Bá Đĩnh (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 5-2006)
Trong bài viết Tác động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam, Lộc Phương Thủy đã tái hiện lại toàn bộ bức tranh đời sống lý luận
văn học Việt Nam từ những ngày đầu tiên với sự du nhập của văn minh phương Tây vào Việt Nam cho đến tận hôm nay Dựa trên những gì mình thu thập được, Lộc Phương Thủy khẳng định sự hiện hữu của lý luận văn học nước ngoài ở Việt Nam
Trang 9trong suốt cả trăm năm dù có lúc đậm nhạt khác nhau Bà cũng cho rằng “trong chục năm cuối thế kỷ XX và vài năm đầu thế kỷ XXI, đã có một sự chuyển mình đáng khích lệ trong lý luận văn học ở Việt Nam” [I;70; 15] Tuy nhiên, Lộc Phương Thủy không lấy đó làm hài lòng mà đề xuất hướng mở rộng tầm nhìn, “mở nhiều ô cửa ra thế giới, tham khảo kinh nghiệm, cùng lúc của nhiều nguồn” [I;70; 17] để lý luận văn học Việt Nam thật sự phát triển, tránh tình trạng lạc hậu, trì trệ Như vậy, bài viết của Lộc Phương Thủy không chỉ đúc kết lại toàn bộ quá trình du nhập, tiếp nhận và phát triển của lý thuyết phương Tây ở Việt Nam mà còn đề xuất những hướng đi mới để việc nghiên cứu, học tập ở nước ta ngày một phát triển Tuy nhiên, do giới hạn của bài viết, Lộc Phương Thủy chưa có điều kiện đi sâu vào từng lý thuyết, phương pháp cụ thể mà chỉ dừng lại ở mức khái quát
Khác với Lộc Phương Thủy, trong bài viết của mình, Trịnh Bá Đĩnh lại tập trung tìm hiểu “sự tiếp thu các thành tựu mỹ học và lý luận văn học thế giới trong đó việc dịch thuật, giới thiệu các công trình lý luận nghiên cứu của các học giả nước ngoài” [I;15; 46] ở Việt Nam trong vòng 20 năm trở lại đây Theo tác giả, đây là một trong ba nguồn mạch chính góp phần hình thành nên nền lý luận văn học Việt Nam,
và thậm chí, đây còn là nguồn mạch quan trọng nhất Trong tương quan so sánh với việc giới thiệu và tiếp thu các tư tưởng mỹ học và lý luận văn học nước ngoài trước và sau thập niên 80, Trịnh Bá Đĩnh đã tổng thuật lại toàn bộ những cố gắng (chủ yếu là dịch thuật) của các nhà học giả Việt Nam trong việc truyền bá các tư tưởng mỹ học, văn học của nước ngoài Cuối bài viết, tác giả cũng đúc kết lại tình hình và nêu những
đề xuất của mình Nếu Lộc Phương Thủy có cái nhìn đa chiều thì Trịnh Bá Đĩnh lại cho rằng chúng ta cần có bản lĩnh hơn trong khi tiếp nhận tư tưởng nước ngoài, tức là phải tự tạo cho mình “một kiến văn rộng rãi” để “cởi mở và điềm tĩnh hơn trước các lý thuyết và trào lưu nghệ thuật” [I;15; 57] Bài viết của Trịnh Bá Đĩnh cũng cung cấp cho chúng ta những thông tin quan trọng về tình hình dịch thuật, giới thiệu lý thuyết văn học nước ngoài tại Việt Nam trong những năm gần đây Mốc thời gian mà bài viết đưa ra cũng khá trùng khít với mốc thời gian của đề tài Tuy nhiên, cũng như Lộc Phương Thủy, Trịnh Bá Đĩnh chưa cung cấp cho chúng ta một cái nhìn toàn diện và tỉ
mỉ về sự ảnh hưởng của một lý thuyết văn học cụ thể, mà ở đây là lý thuyết tiếp nhận
Cuối cùng, người viết xin điểm qua bài viết Nhận thức lại về nhu cầu và khả năng phát triển tri thức lý luận trên các bình diện khác nhau của đời sống văn học
ở Việt Nam ngày nay của Trần Ngọc Vương trên tạp chí Nghiên cứu văn học số
Trang 101-2005 Trong bài viết này, từ những thách thức nhìn gần và nhìn xa mà lý luận văn học Việt Nam đang phải đối diện, tác giả đã chỉ ra “trung tâm và biên của sự đổi mới lý luận văn học” Theo Trần Ngọc Vương, hạn chế và cũng là thách thức mà lý luận văn học Việt Nam cần phải vượt qua để phát triển đầu tiên là “tình trạng bạc nhược”, “quy hoạch” rạch ròi văn học “truyền thống” và văn học hiện đại trong nghiên cứu, kế đến
là sự non yếu của chính những lý thuyết phương Tây mà chúng ta tiếp nhận một cách vội vàng Từ những thách thức nêu trên, Trần Ngọc Vương cho rằng để phát triển, để vững mạnh, lý luận văn học Việt Nam cần đặt vấn đề trung tâm vào hai hướng nghiên cứu là “nghiên cứu liên ngành ngữ văn” và “nghiên cứu vùng giao thoa của văn chương với các loại hình nghệ thuật khác” Ông cũng nhấn mạnh rằng “tâm điểm của
sự chú ý và tất yếu của sự đào sâu, nâng cao đối với lý luận văn học phải được ưu tiên
để nhận diện những gì là đặc trưng của bộ phận ngôn ngữ mang tính nghệ thuật” [I;87; 41] Như vậy, có thể thấy, qua bài viết này, Trần Ngọc Vương cũng chú ý chỉ ra những ưu nhược điểm của nền lý luận văn học nước nhà, đề ra những hướng giải quyết và trọng tâm của nghiên cứu Tuy nhiên, cũng như các bài viết trên, Trần Ngọc Vương cũng chưa đi sâu, cụ thể vào một vấn đề, một lý thuyết riêng biệt
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Từ những lý do nêu trên, từ thực tiễn tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
về đề tài, người viết đặt ra cho mình những mục tiêu và nhiệm vụ sau khi tiến hành thực hiện đề tài:
Thứ nhất, tóm tắt những vấn đề chủ yếu mà các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đề
ra khi tìm hiểu về lý thuyết tiếp nhận văn học từ sau năm 1986
Thứ hai, so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa các nhà nghiên cứu, các công trình, bài viết Từ đó thử chỉ ra một vài ưu nhược điểm của nền lý luận phê bình Việt Nam khi tiếp nhận lý thuyết tiếp nhận văn học
Thứ ba, đánh giá vai trò và vị trí của lý thuyết tiếp nhận văn học trong thực tiễn đời sống văn học Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: để tiến hành nghiên cứu đề tài, người viết đã dựa trên những nền tảng sau:
Trang 11 Những lý thuyết, quan niệm văn học truyền thống về người đọc và tiếp nhận văn học
Những lý thuyết, quan niệm về người đọc và tiếp nhận văn học trong lý luận văn học hiện đại
Những công trình nghiên cứu, bài viết về lý thuyết tiếp nhận văn học trước và sau năm 1986 mà người viết thu thập được (kể cả trong và ngoài nước)
- Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp hệ thống kết hợp với phương pháp lịch sử: người viết đã sưu tầm, sau đó hệ thống tất cả các công trình, bài viết nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam trước và sau năm 1986 Đây là nguồn
tư liệu quan trọng, là cơ sở để người viết tiến hành tìm hiểu tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ năm 1986 trở đi Với phương pháp này, người viết cũng muốn đặt lý thuyết tiếp nhận trong tiến trình phát triển của lý luận văn học Việt Nam với tất cả những bước đi, đổi mới và phát triển của nó
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng những phương pháp này, người viết đi từ những nội dung cụ thể trong các tư liệu mà mình thu thập được, để khái quát những quan niệm và mục đích mà các tác giả muốn hướng đến trong những tư liệu đó
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này giúp người viết có thể so sánh nguồn tư liệu của các tác giả trong và ngoài nước với nhau khi bàn luận về
lý thuyết tiếp nhận văn học, từ đó, đánh giá những ưu nhược điểm của từng tư liệu
5 Giới hạn của đề tài
Mục tiêu chính của đề tài là tìm hiểu tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ sau năm 1986 cho đến hiện nay Để phục vụ cho mục tiêu này,
đề tài sẽ khảo sát những công trình được công bố từ năm 1986 trở lại đây, có nghĩa là
sẽ không đặt trọng tâm vào những công trình được công bố trước đó Bên cạnh đó, đề tài sẽ tìm hiểu tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận văn học trên diện rộng, bao gồm những công trình, bài viết từ nhiều nguồn khác nhau như giáo trình, luận án, bài viết trên các tạp chí học thuật, trên các website, v.v Ngoài ra, do đề tài thuộc một lĩnh vực luôn biến động không ngừng trong đời sống văn học, khi người thực hiện đề
Trang 12tài vừa kết thúc công việc tìm kiếm và khảo sát của mình thì ở ngoài kia, đời sống văn học vẫn tiếp tục xuất hiện những công trình, bài viết mới, cho nên, người thực hiện cũng sẽ giới hạn phạm vi của đề tài cho đến hết tháng 05 năm 2012
6 Đóng góp mới của đề tài
Với tư cách là nghiên cứu khoa học của một sinh viên, đề tài sẽ đi sâu tìm hiểu, khái quát và đưa ra những nhận định về tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam từ sau năm 1986 Kết quả của công trình sẽ đóng góp thêm một cái nhìn trên diện rộng toàn bộ những nỗ lực và thành quả của giới nghiên cứu lý luận Việt Nam trong việc giới thiệu và tìm hiểu một lý thuyết văn học đáng chú ý ở phương Tây thế kỷ XX
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
- Nêu lên những ưu nhược điểm trong quá trình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam, từ đó rút kinh nghiệm để có thể thành công hơn
- Chỉ ra những khoảng trống trong nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận để có thể kịp thời bổ sung
- Bổ sung bức tranh nghiên cứu lý luận văn học ở Việt Nam
8 Kết cấu của đề tài
-Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài sẽ gồm những phần chính như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản xoay quanh lý thuyết tiếp nhận Trong
chương này, người viết sẽ trình bày những khái niệm cơ bản có liên quan đến
đề tài là tác giả, tác phẩm, người đọc và tiếp nhận văn học Bên cạnh đó, đi vào tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự du nhập và phát triển của lý thuyết tiếp nhận
ở Việt Nam, người viến cũng chỉ ra bốn tiền đề quan trọng là người đọc lý luận văn học truyền thống, tình hình nghiên cứu về vấn đề người đọc và tiếp nhận văn học trước 1986, vị trí của lý thuyết tiếp nhận trong lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX và nhu cầu đổi mới của lý luận phê bình văn học Việt Nam
Chương 2: Những công trình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ sau 1986 Trong chương này, người viết sẽ tìm hiểu những tiền
đề dẫn đến việc du nhập lý thuyết tiếp nhận văn học vào Việt Nam cũng như
Trang 13chỉ ra những tác giả cùng những công trình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận văn học quan trọng ở Việt Nam Phần quan trọng nhất của chương này là điểm qua những vấn đề nổi bật mà các nhà nghiên cứu quan tâm khi tìm hiểu lý thuyết tiếp nhận là: mối quan hệ giữa nhà văn, tác phẩm và người đọc; mỹ học tiếp nhận; phê bình văn học – hình thức tiếp nhận đặc biệt
Chương 3: Nhận định về tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận văn học
ở Việt Nam từ sau 1986 Trong chương này, dựa vào những gì tổng kết được
từ chương 2, người viết sẽ rút ra những đánh giá về việc nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam trên các phương diện như: về tác giả; về hướng nghiên cứu và giải quyết vấn đề; về vấn đề áp dụng lý thuyết tiếp nhận vào thực tiễn đời sống văn học Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN XOAY QUANH
LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN
1 Tiếp nhận văn học và các khái niệm cơ bản
Trước khi đi vào nội dung quan trọng của đề tài, thiết nghĩ, chúng ta cần tìm hiểu một vài khái niệm mang tính chất nền tảng như tác giả, tác phẩm, người đọc và tiếp nhận văn học Đây là bốn khái niệm công cụ để từ đó người viết tiến hành nghiên cứu của mình về lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam Trong chương này, người viết cũng dành thời gian giới thiệu khái quát về vai trò của lý thuyết tiếp nhận trong đời sống lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, và tình hình nghiên cứu vấn đề tiếp nhận văn học ở Việt Nam trước năm 1986
1.1 Tác giả
“Tác giả văn học” (tiếng Anh: author; tiếng Pháp: auteur) không phải là một khái niệm xa lạ đối với chúng ta, thậm chí có nhiều người còn cho rằng đây là một khái niệm đơn giản, không cần định nghĩa dài dòng, phức tạp Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, người viết vẫn muốn tìm hiểu kỹ lưỡng và đề xuất một quan niệm riêng của mình để sử dụng thống nhất trong toàn bộ công trình Trước khi rút ra một cách định nghĩa của riêng mình, người viết cũng xin giới thiệu đôi nét về những cách quan niệm
khái niệm “tác giả” khác nhau
Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ
biên), NXB Giáo dục, 2010) định nghĩa tác giả văn học là “là những người làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, tác phẩm văn học Về thực chất, tác giả văn học
là người làm ra cái mới, người sáng tạo ra các giá trị văn học mới Sự bắt chước, mô phỏng, theo đuôi thời thượng hoặc sáng tác không có bản sắc, không làm nên tác giả văn học đích thực” [I;23; 289] Bên cạnh đó, cuốn từ điển này còn nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau xung quanh khái niệm “tác giả văn học” như sau: “Xét về mặt xã hội, tác giả văn học là người có ý kiến riêng về đời sống và thời cuộc Đó là người phát biểu một tư tưởng mới, quan niệm mới, một cách hiểu mới về các hiện tượng đời sống, bày tỏ một lập trường xã hội và công dân nhất định Xét về đặc trưng, tác giả văn học là người xây dựng thành công các hình tượng nghệ thuật độc đáo, sống động,
có khả năng tồn tại được trong sự cảm thụ thích thú của người đọc Về mặt nghề nghiệp, tác giả văn học là người xây dựng được một ngôn ngữ nghệ thuật mới, có
Trang 15phong cách, giọng điệu riêng, có bộ mặt riêng trong thể loại, có hệ thống hình ảnh biểu tượng đặc trưng riêng” [I;23; 289] Như vậy, ta có thể thấy, để định nghĩa khái
niệm “tác giả văn học”, Từ điển thuật ngữ văn học chủ yếu tập trung vào tính riêng
biệt, độc đáo và mới mẻ trong công việc sáng tác của một tác giả Cả về mặt xã hội, đặc trưng và nghề nghiệp, tác giả văn học đều là những con người thành công trong việc bày tỏ thế giới quan và nhân sinh quan độc lập của mình qua sáng tác cũng như trong hình thức nghệ thuật độc đáo, riêng biệt Ngoài ra, trong định nghĩa của mình, cuốn từ điển này còn chú ý nhấn mạnh sự khác nhau giữa khái niệm “nhà văn” và khái niệm “tác giả văn học” Theo đó, “tác giả văn học” là khái niệm rộng hơn, nó có thể dùng chỉ quần chúng nhân dân, chủ thể sáng tạo ra văn học dân gian Trong khi đó, khái niệm “nhà văn” dùng để chỉ những người sáng tác chuyên nghiệp
Khác với cuốn từ điển trên, Từ điển văn học (bộ mới) do Đỗ Đức Hiểu,
Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên (NXB Thế giới, 2004) lại định nghĩa khái niệm tác giả như là “người sản xuất các sản phẩm của sáng tạo trí tuệ (khoa học, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật); tính đặc thù của dạng lao động sáng tạo này là cơ sở cho việc đề xuất các quy phạm pháp luật về quyền tác giả Khái niệm tác giả văn học là sự giới hạn khái niệm tác giả trong lĩnh vực văn học, tức là người làm
ra tác phẩm nghệ thuật ngôn từ: bài thơ, bài báo, quyển sách, vở kịch…; tên tác giả (tên thật hoặc bút danh) được nêu cùng tên tác phẩm” [I;29; 1582] Định nghĩa này lại nhấn mạnh chủ quyền và tính sở hữu của cá nhân người sáng tác đối với tác phẩm –
đứa con tinh thần – của mình Tuy nhiên, bên cạnh khía cạnh xã hội học – pháp lý, Từ điển văn học còn chú ý phân tích phương diện thẩm mỹ của khái niệm “tác giả văn
học” trong nghiên cứu văn học Xét theo phương diện này, tác giả văn học là “người sáng tạo ra các giá trị văn học mới; bằng cách đó và bằng bản sắc sáng tạo độc đáo của mình, tác giả văn học là một đơn vị, một bộ phận hợp thành quá trình văn học, một “gương mặt” không thể thay thế, tạo nên “diện mạo” chung một thời kỳ hoặc thời đại văn học” [I;29; 1582] Như vậy, có thể thấy, theo cách hiểu này, tác giả văn học là người sáng tác và có quyền làm chủ tác phẩm của mình, là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn học với tư cách là một nhân tố làm nên các giá trị thẩm mỹ văn học mới
Vừa rồi chúng ta đã tham khảo hai định nghĩa từ hai cuốn từ điển công cụ đáng tin cậy ở Việt Nam, tiếp theo, người viết cũng xin giới thiệu một cách định nghĩa khái
niệm “tác giả văn học” trong một cuốn từ điển ở nước ngoài Trong A glossary of
Trang 16literary terms (seventh edition) (M.H Abrams, Harcourt college publishers), tác giả
văn học được xác định gắn liền với quyền tác giả, trong đó, “tác giả là những cá nhân
sử dụng năng lực của trí tuệ và trí tưởng tượng của mình, dựa vào kinh nghiệm sống
để sáng tạo một tác phẩm văn học đặc sắc của riêng họ Các tác phẩm này, dù là bản thảo viết tay hoặc đánh máy, vẫn chỉ duy nhất một văn bản được thừa nhận là của tác giả - người đã sáng tạo ra nó, ngay cả khi họ nhượng quyền xuất bản và lợi nhuận từ các bản in của tác phẩm cho người khác Và nếu như tác phẩm văn học đó trở nên vĩ đại thì tác giả, người đã sáng tác ra nó sẽ được dành cho một địa vị văn hóa xứng đáng
và đạt được danh tiếng lâu dài” [II;1; 14] Trong khi giải thích khái niệm “tác giả” (tiếng Anh: author), cuốn sách này cũng đề cập đến việc thay đổi quan niệm về tác giả trong lý luận văn học phương Tây (qua những ý kiến của Roland Barthes và Michel Foucault, tuy nhiên, người viết xin bàn về vấn đề này trong phần tiếp theo của đề tài
Dù vậy, ta cũng có thể thấy, theo cách hiểu chung nhất, tác giả văn học là người có quyền sở hữu tác phẩm của mình, là người sáng tạo ra một tác phẩm bằng kinh nghiệm và năng lực cá nhân và hưởng thụ mọi vinh dự mà tác phẩm đó đem lại nếu nó thành công
Vừa rồi người viết đã điểm qua ba cách định nghĩa khác nhau từ hai cuốn từ điển trong nước và một cuốn tra cứu thuật ngữ văn học ở nước ngoài, ngoài ra, thảng hoặc, trong các giáo trình lý luận văn học, ta cũng bắt gặp những nhận định khác nhau
về tác giả văn học Ví dụ như trong giáo trình Lí luận văn học tập 1 (Văn học, nhà
văn, bạn đọc) do Phương Lựu chủ biên, tác giả văn học (trong giáo trình gọi là “nhà
văn”) được nhấn mạnh là “chủ thể sáng tác văn học” Qua một số cách hiểu như trên, người viết rút ra một số điều như sau: Thứ nhất, trừ cách hiểu nôm na và đơn giản, xem tác giả văn học là người đã tạo ra tác phẩm văn học, phần lớn các định nghĩa đều nhấn mạnh vào quyền sở hữu của tác giả đối với tác phẩm cũng như tính độc đáo, mới
mẻ, tính riêng biệt trong sáng tác của một tác giả Thứ hai, trong khi định nghĩa “tác giả văn học”, vẫn còn có sự không thống nhất, có nơi gọi là “tác giả”, có nơi gọi là
“tác giả văn học”, nơi khác lại gọi là “nhà văn” Từ hai điều trên, để phục vụ cho nghiên cứu của mình về lý thuyết tiếp nhận, trước tiên, người viết xin chọn thuật ngữ
“tác giả” để sử dụng thống nhất trong toàn bộ công trình Theo người viết, đây là thuật ngữ có tầm bao quát rộng lớn, bao hàm trong nó nhiều khái niệm liên quan như nhà thơ, nhà văn, tác giả dân gian, nhóm bút, v.v… Và có thể thấy, trong quan điểm của các nhà nghiên cứu, khái niệm này có thể hiểu như sau:
Trang 17Tác giả trước tiên là người sáng tác ra tác phẩm văn học và có quyền sở hữu đối với thành quả lao động nghệ thuật của mình Để sáng tác, tác giả đã vận dụng toàn bộ kinh nghiệm sống cũng như tài năng sáng tác nghệ thuật của mình Tác phẩm văn học là kết quả của hoạt động sáng tác của tác giả, nó phải đáp ứng nhu cầu về tính độc đáo, mới mẻ, và riêng biệt; nghĩa là nó phải mang một giá trị thẩm
mỹ cao Tác phẩm văn học đáp ứng các yêu cầu trên đem lại vinh dự cho tác giả như là một trong những nhân tố góp phần làm nên bộ mặt của nền văn hóa và giá trị thẩm mỹ cho văn học
1.2 Tác phẩm
Cũng như tác giả văn học, “tác phẩm” (tiếng Anh: work; tiếng Pháp: oeuvre) là
một khái niệm rất quen thuộc với chúng ta Tuy nhiên, trong khi trình bày quan niệm
về khái niệm này, các nhà nghiên cứu cũng chưa hẳn đã thống nhất với nhau
Trong Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi (chủ biên), NXB Giáo dục, 2010), tác phẩm được định nghĩa là “công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc tập thể sáng tác nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới hình thức truyền miệng hay hình thức văn bản nghệ thuật được ghi giữ qua văn tự, có thể được viết bằng văn vần hay văn xuôi” [I;23; 290] Bên cạnh đó, trong định nghĩa này, người biên soạn còn chú ý đến tính chỉnh thể của một tác phẩm văn học: “Mỗi tác phẩm văn học là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều yếu tố như chủ đề, tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, hình tượng…, còn có thể kể thêm các yếu tố: nhân vật, cốt truyện,… đối với các tác phẩm
tự sự và kịch Ở những tác phẩm văn học có giá trị, sự kết hợp hài hòa và tác động qua lại giữa các yếu tố ấy khiến tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ thuật mang tính thống nhất hữu cơ, biện chứng giữa nội dung thẩm mỹ và hình thức nghệ thuật” [I;23;
290] Như vậy, định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học chú ý đến tính hình tượng,
tính chỉnh thể của tác phẩm văn học với tư cách là một sáng tác nghệ thuật ngôn từ
Theo Từ điển văn học (bộ mới), tác phẩm là: “Công trình nghệ thuật ngôn từ;
kết quả hoạt động sáng tác (lao động nghệ thuật) của cá nhân nhà văn, hoặc kết quả nỗ lực sáng tác của tập thể; đơn vị độc lập cơ bản của văn học Tác phẩm có thể tồn tại bằng hình thức ngôn bản truyền miệng hoặc hình thức văn bản nghệ thuật (được ghi giữ bằng văn tự); có thể được tạo thành bằng văn vần hoặc bằng văn xuôi; và bao giờ
Trang 18cũng thuộc về một loại văn học nhất định (tự sự, trữ tình, kịch), một thể tài văn học nhất định Độ dài ngôn bản hoặc văn bản tác phẩm có thể từ một câu (tục ngữ, ca dao, cách ngôn, đề từ,…) đến hàng ngàn hàng vạn câu (sử thi, tiểu thuyết nhiều tập…) Mỗi tác phẩm là một hệ thống phức tạp gồm hàng loạt yếu tố thuộc những bình diện khác nhau (đề tài, chủ đề, tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, hình tượng, nhân vật, cốt truyện…), ở những tác phẩm có giá trị, sự kết hợp và tác động lẫn nhau giữa các yếu
tố này khiến tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ thuật, mang tính thống nhất hữu
cơ giữa nội dung thẩm mỹ và hình thức nghệ thuật Tác phẩm văn học là phát ngôn phức hợp của người sáng tác ra nó; là sự phản ánh, khúc xạ, vang hưởng, dự cảm… của đời sống hiện thực; là đối tượng tích cực của sự tiếp nhận (cảm thụ) văn học”
[I;29; 1582] Định nghĩa này cũng tương đồng với định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học, nghĩa là nó cũng chú ý đến độ dài, thể loại, phương thức tồn tại cũng
như tính chỉnh thể và tính hình tượng của một tác phẩm Điểm khác biệt ở đây là trong định nghĩa này, người biên soạn còn chú ý nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa tác phẩm với tác giả, đời sống hiện thực và người đọc
Tác phẩm văn học cũng là một trong những đối tượng được các nhà nghiên cứu quan tâm Đây là vấn đề cơ bản của lý luận văn học và luôn được đưa vào chương trình giảng dạy cho sinh viên đại học chuyên ngành văn học Trong các bộ giáo trình
lý luận văn học, không thể không nhắc đến khái niệm này Giáo trình Lý luận văn học
do Hà Minh Đức chủ biên (NXB Giáo dục, 2008) định nghĩa tác phẩm là “công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc một tập thể sáng tạo Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới hình thức truyền miệng hay hình thức văn bản nghệ thuật được ghi giữ qua văn tự, có thể được viết bằng văn vần hay văn xuôi Đó là một thực thể hoàn chỉnh, thống nhất của các yếu tố nội dung và hình thức, vừa có khả năng phản ánh hiện thực cuộc sống vừa có thể biểu hiện thế giới tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của người viết; nó được sáng tạo theo quy luật thẩm mỹ và ít nhiều đều có ý nghĩa xã hội
nhất định” [I;17; 142] Giáo trình Lí luận văn học tập 2 (Tác phẩm và thể loại văn
học) do Trần Đình Sử chủ biên (NXB Đại học Sư phạm, 2010) lại khẳng định “đó là
sản phẩm sáng tạo vừa tinh thần, vừa vật chất, vừa là sáng tác của nghệ sĩ, nhưng đồng thời vừa có sự đồng sáng tạo của người hưởng thụ, tiếp nhận”
Qua một số định nghĩa mà người viết tham khảo được như trên, có thể thấy trong giới nghiên cứu tồn tại nhiều cách hiểu khái niệm “tác phẩm” khá thống nhất với nhau Ở đây, người viết cũng chưa đề cập đến cách hiểu tác phẩm theo quan điểm của
Trang 19lý thuyết tiếp nhận hay mỹ học tiếp nhận Xin dành nội dung này trong những phần sau của đề tài Để phục vụ cho nghiên cứu của mình, đặc biệt là để nhấn mạnh tác phẩm như là một khái niệm quan trọng trong lý thuyết tiếp nhận, người viết xin khái quát cách hiểu khái niệm này như sau:
Tác phẩm văn học là kết quả của quá trình sáng tạo nghệ thuật ngôn từ của tác giả (có thể là cá nhân hoặc tập thể), có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau (bằng văn bản hoặc truyền miệng) và có độ dài không giới hạn Tác phẩm là cách thể hiện bằng hình tượng thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả, đồng thời phản ánh hiện thực đời sống qua cái nhìn chủ quan của tác giả Tác phẩm văn học là kết quả từ quá trình sáng tạo của tác giả cộng với quá trình tiếp nhận của người đọc
1.3 Người đọc
Khi tìm hiểu về khái niệm “người đọc” (tiếng Anh: reader; tiếng Pháp: lecteur) trong các tài liệu về lý luận văn học ở Việt Nam và cả ở nước ngoài, người viết nhận thấy trong hầu hết các tài liệu này, khái niệm này rất ít được nhắc đến Sau khi khảo
sát, người viết chỉ tìm được một định nghĩa về người đọc trong Từ điển thuật ngữ văn học như sau: “Chỉ cá nhân thông qua hành vi đọc mà tham gia vào đời sống xã
hội Trong lý luận tiếp nhận, khái niệm người đọc có các nội dung sau: 1) Người đọc thực tế, tức con người cụ thể đang tiến hành việc đọc Người đọc thực tế bao gồm người đọc thông thường và người đọc chuyên nghiệp (nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu lịch sử văn học); 2) Người đọc trong quan niệm, là quan niệm về người đọc được rút ra từ người đọc thực tế Người đọc quan niệm được chia làm hai loại Người đọc với tư cách là đối tượng của ý hướng và người đọc hàm ẩn Loại thứ nhất tồn tại trong quan niệm của tác giả khi tiến hành sáng tác, là người đọc tất yếu mà người sáng tác hướng tới để hiện thực hóa tác phẩm sao cho họ hiểu được, còn người đọc hàm ẩn là yếu tố được nhà văn thiết kế trong tác phẩm như một kẻ đóng vai người đọc” [I;23; 220] Ta có thể thấy định nghĩa nêu trên chỉ khái quát ngắn gọn khái niệm
“người đọc” như là một cá nhân có “hành vi đọc” Phần còn lại của định nghĩa chủ yếu đi vào phân loại người đọc theo quan điểm của lý thuyết tiếp nhận Người viết xin dành phần bàn luận về cách phân loại này trong các nội dung tiếp theo của đề tài Ở đây, người viết chỉ xin nhấn mạnh việc thiếu quan tâm đến khái niệm “người đọc” cùng những thao tác định nghĩa, xác định nội hàm của nó so với hai khái niệm “tác
Trang 20giả” và “tác phẩm” Thông qua việc định nghĩa một thuật ngữ như trên, ta cũng có thể thấy được sự thiên lệch trong nghiên cứu của lý luận văn học trước đây Đây chính là một trong những lý do quan trọng dẫn đến sự ra đời của mỹ học tiếp nhận và khuynh hướng phê bình phản hồi - độc giả1 (reader-response criticism) – vấn đề trung tâm mà
đề tài hướng tới
Ngoài ra, người viết nhận thấy, để gọi tên đối tượng là những người tiếp nhận tác phẩm văn học cũng tồn tại nhiều cách khác nhau Có người gọi chung là “công chúng”, trong thời kỳ ảnh hưởng của văn học cách mạng còn mạnh mẽ, có người gọi
là “quần chúng” Có người lại gọi là “bạn đọc” Tuy nhiên, theo ý kiến chủ quan của người viết, “công chúng” hay “quần chúng” là một cách gọi còn chung chung và khái quát, trong khi đó “bạn đọc” lại có khuynh hướng thân mật, suồng sã hơn Theo người viết, “người đọc” là cách gọi đơn giản, nhằm nhấn mạnh tính cá nhân trong khi tiếp xúc với tác phẩm văn học Cách gọi này cũng khá trung tính Để phục vụ cho công trình của mình, người viết cũng xin định nghĩa khái niệm “người đọc” một cách ngắn gọn như sau:
Người đọc là cá nhân thông qua hành vi đọc để tiếp cận tác phẩm văn học và
từ đó mà tiếp cận quan điểm, tư tưởng, tình cảm của tác giả đã được gửi gắm trong tác phẩm đó Người đọc là nhân tố quan trọng thứ ba trong đời sống hình thành, phát triển và tồn tại của tác phẩm văn học với tư cách là một sáng tác nghệ thuật ngôn từ Đây là đích đến trong hoạt động sáng tạo của tác giả cũng như là nơi kiểm định chất lượng nghệ thuật của tác phẩm văn học Chỉ qua quá trình tiếp nhận của người đọc, văn bản mới trở thành một tác phẩm văn học đích thực
1.4 Tiếp nhận văn học
“Tiếp nhận văn học” là khái niệm cuối cùng mà người viết quan tâm trong công trình nghiên cứu của mình Cũng như khái niệm “người đọc”, “tiếp nhận văn học” là thuật ngữ chỉ thật sự được chú ý từ thế kỷ XX với sự phát triển của lý thuyết tiếp nhận, cũng như sự ra đời của mỹ học tiếp nhận và phê bình người đọc phản ứng
Sự thay đổi trong vai trò của thuật ngữ “tiếp nhận văn học” đánh dấu một bước thay đổi hệ hình quan trọng trong quá trình phát triển của lý luận phê bình văn học thế giới
Để hiểu khái niệm này, ta có thể tham khảo một số định nghĩa như sau:
1
Có một số người dịch là “phương pháp phê bình dựa trên sự hồi ứng của người đọc” hoặc “Phê bình theo phản ứng của độc giả”
Trang 21Trong Từ điển thuật ngữ văn học, tiếp nhận văn học được định nghĩa là:
“Hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ
sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể… Qua tiếp nhận văn học, nhờ được tri giác, liên tưởng, cắt nghĩa, tưởng tượng của người đọc mà tác phẩm trở nên đầy đặn, sống động, hoàn chỉnh; ngược lại, người đọc nhờ tác phẩm mà được mở rộng vốn hiểu biết, kinh nghiệm về đời sống, tư tưởng và tình cảm cũng như năng lực thụ cảm, tư duy” [I;23; 235] Qua định nghĩa này, ta có thể thấy tiếp nhận văn học trước hết là hoạt động của người đọc trong quá trình tiếp xúc với tác phẩm Tiếp nhận ở đây đóng vai trò là quá trình làm đầy nghĩa cho tác phẩm đồng thời nâng
cao vốn sống cho người đọc Định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học còn nhấn
mạnh tiếp nhận văn học là “một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm”, “một hoạt động sáng tạo” “có quy luật” “tạo thành đời sống lịch sử của tác phẩm văn học” Như vậy, định nghĩa này không chỉ dừng lại ở việc xác định nội hàm của khái niệm “tiếp nhận văn học” mà còn chỉ ra vai trò của nó đối với tác phẩm, với người đọc nói riêng và đời sống văn học nói chung
Khác với Từ điển thuật ngữ văn học, trong Từ điển văn học (bộ mới), khái
niệm “tiếp nhận văn học” lại được thay thế bằng khái niệm “tiếp nhận thẩm mỹ” nhằm
để chỉ hoạt động tiếp nhận của công chúng đối với toàn bộ những tác phẩm nghệ thuật nói chung Trong đó, “tiếp nhận thẩm mỹ” được xác định như là “một dạng thức hoạt động thẩm mỹ, được thực hiện ở việc tiếp nhận (thưởng thức, cảm thụ) tác phẩm nghệ thuật với tư cách một giá trị thẩm mỹ, sự tiếp nhận này luôn luôn đi kèm với sự nảy sinh tình cảm (trải nghiệm) thẩm mỹ Tiếp nhận thẩm mỹ không phải là sự tái hiện giản đơn tác phẩm nghệ thuật trong ý thức, mà là một quá trình phức tạp: quá trình cùng tham dự và cùng sáng tạo của chủ thể tiếp nhận Khác với hoạt động thẩm mỹ của nghệ sĩ – người sáng tạo tác phẩm nghệ thuật, tiếp nhận thẩm mỹ không mang tính công nghệ và nó vận hành theo hướng ngược: từ việc tiếp nhận kết quả (tác phẩm nghệ thuật nói chung) đi đến tiếp nhận các ý tưởng chứa đựng trong đó” [I;29; 1715]
Ở đây, có thể thấy định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh phương thức tiếp nhận một tác phẩm nghệ thuật như là “một quá trình phức tạp” mà trong đó người tiếp nhận đóng vai trò đồng sáng tạo
Trang 22Trong giáo trình Lí luận văn học tập 1 (Văn học, nhà văn, bạn đọc), khi bàn
đến tiếp nhận văn học, người biên soạn sách đã cho rằng đây là một quá trình “diễn ra
từ một cơ chế nhất định, kinh qua hệ thống tín hiệu thứ hai trong đại não, bạn đọc đã chuyển hóa được những ký hiệu của văn bản tác phẩm thành những ý tưởng, từ đó thể nghiệm được những tình cảm tư tưởng trong tác phẩm, có tác dụng gây xúc động và nâng cao tâm hồn của chính mình” [I;40; 349]
Từ ba định nghĩa tham khảo được như trên, người viết xin rút ra một cách hiểu chung nhất của mình Thứ nhất, về thuật ngữ, người sẽ sử dụng “tiếp nhận văn học” trong toàn bộ công trình của mình nhằm nhấn mạnh đối tượng của hoạt động tiếp nhận
là văn học, khác với thuật ngữ “tiếp nhận thẩm mỹ” hướng đến một đối tượng rộng
lớn hơn Thứ hai, thuật ngữ “tiếp nhận văn học” có thể hiểu như là: quá trình người đọc vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm cá nhân của mình vào việc cắt nghĩa và
lý giải tác phẩm trong khi tiếp xúc với tác phẩm đó Hệ thống hình tượng cùng những tư tưởng, tình cảm được tác giả gửi gắm vào trong tác phẩm sẽ được người đọc lý giải theo góc nhìn chủ quan của mình Sản phẩm của tiếp nhận văn học có thể giống hoặc không giống với ý đồ ban đầu của tác giả Tuy nhiên, tiếp nhận văn học đóng vai trò hoàn chỉnh ý nghĩa của tác phẩm và nâng cao phẩm chất tâm hồn cũng như tư tưởng của người đọc
Trong phần trên người viết đã trình bày một số quan niệm về bốn khái niệm quan trọng là tác giả, tác phẩm, người đọc và tiếp nhận văn học, đồng thời giới thiệu cách hiểu của mình Đây là những tiền đề quan trọng để trong các chương tiếp theo, người viết đi vào tìm hiểu, rút ra nhận định về tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận
ở Việt Nam từ sau năm 1986
2 Những tiền đề cho việc du nhập lý thuyết tiếp nhận phương Tây vào Việt Nam
Không phải ngẫu nhiên mà lý thuyết tiếp nhận trở thành một nội dung quan trọng trong các tài liệu lý luận văn học ở Việt Nam từ sau 1986 Vấn đề này xuất phát
từ nhiều nguyên nhân khác nhau: từ trong quá trình phát triển của tư tưởng lý luận văn học Việt Nam, từ đời sống lý luận văn học trên thế giới và từ chính thực tế tình hình sinh hoạt văn học ở Việt Nam sau đổi mới Lý thuyết tiếp nhận xuất hiện và phát triển
ở Việt Nam là hệ quả từ những quan niệm sẵn có trong lý luận văn học truyền thống
về người đọc, từ sự phát triển của khuynh hướng nghiên cứu này trên thế giới và từ nhu cầu đổi mới được đặt ra một cách bức thiết ở Việt Nam cuối thế kỷ XX
Trang 232.1 Người đọc trong lý luận văn học truyền thống
Tiếp nhận văn học không phải là vấn đề quá mới mẻ ở Việt Nam Mối quan hệ giữa nhà văn, tác phẩm và bạn đọc đã xuất hiện từ rất sớm trong nguồn mạch tư tưởng
lý luận văn học ở nước ta
Ngay từ giai đoạn sơ kỳ trung đại, trong quan niệm của các nhà nho thời bấy giờ, thơ ca nói riêng và văn học nói chung đóng một vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng, tình cảm đồng thời có khả năng giáo hóa con người rất cao:
“Đạo đức rộng ra khuôn mẫu
Lễ nghĩa vững chắc đá vàng Khí tiết nghiêm túc tự băng sương Văn vẻ sáng láng như nhật nguyệt Soi cho kẻ mờ được thấy sáng Mài cho người ngu được thấy khôn”
Thiên thu kim giám phú (Phú Gương vàng ngàn năm) [I;20; 45]
Ta có thể thấy, ở đây, tác dụng và ảnh hưởng của tác phẩm văn học đối với người đọc đã bắt đầu được các nhà nho chú ý trong khi bày tỏ quan niệm về văn học Sang giai đoạn trung kỳ trung đại, quan niệm này được các nhà nho phát triển lên một bước mới Lúc này, thơ là để nói chí, văn chương phải có nội dung đạo đức, nghĩa là phải “quan thế sự”, “giáo hóa”, “khuyến thiện trừng ác”, để “di dưỡng tính tình” Là một trong những gương mặt tiêu biểu cho tư tưởng giai đoạn này, Nguyễn Trãi thường bộc lộ quan điểm của mình về sức mạnh giáo hóa, thay đổi cục diện đất nước qua chính những bài thơ của ông Với Nguyễn Trãi, văn chương là một cách thức thi hành đạo thánh, là một phương pháp để rèn luyện bản thân, đồng thời để vạch rõ con đường
tu thân của một nho sĩ Ông không những trình bày chí hướng của bản thân mà còn vạch ra kim chỉ nam cho một thế hệ nho sĩ thời bấy giờ:
“Văn chương chép lấy đôi câu thánh
Sự nghiệp tua gìn phải đạo trung Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
Có nhân, có trí, có anh hùng”
Bảo kính cảnh giới, bài số 5
Không chỉ thể hiện qua sáng tác của một số tác giả, hình ảnh người đọc cũng như vai trò và vị trí của nhân tố này trong đời sống văn học cũng bắt đầu được quan
Trang 24tâm từ trong những quan niệm, những lời tựa, lời bạt của các nhà Nho trong thời kỳ trung đại Dù tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nhìn chung có thể thấy, trong quan niệm phổ biến của thời kỳ này, người đọc cũng như cách đọc, cách tiếp nhận một tác phẩm văn học được nhìn nhận trong tư thế bị động, có nghĩa là, khi tiếp xúc với một bài thơ, một bài văn, nhiệm vụ của người đọc là cố mà tìm cho được ý nghĩa mà
tác giả muốn nói đến Trong bài tựa Y hải cầu nguyên của mình, Lê Hữu Trác đã dẫn
ra cách đọc sách của người xưa từ kinh nghiệm cá nhân của mình: “Mỗi khi được một câu cách ngôn của các bậc hiền triết đời xưa, tôi ghi ngay tại chỗ, biện giải, phân tích
kỹ càng; thức hay ngủ đều đắm chìm trong suy nghĩ Đối với những câu mà lý lẽ ở ngoài lời thì lấy thần mà suy, để nắm được (nội dung) Lại đem những hiện tượng tương tự ra so sánh (nhằm) tìm hết mọi góc cạnh của vấn đề (Nhờ đó, sự suy nghĩ) càng nảy ra càng tinh tế, như một chiếc vòng không có đầu mối, không biết đâu là chỗ tận cùng” [I;54; 102] Cũng như vậy, Lý Văn Phức cũng cho rằng khi đọc sách, “trước hết tự mình phải để ý lĩnh hội ý tứ của người viết thì khi đọc đến những câu văn mới hiểu hết tâm tư của tác giả” [I;54; 130] Như vậy, qua hai quan niệm nêu trên về cách đọc sách của các nhà Nho trung đại, ta có thể thấy, trong giai đoạn này, người đọc có nhiệm vụ tìm hiểu và nắm bắt cho được ý đồ và tư tưởng, tình cảm của tác giả được thể hiện một cách sâu kín qua tác phẩm Từ đó, cách tiếp nhận văn học của giai đoạn này là đặt người đọc vào vị trí và hoàn cảnh của tác giả để thấu hiểu cho hết những gì được nói đến trong tác phẩm
Sang giai đoạn hậu kỳ trung đại, quan niệm về văn học nói riêng và tư tưởng nói chung của tầng lớp nho sĩ thời kỳ này chia làm hai nhánh quan trọng Một bộ phận các nhà nho chính thống vẫn tin vào sức mạnh giáo hóa của văn học Trong khi đó, bộ phận các nhà nho tài tử lại bắt đầu đề cao nghệ thuật tài tử và con người cá nhân, tách văn chương ra khỏi học thuật Đáng chú ý trong giai đoạn này là hai câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Du:
“Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
(Không biết ba trăm năm lẻ nữa Người đời ai khóc Tố Như chăng?)
Độc Tiểu Thanh ký
Đây có thể xem như là mầm mống của ý thức về người đọc, ý thức về việc tiếp nhận tác phẩm của mình của một tác giả văn học Cũng chính trong giai đoạn này,
Trang 25những rạn nứt trong tư tưởng lý luận văn học trung đại cuối thế kỷ XIX bắt đầu manh nha và chuyển mình sang thời kỳ cận đại Nhìn lại sự phát triển của tư tưởng lý luận văn học trung đại Việt Nam, ta có thể thấy, lúc này, vấn đề tiếp nhận văn học được nhìn nhận theo quan điểm của giai cấp phong kiến thống trị, trong đó, nho sĩ là tầng lớp sáng tác và làm chủ dòng văn học chính thống Đối với họ, văn chương lúc này có tác dụng chính là giáo hóa, tức là người tiếp nhận văn học (chủ yếu là nhân dân) ở thế
bị động, là đối tượng cần được giáo dục Người đọc ở vị trí bị động, thứ yếu trong mối quan hệ nhà văn – tác phẩm – bạn đọc Ở đây, vấn đề tiếp nhận vẫn còn nằm rải rác trong quan niệm của những nhà nho (qua các sáng tác của họ) chứ chưa phát triển thành một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh
Cách quan niệm về người đọc và mối quan hệ nhà văn – tác phẩm – người đọc như vậy vẫn tiếp tục tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của tư tưởng lý luận văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới những năm 70 Có khác chăng là quan niệm về công chúng, về độc giả văn học có phần thay đổi qua từng thời kỳ
Trong những năm đầu thế kỷ XX, những thay đổi trên nhiều phương diện trong đời sống kinh tế xã hội, trong đó có sự ra đời của báo chí và sự phát triển của công nghệ in ấn xuất bản, dẫn tới sự xuất hiện của một nhân tố mới trong đời sống văn học: công chúng văn học, đặc biệt là lớp công chúng ra đời từ đời sống đô thị Sự phát triển của tầng lớp công chúng này khiến cho các nhà văn, các tác giả nghiên cứu phê bình đặt ra vấn đề bạn đọc – công chúng văn học và hoạt động tiếp nhận văn học Hai nội dung nổi bật trong những quan niệm về công chúng văn học trong giai đoạn này là: thứ nhất, sự quan tâm đến bạn đọc nói chung như là một lực lượng xã hội tác động trở lại đời sống văn học; thứ hai, xuất hiện nhiều kiểu độc giả khác nhau và sự quan tâm đến nhu cầu, thị hiếu của từng loại độc giả Đi sâu vào hoạt động tiếp nhận văn học của bạn đọc, trong giai đoạn này chỉ xuất hiện những ý kiến rải rác tìm hiểu cách đọc tác phẩm của bạn đọc ở hai thể loại cụ thể là thơ và tiểu thuyết chứ chưa đi đến tầm khái quát như lý thuyết tiếp nhận hiện đại Tiêu biểu ở đây có thể kể đến những ý kiến của Xuân thu nhã tập về tiếp nhận thơ và quan niệm của Thạch Lam về tiếp nhận tiểu thuyết Với quan niệm thơ xuất phát từ cái tôi linh thiêng, các tác giả Xuân thu nhã tập quan niệm: “Thi sĩ làm xong bài thơ có thể nói: bản đẹp chưa thành Vì nó còn chờ tác giả thứ hai: người đọc (…) Người đọc phải là “thi nhân” tái tạo cái vũ trụ bài thơ tạo ra” Ở đây có thể thấy sự tiến bộ trong quan niệm về thơ và tiếp nhận thơ của Xuân thu nhã tập Vai trò của người đọc đã được chú ý Người đọc đã được xem là “tác giả
Trang 26thứ hai” đi “tái tạo cái vũ trụ bài thơ tạo ra” Tuy nhiên, khác với lý thuyết tiếp nhận hiện đại, trong quan niệm của nhóm Xuân thu nhã tập vẫn tồn tại quan niệm cho rằng muốn thưởng thức được tác phẩm thơ, trước hết người đọc phải rung động, gặp gỡ và hòa hợp với thi nhân Bài thơ vẫn là một “vũ trụ” chờ đợi người đọc bắt gặp và tìm hiểu cho được những gì mà tác giả trao gởi Bên cạnh đó, trong quan niệm về tiếp nhận văn học giai đoạn này, những ý kiến của Thạch Lam xoay quanh việc tiếp nhận tiểu thuyết cũng rất đáng chú ý Thạch Lam chia độc giả đọc tiểu thuyết ra thành hai loại chính: thứ nhất là “hạng độc giả chỉ cốt xem truyện” và thứ hai là “hạng độc giả thích suy nghĩ, thích tìm trong sách những trạng thái tâm lý giống tâm hồn mình” Không chỉ phân loại người đọc tiểu thuyết, Thạch Lam còn đưa ra những kiến giải khác nhau xoay quanh thị hiếu và cách tiếp nhận tác phẩm của từng loại người đọc cũng như ảnh hưởng của hai loại người đọc này đối việc sáng tác của nhà văn Có thể xem ý kiến của Thạch Lam là những dấu hiệu đầu tiên trong việc tìm hiểu vấn đề người đọc và tiếp nhận văn học cùng những ảnh hưởng của nó đối với tác giả và tác phẩm văn học
Hình ảnh người đọc trong quan niệm lý luận phê bình văn học giai đoạn
1932-1945 có những điểm tiến bộ đáng chú ý so với thời kỳ trung đại Bước sang giai đoạn 1945-1975, hệ thống tư tưởng lý luận phê bình văn học nước ta lại có những thay đổi đáng kể Năm 1945 là một mốc son lịch sử quan trọng của đất nước ta Những sự thay đổi quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội của đất nước đã diễn ra từ mốc thời gian này Có thể thấy, từ năm 1945, trong tư tưởng lý luận văn học Việt Nam đã hình thành một quan niệm mới về công chúng văn học Trong đó, khái niệm “quần chúng nhân dân” xuất hiện và trở thành đối tượng chủ yếu của văn học Quần chúng nhân dân là đối tượng chính không chỉ của sáng tác mà còn của thưởng thức và tiếp nhận văn học Quan niệm của Hồ Chủ tịch về những vấn đề như “Viết cho ai?”, “Viết như thế nào?”
có thể xem như là một trong những quan niệm tiêu biểu về vấn đề sáng tác và tiếp
nhận văn học Bên cạnh đó, Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) của Đảng ra đời đã
thống nhất quan điểm và khuynh hướng sáng tác của cả một giai đoạn lịch sử văn học cho tới những năm 70 Trong đó, quần chúng nhân dân là đối tượng mà nhà văn phải quan sát và miêu tả Nhà văn sáng tác là sáng tác về quần chúng nhân dân, về cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc, và sáng tác là sáng tác cho quần chúng nhân dân, sáng tác để khích lệ và cổ vũ quần chúng nhân dân cố gắng hơn nữa, dũng cảm hơn nữa trong cuộc sống lao động và chiến đấu Đây chính là quan điểm thống nhất của cả nền
Trang 27văn học cách mạng Thêm vào đó, sự phát triển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin cùng chủ nghĩa duy vật lịch sử ở nước ta đã dẫn tới việc hình thành một quan niệm về tiếp nhận văn học, về nghiên cứu và phê bình văn học Khi tiếp xúc với một tác phẩm văn học, người ta quan tâm đến hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, đến cuộc đời và tư tưởng của tác giả, đến phạm vi hiện thực mà tác giả muốn nói đến và lấy đó làm tiêu chuẩn, làm thước đo, làm cơ sở để cắt nghĩa, lý giải và đánh giá tác phẩm đó Cách nghiên cứu và phê bình văn học dựa vào tác giả, dùng tư liệu từ cuộc đời tác giả trở thành phương pháp chính của giai đoạn này Người đọc cùng vai trò của họ trong đời sống văn học không được quan tâm Quần chúng nhân dân vẫn là đối tượng cần được giáo dục và bồi dưỡng tư tưởng, cần được khích lệ và động viên Nghĩa là, người đọc vẫn còn nằm trong thế bị động trong quan niệm của các nhà nghiên cứu văn học
2.2 Tình hình nghiên cứu về vấn đề người đọc ở Việt Nam trước năm 1986
Qua những gì vừa trình bày ở trên, ta có thể thấy, trong lý luận văn học truyền thống, người đọc cũng như vấn đề tiếp nhận văn học được nhìn nhận như những nhân
tố bị động và chưa được quan tâm đúng mức Trọng tâm nghiên cứu của lý luận văn học truyền thống là tác giả và tác phẩm, đây là hai nhân tố quyết định sự phát triển của văn học Quan điểm nghiên cứu này thống nhất ở Việt Nam cho tới những năm 80 của thế kỷ XX, đặc biệt là nghiên cứu văn học dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn tồn tại một dòng tư tưởng lý luận văn học khác so với tư tưởng thống nhất ở trên Đó là quan niệm về văn học nói chung và tiếp nhận văn học nói riêng của các học giả ở miền Nam trước năm 1975 Một trong những công trình quan
trọng có thể kể ra ở đây là Lược khảo văn học 2 của Nguyễn Văn Trung Trong công trình này, Nguyễn Văn Trung đã dành một tập để tìm hiểu về ngôn ngữ văn chương
cùng những vấn đề xoay quanh việc tiếp nhận và phê bình tác phẩm văn học (Ngôn ngữ văn chương và phê bình văn học) Ngay từ đầu chương này, Nguyễn Văn Trung
đã đặt ra những nghi vấn xung quanh phê bình văn học Từ nghi vấn về bản chất của phê bình, Nguyễn Văn Trung đề cập đến “vấn đề thông cảm giữa người với người” Theo ông, đó là “một vấn đề vượt quá lãnh vực phê bình văn học, vì là một vấn đề triết lý tổng quát bao gồm tất cả những hình thức thông cảm mà văn chương chỉ là một trong những hình thức trên Từ đó, ông kết luận “rất hiếm có sự thông cảm hoàn toàn
2
Bộ sách này của Nguyễn Văn Trung bao gồm ba tập, do NXB Nam Sơn ấn hành từ năm 1962 (tập đầu tiên)
cho đến năm 1968 (tập cuối cùng), trong đó, phần Ngôn ngữ văn chương và phê bình văn học nằm trong tập 3
của bộ sách
Trang 28giữa người với người, nhất là trong lãnh vực văn chương” [I;76; 317] Có thể thấy, ngay từ những năm 60, ở miền Nam, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm đến tiếp nhận văn học Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định, Nguyễn Văn Trung chỉ dừng lại ở việc xem phê bình nói riêng và tiếp nhận văn học nói chung là một hình thức cảm thông giữa người với người, hay nói đúng hơn, giữa người đọc và tác giả
Để mở rộng vấn đề, từ hai phía tác giả và tác phẩm, Nguyễn Văn Trung đưa ra một nhận xét quan trọng về bản chất của phê bình văn học: “Những dữ kiện đó cho thấy mục đích duy nhất của phê bình không phải chỉ là tìm hiểu đúng tác giả, “trung thành” với ý nghĩa của tác phẩm, vì ý nghĩa của tác phẩm, không phải chỉ có một mà
có thể là nhiều và một cách vô hạn Trong những ý nghĩa đó, có một ý nghĩa của tác giả, nhưng chính ý nghĩa đó cũng có thể thay đổi, khi tác giả muốn gán cho tác phẩm một nghĩa mới Do đó, phê bình cũng là một sáng tạo, nhất là trong trường hợp đó, càng thấy rõ không cần tìm hiểu tác giả qua tác phẩm, và chỉ cần tìm hiểu những ý nghĩa có thể có từ tác phẩm” [I;76; 319] Điểm tiến bộ đặc biệt của Nguyễn Văn Trung là ngay từ sớm đã nhận thức được tính sáng tạo của phê bình văn học cũng như khả năng sản sinh nghĩa vô tận của tác phẩm và đi kèm với nó là việc phủ nhận tầm quan trọng của việc tìm hiểu tác giả qua tác phẩm Tuy nhiên, có thể thấy, trong mối quan hệ nhà văn – tác phẩm – người đọc, trong quá trình hình thành và tồn tại của tác phẩm, Nguyễn Văn Trung chưa nhận thấy được vai trò của người đọc Người đọc vắng mặt trong quá trình tạo nghĩa của tác phẩm
Một bước tiến đáng ngạc nhiên nữa trong công trình của Nguyễn Văn Trung là ông đã dựa vào tính ký hiệu của ngôn ngữ để nhận thức tác phẩm văn học Những kiến thức nền tảng về ngôn ngữ học cho phép Nguyễn Văn Trung nhìn tác phẩm văn học như là “một hệ thống tín hiệu độc lập và chuyên chở nhiều ý nghĩa tùy theo người đọc lãnh hội và khám phá” [I;76; 329] Khi đó, người đọc đóng vai trò là người nhận
và giải mã hệ thống tín hiệu này mà không hề được tiếp xúc với người trao và mã hóa tín hiệu (ở đây chính là tác giả)
Không chỉ dừng lại ở đó, khi tìm hiểu về ngôn ngữ văn chương, Nguyễn Văn Trung đã nhấn mạnh tính hàm hồ của ngôn ngữ Từ đó, ông đi đến kết luận ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ gợi ý hơn là ngôn ngữ diễn ý Đây chính là luận điểm quan trọng để từ đó ông đi đến khẳng định tính độc lập của tác phẩm văn học Cuối cùng, ông đưa ra một kết luận quan trọng về đời sống của tác phẩm văn học: “Một tác phẩm chỉ sống mãi nếu có khả năng đón nhận những sức sống mới mà những thời đại tiếp
Trang 29sau bồi bổ cho… Cho nên, tác phẩm sống là một công trình luôn luôn còn đang hình thành đối với người đọc và nhà phê bình” [I;76; 357]
Như vậy, qua công trình của Nguyễn Văn Trung, ta có thể thấy ông đã bước đầu quan tâm đến tính độc lập của tác phẩm và vai trò của người đọc trong quá trình tồn tại của một tác phẩm văn học Tuy nhiên, xuất phát từ những lý thuyết về ngôn ngữ, Nguyễn Văn Trung chỉ dừng lại ở việc nhấn mạnh tính độc lập và khả năng tạo nghĩa vô tận của tác phẩm chứ chưa thật sự lưu tâm đến vai trò của người đọc như là một nhân tố xuất hiện ngay trong quá trình hình thành tác phẩm cũng như là yếu tố thay đổi đời sống của tác phẩm
Do những điều kiện khách quan của hoàn cảnh xã hội, quan điểm của Nguyễn Văn Trung trong một thời gian dài không được chú ý Vấn đề tiếp nhận văn học ở Việt Nam nói riêng và phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học nói chung vẫn diễn ra theo khuynh hướng thống nhất của nền văn học cách mạng Cho đến năm 1972, từ một bài viết của Nguyễn Văn Hạnh, vấn đề mối quan hệ giữa nhà văn, tác phẩm và bạn đọc mới được đặt ra một cách ráo riết và gây nhiều tranh cãi
Bài viết Ý kiến của Lê-nin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống của
Nguyễn Văn Hạnh được tạp chí Văn học in trong số 4 năm 1971 Bài viết này nhanh
chóng nhận được nhiều phản hồi với nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh nó Vấn đề
mà tác giả bài báo đặt ra làm không ít nhà nghiên cứu quan tâm và đã quy tụ xung quanh nó một số đông các học giả uy tín như Đỗ Văn Khang, Sơn Tùng, Phùng Văn Tửu,Vũ Anh Tuấn, v.v… Những trao đổi và góp ý xoay quanh bài báo của Nguyễn Văn Hạnh trở thành một cuộc tranh luận văn học sôi nổi và kéo dài cho đến năm 1972 Trong hai năm, vấn đề do Nguyễn Văn Hạnh đặt ra trở thành đề tài được nhiều người
quan tâm trong chuyên mục Trao đổi ý kiến của tạp chí Văn học
Đầu bài viết, Nguyễn Văn Hạnh đi ngay vào quan điểm của Lê-nin về nhận thức luận và phản ánh luận Ông nhấn mạnh “quan điểm thực tiễn cách mạng là quan điểm đầu tiên, quan điểm cơ bản của Lê-nin trong khi xem xét mọi hiện tượng xã hội,
kể cả văn học nghệ thuật” [I;27; 91] Từ đây, Nguyễn Văn Hạnh dựa vào những ý kiến của Lê-nin xoay quanh các sáng tác của Tôn-xtôi để tìm hiểu quan điểm của Lê-nin về mối quan hệ giữa văn nghệ và hiện thực Từ đó, Nguyễn Văn Hạnh nhận thấy, khi đánh giá các tác phẩm, Lê-nin tập trung đề cao những mặt sau: Thứ nhất, Lê-nin đề cao giá trị phản ánh thực tế của văn học Tính chân thực là một điều kiện, là cơ sở của tính nghệ thuật Thứ hai, Lê-nin cũng đề cao tính nhân dân của văn học Nguyễn Văn
Trang 30Hạnh cũng nhận ra rằng “phần lớn công sức, trí tuệ của Lê-nin là tập trung vào việc nghiên cứu tỉ mỉ, chính xác cơ sở xã hội – lịch sử và ý nghĩa khách quan của tác phẩm, tác dụng của nó đối với quần chúng, đối với cách mạng” [I;27; 94] Ông cũng nhận ra một lỗ hổng trong nghiên cứu của Lê-nin: “Trong những ý kiến của mình về văn học, nhất là qua những bài viết về Tôn-xtôi, Lênin ít đi sâu phân tích động cơ tư tưởng của người sáng tác, cũng như quá trình hình thành tác phẩm” [I;27; 94] Từ đó, ông rút ra rằng, cái mà Lê-nin quan tâm là vấn đề “có ích lợi cho ai”
Chính những cơ sở quan trọng mà Nguyễn Văn Hạnh rút ra được sau khi nghiên cứu những công trình nghiên cứu văn học của Lê-nin đã đưa ông đến một kết luận quan trọng: “Giá trị của một tác phẩm thật ra không phải chỉ đóng khung lại trong phạm vi sáng tác, mà còn lan rộng ra đến phạm vi “thưởng thức”, và đứng trên quan điểm cải tạo, quan điểm thực tiễn cách mạng mà xét, chính ở khâu “thưởng thức”, tác phẩm mới có ý nghĩa xã hội thực tế của nó” [I;27; 96] Những nhận định này đã đưa Nguyễn Văn Hạnh đi đến việc đề ra một phương pháp nghiên cứu mới, trong đó mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc, hay nói đúng hơn là khâu “thưởng thức” của người đọc được đề cao và được chú trọng hơn Ông đưa ra những điểm mạnh và đóng góp tích cực của phương pháp này đối với đời sống văn học như sau:
“Quan điểm nghiên cứu, đánh giá tác phẩm này sẽ lưu ý nhà văn đến độc giả, làm cho
họ không thể chỉ băn khoăn về “động cơ” của mình, mà phải hình dung được môi trường sống thực của tác phẩm, ý thức về môi trường đó, ý thức về ý nghĩa khách quan của tác phẩm nhất định phải nằm trong xuất phát điểm của sự sáng tạo Quan điểm này cũng buộc người nghiên cứu trong khi đánh giá tác phẩm không thể chỉ dừng lại ở việc đối chiếu cái được phản ánh và cái phản ánh, ở sự phân tích “cấu trúc bên trong” của tác phẩm, mà phải chú ý đến tác dụng thực tế của tác phẩm, phản ứng của người đọc đối với nó, cơ sở xã hội – lịch sử và tâm lý của sự tiếp thu” [I;27; 96]
Qua những gì vừa tóm gọn như trên, ta có thể thấy, trong bài báo gây nhiều tranh cãi của mình, Nguyễn Văn Hạnh đã khéo léo chọn một điểm tựa vững vàng là những công trình của Lê-nin, vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng xã hội chủ nghĩa, để làm minh chứng cho những nhận định và kết luận của mình Từ những gì Lê-nin viết về Tôn-xtôi, Nguyễn Văn Hạnh đã đề xuất một hướng nghiên cứu mới trong khi tiếp cận tác phẩm Dù chưa đề cập nhiều đến vai trò của người đọc, nhưng có thể thấy, trong bài viết này, ông đã nâng cao vị trí của người đọc trong đời sống văn học Ông đã đề xuất ý kiến cần phải quan tâm đến người đọc cả trong khâu sáng tác và khâu nghiên
Trang 31cứu tác phẩm văn học Ra đời trong năm 1971, những quan điểm nêu trên của Nguyễn Văn Hạnh còn khá mới mẻ ở Việt Nam, và do đó, nó gặp không ít những ý kiến phản bác Xoay quanh những nhận định của Nguyễn Văn Hạnh, có thể dẫn ra một số ý kiến tiêu biểu như sau:
Ngay trong số 5 năm 1971 của tạp chí Văn học, Sơn Tùng đã cho đăng bài Đời sống, nhà văn, tác phẩm, bạn đọc (Nhân đọc bài “Ý kiến của Lê-nin về mối quan
hệ giữa văn học và đời sống” của đồng chí Nguyễn Văn Hạnh) để phản đối những
gì mà Nguyễn Văn Hạnh đưa ra Trong bài viết của mình, Sơn Tùng dựa trên ba lập luận chính để cho rằng Nguyễn Văn Hạnh phiến diện và sai lầm Đầu tiên, ông cho rằng Nguyễn Văn Hạnh “đã viện dẫn Lê-nin một cách không được thận trọng lắm” Tiếp đến, ông nhận xét Nguyễn Văn Hạnh đã quá vội vàng khi kết luận về quan niệm của Lê-nin đối với mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, cũng như không đồng ý phương pháp nghiên cứu mới mà Nguyễn Văn Hạnh đề ra: “Không nên thu hẹp ý nghĩa của nó, đóng khung lại trong một đoạn trích, để rồi suy luận rằng: trong văn học, ai viết tác phẩm không quan trọng bằng tác phẩm có lợi cho ai Và càng không nên từ đó suy luận ra “một phương pháp nghiên cứu mới” coi khâu thưởng thức là quan trọng hơn khâu sáng tác” [I;79; 108] Tiếp đó, Sơn Tùng lại cho rằng Nguyễn Văn Hạnh cần đưa ra những quan niệm rõ ràng hơn về công chúng văn học cũng như cái gọi là khâu “thưởng thức” Và cuối cùng, để kết lại vấn đề, Sơn Tùng trình bày một cách rõ ràng quan niệm của mình: “Tác phẩm ưu tú bao giờ cũng chứa đựng một nội dung phong phú, ý tràn ra ngoài lời, nhưng giữa hình thức và nội dung có sự hài hòa, văn chương không làm tối nghĩa hại ý, người đọc chỉ cần thông minh một chút, chăm chú một chút là có thể dễ dàng nhận rõ được cả ý tứ “kín đáo” của tác giả “ẩn náu” trong những khoảng trắng giữa các dòng chữ” [I;79; 112]
Những ý kiến trong bài viết phản hồi của Sơn Tùng cho phép chúng ta nhận thấy ở đây đang bắt đầu diễn ra một sự giằng co, đấu tranh giữa các quan niệm văn học, giữa cái mới và cái cũ, giữa phương pháp này với phương pháp khác trong nghiên cứu văn học Ở đây khoan hãy nói đến vấn đề ai đúng, ai sai, ai phiến diện, ai
có cái nhìn toàn cục Qua hai bài viết vừa nêu, ta có thể thấy, từ những năm 1970, vấn
đề người đọc và tiếp nhận văn học đã bắt đầu được quan tâm hơn và đã bắt đầu manh nha những luồng ý kiến trái chiều, đi ngược lại với cách quan niệm truyền thống
Xoay quanh vấn đề mà Nguyễn Văn Hạnh đặt ra, còn có một số bài báo của các
học giả khác như Phùng Văn Tửu với bài Ý nghĩa khách quan của tác phẩm văn học
Trang 32(số 6/1971), Đỗ Văn Khang với Phản ánh luận của Lê-nin với mối quan hệ giữa đời sống, nhà văn, tác phẩm và bạn đọc (số 4/1972), Nam Mộc với Khắc phục tính phiến diện và siêu hình trong phương pháp nghiên cứu văn học (số 5/1972), Nguyễn Minh với Điều cần chú ý trước hết trong khi vận dụng sáng tạo quan điểm thực tiễn của Lê-nin (số 5/1972), Vũ Tuấn Anh với Mối quan hệ giữa động cơ sáng tác của nhà văn và hiệu quả của tác phẩm – Giá trị tác phẩm văn học ở khâu tiếp thu của người đọc (số 6/1972) Nhìn chung, có thể tạm xếp những bài viết này theo
hai hướng giải quyết vấn đề như sau: Những bài viết của Nam Mộc, Nguyễn Minh thì phản đối, cho rằng Nguyễn Văn Hạnh phiến diện, cực đoan và vội vàng khi đưa ra nhận định; trong khi đó, những bài viết của Phùng Văn Tửu, Đỗ Văn Khang và Vũ Tuấn Anh tuy thừa nhận điểm tiến bộ và đúng đắn trong bài viết của Nguyễn Văn Hạnh nhưng lại cho rằng có một số điểm cần điều chỉnh và làm rõ để người đọc không hiểu sai ý đồ của tác giả bài viết Ví dụ như Phùng Văn Tửu cho rằng trong khi nhấn mạnh “khâu thứ hai”, tức là khâu tiếp nhận tác phẩm, Nguyễn Văn Hạnh đã “coi nhẹ một cách có lẽ không tự giác” “khâu thứ nhất”, tức là khâu sáng tác của nhà văn Đỗ Văn Khang lại nhận xét Nguyễn Văn Hạnh chưa phát triển “cho thật tương xứng với vấn đề anh đặt ra” Những nhận định của Phùng Văn Tửu và Đỗ Văn Khang cho thấy
ở đây đã có sự thừa nhận vai trò của người đọc, dù còn rất dè dặt Đây là điều dễ hiểu trong bối cảnh tư tưởng chính trị văn hóa ở Việt Nam những năm 70 Ngay chính tác giả bài báo gây nhiều tranh cãi là Nguyễn Văn Hạnh, khi đề xuất một phương pháp nghiên cứu mới cũng phải lựa chọn xuất phát điểm là tư tưởng, quan niệm của một người vĩ đại như Lê-nin
Để kết thúc cuộc tranh luận, trong bài viết Một số điểm cần nói rõ thêm về vấn
đề nghiên cứu tác phẩm văn học (số 6/1972), Nguyễn Văn Hạnh vừa đính chính, làm
rõ những gì chưa thật thỏa đáng trong bài viết trước của mình, vừa lý giải, trả lời những câu hỏi, những phản hồi từ những bài báo khác Lấy cơ sở từ việc bàn luận về nghiên cứu văn học, Nguyễn Văn Hạnh cho rằng: “Nếu khoa nghiên cứu văn học không chỉ quan tâm đến sự hình thành tác phẩm, mà cả sự vận động của nó, thì dĩ nhiên không thể dừng lại ở động cơ tư tưởng như là tiền đề của sáng tác, mà phải đi sâu phân tích tư tưởng được thể hiện trong tác phẩm mà có tác động trực tiếp đến người đọc” [I;26] Không ngừng đưa ra những câu hỏi, những lập luận về nghiên cứu văn học, Nguyễn Văn Hạnh khẳng định: “như là kết quả của sự sáng tác, giá trị của tác phẩm là cố định và ở trong thế khả năng; trong sự tiếp thu của người đọc, giá trị
Trang 33của tác phẩm có phần biến đổi và mới là hiện thực”[I;26] Những lập luận trên là tiền
đề để Nguyễn Văn Hạnh tiến tới việc đề ra một cách nhận thức mới về đối tượng quan tâm của nghiên cứu văn học: “Nhưng thực tiễn ngày càng khiến chúng ta phải tập trung sự chú ý vào tác phẩm Bởi vì tác phẩm là đơn vị cơ bản hoàn chỉnh nhất của sáng tác và thưởng thức nghệ thuật” [I;26] Từ đây, ông đã chỉ ra và phân biệt ba bình diện, ba “hình thức tồn tại” của tác phẩm, ba phương hướng nghiên cứu nó Đó là: Nghiên cứu tác phẩm trong liên hệ với những tiền đề của nó; nghiên cứu tác phẩm như một hệ thống, một cấu trúc; và nghiên cứu tác phẩm trong liên hệ với người đọc Trong đó, nghiên cứu tác phẩm trong liên hệ với người đọc là tìm hiểu “ý nghĩa xã hội thực tế của tác phẩm qua các môi trường và thời đại đều có những biến đổi nhất định trên cơ sở nội dung và hình thức đã cố định của tác phẩm Sự biến đổi này không nằm
ở khâu sáng tác, ở “cấu trúc nội tại” của tác phẩm, mà trong sự vận động của nó, ở khâu “thưởng thức”, trong quan hệ với người đọc” [I;26] Cuối cùng, ông chỉ ra phương hướng phát triển của khoa nghiên cứu văn học: “Nghiên cứu văn học sẽ không đơn thuần là đối chiếu tác phẩm với thời đại, với đối tượng phản ánh, với tư tưởng và tài năng của nhà văn, hoặc đóng khung trong việc nghiên cứu quy luật và phẩm chất nội tại của tác phẩm, mà còn phải nghiên cứu quy luật vận động của tác phẩm, tác dụng thực tế của nó đối với người đọc, ý kiến của quần chúng nhân dân đối với nó” [I;26]
Những gì Nguyễn Văn Hạnh trình bày trong bài viết phản hồi của mình cho thấy ông thật sự tin tưởng vào phương pháp mà mình đề xuất Nó thể hiện nhận thức tiến bộ của tác giả khi ông cho rằng đó là hướng đi cần thiết của nghiên cứu văn học
Đó là một phương pháp “có tính chất tổng hợp cho phép xác định được giá trị tác phẩm một cách toàn diện, cả trong sự hình thành và vận động, cả trong sự ổn định và biến đổi của nó, vừa như một công trình nghệ thuật, vừa như một đối tượng thẩm mỹ” [I;26]
Có thể thấy, những vấn đề xoay quanh người đọc và lý thuyết tiếp nhận đã bắt đầu manh nha ở Việt Nam từ đầu những năm 70 Sự thay đổi trong cách quan niệm về người đọc ở đây đương nhiên vấp phải một làn sóng phản đối như bất cứ tư tưởng mới
mẻ nào trong đời sống xã hội Tuy nhiên, cùng với thời gian, cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh đất nước, trong tư tưởng xã hội, trong mối quan hệ giao lưu ảnh hưởng từ phương Tây, và đặc biệt là sự thay đổi trong chính thực tiễn văn học Việt Nam, vấn đề người đọc ngày càng được quan tâm chú ý Bài báo trả lời của Nguyễn Văn Hạnh đã
Trang 34kết thúc một cuộc tranh luận kéo dài trong hai năm nhưng lại mở ra một hướng đi mới cho sự phát triển của nghiên cứu văn học ở Việt Nam Một khuynh hướng nghiên cứu mới bắt đầu hình thành: khuynh hướng tập trung vào khâu tiếp nhận của người đọc Bắt đầu từ đây, vị trí của người đọc trong đời sống văn học có nhiều thay đổi Năm
1978, ta có hai công trình dịch thuật, giới thiệu với độc giả trong nước về lý thuyết
tiếp nhận nói chung và mỹ học tiếp nhận nói riêng Đó là bài trích dịch Song đề của
“mỹ học tiếp nhận” của Man-phơ-rét Nao-man (Huỳnh Vân dịch, Tạp chí Văn học số 4/1978) và công trình Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học của M.B Khrapchenkô Bài Song đề của “mỹ học tiếp nhận” có thể xem là một trong
những công trình dịch thuật hiếm hoi giới thiệu với độc giả trong nước về mỹ học tiếp nhận trước năm 1986 Trọng tâm của bài viết là cách giải quyết của lý luận văn học mác-xít đối với những vấn đề trong lưu thông và tiếp nhận văn học Từ đó, tác giả nhấn mạnh: “vấn đề quan trọng không phải ở chỗ xây dựng một “mỹ học tiếp nhận”
mà là ở chỗ tìm hiểu vấn đề là sản xuất, phân phối và tiếp nhận phụ thuộc vào nhau
như thế nào” Trong khi đó, công trình Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học của M.B Khrapchenkô lại dành một chương (chương Năm) để nói về “thời
gian và cuộc sống của tác phẩm văn học” Bằng hàng loạt những ví dụ về sự khác nhau trong sự thụ cảm một tác phẩm văn học, tác giả đã đi đến kết luận rằng sự thụ cảm đối với hiện tượng nghệ thuật “là mối liên hệ qua lại phức tạp giữa nội dung nghệ thuật của nó và những nhu cầu của công chúng độc giả khác nhau” Đây có thể xem là hai bản dịch để giới thiệu với giới nghiên cứu trong nước một cách quan niệm về vai trò của người đọc, và rộng hơn, về vai trò của tiếp nhận trong văn học Hai nghiên cứu này có thể xem là hai nguồn tư liệu đáng trân trọng, để từ đó giới nghiên cứu văn học Việt Nam bắt đầu học tập và thay đổi cách tư duy của mình Sang đến những năm 80, vấn đề người đọc được đặt ra một cách ráo riết và thu hút nhiều học giả hơn
Điển hình như bài Vị trí và vai trò tích cực của người đọc trong đời sống văn học của Vương Anh Tuấn (tạp chí Văn học, số 3/1982) Trong bài viết này, tác giả đã
nhấn mạnh vai trò của người đọc: “Muốn giải thích đầy đủ văn học với tính cách là yếu tố của một nền văn hóa nhất định, chúng ta cần biết tác phẩm tác động đến người nhận, đối tượng tiếp nhận hay chủ thể cảm thụ nào, truyền nghĩa của nó cho họ bằng những nguồn nào và đọc như thế nào Cách đọc tác phẩm ở một thời kỳ hay môi trường xã hội nhất định là một biểu hiện quan trọng của ý thức mỹ học hay văn học của thời kỳ đó” [I;78] Đi sâu vào hoạt động tiếp nhận của người đọc như là một quá
Trang 35trình giao tiếp, Vương Anh Tuấn chỉ ra rằng “mấu chốt của hoạt động giao tiếp là ở
“sự đọc” cũng như đi tìm hiểu phạm trù “người đọc” một cách cẩn thận Theo tác giả, phạm trù “người đọc” nổi bật lên trong mấy hình thức biện chứng: Thứ nhất, trong văn bản tác phẩm tồn tại một “người đọc dự kiến”: trong quá trình hình thành mọi yếu
tố của tác phẩm văn học về nội dung cũng như hình thức, tác giả “nội tại hóa” vai trò của người đọc qua cấu trúc của tác phẩm Thứ hai, người đọc quan trọng nhất là
“người đọc cụ thể” của một tác phẩm đã được thực tại hóa và đã đi vào “đời sống văn học” Vương Anh Tuấn cũng đi vào tìm hiểu mối quan hệ giữa hai loại người đọc này với tác giả: “Trong mối quan hệ này, người đọc đóng một vai trò quan trọng Chính
“hệ số tác động” / tức là sự khám phá, tính chủ động / của người đọc có tác dụng nuôi dưỡng văn học, làm cho tác phẩm lớn sống lâu dài trong lịch sử và trong đời sống” [I;78] So với những bài viết trong cuộc tranh luận năm 1971-1972 trên tạp chí Văn học, ta có thể thấy, bài viết của Vương Anh Tuấn đã thể hiện sự thay đổi ít nhiều trong cách quan niệm về người đọc Người đọc trong những bài viết trước còn được các nhà nghiên cứu hình dung một cách mơ hồ và gọi bằng một cái tên khá chung chung là
“công chúng”, còn Vương Anh Tuấn đã bắt đầu đề cập đến “người đọc” như là một phạm trù văn học, một khái niệm cụ thể, tích cực và chủ động trong đời sống văn học Người đọc, qua quan niệm của tác giả bài báo, đã xuất hiện ngay từ trong quá trình sáng tạo của nhà văn Tuy nhiên, ở cuối bài báo của mình, Vương Anh Tuấn vẫn chú
ý nhấn mạnh vai trò và sức mạnh của quần chúng như một đối tượng cần bồi dưỡng của văn học: “Cần tìm hiểu và bồi dưỡng cho họ theo quan điểm Mác - Lê-nin và đường lối văn nghệ của Đảng Để tiến tới dần có một công chúng đồng đều khắp cả nước, tạo một lực lượng cơ bản bên cạnh các nhà sáng tác, thúc đẩy nền văn học của chúng ta phát triển mạnh” [I;78]
Từ những tư liệu ít ỏi mà người viết thu thập được nêu trên, ta có thể thấy, hình ảnh của người đọc với tư cách là chủ thể tiếp nhận văn học đã xuất hiện ngay từ trong những quan niệm văn học mang tính sơ khai nhất, và tiếp tục phát triển, đổi mới trong suốt tiến trình phát triển của tư tưởng lý luận văn học Việt Nam Từ vị thế bị động, từ
vị trí là một đối tượng cần được giáo dục, bồi dưỡng, sang đến đầu thập niên 80, người đọc dần dần trở thành một nhân tố quan trọng, tác động trực tiếp đến quá trình sáng tạo của nhà văn cũng như đời sống của tác phẩm văn học Cuộc tranh luận văn học năm 1971-1972 là một minh chứng điển hình cho quá trình chuyển tiếp giữa hai khuynh hướng nghiên cứu, đồng thời cũng là bước đột phá, hiện đại hóa của lý luận
Trang 36văn học Cuộc tranh luận này là dấu mốc quan trọng để sang những năm tiếp theo, vấn
đề người đọc được đặt ra một cách thiết thực và được quan tâm nhiều hơn
Một điểm đáng chú ý nữa trong tình hình nghiên cứu vấn đề tiếp nhận văn học
ở Việt Nam trước năm 1986 là lý thuyết tiếp nhận nói chung và vai trò của người đọc nói riêng chưa được phát triển thành một hệ thống độc lập, có cơ sở phương pháp luận
và lý thuyết khoa học nào làm nền tảng mà chỉ mới được phát biểu dưới dạng những quan niệm, những nhận định của một số học giả Bên cạnh đó, trong giai đoạn trước đổi mới, ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin còn khá sâu sắc và chi phối ít nhiều đến tư tưởng, quan điểm của các nhà nghiên cứu Trong những bài viết xoay quanh cuộc tranh luận văn học năm 1971-1972, trong hai công trình dịch thuật năm 1978 và trong những bài viết đầu thập niên 80, ta có thể thấy, quan điểm cách mạng của chủ nghĩa Mác vẫn giữ vai trò quan trọng, là xuất phát điểm cũng như là mục đích của các học giả Điều này đồng nghĩa với việc trong khi phát biểu những nhận định xoay quanh người đọc và tiếp nhận văn học, các học giả vẫn tập trung chú ý việc đề cao tầm quan trọng của việc giáo dục tư tưởng tình cảm thẩm mỹ cho công chúng văn học
Bỏ qua những hạn chế do tình hình khách quan của đời sống tư tưởng xã hội, ta vẫn phải thừa nhận sự tiến bộ rõ rệt trong tư tưởng lý luận văn học Việt Nam trước năm 1986 về vấn đề tiếp nhận văn học Những thay đổi trong những năm 1970-1985 chính là những tiền đề quan trọng dẫn đến việc du nhập và phát triển của lý thuyết tiếp nhận văn học phương Tây ở nước ta sau năm 1986
2.3 Vị trí của lý thuyết tiếp nhận trong đời sống lý luận văn học phương Tây thế
kỷ XX
Khi tìm hiểu đời sống lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX, ta có thể nhận ra ngay đây là thế kỷ của những thay đổi lớn lao về nhiều mặt Cùng với sự phát triển của văn học, lý luận văn học, với tư cách là một bộ môn của khoa học về văn học, cũng không ngừng đổi mới và phát triển Nếu thế kỷ XX chứng kiến sự thay đổi mạnh
mẽ trong cách tư duy về con người và thế giới được thể hiện rõ nét qua sáng tác văn học, thì trong giai đoạn này, chúng ta cũng phải thừa nhận những tư tưởng, quan niệm trong thực tiễn sáng tác cũng ảnh hưởng không ít đến nhà lý luận phê bình văn học
Trong bài viết Diễn biến lí luận văn học phương Tây thế kỉ XX (Tạp chí
Nghiên cứu văn học số 8/2005, Trần Minh Sơn dịch), nhà nghiên cứu người Trung
Quốc Đồng Khánh Bính đã nhận ra được ba lần biến chuyển mạnh mẽ của lý luận văn
Trang 37học phương Tây thế kỷ XX Chính ba lần thay đổi hệ hình tư duy quan trọng này đã làm thay đổi bộ mặt văn học phương Tây thế kỷ XX Theo Đồng Khánh Bính, lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX đã trải qua các bước thay đổi như sau: thứ nhất là bước chuyển từ chủ thể sang khách thể; thứ hai là những biến động do ngôn ngữ học chủ nghĩa cấu trúc mang lại và thứ ba là những biến động của chủ nghĩa phản nhân văn và chủ nghĩa phản khoa học Cùng với ba lần biến động là sự xuất hiện liên tiếp của những trào lưu, khuynh hướng tư tưởng khác nhau trong đời sống lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX, mà theo Đồng Khánh Bính, ta có thể chia thành ba nhóm quan trọng như sau:
Nhóm một là lí luận văn học chủ nghĩa nhân văn, bao gồm phê bình văn học chủ nghĩa hiện đại, phê bình mới, phê bình thần thoại, mĩ học tượng trưng Những lí luận này chủ yếu lưu hành từ đầu thế kỉ XX đến những năm 50 của thế kỉ XX
Nhóm thứ hai là lí luận văn học chủ nghĩa khoa học, bao gồm chủ nghĩa hình thức Nga và chủ nghĩa cấu trúc, phát triển rầm rộ vào những năm 50, 60 thế kỉ XX
Nhóm thứ ba là lí luận văn học đương đại, bao gồm chủ nghĩa hậu cấu trúc văn bản của Derrida, Barthes, phân tích tâm lí hiện đại của Lacan, chủ nghĩa Marx cấu trúc của Buyer, Foucault và chủ nghĩa tân lịch sử, bộ phận phê bình văn học chủ nghĩa
nữ quyền, lí luận chủ nghĩa hậu hiện đại và lí luận chủ nghĩa hậu thực dân Nhóm lí luận này chủ yếu phát triển rầm rộ vào những năm 70, 80 thế kỷ XX
Theo cách phân chia của Đồng Khánh Bính, dù ông không đề cập đến mỹ học tiếp nhận, ta cũng có thể nhận ra sự phát triển của lý thuyết tiếp nhận nói chung, và
mỹ học tiếp nhận nói riêng nằm trong lần biến động thứ hai của lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX, do những biến động trong ngôn ngữ học mang lại
Trong những năm 50, 60 của thế kỷ XX, ngôn ngữ học đã có những bước đột phá không ngờ và đề xuất những quan niệm, những tư tưởng làm thay đổi căn bản quan niệm của con người về ngôn ngữ Và hệ quả là quan niệm về một hình thức tồn tại của ngôn ngữ, văn bản tác phẩm văn học, cũng thay đổi Trương Đăng Dung ý thức sâu sắc vai trò của ngôn ngữ học và triết học đối với sự phát triển của lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX Ông cho rằng: “Có cái gì đó đã thay đổi trong cách nhìn nhận
về phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, lí luận văn học hiện đại phải khám phá những yếu tố đặc thù của văn bản văn học, trước hết là ngôn ngữ, cái chất liệu làm nên văn bản văn học Điều đó giải thích tại sao những thành tựu của tư duy lí luận văn
Trang 38học hiện đại, hơn một thế kỉ qua, luôn gắn liền với những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại và triết học ngôn ngữ” [I;69; 11]
Những quan niệm của Edmund Husserl - người sáng lập triết học hiện tượng luận, của M Heidegger, của Hans Georg Gadamer, của trường phái hình thức Nga, v.v… là những tiền đề quan trọng dẫn đến sự ra đời của mỹ học tiếp nhận cũng như sự phát triển của lý thuyết tiếp nhận Những tiền đề này dẫn đến một sự thay đổi căn bản trong tư duy lý luận văn học: “Từ đây, văn bản và sự tạo nghĩa, kí hiệu và chức năng thẩm mĩ trở thành những đối tượng quan tâm của lí luận văn học hiện đại” [I;69; 15] Vai trò của người đọc được chú ý và đề cao trong quá trình hình thành và tồn tại của một tác phẩm Việc các nhà lý luận phương Tây chú ý phân biệt “văn bản văn học” và
“tác phẩm văn học” là một hệ quả, đồng thời cũng là một minh chứng cho vai trò của người đọc trong đời sống văn học Có thể nói, lý thuyết tiếp nhận là một trong những
ví dụ tiêu biểu cho sự thay đổi trong tư duy và cách quan niệm về văn học Bởi vì, từ
lý thuyết tiếp nhận, lý luận văn học đã bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn “từ chỗ lấy mĩ học sáng tạo làm cơ sở, tư duy lí luận văn học hậu hiện đại đã từng bước khẳng định vai trò quan trọng của mĩ học tiếp nhận” [I;69; 19]
Một trong những đóng góp quan trọng của lý thuyết tiếp nhận là nó khẳng định tính biến đổi của tác phẩm và khả năng sản sinh nghĩa không giới hạn của tác phẩm
Nó thay đổi vai trò và ý nghĩa của tác phẩm cũng như của người đọc trong đời sống văn học Nếu như trước đó, mối quan hệ giữa nhà văn – tác phẩm – người đọc được nhìn nhận theo hướng nhà văn là tác nhân dùng tác phẩm để tác động đến người đọc, thì đến hôm nay, trong mối quan hệ này, người đọc đã thoát khỏi vị trí thụ động để chủ động trở thành người tạo nghĩa cho văn bản, có nghĩa là hoàn toàn thoát ra khỏi sự
áp đặt và ràng buộc của nhà văn Và điều đó cũng có nghĩa là nhấn mạnh tính độc lập của tác phẩm văn học: “Với sự xuất hiện của mĩ học tiếp nhận, cái văn bản văn học mang thông điệp đối thoại có được vị thế mới: làm đối tác đối thoại, tức là không phải
sự giải mã thông điệp có trong văn bản làm xuất hiện nghĩa, mà chính các hoạt động liên kết được thực hiện trong quá trình đọc tạo nên cấu trúc nghĩa có phương thức tồn tại là sự đối thoại” [I;69; 21]
Ngoài ra, trong mối quan hệ nhà văn – tác phẩm – người đọc, lý thuyết tiếp
nhận còn làm cho “mối quan hệ giá trị cũng như sự giải trí tạo nên một sự thay đổi sự hiểu rất cơ bản của công chúng hiện đại: Giá trị văn học ngày càng tùy thuộc vào thiên
hướng và năng lực tiếp nhận Vai trò cá biệt của người tiếp nhận gia tăng đáng kể
Trang 39Người đọc trở thành yếu tố quan trọng của đời sống nghệ thuật Người đọc, với tư cách người tiêu thụ, xuất hiện như là đám đông, nhưng sự đọc không thể xẩy ra bằng
sự trợ giúp của đám đông Người đọc hiện đại một mình thực hiện việc hiểu tác phẩm văn học, điều mà trước đây một truyền thống cộng đồng hoặc một hệ tư tưởng giai cấp đặc biệt hơn bảo đảm cho nó” [I;12] Cùng với đó là “cái chết của tác giả” Tác giả không còn giữ vai trò quan trọng trong đời sống của tác phẩm, trong việc cắt nghĩa và
lý giải tác phẩm như trước nữa Chính vì vậy mà trong khi phát biểu về mỹ học tiếp nhận, có nhà nghiên cứu đã đề nghị việc viết lại lịch sử văn học, trong đó, lịch sử văn học không còn là lịch sử của tác giả và tác phẩm mà là lịch sử tiếp nhận của người đọc Như vậy, về cơ bản, lý thuyết tiếp nhận không chỉ thay đổi một vài nhân tố trong đời sống văn học, mà nó còn thay đổi cách nhận thức về văn học và lịch sử văn học nói chung
Xuất hiện bên cạnh các trào lưu lý luận phê bình khác trong thế kỷ XX như chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại, phê bình nữ quyền, phê bình hậu thực dân, v.v…, lý thuyết tiếp nhận nói chung và mỹ học tiếp nhận nói riêng là một mảnh ghép làm đời sống lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX thêm đa dạng và phong phú Bên cạnh những trào lưu tư tưởng khác, lý thuyết tiếp nhận, dù còn đôi chỗ cực đoan, đã góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt lý luận văn học phương Tây nói chung Nó cho thấy
sự phát triển của lý luận văn học trong khi không ngừng nỗ lực để tự phủ định và vượt lên chính mình
2.4 Nhu cầu đổi mới lý luận phê bình văn học
Vị trí của người đọc trong lý luận văn học truyền thống, tình hình nghiên cứu
lý thuyết tiếp nhận nói chung và vấn đề người đọc nói riêng trước năm 1986, vai trò
và vị trí của lý thuyết tiếp nhận trong đời sống lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX
có thể coi là ba nguyên nhân chính dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam từ sau năm 1986 Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải chú ý đến nhu cầu đổi mới lý luận, phê bình và sáng tác văn học của chính nền văn học Việt Nam
Trong phần trên, chúng ta đã phân tích kỹ vai trò và vị trí của người đọc trong
lý luận văn học truyền thống Vị trí bị động cũng như sự xem nhẹ vai trò của người đọc trong lý luận văn học truyền thống đã dẫn đến một hệ quả mà Trần Đình Sử gọi là
“khủng hoảng lý luận” khi lý luận văn học Việt Nam vốn thống nhất và đầy “quyền
Trang 40uy”, nay bỗng lao đao mất phương hướng từ sau thời kỳ đổi mới Nhu cầu đổi mới lý luận văn học ra đời từ chính tình trạng khủng hoảng của lý luận văn học truyền thống
Bên cạnh đó, những dấu hiệu thay đổi và chuyển dịch trong tư duy lý luận và nghiên cứu văn học xuất hiện từ những năm 70 chính là tiền đề cho sự đổi mới của lý luận và phê bình văn học những năm sau 1986 Ngay chính trong lòng của tư duy lý luận văn học truyền thống đã xuất hiện những tiếng nói đa chiều, những khuynh hướng nghiên cứu khác biệt và mở ra nhiều triển vọng cho nghiên cứu văn học Nhìn nhận lại sự phát triển của lý luận văn học Việt Nam qua các chặng đường lịch sử, từ những quan niệm văn học được phát biểu một cách tự phát và sơ khai cho đến hệ thống lý luận văn học theo chủ nghĩa Marx, ta sẽ nhận thấy, trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội nói chung và lịch sử văn học nói riêng, lý luận văn học là tấm gương soi rọi từng chặng đường, từng sự kiện chính trị, văn hóa và văn học Những mầm mống ban đầu của tư duy đổi mới báo hiệu cho nhu cầu đổi mới toàn diện và triệt để nền văn học, trong đó có lý luận văn học
Cuối cùng, sự phát triển của lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX với hàng loạt những trào lưu và phương pháp nghiên cứu phê bình nối tiếp nhau cũng
là một lý do dẫn đến nhu cầu đổi mới lý luận, phê bình văn học ở Việt Nam Trong suốt một thời gian dài, do nhiều nguyên nhân, khách quan lẫn chủ quan, lý luận phê bình văn học nước ta vẫn dậm chân tại chỗ, thiếu sự theo dõi và học hỏi những tiến bộ của lý luận phê bình văn học thế giới Những lý thuyết, trào lưu phát triển ở phương Tây phải đến mấy chục năm sau mới bắt đầu xuất hiện ở nước ta Khi trào lưu văn học
đã trở nên quen thuộc với văn học thế giới thì lý luận phê bình nước ta mới bắt đầu tìm hiểu nó như một đối tượng mới mẻ và lạ lẫm Việc tìm hiểu, giới thiệu các lý thuyết văn học nổi bật từ phương Tây là điều kiện cần và đủ để lý luận văn học nước phát triển và theo kịp đà tiến bộ của lý luận văn học thế giới Lý thuyết tiếp nhận là một trong số đó Muốn đuổi kịp thế giới, chúng ta buộc phải quan tâm theo dõi những khuynh hướng, trào lưu nổi bật
Bên cạnh đó, tìm hiểu lý thuyết tiếp nhận, quan tâm hơn đến vai trò của người đọc cũng thể hiện bước phát triển độc lập tự thân của lý luận văn học Việt Nam Nhìn lại tiến trình phát triển của văn học thế giới, ta sẽ nhận thấy đó là sự phủ định và khẳng định liên tục Lý thuyết mới này ra đời là sự đột phá, phủ định lý thuyết đã tồn tại trước đó Lịch sử lý luận văn học thế giới là sự kế thừa và thay đổi, là quá trình đi
từ cực đoan này đến cực đoan khác Lý luận văn học Việt Nam cũng không thể đi ra